Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Tư, 2024, 01:06:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 10024 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #260 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:02:30 pm »

Hai là, nghệ thuật lập thế trận chiến lược.

Lập thế trận chủ yếu là ở việc tổ chức, bố trí lực lượng trong những không gian thích hợp, vào thời gian thích hợp, với những khả năng thích hợp. Khi nói đến thế trận, trước hết cần phải xét đến yếu tố cơ bản tạo thành thế trận là lực lượng, xem nó đã được sắp đặt như thế nào? Cho đến trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, chúng ta đã bố trí được những lực lượng mạnh và sung sức trên tất cả các hướng chiến trường. Cùng với việc bổ sung quân số, trang bị đủ theo biên chế, lần đầu tiên ta đã thành lập và bố trí các quân đoàn binh chủng hợp thành tại các mặt trận Trị - Thiên, Đông Nam Bộ, và các sư đoàn độc lập ở quân khu 5 và Tây Nguyên. Các binh đoàn ấy vừa là quả đấm thép cơ động chiến lược, vừa là lực lượng chủ lực tập trung tại chỗ, với trang bị kỹ thuật mạnh chưa từng thấy, được huấn luyện tác chiến theo hướng hợp đồng binh chủng cấp chiến dịch, có đội dự bị theo chiều sâu, bảo đảm chiến đấu trong thời gian và không gian cần thiết, đã tạo nên ưu thế lực lượng tổng quát hơn địch trên từng hướng. Sự bố trí binh lực như thế đã không có được hồi năm 1972.


Chúng ta cũng đã hoàn chỉnh cả một mạng lưới đường sá và căn cứ hậu cần cấp chiến lược và chiến dịch, bảo đảm cung ứng vật chất và cơ động bộ đội ra phía trước. Sau Hiệp định Pa-ri, ta đã tổ chức được mạng lưới ấy một cách nhanh chóng, đặc biệt là đã hoàn chỉnh mạng đường chiến lược 559 với hệ thống đường ống dẫn dầu kỳ diệu trong hai năm 1973-1974; nhờ vậy chúng ta đã đưa đến các hướng chiến trường một khối lượng vật chất gấp 8 - 9 lần khối lượng của năm 1972. Điều đó không những tạo khả năng bảo đảm nhiệm vụ tác chiến trước mắt mà còn cho phép ta chuẩn bị lực lượng dự trữ để tăng cường thế trận theo chiều sâu.


Từ nửa cuối năm 1973, với việc chỉ đạo kiên quyết phân công đánh bại các hoạt động lấn chiếm của địch ngay tại nơi xuất phát của chúng, và những chiến thắng liên tiếp nhất là trong năm 1974, chúng ta đã giành được quyền chủ động cả về chiến lược và chiến đấu, nâng cao tinh thần phấn khởi, quyết tâm của bộ đội, góp phần xác lập thế trận có lợi trước chiến cuộc Xuân 1975. Ở mặt trận Trị - Thiên, với việc phá vỡ một phần tuyến phòng ngự thành phố Huế, chúng ta uy hiếp địch không những từ hướng bắc mà còn từ hướng tây và hướng nam. Các căn cứ lực lượng đặc biệt của địch cắm trong vùng giải phóng và vùng giáp ranh trên mặt trận Trung Trung Bộ và Tây Nguyên đã bị nhổ bật, nhổ gọn làm cho khu giải phóng của ta hình thành thế liên hoàn, căn cứ hậu phương chiến lược, chiến dịch được mở rộng. Với việc đó ta đã xóa bỏ được khả năng địch thực hành các mũi vu hồi bằng lực lượng tại chỗ, buộc chúng phải phòng ngự và tác chiến theo những hướng nhất định. Trên mặt trận Nam Bộ, thế trận có lợi cho ta cũng được củng cố theo đà tiến công phá bốt, mở vùng liên tiếp giành được thắng lợi, nhất là trên chiến trường Khu 9.


Như vậy, với việc triển khai binh lực, tổ chức bảo đảm hậu cần, giành quyền chủ động tác chiến, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng hậu phương trực tiếp trên từng hướng chiến lược..., chúng ta đã xác lập một thế trận sâu hiểm và vững chắc trên toàn bộ chiến trường miền Nam.


Một thế trận như vậy trước đó chưa từng xuất hiện trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thế trận ấy chính là bắt nguồn từ thế trận chiến tranh nhân dân với sức mạnh của toàn dân, của cả nước đánh giặc bằng hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự, bằng ba thứ quân với tư tưởng chiến lược tiến công và phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ và tiêu diệt địch, đánh địch bằng hai phương thức: chiến tranh nhân dân địa phương kết hợp với tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân đã được xây dựng từ hàng chục năm trước đó, mùa Xuân năm 1975 ta đã lập được thế trận sâu hiểm cài xen với địch từ Trị - Thiên đến Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Quân địch không chỉ phải đối phó ở Trị - Thiên - Huế mà còn phải đồng thời đối phó ở ngay cửa ngõ Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của chúng. Do đó lực lượng của chúng bị phân tán, căng kéo, tạo thành một trận tuyến dài và mỏng, không có lực lượng dự bị hùng hậu, bị đánh ở đâu đối phó ở đó, không thể cơ động, ứng cứu lẫn nhau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #261 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:03:34 pm »

Ba là, nghệ thuật giành và nắm thời cơ, chuyển hóa thế trận.

Đầu năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã thông qua kế hoạch hai năm hoàn thành việc giải phóng miền Nam, đồng thời cũng dự kiến phương án: nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Kế hoạch đó lá kết quả của việc nắm thời cơ trên cơ sở phân tích tình hình lúc ấy. Sự phát triển của cách mạng, cũng như sự tiến triển chung của lịch sử loài người, đều tuân theo một quy luật: từ phát triển tuần tự đến những bước nhảy vọt. Nhưng khác với nhiều lĩnh vực khác trong xã hội, trong chiến tranh cách mạng, một bước nhảy vọt này có thể tạo ra thời cơ đưa tới một bước nhảy vọt khác có tính chất dây chuyền, đem lại một sự nhảy vọt về chất. Thời cơ ấy chỉ xuất hiện trong khoảnh khác, và phải có tầm nhìn chiến lược sắc sảo nhạy bén mới nắm bắt được nó. Chúng ta đều biết, thời cơ được tạo ra là do các tình huống trong chiến tranh và là kết quả cụ thể của những thắng lợi mà ta đã giành được. Mùa Xuân năm 1975, cách mạng miền Nam đã đi những bước "một ngày bàng hai mươi năm" sau chiến dịch Tây Nguyên, thời cơ chiến lược đến không phải từng ngày mà là từng giờ. Thời cơ đã được tạo ra; thời cơ phải được nắm lấy để giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Theo sát sự phát triển của tình hình, trên cơ sở phân tích chính xác các sự kiện, ngày 18 tháng 3 năm 1975 Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định cuộc tổng tiến công chiến lược đã diễn ra ngay trong năm 1975, mờ đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên, và quyết định hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngày 25 tháng 3, thấy trước sự thất bại không thể tránh khỏi của địch ở Huế và Đà Nẵng, nắm bắt thời cơ mới, Bộ Chính trị lại quyết định giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Không dừng lại, ngày 31 tháng 3 Bộ Chính trị đã ấn định thời điểm cuối cùng: kết thúc chiến tranh ngay trong tháng 4 năm 1975.


Mười năm đã trôi qua, đến nay nhìn lại các sự kiện năm 1975 bằng con mắt phê phán của lịch sử, chúng ta có thể khẳng định: việc rút ngắn thời gian của các kế hoạch chiến lược như Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định là tuyệt đối đúng. Nắm thời cơ là một nội dung và yêu cầu rất quan trọng của nghệ thuật chỉ huy, đòi hỏi tính năng động chủ quan rất cao của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh. Vào mùa Xuân năm 1975, nghệ thuật nắm bắt thời cơ không hề bắt nguồn từ sự tính toán phiêu lưu mà là sự quyết đoán chính xác dưa trên cơ sở phân tích khoa học, khả năng giành thắng lợi chắc chắn. Nó cũng không hề phạm phải sự cứng nhắc của chủ nghĩa kinh nghiệm. Đây là một vấn đề thuộc về phương pháp luận. Chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, rất dài, một cuộc chiến tranh phải giành thắng lợi từng bước. Bởi vậy chúng ta đã quen đặt kế hoạch chiến lược theo một quá trình nhất định, tạo và nắm thời cơ theo các chiến cuộc. Mùa Xuân năm 1975, khi xuất hiện những nhân tố mới - những nhân tố do chính chúng ta tạo ra - đưa đến thời cơ mới, Đảng ta đã nhạy bén nắm lấy nó. Trận Buôn Ma Thuột mở đầu chiến dịch Tây Nguyên đã làm rung chuyển thế trận chiến lược của địch. Chúng hoảng loạn rút chạy khỏi Tây Nguyên trong một cuộc hành quân được thiết kế vội vã. Nắm lấy sai lầm của địch, chớp lấy thời cơ chiến dịch do thời cơ chiến thuật đẻ ra, chúng ta đã nhamh chóng giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Thời cơ chiến dịch lại làm nảy sinh thời cơ chiến lược. Nắm bắt thời cơ ấy, chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam trong một thời gian ngắn nhất.


Như vậy, bước sang năm 1975, thời cơ lớn xuất hiện là kết quả chín muồi của quá trình chiến tranh cách mạng lâu dài và của sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta từ sau Hiệp định Pa-ri, do những thãt bại nặng nề của quân ngụy trong hai năm 1973-1974 mà cái "nút" là trận Phước Long có ý nghĩa chiến lược để thăm dò và xác định khả năng của hai bên. Nắm đúng thời cơ, ta đã tạo ra bước nhảy vọt từ chiến dịch Tây Nguyên với trận mở đầu then chốt đánh vào vị trí hiểm yếu Buôn Ma Thuột. Phải có tầm nhìn chiến lược mang đầy đủ tính cách mạng và khoa học, sáng suốt và táo bạo thì mới có thể nhận ra từ đấy một thời cơ chiến lược.


Nhưng thời cơ tự nó không phải là một yếu tố vật chất đem lại chiến thắng. Đi đôi với việc nắm bắt thời cơ là nghệ thuật tổ chức thực tiễn. Chưa bao giờ trong một thời gian ngắn chúng ta lại mở một loạt các chiến dịch cỡ trên quân đoàn và nhiều quân đoàn và giành thắng lợi to lớn, triệt để như vậy. Để tiến hành một loạt chiến dịch như thế, trước hết cấp chiến lược phải tổ chức huy động, tập trung những binh lực to lớn về cung cấp một khối lượng vật chất khổng lồ. Trong chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu - chúng ta tập trung 5 sư đoàn; đến chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch cuối cùng - lực lượng tham gia là 5 quân đoàn (Đoàn 232 tương đương một quân đoàn). Trong điều kiện lực lượng có hạn - mà trong bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng đều có sự hạn chế về lực lượng - thì kiên quyết cơ động, tích cực cơ động, tăng tốc độ và cường độ cơ động sẽ cho phép tạo ra sừc mạnh ở những nơi cần thiết, lực lượng một sẽ thành mười. Trong chiến tranh, thời gian là lực lượng, chân lý đó đã được nhiều nhà lý luận và chỉ huy quân sự ở các thời đại khẳng định. Trong chiến cuộc Xuân 1975, bằng cơ động nhanh, nhiều quân đoàn, sư đoàn trong một thời gian ngàn đã tham gia liên tiếp hai, ba chiến dịch (kể cả những chiến dịch thuộc phạm vi quân khu). Đó là kết quả của năng lực tổ chức và điều hành chiến cuộc.


Chúng ta cũng đã nắm vững đặc điểm của địch ỏ từng khu vực để chỉ đạo cụ thể từng chiến dịch, không máy móc. Đối với Tây Nguyên, địch ở trạng thái tĩnh, bố trí ổn định, ta đã chỉ đạo công tác chuẩn bị thật chặt chẽ, tiến hành từng bước vững chắc. Khi bắt đầu tác chiến thì nắm lực lượng dự bị mạnh, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Đối với Huế - Đà Nẵng, địch ở trạng thái động, đang hoang mang rối loạn, ta đã nhấn mạnh yếu tố thời cơ khẩn trương đánh thẳng vào trung tâm hệ thống phòng ngự của địch ngay cả khi ta chưa kịp tập trung đủ lực lượng. Đối với Sài Gòn, địch tuy đã bị rung động, ở trong thế thất bại về chiến lược, nhưng vì đó là sào huyệt cuối cùng, chúng phải bảo vệ bằng mọi giá, nên ta đã khẩn trương huy động mọi khả năng, tập trung lực lượng áp đảo tuyệt đối quân địch, đánh chắc thắng. Đó là sự chỉ đạo đúng đắn, khoa học và táo bạo của cơ quan chỉ huy và tham mưu chiến lược.


Thắng lợi của các chiến dịch tiến công ấy là những đòn chí tử đối với địch và có tác động mạnh mẽ về mặt chiến lược. Chiến dịch Tây Nguyên dẫn đến giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, bẻ quặt chiến tranh sang một hướng mới. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng làm chủ hoàn toàn miền Trung và Nam Trung Bộ, đẩy tiền duyên chiến lược của địch về phía sau nửa nghìn ki-lô-mét. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đập tan toàn bộ quân địch tại sào huyệt cuối cùng của chúng, kết thúc chiến tranh thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #262 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:04:26 pm »

Cần nhấn mạnh thêm là chúng ta đã vận dụng và kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực, giữa tiến công và nổi dậy - một quy luật chi phối xuyên suốt cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc ta. Tác chiến của bộ đội địa phương và nổi dậy của quần chúng nhân dân đã hỗ trợ đắc lực và phát huy kết quả của các chiến dịch tiến công; ngược lại các chiến dịch tiến công thắng lợi lại tạo điều kiện và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào nổi dậy của quần chúng. Trong thực tế, ta đã giành được chính quyền ở một loạt thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn bằng tác chiến nhỏ kết hợp với nổi dậy.


Nghệ thuật điều hành chiến cuộc Xuân 1975 còn nổi bật trong khâu tổ chức hậu phương. Vào thời điểm đang tiến hành các chiến dịch tiến công ở miền Nam, chúng ta đã thành lập trên miền Bắc nhiều sư đoàn bộ binh và trung đoàn phòng không, vừa làm lực lượng dự bị chiến lược vừa sẵn sàng đối phó với khả năng một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và một cuộc tập kích chiến lược bằng lực lượng bộ binh của địch vào hậu phương lớn. Cùng với các binh đoàn tác chiến, hàng chục vạn tân binh mới tuyển đã được huấn luyện cấp tốc và đưa nhanh ra tiền tuyến. Trong một thời gian rất ngắn, chúng ta đã tập trung cố gắng huy động mọi phương tiện và khả năng bảo đảm vật chất cho chiến trường dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chi viện chiến trường được thành lập ở Trung ương. Tất cả những điều đó chứng tỏ guồng máy của bộ tham mưu chiến lược đã hoạt động một cách khẩn trương, chính xác và có hiệu quả.


Bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 được thể hiện đồng thời trong những nét chung và những nét đặc thù của từng chiến dịch riêng biệt.

Đây là những chiến dịch tiến công nhằm thẳng vào các thành phố, thị xã lớn - căn cứ chủ yếu của từng quân khu của địch hoặc của ngụy quyền trung ương - với mục đích giải phóng đất đai và tiêu diệt sinh lực địch. Thành phố, thị xã lớn là nơi tập trung các cơ quan đầu não và cũng là nơi đông người, nhiều của nên kẻ địch hết sức chú trọng bảo vệ. Nhưng do đặc điểm chiến tranh nhân dân của ta, chúng không thể tổ chức phòng thủ một cách chặt chẽ, thành từng tuyến có chính diện liên tục và chiều sâu lớn. Tuy nhiên nếu đánh hơi thấy các đòn tiến công của ta, chúng sẽ nhanh chóng tăng cường lực lượng, tổ chức co cụm phòng thủ. Đó là tình hình thực tế đã được kinh nghiệm của năm 1972 chứng minh. Bởi vậy, trong các chiến dịch Xuân 1975, chúng ta đều dự kiến hai phương án tác chiến: phương án đánh địch không tổ chức phòng ngự chiến dịch và phương án đánh địch co cụm. Trên thực tế chúng ta đã tiến hành nghi binh, hoặc lợi dụng sự sơ hở và hỗn loạn của địch để đánh theo phương án thứ nhất. Đó là sự lựa chọn tối ưu, bảo đảm tiết kiệm sinh lực nhiều nhất và giành thắng lợi nhanh nhãt.


Trong vấn đề lựa chọn hướng và mục tiêu tiến công nhằm nhanh chóng đánh quỵ quân địch, ta đều nhằm vào những nơi hiểm yếu nhưng có sơ hở của địch, về hướng tiến công, nơi hiểm yếu là nơi địch có sơ hở, ta có thể nhanh chóng, bất ngờ đánh thẳng vào sở chỉ huy và căn cứ quan trọng của chúng. Về mục tiêu tiến công, nơi hiểm yếu là nơi mà kết quả thắng lợi của ta sẽ có tác dụng làm rung chuyển thế trận của địch về chiến dịch và về chiến lược, về mặt chiến lược, nam Tây Nguyên chính là nơi hiểm yếu đối với toàn cục, nên đã được lựa chọn để mở đầu chiến cuộc Xuân 1975.


Việc lựa chọn mục tiêu có tính chất hiểm yếu đã dẫn đến một cách đánh chiến dịch đặc trưng cho cuộc Tổng tiến công Xuân 1975: thọc sâu. Đó là cách đánh bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, dùng lực lượng mạnh và tinh nhuệ tiến công mãnh liệt, vô hiệu hóa một số mục tiêu, kết hợp trong đánh ra ngoài đánh vào, khiến địch khó có khả năng chống trả hữu hiệu. Đây là cách đánh có hiệu suất lớn. Nó đòi hỏi sự chính xác rất cao trong việc chọn hướng, chọn mục tiêu, sự kiên quyết trong chỉ huy và dũng mãnh trong tác chiến. Chúng ta cũng đã thực hiện một cách phổ biến việc chia cắt địch ngay từ đầu và trong suốt quá trình tác chiến, thực hiện chia cắt chiến lược, chia cắt chiến dịch, bao vây chặt và tiến công kiên quyết.


Là những chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng quy mô lớn, chúng ta đã đặc biệt chú ý phát huy vai trò và tác dụng của các binh chủng kỹ thuật, ở đây, nổi bật lên vai trò của bộ đội xe tăng - thiết giáp với tư cách là lực lượng đột kích mạnh, đã làm tăng khả năng đánh địch trong hành tiên, chiếm lĩnh mục tiêu trong hành tiến của tác chiến chiến dịch.


Ngoài những nét chung, có thể nhận thấy những nét nổi bật riêng biệt về sự phát triển nghệ thuật quân sự trong từng chiến dịch.

Đó là nghệ thuật nghi binh lừa địch trong chiến dịch Tây Nguyên, với những hoạt động và biện pháp được tiến hành một cách khoa học, hợp lý. Nhờ đó, chúng ta đã điều khiển địch từng bước, khiến chúng bị đánh lừa cho đến phút chót cả về hướng tiến công, lực lượng tiến công và thời cơ tiến công. Chiến dịch này cũng nổi bật về thực hiện chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch, tạo nên một thế trận rất đẹp. Từ thực tiễn của chiến dịch này, có thể khái quát một khía cạnh của nghệ thuật quân sự: mưu cao nhất là mưu lừa địch và kẽ hay nhất là kế điều địch. Lừa được địch và điều được địch thì sẽ tạo ra được bất ngờ tối đa và chủ động tối đa. Bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến.


Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, đó là nghệ thuật tổ chức hiệp đồng các hướng trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động, nghệ thuật chớp thời cơ chiến dịch, hành động khẩn trương, táo bạo, kiên quyết tiến công, tiến công liên tục cho đến tận sào huyệt cuối cùng của địch. Đây là một chiến dịch lớn được tổ chức gấp rút trên cơ sở hai chiến dịch nhó ban đầu với mục tiêu hạn chẽ của cấp quân khu (Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5). Đây cũng là một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch.


Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đó là nghệ thuật tổ chức và chỉ huy một chiến dịch chiến lược với sự tham gia của hầu hết các binh đoàn chủ lực, của các quân binh chủng. Từ chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 với sự tham gia của vài trung đoàn đến chiến dịch chiến lược Hồ Chí Minh Xuân 1975 với 5 quân đoàn chủ lực và các quân binh chủng, chúng ta đã đi một bước rất dài.


Ngày nay, mười năm sau ngày chiến thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chúng ta lại đang đứng trước những âm mưu và hành động phá hoại, xâm lược của kẻ thù mới. Nền nghệ thuật quân sự của chúng ta luôn luôn là một nền nghệ thuật quân sự chống ngoại xâm. Nó kế thừa những kinh nghiệm đánh giặc của ông cha trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước và được Đảng ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa lên một đỉnh cao mới. Ngày nay nó phải được tiếp tục phát triển và nâng cao hơn nữa cho phù hợp với những điều kiện mới và để đáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tô quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #263 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:05:56 pm »

X. TÌM HIỂU MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN BẢO VỆ ĐẢO QUA CUỘC CHIẾN TRANH Ở MAN-VI-NÁT
(Bài viết vào cuối năm 1982)


Cuộc chiến tranh giữa Ác-hen-ti-na và Anh diễn ra tại khu vực quần đảo Man-vi-nát (nam Đại Tây Dương) vào giữa năm 1982 đã gây ra những cuộc bàn luận sôi nổi của giới quân sự nhiều nước trên thế giới xung quanh vấn đề phương pháp tác chiến bảo vệ hải đảo trong những điều kiện của chiến tranh hiện đại.


Chiến lược đại dương là một thành phần trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của một số nước lớn. Hải đảo lại giữ vị tri quan trọng trong không gian đại dương. Tại những hải đảo nhất định, có thể xây dựng những căn cứ quân sự liên hợp hải - không - lục quân. Đây là trạm tiếp tế, nơi dừng chân, điểm tựa và căn cứ xuất phát cho những lực lượng hải quân, không quân và lục quân, đặc biệt là cho những đơn vị thuộc một hạm đội nhất định. Thậm chí những hải đảo có diện tích rất nhỏ cũng có thể được sử dụng làm nơi đặt các trạm trinh sát điện tử.


Phía tiến công từ ngoài biển có thể dựa vào hải đảo và tuyến hải đảo làm bàn đạp, làm nơi xuất phát để mở những cuộc tiến công vào lục địa.

Phía phòng ngự ở đất liền có thể dùng hải đảo, tuyến hải đảo làm hàng rào chắn, làm tuyến tác chiến phía trưởc khác nào một tấm áo giáp che chở vững chắc cho đất liền.

Chính do tầm quan trọng đó của các hải đảo mà trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc tranh chấp giữa một số nước nhằm thâu tóm một số hải đảo vào phạm vi chủ quyền của mình. Hòng kiểm soát các đại dương thế giới, Mỹ đã chiếm đóng nhiều hải đảo trên Đại Tây Dương. Riêng tại Thái Bình Dương, do kết quả của chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã chiếm dụng hầu hết các quần đảo ở vùng giữa Thái Bình Dương từ bắc chí nam, lập nên tuyến trung gian hải đảo ở tây Thái Bình Dương từ các đảo A-li-u-xiên đến Mít-uê, qua các đảo Ô-ki-na-oa, Gu-am, quần đảo Mi-crô-nê-xi-a đến tận Úc và Niu Di-lơn. Tiếp đó là tuyến hải đảo tiền tiêu tiếp cận với lục địa châu Á chạy từ các hòn đảo Nhật Bản xuống Đài Loan rồi đến các hòn đảo Phi-líp-pin, với một đầu cầu lục địa ở Đông Bắc Á là Nam Triều Tiên (trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 còn có một đầu cầu lục địa nữa tại Đông Nam Á là miền Nam Việt Nam). Từ những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, Mỹ đã xúc tiến việc xây dựng những căn cứ liên hợp hải - không quân lớn tại quần đảo Đi-ê-gô Gác-xi-a nhằm khống chế Ấn Độ Dương. Các tuyến hải đảo là thành phần quan trọng của thế trận đại dương nói riêng, thế trận chiến lược toàn cầu nói chung của đế quốc Mỹ.


Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, ngoài tầm quan trọng về chiến lược quân sự, nhiều hải đảo còn mang ý nghĩa quan trọng mới về kinh tế do việc phát hiện những khu vực dầu mỏ mang trữ lượng lớn tại nhiều vùng thềm lục địa. Nếu như nền công nghiệp nước Anh trước đây phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông, thì ngày nay những giếng dầu đang được khai thác ở ngoài khơi miền Bắc nước này đang đem lại những triển vọng đáng khích lệ về nguồn năng lượng cho các hòn đảo Anh.


Chính trong lúc các giới quân sự trên thế giới đang chăm chú nghiên cứu vai trò của các hải đảo trong chiến lược quân sự và kinh tế của nhiều nước trong bối cảnh tình hình thế giới đầu những năm 80 thì nổ ra cuộc chiến tranh giữa Ác-hen-ti-na và Anh tại khu vực quần đảo Man-vi-nát.


Về vị trí địa lý chiến lược, quần đảo Man-vi-nát gồm có 2 đảo lớn và khoảng 200 đảo nhỏ ở vùng tây - nam Đại Tây Dương, cách bờ biển phía nam Ác-hen-ti-na khoảng 600km và cách nước Anh khoảng 12.000km. Với diện tích 11.718km2, quần đảo có số dân thưa thớt chỉ khoảng 1.800 người gốc Anh làm nghề chăn nuôi, đánh cá, sản xuất len...


Quần đảo Man-vi-nát chỉ cách mũi Óoc-nôit (Hornos) ở cực nam châu Mỹ khoảng 400km, nên được Lầu năm góc xem như một "tháp canh" quan trọng trên eo biển nối liền Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, cụ thể là nối liền hạm đội 2 Đại Tây Dương với các hạm đội 3 Đông Thái Bình Dương và hạm đội 7 Tây Thái Bình Dương của hải quân Mỹ trong trường hợp kênh đào Pa-na-ma bị tắc nghẽn. Mối quan tâm của Lầu năm góc đối với quần đảo Man-vi-nát càng tăng lên khi chính quyền Oa-sinh-tơn dự định xúc tiến việc thành lập khối liên minh quân sự Nam Đại Tây Dương bao gồm Mỹ, Bra-xin, Ác-hen-ti-na và một số nước Nam Mỹ khác ở ven bờ Đại Tây Dương.


Mặt khác, từ những năm cuối thập kỷ 70, quần đảo Man-vi-nát bỗng chốc thu hút sự chú ý đặc biệt của các công ty kinh doanh dầu mỏ Mỹ - Anh sau khi những cuộc thăm dò cho thấy trữ lượng dầu mỏ có thể khai thác được ở khu vực này lên đến 70 - 80 tỷ tấn. Đối với một nước Anh đang bị khốn đốn vì những khó khăn kinh tế - tài chính chồng chất, đây là tia sáng lóe ra đầy hy vọng.


Về mặt lịch sử, Man-vi-nát vốn là vùng đất thuộc Ác-hen-ti-na nhưng bị thực dân Anh xâm chiếm từ năm 1833. Nhân dân Ác-hen-ti-na đã liên tục đấu tranh đòi lại chủ quyền của mình đối với quần đảo này nhưng đều bị đế quốc Anh ngoan cố bác bỏ. Sau nhiều lần thương lượng không đem lại kết quả gì, chính quyền Ác-hen-ti-na đã quyết định dùng hành động quân sự. Ngày 2 tháng 4 năm 1982, quân đội Ác-hen-ti-na đổ bộ lên quần đảo. 81 sĩ quan và lính thủy đánh bộ Anh đồn trú và viên toàn quyền Anh trên quần đảo đã đầu hàng. Chính quyền Luân Đôn phản ứng bằng cách phái một lực lượng đặc nhiệm đến đánh chiếm lại quần đảo Man-vi-nát và làm nổ ra cuộc chiến tranh giữa Anh và Ác-hen-ti-na tại khu vực này.


Việc giành lại quần đảo Man-vi-nát là quyền thiêng liêng của nhân dân Ác-hen-ti-na. Song cuộc chiến tranh này lại trước hết nằm trong những tính toán chiến lược phức tạp của các bên. Về phía Ác-hen-ti-na, vào thời điểm đầu năm 1982, chính quyền nước này do tướng Gan-ti-ê-ri cầm đầu là một chính quyền quân sự độc tài đang vấp phải những khó khăn gay gắt về kinh tế và sự phản kháng quyết liệt của nhân dân trong nước. Chính quyền Gan-ti-ê-ri tính toán rằng bằng cách dùng hành động quân sự chiếm lại Man-vi-nát, họ sẽ lợi dụng được tình cảm dân tộc, khoác cho mình chiếc áo ngoài "yêu nước", đẩy mũi nhọn bất bình của nhân dân Ác-hen-ti-na ra bên ngoài về phía đế quốc Anh. Mặt khác, trữ lượng to lớn về dầu mỏ tại Man-vi-nát sẽ có thể tạo ra cho chính quyền Ác-hen-ti-na triển vọng hoãn trả được những món nợ nước ngoài lúc đó đã lên đến trên 27 tỷ đô la, và vay mượn thêm nữa để cứu vãn tình hình kinh tế khốn đốn trong nước. Chính quyền Gan-ti-ê-ri còn tính toán rằng do những khó khăn kinh tế và chính trị nội bộ, Luân Đôn sẽ khó có thể tổ chức được một cuộc hành binh lớn vượt 12.000km đường biển để đánh chiếm lại Man-vi-nát. Đồng thời Ác-hen-ti-na lại đang là một bạn đồng minh khá thân thiết của Mỹ tại khu vực Nam Mỹ và nam Đại Tây Dương, nên chính quyền Gan-ti-ê-ri trông đợi có thể được sự ủng hộ nào đó của Mỹ, cộng với sự ủng hộ của các nước Mỹ La-tinh và các nước không liên kết trên thế giới. Bối cảnh đó sẽ buộc Anh phải thương lượng và tại bàn hội nghị, Ác-hen-ti-na có sẵn thế mạnh, trong đó có việc đã chiếm lĩnh xong quần đảo Man-vi-nát và tổ chức bố phòng ở đó với một lực lượng mạnh, được sự hỗ trợ của các lực lượng trên đất liền, đặc biệt là hải quân và không quân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #264 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:06:38 pm »

Phía Anh cũng đang vấp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế khiến cho thế lực của đảng Bảo thủ Anh đang cầm quyền ngày càng giảm sút. Song chính việc Ác-hen-ti-na dùng hành động quân sự đánh chiếm quần đảo Man-vi-nát lại tạo cho chính quyền Thát-chơ cơ hội khích động tinh thần dân tộc sô-vanh trong một bộ phận quần chúng Anh, tô vẽ cho thủ tướng Thát-chơ hình ảnh một người phụ nữ "kiên quyết bảo vệ danh dự và quyền lợi của đế quốc Anh" nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của nhân dân Anh đối với chính sách đối nội phản động và chính sách đối ngoại theo đuôi Mỹ của bà ta. Mặt khác, đây còn là cơ hội để giới chỉ huy quân sự Anh chứng minh khả năng của lực lượng triển khai nhanh của Anh tại một khu vực xa xôi nhưng có tầm quan trọng chiến lược đối với khối NATO. Điều này tất phải thu hút được sự đồng tình, giúp đỡ và hỗ trợ của phía Mỹ. Hành động quân sự của Anh tại Man-vi-nát trên thực tế nằm trong khuôn khổ củng cố thế trận của khối NATO tại khu vực Đại Tây Dương.


Chính trên nền tảng những tính toán trên đây, hai bên Ác-hen-ti-na và Anh đã xác định những mục tiêu chiến lược của mình khi cuộc chiến tranh giữa hai nước tại khu vực Man-vi-nát đã trở nên không thể tránh khỏi.


Phía Ác-hen-ti-na chủ trương đánh trả lực lượng đặc nhiệm của Anh bằng hải quân và không quân có căn cứ trên đất liền và bằng các hành động tác chiến phòng ngự của lực lượng đồn trú trên quần đảo, đồng thời tiến hành các cuộc thương lượng với Anh thông qua sự trung gian của Mỹ và các hoạt động ngoại giao tại Liên hợp quốc. Giới cầm quyền Ác-hen-ti-na đặt nhiều hy vọng vào một sự thỏa hiệp với Anh, theo đó Anh sẽ công nhận, ít nhất là trên danh nghia, chủ quyền của Ác-hen-ti-na đối với Man-vi-nát. Trong suốt thời gian chiến tranh, cho đến khi các đơn vị quân đội Ác-hen-ti-na tại cảng Xten-li - thủ phủ của Man-vi-nát - đầu hàng, chính quyền Ác-hen-ti-na vẫn nuôi ảo tưởng về vai trò trung gian của Mỹ. Mục tiêu chiến lược mập mờ đó không phù hợp với lợi ích của nhân dân Ác-hen-ti-na, vì thế đã không động viên được tinh thần chiến đấu và tác động tai hại đến hành động tác chiến của các lực lượng vũ trang Ác-hen-ti-na trong suốt quá trình cuộc chiến tranh.


Về phía Anh, mục tiêu chiến lược được xác định rõ ràng dứt khoát ngay từ đầu: chiếm lại Man-vi-nát, lập lại chủ quyền của nước Anh trên quần đảo này trong một thời gian ngắn. Tình hình chính trị nội bộ và kinh tế nước Anh cũng như chiến lược của khôi NATO không cho phép chính quyền Luân Đôn nhân nhượng, dù chỉ trên danh nghĩa, về "chủ quyền" của Anh đối với Man-vi-nát. Đồng thời tình hình cũng không cho phép lực lượng đặc nhiệm Anh có mặt quá dài ngày tại vùng biển xa xôi này, vì sẽ gây ra sơ hở ở khu vực bắc Đại Tây Dương, và sẽ đẻ ra rất nhiều khó khăn trong việc bổ sung và tiếp tế trên một quãng đường biển quá dài. Việc thương lượng được phía Anh xem như một biện pháp hỗ trợ, đồng thời cũng là thủ đoạn nhằm ru ngủ chính quyền Ác-hen-ti-na. Mục tiêu chiến lược trên đây là cơ sở cho những hành động tác chiến kiên quyết của phía Anh.


Về lực lượng do hai bên huy động trực tiếp vào cuộc chiến, phía Anh có 10.000 lính thủy đánh bộ, 44 tàu chiến các loại trong đó có 2 tàu sân bay nhỏ và 2 tàu ngầm nguyên tử, 50 máy bay chiến đấu (không kể máy bay lên thẳng); còn phía Ác-hen-ti-na thì có 11.000 bộ binh đóng trên quần đảo Man-vi-nát, 18 tàu chiến và 126 máy bay chiến đấu. Như vậy, so sánh lực lượng giữa Anh và Ác-hen-ti-na có tỷ lệ về tàu chiến là 2,4 trên 1, về máy bay chiến đấu là 1 trên 2,5; còn bộ binh thì xem như ngang nhau.


Tuy nhiên, theo tính toán của bộ chỉ huy Anh, do Mỹ đã thỏa thuận cho Anh mượn căn cứ không quân Át-xen-sân của Mỹ, ở về phía nam bờ biển Ngà (tây châu Phi) 1.500km, làm căn cứ chuyển tiếp, nên rút ngắn được đến một nửa khoảng cách giữa nước Anh đến quần đảo Man-vi-nát. Mỹ lại giúp Anh máy bay tiếp dầu trên không, tạo điều kiện cho một số máy bay ném bom chiến lược kiểu Vun-can và những máy bay vận tải cỡ lớn của Anh có thể hoạt động được. Đặc biệt là qua hệ thống vệ tinh và máy bay trinh sát chiến lược của Mỹ, Lầu năm góc thông báo cho Anh những tin tức tình báo rất kịp thời, phục vụ đắc lực cho các hoạt động tác chiến tại chỗ.


Bộ chỉ huy Anh còn tính toán rằng về lực lượng hải quản, phía Anh chiếm ưu thế áp đảo trên biển; về bộ binh thì một khi đã đặt chân được lên Man-vi-nát, với sự yểm trợ của không quân gồm cả máy bay trên tàu sân bay lẫn máy bay ném bom chiến lược tầm xa, lính thủy đánh bộ Anh có khả năng đánh bại sự chống cự của bộ binh Ác-hen-ti-na vốn ít có kinh nghiệm chiến đấu. Về không quân, tuy ưu thế số lượng nghiêng về phía Ác-hen-ti-na, nhưng máy bay chiến đấu Ha-ri-ơ của Anh có căn cứ ngay tại khu vực chiến sự trên các tàu sân bay, nên có bán kính hoạt động bao quát được khu vực chiến sự và có thể xuất kích nhiều lần trong một ngày, với thời gian hoạt động mỗi lần đến 80 - 90 phút. Trong khi đó, từ đất Liên đến khu vực chiến sự, các máy bay Ác-hen-ti-na phải vượt qua khoảng cách từ 600 đến 800km, nên số lần sử dụng trong ngày ít hơn và thời gian tác chiến cũng rất hạn chế. Thông thường, mỗi lần xuất kích máy bay Ác-hen-ti-na chỉ thực hiện được một lần công kích vào mục tiêu rồi phải quay về ngay. Theo giới quân sự phương Tây, có từ 10 đến 20 phần trăm số máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na bị rơi trong cuộc chiến tranh Man-vi-nát chi vì không đủ nhiên liệu để bay về đến căn cứ. Ngoài ra, bộ chỉ huy Anh còn tin tưởng rằng các phi công Anh được đào tạo tốt hơn, lại được hỏa lực phòng không của các tàu chiến yểm trợ trực tiếp, được hệ thống ra-đa trên tàu trợ lực trong việc phát hiện mục tiêu và dẫn đường, nên tuy ít hơn về số lượng nhưng trên thực tế lại có nhiều điều kiện thuận lợi để chiếm ưu thế so với đối phương. Về lực lượng bộ binh, tuy hai bên có quân số xấp xỉ bằng nhau, nhưng kết quả chiến đấu trên vùng trời và vùng biển tại khu vực sẽ có ảnh hưởng và tác động lớn đến cuộc chiến đấu trên mặt đất. Mặt khác, lính thủy đánh bộ Anh được huấn luyện tốt hơn, có kinh nghiệm chiến đấu vượt xa bộ binh Ác-hen-ti-na vốn nằm dưới quyền chỉ huy của những tướng độc tài quân sự từ trước đến nay luôn luôn bị chi phối nặng nề bởi những tham vọng chính trị.


Thực tiễn cuộc chiến tranh đã chứng tỏ rằng các tính toán trên đây của bộ chỉ huy quân sự Anh có phần chính xác, nhưng họ cũng ít nhiều chủ quan nên đã vấp phải những bất ngờ cay đắng và phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #265 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:07:23 pm »

Ngay từ đêm 30 tháng 4 năm 1982, sau khi máy bay Anh đánh phá sân bay cảng Xten-li, thủ phủ quần đảo Man-vi-nát, chiến sự đã diễn ra ác liệt. Ngày 4 tháng 5, tàu ngầm nguyên tử Anh phóng ngư lôi điều khiển "Tai-gơ-phi-sơ" đánh đắm tàu tuần dương Ác-hen-ti-na "Tướng Ben-gra-nô" trọng tải 10.000 tấn ở ngoài "khu vực cấm 200 hải lý" do Anh tuyên bố. Hôm sau, máy bay Ác-hen-ti-na dùng tên lửa E-xô-xét do Pháp chế tạo, bắn chìm tàu khu trục Anh Xép-phin trọng tải 4.500 tấn trị giá 40 triệu đô la. Các máy bay Ác-hen-ti-na tiếp tục tiến công trong những ngày sau đó, vượt qua được hàng rào ra-đa phòng không của các tàu chiến Anh, đánh đắm và làm hư hỏng nặng tổng cộng 4 tàu khu trục và tàu Phri-gát hiện đại, 1 tàu vận tải chở quân loại lớn, 6 tàu chiến khác trong đó có hai tàu đổ bộ, bắn rơi 19 máy bay Anh trong đó có 8 máy bay Ha-ri-ơ. Đây là tổn thất nặng nề nhất của hải quân Anh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.


Tuy nhiên, chỉ trong vòng 20 ngày của tháng 5 năm 1982, hải quân Ác-hen-ti-na cũng bị thiệt hại nặng đến mức không thể gượng dậy được nữa. Sau khi chiếc tàu tuần dương "Tướng Ben-gra-nô" và một tàu ngầm đi-ê-den, một tàu hậu cần trọng tải 13.000 tấn cùng một tàu chiến khác của hải quán Ác-hen-ti-na bị đánh đắm thì quân chủng này của quân đội Ác-hen-ti-na hầu như tê liệt, không còn tác dụng gì nữa trong chiến tranh.


Lực lượng không quân Ác-hen-ti-na tuy đạt được hiệu suất chiến đấu khá cao nhưng cũng đã phải trả giá đắt về máy bay và phi công. Theo các nguồn tin phương Tây, có khoảng 100 máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na bị rơi vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong số đó có đến 32 chiếc Mi-ra-giơ 3 phần lớn bị máy bay Ha-ri-ơ bắn hạ bằng tên lửa không đối không và cả bằng đạn pháo 30 ly. Do không thể bổ sung kịp về máy bay cũng như phi công, từ những ngày cuối tháng 5 năm 1982 trở đi, không quân Ác-hen-ti-na không còn là mối đe dọa đáng kể đối với lực lượng đặc nhiệm Anh cả trên mặt biển lẫn trên mặt đất tại khu vực Man-vi-nát, dẫn đến kết quả là các đơn vị bộ binh Ác-hen-ti-na đồn trú trên quần đảo rơi vào tình trạng bị cô lập với đất liền và phải tác chiến đơn độc.


Các đơn vị lính thủy đánh bộ Anh đã không vội vã đánh ngay vào cảng Xten-li, là nơi đã được quân Ác-hen-ti-na xây dựng thành một trung tâm phòng thủ khá mạnh. Với hành động nghi binh và tạo bất ngờ bằng cách đổ bộ trên nhiều điểm ở nhiều hướng cách xa cảng này từ 40 đến 80km và lập thành những đầu cầu vững chắc, phía Anh đã kéo các đơn vị Ác-hen-ti-na ra vòng ngoài khu vực Xten-li, buộc lực lượng phòng thủ cảng này phải phân tán ra nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho phía Anh tiêu diệt từng bộ phận nhỏ quân Ác-hen-ti-na. Cuối cùng, tình trạng cảng Xten-li bị bao vây, cô lập không lối thoát đã tác động mạnh mẽ đến ý chí của chính quyền Gan-ti-ê-ri vốn từ đầu đã không có mục tiêu chiến lược kiên định. Ngày 15 tháng 6 năm 1982, chính quyền Gan-ti-ê-ri buộc phải chấp nhận cho lực lượng Ác-hen-ti-na đồn trú tại cảng Xten-li đầu hàng quân Anh.


Diễn biến của cuộc chiến tranh Man-vi-nát đã đem lại cho các giới quân sự trên thế giới nhiều sự bất ngờ đáng được suy ngẫm và nghiên cứu kỹ lưõng. Trong một khu vực nhỏ hẹp tại một vùng hẻo lánh ở nam Đại Tây Dương, trong thời gian một tháng rưỡi, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1982 khi Anh tuyên bố phong tỏa vùng trời và vùng biển 200 hải lý xung quanh Man-vi-nát, đến ngày 15 tháng 6 năm 1982 khi quân Ác-hen-ti-na đóng tại cảng Xten-li đầu hàng, đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, đặc biệt là giữa lực lượng không quân Ác-hen-ti-na với lực lượng đặc nhiệm Anh gồm tàu chiến và máy bay trên tàu sân bay. Lần đầu tiên trên thế giới, một số loại vũ khí tối tân nhất đã được đưa ra sử dụng, từ các tàu khu trục và tàu Phri-gát phóng tên lửa, tàu ngầm hạt nhân công kích đến máy bay chiến đấu Ha-ri-ơ, máy bay chiến đấu Mi-ra-giơ 3, tên lửa không đối biển Ê-xô-xét. Chi phí cho "cuộc hành binh Man-vi-nát" của lực lượng đặc nhiệm Anh, tính từ ngày ròi căn cứ ở Anh vào đầu tháng 4 đến ngày 15 tháng 6 năm 1982 là ngày chiếm được cảng Xten-li, đã vượt quá chi phí tối đa 2 tỷ đô la trong khoản kinh phí dự trữ dùng cho trường hợp khẩn cấp mà không cần phải động viên lực lượng toàn nước Anh. Như vậy nếu cuộc chiến tranh Man-vi-nát kéo dài thêm một số ngày nữa thì sẽ có thể làm đảo lộn đời sống kinh tế - tài chính của nước Anh, dẫn đến những hậu quả về chính trị khó lường trước được đối với chính quyền Thát-chơ. Phí tổn mà phía Ác-hen-ti-na phải gánh chịu cũng tương đương với phí tổn của Anh, vượt quá khả năng có thế tiếp tục gánh chịu của nền kinh tế Ác-hen-ti-na đang trong tình trạng khốn đốn.


Từ thực tiễn này, các giới chiến lược quân sự trên thế giới rút ra một kết luận đáng chú ý: trong một cuộc chiến tranh dù chỉ đóng khung trong một không gian nhỏ hẹp, mang tính chất tranh chấp về một vấn đề cụ thể khu vực, diễn ra trong một thời gian tương đối ngắn, số tổn thất về sinh mạng có thể chỉ ở mức vài trăm đến một, hai nghìn người nhưng chi phí chiến tranh lại lên đến hàng tỷ đô la, vì các vũ khí hiện đại được đưa ra sử dụng đều rất đắt tiền. Theo thời giá năm 1985, một chiếc tàu khu trục hiện đại được trang bị tên lửa trị giá trên dưới 100 triệu đô la, còn một máy bay tiêm kích hiện đại kiểu F.15, F.16, hay F.18 cũng trị giá khoảng 20 triệu đô la. Cuộc chiến tranh tranh chấp hải đảo lại diễn ra trước hết giữa các lực lượng hải quân và không quân của hai bên đối địch, nên tổn thất chủ yếu là về tàu chiến và máy bay chiến đấu, loại vũ khí đắt tiền nhất.


Do đó, về mặt chiến lược, phải có tiềm lực lớn và chuẩn bị sẵn sàng lực lượng dự trữ cần thiết để bổ sung kịp thời sau những tổn thất không thể tránh khỏi. Trong cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, cả hai bên Ác-hen-ti-na và Anh đều tỏ ra đã lâm vào tình trạng không thể tiếp tục chịu đựng nổi cái giá phải trả. Nhờ đánh quỵ được kịp thời lực lượng không quân Ác-hen-ti-na nên phía Anh đã kết thúc chiến tranh thắng lợi đúng vào lúc như giới quân sự phương Tây nhận xét - lực lượng đặc nhiệm Anh đã mang thương tích rất nặng.


Qua diễn biến của cuộc "khủng hoảng Man-vi-nát" còn nổi lên một thực tế chiến lược quan trọng khác. Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày nay, cuộc tranh chấp về chủ quyền đối với một số hải đảo - đặc biệt là khi các hải đảo đó có tầm quan trọng về vị trí địa lý chíến lược và về kinh tế - không còn chỉ đóng khung trong khuôn khổ quan hệ giữa những nước đối địch trực tiếp. Cuộc tranh chấp đó còn quan hệ đến những nước khác thuộc những khối liên minh quân sự và cả những khối cộng đồng kinh tế khác nhau. Nhiều hải đảo nằm gần những eo biển chiến lược, những đường giao thông hàng hải quốc tế trọng yếu, hoặc có khoảng cách tạo nên mối đe dọa đối với lãnh thổ của một hoặc nhiều nước nhất định. Do đó, tuy thuộc chủ quyền một nước hoặc đang nằm trong tình trạng tranh chấp giữa một số nước, những hải đảo đó có quan hệ đến thế trận chiến lược đại dương của một số nước lớn trên thế giới cũng như của nhiều nước thuộc khu vực. Chính vì thế, trong tính toán chiến lược của những nước tranh chấp, phải suy nghĩ đến sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của một số nước khác có thể sẽ đứng về phía bên này hay phía bên kia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #266 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:08:22 pm »

Trong trường hợp cuộc xung đột Man-vi-nát, chính quyền Ác-hen-ti-na do chủ quan, đánh giá sai lầm lập trường và thái độ của chính quyền Mỹ, nên trong một thời gian, dài đã nuôi ảo tưởng về sự ủng hộ của Oa-sinh-tơn, sau đó lại cho rằng ít ra Mỹ cũng giữ thái độ trung lập. Đến khi chính quyền Ác-hen-ti-na nhận ra được lòng dạ phản trắc của Oa-sinh-tơn thì đã quá muộn, về phía Anh, do hiểu rõ tâm địa của tên trùm khối NATO, chính quyền Luân Đôn đã tranh thủ được sự đồng lõa và tiếp tay có hiệu quả của Mỹ, từ việc cho mượn căn cứ chuyển tiếp Át-xen-sân đến việc cung cấp các tin tức tình báo qua hệ thống vệ tinh và cung ứng một số nhu cầu cấp thiết về tiếp tế hậu cần.


Như vậy, nhân tố chiến lược ở tầm toàn cầu và khu vực có tác động quan trọng đến các hoạt động tác chiến tiến công hoặc phòng ngự tại một khu vực hải đảo nhất định. Đó là điều mà các bên đối địch không thể không xem xét và tính toán kỹ lưỡng.


Quá trình và kết cục của chiến tranh trước hết phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động tác chiến trên chiến trường. Kết quả của cuộc chiến tranh tại Man-vi-nát trước hết là kết quả của phương pháp tác chiến tiến công đảo của lực lượng đặc nhiệm Anh và phương pháp tác chiến bảo vệ đảo của quân đội Ác-hen-ti-na. Ở đây, nói riêng về phương pháp tác chiến bảo vệ đảo, qua các hoạt động tác chiến của phía Ác-hen-ti-na, nổi bật lên một số bài học đã và đang được các giới quân sự trên thế giới quan tâm nghiên cứu.


Trước sự xuất hiện của lực lượng tiến công trên mặt biển hay đại dương, lực lượng bảo vệ đảo cả từ đất liền lẫn trên đảo có thể sử dụng hai cách đánh:

Một là, nếu xét thấy mình có sức mạnh phần nào trội hơn hoặc tương đương với quân địch thì có thể dùng cách đánh phòng ngự kết hợp với tiến công hoặc tiến công kết hợp với phòng ngự. Dùng cách nào thì mục đích vẫn là bảo vệ địa bàn của mình, tiêu diệt hoặc đẩy lùi bên tiến công. Cách đánh này khác với cách đánh phòng ngự trận địa thông thường ở chỗ có những hành động tiến công rộng rãi hơn, liên tục hơn, với lực lượng sử dụng tập trung ở những hướng, những khu vực được lựa chọn. Cách đánh phòng ngự từ xa, dùng không quân và hải quân đánh địch đang hành quân trên biển, nếu được thực hiện tốt sẽ tạo ra điều kiện và thời cơ để chuyển hóa nhanh chóng tương quan lực lượng giữa hai bên trong quá trình chiến tranh, nhằm đi đến đánh bại quân địch.


Hai là, nếu xét thấy lực lượng mình kém hơn địch thì có thể dùng cách đánh phòng ngự tích cực: về cơ bản vẫn là phòng ngự, nhưng không phải chỉ nằm im chờ địch tiến công rồi mới chống đỡ, mà tạo ra cơ hội và dùng mọi biện pháp để đánh những đòn giáng trả lực lượng tiến công, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tiêu hao lực lượng chúng trong quá trình chiến tranh để từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng, giành lấy ưu thế về phía mình. Nếu có được cách đánh đúng đắn, tài giỏi, phòng ngự kiên cường, vững chắc, giáng trả quyết liệt, đúng chỗ, đúng lúc, thì phía phòng ngự tích cực có đầy đủ khả năng đánh bại quân tiến công xâm lược, dù rằng trong giai đoạn đầu chúng có thể đông hơn, có vũ khí và phương tiện mạnh hơn.


Trong cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, phía Ác-hen-ti-na đã chọn cách đánh phòng ngự tích cực. Đây là một sự lựa chọn chính xác xét về tương quan lực lượng giữa hai bên. Bộ chỉ huy quân sự Ác-hen-ti-na đã sử dụng lực lượng không quân của mình đánh những đòn giáng trả, trong khi lực lượng hải quân, sau những thiệt hại ban đầu, đã rút về các quân cảng, còn lực lượng lục quân đồn trú thì cố thủ trên quần đảo. Tuy nhiên, trong quá trình diễn biến chiến tranh, chỉ đạo tác chiến của phía Ác-hen-ti-na đã phạm nhiều sai lầm hoặc vấp phải một số nhược điểm lớn mà không thể khắc phục được kịp thời.


Trong tác chiến bảo vệ đảo, giai đoạn thứ nhất là giai đoạn đánh địch khi lực lượng đối phương còn ở xa. Để thực hiện nhiệm vụ này, có thể dùng máy bay ném bom tầm trung, tàu ngầm và máy bay cất cánh từ các tàu sân bay. Hiện nay, một số nước có máy bay ném bom tầm trung hiện đại với bán kính hoạt động 2.000 - 2.500km, với tốc độ có thể đạt đến 1.500 - 1.800 km/giờ, cao hơn tốc độ máy bay Ha-ri-ơ của Anh (1.150 km/giờ), mang theo các loại tên lửa có điều khiển không đối biển mà tầm bắn có thể từ 100 đến 600km, tốt hơn loại tên lửa Ê-xô-xét của Pháp có tầm bắn dưới 100km. Loại máy bay này trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các tàu mặt nước lớn, nhất là tàu sân bay, nòng cốt của lực lượng đặc nhiệm của phía tiến công. Khi đang trên đường tiến và còn cách xa mục tiêu, đội hình lực lượng đặc nhiệm tiến công có những giãn cách nhất định, và trong hoàn cảnh di chuyển cụ thể bộc lộ những sơ hở. Đây là cơ hội cho tàu ngầm, kể cả các tàu hoạt động lẻ, tiến hành tập kích địch. Nếu phía phòng ngự có tàu sân bay, có thể sử dụng máy bay hải quân tiến hành đánh phá các tàu chiến địch.


Trong trường hợp cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, giai đoạn chiến đấu bảo vệ đảo từ xa đã không diễn ra. Phía Ác-hen-ti-na không có tàu sân bay nhưng có 9 máy bay ném bom Can-be-ra B.62 và một số tàu ngầm đi-ê-den. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, bị chi phối bởi đường lối lưng chừng, do dự, chính quyền Ác-hen-ti-na vẫn trông mong vào sự dàn xếp do Mỹ làm trung gian, nên đã không hành động. Nếu phía Ác-hen-ti-na tiến hành công kích lực lượng đặc nhiệm Anh từ xa, thì dù cho không gây được những tổn thất đáng kể thì cũng gây được những khó khăn cho phía địch, làm cho lực lượng đặc nhiệm Anh phải lúng túng đối phó ngay từ đầu. Điều đó có thể cổ vũ tinh thần của quân và dân Ác-hen-ti-na, tạo điều kiện cho phía Ác-hen-ti-na tranh thủ thêm thời gian để củng cố hệ thống phòng ngự trên quần đảo và tổ chức những đòn giáng trả mạnh mẽ khi lực lượng đặc nhiệm Anh đến gần hơn.


Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đánh địch khi lực lượng đặc nhiệm của phía tiến công đã đến vùng biển gần của hải đảo và gần bờ biển thuộc đất liền của phía phòng ngự. Trong giai đoạn này, phía phòng ngự có được một số lợi thế về vị trí địa lý. Họ có thể dựa vào những căn cứ, bàn đạp vững chắc trên đảo và trên đất liền để xuất kích tiến công lực lượng hải quân và không quân địch. Lúc này, lực lượng bộ binh địch còn nằm trên các tàu chở quân nên dễ bị tiêu diệt khi các tàu đó bị đánh phá. Phía phòng ngự có thế sử dụng các loại tên lửa đất đối biển một cách rộng rãi để đánh địch có hiệu quá. Hải quân bên phòng ngự có khả năng sử dụng nhiều loại tốc hạm phóng lôi, xuất kích từ cự ly gần, chạy nhanh ở những vùng biển nông nên ít bị đe dọa bởi tàu ngầm của bên tiến công. Hoạt động ở vùng biển gần, các tàu chiến của bên phòng ngự còn được các máy bay có căn cứ trên đất liền yểm trợ và được pháo và tên lửa phòng không đặt trên bờ biển phối hợp tác chiến. Ngoài ra cũng có thể sử dụng máy bay lên thẳng vũ trang hợp đồng chiến đấu và chi viện.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #267 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:09:13 pm »

Trong trường hợp cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát, phía Ác-hen-ti-na không có tên lửa đất đối biển. Sau khi chiếc tàu tuần dương "Tướng Ben-gra-nô" và một vài tàu chiến khác trong đó có một chiếc tàu ngầm đi-ê-den bị đánh chìm, lực lượng hải quân Ác-hen-ti-na đã mất tinh thần và co lại nằm im trong các quân càng. Các tốc hạm và máy bay lên thẳng của hải quân Ác-hen-ti-na cũng nằm trong tình trạng đó. Từ đất liền, lực lượng không quân Ác-hen-ti-na đã xuất kích tiến công các tàu chiến Anh, và đã gây thiệt hại nặng cho lực lượng đặc nhiệm Anh về tàu chiến. Điều này đã chứng minh lợi thế của không quân cất cánh tử đất liền đánh vào các tàu chiến của đối phương trong vùng biển gần, khi lực lượng không quân của hai bên hoặc xấp xỉ nhau, hoặc hơn kém nhau không nhiều lắm. Chính trong những trận chiến đấu tại vùng biển gần này, tên lửa không đối biển Ê-xô-xét AM-39 do Pháp chế tạo, với tầm bắn 50 - 70km, đã tỏ ra khá lợi hại. Tàu khu trục Anh Xép-phin đã bị một máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa đánh chìm bằng một tên lửa Ê-xô-xét; tàu chở quân Át-lăng-tích của Anh cũng bị đánh chìm bởi hai tên lửa loại này. Tiếc rằng không quân Ác-hen-ti-na vào lúc đó chỉ có một số lương tên lửa rất hạn chế, và trong các cuộc chiến đấu chống lực lượng đặc nhiệm Anh, các máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa của Ác-hen-ti-na chỉ có cơ hội phóng đi 7 tên lửa Ê-xô-xét.


Cũng trong giai đoạn này, đã diễn ra những trận không chiến ác liệt giữa các máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na kiểu Mi-ra-giơ 3, Xu-pe Ê-tăng-đa và "chim ưng nhà trời" với những máy bay kiểu Ha-ri-ơ của Anh. Một phần do phải bay xa cách căn cứ từ 600 đến 800km nên thời gian hoạt động của các máy bay Ác-hen-ti-na trên khu vực chiến sự không còn bao nhiêu, phần nữa các phi công Ác-hen-ti-na tuy dũng cảm nhưng trình độ kỹ thuật kém các phi công Anh, lại phải đối phó với pháo và tên lửa phòng không của các tàu chiến Anh, nên lực lượng không quân Ác-hen-ti-na đã bị thiệt hại nặng. Vì thế đến giai đoạn cuối của chiến tranh, các máy bay Anh đã hoàn toàn khống chế bầu trời và các tàu chiến Anh đã làm chủ mặt biển tại khu vực Man-vi-nát.


Trong cuộc chiến đấu ở vùng biển gần, bộ chỉ huy Ác-hen-ti-na còn phạm một sai lầm lớn nữa là đã không sớm xác định mục tiêu chủ yếu cho lực lượng không quân của mình là hai tàu sân bay và các tàu chở quân của Anh để tiến công bất ngờ ngay từ đầu vào các mục tiêu này. Trong những ngày đầu khi lực lượng đặc nhiệm Anh vừa đến vùng biển gần quần đảo Man-vi-nát và gần bờ biển phía nam Ác-hen-ti-na, đã có lúc do chủ quan, bộ chỉ huy lực lượng đặc nhiệm Anh đã để cho hai tàu sân bay của mình nằm trong tầm hoạt động của máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa của Ác-hen-ti-na. Sau này, giới hải quân Anh cũng đã phải thừa nhận rằng nêu không quân Ác-hen-ti-na dùng tên lửa Ê-xô-xét tập trung tiến công hai tàu sân bay Anh thì chiến sự tại Man-vi-nát đã có thể xoay chuyển theo hướng bất lợi cho quân Anh. Thế nhưng vào lúc đó các máy bay Ác-hen-ti-na lại chĩa mũi nhọn tiến công vào các tàu khu trục và tàu Phri-gát hộ tống. Sau khi tàu khu trục Anh Xép-phin bị đánh đắm, các tàu sân bay Anh đã thận trọng lùi ra ngoài tầm hoạt động có hiệu quả của các máy bay Xu-pe Ê-tăng-đa. Máy bay Ha-ri-ơ của Anh có bán kính hoạt động lớn hơn bán kính của máy bay Ác-hen-ti-na, trong khi đó Ác-hen-ti-na lại không có máy bay ném bom tầm trung có bán kính hoạt động lớn hơn và tốc độ cao hơn máv bay Ha-ri-ơ. Nếu Ác-hen-ti-na có trong tay loại máy bay ném bom tầm trung hiện đại và mang nhiêu tính năng ưu việt thì hai tàu sân bay nhỏ của Anh chở máy bay Ha-ri-ơ chắc hẳn đã khó mà tồn tại được.


Mặt khác, trên quần đảo Man-vi-nát bộ chỉ huy Ác-hen-ti-na đã không cố gắng cải tạo kịp thời đường băng sân bay tại cảng Xten-li chỉ dài 1.800m, nên không bố trí được máy bay chiến đấu của mình tại đó. Ngay từ đêm 30 tháng 4 năm 1982, máy bay Anh đã ném bom và gây thiệt hại nậng cho sân bay này. Từ đó, nó chỉ còn tiếp nhận được một số máy bay vận tải loại nhẹ, có khả năng hạ cánh trên đường băng ngắn.


Như vậy, trong giai đoạn chiến đấu ở vùng biển gần - giai đoạn có tẩm quan trọng lớn đối với việc bảo vệ đảo - phía Ác-hen-ti-na đã không lợi dụng được thế đứng chân vững chắc ở cả đất liền lẫn hải đảo, đã bỏ lỡ cơ hội đánh vào xương sống của lực lượng đặc nhiệm đối phương, do chịu tác động của đường lối thỏa hiệp và cũng do thiếu sót trong chỉ đạo tác chiến.


Cũng trong giai đoạn này, đã nổi lên vai trò của một số thiết bị và vũ khí hiện đại như: vai trò của các hệ thống thu thập tình báo và thông tin bằng vệ tinh, bàng các trạm trinh sát điện tử và các máy bay trinh sát tầm xa (của Mỹ hoạt động hỗ trợ cho Anh); vai trò của các máy bay chiến đấu hiện đại có tính năng chiến đấu khác nhau cần được sử dụng thích hợp với những điều kiện cụ thể trên chiến trường; vai trò của các tên lửa điều khiển, đặc biệt là tên lửa đất (bờ) đối biển, tên lửa hạm đối hạm và tên lửa không đối biển; vai trò của ra-đa phát hiện mục tiêu cả ở tầm cao lẫn tầm rất thấp sát mặt biển... Tóm lại, ở đây sự phát triển của khoa học - kỹ thuật quân sự và các loại vũ khí hiện đại đang đặt ra những vấn đề rất mới cho tác chiến bảo vệ đảo cũng như cho tác chiến trên biển và tác chiến giữa lực lượng trên mặt đất với lực lượng trên biển.


Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đánh địch trong khoảng 30km trở vào bờ, đánh địch đổ bộ lên bờ và chiến đấu trên đảo. Đây là giai đoạn chiến đấu quyết liệt vì nó quyết định cuối cùng thắng lợi hay thất bại của mỗi bên. Cả hai bên tiến công và phòng ngự đều có thể tung ra những lực lượng mình có trong tay thuộc cả ba quân chủng hải, lục và không quân.


Nếu có lục quân mạnh và tổ chức phòng ngự trên đảo tốt thì dù cho lực lượng hải quân và không quân của mình có yếu hơn, bên phòng ngự vẫn có thể gây cho bên tiến công những tổn thất nặng nề, buộc đối phương phải kéo dài tác chiến trên đảo hoặc có khi phải chịu thất bại.


Ngoài lực lượng chiến đấu bố trí trên đảo, bên phòng ngự còn có lực lượng từ trong đất liền chi viện và hợp đồng chiến đấu. Như vậy phía phòng ngự bảo vệ đảo dựa được vào cả trận địa vững chắc trên đảo lẫn lực lượng trên đât liền; nếu lực lượng ở hai nơi hỗ trợ nhau đắc lực thì đây sẽ là một thế trận lợi hại. Do đó vấn đề kết hợp giữa lực lượng trên đảo và lực lượng hùng hậu trên đất liền phải được đặt ra cho rõ ràng. Riêng trên đảo, lực lượng phòng ngự có thể dựa vào những công sự trận địa vững chắc đã được chuẩn bị sẵn, nên dù lực lượng có ít hơn vẫn có thể chống lại lực lượng địch đông hơn.


Trong cuộc chiến tranh Man-vi-nát, lực lượng bộ binh Ác-hen-ti-na có số quân tương đương với lực lượng lính thủy đánh bộ Anh và cũng không kém bao nhiêu về trang bị vũ khí. Quân Anh lại phải chiến đấu cách xa hậu phương của mình tới 12.000km nên nếu thời gian chiến tranh kéo dài, lực lượng lính thủy đánh bộ Anh tất sẽ vấp phải những khó khăn lớn về tiếp tế hậu cần và bổ sung quân số. Mặt khác một cuộc chiến tranh kéo dài với những tổn thất nặng nề cả về sinh mạng lẫn vũ khí trang bị chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế và chính trị nước Anh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #268 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:10:17 pm »

Nhìn chung, phía lực lượng bảo vệ đảo của Ác-hen-ti-na có nhiều lợi thế. Thế nhưng, trong quá trình chiến tranh vào tháng 5 và nửa đầu tháng 6 năm 1982, bộ chỉ huy Ác-hen-ti-na đã phạm nhiều sai lầm.


Trước hết như đã nói ở trên, do không sửa chữa các sân bay trên quần đảo, đặc biệt là sân bay Xten-li, nên lực lượng bảo vệ đảo không có máy bay chiến đấu có căn cứ tại chỗ. Các máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na cất cánh từ đất liền lại thuộc những loại không hoạt động được trong mọi thời tiết và khóng có bán kính chiến đấu lớn nên đã hạn chế hiệu quá tiến công các tàu chiến và tàu đổ bộ Anh, đặc biệt là khi các tàu đó tiếp cận bờ vào ban đêm hay vào lúc có nhiều sương mù. Có trường hợp máy bay chiến đấu Ác-hen-ti-na đã đánh trúng và loại khỏi vòng chiến đấu hai tàu đổ bộ Anh ngay trong lúc chúng tiến hành đổ quân và gây thương vong cho hàng trăm binh lính Anh. Điều đó chứng tỏ nếu có được kế hoạch tác chiến thích hợp hơn, có những máy bay chiến đấu với tính năng tốt hơn, không quân Ác-hen-ti-na đã có thể gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng lính thủy đánh bộ Anh trong giai đoạn đổ bộ lên bờ, và như vậy sẽ tác động lớn đến các hoạt động tác chiến tiếp theo trên đảo.


Trước tình hình quân Anh đổ bộ lên nhiều điểm và tiến về cảng Xten-li từ nhiều hướng, lực lượng lục quân Ác-hen-ti-na bảo vệ đảo đã đối phó rất lúng túng, bị phân tán lực lượng và kéo ra ngoài thủ phủ để bị tiêu hao dần. Sau khi thành công một phần trong kế hoạch làm giảm mật độ tập trung của quân Ác-hen-ti-na tại Xten-li, quân Anh đã tiến lên bao vây cảng này từ nhiều hướng và tiến hành một đợt tiến còng mănh liệt. Trong tình trạng bị cô lập không được không quân từ đất liền chi viện, bị cắt đứt nguồn tiếp tế bổ sung cả bằng đường không, tinh thần binh lính và sĩ quan sa sút, dao động, lực lượng Ác-hen-ti-na đồn trú trên cảng Xten-li đã phải ngừng tiếng súng vào ngày 15 tháng 6 năm 1982, kết thúc cuộc chiến tranh Man-vi-nát với thất bại thuộc về phía Ác-hen-ti-na.


Cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát chỉ là một cuộc xung đột vũ trang tranh chấp một quần đảo tại một khu vực xa xôi ở vùng nam Đại Tây Dương, nhưng từ đấy đã nảy ra hàng loạt vấn đề về chiến lược toàn cầu và khu vực liên quan đến nhiều nước, về khoa học, nghệ thuật quân sự cũng như khoa học kỹ thuật quân sự.


Cũng như trong cuộc chiến tranh giữa I-xra-en và Li-băng, trong cuộc chiến tranh này, nhiều loại vũ khí hiện đại nhất lần đầu tiên đã được đưa ra sử dụng giữa hai bên đối địch như: tàu ngầm hạt nhân, máy bay trinh sát điện tử tối tân AWACS, tên lửa không đối biển Ê-xô-xét, tên lửa không đối đất AS-12 của Anh, v.v... Đây cũng là lần đầu tiên diễn ra cuộc đọ sức giữa các loại máy bay Ha-ri-ơ của Anh và Mi-ra-giơ 3 do Pháp chế tạo và do Ác-hen-ti-na sử dụng; lần đầu tiên các tin tức tình báo thu thập bằng vệ tinh được sử dụng để trực tiếp phục vụ cho chiến đấu. Tác dụng của vũ khí hiện đại đã gây những bất ngờ cay đắng cho cả hai bên đối địch, thậm chí đã tỏ ra có khả năng dẫn đến những bước ngoặt quyết định trong chiến tranh.


Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, cùng với sự ra đời của các loại vũ khí mới, phương thức tác chiến và chiến thuật cũng thay đổi theo. Sự xuất hiện và hoàn thiện khẩu súng trường đã đưa đến chiến thuật dàn hàng ngang, còn việc trang bị súng nòng có rãnh xoắn đã đề ra chiến thuật sử dụng các khối dọc hạm đội hình giãn thưa. Trong hải quân, sự ra đời của hạm đội chèo tay làm nảy sinh phương thức tác chiến "đâm thuyền" và "áp mạn công kích" bằng đội hình hàng ngang, còn việc hạm đội tàu buồm được trang bị pháo đã dẫn đến chiến thuật dùng đội hình hàng dọc và phương thức tác chiến chủ yếu là những trận đấu pháo ở tầm xa nhất định. Đúng như Ph.Ăng-ghen đã nhận xét, "những tiến bộ về kỹ thuật, một khi đã có thể áp dụng và trên thực tế đã được áp dụng trong quân sự, thì lập tức - hầu như có tính chất cưỡng bức và thường là trái với ý muốn của cấp chỉ huy quân đội - dẫn đến những thay đổi và thậm chí những sự đảo lộn trong phương thức tác chiến..."1 (C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, tr. 176). V.I.Lênin cũng chỉ rõ: "Chiến thuật quân sự tùy thuộc ở trình độ kỹ thuật quân sự - Ăng-ghen đã nhắc đi nhắc lại và đã dạy chân lý ấy cho những người mác-xít. Kỹ thuật quân sự hiện nay không giống như kỹ thuật quân sự vào giữa thế kỷ XIX. Lấy đám đông mà chọi lại đại bác và dùng súng lục mà phòng thủ các lũy chướng ngại, thì là ngu xuẩn"2 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 13, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, M 1980, tr. 470).


Cuộc chiến tranh ở Man-vi-nát lại là-một ví dụ nữa chứng minh luận điểm nói trên của Ăng-ghen. Cuộc chiến tranh này cung cấp nhiều bài học đáng giá trên nhiều lĩnh vực. Riêng về phương thức tác chiến bảo vệ đảo, một bài học đáng được quan tâm nghiên cứu là trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật quân sự hiện đại, cần phải theo dõi sát sao sự xuất hiện của những loại vũ khí, thiết bị quân sự mới với những tính năng và tác dụng của nó, để có thể đề ra phương hướng xây dựng, phát triển lực lượng và những phương pháp tác chiến thích hợp.


Nhưng vũ khí dù có hiện đại đến đâu đi nữa thì cuối cùng cũng vẫn phải do con người sử dụng. Bàn về thắng lợi của quân Phổ trong cuộc chiến tranh Áo - Phổ năm 1866 đã đánh bại quân Áo có ưu thế hơn mình về số lượng và cả về tổ chức, chỉ huy, kinh nghiệm chiến đấu, Ph.Ăng-ghen đã nhận xét: "Có thể khẳng định đó là do có súng trường nạp đạn từ ổ đạn, nhưng đương nhiên những khẩu súng đó không thể tự nó hoạt động mà phải có những trái tim dũng cảm và những bàn tay rắn chắc sử dụng"1 (C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 16, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, tr. 193). Con người có tinh thần chiến đấu cao, được trang bị vũ khí thích hợp, có kỹ năng làm chủ được vũ khí kỹ thuật và có phương pháp chiến đấu tốt, lại được tổ chức lãnh đạo chặt chẽ thì sẽ giành được thắng lợi trong chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #269 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2023, 01:06:32 pm »

NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN
MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1990)

Chương I
NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN
KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG MỐI LIÊN HỆ


Nghệ thuật quân sự có vị trí hết sức quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh. Nó là một trong những nhân tố quyết định thành bại của chiến tranh.

Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn chuẩn bị, tổ chức và tiến hành đấu tranh vũ trang. Nó nghiên cứu các quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang, xác định những nguyên tắc và phương pháp tiến hành các hoạt động quân sự trong chiến tranh. Các bộ phận hợp thành của nghệ thuật quân sự là chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.


Nội dung sinh động nhất của nghệ thuật quân sự là nghệ thuật tác chiến. Bởi vì cuối cùng nghệ thuật quân sự chỉ có thể được đánh giá bằng kết quả giao chiến trên chiến trường.

Nghệ thuật tác chiến là nghệ thuật tổ chức, sử dụng và phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang trong quá trình giao chiến với quân địch trên chiến trường; chuẩn bị và tiến hành các đòn đánh và đòn đánh quyết định nhằm thực hiện mục tiêu tác chiến đã đê ra với hiệu suất cao, góp phần vào thắng lợi của chiến tranh.


Nghệ thuật tác chiến được vận dụng trong tác chiến chiến lược, chiến dịch và trận chiến đấu. Ở các quy mô và hình thức tác chiến khác nhau, nghệ thuật tác chiến được thể hiện với những điểm chung giống nhau, đồng thời cũng có những đặc điểm, điều kiện riêng biệt, nên phải vận dụng sáng tạo, không thể máy móc, rập khuôn. Ví dụ: tuy cùng phải quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân và tạo sức mạnh tổng hợp, nhưng ở phạm vi chiến lược, chiến dịch thì có điều kiện để vận dụng rộng rãi hơn so với chiến đấu; hay tác chiến trên bộ, ở vùng đông dân cư thì có thuận lợi hơn so với tác chiến ở vùng biển và hải đảo hoặc vùng rừng núi thưa dân, v.v...


Trong phạm vi cuốn sách này, người viết muốn đề cập chủ yếu tới nghệ thuật tác chiến ở phạm vi chiến dịch.

Tiến trình tác chiến phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện khách quan và chủ quan của các bên tham chiến. Trong đó, về nghệ thuật tác chiến, theo ý kiến chúng tôi thì các yếu tố có tác động trực tiếp và quyết định đến thành công hay thất bại là mưu kế, thế trận, lực lượng, cách đánh, tình huống, thời cơ. Nghệ thuật tác chiến là nghệ thuật vận dụng một cách tổng hợp các yếu tố nói trên trong sự vận động và trong môi quan hệ tác động lẫn nhau của chúng, trong suốt quá trình chuẩn bị, tổ chức và thực hành tác chiến, nhằm huy động đến mức cao nhất mọi khả năng của mình, hạn chế và làm suy yếu đến mức có thể những khả năng của đối phương, đê giành thắng lợi trên chiến trường.


Nghệ thuật là lĩnh vực của những khả năng sáng tạo. Song sự sáng tạo cũng phải tuân theo những quy luật nhất định, chịu sự chi phối của những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định. Vì vậy trước khi bàn đến các yếu tố nội dung của nghệ thuật tác chiến, chúng ta hãy cùng nhau xem xét nghệ thuật tác chiến có những mối liên hệ nào chịu ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện gì và phải dựa trên những căn cứ nào. Có nắm vững những vấn đề đó thì vận đụng nghệ thuật tác chiến mới đúng hướng và mang lại hiệu quả cao.


1. Đường lối tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang

Mọi hoạt động tác chiến đều diễn ra trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh nhất định và nhàm đạt tới mục tiêu mà mỗi bên tham chiến đề ra cho cuộc chiến tranh đó. Vì vậỵ nghệ thuật tác chiến trước hết chịu sự chỉ đạo của đường lối tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang do cơ quan lãnh đạo chiến tranh xác định, đồng thời là sự thể hiện đường lối đó trong thực tiễn.


Cơ quan lãnh đạo chiến tranh là đại diện giai cấp và dân tộc của bên tham chiến này đối kháng với bên tham chiến kia. Đường lối tiến hành chiến tranh do cơ quan đó vạch ra phản ánh ý chí của giai cấp, dân tộc kết hợp với năng lực trí tuệ, khả năng của cơ quan lãnh đạo chiến tranh nắm bắt và vận dụng các quy luật của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang, đề ra các biện pháp tiến hành chiến tranh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể.


Đường lối tiến hành chiến tranh vạch ra mục đích, tính chất và đặc điểm của chiến tranh, xác định những mục tiêu chiến lược, phương thức tổ chức lực lượng, các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang để làm thất bại đối phương, giành thắng lợi về mình. Nghệ thuật tác chiến phải quán triệt, tổ chức thực hiện đường lốĩ đó, đồng thời tận dụng và phát huy mọi khả năng do đường lối đó tạo ra.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM