Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tư, 2024, 01:43:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 10126 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #240 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:30:56 am »

IV. THẾ TRẬN VÀ CÁCH ĐÁNH CỦA QUANG TRUNG TRONG TRẬN ĐẠI PHÁ QUÂN THANH
(Bài viết nhân dịp kỷ niệm lần thủ 195 ngày Quang Trung đại phá quân Thanh. Đăng trên Tạp chí Cộng sản số tháng 1 nàm 1984. Có sửa chữa, bổ sung)

Khi được tin hai mươi vạn quân chiến đấu cùng với hàng chục vạn dân phu vận chuyển, phục dịch của nhà Thanh do Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng (hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây) chỉ huy sang xâm lược nước ta, một vấn đề chiến lược trọng yếu đặt ra cho Nguyễn Huệ là phải làm sao tiêu diệt được quân địch một cách nhanh, gọn, triệt để. Trong tình hình nước ta lúc đó, nỗi lo canh cánh đối với Nguyễn Huệ là mối hiểm họa Nguyễn Ánh ở Đàng trong. Thấy rõ sự yếu đuối, nhu nhược của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, nhìn về xa, Nguyễn Huệ xem "họa Nguyễn Ánh" như một càn bệnh tiềm tàng, nếu không xóa được tận gốc sẽ có lúc bột phát đe dọa đến sinh mệnh của phong trào Tây Sơn. Tình hình Đàng ngoài cũng vô cùng phức tạp. Nếu chậm trễ, dây dưa, giặc Thanh có thể nhận được thêm viện binh, chiến tranh sẽ kéo dài. Nấp dưới giáo giặc Thanh, bọn bán nước Lê Chiêu Thống có thể xây dựng dần dần lực lượng ngụy quân đáng kể để hỗ trợ cho Tôn Sĩ Nghị. Trong thực tế, sau khi quân Thanh chiếm được Thăng Long, quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống đã lên tới khoảng hai vạn tên.


Khi đó, tại Phú Xuân quân đội Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Quang Trung chỉ có khoảng sáu vạn. Quang Trung đã trù tính dọc đường tiến ra Bắc Hà sẽ tuyển thêm quân, nhưng có thể thấy trước rằng khi tiến đánh Thăng Long, số quân trong tay ông cũng chỉ khoảng mười vạn, tức là chưa bằng nửa số quân của kẻ thù.


Triều Thanh dưới thời Càn Long lại đang ở vào giai đoạn cường thịnh. Tôn Sĩ Nghị sau khi chiếm được Thăng Long đã được hoàng đế nhà Thanh khen là "đại thần toàn tài", là người "một mình gánh vác, điều khiển có phương pháp, cho nên không đầy một tháng mà đã thành công" (Đại Thanh lịch triều thực lục). Càn Long ban cho Tôn Sĩ Nghị tước "Mưu dũng công" hạng nhất.


Như vậy, quân giặc đông, tướng giặc tài, chúng còn có thêm bọn Việt gian thông thạo địa hình và tình hình trong nước làm tay sai đắc lực.

Lực của ta đã không bằng địch nên muôn đánh thắng chúng, tất phải tạo ra được thế lợi nhằm tăng gấp bội thực lực của ta, làm suy giảm xuống nhiều lần thực lực của địch. Thế đó trước hết là thế bất ngờ. Đây là điều Quang Trung lựa chọn, và bất ngờ đã trở thành yếu tố then chốt trong kế hoạch đại phá quân Thanh mà người "anh hùng áo vải" trù hoạch ngay tại Phú Xuân.


Là một thiên tài quân sự, hiểu rõ ta, rõ địch, Quang Trung thấy trước và nắm chắc được những điều kiện dễ tạo ra yếu tố bất ngờ cần thiết đó. Quang Trung tỏ ra rất tâm đắc với ý kiến của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp: "Bây giờ trong nước trông không, lòng người tan rã, quân Thanh ở xa tới đây không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh hay giữ ra sao. Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị đập tan". Chính vì thế, khi vừa ra đến Tam Điệp, Quang Trung đã khẳng định mạnh mẽ với các tướng lĩnh ở Bắc Hà: "Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh" (Hoàng Lê nhất thống chí).


Phương lược của Quang Trung tiến đánh quân Thanh được đặt trên cơ sở yếu tố hàng đầu: bất ngờ.

Bất ngờ không thể tự nó đến mà phải tạo ra. Ở đây, trước hết phải ghi công đầu cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Các tướng Tây Sơn là những dũng tướng, đi theo Nguyễn Huệ từ những ngày đầu khởi nghĩa, trăm trận trăm thắng, chỉ biết tiến không biết lùi. Tuy trong tay chỉ có bảy, tám ngàn quân nhưng Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân có thừa dũng cảm và mưu lược để quyết chiến với hai mươi vạn quân Thanh, vì như Ngô Văn Sở đã nói, "giặc đến thì phải sống chết với giặc, còn mất với thành", nhất là đây lại là thành Thăng Long. Thế mà nghe theo lời bàn của Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở đã ra lệnh lui quân về giữ Tam Điệp, về việc này, Quang Trung đã nhận xét tại Tam Điệp: "Các ngươi đã biết nín chịu để tránh mũi nhọn của giặc, chia ra ngăn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng" (Hoàng Lê nhất thống chí).


Ngạo mạn, kiêu căng vốn là căn bệnh cố hữu của các tướng "thiên triều". Đường đường là tổng đốc Lưỡng Quảng, kéo quân hai tỉnh sang "khu xử" công việc của một "quận Giao Chỉ" thuộc tộc "man di" thì có gì là khó! Tôn Sĩ Nghị vốn đã kiêu căng càng thêm ngông cuồng, đi đến chủ quan, khinh địch, nhất là sau khi chiếm được thành Thăng Long một cách nhanh chóng, dễ dàng, không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể. "Thắng lợi" của Tôn Sĩ Nghị lại diễn ra đúng vào dịp gần tết Nguyên đán Kỷ Dậu. Quân Tây Sơn thì rút lui từng bước từ Lạng Sơn đến Thăng Long rồi từ Thăng Long xa hơn nữa về phía nam. Tất cả những điều trên đây đã đẩy Tôn Sĩ Nghị đi đến quyết định: cho quân lính nghỉ ngơi ăn tết và chuẩn bị thêm lực lượng để sau tết, khoảng ngày mồng sáu sẽ tiếp tục tiến quân. Trong thực tế quân Thanh và bọn tay sai đã bỏ hết mọi việc chỉ lo ăn tết. Theo tập quán, tết Nguyên đán bắt đầu từ ngày "tiễn táo quân về trời"1 () tức là ngày 23 tháng Chạp, đến ngày "hạ nêu" tức là ngày mồng bảy tháng Giêng. Bọn bù nhìn Lê Chiêu Thống làm lễ "phong ấn" (cất ấn nghỉ việc) từ ngày 25 tháng Chạp, "cho phép các quan và quân lính nghỉ mười ngày để cùng vui đón tiết xuân" (Hoàng Lê nhất thống chí).


Kế của Ngô Thì Nhậm cho giặc Thanh "ngủ trọ một đêm" tại Thăng Long đã góp phần kích thích tâm lý chủ quan khinh địch của Tôn Sĩ Nghị và cả đạo quân Thanh xâm lược, khiến chúng dừng chân tại Thăng Long và vùi đầu vào cuộc say sưa hưởng lạc dịp tết. Đây là màn khói che khuất cuộc tiến quân của Quang Trung từ Phú Xuân ra Tam Điệp, là liều thuốc làm tê liệt cả thế trận lẫn tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu của quân Thanh tại khu vực Thăng Long.


Trong khi Tôn Sĩ Nghị và bọn tùy tưởng đang dương dương tự đắc, xem quân Tây Sơn như "cá chậu chim lồng, chỉ còn chút hơi thừa thoi thóp" (Hoàng Lê nhảt thống chí) thì Quang Trung khi tiến quân ra đến Nghệ An, Thanh Hóa lại sai người "đưa thư đến Sĩ Nghị để xin đầu hàng, lời lẽ trong thư rất là nhũn nhặn khiêm tốn" (Việt sử thông giám cương mục). Tôn Sĩ Nghị càng hống hách, khinh thường, ra lệnh cho Quang Trung "hãy rút quân về Thuận Hóa để chờ phân xử" (Lê quý ký sự).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #241 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:31:57 am »

Thế là khi đại quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp thì Tôn Sĩ Nghị và đại quân Thanh vẫn còn mơ màng, say sưa trong "thắng lợi" và chìm đắm trong các cuộc truy hoan. Một tháng "ngủ trọ" tại Thăng Long là thời gian quân Thanh thả sức hoành hành và bộc lộ hết bản chất xâm lược tàn bạo của chúng, đồng thời cũng là thời gian nuôi dưỡng và phát triển đến cực độ tâm lý chủ quan khinh địch của Tôn Sĩ Nghị và bè lũ. Đáy cũng là thời gian mà bộ mặt bán nước cực kỷ đê tiện của bè lũ Lê Chiêu Thống càng bị phơi trần, đồng thời chính nghĩa đánh giặc, cứu nước của nghĩa quân Tây Sơn càng thêm sáng tỏ trước nhân dân Bắc Hà. Những nhân tố đó đã đưa nhân dân Bắc Hà và cả nước hướng về người "anh hùng áo vải", về nghĩa quân Tây Sơn. Bối cảnh chính trị và tư tưởng mới tại Bắc Hà "trong nước trông không, lòng người tan rã" đối với Tôn Sĩ Nghị và bọn tay sai Lê Chiêu Thống có nghĩa là trong nước tràn đầy căm thù bọn giặc xâm lược và bọn Việt gian bán nước, lòng người đồng tâm nhất trí đánh giặc, cứu nước, thu giang sơn về một mối. Quang Trung đã đặt bọn Tôn Sĩ Nghị, Lê Chiêu Thống vào tình trạng "có mắt không thấy, có tai không nghe".


Muốn tạo bất ngờ, phải giữ được bí mật. Quân bộ Tây Sơn án ngữ Tam Điệp, thủy quân Tây Sơn án ngữ các đường thủy ra bắc vào nam. Nhân dân Bắc Hà hết lòng giúp đỡ nghĩa quân đã ngăn chặn không cho bọn gián điệp giặc lọt vào phòng tuyến của ta, đồng thời thu thập tin tức tình báo từ hậu phương địch chuyển về bộ chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn. Bí mật của ta được bảo vệ chặt chẽ, động tĩnh của địch bị ta nắm chắc từng ngày. Vì thế, khi đại quân Tây Sơn đến Nghệ An, Thanh Hóa, Tôn Sĩ Nghị vẫn chưa hay biết gì về ý đồ chiến lược của Quang Trung.


Như vậy với tầm nhìn chiến lược sắc sảo, Quang Trung đã đánh giá đúng đắn những điều kiện khách quan về địch, về ta, tạo thời cơ cho một cuộc tiến công bất ngờ, trên thế chủ động, khiến cho lực của ta được nhân lên gấp bội; đẩy quân địch vào thê án binh bất động, sức chiến đấu bị tê liệt, hoàn toàn thụ động trước cuộc chuẩn bị tiến công của nghĩa quân Tây Sơn. Thật đúng như Nguyễn Trãi đã nói: "Được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời, không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay" (Quân trung từ mệnh tập).


Muốn không lỡ, phải hành động nhanh chóng cho kịp thời cơ. Vấn đề thần tốc được đặt ra cho Quang Trung: thần tốc hành quân đến vị trí tập kết, thần tốc chuẩn bị và tiến công quân địch. Đây vốn là sở trường của Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn. Với tinh thần cao, tổ chức gọn nhẹ, sức lực dẻo dai, nghĩa quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Quang Trung - như lời của một cung nhân nới với mẹ Lê Chiêu Thống - "ra bắc vào nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường trước được" (Hoàng Lê nhất thống chí). Đây cũng là điều bè lũ Tôn Sĩ Nghị không thể nào ngờ tới.


Ngày 21 tháng 12 năm 1788, tại Phú Xuân Nguyễn Huệ nhận được tin báo khẩn cấp của Ngô Văn Sở. Ngay ngày hôm sau, ông làm lễ đăng quang, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc. Chỉ riêng động thái đó cũng đủ chứng minh sự sẵn sàng chiến đấu rất cao của các đơn vị nghĩa quân Tây Sơn, tính quyết đoán, khẩn trương hành động và đặc biệt là nhãn quan chiến lược sâu rộng của Quang Trung trong việc làm chủ thời gian nhằm thực hiện bất ngờ.


Tranh thủ từng khắc, từng giờ trong hành quân, dừng lại ở Nghệ An hơn 10 ngày - thời gian vừa đủ để nghỉ ngơi, bổ sung lực lượng và tổ chức duyệt binh nhàm cổ vũ nâng cao sĩ khí của quân đội - rồi tiếp tục lấy thêm quân ở Thanh Hóa, đến ngày 15 tháng 1 năm 1789, Quang Trung và đại quân Tây Sơn đã tới Tam Điệp. Như vậy là chỉ trong vòng 24 ngày kể từ khi xuất phát từ Phú Xuân, Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn đã đến vị trí tập kết, đồng thời đã hoàn tất hàng loạt hành động bổ sung lực lượng và chuẩn bị về mọi mặt vật chất và tinh thần cho quân sĩ. Hầu như không một khắc, một giờ nào bị bỏ phí. Trừ thời gian dừng chân ở Nghệ An và Thanh Hóa, thời gian hành quân của đại quân Tây Sơn đông trên sáu vạn người khi xuất phát từ Phú Xuân và lên đến mười vạn khi đi từ Thanh Hóa, chỉ vào khoảng 11-12 ngày. Thật là điều vượt quá sức tưởng tượng và sự tính toán chiến lược của Tôn Sĩ Nghị, mặc dù tên tướng giặc Thanh này tuy chủ quan khinh địch nhưng cũng đã cẩn thận để phòng bằng cách bố trí khá chu đáo lực lượng của hắn, "cho quân đi đóng giữ ở tất cả các nơi hiểm yếu trên khắp bốn ngả đường" (An Nam quân doanh kỷ yếu) nhằm bảo vệ khu vực Thăng Long.


Đã tính sẵn "phương lược tiến đánh" từ khi ra quân tại Phú Xuân, đến Tam Điệp, Quang Trung lại phải giải quyết hàng loạt vấn đề cụ thể: nghiên cứu đầy đủ thế bố trí lực lượng của địch trên suốt dọc đường từ Tam Điệp đến Thăng Long, đặc biệt là tại chính khu vực Thăng Long; chọn hướng tiến công chủ yếu và những mục tiêu then chốt cần tập trung đánh chiếm; huấn luyện nghĩa quân cách đánh cụ thể vào từng mục tiêu cụ thể; chuẩn bị vật chất phục vụ chiến đấu và động viên quyết tâm của ba quân không tiếc xương máu, quét sạch giặc ngoại xâm. Đã thần tốc trong hành quân, nghĩa quân Tây Sơn lại thần tốc trong các công việc chuẩn bị tác chiến ngay trong những ngày giáp tết. Chỉ trong vòng 10 ngày từ 15 đến 25 tháng 1 năm 1789 (tức là ngày 30 tết), đại quân Tây Sơn đã hoàn thành một động tác chuẩn bị và sẵn sàng bước vào trận quyết chiến lịch sử. Trước khi xuất phát, Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: "Nay hãy làm lễ ăn tết Nguyên đán trước, đợi đến sang xuân ngày mồng bảy vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hãy nghe nhớ lấy lời ta xem có đúng thế không?" (Đại Nam chính biên liệt tuyển sơ tập).


Lời tuyên bố đanh thép đó là hiệu lệnh tiến công thần tồc. bước quyết định trong ba bước: thần tốc hành quản, thần tốc chuẩn bị, thần tốc tiến công; bước hoàn tất môi quan hệ giữa bất ngờ và thần tốc, giữa bất ngờ và thời cơ trong bối cảnh "Thời! Thời! Thực không nên lỡ" (Nguyễn Trãi - Quân trung từ mệnh tập). Những ngày mồng ba và mồng bôn tết là những ngày quân giặc ở trong tình trạng mệt mỏi cả về thể lực lẫn tinh thần sau hàng chục ngày đêm chuẩn bị cho tết và Ăn tết. Đây chính là thời gian thuận lợi cho việc bất ngờ tiến công và giáng đòn quyết định vào hang ổ của đại quân Thanh, kể cả sở chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị tại cung Tây Long.


Từ chủ trương tiến công thần tốc đó, phải lựa chọn cách đánh nhằm đạt được mục tiêu chiến lược: tiêu diệt nhanh gọn toàn bộ quân địch để kết thúc chiến tranh chỉ trong vòng mấy ngày. Với lực lượng ta ít, tiến đánh những lực lượng địch đông gấp hơn hai lần. Quang Trung đã chọn cách đánh sở trường của nghĩa quân Tây Sơn: bí mật bất ngờ, nhanh chóng tiến công từ nhiều hướng, bằng nhiều cánh nhằm kẹp quân Thanh vào giữa vòng vây của quân ta; tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu, đồng thời triển khai lực lượng trên một số hướng khác, tạo thành ưu thế áp đảo, tiến công mãnh liệt một số vị trí then chốt trong hệ thống phòng ngự của quân Thanh tại khu vực Thăng Long, phá vỡ thế trận của giặc, đẩy chúng vào tình trạng hỗn loạn, hoang mang, không ứng phó kịp, đi đến bị tiêu diệt hoàn toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #242 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:32:33 am »

Quang Trung bố trí đại quân Tây Sơn thành năm đạo quân cùng tiến đánh khu vực Thăng Long. Đạo quân chủ lực do Quang Trung trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào hệ thống phòng ngự chủ yếu của địch ở phía nam Thăng Long. Đạo quân thứ hai do Đô đốc Bảo chỉ huy tiến ra Đại Áng (Thường Tín, Hà Sơn Bình) làm nhiệm vụ yểm hộ và phối hợp với đạo quân chủ lực. Đạo quân thứ ba do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở Khương Thượng rồi thọc sâu vào Thăng Long; đây là mũi bao vây chiến dịch, đánh vào sườn phải trận tuyến của địch, nơi chúng ít phòng bị, nhưng lại có tính chất hiểm yếu. Đạo quân thứ tư do Đô đốc Tuyết chỉ huy đi theo đường biển đánh vào Hải Dương. Đạo quân thứ năm do Đô đôc Lộc chỉ huy là mũi bao vây chiến lược, cũng theo đường biển tiến vào hướng Bắc Giang nhằm chặn đường rút lui của quân Thanh từ Thăng Long về Quảng Tây và sẵn sàng chặn đánh quân tiếp viện từ Quảng Tây sang.


Thế trận tiến công của Quang Trung đặt đại quân Thanh vào thế "cá chậu chim lồng" không đường thoát chạy. Từ thế trận đó Quang Trung đã chọn những "tử huyệt" trong hệ thống phòng ngự của Tôn Sĩ Nghị: Hạ Hồi, Ngọc Hồi và Khương Thượng. Tập trung lực lượng đánh vào các điểm đó, phía Tây Sơn tuy tổng số quân chưa bằng nửa tổng số quân địch nhưng đã tạo được ưu thế lực lượng tại các điểm quyết chiến đã chọn, và với tinh thần và tài nghệ chiến đấu của các tướng sĩ cùng sự giúp đỡ, phối hợp chiến đấu của nhân dân các địa phương, ưu thế đó càng áp đảo quân địch.


Khi cuộc tiến công mở màn, theo kế hoạch tác chiến của Quang Trung, đã hình thành rõ rệt thế trận rộng lớn bao vây toàn bộ đại quân của Tôn Sĩ Nghị tại khu vực Thăng Long. Các đường rút lui của quân giặc đều bị khóa chặt. Trên chính diện, trong khi đạo quản chủ lực do Quang Trung đích thân chỉ huy đánh vỗ mặt, thì cánh quân vu hồi do Đặng Tiến Đông chỉ huy từ "thượng đạo" (đường núi) ập xuống như mũi dao nhọn cắm phập vào sườn quân giặc ở phía tây - nam Thăng Long rồi thọc sâu vào tận tim của chúng là cung Tây Long bên bờ sông Hồng. Sự phối hợp giữa các cánh quản tiến theo cả hai đường thủy, bộ đã diễn ra hết sức nhịp nhàng.


Cách đánh bao vây trên toàn bộ thế trận đó đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của bộ chỉ huy quân Thanh và toàn bộ tướng sĩ địch. Với tinh thần dễ bị hoang mang dao động của một đội quân xâm lược lúc gặp khó khăn, khi thày hệ thống phòng ngự của chúng bị chọc thủng tại những điểm xung yếu, đặc biệt là khi đứng trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt thì phản ứng tất yếu của quân địch là lo chạy tháo thân. Tôn Sĩ Nghị "người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đặt yên" hốt hoảng bỏ cung Tây Long cùng với một số tùy tùng vượt cầu phao chạy sang bò bên kia sông Hồng, rồi ra lệnh cắt cầu làm cho hàng vạn quân Thanh rơi xuống sông chết đuối. Kết quả là trong tổng số hai mươi vạn quân chiến đấu và hàng chục vạn dân phu của giặc Thanh, chỉ có khoảng năm nghìn tên cùng Tôn Sĩ Nghị chạy thoát về Trung Quốc.


Trong thế trận bao vây để tiêu diệt toàn bộ đại quân Thanh Quang Trung đã thực hiện cách đánh bao vây tiêu diệt từng vị trí then chốt của giặc.

Giữa đêm 30 tết (25-1-1789), đạo quân chủ lực của Quang Trung vượt sông Gián, bất ngờ tiêu diệt các vị trí tiền tiêu của giặc ở bờ bắc sông Nguyệt Quyết và Nhật Tảo, truy kích các toán quân Thanh và bắt gọn chúng tại Phú Xuyên, "không để một tên nào trốn thoát" (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhờ đấy, nửa đêm mồng ba tết Kỷ Dậu (28-1-1789), quân Tây Sơn đã tiến đến bao vây kín đồn Hạ Hồi (Thường Tín, Hà Sơn Bình) cách Thăng Long chỉ khoảng 20km mà quân giặc trong đồn không hề hay biết. Vừa bao vây, tiến đánh vừa gọi hàng quân giặc bằng cách cho "quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người" (Hoàng Lê nhất thống chí), quân Tây Sơn đã kết hợp tài tình sức mạnh về quân sự với công tác địch vận đánh vào tinh thần dịch, khiến chúng rụng ròi, sợ hãi xin hàng.


Chiến thắng Hạ Hồi là tiền đề và điều kiện để tiến công đồn Ngọc Hồi, trận đánh then chốt quyết định số phận của đạo quân Tôn Sĩ Nghị.

Khi được biết quân Tây Sơn đã tiến đến Ngọc Hồi, Tôn Sĩ Nghị và tất cả quân tướng giặc Thanh tại khu vực Thăng Long thảy đều kinh hoàng, khiếp sợ. Chúng bảo nhau: "Thật là tướng ở trên trời xuống, quân ở dưới đất chui lên" (Hoàng Lê nhất thống chí). Bản thân Tôn Sĩ Nghị khi được tin cấp báo cũng phải "rút kiếm chém xuống đất nói rằng: sao mà thần đến thế!" (Minh đô sử). Tinh thần quân Thanh lâm vào tình trạng hoang mang, xao xuyến cực độ. Bởi vì Ngọc Hồi là một cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của quân Thanh ở mặt trận phía nam, với khoảng ba vạn quân tinh nhuệ, là lá chắn chủ yếu che chở cho đại quân của chúng ở Thăng Long. Mắt xích này bị chặt đứt sẽ làm cả chuỗi xích đứt tung, không có cách gì hàn gắn được.


Ở đây Quang Trung đã quyết định sử dụng đạo quân chủ lực Tây Sơn do ông trực tiếp chỉ huy, cộng với đạo quân tiếp ứng do Đô đốc Bảo chỉ huy, tổng cộng khoảng từ năm đến sáu vạn người để tiến công quân Thanh. Ngoài ưu thế về số quân, phía Tây Sơn còn có khoảng một trăm voi chiến trong lực lượng xung kích. Cùng với vũ khí lạnh như cung nỏ, giáo, lao... quân Tây Sơn còn được trang bị nhiều thứ hỏa khí như súng tay, hỏa hổ và đặc biệt là cả đại bác đặt trên mình voi.


Quang Trung quyết định dùng đại bộ phận binh lực, trong đó có toàn bộ tượng binh, tiến công mãnh liệt vào phía nam đồn Ngọc Hồi, trong khi một bộ phận đạo quản chủ lực được bố trí sẵn ở phía đông - bắc Ngọc Hồi, chặn cả hai hướng: đường cái lớn về Thăng Long và đê sông Nhị, nhằm buộc số quân địch còn lại phải chạy giạt về phía tây theo hướng đầm Mực. Đạo quân của Đô đốc Bảo từ Đại Áng được sử dụng như lực lượng hỗ trợ cho đạo quân chủ lực công phá đồn Ngọc Hồi, nhưng nhiệm vụ chủ yếu của nó là sẵn sàng bao vây và tiêu diệt quân giặc nếu chúng rút chạy về đầm Mực.


Tiến công mãnh liệt ở chính diện đồng thời mở cho quân giặc một lối thoát để đẩy chúng chạy vào một cái bẫy ở nơi tử địa mà ta đã chuẩn bị từ trước - cách đánh tài tình này của Quang Trung đã dẫn đến kết quả là tiêu diệt hoàn toàn cánh quân của đô đốc Thanh Hứa Thế Hanh ngay trong đồn Ngọc Hồi và tại đầm Mực. Về trận tiến công dũng mãnh này của quân Tây Sơn, kẻ thù cũng đã phải thừa nhận: "Quân tiên phong của giặc (tức quân Tây Sơn) xông thẳng vào đại doanh của ta" (An Nam quân doanh kỷ yếu), "giặc dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào... kẻ trước ngã, người sau nối, hết thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu" (Việt sử thông giám cương mục).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #243 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:33:15 am »

Cũng vào khoảng canh tư đêm mồng bốn tết Kỷ Dậu, khi đạo quân chủ lực đang tiến đánh đồn Ngọc Hồi thì trên hướng phối hợp, đạo quân làm mũi bao vây chiến dịch do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy, bất ngờ xuất hiện và tiến công mãnh liệt đồn Khương Thượng ở sát phía tây - nam thành Thăng Long. Quân giặc không kịp trở tay vì chúng không ngờ rằng quân Tây Sơn lại từ hướng núi thình lình ập xuống. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, đồn Khương Thượng đã bị tiêu diệt. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt luôn các đồn Yên Quyết, Nam Đồng rồi tràn qua cửa ô tây - nam, như một mũi lao từ xa phóng thẳng vào cung Tây Long, nơi Tôn Sĩ Nghị đặt sở chỉ huy của hắn. Đang dồn tâm trí để chống đỡ ở phía Ngọc Hồi thì lại thấy quân Tây Sơn ập đến từ phía tây - nam, Tôn Sĩ Nghị và các tướng sĩ Thanh kinh hồn bạt vía, không còn cách nào hơn là cuống cuồng tìm kế thoát thân.


Trong các trận Ngọc Hồi, Khương Thượng, các yếu tố bất ngờ, thần tốc, bao vây và tiến công mãnh liệt đã được kết hợp chặt chẽ, nhân sức mạnh của quân Tây Sơn lên gấp bội, do đó đã đè bẹp quân Thanh một cách nhanh chóng, mặc dù số quân của chúng đông hơn ta rất nhiều. Quang Trung và các tướng Tây Sơn đã nắm vững thời cơ, thực hiện bất ngờ, hành động thần tốc để giành chủ động, tận dụng thời cơ; dựa vào bết ngờ để tạo nên thế trận bao vây, và ngược lại chính thế trận bao vây đó lại nâng cao thêm hiệu lực, tác động của bất ngờ; sử dụng các yếu tố bất ngờ, bao vây và thần tốc làm cơ sở và điều kiện thuận lợi cho hành động tiến công mãnh liệt nhằm tiêu diệt một số cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của địch.


Đó là cách đánh kỳ diệu của Quang Trung. Thật chẳng khác nào dùng những ngón tay thép điểm trúng vào những tủ huyệt của giặc, đập vỡ thế trận của chúng, đẩy chúng vào tình trạng tan rã và bị tiêu diệt trong vòng vây siết chặt của quân ta. Bất ngờ và thần tốc đã tạo ra thời cơ bao vây, tiến công tiêu diệt các đồn Hạ Hồi, Ngọc Hồi và Khương Thượng. Thời cơ này được sử dụng đúng đắn, chính xác lại tạo ra thời cơ mới. Đô đốc Đặng Tiến Đông đã không bỏ lỡ thời cơ này khi "một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm", dẫn đầu kỵ binh Tây Sơn táo bạo thọc sâu vào tận cung Tây Long, sào huyệt của Tôn Sĩ Nghị bên bờ sông Hồng.


Mờ sáng ngày mồng năm tết Kỷ Dậu, đạo quân của Đô đốc Đặng Tiến Đông tiến vào giải phóng Thống Long. Đến trưa, đạo quân chủ lực của Quang Trung cùng với đạo quân của Đô đốc Bảo cũng tiến vào kinh thành.


Nét tiêu biểu đặc sắc trong tư tưởng quân sự của Quang Trung là tư tưởng tiến công, giành và nắm chắc quyền chủ động cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu; dùng mưu kế và hành động thần tốc để tạo ra bất ngờ, dùng cách đánh bao vây, chia cắt kết hợp với đột phá để tiến công tiêu diệt gọn quân địch có số lượng đông hơn mình nhiều. Đang trên đà tiến công xâm lược nước ta, lại chiếm được kinh thành Thăng Long một cách nhanh chóng, dễ dàng, bè lũ Tôn Sĩ Nghị tưởng chừng đang nắm trong tay quyền chủ động chiến lược, có thể tiếp tục tiến đánh ta ở đâu, vào lúc nào tùy ý chúng. Thế nhưng ngay tại Phú Xuân, với tư tưởng tiến công, tính quyết đoán nhanh chóng và dựa trên cơ sở tính toán toàn diện, chính xác, người "anh hùng áo vải" đã giành lại quyền chủ động chiến lược về tay mình khi quyết định "lập tức xuất quân".


Ở vào thế phải "lấy ít đánh nhiều", vấn đề đặt ra là phải tạo thế, tạo thời cơ để chuyển hóa so sánh lực lượng giữa hai bên, dùng thế và thời để tăng sức mạnh của ta lên gấp bội, giảm sức mạnh của địch xuống nhiều lần. Quang Trung đã vận dụng tài tình yếu tố bất ngờ cả trong kế hoạch chiến lược, chiến dịch lẫn trong hành động chiến đấu. Trong thực tế diễn biến trên chiến trường, Tôn Sĩ Nghị đã hoàn toàn bị bất ngờ về ý định chiến lược của Quang Trung, bất ngờ về nghệ thuật chiến dịch và bất ngờ cả về chiến thuật của quân Tây Sơn trong từng trận chiến đấu, từ các trận Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng đến đòn thọc sâu của Đô đốc Đặng Tiến Đông vào cung Tây Long.


Dựa trên yếu tố bất ngờ, Quang Trung đã xây dựng thế trận bao vây chiến lược, chiến dịch, thực hiện thần tốc từ trong hành quân, chuẩn bị chiến đấu đến triển khai đội hình, tiếp cận các điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của địch, để cuối cùng dùng tiến công mãnh liệt bao vây chia cắt, thọc sâu táo bạo để tiêu diệt nhanh gọn các đơn vị quân giặc nằm trong vòng vây của ta, đưa đến kết quả chỉ đánh một đòn là kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi hoàn toàn.


Cách đánh của Quang Trung đã phát huy được sức mạnh kỳ diệu vì nó được xây dựng trên một nền tảng vững chắc. Trước hết, Quang Trung đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, đã giải quyết thỏa đáng một số hiềm khích trong nội bộ phong trào Tây Sơn, đã thu phục được lòng dân cả nước và đặc biệt là lòng dân Bắc Hà trong vùng bị giặc tạm chiếm đóng.


Quang Trung đã tận dụng thế đất hiểm trở của Tổ quốc từ dãy núi Tam Điệp, đầm Mực đến con đường "thượng đạo" ập xuống Khương Thượng. Dưới quyền chỉ huy của Quang Trung là các tướng sĩ nghĩa quân Tây Sơn tài trí, dũng cảm, có kỷ luật nghiêm minh, sẵn sàng hy sinh vì nước. Quang Trung còn kết hợp tài tình hành động quân sự với công tác địch vận.


Cách đánh của Quang Trung trong trận đại phá quân Thanh được tạo thành từ nhiều yếu tố, trong đố có các yếu tố nổi bật là bất ngờ, thần tốc, bao vây và tiến công mãnh liệt. Tư tưởng và nghệ thuật quân sự trong trận này thể hiện một bước phát triển mối cao hơn của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trung cổ.


Phương pháp tác chiến "công thành" ở các thời kỳ trước Quang Trung phát triển chưa cao. Đến thời đại của ông, phương pháp tác chiến này được hoàn thiện hơn về trình độ tổ chức và thực hành chiến dịch. Trận đánh Thăng Long là một chiến dịch lớn ở quy mô chiến lược. Thế trận chiến dịch là một thế trận liên hoàn rất chặt chẽ, đồng thời tiến công trên nhiều hướng, nhiều mũi với năm đạo quân, đánh vào toàn bộ cơ cấu đội hình phòng ngự của địch.


Việc chỉ huy, điều hành chiến dịch rất tài giỏi, bao quát một phạm vi rộng lớn gồm mây tỉnh Bắc Hà. Năm đạo quân cùng triển khai chiến đấu và hiệp đồng một cách nhịp nhàng trên các hướng cách xa nhau, chứng tỏ một trình độ cao về tổ chức, chỉ huy một chiến dịch lớn. Điều đó gợi cho ta thấy chiến dịch Thăng Long như cỏ dáng dấp của một chiến dịch trong thời đại ngày nay. Về mặt tổ chức, chỉ huy chiến dịch, trận đánh Thăng Long cũng là một bước phát triển mới cao hơn và hoàn thiện thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trung cổ.


Thống soái Quang Trung cùng các tưởng sĩ nghĩa quân Tây. Sơn đă có những đóng góp quý giá vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trận đánh Thăng Long đại phá quân Thanh là sự kế tục xuất sắc các trận Bạch Đàng, Như Nguyệt, Chi Lăng... trong lịch sử dân tộc. Ngày nay trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc do Đảng ta lãnh đạo, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, cuộc Tông tiến công và nổi đậy Xuân 1975... lại là sự kế tục tuyệt vời các chiến công hiển hách đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #244 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:35:40 am »

V. MƯU KẾ CHIẾN TRANH VÀ CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THƯ - ĐÔNG 1950
   (Bài viết tháng 10 năm 1980)

Chiến tranh là một quá trình đọ sức quyết liệt về lực lượng và đấu tranh gay go về trí tuệ giữa hai bên tham chiến. Hành động của mỗi bên đều chịu sự chi phối của những quy luật chung của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang, cũng như những quy luật riêng của từng kiểu loại chiến tranh và quy luật đặc thù của từng cuộc chiến tranh cụ thể. Người nào hành động phù hợp với quy luật thì sẽ chiến thắng, kẻ đi ngược lại quy luật thì phải hứng chịu thất bại. Nói một cách khái quát, trong chiến tranh, ai mạnh hơn, thông minh hơn sẽ thắng. Giỏi hành động bằng mưu kế là một trong những biểu hiện của sự thông minh, khôn khéo trong chiến tranh.


Mưu kế chiến tranh là những phương sách, biện pháp, thủ đoạn được dùng trong cuộc chiến nhằm đánh lừa đối phương, điều khiển hành động của đối phương theo ý định của mình, đưa đối phương vào thế trận mình đã bày sẵn, từ đó buộc đối phương phải phạm sai lầm, tạo yếu tố bất ngờ để đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình. Mưu kế thường cho phép dùng lực lượng ít hơn mà chiến thắng được đối thủ có lực lượng đông hơn, thậm chí cả trong những tình thế hiểm nghèo. Cái tinh vi trong hành động bằng mưu kế là đạt tới thành công bằng cách làm cho đối phương tự họ tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình hủy diệt chính bản thân họ.


Trong lịch sử quân sự thế giới, ngay từ thời cổ đại đã có nhiều nhà quân sự nhờ giỏi sử dụng mưu kế mà đánh thắng địch thủ có lực lượng đông hơn mình. Chiến công của Ê-pa-mi-nông-đa trong trận Lác-tơ-ra (năm 371 trước Công nguyên) cũng như thắng lợi của Ha-ni-ban trong trận Can (năm 216 trước Công nguyên) là những ví dụ cụ thể1 (Trong trận Lớc-tơ-ra (Hy Lạp) ngày 5 tháng 8 nồm 371 trước Công nguyên, 7.500 quân Thi-vơ do Ê-pa-mi-nông-da chỉ huy đã đánh thắng 11.000 quân Xpác-tơ do Clê-ôm-brốt chỉ huy. Trong trận Can (I-ta-li-a) ngày 2 tháng 8 năm 216 trước công nguyén, 50.000 quân Các-ta-giơ do Ha-ni-ban chỉ huy đà đánh tan 69.000 quân La Mã do Va-rôn chỉ huy).


Trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải nhiều lần đánh trả những kẻ thù xâm lược có quân đông hơn, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn mình gấp nhiều lần. Trong các cuộc chiến tranh không cân sức đó, để lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nhân dân ta đã phát huy cao độ trí thông minh, óc sáng tạo để vận dụng mưu kế trong đánh giặc và đã đạt được những thành công xuất sắc. Chỉ cần nhắc lại trận thủy chiến trên sông Bạch Đàng năm 938, với việc khôn khéo lợi dụng quy luật thủy triều lên xuống để xây dựng bãi cọc ngầm giữa lòng sông Bạch Đáng, với việc bố trí trận địa mai phục thích hợp, dùng mưu kế nhử dịch vào rồi bất ngờ phản kích quật lại chúng, Ngô Quyền đã chỉ huy những đội thuyền chiến nhỏ hơn và ít hơn địch mà hủy diệt được phần lớn hạm đội Nam Hán khi nó vừa từ biển xâm nhập vào nước ta.


Trong Binh thư yếu lược - một tác phẩm quân sự nổi tiếng của dân tộc ta - có đoạn nói về dùng mưu kế đánh giặc như sau: "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 183), về thực tiễn cũng như lý luận, mưu kế chiến tranh đã sớm trở thành một nội dung quan trọng của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lĩnh vực chiến lược và chiến thuật, và ngày nay cả trong lĩnh vực chiến dịch nữa.


Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước của nhân dân là trong thời đại lịch sử mới, Đảng ta đã dựa trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội, đúc kết kinh nghiệm chiến đấu phong phú của quân và dân ta, kế thừa truyền thống quân sự quý báu của tổ tiên, tham khảo kinh nghiệm quân sự trên thế giới để xác định một tổng thể các nguyên tắc của nghệ thuật quân sự nhằm chỉ đạo mọi hành động tác chiến của lực lượng vũ trang. "Mưu trí, linh hoạt bí mật, bất ngờ" là một trong những nguyên tắc chỉ đạo đó. Nguyên tắc này mở ra một phạm vi rộng lớn cho cán bộ, chiến sĩ ta ra sức sáng tạo, tìm tòi và sử dụng nhiều mưu kế hay, nhiều cách đánh thiên biến vạn hóa để giành thắng lợi trên chiến trường.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần chỉ rõ phải biết dùng mưu kế lừa địch trong chiến tranh. Trong tác phẩm Cách đánh du kích, Người viết: "Lừa gạt quân giặc. Làm cho chúng mắt mù tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng", "... lúc nhằm đánh vào chỗ nào, mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông, đánh phía tây", "giả làm quân thù, kéo vào thành rồi đánh úp", "... tìm cách dụ quân giặc, đánh lừa quân giặc vào bẫy để phục kích"2 (Hồ Chí Minh, Những bải viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 138-154), v.v...


Nghe theo lời dạy của Người, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các lực lượng vũ trang ta đã thường xuyên vận dụng mưu kế chiến tranh, với những hình thức, biện pháp rất linh hoạt và có hiệu quả như: nghi binh bằng cách chuẩn bị và thực hành tác chiến hay cơ động bộ đội trên hướng phụ để đánh lạc hướng địch; tung tin giả; dùng phương tiện kỹ thuật để nghi binh, lừa địch; chăng gài cạm bẫy và dụ địch vào đó; cải trang đánh địch; làm trận địa giả, vũ khí giả, v.v... Những mưu kế đó được cán bộ, chiến sĩ ta sử dụng một cách thông minh, khéo léo trên cơ sở tính toán, cân nhắc nhiều mặt: nhiệm vụ chiến dịch, chiến đấu; khả năng của ta; mạnh, yếu của địch; địa hình, thời tiết ở khu vực tác chiến, v.v...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #245 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:36:36 am »

Trong các mưu kế nói trên, hành động nghi binh đánh lạc hướng địch đã được bộ chỉ huy cao cấp của ta vận dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều chiến dịch và trận chiến đấu. Nó nhằm thu hút lực lượng và sự cố gắng của địch vào một hoặc một số hướng khác với hướng tác chiến chủ yếu cúa ta. Trong mọi trường hợp, nó đều nhằm phân tán, dàn mỏng lực lượng địch, nhất là lực lượng cơ động chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng chủ yếu giáng đòn quyết định trên chiến trường lựa chọn. Chiến dịch Biên Giới là một ví dụ sinh động về vấn đề này.


Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng ta quyết định mỏ chiến dịch Biên Giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai biên giới phía bắc từ Cao Bằng đến Thất Khê, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bác, nối thông đường liên lạc quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa. Trong chiến cuộc thu - đỏng 1950, Đông Bắc được chọn là hướng chính, Tây Bắc là hướng nghi binh; các chiến trường khác đều tăng cường hoạt động để phối hợp với chiến trường chính.


Trong "Huấn thị về chiến dịch Cao - Bắc - Lạng", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Để thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận ấy phải kiên quyết dũng cảm trăm phần trăm; các chiến sĩ các khu, các mặt trận khác phải ra sức thi đua giết giặc, lập công để hết sức tiêu diệt địch, khống chế địch, không cho phép chúng tiếp viện mặt trận Cao - Bắc - Lạng"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 433). Huấn thị của Người đã xác định một trong những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự là: phối hợp nỗ lực của các hướng và chiến trường thứ yếu với nỗ lực của tập đoàn chủ yếu hành động trên hướng chủ yếu. Tư tưởng chủ đạo của Người là: nắm vững quyền chủ động tác chiến, phân tán, giam chân lực lượng địch, buộc địch phải đánh theo ý định của ta mà không được tự do hành động, nhằm mục đích "không cho phép chúng tiếp vận mặt trận Cao - Bắc - Lạng". Chỉ thị đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt mọi kế hoạch tác chiến của ta trong thu - đông 1950.


Đến cuối mùa hè năm 1950, lực lượng dự bị chiến lược trong tay bộ tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương có 10 đến 12 tiểu đoàn cơ động, trong đó vai trò ứng chiến nhanh chóng trên các chiến trường được ủy thác cho 7 tiểu đoàn dù. Lực lượng dự bị chiến lược đó phần lớn được tập trung ở Bắc Bộ, chỉ có 4 tiểu đoàn dù được bố trí ở Nam Bộ và Trung Trung Bộ. Tổng chỉ huy Pháp dự tính khi cần thiết có thể đỉều động 4 tiểu đoàn dù đó cùng với 2 đến 3 tiểu đoàn bộ binh từ miền Nam Đông Dương ra tăng viện cho chiến trường phía Bắc.


Nhằm thực hiện mục tiêu đánh lạc hướng quân địch, phân tán lực lượng dự bị chiến lược của địch để chúng không thể tiếp viện lớn cho mặt trận Cao - Bắc - Lạng, mưu kế của Bộ Tổng tư lệnh ta là: trước khi mở chiến dịch trên hướng chủ yếu ở mặt trận Đông Bắc, cần tiến hành một số cuộc tiến công và hoạt động nghi binh trẽn một số hướng khác ở chiến trường miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh hoạt động đánh địch của lực lượng vũ trang ta ở Trung Bộ và Nam Bộ. Bằng cách đó ta sẽ buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược, nhất là các tiểu đoàn dù, ra đối phó ở các hướng thứ yếu, không thể tập trung lực lượng tiếp viện cho mặt trận chính.


Đến giữa tháng 8 năm 1950, tình báo Pháp xác định lực lượng của đối phương có hai khối lớn bộ đội chủ lực chính quy: khối thứ nhất và là khối chủ yếu có 6 đến 7 trung đoàn bộ binh, trong đó có Sư đoàn 308 thiện chiến, đứng chân ở mặt trận Đông Bắc; khối thứ hai và là khối quan trọng, có 7 đến 8 trung đoàn bộ binh, trong đó có Sư đoàn 304 mới thành lặp, bố trí trên khu vực Chợ Bến - Thanh Hóa. Ngoài ra còn có một cụm thứ yếu gồm 2 trung đoàn bộ binh hoạt động ở mặt trận Tây Bắc. Lúc đầu địch phán đoán ta có ý định mở cuộc tiến công chủ yếu vào Cao Bằng. Bộ tổng chỉ huy Pháp tuy có lo ngại trước sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực ta, nhưng họ tin rằng ưu thế quân sự vẫn thuộc về quân đội Pháp.


Thực hiện kế hoạch do Rơ-ve - tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp - đề ra, bộ tổng chỉ huy địch ở Đông Dương đâ có ý định rút quân khỏi Cao Bằng để tránh thế phán tán lực lượng, đồng thời tập trung lực lượng mở cuộc tiến công đánh chiếm Thái Nguyên. Lạng Sơn và Thái Nguyên sẻ trở thành hai trụ cột chính trong trận tuyến phòng ngự chiến lược mới của quân Pháp. Nhưng kế hoạch của họ chưa kịp triển khai thực hiện thì các lực lượng vũ trang ta đã phát huy quyền chủ động tác chiến, tiến hành một loạt cuộc tiến công.


Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1950, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Pa-thét Lào đang tiến công thắng lợi dọc sông Mã trên đoạn Xiềng Khọ - Xốp Hào, hai tiểu đoàn của ta vây hãm địch ở Sầm Tợ và phát triển tiến công trong vùng. Liên quân Lào - Việt tạo nên một sức ép mạnh đối với toàn khu vực Sầm Nưa. Ngày 4 tháng 9, tổng chỉ huy quân Pháp phải cho thả một tiểu đoàn dù xuống Sầm Nưa.


Từ tháng 8 năm 1950, trên mặt trận Tây Bắc, ta tiến hành một chiến dịch nghi binh rầm rộ bằng cách: tăng cường trinh sát, địch vận ở khu vực Lao Cai; tổ chức diễn tập lớn ở Yên Bình Xã với các đơn vị mang mật hiệu của Sư đoàn 308; dùng hàng trăm thuyền bè và nhiều đoàn dân công vận chuyển lương thực, đạn dược lên hướng Lao Cai, v.v... Trước tình hình đó, bộ tổng chỉ huy Pháp lại phán đoán có thể cuộc tiến công chính của ta trong thu - đông đã chuyển sang hướng Lao Cai, Tây Bắc. Ngày 23 tháng 8, họ mở cuộc hành binh "cái kén" (chrysalide) cho nhiều tiểu đoàn thọc ra vùng tự do của ta ở Phú Thọ để thăm dò và phá kế hoạch tiến công thu - đông của ta. Nhưng bị bộ đội địa phương và dân quân đánh thiệt hại hàng trăm tên, đến ngày 3 tháng 9 quân địch phải vội vã rút lui.


Ngày 12 thảng 9 năm 1950, bốn ngày trước khi chiến dịch Biên Giới chính thức mở màn, một trung đoàn chủ lực của ta cùng với lực lượng vũ trang địa phương nổ súng tiến công vào Bắc Hà, một cứ điểm quan trọng của địch ở phía đông Lao Cai, khiến cho bộ tổng chỉ huy Pháp càng tin chắc rằng phán đoán của họ là đúng.


Đúng vào lúc địch bất ngờ nhất, sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta tiến công cứ điểm Đông Khê, đánh trận mở màn chiến dịch. Đánh Đông Khê là đánh vào nơi địch tương đối yếu nhưng lại là vị trí rất quan trọng trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê, địch buộc phải cho quân đi ứng cứu, tạo cho ta thời cơ thuận lợi tiêu diệt chúng trong tác chiến vận động.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #246 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:37:24 am »

Trước tình huống đó, bộ tổng chỉ huy quân Pháp quyết định tổ chức lực lượng ứng cứu cho Đông Khê, đồng thời rút quân khỏi Cao Bằng để tránh bị tiêu diệt. Ngay chiều ngày 16 tháng 9, trong khi một tiểu đoàn dù được lệnh chuẩn bị nhảy xuống Đông Khê thì tại Lạng Sơn, một binh đoàn tác chiến cũng được thành lập để tiến lên Thất Khê. Cả hai lực lượng này đều có nhiệm vụ ứng cứu cho Đông Khê và yểm trợ cho quân ở Cao Bằng rút về. Nhưng sáng ngày 18, địch chưa kịp hành động thì ta đã hoàn thành việc tiêu diệt cứ điểm Đông Khê. Bộ tổng chỉ huy Pháp đành phải ném tiểu đoàn dù xuống Thất Khê, như một thành phần của binh đoàn tác chiến mới thành lập. Binh đoàn này gồm 4 tiểu đoàn Âu - Phi do viên trung tá Lơ Pa-giơ chỉ huy có nhiệm vụ tiến lên Đông Khê để đón cụm quân ở Cao Bằng được lệnh rút về. Ngày 21 tháng 9 một tiểu đoàn bộ binh được không vận đến Cao Bằng để tăng thêm lực lượng cho cụm quân ở đây tổ chức rút lui.


Trong lúc này, ở mặt trận Tây Bắc, ta đánh tan địch ở bắc Hà, đuổi đánh chúng trên đường tháo chạy về Xi Ma Cai, đồng thời bao vây uy hiếp mạnh thị xã Lao Cai. Sợ Lao Cai bị tiêu diệt, địch vội vã điều từ Sài Gòn ra một tiểu đoàn dù đẽ ném xuống thị xã này.


Cũng vào dịp này, tại phía nam đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng vũ trang ta hoạt động mạnh hẳn lên, tiến công hàng loạt vị trí địch, đánh phá giao thông, diệt tề trừ gian. Bộ chỉ huy Pháp phải cấp tốc đưa đến Phát Diệm một tiểu đoàn dù để củng cố phòng ngự và ngăn chặn sự tan rã của khối ngụy binh ở khu vực này.


Ở Trung Trung Bộ, lực lượng vũ trang ta cũng hoại động mạnh và đều khắp. Tiểu đoàn dù, lực lượng cơ động độc nhất của địch tại chiến trường này, đã bị xé lẻ ra thành nhiều mảnh để ném vào Bình - Trị - Thiên, Liên khu V và cả vào rừng núi Tây Nguyên nữa. Nó đã bị tiêu hao nặng và không còn khả năng tập trung lại để tiếp ứng cho chiến trường chính.


Từ tháng 5 đến giữa tháng 9 nốm 1950, chiến trường Nam Bộ tương đối yên tĩnh. Đột nhiên, bước vào tuần lễ cuối của tháng 9, các lực lượng vũ trang ta chuyển sang tiến công và hoạt động rất mạnh, thu hút về phía mình các tiểu đoàn cơ động của địch trên chiến trường này. Trước sức uy hiếp mạnh của bộ đội chủ lực ta trên tuyến Bến Cát - Thủ Dầu Một, bộ chỉ huy quân Pháp buộc phải tung vào Dầu Tiếng một tiểu đoàn dù để bám giữ lấy vùng cao su quan trọng đó.


Hoạt động tiến công mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang ta trên khắp các chiến trường từ Nam đến Bắc đã phân tán, căng kéo địch đến cực độ và đặt bộ tổng chỉ huy Pháp trước một tình thế gay cấn. Trong tay họ chỉ còn một tiểu đoàn dù ở Sài Gòn và 2 tiểu đoàn bộ binh ở bắc Bộ. Mà tình hình lúc này ở Lao Cai, Sầm Nưa, Phát Diệm, Thừa Thiên, Dầu Tiếng không cho phép rút về bất cứ một tiểu đoàn dự bị cơ động nào.


Tuy đã phải vứt bỏ ảo tưởng đánh chiếm Thái Nguyên để xây đựng thế trận phòng ngự chiến lược mới, nhưng trước tình hình nguy ngập ở biên giới Đông Bắc, tổng chỉ huy quân Pháp cũng phải cố vét lực lượng dự bị còn lại tổ chức một cuộc tiến công lên thị xã Thái Nguyên, với hy vọng kéo chủ lực ta về giao chiến ở đây để đỡ đòn cho biên giới, lực lượng này gồm 1 tiểu đoàn dù điều động từ Sài Gòn ra, 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lực lượng tổng dự bị và 2 tiểu đoàn bộ binh khác rút từ tay bộ chỉ huy Pháp tại chiến trường Bắc Bộ. Ngày 29 tháng 9, các đơn vị bộ binh theo đường bộ và đường sông tiến lên Thái Nguyên. Ngày 1 tháng 10, tiểu đoàn dù cũng được thả xuống thị xã này. Cùng ngày, trên mặt trận Đông Bắc, binh đoàn Lơ Pa-giơ từ Thất Khê tiến đến phía nam Đông Khê thì bị chặn đứng. Ngày 3 tháng 10, binh đoàn Sác-tông cũng vội vã rút khỏi Cao Bằng.


Đây là thời điểm hết sức quan trọng của cuộc chiến. Sau chiến thắng Đóng Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: có thể địch sẽ cố chiếm lại Đông Khê để giữ vững Cao Bằng, hoặc phải đánh lên để đón quân ở Cao Bằng rút về. Người vạch ra mưu kế tác chiến của ta là "nhử thú dữ vào tròng" để "khép vòng lưới thép" tiêu diệt chúng.


Đúng vào lúc bộ tổng chỉ huy Pháp sử dụng hết lực lượng dự bị chiến lược của họ thì Bộ Tổng tư lệnh của ta quyết định tập trung lực lượng chủ lực ở mặt trận Đông Bắc tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông tại khu vực Đông Khê. Cụm quân địch ở Thái Nguyên thì giao cho các lực lượng vũ trang tại chỗ bám đánh, tiêu hao và giam chân chúng tại đấy.


Cho đến lúc đó, các tướng tá Pháp dựa theo "kinh nghiệm" của họ và với căn bệnh cố hữu "chủ quan, khinh địch", vẫn tin rằng tập đoàn chủ lực của đối phương chưa có khả năng tiến hành tác chiến chính quy trên quy mô lớn, và nếu đối phương có "liều lĩnh" đụng độ với quân viễn chinh Pháp trong một cuộc chiến tranh vận động chính quy thì 8 tiểu đoàn "thiện chiến" của Pháp ở khu vực biên giới sẽ thừa sức đánh bại từ 15 đến 18 tiểu đoàn chủ lực của Việt Nam. Trên phạm vi chiến lược tổng chỉ huy quân Pháp cho rằng mình đã phân phối đúng đắn lực lượng và phương tiện cho các viên chỉ huy chiến trường để họ đủ sức đối phó với các hành động của đối phương. Tuy vậy, để được yên tâm hơn, sau khi suy tính, cân nhắc kỹ, ông ta quyết định rút tiểu đoàn dù từ Sầm Nưa về Hà Nội. Tiểu đoàn này đã bị kiệt sức sau một tháng bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào - Việt bám đánh liên tục.


Tình huống đã diễn ra đúng như mưu kế tác chiến của ta. Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950, tại dãy núi Cốc Xá và điểm cao 477 trong khu vực Đông Khê, các đơn vị chú lực của ta đã giáng đòn quyết định, vận động tiến công tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông gồm 8 tiểu đoàn, trong đó có 5 tiểu đoàn cơ động thiện chiến vào bậc nhất của địch, với toàn bộ ban tham mưu của chúng.


Chiều ngày 8 tháng 10 năm 1950, trước sự kêu cửu của quan quân địch tại các vị trí còn lại trên biên giới Đông Bắc, tổng chỉ huy quân Pháp đành ném nốt xuống Thất Khê tiểu đoàn dù cuối cùng vừa điều từ Sầm Nưa về và mới chi được nghỉ ngơi có vài ngày chưa kịp lại sức. Song trước thế tiến công và sức ép mạnh của quân ta, từ ngày 10 đèn ngày 23 tháng 10, quân địch lần lượt rút chạy khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn đến Đình Lập, An Châu về sát Tiên Yên.


Ở mặt trận Thái Nguyên, quân địch bị đánh thiệt hại nặng, ngày 10 tháng 10 phải tháo chạy khỏi thị xã. Trên mặt trận Tây Bắc, trước sức tiến công của ta, ngày 2 tháng 11 địch buộc phải rút khỏi Lao Cai, sau đó liên tiếp bị đánh bật khỏi Sa Pa, Phong Thổ. Ngày 6 tháng 11 chúng cũng buộc phải rút khỏi thị xã Hòa Bình.


Cuộc tiến công chiến lược thu - đông 1950 của ta, trong đó có chiến dịch Biên Giới, đã giành được thắng lợi hết sức to lớn. Thắng lợi đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, là do: "Trung ương lãnh đạo sáng suốt. Các cấp địa phương chỉ đạo đúng đắn. Các cơ quan quân, dân, chính đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, hành động nhất trí"; "Chiến sĩ ta rất hăng hái, anh dũng..."; "Nhân dân ta rất tốt... nồng nàn yêu nước, hãng hái hy sinh"; "Giặc chủ quan, khinh địch, không ngờ ta mạnh như vậy và tiến bộ nhanh như vậy, nên chúng hớ hênh không để phòng cẩn thận"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 443).


Bộ tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã bị hoàn toàn bất ngờ về ý đồ chiến lược của ta, về quy mô rộng lớn của cuộc tiến công, về sức mạnh và khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta trên chiến trường chính. Đặc biệt, họ đã hoàn toàn bất ngờ trước diễn biến mau lẹ của trận vận động tiến công của ta, chỉ trong 4 ngày, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950, đã tiêu diệt gọn hai binh đoàn Âu - Phi thiện chiến, đẩy họ đến thảm bại không lường trước được. Nắm trong tay những lực lượng lớn, được trang bị vũ khí tốt hơn hẳn đối phương, có khả năng cơ động cao, nhưng bộ tổng chỉ huy Pháp đành đóng vai những "khán giả" bất lực, tận mắt chứng kiến các binh đoàn thiện chiến nhất của mình bị diệt vong mà không có cách gì để cứu vãn.


Thực ra họ còn có thể làm gì được nữa, khi ngay từ đầu đã mắc phải mưu kế của đối phương, đã hành động theo sự điều khiển của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, lần lượt tung hết các đơn vị dự bị chiến lược ra khắp các chiến trường Đông Dương, trước khi diễn ra những tình huống quyết định trên chiến trường chính. Khi đã tung đi rồi, họ lại không thể thu về khi cần thiết, vì các lực lượng đó đã bị đối phương giam chân, tiêu hao tiêu diệt từng phần. Kê sách cuối cùng của họ là ném 5 tiểu đoàn còn lại lên Thái Nguyên hòng co kéo chủ lực của đối phương, đỡ đòn cho biên giới, cũng chỉ là cố gắng tuyệt vọng đã nhanh chóng tiêu tan trước một thế trận chiến tranh nhân dân vô cùng hiểm hóc.


Thất bại của địch trong thu - đông 1950 là do bộ tổng chỉ huy quân Pháp đã liên tiếp phạm những sai lầm. Những sai lầm ấy không phải họ ngẫu nhiên mắc phải mà là những sai lầm tất yếu của nền nghệ thuật quân sự tư sản lỗi thời trong một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, phải đương đầu với nền nghệ thuật quân sự vô sản tiên tiến và ưu việt của một dân tộc bất khuất, kiên cường và dày dạn kinh nghiệm chống xâm lược, vấp phải một thế trận chiến tranh nhân dân vô địch. Những sai lầm và thất bại ấy, đế quốc Mỹ sau này vẫn tiếp tục phải hứng chịu, mặc dù chúng giàu hơn, mạnh hơn rất nhiều và đã dày công rút tỉa những bài học từ thất bại của thực dân Pháp và nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược khác trên thế giới. Và bất cứ kẻ xâm lược nào khác dù hung hăng và xảo quyệt đến đâu cũng sẽ phải lặp lại những sai lầm và thất bại ấy, nếu chúng liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #247 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:39:40 am »

VI. MƯU KẾ VÀ THẾ TRẬN TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
(Bài viết nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 chiến thắng Điện Biên Phủ. Đảng trên Tạp chí Cộng sản, số thống 5 năm 1984. Có sửa chữa, bổ sung)


Ba mươi năm đã qua nhưng bài học thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nóng hổi trong trái tim chúng ta và mang tính thời đại sâu sắc. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã nói: "Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công"1 (Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vi chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H.1970, tr. 253). Điện Biên Phủ còn là tiếng sét kinh hoàng giáng vào mọi mưu toan gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác hòng thôn tính nước ta.


Ngày nay, nhìn lại chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng ta, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, đồng thời kế thừa những tinh hoa về tài thao lược, ý chí quật cường của dân tộc trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.


Để tìm hiểu thêm sự đúng đắn, tài giỏi trong việc chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng dẫn tới chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, không thể không kể đến nghệ thuật mưu kế và thế trận đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo. Mưu kế và thế trận là những yếu tố rất quan trọng của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chỉ huy nói riêng.


Cuối năm 1953 - đầu năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch có những chuyển biến quan trọng có lợi cho ta. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của chúng ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Để đánh bại chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp gây ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với sức mạnh tổng hợp của khôi đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông. Toàn dân ta đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước"1 (Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tập 1, tr. 222). Khắp nơi đều xây dựng lực lượng kháng chiến, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một trận địa đánh giặc kiên cường. Trên cơ sở đó, thế trận chiến tranh nhân dân đã được xây dựng và phát triển ngày càng vững mạnh và rộng khắp trên cả nước.


Các lực lượng vũ trang ta, từ chỗ lúc đầu mới là những đơn vị nhỏ bé, trang bị thô sơ, sau tám năm kháng chiến đã trưởng thành nhanh chóng, với ba thứ quân ngày càng lớn mạnh. Các đại đoàn chủ lực đã ra đời và được tôi luyện, thử thách trong chiến tranh. Sự phối hợp giữa ba thứ quân cùng với phong trào toàn dân đánh giặc ngày càng chặt chẽ. Với những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta, từ chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947, chiến dịch Biên Giới thu - đông 1950, các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (Hà - Nam - Ninh) năm 1951, chiến dịch Hòa Bình đông - xuân 1951-1952 đến các chiến dịch Tây Bắc thu - đông 1952, Thượng Lào xuân 1953, với thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ trên cả ba nước Đông Dương, thế chủ động trên chiến trường đã thuộc về ta.


Trong khi đó thực dân Pháp ngày càng sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Quân đội viễn chinh Pháp và quân đội tay sai phải chịu nhiều tổn thất nặng nề, khu vực chiếm đóng của chúng ngày càng bị thu hẹp, quân lính mệt mỏi, tinh thần ngày càng sa sút. Mâu thuẫn thuộc về bản chất của một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ngày càng bộc lộ. Đứng trước cuộc chiến tranh "bẩn thỉu" kéo dài và hao người tốn của đó, nước Pháp ngày càng lâm vào tình thế khủng hoảng trầm trọng.


Hình thái chiến trường Đông Xuân 1953-1954 đã có những thay đổi lớn. Vùng tự do và căn cứ du kích của ta đã trải rộng từ biên giới Lạng Sơn - Cao Bằng - Hà Giang - Lao Cai, bao gồm hầu hết miền Tây Bắc (chỉ trừ Nà Sản và Lai Châu) tới vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, từ nam phần Trung Bộ tới bắc Tây Nguyên. Nhiều căn cứ địa cách mạng xen kẽ với địch từ cực nam Trung Bộ tới miền tây Nam Bộ. Những làng và cụm làng kháng chiến mọc lên chi chít ngay ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với tình trạng đó, bộ tham mưu quân Pháp đã phải gọi tấm bản đồ thể hiện hình thái chiến trường đồng bằng Bắc Bộ là bản đồ "lên sởi".


Đánh giá tình hình quân sự lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định:

"BÊN ĐỊCH: ... Lực lượng địch bị tiêu hao nhiều (tính đến tháng 11 năm 1953, độ 32 vạn). Quân số Âu Phi ngày càng thiếu. Trên chiến trường chính, địch càng bị động. Mới đây, địch cố thọc ra vùng tự do ở Liên khu 3 và một vài nơi ở bờ biển Liên khu 4, nhưng thế của địch căn bản vẫn là bị động.

"Tuy vậy, hiện nay lực lượng địch vẫn còn mạnh. Ta không được khinh địch...

"BÊN TA: ... Từ thu - đông năm 1950, ta đã thắng to trong bảy chiến dịch và đã nắm được chủ động trên chiến trường chính. Ta đã giải phóng phần lớn vùng Tây Bắc to rộng. Phong trào du kích lên mạnh khắp các nơi.

"Những đợt chỉnh quân về chính trị và kỹ thuật có kết quả tốt. Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về số lượng và chất lượng"1 (Hồ Chí Minh, Vì độc lập lự do, vì chủ nghĩa xã hội, tr. 145-147).


Lúc này, thực dân Pháp với sự tăng cường can thiệp của đế quốc Mỹ bằng viện trợ quân sự ngày càng tảng, âm mưu tiếp tục kéo dài và mở rộng chiến tranh, tìm cách giành lại thế chủ động trên chiến trường hòng chuyển bại thành thắng và chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh. Cử Na-va sang thay Xa-lăng làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, chính phủ La-ni-en hy vọng có thể xoay chuyển lại cục diện của chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #248 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:40:16 am »

Hòng thoát khỏi thế phòng ngự bị động và thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, Na-va đề ra một kế hoạch chiến lược mang đầy tham vọng: xây dựng lực lượng cơ động chiến lược lớn hơn lực lượng cơ động chiến lược của đối phương để chuyển sang tiến công làm chuyển biến tình thế; đẩy mạnh xây dựng quân ngụy để đảm nhiệm việc chiếm đóng các địa phương, tạo điều kiện tập trung quân Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động chiến lược. Na-va dự định chỉ trong vòng 18 tháng sẽ giành lại thế chủ động chiến lược.


Na-va phán đoán có ba hướng chiến lược có thể bị ta uy hiếp là: đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc Việt Nam - Thượng Lào và miền Nam Đông Dương, ông ta nhận định: đồng bằng Bắc Bộ là một địa bàn xung yếu có thể là hướng tiến công chính của chủ lực đối phương. Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào là vùng rừng núi mà phòng ngự của Pháp có nhiều sơ hở, nhưng đối phương không thể mở những cuộc tiến công quy mô lớn và dài ngày do địa hình hiểm trở và khó khăn trong việc giải quyết hậu cần, kỹ thuật. Miền Nam Đông Dương là khu vực mà lực lượng chủ lực của đối phương chưa có nhiều, nhưng lực lượng của Pháp cũng yếu hơn so với ở đồng bằng Bắc Bộ, lại bố trí phân tán. Ở đây có vùng Tây Nguyên xung yếu nối liền với Hạ Lào và chiến trường Nam Bộ; nếu chủ lực đối phương mở cuộc tiến công lớn ở vùng này thì có khả năng gây ra đảo lộn lớn trong thế trận của hai bên. Từ những nhận định đó, Na-va vạch ra kế hoạch tác chiến gồm hai bước. Bước một: trong Đông Xuân 1953-1954, tránh giao chiến toàn bộ với các đơn vị chủ lực cơ động của đối phương; ở phía bạc vĩ tuyến 18, giữ thế phòng ngự chiến lược; ở phía nam vĩ tuyến 18, thực hành tiến công nhằm chiếm đóng tất cả các vùng tự do của đối phương, nhất là Liên khu 5 và vùng Hậu Giang, Nam Bộ. Bước hai: sang Đông Xuân 1954-1955, khi lực lượng cơ động chiến lược của Pháp đã được xây dựng đủ mạnh thì tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực đối phương trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.


Theo phương hướng đó, mùa thu 1953 thực dân Pháp tăng viện ngay cho quân viễn chinh 12 tiểu đoàn lấy từ Pháp, Bắc Phi và rút từ Triều Tiên về. Na-va quyết định rút quân khỏi Nà Sản (Tây Bắc) và cố sức tập trung được 84 tiểu đoàn cơ động; riêng ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn, chiếm hơn 50 phần trăm lực lượng cơ động của Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương. Theo lệnh quan thầy, ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại ra "dụ" tổng động viên, bắt hàng chục vạn thanh niên vào lính để mở rộng quân ngụy.


Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Ban Châp hành Trung ương Đảng ta họp bàn về chủ trương tác chiến Đông Xuán 1953-1954. Hội nghị đã khẳng định sự đúng đắn của phương hướng chiến lược mà Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đã vạch ra và xác định chủ trương tác chiến trong Đóng Xuân 1953-1954 là: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Bộ Chính trị nhận định: lúc này địch tập trung cao độ quân chủ lực để tác chiến với ta ở đồng bằng; chiến trường đồng bằng có nhiều thuận lợi cho địch, đánh lớn vào đồng bằng chỉ có thể thu được nhưng thắng lợi có hạn, không thay đổi được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thê bị tiêu hao. Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên hướng đó, mặc dù có khó khăn rất lớn về tiếp tế nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực dịch. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở các chiến trường sau lưng địch để tiêu hao và giam chân địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.


Phương hướng chiến lược và chủ trương tác chiến mà Đảng đề ra trong Đông Xuân 1953-1954 là sự thể hiện của mưu kế chiến lược: căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt, giữ vững quyền chủ động đánh địch trên cả hai mặt trận trước mặt và sau lưng địch, phối hợp các chiến trường trên phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn chiến trường Đông Dương, tạo thời cơ để tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch trên chiến trường ta lựa chọn vào thời gian thích hợp.


Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Nắm vững phương hướng chiến lược của Đảng, quán triệt một nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự là "mưu trí, linh hoạt, bí mật, bất ngờ", chúng ta đã thực hiện thành công nhiều biện pháp nghi binh lừa địch như: chuẩn bị hành quân, tác chiến; di chuyển bộ đội; tung tin giả... để đánh lạc hướng địch. Kết quả là đã làm cho địch phán đoán lầm ý định của ta. Trong khi bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp còn đang thăm dò, mò mẫm xem đại bộ phận quân chủ lực ta đang tập trung và triển khai tác chiến về hướng nào, thì Na-va nhận được tin tình báo cho rằng ta đang chuẩn bị tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ với lực lượng của các sư đoàn 320, 308, 312, 304 và có thể cả một bộ phận của Sư đoàn 316. Thế là Na-va quyết định hành động trước. Ông ta ra lệnh cho các cấp dưới "phải ra tay trước, phải hành động sớm hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận. Khẩu hiệu là giành quyền chủ động..."1 (Hăng-ri Na-va, Đòng Dương hấp hối, Nxb Plông, Pa-ri, 1958). Hè - thu năm 1953, quân Pháp đã mở hàng chục trận càn quét trong vùng chúng tạm chiếm ở Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Bộ; mở cuộc tiến công lớn mang tên "chiến dịch Hải âu" đánh ra tây - nam Ninh Bình và địa đầu Thanh Hóa. Nhưng chúng đã không giành được một thắng lợi nào đáng kể, lại còn bị các lực lượng vũ trang địa phương và một bộ phận chủ lực của ta tiêu hao, tiêu diệt một phần không nhỏ.


Tháng 11 năm 1953, Na-va nhận được tin tình báo cho biết: một bộ phận chủ lực của ta đang hành quân lên hướng Lai Châu; quân tình nguyện Việt Nam và quân đội Pa-thét Lào đang chuẩn bị tiến công ở Trung Lào; bộ đội chủ lực của ta ở Liên khu 5 ráo riết chuẩn bị tiến vào Tây Nguyên... Na-va đã thấy rõ hướng tiến công chủ yếu của ta không phải là đồng bằng Bắc Bộ như ông ta đã phán đoán, nên phải bị động thay đổi kế hoạch. Từ giữa tháng 11, Na-va vội vã cho 6 tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ, đồng thời trước sức uy hiếp của ta, ông ta quyết định rút quân chiếm đóng khỏi Lai Châu, vừa để tránh bị tiêu diệt vừa có thêm lực lượng tăng cường cho Điện Biên Phủ. Na-va cũng điều động binh đoàn cơ động số 2 và 2 tiểu đoàn độc lập tảng cường cho hướng Trung Lào. Như vậy ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng, điều một bộ phận quân chủ lực của chúng lên Tây Bắc và Trung Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #249 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:41:09 am »

Kế hay nhất là kế điều địch và quan trọng nhất là điều lực lượng cơ động chiến lược của địch. Đó là nghệ thuật rất cao trong nghệ thuật chỉ huy nhằm thực hiện phương hướng chiến lược của ta: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, phân tán lực lượng địch để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do của ta. Dùng mưu kế để lừa địch, điều địch, phân tán lực lượng địch rồi bất ngờ nhằm vào nơi sơ hở, hiếm yếu của địch để đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đó là nét nối bật của nghệ thuật mưu kế và thế trận trong Đông Xuân 1953-1954. Thực hiện phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" mà Bộ Chính trị đã đề ra, chúng ta đã điều động được địch theo ý định của ta, căng địch ra mà đánh, buộc chúng phải phân tán lực lượng, đối phó lúng túng, còn ta thì nắm chắc khối chủ lực để tùy theo tình hình diễn biến trên chiến trường mà xử trí một cách hết sức chủ động, linh hoạt.


Để tiếp tục đánh lạc hướng phán đoán của địch và phân tán khối chủ lực cơ động của chúng ra các chiến trường khác, tạo điều kiện cho việc tập trung lực lượng và chuẩn bị tiến công của ta ở Điện Biên Phủ, cuối tháng 12 năm 1953, ta tiến công dịch ở Trung Lào, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở chiến trường này, rồi thừa thắng phát triển tiến công xuống Hạ Lào. Cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1954, ta tiến công quét sạch địch ở bắc Tây Nguyên, giải phóng thị xã Kon Tum. Cuối tháng 1 năm 1954, quân đội ta cùng với bộ đội Pa-thét Lào mở đợt tiến công ở Thượng Lào, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu mà địch mới xây dựng để nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Ta thừa thắng phát triển lên phía bắc giải phóng Phông-xa-lỳ, nối liền khu giải phóng của cách mạng Lào với Tây Bắc Việt Nam. Địch buộc phải điều ngay lực lượng cơ động tăng cường cho Luông Pha-băng hòng giữ cho thế trận của chúng ở Thượng Lào khỏi sụp đổ.


Ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội chủ lực của các quân khu cũng đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, đánh trả mãnh liệt các cuộc càn quét của địch, với phương châm đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao sinh lực địch, mở rộng căn cứ du kích của ta, thu hút và giam chân chủ lục địch để phối hợp với chiến trường chính.


Như vậy, đến tháng 2 năm 1954, hình thái trên toàn chiến trường đã có những chuyển biến quan trọng. Vùng giải phóng của ta mở rộng hơn, vùng địch tạm chiếm bị thu hẹp nhiều trong thế cài xen giữa địch và ta, ta đứng chân ở những vị trí khá then chốt và thuận lợi cho việc tiến công địch. Nó phản ánh thế trận của ta đã phát triển vững chắc trên tất cả các địa bàn chiến lược. Kế hoạch Na-va đã bắt đầu bị phá sản. Số quân cơ động với 44 tiểu đoàn mà Na-va cố gắng tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ nay chỉ còn 20 tiểu đoàn. Mâu thuẫn cố hữu giữa giữ đất và cơ động, giữa phân tán và tập trung của mọi quân đội xâm lược ngày càng bộc lộ sâu sắc. Sự rệu rã, mệt mởi, mất tinh thần của đội quân đánh thuê và tay sai là mầm mống thất bại không thể tránh khỏi của địch.


Với phương pháp suy nghĩ chủ quan, siêu hình, đánh giá thấp đối phương của học thuyết quân sự tư sản phản động, Na-va liên tiếp mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Trong khi lực lượng cơ động chiến lược của ông ta đang bị ta căng ra khắp Đông Dương, đang lâm vào thế bị động đối phó thì Na-va vẫn mơ tưởng tới một cuộc tiến công chiến lược. Na-va quyết tâm tập trung quân cơ động ở năm địa điểm lớn là: Điện Biên Phủ, đồng bằng Bắc Bộ, Luông Pha-băng, Xê-nô và Tây Nguyên. Na-va quyết định chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Ông ta chủ trương tăng thêm lực lượng để biến Điện Biên Phủ thành một "con nhím" khổng lồ, một cái bẫy để thu hút rồi nghiền nát chủ lực của ta.


Tương kế tựu kế để đánh địch là một kinh nghiệm hay của ông cha ta. Sách Binh thư yếu lược nói: "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó;... lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"1 (Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 183). Địch chọn Điện Biên Phủ làm nơi thu hút lực lượng ta hòng đánh quỵ chủ lực ta, rồi phát triển tiến công đánh chiếm các vùng chiến lược của ta trên toàn chiến trường Đông Dương, về phía ta thì tuy có khó khăn về vận chuyển tiếp tế song tác chiến ở vùng rừng núi này căn bản có lợi cho ta, phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta. Cách đối phó bị động của địch đã trúng kế của ta: chúng đã bị điều đến nơi ta có khả năng và thế lợi để tiêu diệt chúng; ở đó ta có hậu phương rộng lớn, địch thì bị cô lập.


Sự phát triển lô-gích của hình thái trên toàn chiến trường đã dẫn tới chỗ Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, các lực lượng chủ lực cơ động của ta tiếp tục được lệnh hành quân áp sát và bao vây quân địch ở thung lũng Điện Biên Phủ và gấp rút tiến hành mọi công tác chuẩn bị tiến công. Nhân dân ta ở vùng tự do, vùng mới giải phóng và vùng sau lưng địch đã dồn sức người sức của cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị chiến trường, nhất là việc làm đường và vận chuyển tiếp tế, bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, đã được thực hiện với những cố gắng cao nhất.


Đắc chí với những tính toán chiến lược của mình, Na-va ra sức củng cố Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố vào bậc nhất Đông Dương, một "pháo đài bất khả xâm phạm". Các quan chức và tướng lĩnh cao cấp của cả Pháp lẫn Mỹ đều hết sức tán dương chủ trương quyết chiến của Na-va và huênh hoang: cái "tập đoàn cứ điểm đáng sợ" này sẽ là "một Véc-đoong1 (Véc-đoong (Verdun), một tỉnh của nước Pháp. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), quân Pháp đã phòng ngự và đánh tan quân Đức ở đây) thứ hai ở Viễn Đông".


Với nhận định chủ quan cho rằng đối phương khó có đủ sức tiến công vào Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va cho quân đổ bộ vào Tuy Hòa, mở đầu chiến dịch Át-lăng, một bộ phận chủ yếu trong kế hoạch chiến lược của ông ta. Quân và dân Liên khu 5, quán triệt phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng chỉ để lại một bộ phận nhỏ đối phó với địch, còn đại bộ phận vẫn tiến công lên Tây Nguyên là hướng quan trọng mà địch tương đối sơ hở. Để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân ta đánh mạnh ở khắp các chiến trường khác. Na-va tiếp tục dấn sâu vào thế bị động. Sau khi buộc phải phân tán lực lượng lần thứ hai ở Trung Lào, ông ta lại phải bị động phân tán lực lượng cơ động lần thứ ba ở Hạ Lào, lần thứ tư ở Tây Nguyên và lần thứ năm ở Thượng Lào. Ở đồng bằng ta cũng đánh mạnh, giam chân địch ở khắp nơi. Nhưng khi thấy cuộc tiến công của ta trên chiến trường Thượng Lào dừng lại ở Mường Sài và Luông Pha-băng, Na-va vội cho là "sức tiến công của đối phương đã đạt đến điểm cao nhất", liền tiếp tục đợt hai của chiến dịch Át-lăng, cho quân đổ bộ vào Quy Nhơn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM