Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Bảy, 2024, 11:48:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 13635 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #300 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:42:13 am »

Vì vậy, nghệ thuật vận dụng thời cơ giữ một vị trí quan trọng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến. Nó bao gồm mấy nội dung chủ yếu sau đây:

1. Tạo thời cơ

Như trên đã nói, thời cơ không tự dưng đến mà phải do ta tạo ra. Vì vậy phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, có phương hướng biện pháp đúng đắn, sáng tạo để phát triển những điều kiện thuận lợi cho thời cơ sớm xuất hiện.


Muốn tạo thời cơ, trước hết phải biết đoán trước thời cơ, như Nguyễn Trãi từng nói: "Người trí giả thấy việc từ lúc việc chưa phát"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập). Đoán trước không có nghĩa là tính được cụ thể ngày, tháng nổ ra thời cơ mà là nhìn thấy trước xu thế phát triển của tình hình, dự kiến được các khả năng, từ đó xác định được phương hướng, mục tiêu và những công việc cần thiết để tạo thời cơ và sẵn sàng đón lấy thời cơ khi nó nổ ra. Đoán trước thời cơ còn là để biết chờ thời cơ, không hành động một cách phiêu lưu, nôn nóng khi điều kiện chưa đầy đủ.


Mùa thu năm 1974, trên cơ sở phân tích sự chuyển biến so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường miền Nam, tình hình thế giới và Đông nam châu Á có liên quan đến cuộc kháng chiến của ta. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã sớm suy tính về thời cơ giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam và dự kiến thời cơ chiến lược "có thể xuất hiện trong ba tình huống: 1) Khi ta đánh mạnh nhất, tức là trong đợt hai của năm 1975; 2) Ngay trong mùa mưa ở nam Bộ; 3) Những tháng cuối năm, khi ngụy quyền tổ chức bầu cử tổng thống"1 (Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, in lần thứ hai, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 150, 154). Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định phải tiếp tục tạo thế, tạo lực để sẵn sàng đón thời cơ và hạ quyết tâm: "Trong bất kỳ tình huống nào cũng không để lỡ thời cơ chiến lược"2 (Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, in lần thứ hai, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr. 150, 154).


Trong dự đoán thời cơ, ngoài việc tính toán xu thế phát triển so sánh lực lượng giữa ta và địch, còn phải suy xét các yếu tố khách quan có ảnh hưởng đến thời cơ. Đối với thời cơ chiến lược, đó là những sự kiện chính trị, quân sự lớn có thể hoặc chắc chắn sẽ xảy ra bên phía địch hay trên trường quốc tế, mà nếu ta lợi dụng được để hành động thì sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt hiệu quả lớn. Như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã chuẩn bị cho thời cơ mở các cuộc tiến công chiến lược xuân 1968 và xuân 1972 vào những năm sẽ cớ bầu cử tổng thống Mỹ. Trong tác chiến chiến dịch, chiến thuật, yếu tố khách quan cần dự kiến thường là các điều kiện khí tượng - thủy văn. Ví dụ: trong hai trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đểu tính toán và chuẩn bị cho thời cơ tiêu diệt địch tốt nhất vào kỳ nước cường3 (Kỳ nước cường là thời kỳ nước triều lên xuống mạnh nhất. Theo khảo sát tại sông Bạch Đằng thì trong ký nước cường, mức nước triều khi dâng cao và khi xuống thấp chênh nhau tới hơn hai mét. Còn vào kỳ nước kém, độ chênh chì khoảng nửa mét. Xem: Nguyễn Lương Bích, Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thẳng, tr. 300) và lúc nước triều xuống thấp. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các chiến dịch tiến công lỡn thường phải dự tính thời cơ bắt đầu chiến dịch vào mùa khô và kết thúc chiến dịch vào trước mùa mưa.


Dự đoán được thời cơ rồi thì phải đánh giá những điều kiện cần thiết của thời cơ đã đạt được đến đâu, chỗ nào cònthiếu để có kế hoạch, biện pháp bổ sung và phát triển các điều kiện đó đến độ chín muồi nhằm thúc đẩy thời cơ nổ ra sớm hoặc đúng vào lúc ta mong muốn. Vì vậy tạo thời cơ thường phải tiến hành các việc sau đây:

- Xây dựng, phát triển lực lượng của ta có đủ sức hành động khi thời cơ đến. Dùng mọi biện pháp tiêu hao, làm suy yếu lực lượng của địch.

- Xây dựng, bố trí, điều chỉnh thế trận của ta, tiến hành các hoạt động tác chiến tạo thê khi cần thiết. Hạn chế các thế lợi của địch.

- Cải tạo môi trường tác chiến và thiết bị chiến trường phù hợp với yêu cầu của tác chiến khi thời cơ đến.

- Đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ngoại giao phối hợp với đấu tranh quân sự. Tiến hành mọi việc cần thiết để góp phần thúc đẩy các điều kiện bên ngoài phát triển thuận lợi. Ví dụ: tháng 4 năm 1949, theo đề nghị của ban lãnh đạo Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, ta đã sử dụng một bộ phận lực lượng vũ trang mở chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giúp phía Trung Quốc mở rộng vùng căn cứ Ung - Long - Khâm và tiến xuống giải phóng hoàn toàn vùng Hoa Nam. Hành động đó thể hiện tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, đồng thời cũng là góp phần tạo điều kiện bên ngoài thuận lợi cho ta mở chiến dịch giải phóng biên giới sau này.


Trong những việc trên, việc phát triển thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch là nội dung chủ yếu quan trọng nhất của quá trình tạo thời cơ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #301 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:43:42 am »

2. Nắm thời cơ

Tạo thời cơ mới chỉ là thúc đẩy sự phát triển những yếu tố, điều kiện của thời cơ và chuẩn bị về mọi mặt để sẵn sàng đón nhận thời cơ khi nó nổ ra. Còn thời cơ đến vào lúc nào, ở đâu, có tính chất, phạm vi cụ thể như thế nào thì phải đến khi nó xuất hiện mới có thể nhận biết được.


Thời cơ thường diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có khi chỉ trong khoảnh khắc. Sách Binh thư yếu lược viết: "Thời là cái đến không đầy chớp mắt; trước thì thái quá sau thì bất cập"1 (Binh thư yếu lược, tr. 227). Nắm thời cơ đúng lúc nó chín muồi thì hành động mới kịp thời, chính xác. Nhận định thời cơ không đúng, dẫn đến hành động sớm hoặc muộn đều không đạt được kết quả và còn bị tổn thất. Vì vậy nắm thời cơ là việc hệ trọng liên quan đến thành bại của tác chiến, đến việc giữ vững và phát triển những thành quả đã đạt được, đến xương máu của bộ đội và nhiều khi của cả nhân dân. Nó đòi hỏi người lãnh đạo và chỉ huy phải có ý chí, trách nhiệm rất cao, có tầm nhìn sắc sảo nhạy bén, có phương pháp xem xét khách quan, toàn diện và cả lòng dũng cảm nữa.


Nhận định thời cơ phải dựa trên sự phân tích, tổng hợp tất cả các yếu tố, điều kiện chủ quan và khách quan tạo nên thời cơ, đặc biệt là đánh giá đúng đắn so sánh thế và lực giữa ta và địch. Phải có quan điểm biện chứng trong việc phân tích, đánh giá: không chỉ nhìn hiện tượng mà phải nhìn vào bản chất, không xem xét các yếu tố một cách tách biệt, cứng nhắc, cố định mà phải xem xét chúng trong môì quan hệ tác động lẫn nhau và trong sự vận động, phát triển. Có như vậy mới xác định được đúng thời cơ và hạ quyết tâm hành động chính xác.


Vào cuối năm 1946, sau hơn một năm đấu tranh gay go phức tạp bằng cả quân sự, chính trị, ngoại giao để giành lấy thời gian "xây dựng lực lượng căn bản"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 2, tr. 11), nhân dân ta đứng trước tình thế: khả năng hòa hoãn đã hết, thực dân Pháp đã quyết tâm xâm lược nước ta bằng vũ lực, cuộc kháng chiến trên cả nước sớm muộn sẽ phải nổ ra. Nhưng lúc nào là thời cơ phát động toàn quốc kháng chiến? Đầu tháng 11 năm 1946, Bác Hồ viết văn kiện quan trọng "Công việc khẩn cấp bây giờ".


Đánh giá về địch, Người viết: "Cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ. Dù dịch thua đến 99% nó cùng rán sức cắn lại... Nhưng ta phải hiểu: lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn "chớp nhoáng" đó, thì địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 220-221), về thế và lực của ta, Người nhận định: "Khi chỉ có hai bàn tay trắng, với một số đồng chí bí mật, leo lói trong rừng, ta còn gây nên cơ sở kháng Nhật, kháng Pháp. Huõng gì bây giờ, ta cóquân đội, có nhân dân. Nam Bộ, địa thế khó, chuẩn bị kém, mà kháng chiến đã hơn một năm. Ta địa thế tốt, lực lượng nhiều hơn, nhất định kháng chiến được mấy năm, đến thắng lợi"2 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 220-221). Với sự đánh giá đó, Đảng ta và Bác Hồ đã xác định rõ: thời cơ phát động kháng chiến trên cả nước đã đến. Và đêm 19 tháng 12 năm 1946, khi mâu thuẫn giữa nhân dân ta và thực dân Pháp đã phát triển đến cực điểm, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã quyết định cho các lực lượng vũ trang đồng loạt nổ súng đánh quân Pháp tại thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn, giành quyền chủ động tiến công trước khi kẻ địch kịp hành động (kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp là đánh chiếm Hà Nội vào ogày 22 tháng 12)3 (Xem: Hồ Chi Minh - Biên niên những sự kiện uà tư liệu về quân sự, tr. 86).


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cũng là một điển hình về nghệ thuật nắm bắt thời cơ chiến lược. Đầu năm 1975, trên cơ sở đánh giá đúng đắn so sánh thế và lực giữa ta và địch, âm mưu và khả năng của Mỹ can thiệp trở lại vào miền Nam Việt Nam, tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á có liên quan đến Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng xác định: "Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp cách mạng Lào vàCam-pu-chia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác"1 (Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, tr. 157). Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đã thông qua kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời cũng dự kiến nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.


Trên đây là những ví dụ về nắm bắt thời cơ chiến lược, mở đầu và kết thúc chiến tranh. Tác chiến chiến dịch có quy mô nhỏ hơn, không gian và thời gian hẹp hơn nên việc xác địch thời cơ thuận lợi hơn, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng, đơn giản. Như trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lúc đầu căn cứ vào tình hình địch chưa tăng cường, công sự chưa kiên cố, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định thời cơ nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm vào ngày 26 tháng 1 năm 1954. Nhưng sau khi cân nhắc, đánh giá kỹ tình hình mọi mặt về ta, về địch, tư lệnh chiến dịch nhận thấy thời cơ đó không còn nữa nên quyết định hoãn cuộc tiến công để tiếp tục tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ mới. Sau đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đã quyết định chính xác thời cơ bắt đầu tiến công Điện Biên Phủ là ngày 13 tháng 3 năm 1954, vì lúc đó ta đã hoàn thành tốt mọi mặt chuẩn bị, còn lực lượng của địch thì càng bị căng ra sau các cuộc tiến công của ta ở Tây Nguyên, Thượng Lào, đồng bằng Bắc Bộ... Chọn thời điểmấy để tiến công cũng bảo đảm cho ta kịp kết thúc chiến dịch trước mùa mưa.


Trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1972, sau khi ta giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, quân địch ở thị xã Kon Tum hoang mang, chuẩn bị rút chạy. Ta có mấy trung đoàn ở sát thị xã nhưng không kịp thời tiến công, bỏ lỡ thời cơ giải phóng Kon Tum. Đó là sự kém cỏi về chớp thời cơ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #302 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2023, 08:47:00 am »

3. Hành động đúng thời cơ

Tạo thời cơ và nắm thời cơ là để hành động. Thời cơ có trở thành sức mạnh, có tạo nên chiến thắng hay không là dohành động của con người quyết định. Nắm được thời cơ rồi mà không hành động hoặc hành động chậm thì thời cơ không có ý nghĩa gì, thậm chí có khi làm đảo ngược tình thế: đang mạnh hóa yếu, đang thắng hóa thua. Binh thư yếu lược viết: "Ta có chí mà chậm thì người sẽ tính trước ta; thấy mà không quyết định thì người sẽ phát trước ta. Ta phát mà không nhanh thì người sẽ thắng trước ta. Khó được ấy là thời, dễ mất ấy là cơ, nên phải làm nhanh vậy"1 (Binh thư yếu lược, tr. 188).

Hành động đúng thời cơ là phải hành động kịp thời và có phương án hành động chính xác, cần tuân theo mấy yêu cầu sau đây:

- Xác định đúng những mục tiêu mà thời cơ và khả năng thực tế của ta cho phép, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị cho phương hướng hành động nhằm những mục tiêu lổn hơn. Chọn những biện pháp hành động đạt hiệu quả cao mà ít tốn lực lượng nhất.

- Vừa dồn sức vào các mục tiêu then chốt, bảo đảm chắc chắn giành thắng lợi, vừa chú ý phối hợp đồng đều và có lực lượng dự bị thích hợp.

- Hành động táo bạo, bất ngờ, nhanh chóng, thần tốc, vượt lên trên những tính toán thông thường.

- Không ngừng phát triển kết quả đã giành được, mở rộng thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch, không để chúng kịp khôi phục, củng cố.

- Chỉ huy chặt chẽ, liên tục, tiến hành tốt mọi mặt bảo đảm cho tác chiến. Đồng thời phát huy cao độ tính chủ động, độc lập tác chiến, tự lực khắc phục khó khăn của từng bộ phận.

Trong lịch sử quân sự Việt Nam, không hiếm những trường hợp thành công của nghệ thuật nắm thời cơ và hànhđộng đúng thời cơ, mà ở đây chỉ có thể dẫn ra một vài ví dụ tiêu biểu.

Nguyễn Trãi đã nêu một mẫu mực tuyệt vời về nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ để hành động. Đầu năm 1423, sau trận đánh ở huyện Khôi, nghĩa quân không còn đến một lữ (chưa đầy 500 người), ông chủ trương hòa hoãn với địch, giành thời gian tạo thế tạo lực, chờthời cơ chuyển sang tiến công. Cuối năm 1424, lực lượng nghĩa quân đã phát triển tuy số lượng mới khoảng 4 - 5 nghìn người, nhưng chớp thời cơ thuận lợi lúc địch đang lúng túng về phương hướng tác chiến, bên nước chúng thì bối rối với lễ tang vua cũ và vua mối lên ngôi, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã có quyết định đúng đắn: chuyển hướng chiến lược vào Nam, chiếm lấy Nghệ An là nơi lực lượng địch mỏng yếu, rồi giải phóng Diễn Châu, Thanh Hóa và phát triển vào Tân Binh, Thuận Hóa. Nhân lúc quân Minh đang bị giam chân ở Đông Quan và quân viện chưa sang kịp, Lê Lợi - Nguyễn Trãi quyết định tiến quân ra Bắc, giải phóng các lộ phủ ở Đông Đô, tạo thời cơ đánh những trận tiêu diệt lớn quân viện của Vương Thông ở Ba La, cầu Mọc, Tốt Động, Chúc Động. Khi viện binh của Liễu Thăng tiến sang, nghĩa quân lại chớp thời cơ đánh tiêu diệt chúng ở Chi Lăng - Xương Giang. Đến đây thời cơ lớn giải phóng hoàn toàn đất nước đã xuất hiện. Nắm vững thời cơ đó, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã quyết định kết thúc chiến tranh không phải bằng gươm giáo mà bằng cách dụ hàng quân địch, vừa khỏi đổ thêm xương máu lại thể hiện được đức lớn hiếu sinh, "gây lại hòa hảo cho hai nước, dập tắt chiến tranh cho muôn đời"1 (Nguyễn Trãi, Phú núi Chí Linh).


Khi quân Thanh vào xâm lược nước ta, Quang Trung Nguyễn Huệ không chủ trương quyết chiến với chúng ngay từ đầu mà tạo thời cơ bằng cách lui quân về giữ hiểm ở Tam Điệp, rồi chọn đúng thời cơ địch đang say sưa với thắng lợi và mải mê ăn tết để mở cuộc tiến quân thần tốc, từ nhiều hướng đánh đồng loạt, mãnh liệt, liên tục vào Thăng Long, chỉ trong 5 ngày tiêu diệt gọn ghẽ gần 30 vạn quân xâm lược.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cũng là một điển hình rực rỡ về nghệ thuật nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ. Sau khi xác định thời cơ chiến lược đã đến vào đầu năm 1975, ta đã chọn phương án hành động chính xác: đánh trước vào Tây Nguyên bằng trận mở màn Buôn Ma Thuột. Sau khi cuộc phản kích của quân đoàn 2 ngụy bị đập tan, quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên trong cơn hoảng loạn. Chớp thời cơ đó, ta truy kích tiêu diệt địch rút chạy, đồng thời mở cuộc tiến công gối đầu vào Huế - Đà Nẵng, thời cơ chiến lược mới đã đến, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: ta có điều kiện giải phóng miến Nam sớm hơn dự kiến, và quyết định tập trung nhanh nhất lực lượng để giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Quyết tâm đó đã được thực hiện với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến suy cho cùng là nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ, đó là một quá trình liên tục, vận động và phát triển không ngừng từ thấp lên cao theo một vòng tròn xoáy ốc ngày càng mở rộng của mổi liên hệ nhân quả giữa thời cơ và hành động. Tạo thời cơ, nắm thời cơ là để hành động. Hành động thắng lợi sẽ tạo ra thời cơ mới, thắng lợi mới... Cứ như thế thời cơ và hành động kế tiếp nhau, tạo tiền đề cho nhau cho đến khi giành thắng lợi hoàn toàn.


Tất nhiên, quá trình đó không phải lúc nào cũng suôn sẻ thuận chiều, mà nhiều khi phải vượt qua những bước quanhco, khúc khuỷu mới có thể tiếp tục tiến lên. Trận chiến đấu ba mươi năm của dân tộc ta hết đánh Pháp lại đánh Mỹ là một quá trình như vậy. Chúng ta đã phải đối đầu với những hoàn cảnh hiểm nghèo, nếm trải không ít tổn thất gian lao mới tạo được những thời cơ, những bước nhảy vọt từ nhỏ đến lớn và tiến đến trận thắng cuối cùng.


Vì vậy, nghệ thuật thời cơ đòi hỏi người lãnh đạo chiến tranh cũng như chỉ huy tác chiến phải rất năng động nhạy bén, nhưng cũng rất tỉnh táo, sáng suốt, hiểu địch nhưng cũng lượng đúng sức mình, đón thời cơ nhưng cũng phải biết chờ thời cơ, tìm chọn con đường ngắn nhất nhưng cũng ít tổn thất nhất để đi đến thắng lợi. Vì vậy trong quá trình nắm thời cơ và hành động, phải bám sát mọi biến chuyển của tình hình, thấy có thời cơ mới thì kiên quyết dấn lên giành thắng lợi tối đa, nhưng nếu thấy thời cơ không còn nữa thì phải biết kết thúc hay chuyển hướng hành động một cách kịp thời để tạo thời cơ mới. Trong chiến dịch Tây Bắc đông - xuân năm 1952, sau khi ta giải phóng hầu hết vùng Tây Bắc, quân địch cụm lại ở Nà Sản lập thành tập đoàn cứ điểm. Ta đột phá thử không thành công. Lượng đúng sức ta sức địch, Bộ chỉ huy chiến dịch kịp thời và chủ động kết thúc chiến dịch, tránh những tổn thất thêm không cần thiết. Đầu năm 1968, ta đã nắm vững thời cơ tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân giành thắng lợi rất lớn. Song chúng ta cũng đã phạm một số thiếu sót trong chỉ đạo tác chiến như: chủ quan trong đánh giá tình hình, nhất là đánh giá lực lượng chính trị của quần chúng ở thành thị, có phần đánh giá thấp khả năng và phản ứng của địch, đề ra mục tiêu quá cao. Trong quá trình phát triển của cuộc tổng tiến công, do không kịp thời đánh giá lại so sánh lực lượng địch - ta, nên khi tình thế có những bất lợi, ta đã không kịp thời chuyển hướng tiến công mà vẫn tiếp tục đánh vào thành thị khi yếu tố bất ngờkhông còn nữa và để sơ hở nông thôn. Lực lượng của ta qua chiến đấu liên tục và ác liệt, bị tổn thất, sức chiến đấu giảm sút1 (Xem: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, quyển 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1988, tr. 405, 418). Đó là một bài học sâu sắc về nghệ thuật nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #303 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:50:13 pm »

Chương VIII
MẤY VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT CỦA
NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN VIỆT NAM


Từ những nội dung đã nghiên cứu ở các chương trên, đến đây chúng ta có thể rút ra một vài vấn đề có tính quy luật của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.


1. Tính chất, đặc điểm của nghệ thuật tác chiến Việt Nam

Nghệ thuật tác chiến Việt Nam hình thành và phát triển từ thực tiễn chiến đấu chống xâm lược trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm, thành tựu của các nền nghệ thuật quân sự khác. Nó mang mấy tính chất, đặc điểm chủ yếu sau đây:

a) Tính nhân dân.

Là một đặc điểm cơ bản nói lên nguồn gốc, điều kiện hình thành và phát triển của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.

Thời nào cũng vậy, đánh giặc để giải phóng và bảo vệ đất nước khỏi ách xâm lược là lợi ích sống còn và là sự nghiệp của nhân dân cả nước ta. Vì vậy, nghệ thuật tác chiến phải dựa vào nhân dân, tìm nguồn sức mạnh ở nhân dân. Có nhân dân tham gia, các yếu tố của nghệ thuật tác chiến mới được vận dụng một cách sáng tạo và đạt hiệu quả cao nhất.


Trong trận đại phá thủy quân Nguyên trên sông Bạch Đằng năm 1288, mưu kế của Trần Hưng Đạo một phần cũng nhờ nhân dân giúp ông xác định các kỳ con nước và quy luật thủy triều lên xuống của sông Bạch Đằng. Thế trận của ôngđược thiêt lập với sự tham gia của nhân dân chặt cây, đẽo cọc và cắm cọc xuống lòng sông. Lực lượng của ông càng thêm mạnh với các đội dân binh do nhân dân tổ chức và các bè hỏa công do nhân dân làm ra để phóng vào đốt thuyền giặc.


Cuộc tiến công thần tốc của Quang Trung giải phóng Thăng Long nàm 1789 được thực hiện bất ngờ, đúng thời cơ đã chọn, có phần đóng góp công sức của nhân dân trong việc bưng tai bịt mắt địch, giữ bí mật hành động của nghĩa quân và việc hàng vạn trai tráng nô nức tòng quân ngay trên đường hành quân chiến đấu.


Tính nhân dân của nghệ thuật tác chiến Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh càng được thể hiện sâu sắc với thế trận chiến tranh nhân dân được triển khai vững chắc và hiểm hóc, với lực lượng toàn dân và ba thứ quân đánh giặc trên khắp mọi miền đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng,v.v... Đó là nền tảng để nghệ thuật tác chiến Việt Nam phát huy đầy đủ tính sáng tạo, luôn luôn giành và giữ quyền chủ động đánh thắng địch từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


b) Tính kiên quyết mưu lược.

Nghệ thuật tác chiến Việt Nam là nghệ thuật quyết đánh và biết đánh thắng.

Với tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, "nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, tập 1, tr. 222), nghệ thuật tác chiến Việt Nam kiên quyết vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đánh thắng mọi kẻ địch dù chúng có đông quân, có nhiều vũ khí hiện đại và sử dụng những thủ đoạn dã man, tàn bạo đến mức nào.


Tính kiên quyết trước hết thể hiện ở tư tưởng tiến công, tích cực, chủ động, liên tục tiến công tiêu diệt địch từ thấp đến cao.

Mặc dù có nơi có lúc phải tạm thời phòng ngự, nhưng trong phòng ngự vẫn có tiến công và phòng ngự là để tạo điều kiện chuyển sang tiếp tục tiến công. Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược của quân dân ta thời LýThường Kiệt đã chứng minh rõ điều đó.


Tính kiên quyết còn thể hiện ở tư tưởng đánh tiêu diệt từ nhỏ đến lớn, tiến lên thực hành những trận quyết chiếnchiến lược tiêu diệt gọn những lực lượng nòng cốt, tinh nhuệ của địch, giành thắng lợi quyết định. Những trận đánh tiêu diệt xuất sắc ở cácthời đại khác nhau: Bạch Đằng, Chương Dương - Thăng Long, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa, chiến thắng Biên Giới, Điện Biên Phủ, tết Mậu Thân 1968, xuân 1972, trận "Điện Biên Phủ trên không", Đại thắng mùa Xuân 1975, v.v... là những ví dụ hùng hồn về vấn đề này.


Tính kiên quyết là cơ sở của tính mưu lược. Bởi vì dám đánh rồi mới biết đánh, có lòng dũng cảm mới đủ tỉnh táo, sáng suốt để tìm ra phương lược đánh giặc thông minh và có hiệu quả. Kiên quyết phải đi đôi với mưu lược. Trong điều kiện thực tế của ta luôn luôn phải đánh bại những quân đội xâm lược đông và được trang bị tốt hơn thì tính mưu lược càng đặc biệt quan trọng.


Tính mưu lược của nghệ thuật tác chiến Việt Nam biểu hiện ở những nét đặc sắc dưới đây:

- Lấy ít đánh nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi".

- Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế, thời.

- Bày thế trận vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, cài xen với địch, đánh cả trước mặt và sau lưng địch.

- Lừa địch, điều địch, phân tán, chia cắt địch ra mà đánh; vây hãm, trói chặt địch lại mà diệt.

- Bí mật, bất ngờ, đánh trúng, đánh hiểm.

- Dùng nhiều cách đánh linh hoạt, khi phân tán, lúc tập trung, thực hư lẫn lộn, chính kỳ biến hóa "lấy chính để hợp lấy kỳ để thắng"1 (Xem Binh thư yếu lược, tr. 253.Chính, kỳ là những khái niệm quân sự cổ. Chính là đánh chính diện, đối mặt với địch. Kỷ là đánh bí mật, bất ngờ ở cạnh sườn, sau lưng địch).


Kiên quyết và mưu lược, anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên sức mạnh và những nét độc đáo của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.

c) Tính sáng tạo, biện chứng.

Tính sáng tạo là động lực phát triển của nghệ thuật tác chiến Việt Nam. Là một dân tộc nhỏ phải đánh thắng những kẻ thù xâm lược có quân đông, trang bị hiện đại, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn, nghệ thuật tác chiến Việt Nam không thể "tự giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường" như Ăng-ghen đã từng nói, mà phải tìm ra cách đánh của mình, phù hợp với những điều kiện thực tế của đất nước và con người Việt Nam.


Sự sáng tạo đó không phải chủ quan tùy tiện mà có cơ sở khách quan khoa học, dựa trên sự phân tích toàn diện các yếu tố, các mối quan hệ để rút ra những vấn đề có tính quy luật của đấu tranh vũ trang trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước ở Việt Nam. Vì vậy tính biện chứng là hạt nhân sáng tạo của nghệ thuật tác chiến Việt Nam.


Dưới thời phong kiến, nghệ thuật tác chiến của dân tộc ta đã chứa đựng những yếu tố của phép biện chứng, mặc dù còn ở dạng thô sơ và mang tính tự phát. Trước sự xâm lược của quân Nguyên hung bạo và thiện chiến, Trần Hưng Đạo thấy chỗ mạnh nhưng cũng nhìn thãy những mâu thuẫn bên trong của chúng, ông nhận định: "Nếu giặc ở thế tiến quân ồ ạt như lửa thiêu gió táp thì dễ chế ngự"2 (Đại Việt sử kỹ toàn thư), và cách chế ngự của ông là "lấy nhàn chờ nhọc", "lấy đoản binh phá trường trận"để khơi sâu mâu thuẫn của địch, làm thay đổi so sánh lực lượng, tạo thời cơ tiến hành phản công chiến lược, giành thắng lợi hoàn toàn.


Nguyễn Trãi cũng thể hiện quan điểm biện chứng ở việc xem xét sự vật trong sự vận động, phát triển, nhìn thấy bản chất của sự vật và mối quan hệ qua lại giữa các mặt, các yêu tố bên trong của nó. Ông nhận định: "Binh mạnh hay yếu, không cứ ở nhiều"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập) và mạnh hay yếu không chỉ tùy thuộc vào lực lượng mà "được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập). Từ đó kế sách đánh giặc của ông là "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít đánh nhiều, biến nhỏ thành lớn, chuyển nguy thành vững"3 (Nguyễn Trãi, Hoàng triều dữ Minh nhân vãng phục thư tập), vừa đánh bằng quân sự, vừa đánh mạnh vào lòng địch, về phương thức tác chiến thì "tìm nhiều phương lừa đánh địch"4 (Nguyễn Trãi, Phú núi Chí Linh) từ chỗ "tránh mạnh đánh yếu", "bỏ chỗ vững đánh chỗ núng, tránh chỗ thực đánh chỗ hư"5 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục) tiến lên "lấy mạnh đánh yếu" đánh tiêu diệt lớn quân địch, kết thúc chiến tranh thắng lợi.


Đến thời đại Hồ Chí Minh, được trang bị phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nghệ thuật tác chiến Việt Nam càng mang tính biện chứng sâu sắc, toàn diện. Nó được thể hiện ở quan điểm đánh giá đúng đắn so sánh lực lượng giữa ta và địch, phát hiện và khơi sâu những mâu thuẫn của địch, thấy rõ để khắc phục những mâu thuẫn của ta. Như Bác Hồ đã chỉ rõ: "Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công"6 (Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 78, 218) và "Nay tuy châu chấu đấu voi, nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra"7 (Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 78, 218). Nó cũng thể hiện ở việc kết hợp đúngđắn các mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa nổi dậy và tiến công, giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, giữa ba vùng chiến lược, ba mũi giáp công, giữa đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ, giữa lực, thế và thời cơ... tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng Việt Nam.


Tính nhân dân, tính kiên quyết mưu lược và tính sáng tạo biện chứng có mối quan hệ chặt chẽ tạo thành nguồn gốc và động lực phát triển của nghệ thuật tác chiến Việt Nam, một nền nghệ thuật phải giải quyết mâu thuẫn gay gắt lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều để giành thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #304 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:51:40 pm »

2. Mấy vấn đề có tính quy luật

Cũng như mọi sự vật, hiện tượng khác, chiến tranh và đấu tranh vũ trang vận động theo những quy luật khách quan của nó. Nhận thức đúng và hành động phù hợp vỏi các quy luật đó là điều kiện để giải quyết thành công mọi nhiệm vụ tổ chức, tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang.


Thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời đại đã chứng minh rằng: chúng ta đã phát hiện và nhận thức ngày càng sâu sắc toàn diện tác động của các quy luật chiến tranh trong điều kiện cụ thể của chiến tranh chống xâm lược ở Việt Nam mà đặc điểm nôi bật là luôn luôn phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn; từ đó đã xác định đúng đắn những vấn đề có tính quy luật của chiến tranh giải phóng và giữ nước ở nước ta. Đó là:

- Phát huy mạnh mẽ ưu thế của chiến tranh chính nghĩa, của yếu tố chính trị - tinh thần, động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc với lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt.

- Tiến hành chiến tranh toàn diện trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hốa... Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao.

- Kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn trên cả ba vùng chiến lược.

- Làm chuyển hóa từng bước so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo thời cơ thực hành những trận quyết chiến chiến lược làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, đánh thắng từng bước, đánh đổ địch từng bộ phận và kết thúc chiến tranh thắng lợi.

- Kết hợp tiền tuyến với hậu phương, xây dựng hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ rộng khắp, vững chắc của chiến tranh nhân dân.


Đấu tranh vũ trang - mà nội dung chủ yếu là sử dụng các lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động tác chiến - là lĩnh vực đấu tranh cơ bản và đặc trưng của chiến tranh. Nó chịu sự tác động của các quy luật chung của chiến tranh, đồng thời cũng có những quy luật riêng. Nghệ thuật tác chiến Việt Nam đã nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật đ^-trong điều kiện cụ thể của chiến tranh giải phóng và giữ nước ồ Việt Nam, thể hiện ở mây vấn đề có tính quy luật sau đây:


a) Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả con người và vũ khí, số lượng và chất lượng trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lực, thế và thời cơ.

Quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang là mạnh được yếu thua. Nghệ thuật tác chiến Việt Nam không thể vượt ra ngoài quy luật đó. Trong điều kiện phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, làm thế nào để có sức mạnh lớn hơn địch và tác chiến thắng lợi? Con đường duy nhất đúng là dùng sức mạnh tổng hợp, phát huy khả năng tác chiến của ba thứ quân, của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, phát huy hết uy lực của mọi thứ vũ khí có trong tay và có thể huy động được, lấy chất lượng cao về chính trị - tinh thần và bản lĩnh chiến đấu để bù số lượng. Sức mạnh ấy còn được nâng lên gấp bội nhờ kết hợp chặt chẽ các yếu tố lực, thế và thời cơ trong mối quan hệ tác động lẫn nhau và vận động, phát triển không ngừng từ thấp lên cao: có thế mạnh, lực sẽ tăng lên; lực mạnh, thế mạnh sẽ tạo ra thời cơ; đến lượt mình, thời cơ lại tạo ra thế mới, lực mới...


b) Phân tán, chia cắt lực lượng địch, hạn chế sức mạnh của chúng để tập trung ưu thế sức mạnh của ta vào nơi và lúc quyết định.

Tạo sức mạnh của ta phải đi đôi với việc hạn chế sức mạnh của địch, buộc chúng không thể phát huy được ưu thế về số lượng quân đội và vũ khí trang bị, không thi thố được cách đánh sở trường. Vì vậy phải sử dụng mưu kế, lập thế trận để lừa địch, điều địch, dàn mỏng lực lượng và phân tán sức mạnh của địch, chia cắt cô lập chúng, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng chủ yếu đánh những đòn then chốt vào nơi và lúc quyết định.


c) Đánh bất ngờ, đánh hiểm

Lấy ít đánh nhiều thì phải triệt để tận dụng yếu tố bất ngờ và sử dụng cách đánh hiểm thì mới đạt hiệu suất chiến đấu cao. Phải đạt được bất ngờ về một hoặc nhiều yếu tố dưới đây: ý định và thời điểm hành động, hướng, khu vực tác chiến; lực lượng và phương tiện sử dụng; cách đánh...


Đạt được bất ngờ là đã thực hiện được một phần yêu cầu của đánh hiểm. Nhưng đánh hiểm còn phải thể hiện ở những yêu cầu khác như: đánh trúng khâu hiểm yếu của địch; đánh bằng mưu lừa địch, điều địch, dẫn chúng đến chỗ bị bại vong mà không sao thoát ra được, v.v...


Yêu cầu đánh bất ngờ, đánh hiểm phải được đặc biệt chú trọng đối với đòn đánh đầu tiên và các đòn then chốt, quyết định.


d) Kết hợp đánh lớn, đánh vừa và đánh nhỏ, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao; kết hợp đánh vận động và đánh trận địa, đánh du kích và đánh chính quy hiệp đồng quăn binh chủng.

Lấy ít đánh nhiều thì phải vận dụng và kết hợp các quy mô, các phương thức tác chiến thích hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng chiến lược trong từng giai đoạn chiến tranh.

Trong giai đoạn đầu chiến tranh, nhất là trong chiến tranh giải phóng, khi sức ta còn yếu thì thường phải bắt đầutừ đánh nhỏ, đánh vừa, đánh du kích tiêu hao địch ở khắp nơi đi đôi với đánh vận động, chủ yếu là ở địa hình rừng núi, để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, từng bước chuyển hóa so sánh lực lượng giữa địch và ta. Đến khi sức ta đã mạnh và nhất là vào giai đoạn cuối chiến tranh, phải tiến lên đánh lớn, đánh vận động và cả đánh trận địa hiệp đồng quân binh chủng, thực hành những đòn tiến công tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch trên mọi địa bàn chiến lược ở cả đồng bằng và đô thị, tạo nên những bước ngoặt của chiến tranh hoặc kết thúc chiến tranh thắng lợi. Tuy nhiên trong giai đoạn này vẫn phải tiếp tục phát huy vai trò phối hợp và bổ trợ của tác chiến du kích rộng khắp, đánh nhỏ, đánh tiêu hao, nhất là ở các trung tâm chính trị - kinh tế quan trọng của địch.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khi tác chiến vận động và trận địa quy mô lớn của lực lượng chủ lực diễn ra ngay từ đầu, kết hợp với tác chiến du kích, đánh tiêu hao địch của các lực lượng địa phương, giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn.


e) Kết hợp tiêu diệt sinh lực địch với giải phóng và bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân.

Mục tiêu cuối cùng của tác chiến là bảo vệ và giải phóng toàn vẹn đất đai của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Nhưng để thực hiện mục tiêu ấy, trong điều kiện lấy ít đánh nhiều, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tiêu diệt sinh lực địch và bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân.


Trong giai đoạn đầu chiến tranh, nhất là trong chiến tranh giải phóng, khi ta chưa có đủ sức mạnh để bảo vệ toàn bộ đất đai thì phải lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính chứ không thể dàn quần ra giữ đất, nhưng vẫn phải tích cực bảo vệ nhân dân bằng cách tổ chức chiến tranh du kích ngay trong vùng địch tạm chiếm. Sang giai đoạn tiếp sau và nhất là vào giai đoạn cuối chiến tranh, tác chiến phải nhằm cả haimục tiêu: vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa giải phóng đất đai, bảo vệ vững chắc và không ngừng mở rộng vùng giải phóng, tiến tới giải phóng hoàn toàn đất nước.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, vấn đề bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết. Nếu sức ta đủ mạnh thì ngay từ đầu đã phải đặt ra nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch đi đôi với bảo vệ đất đai, bảo vệ cơ sở vật chất, kỹ thuật, các công trình quốc phòng, kinh tế, văn hóa của đất nước và tính mạng, tài sản của nhân dân.


Trên đây là mấy vấn đề mang tính quy luật của nghệ thuật tác chiến trong chiến tranh giải phóng và giữ nước ở Việt Nam. Chúng phản ánh tính tất yếu của các quá trình đấu tranh vũ trang của một nước nhỏ phải đánh thắng sự xâm lược của những nước lớn có tiềm lực kinh tế - quân sự mạnh, có quân đông, được trang bị vũ khí nhiều và hiện đại hơn mình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #305 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:53:07 pm »

3. Mấy điều suy nghĩ về nghệ thuật tác chiến Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đất nước ta đang có cục diện tương đối hòa bình trên cả nước, nhưng đó là một nền hòa bình chưa vững chắc, chưa trọn vẹn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vẫn nuôi dưỡng những mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, cách mạng ba nước Đông Dương bằng các thủ đoạn kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng, xâm lược vũ trang bộ phận... và có thể cả bằng chiến tranh xâm lược quy mô lớn dưới nhiều hình thức: chiến tranh "cường độ thấp", chiến tranh "ủy nhiệm" qua tay người khác, chiến tranh cục bộ, v.v...


Vì vậy, quân và dân ta phải không ngừng nâng cao cảnh giác sẵn sàng đối phó với mọi hành động chiến tranh mà kẻ thù có thể gây ra như:

- Chiến tranh xâm lược từng phần, lấn chiếm từng bộ phận lãnh thổ của Tổ quốc.

- Các đòn tập kích chiến lược bằng không quân, tên lửa, bằng lực lượng đổ bộ đường không, đường biển...

- Chiến tranh xâm lược quy mô lớn cả trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

Ngày nay trong bối cảnh quốc tế mới và do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong quân sự, nêu chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động gây ra chiến tranh xâm lược cục bộ thì cuộc chiến tranh ấy sẽ có những điểm khác với chiến tranh xâm lược trước đây về hình thái, quy mô, phương thức tiến hành. Qua thực tiễn một số cuộc chiến tranh "cường độ thấp" của đế quốc Mỹ xâm lược Grê-na-đa, Pa-na-ma, chống Li-bi..., I-xra-el chống Li-băng, Tổ chức giải phóng Pa-le-xtin (PLO), chúng ta có thể hình dung một số đặc điểm của chiến tranh xâm lược cục bộ trong tương lai nếu xảy ra.


a) Không gian rộng, chiều sâu lớn.

Chiến tranh có thể xuất phát từ nhiều hướng: trên bộ, trên không, từ biển vào, có thể diễn ra cùng một lúc ở chính diện và trong chiều sâu, quân xâm lược có thể tiến công ngay vào các trung tâm đầu não về chính trị, quân sự, kinh tế của đất nước.


b) Hành động bất ngờ, chớp nhoáng.

Trong tình hình chính trị quốc tế hiện nay và cả tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước họ, các thế lực xâm lược khó có thể tiến hành chiến tranh xâm lược kéo dài. Mặt khác việc nâng cao uy lực và tính năng của các loại vũ khí sát thương, phương tiện cơ động, trinh sát, chỉ huy... cùng tạo điều kiện cho quân xâm lược tiến hành các cuộc tiến công bất ngờ, chớp nhoáng để đạt tới các mục tiêu chiến lược trong thời gian ngắn.


c) Nhịp độ cao, cường độ lớn ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh.

Để kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn, quân xâm lược thường tập trung những lực lượng mạnh để giành thắng lợi ngay trong đòn quyết định đầu tiên và liên tục triển khai các đòn kế tiếp vào các mục tiêu then chốt. Tình huống tác chiến sẽ diễn biến khẩn trương, quyết liệt, đột biến.


d) Sử dụng nhiều loại lực lượng, phương tiện, phương thức và thủ đoạn tác chiến.

Phía xâm lược có thể sử dụng nhiều loại lực lượng khác nhau: không quân, hải quân, bộ binh cơ giới, quân đổ bộ đường biển, đường không, lực lượng đặc nhiệm, "triển khai nhanh"... Những phương tiện chiến tranh mới nhất sẽ được đưa ra sử dụng và thử nghiệm (như Mỹ đã sử dụng máy bay "tàng hình" F.117 trong cuộc xâm lược Pa-na-ma cuối năm 1989). Nhiều phương thức, thủ đoạn tác chiến khác nhau sẽ được sử dụng: tập kích đường không vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của quốc gia đối địch hòng bằng hành động chiến thuật đạt tới mục tiêu chiến lược (như Mỹ đã làm ở Li-bi năm 1986); tiến công trên bộ kết hợp với đổ bộ bằng đường không, đường biển; tiến công từ ngoài vào kết hợp với tổ chức bạo loạn từ bên trong; phong tỏa đường không, đường biển, v.v...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #306 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:53:59 pm »

e) Tiến công quân sự kết hợp với chính trị, ngoại giao, kinh tế.

Để đánh lừa dư luận quốc tế, trong nước, phía xâm lược sẽ tìm mọi cách núp dưới các chiêu bài chính trị, dựng lên bọn bù nhìn tay sai, sử dụng các thủ đoạn ngoại giao lừa bịp và mua chuộc bằng kinh tế. Cuộc đấu tranh sẽ diễn ra khẩn trương, đồng thời trên tất cả các lĩnh vực.


Xem xét những đặc điểm nói trên, chúng ta thấy một số vấn đề đặt ra cho nghệ thuật tác chiến Việt Nam trong thời kỳ mới.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn phải lấy ít đánh nhiều, chống lại kẻ xâm lược câ tiềm lực kinh tế - quân sự mạnh hơn. Con đường đi đến thắng lợi của chúng ta vẫn phải là tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, đánh địch bằng cả quân sự, chính trị, ngoại giao, bằng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân phát triển cân đối, đồng bộ, kết hợp lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, đánh địch trên mọi địa bàn.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mục tiêu của ta là phải bảo vệ đất đai, không để địch chiếm đoạt, phá hoại các cơ sở kinh tế văn hóa, tàn sát nhân dân. Vì vậy phải đánh địch ngay từ đầu ở bất cứ nơi nào chúng đột nhập, kết hợp đánh tiêu diệt lớn và đánh vừa, đánh nhỏ, đánh tiêu hao, kết hợp tác chiến tại chỗ của lực lượng vũ trang địa phương và các đòn phản công, tiến công của bộ đội chủ lực cơ động với nhịp độ ngày càng cao, quy mô ngày càng lớn.


Từ những yêu cầu nói trên, việc xây dựng các khu vực phòng thủ trên địa bàn tỉnh (thành phố), huyện xây dựng các xã, phường chiến đấu... và hình thành các hướng chiến lược, chiến dịch trọng yếu ngay từ thời bình có ý nghĩa chiến lược to lớn. Nó bảo đảm chống lại mọi hành động chiến tranh của địch từ bất cứ phương nào tới một cách nhanh nhất, kịp thời nhất, tạo điều kiện tập trung lực lượng chủ yếu đánh những đòn then chốt ở nơi và lúc quyết định.


Dưới đây xin nêu một vài vấn đề gợi ý để tiếp tục nghiên cứu phát triển nghệ thuật tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Về mối quan hệ giữa lực lượng, thế trận và thời cơ.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lực lượng và thế trận là những yếu tố được chuẩn bị, xây dựng từ trước trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa bàn, từng khu vực.

Xây dựng lực lượng phải bảo đảm cân đối, hợp lý, có chất lượng cao, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở, hình thành lựclượng cơ động và lực lượng tại chỗ đều mạnh, có lực lượng triển khai ứng cứu nhanh. Mỗi lực lượng cần được tổ chức, trang bị và huấn luyện đủ sức làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình.


Dân quân tự vệ và bộ đội địa phương phải đánh được địch ngay từ đầu và bám trụ tại địa phương, liên tục tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân địch, sẵn sàng phối hợp với chủ lực phản công, tiến công tiêu diệt địch, đồng thời đập tan bạo loạn ở địa phương nếu kẻ địch gây ra, bảo vệ có hiệu quả các mụctiêu trọng yếu, tính mạng và tài sản của nhân dân. Huấn luyện cho các lực lượng vũ trang địa phương biết cách đánh địch đổ bộ đường biển, đổ bộ đường không, đánh biệt kích, đánh địch vu hồi, thọc sâu, chống địch phong tỏa, v.v... Lực lượng vũ trang địa phương cần được trang bị tương đối hiện đại đồng thời vẫn phải phát triển các loại vũ khí thô sơ, tự tạo.


Lực lượng chủ lực phải đáp ứng yêu cầu đánh lớn ngay từ đầu và đánh liên tục, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt những lực lượng quan trọng của địch trên hướng chủ yếu và vào thời cơ quyết định. Bộ đội chủ lực cần được huấn luyện nâng cao tính cơ động và trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn.


Thế trận chiến tranh nhân dân không chỉ bao gồm các lực lượng vũ trang được bố trí đứng chân trên các địa bàn theo kế hoạch phòng thủ thống nhất mà là thế trận của toàn dân, toàn quân ở cả phía trước và ở hậu phương chiến lược, chiến dịch, kết hợp sản xuất với sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, với mạng lưới bảo đảm tác chiến được chuẩn bị chu đáo: hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, y tế, kho tàng, cung ứng vật tư, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, sửa chữa bảo dưỡng kỹ thuật, phòng thủ dân sự, v.v...


Thời cơ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể xuất hiện nhanh và trong thời gian rất ngắn. Để nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ, vấn đề tổ chức trinh sát, nắm địch, thu thập, xử lý thông tin và hạ quyết tâm nhanh, bộ đội sẵn sàngchiến đấu và có sức cơ động cao là những yếu tố có ý nghĩa quyết định.


Như vậy, việc tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc phải được suy nghĩ, chuẩn bị từ thời bình trong phạm vi cả nướcvà ở từng địa phương, từng cơ sở trong quy hoạch tổng thể xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng.


Về cách đánh.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngay từ đầu đã phải thực hiện được sự phân tán, chia cắt đội hình địch, bao vây cô lập từng bộ phận, tạo thời cơ tập trung lực lượng đánh những đòn then chốt ở nơi và lúc quyết định. Muốn vậy, các lực lượng vũ trang địa phương phải chặn đánh, ghìm chân địch, vừa đánh trước mặt vừa đánh bên sườn và phía sau, tạo thế cài xen với địch. Các lực lượng chủ lực đứng chân trên các địa bàn có khả năng tiện cơ động đến các hướng và khu vực quan trọng, chóp thời cơ địch đang bị kìm chân, chia cắt và bộc lộ sơ hở để chọn mục tiêu đánh đòn tiêu diệt lớn.


Thực hiện yêu cầu đánh hiểm, đánh bất ngờ, phải hết sức giữ bí mật ý định hành động, lực lượng và phương tiện sử dụng, chọn đúng mục tiêu đánh vào các trung tâm chỉ huy, cơ sở hậu cần quan trọng, lực lượng và phương tiện chiến tranh chủ yếu của địch. Vận dụng rộng rãi các thủ đoạn thọc sâu, vu hồi bằng các lực lượng đặc công, bộ binh cơ giới, đổ bộ đường không... kết hợp với tác chiến du kích ở vùng sau lưng địch.


Nghệ thuật tác chiến Việt Nam là kết tinh những tri thức và kinh nghiệm được trả giá bằng xương máu của biết bao thế hệ trong lịch sử lâu dài chống xâm lược. Nó đã giải quyết thành công những mâu thuẫn của chiến tranh chống xâm lược ở Việt Nam, mà mâu thuẫn lớn nhất là phải lấy ít đánhnhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Tính đúng đắn, sáng tạo của nó được chứng minh bằng những chiến công hiển hách của dân tộc ta đã liên tiếp đánh bại những thế lực xâm lược lớn mạnh và hung hàn ở cácthời đại khác nhau. Nó không ngừng phát triển trên cơ sở tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc, trí thông minh sáng tạo của nhân dân và tài thao lược của các nhà lãnh đạo và thống soái kiệt xuất. Đó là một tài sản vô giá cả về lý luận, phương pháp luận và thực tiễn quân sự mà mỗi người chúng ta có trách nhiệm giữ gìn, vận dụng và phát triển lên nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #307 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:55:14 pm »

MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2001)


Lời nhà xuất bản


Để cung cấp cho bạn đọc tài liệu nghiên cứu về kho tàng nghệ thuật quân sự phong phú và độc đáo của Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự của Nhà giáo nhân dân, Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.    


Là một vị tướng đã từng trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh và chiến dịch lớn trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp và hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, tác giả không những đã dày công nghiên cứu và vận dụng kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc ta và của thế giới, mà còn đúc rút được những kinh nghiệm quý báu từ thực tế chiến trường.


Với cách luận chứng ngắn gọn, súc tích, sâu sắc, tác giả tập trung trình bày 12 vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó bao gồm: nghệ thuật tác chiến chiến lược; vận dụng thế và lực trong chiến tranh; nghệ thuật dụ địch; nghệ thuật chuyển hóa thế trận; nghệ thuật mưu kế; nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, v.v... Đây thực sự là những kinh nghiệm quý, góp phần làm phong phú thêm tinh hoa trí tuệ quân sự Việt Nam, đồng thời củng đặt ra những vấn đề cần được tích cực nghiên cứu và giải quyết nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.


Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo rất bổ ích đối với bạn đọc, nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chỉ huy trong quân đội, cán bộ giảng dạy và học viên trong các trường quân sự.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 9 năm 2001
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #308 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:57:12 pm »

I
MẤY VẤN ĐỀ
VỀ NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC


1. Khái niệm

Tác chiến chiến lược làmột hoạt động tác chiến lớn có phạm vi toàn quốc, diễn ra trên một địa bàn lớn, một chiến trường lớn, một vài chiến trường hoặc trên toàn bộ chiến trường trong nước do Bộ Tổng tư lệnh hoặc Bộ tư lệnh chiến trường chỉ huy, nhằm tiêu hao lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh và tiêu diệt một bộ phận lực lượng chiến lược quan trọng của địch, để bảo vệ những mục tiêu, địa bàn quan trọng, chủ yếu, hoặc giải phóng những mục tiêu, địa bàn trọng yếu, chủ yếu có ý nghĩa chiến lược.


Ý nghĩa của tác chiến chiến lược, của các chiến dịch chiến lược là làm thay đổi lớn cục diện chiến tranh, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh, tạo ra đột biến trong chiến tranh.

Nghệ thuật tác chiến chiến lược là nghiên cứu các quy luật, định ra các nguyên tắc, biện pháp, tổ chức, sử dụng và điều hành tác chiến các lực lượng vũ trang để phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, sử dụng lực lượng ba thứ quân trên phạm vi các chiến trường hoặc trong cả nước, trên toàn bộ chiến trường; là nghiên cứu các chiến dịch, các chiến dịch chiến lược của quân binh chủng hợp thành, hoặc các chiến dịch liên hợp của quần chúng, hoặc các chiến dịch độc lập của quần chúng.


Nghệ thuật tác chiến chiến lược là tổng hợp các sức mạnh của chiến tranh, là đấu tranh vũ trang kết hợp vớiđấu tranh chính trị, ngoại giao theo một ý định và kế hoạch thống nhất,phối hợp với nhau để tạo ra tình huống chiến lược có lợi, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của cấp chỉ huy chiến lược.


Nghệ thuật tác chiến chiến lược nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến chiến lược của địch, đánh bại ý đồ chiến tranh của địch, giành thắng lợi trong chiến tranh.

Đó là những khái niệm về tác chiến chiến lược và nghệ thuật tác chiến chiến lược. Tác chiến chiến lược còn thể hiện ở chiến cục. Trong phản công chiến lược, tổng phản công hoặc tiến công chiến lược, tổng tiến công thì thường diễn ra chiến cục, thể hiện cách đánh tập trung. Chiến cục là một trong những hình thức, là biểu hiện tập trung thống nhất của tác chiến chiến lược. Chiến cục diễn ra trong một thời gian dài hoặc tương đối dài, không gian rộng và tương đối rộng, theo một kế hoạch thống nhất của cấp chỉ đạo chiến lược. Chiến cục gồm nhiều chiến dịch, có chiến dịch lớn - chiến dịch chiến lược hoặc có ý nghĩa chiến lược; chiến dịch vừa; chiến dịch nhỏ và các hoạt động tác chiến của ba thứ quân, trên một địa bàn rộng lớn của chiến trường và trong một thời gian tương đối dài, có thể kéo dài cả một mùa trong một năm (chiến cục Đông Xuân năm 1953-1954) để thực hiện một ý định, kế hoạch thống nhất, nhằm đạt được mục đích chiến lược nào đó do Bộ Tổng tư lệnh quy định. Trong chiến cục thì các chiến dịch và các hoạt động tác chiến có sự phối hợp, hiệp đồng với nhau chặt chẽ, theo một kế hoạch thống nhất của Bộ Tổng tư lệnh, để các chiến địch và các hoạt động tác chiến tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển, tạo ra các tình huống thuận lợi cho các chiến dịch quan trọng, đi đến giành thắng lợi lớn hoặc quyết định. Trong chiến cục có thể có các đòn chiến lược - các chiến dịch chiến lược để đánh bại địch nhanh chóng hoặc chiến dịch quyết chiến chiến lược (chiến cục Đông Xuân 1953-1954 ta đã giăng quân Pháp ra khắp chiến trường Đông Dương để tập trung đánh Điện Biên Phủ thắng lợi và trong chiến cục Xuân 1975, ta đã tiến hành ba đòn chiến lược - ba chiến dịch chiến lược để giải phóng miền Nam).


Để tiến hành tác chiến chiến lược cần có một nghệ thuật cao. Nghệ thuật đó là biết vận dụng một phương pháp tác chiến - phương pháp chiến tranh phù hợp, biết so sánh lực lượng địch, ta về chiến lược và chiến thuật; biết dựa vào môi trường tác chiến và biết dựa vào tinh thần chiến đấu của hai bên đối địch; biết tìm và tạo ra sức mạnh của chiến tranh. Chiến tranh của ta là chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược. Do đó ta phải tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của ba thứ quân. Trong điều kiện lấy ít địch nhiều thì chiến tranh nhân dân cũng phải mạnh. Trong lịch sử dân tộc, chiến tranh nhân dân của ta phát triển rất sớm. Tổ tiên ta đã biết dựa vào sức mạnh của toàn dân để tiến hành kháng chiến thắng lợi.


Theo Trần Hưng Đạo, "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước".

Và Nguyễn Trãi quan niệm "Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân".

Còn Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là "một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 151).

Có thể nói, chiến tranh nhân dân là học thuyết quân sự Việt Nam. Học thuyết quân sự Việt Nam là chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích của ba thứ quân, là những tư tưởng, quan điểm lấy dân làm gốc, lấy chính nghĩa làm nền của quốc phòng và chiến tranh; của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân, là nguyên nhân, nguồn gốc của chiến tranh; là bản chất, tính chất của chiến tranh; và cũng là nhân tố thắng lợi trong chiến tranh, là những quy luật vận động của chiến tranh; là nghệ thuật lãnh đạo quốc phòng và chiến tranh. Tóm lại, đó là những quan điểm, tư tưởng, nguyên lý, quy luật về lãnh đạo quốc phòng và chiến tranh của một nước nhỏ đánh một nước lớn - lấy thế và thời để phát huy tài thao lược. Đó là đặc trưng của học thuyết quân sự Việt Nam và là trường phái quân sự Việt Nam. Tóm lại, học thuyết quân sự Việt Nam là chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược, toàn dân, toàn diện; tiến hành chiến tranh chính quy kết hợp với chiến tranh du kích của ba thứ quân; lấy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân làm cơ sở, vận dụng thế và thời trong khởi nghĩa, trong chiến tranh và trong tác chiến, để đánh thắng quân xâm lược lớn mạnh hơn mình nhiều lần.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #309 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:58:03 pm »

2. Phương pháp tác chiến

Tiến hành tác chiến chiến lược cũng có nhiều phương pháp, nhiều cách, cần căn cứ vào so sánh lực lượng hai bên, vào các giai đoạn của chiến tranh và vào khả năng, nghệ thuật của ta mà vận dụng các phương pháp cho phù hợp và sinh động. Nếu trong giai đoạn đầu của chiến tranh mà địch rất mạnh, ta phải tạm thời rút lui và đánh nhở trên toàn tuyến, tiêu hao địch, dụ địch vào sâu, phân tán địch, tiêu diệt nhỏ quân địch, để bảo toàn lực lượng của ta và tranh thủ thời gian củng cố phát triển lực lượng. Trần Hưng Đạo và Hồ Chí Minh đã thực hiện rất thành công phương pháp này. Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã thực hiện phường pháp chiến đấu này và đề ra phương châm rất hay, rất phù hợp là du kích chiến và du kích vận động chiến, tổ chức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. Ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, nếu địch vẫn mạnh hơn ta, nhưng không mạnh lắm, ta không yếu quá, không sợ bị địch tiêu diệt, có khả năng đương đầu với địch thì có thể phòng ngự chặn địch lại, để không cho địch chiếm các địa bàn chiến lược trọng yêu. Khi đã chặn được địch lại, tiêu hao địch nặng nề và còn đủ sức thì chuyển sang phản công để tiêu diệt địch. Lý Thướng Kiệt đã chặn Quách Quỳ ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) để bảo vệ kinh thành Thăng Long; sau đó chuyểnsang phản công tiêu diệt địch. Ở các giai đoạn sau của chiến tranh, khi lực lượng ta đã mạnh lên và địch đã yếu đi, ta có thể phản công và tiến công. Ở giai đoạn giữa của chiến tranh, khi lực lượng ta đã tương đối mạnh lên thì phương pháp tác chiến của ta có thể là đánh nhỏ và đánh vừa, mở các chiến dịch nhỏ và vừa, kết hợp với các hoạt động tác chiến nhỏ rộng khắp trên toàn chiến trường của ba thứ quân, có cả tiến công và phòng ngự, song tiến công vẫn là chủ yếu. Các chiến dịch nhỏ và vừa phải có chọn lọc, đánh địch ngoài công sự là chính; có điều kiện mới đánh địch trong công sự. Năm 1950, trong kháng chiến chống Pháp, ta đánh một vị trí công sự vững chắc Đông Khê là khêu ngòi để đánh vận động tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông giành thắng lợi giòn giã.


Năm 1967, trong kháng chiến chống Mỹ, bộ đội Tây Nguyên pháo kích vào Đắc Tô - Tân Cảnh, căn cứ của một lữ đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 4 của Mỹ cũng là để khêu ngòi cho đánh vận động tiêu diệt những đơn vị của lữ đoàn dù 173 Mỹ và một vài đơn vị của sư đoàn không vận Mỹ; cuối cùng đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 của Mỹ trên đồi 875 nổi tiếng. Đến giai đoạn tổng phản công, phương pháp tác chiến chiến lược có thể tiến hành bằng các cách như sau: tiến công kế tiếp, tiến công gổĩ đầu, tiến công đồng loạt và vừa tiến công, vừa vây hãm, vừa phòng ngự, muôn hình, muôn vẻ. Trong cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975, phương pháp tác chiếnchiến lược của ta vừa có phương pháp gối đầu, vừa có phương pháp kế tiếp. Mùa Xuân 1975, ý đồ và kế hoạch của ta là mở cácchiến dịch lớn để tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và giải phóng những địa bàn chiến lược quan trọng. Muốn thế, ta lại phải tổ chức các đòn chiến lược - các chiến dịchchiến lược. Các sư đoàn, quân đoàn và lực lượng vũ trang các quân khu của ta đã sẵn sàng ở tuyến tác chiến. Ta mởchiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch đầu tiên của cuộc tổng tiến công, là đòn chiến lược đầu tiên, là chiến dịch chiến lượcđầu tiên. Các đơn vị khác của ta ở Huế, Đà Nẵng cũng sẵn sàng vào trận cùng tiến hành đòn chiến lược thứ hai - chiến dịch chiến lược thứ hai.


Ngày 25 tháng 3 năm 1975, ta giải phóng Tây Nguyên và tiếp tục truy kích địch đang rút chạy xuống đồng bằng. Trước đó, ngày 21 tháng 3 năm 1975, ta tiến công Huế, không đợi kết thúc chiến dịch Tây Nguyên và ngày 25 tháng 3 năm 1975, quân ta giải phóng Huế. Sau khi giải phóng Tây Nguyên, ta tiếp tục tiến công xuống vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và ngày 3 tháng 4 năm 1975 giải phóng Cam Ranh, kết thúc chiến dịch Tây Nguyên. Trước đó, ngày 29 tháng 3 năm 1975, bộ đội cánh bắc của ta giải phóng Đà Nẵng, kết thúc chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Như thế, phương pháp tác chiến chiến lược ở đây là phương pháp gối đầu giữa hai chiến dịch - đó là phương pháp thứ nhất.


Phương pháp thứ hai là phương pháp kế tiếp. Sau hai chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, ta mỏ chiến dịch chiến lược thứ ba - đòn chiến lược thứ ba, chiến dịch quyết chiến chiến lược để giải phóng Sài Gòn (chiến dịch Hồ Chí Minh). Để chuẩn bị mở chiến dịch Hồ Chí Minh, ta có một đợt hoạt động đêm để địch không kịp tổ chức phòng ngự và ta có điều kiện điều động, bố trí lực lượng. Đến ngày 26 tháng 4 năm 1975, ta mới bắt đầu tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến dịch Hồ Chí Minh là kế tiếp chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng.


Phương pháp thứ ba là phương pháp tiến hành đồng thời, đồng loạt mở các chiến dịch tiến công của tác chiến chiến lược. Cuộc tổng tiến công năm 1285 trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, Trần Hưng Đạo đã mở cuộc tiến công đánh đạo quân chủ lực của chủ tướng Thoát Hoan ở Thăng Long; Trần Nhật Duật cũng đồng thời mở cuộc tiến công đánh Toa Đô ở Tây Kết. Thoát Hoan và Toa Đô đồng thời bị tiêu diệt chỉ cách nhau có mấy ngày. Đó là phương pháp tổng tiến công chiến lược một cách đồng thời, đồng loạt.


Cũng có một phương pháp khác trong tổng tiến công, tổng phản công là vừa có tiến công, vừa có vây hãm và có cả phòng ngự.

Phương pháp tác chiến chiến lược vừa có tiến công, phản công và phòng ngự được Lý Thường Kiệt áp dụng trên tuyến phòng ngự ở sông Như Nguyệt để bảo vệ Thăng Long và đã thành công.

Trong giai đoạn tiến công và phản công chiến lược thường diễn ra các trận đánh lớn, các chiến dịch rất lớn. Có thế mới nhanh chóng đánh bại địch về chiến lược, tạo ra các bước ngoặt của chiến tranh.

Năm 1427, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh quân nhà Minh, vừa phản công đánh Liễu Thăng ở Chi Lăng, vừa tiến hành vây hãm Vương Thông ở Đông Đô (Thăng Long), lại vừa chặn đánh (phòng ngự) Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa.


Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô đã phòng ngự chiến lược ở phía tây đất nước nhằm ngăn chặn quân phát xít Hít-le và đã làm chậm bước tiến của quân xâm lược.

Trong cuộc tổng tiến công đầu năm 1945, Hồng quân Liên Xô đã đồng loạt mở cuộc tổng tiến công vào nước Đức phát xít và các nước Đông Âu.

Thực hiện phương pháp nào là căn cứ vào so sánh lực lượng địch, ta; vào hình thái, hình thế chiến trường; vào khả năng và tài thao lược của ta. Thực hiện phương pháp gôì đầu và đồng loạt thì địch sẽ nhanh chóngbị đánh bại.


Phương pháp tác chiến chiến lược là có gối đầu, kế tiếp và đồng loạt, diễn ra ở dạng các đòn chiến lược trong một khung chiến cục, một tổ chức hoạt động tác chiến chiến lược thống nhất, tập trung về kế hoạch, thời gian và tình huống.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM