Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Tư, 2024, 12:35:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 10021 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #180 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:05:43 am »

4. Trong lịch sử phong kiến của dân tộc ta thì nông dân là những người luôn luôn nêu cao tinh thần yêu nước, tự lập tự cường, kiên cường bất khuất

Từ ngày xưa, nông dân lao động là lực lượng chủ yếu xây dựng nên đất nước, đồng thời cũng là những người bị áp bức bóc lột nhiều nhất. Một mặt họ yêu quý tất cả những gì họ đã làm nên, mặt khác họ hiểu rằng nếu nước mất thì nhà tan, nếu bị quân thù đến thống trị thì một cổ đôi tròng, họ là những người bị áp bức, bóc lột cùng cực nhất. Cho nên họ coi sự nghiệp bảo vệ đất nước là sự nghiệp của chính mình, chứ không phải là sự nghiệp riêng của giai cấp quý tộc, của những nhà cầm quyến phong kiến. Họ đánh giặc là để bảo vệ sự sống còn của cả dân tộc - trong đó có sự sống còn của chính bản thân, để bảo vệ những thành quả lao động mà họ đã cần cù vất vả làm nên.


Anh hùng, bất khuất trong lao động sản xuất, nông dân ta cũng rất anh hùng, bất khuất trong đấu tranh giai cấp và trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Họ đã từng đấu tranh chống bọn phong kiến áp bức bóc lột, đã từng lật đổ các triều đại thối nát. Và trước giậc ngoại xâm, họ đã nêu cao tinh thần bất khuất kiên cường xả thân vì nước (tự đốt nhà cửa, đồng ruộng, hy sinh cả tính mệnh...) chịu đựng mọi hy sinh lớn lao nhất để đánh bại kẻ thù. Họ không những chỉ giúp đỡ, phục vụ quân đội đánh giặc mà còn tự tay cầm vũ khí đánh giặc với trăm phương nghìn kế của mình.


"... Đặc biệt là nông dân ta trước đây đã từng nêu cao tinh thần quật khởi trong các cuộc khởi nghĩa lật đổ các triều đại phong kiến trong nước cùng như trong kháng chiến giữ nước chống lại nạn ngoại xâm"1 (Võ Nguyên Giáp - Nắm vững đường lối quân sự của Đảng, tiến lên giành những thắng lợi mới. (Từ sau sẽ gọi tắt là đường lối quân sự của Đảng)).


Nhưng trước đây, nông dân chưa có ý thức đầy đủ về đấu tranh giai cấp nên trong khi đứng lên đánh đổ phong kiến họ cũng chưa hiểu là phải xóa bỏ chế độ phong kiến, họ lật đổ triều đại phong kiến này rồi lại thay thế bằng một triều đại phong kiến khác. Và tinh thần dân tộc của nông dân không phải lúc nào cũng được phát huy đầy đủ, cũng có lúc nó bị lu mờ. Chỉ đến ngày nay, có chủ nghĩa Mác - Lênin, có giai cấp công nhân, có Đảng lãnh đạo, giai cấp nông dần mới có thể phát huy được đầy đủ tinh thần và sức mạnh to lớn của mình trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc.


5. Dân tộc anh hùng và anh hùng dân tộc

Những trang sử vô cùng vẻ vang của ta đã nói lên: dân tộc ta rất anh hùng, nhân dân ta rất anh hùng. Không có một nhân dân anh hùng, uy vũ không thể khuất phục, khó khăn không làm nản chí, dám hy sinh tất cả tính mệnh, tài sản... để chống giặc, thì không sao có thể tạo nên được một sức mạnh vô địch để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh, không sao có được những chiến công hết sức oanh liệt, những sự tích thần kỳ.


Không có một nhân dân anh hùng như thế thì không sao có được những anh hùng kiệt xuất mà đến nay sử sách vẫn lưu danh.

Hai Bà Trưng, Bà Triệu phá bỏ những ràng buộc của lễ giáo đứng ra cầm quân đánh giặc, cứu nước đã tiêu biểu cho truyền thống của phụ nữ nước ta là "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh".

Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, trước sức mạnh như vũ bão của quần Nguyên, đã không hề khiếp nhược, luôn luôn nêu cao quyết tâm kháng chiến. Trần Bình Trọng thà chết không hàng giặc. Lê Lợi, Nguyễn Trãi linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trải qua bao khó khăn nguy hiểm, anh dũng chiến đấu, đưa cuộc chiến tranh giải phóng tới hoàn toàn thắng lợi. Nguyễn Huệ, người anh hùng nông dân áo vải, đã đánh đổ bọn cầm quyền phong kiến trong nước, đánh bại cuộc xâm lược của nhà Thanh, dựng nên những võ công vô cùng hiển hách, v.v... Ngoài ra còn biết bao những anh hùng khác tiêu biểu một cách rực rỡ cho chí khí anh hùng bất khuất của cả dân tộc ta.


Chúng ta hiểu rõ: quyết định vận mệnh dân tộc, làm nên lịch sử phải là cả một nhân dân anh hùng, một tập thể anh hùng, một dân tộc anh hùng. Đồng thời cũng phải ghi nhớ công lao của các anh hùng dân tộc. Họ trở thành anh hùng vì họ hy sinh phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì có dân ủng hộ, vì biết dựa vào dân và chính có nhân dân anh hùng họ mới làm nên được những sự nghiệp anh hùng.


Yêu nước nồng nàn, tự lực tự cường, kiên cường bất khuất là một truyền thống lâu đời hêt sức tốt đẹp và quý báu của dân tộc ta.

Đứng lên cầm vũ khí kiên quyết đánh đến cùng, chống mọi kẻ thù là con đường sống còn duy nhất và đúng đắn của dân tộc ta.

Chúng ta vô cùng tự hào và rất trân trọng truyền thống đó, kinh nghiệm đó.

Ngày nay, có chủ nghĩa Mác - Lênin, có Đảng lãnh đạo, biết kết hợp chặt chẽ quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản chân chính, quán triệt quan điểm cách mạng bạo lực, có tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp vô sản, chúng ta lại càng có điều kiện phát huy tới trình độ cao truyền thống yêu nước nồng nàn, tự lực tự cường, kiên cường bất khuất. Chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Để chống bạo lực phản cách mạng thì không có con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để đánh bại kẻ thù dân tộc và giai cấp, giành lấy những quyến lợi sống còn cho nhân dân.


Từ thuở xưa, tổ tiên ta đã biết đấu tranh kiên quyết chống kẻ thù thì ngày nay có chủ nghĩa Mác - Lênin, có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta nhất định lại càng vững chắc hơn, càng kiên quyết đánh đến cùng, quyết tâm đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, quyết không có một chút ảo tưởng nào đối với chúng được.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #181 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:07:54 am »

II. TINH THẦN ĐOÀN KẾT

Tại đại hội Thanh niên Quyết thắng toàn quân lần thứ nhất, đồng chí Lê Duẩn nói:

"Trong lịch sử nước ta, dân tộc ta phải luôn luôn đương đầu với giặc ngoại xâm, lực lượng quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc bao giờ cũng là khối đoàn kết chặt chẽ của cả dân tộc mà nông dân là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất".


Ở nước ta, đoàn kết dân tộc, từ ngàn xưa đã trở thành một nhu cầu khách quan, một lẽ sống thiêng liêng của dân tộc.

Những câu: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng", "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao"... lưu truyền từ trước đến nay, đã phần nào nói lên tinh thần đoàn kết, sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc.


Nhận rõ điều đó, với mức độ khác nhau, tùy theo đặc điểm cụ thể của từng triều đại, tổ tiên ta đã biết tìm sức mạnh trong việc thắt chặt đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong nội bộ quân đội và nội bộ triều đình, đoàn kết giữa quân và dân, đoàn kết giữa các dân tộc ốùng sống trên một đất nước.


1. Đoàn kết với dân

a) Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng những nhà lãnh đạo thời xưa, do thực tiễn của lịch sử, đã ít nhiều nhận thức được sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân.

Trần Quốc Tuấn đã thấy được ý chí của dân chúng mới là thành trì kiên cố nhất để giữ nước (chúng chí thành thảnh).

Nguyễn Trãi, gần gũi với nhân dân hơn, đã hiểu: "Thường nghĩ những quy mô lớn lao lộng lẫy đều là do sức lao khổ của nhân dân" và "mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân".

Nhận thức được như thế, họ đã tìm ra con đường đúng đắn là phải dựa vào toàn dân, dựa vào sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc thì mới có lực lượng để chiến thắng quân thù lớn mạnh, hung bạo.

Đi ngược lại con đường đó là thất bại. Cuộc kháng chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo là một dẫn chứng rất điển hình. Đúng như lời của Nguyễn Trãi, trong bài thơ "Đóng cửa bể" (Quan hải), đã phê phán rất sâu sắc những sai lầm của Hồ Quý Ly, chỉ biết dựa vào xích sắt, cọc gỗ, khóa cửa biển, mà không biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, chỉ biết cậy nơi hiểm yếu, thành cao, lũy dày, quân đông, binh khí tinh xảo... mà không biết chú trọng tới lòng người...

"Thung mộc trùng trùng hải lãng tiên.
   Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên.
   Phúc chu thủy tín dân do thủy,
   Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên..."
1 (Trong "Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi", Nxb Văn hóa, H. 1962, tr. 10).

Dịch:
   "Cọc cắm hết lớp này đến lớp khác trước sóng bể.
   Giăng dây sắt ngầm, khóa sông lại cũng uổng công thôi.
   Úp thuyền mới rõ sức dân mạnh như nước,
   Hiểm yếu không cậy được, không phải mệnh ở trời..."
.


b) Muốn dựa được vào dân, các nhà cầm quyền phong kiến cho rằng "đối với dân phải hết sức hòa", phải "lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ" (Nguyễn Trãi), "phải khoan sức cho dân, để làm cái kế rễ bền sâu gốc" và coi "đó là thượng sách để giữ nước" (Trần Quốc Tuấn).

Cho nên trong một chừng mực nào đó, các triều đại phong kiến đã có những quan tâm nhất định tới quyền lợi của dân, nhất là khi cần động viên, huy động lực lượng để chống ngoại xâm hoặc lật đổ kẻ thù đang thống trị.


Thời Lý, Trần đã có những biện pháp kinh tế nhằm phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, chú trọng mở mang đê điều, thủy lợi, giảm nhẹ hoặc miễn thuế cho dân những năm bị mất mùa; áp dụng chính sách "ngụ binh ư nông" nhằm bảo đảm vừa có lực lượng sản xuất vừa có lực lượng chiến đấu, giảm bớt được phần nào gánh nặng cho dân... Lê Lợi, Nguyễn Trãi chủ trương "vừa cày ruộng vừa đánh giặc". Nguyễn Huệ có chính sách "khuyên nông", v.v...


Về mặt chính trị, cũng phải có một số biện pháp nới rộng quyền hạn của nhân dân, như mở khoa thi để tuyển nhân tài - dần dần bỏ chế độ "con quan thì lại làm quan" - cất nhắc những người từ hàng ngũ gia nô lên làm những chức vụ quan trọng (như trường hợp đối với Yết Kiêu, Dã Tượng), mở hội nghị để hỏi ý dân (như hội nghị Diên Hồng), v.v...


Thực hiện những biện pháp trên thì trước hết và chủ yếu là vì quyền lợi của giai cấp phong kiến, của nhà nước phong kiến. Nhưng mặt khác, cũng làm cho việc làm ăn và đời sống của nhân dân ít nhiều được bảo đảm hơn. Do đó có tác dụng động viên nhân dân, củng cố được khối đoàn kết toàn dân, làm cho nước được giàu, dân được mạnh; có thế mới đủ sức để giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc.


c) Nhưng dưới thời phong kiến, nói "sức dân", "lòng dân" thì cũng vẫn chủ yếu là nói đến nông dân lao động, tức là những người nông dân tự do, nông nô, nô tì, v.v... lực lượng lớn nhất và mạnh nhất của dân tộc.

Cố nhiên, trong xã hội phong kiến, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ là mâu thuẫn đối kháng, đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được. Nhưng trước nguy cơ mất nước, khi cần tập trung lực lượng giải quyết mâu thuẫn dân tộc, nông dân vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước, nhận thức được kẻ thù chủ yếu, trước mắt là kẻ thù dân tộc và trong điều kiện giai cấp phong kiến trong nước biết dựa vào dân, có chú ý tới quyền lợi của nông dân đến chừng mực nào đó, thì nông dân vẫn kiên quyết đứng lên đánh bại kẻ thù đang thống trị hoặc xâm lược.


Sự thật lịch sử qua các triều đại đã chúng minh rõ ràng là: "... Nói phong trào dân tộc Việt Nam tức là nói phong trào nông dân Việt Nam. Ý thức dân tộc của nông dân đã rất mạnh ngay trong thời kỳ phong kiến nghìn năm trước đây do tình trạng bị mất nước tạo nên. Ý thức cách mạng của nông dân không phải chỉ là ý thức dân tộc mà còn là ý thức về quyền lợi giai cấp. Trong lịch sử chống ngoại xâm nghìn năm trước đây, dưới chế độ phong kiến, những khi có mâu thuẫn gay gắt về quyền lợi với phong kiến thì nông dân không theo phong kiến để chống ngoại xâm nữa. Do đó phong trào dân tộc sút kém. Nhưng khi quyền lợi của nông dân được chú ý đến thì nông dân tham gia tích cực và phong trào dân tộc mạnh. Ví dụ phong trào chống quân Nguyên dưới thời Trần Hưng Đạo, phong trào chống quân Minh do Lê Lợi cầm đầu đểu giành được thắng lợi to lớn là vì lãnh đạo các phong trào này, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi đều có chiếu cố đến quyền lợi của nông dân, mang lại quyền lợi cho nông dân chừng mực nào..."1 (Lê Duẩn - Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, H. 1965, tr. 69, 70).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #182 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:11:41 am »

2. Chú trọng sự hòa thuận trong nội bộ triều đình

Tiêu biểu là thời Lý và thời Trần. Trước nguy cơ bị xâm lược, Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành đã biết gạt lợi ích riêng, thù riêng mà đoàn kết lại.

Giữa vua Trần và Trần Quốc Tuấn, vốn có mối hiềm riêng, hoặc giữa Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn, có sự bất đồng, nhưng đều biết xem quyền lợi dân tộc làm trọng, đã vì nước mà đoàn kết, cùng nhau ra sức chống giặc.


Sự đoàn kết trong nội bộ triều đình đã được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng quyết định thắng lợi của chiến tranh, thể hiện trong câu nói sau đây của Trần Quốc Tuấn: "Vua tôi cùng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu, nên giặc phải bó tay''1 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, Nxb Văn Sử Địa, H. 1958, tr. 98).


3. Đoàn kết trong quân đội

Ở nhiều triều đại khác nhau, nhưng các nhà cầm quân của ta đều cùng chung một điểm là hết sức lo tới sự hòa thuận, sự nhất trí trong nội bộ quân đội, giữa chỉ huy và binh sĩ, giữa binh sĩ với nhau...

Trần Quốc Tuấn: "Cốt dùng được binh phải đồng lòng như cha con một nhà thì mới có thể đánh được'.

Nguyễn Trãi, trong thư viết cho Vương Thông: ''Quân mạnh hay yếu không cứ ở nhiều. Nhà Hồ thì dối trời hại dân, mà tôi thì kính trời thuận dân, lẽ thuận nghịch không giống nhau là một. Quân của nhà Hồ trăm vạn người; trăm vạn lòng, mà quân của tôi bất quá vài mươi vạn, nhưng ai cũng một lòng, không giống nhau là hai...".

Hoặc trong Bình Ngô đại cáo, cụ viết:
   "Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương manh lệ;
   Thết quân rượu hòa nước, quân đội cha con một lòng"
.

Đến Nguyễn Huệ: "Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông ", v.v...

Dưới thời phong kiến, có quan điểm như thế, thực khá tiến bộ và đáng khâm phục.

Để xây dựng mối quan hệ "phụ tử chi binh", sự đoàn kết nhất trí trong quân đội, các nhà cầm quân của ta đã một mặt chăm lo tới đời sống của quân sĩ "lo cái lo của quân sĩ, đau cái đau của quân sĩ" nên có tinh thần đồng cam cộng khổ, nhường cơm sẻ áo, cứu đỡ nhau trong lúc khó khăn nguy hiểm; mặt khác biết khêu gợi tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc, vừa nêu rõ sự nhất trí về quyền lợi, vừa lấy nghĩa lớn ra để kêu gọi, trên cơ sở đó mà động viên mọi người đoàn kết, chung sức diệt giặc (như trong Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Chiếu dụ hào kiệt của Lê Lợi).


4. Đoàn kết giữa quân và dân

Là một vấn đề cũng được coi trọng, thời Trần: "Các vương hầu và các tướng sĩ ai nấy phải cần giữ phép tắc, đi đến đâu không được quấy nhiễu dân".

Thời Lê chống Minh, cách đối xử với dân càng được quy định rõ ràng và tinh thần đoàn kết giữa quân và dân càng mật thiết. Quân ta tiến vào vùng địch còn chiếm đóng thì "Dân ta khô vì giặc đã lâu, phàm đến châu huyện nào, mảy may không được xâm phạm". Giải phóng một vùng nào, Lê Lợi đều ra lệnh: "...Quân sĩ không được đụng chạm tơ hào của dân chúng. Trâu, bò, thóc lúa nếu không phải là của tàng trữ của người Minh thì không được lấy". Ngược lại, những hình ảnh dân chúng đi theo nghĩa quân đông như đi chợ, giúp đỡ và cùng nghĩa quân vây thành, đánh giặc, v.v... cũng nói lên tình nghĩa của dân đối với quân. Thời Tây Sơn, cũng có nhiều sự việc thể hiện rất rõ tình đoàn kết giữa nhân dân và nghĩa quân.
   

5. Đoàn kết giữa các dân tộc anh em cùng chung một đất nước

Dưới thời phong kiến, cố nhiên không có sự bình đẳng giữa các dân tộc, nhưng đứng trước một kẻ thù chung, hung bạo, các dân tộc anh em luôn luôn biết đoàn kết lại để bảo vệ sự sống còn của mình. Những triều đại tiến bộ cũng biết chăm lo đến sự gắn bó mật thiết giữa các dân tộc nhằm mục đích đánh giặc giữ nước và cứu nước. Nhân dân các dân tộc Mường, Tày, Nùng, Thái, Chàm, Chân Lạp, Tây Nguyên... đã từng đóng góp công lao cực kỳ to lớn trong sự nghiệp chống Tống, Nguyên, Minh, Pháp, v.v... cùng với nhân dân thuộc dân tộc Việt (tức người Kinh) lập nên những chiến công lẫy lừng.


Tìm sức mạnh trong việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết của toàn dân tộc, đó là một truyền thống tốt đẹp, đồng thời là một bài học thành công lớn của tổ tiên ta.

Tổ tiên ta xuất phát từ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và kinh qua thực tiễn của lịch sử mà có được kinh nghiệm quý báu trên, tìm ra được con đường đúng đắn và có tính chất tất yếu trên.

Còn ngày nay, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng của giai cấp công nhân đã vạch rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng tiến hành.

Đảng có đường lối chính trị đúng đắn, đáp ứng được quyền lợi cơ bản của nhân dân, trước hết là của công nhân và nông dân, do đó đã phát huy được sức mạnh to lớn của công nông và toàn dân để đánh bại kẻ thù.

Ngày xưa, nông dân lao động trong điều kiện có mâu thuẫn giai cấp với các tập đoàn lãnh đạo, chỉ có thể phát huy tính tích cực và lòng yêu nước của mình đến một mức độ nhất định, mà sự đoàn kết toàn dân đó đã cho phép lập được những chiến công oanh liệt.


Ngày nay, toàn dân đoàn kết xung quanh khối liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vùng lên đánh giặc với một trình độ giác ngộ giai cấp và dân tộc rất cao, với tư thế là người chủ tập thể của đất nước, đã phát huy đến cao độ sức mạnh của mình, đã lập được những sự tích thần kỳ và nhất định sẽ còn lập nên sự nghiệp càng to lớn hơn nữa trong cuộc đấu tranh đánh bại sự xâm lược và nô dịch của đế quốc Mỹ và tay sai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #183 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:15:37 am »

III. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH XUẤT SẮC

Các cuộc chiến tranh trong lịch sử của dân tộc ta diễn ra trong những hoàn cảnh khác khau, nhưng những chiến công hiển hách của tổ tiên ta đều có những biểu hiện tương đối thống nhất của một nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc đáo, ưu việt.


"Chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó còn phát triển những tinh hoa đó đến một trình độ mới trong điều kiện lịch sử mới. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã từng bao phen anh dũng đứng dậy chống nạn ngoại xâm, giữ gìn độc lập cho đất nước. Trong các cuộc đấu tranh vũ trang đó, dân tộc ta đã có những sáng tạo kiệt xuất về tài thao lược"1 (Võ Nguyên Giáp, Mấy vấn để về đường lối quân sự của Đàng ta, Nxb Sự thật, H. 1970, tr. 43).


Trước nạn ngoại xâm, dân tộc ta không có con đường nào khác là con đường đứng lên cầm vũ khí chống quân thù. Nhưng quân xâm lược là một kẻ địch có lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Để đánh bại một kẻ địch như vậy, tổ tiên ta đã biết tìm sức mạnh trong khối đoàn kết toàn dân. Còn phải sáng tạo ra cách đánh như thế nào để đánh thắng địch.


Đất nước ta không rộng, người nước ta không đông, địch là một nước lớn, người nhiều, của nhiều. Cho nên để giữ gìn đất nước, yêu cầu của dân tộc ta là phải đánh quyết liệt, phải thắng oanh liệt, phải lập nên những chiến công vang dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm tan rã ý chí xâm lược của chúng.


"Nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh"1 (Lê Duẩn - Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 12 và 13).


Do điều kiện lịch sử trước đây, nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của tổ tiên ta không thoát khỏi sự ràng buộc và hạn chế của ý thức hệ phong kiến, nhưng từ đời này qua đời khác, nó cũng đã được xây dựng tương đối toàn diện.


Đặc điểm của nền nghệ thuật đó là:

1. Nghệ thuật đó không những chỉ đạo lực lượng vũ trang, mà còn chỉ đạo nhân dân vũ trang kết hợp với lực lượng vũ trang.

Nghệ thuật đó không chỉ dựa vào quân đội, mà dựa vào dân chúng và quân đội để giành chiến thắng. Toàn dân đánh giặc, điều đó đã được nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử ta chứng minh. Nhân dân không những cất giấu lương thực, thực hành "thanh dã" gây cho địch nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực mà còn trực tiếp giết giặc, ở nước ta "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh", thiếu niên, phụ lão cũng đánh, những điều đó đã có từ ngàn xưa.


Nêu lên điểm đó, nhà quân sự vĩ đại Trần Quốc Tuấn có nói: "Cả nước góp sức chiến đấu nên giặc phải bó tay". Theo nhà sử học thế kỷ thứ XIX Phan Huy Chú thì "đời Trần nhân dân ai cùng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, bản dịch, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 6).


Với lực lượng vũ trang của cả nước, lực lượng vũ trang các địa phương kết hợp với thổ binh, hương binh, dân binh và dân chúng, sức mạnh của toàn dân, toàn quân được phát huy đến độ cao để diệt giặc.


2. Trong điều kiện ta là một nước đất không rộng, người không đông, phải đánh phải thắng oanh liệt một quân đội xâm lược của một nước phong kiến lớn mạnh, dân tộc ta đã tạo nên một nghệ thuật mà tổ tiên ta gọi là "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu trị mạnh, lấy đoàn chống trường".

''Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận là việc thường trong binh pháp"2 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, bản dịch, Nxb Văn sử Địa, H. 1958, tr. 99).

"Bậc nhân giả lấy yếu trị mạnh, bậc nghĩa giả lấy ít địch nhiều"3 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 21).

Trong nhiều cuộc chiến tranh, quân và dân ta đã đánh địch cả ờ trước mặt và sau lưng, đánh địch tại chỗ, không những tiêu diệt sinh lực địch mà còn làm tan rã quân xâm lược về tổ chức và về tinh thần, không những đánh tập trung mà còn đánh phán tán, dùng nhiều cách đánh, đánh những đòn oanh liệt làm cho địch gãy xương sông, nát xương sườn. Tổ tiên ta coi trọng việc dùng lực lượng một cách hợp lý, nhằm đạt hiệu lực cao, như Nguyễn Trãi nói: "Sức dùng có nửa, công được gấp đôi". Không những biết giành thắng lợi quân sự quyết định mà còn có biện pháp để củng cố những thắng lợi đó.

Câu ca dao từ ngàn xưa:
   "Nực cười, châu chấu đá xe
   Tường rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng"
.
   có thể nói lên phần nào đặc điểm này.


3. Nghệ thuật đó xây dựng trên cơ sở một tinh thần yêu nước rất cao, một tinh thần quật cường bất khuất, tự lập tự cường rất mạnh, trên cơ sở tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh, nên có sức sống mãnh liệt, có tinh thần tích cực chủ động rất cao. Nền nghệ thuật đó biết phát huy những chỗ mạnh mọi mặt của mình nhất là chỗ mạnh về tính chất chính nghĩa, về ý chí bất khuất kiên cường của dân tộc, về chất lượng mọi mặt của quân đội, để đánh quân địch vào chỗ chúng yếu, lúc chúng yếu. Nhiều nhà quân sự nổi tiếng thời xưa thường nhấn mạnh cách đánh chủ động linh hoạt, nhử người đến, chứ không để người nhử, cách đánh vu hồi, bao vây chặt chẽ để tiêu diệt gọn, tiến càng liên tục, dồn địch vào thế bị động chịu đòn, không có cách nào thoát khỏi bị tiêu diệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #184 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:18:55 am »

4. Nghệ thuật đó rất sáng tạo, độc đáo, rất xuất sắc, tinh vi, rất mưu trí và linh hoạt.

"Ông cha ta ngày trước có nhiều sáng tạo về cách đánh giặc, không có sáng tạo đó, không thể giữ được nước, không thể giành được tự do"1 (Lê Duẩn, Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đấu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 29).


"Anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên sức mạnh của dân tộc ta trong chiến đấu chống ngoại xâm"2 (Lê Duẩn, Cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 12 năm 1960, tr. 5).


"Tổ tiên ta đã biết dựa trên yếu tố chính nghĩa, trên tinh thần yêu nước nồng nàn và chiến đấu anh dũng của quân và dân, phát huy mọi cái mạnh của ta trong điều kiện ta chiến đấu trên đất nước mình, đánh bại những đạo quân xâm lược từ xa đến, mà sáng tạo ra cách đánh của ta, buộc địch phục tùng ý chí của ta, buộc địch đánh theo cách đánh có lợi cho ta, không cho dịch đánh theo cách đánh sở trường của chúng.


Nguyễn Huệ nói: "Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ khổng phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít"1 (Tây Sơn bang giao tập. Dẫn trong "Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ" của Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1971, bản in lần thứ hai, tr. 344).


Trong chỉ đạo chiến tranh, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh: "Phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà ứng biến cho đúng"2 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, bản dịch, tr. 100, 99).


Ngô Thì Nhậm, một tướng giỏi của Nguyễn Huệ cho rằng, là một người tướng giỏi phải biết "lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ"3 (Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch, Nxb Văn học, H. 1964, tr. 342).


Sức sáng tạo của dân tộc ta thể hiện ở chỗ, không phải chỉ có quân đội đánh giặc, mà là cả nhân dân và quân đội cùng đánh. Ta yếu mà ta đánh thắng, đó cũng là sáng tạo. Sự nỗ lực chủ quan phi thường của toàn dân tộc, sức sống mãnh liệt của nền nghệ thuật đó cũng nói lên súc sáng tạo này.


Nên nghệ thuật đó dựa trên cơ sở đánh giá địch, ta một cách bình tĩnh, hiểu địch, hiểu ta một cách sâu sắc.

Trần Quốc Tuấn cho rằng: "Nếu thấy quân giặc tràn sang như gió như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được"4 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, bản dịch, tr. 100, 99).

Nguyễn Trãi nói: "Tri kỳ tri bỉ, năng nhược năng cường"5 (Thư chữ Hán Nguyễn Trãi, bản dịch, Nxb Vản hóa, H. 1962, tr. 115) . Nghĩa là biết người biết ta, có thế yếu, có thế mạnh.

Tổ tiên ta đã không nao núng vì sức mạnh tạm thời của địch, không bị uy hiếp vũ bão bên ngoài của chúng. Những nhà quân sự thời xưa của ta hiểu rõ: ta không phải chỉ có yếu, mà còn có mạnh, hơn nữa có những chỗ mạnh rất cơ bản, còn địch, không phải chỉ có mạnh, mà còn có yếu, những chỗ yếu trí mạng tất yếu, đồng thời cũng thấy rõ những chỗ và lúc địch yếu, ta mạnh, để có những chủ trương chiến lược thích hợp.


Nhìn bao quát cả cuộc chiến tranh, tổ tiên ta không sợ địch, tin tưởng mình có thể đánh bại địch. Trong việc xử trí tình huống chiến lược cụ thể thì không khinh địch, đánh giá đúng mức sức mạnh ban đầu của quân xâm lược: lúc quân địch còn mạnh thì ta hành động rất thận trọng, nhưng khi địch đã trở thành yếu lại hành động rất táo bạo. Trước thanh thế lớn lao của quân Thanh tiến vào xâm lược nước ta, lời phân tích của Ngô Thì Nhậm sau đây nêu rõ được phần nào điều đã nói trên: "Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tăn đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất gì"1 (Ngô Gia Văn Phái, tài liệu đã dẫn, tr, 342) (chúng tôi nhấn mạnh, T.G).


Trên cơ sở đánh giá đúng đắn tình thế khách quan, biết địch biết ta một cách đúng đắn, tổ tiên ta đă phát huy đến mức độ cao nỗ lực chủ quan, phát huy đến độ cao trí tuệ của mình, tìm ra trăm phương nghìn kế, khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ và đã lập nên những chiến công kỳ lạ. Đó cũng chính là điều kiện làm cho tính sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đạt đến trình độ rất cao, câu nói của Nguyễn Trãi có thể nêu rõ điều đó:

"Có lẽ nhiều tai nạn chính là cái gốc để dựng nước, mà sự băn khoăn lo lắng cũng lá cái nền để mà ra nghiệp thánh.
Trải biến cố nhiều thi trí lự sáu,
   Lo công việc xa thi thành công kỳ.
   Đế vương nổi lên, ai cũng thế này"1 (Nguyễn Trãi, Chí Linh sơn phú).

Yếu có thể đánh mạnh, ít có thể đánh nhiều là do tinh thần dũng cảm đánh và sau đó là biết đánh - đánh mai phục - lừa địch vào sâu - toàn dân đều đánh, v.v...

Có thể nêu lên một số nội dung chính của nền nghệ thuật đó thành ba vấn đề lớn như sau:

A- Chỉ đạo quân sự.

B- Địch vận.

C- Đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #185 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:21:18 am »

A- CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ

1. Trong chỉ đạo tác chiến về chiến lược, chiến thuật, dân tộc ta đã từng có kinh nghiệm tốt về đánh lâu dài.

Xét thực tiễn diễn biến của nhiều cuộc chiến tranh thắng lợi có thể thấy rõ tổ tiên ta không bao giờ đi trệch khỏi mục đích quân sự cuối cùng là tiến công tiêu diệt địch trên đất nước ta. Nhưng tổ tiên ta cũng không hề tách mục đích cần đạt đó với điều kiện khách quan là lúc đầu lực lượng quân sự địch mạnh, ta yếu.


Trước quân địch lớn mạnh, các nhà quân sự ta đã biết tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi khi cuộc chiến tranh mới bắt đầu, nhằm bảo toàn lực lượng, tranh thủ thời gian, tạo nên thế có lợi cho ta, làm địch suy yếu, bồi dưỡng lực lượng ta, rồi từng bước tiêu diệt quân địch mà giành thắng lợi trong chiến tranh.


Trong chiến tranh tự vệ, trước thế tiến công mạnh mẽ của quân địch có ưu thế về số lượng, tổ tiên ta đã tránh không dốc toàn lực lượng để hòng phân thắng bại, giành thắng lợi nhanh chóng ngay buổi đầu, mà đã biết thực hành rút lui chiến lược, có gan rút bỏ kinh đô, cho địch vào sâu mà tiêu hao địch. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ nhất, trước ý định của vua Trần quyết chiến với địch trong điều kiện không có lợi ở gần biên giới, tướng Lê Phủ Trân đã can rằng: "Làm như vậy thì chỉ như những người dốc hết túi tiền đề đánh nốt tiếng bạc mà thôi"1 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr. 34), và khuyên "hãy nên lánh đi"2 (Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr. 34). Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chủ trương: "Nguyên binh khi nhuệ đương hưng, kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy"3 (Thiên Nam ngữ lục). Do đó quyết định rút khỏi Vạn Kiếp, rút khỏi kinh thành. Nhận xét về chủ trương rút bỏ Thăng Long của Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ đã đánh giá: "Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng..."4 (Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Ngô Tất Tố, Nxb Mai Lĩnh, H. 1954, tr. 531).


Nhưng rút lui chiến lược của tổ tiên ta có những nét độc đáo. Đất nước ta không rộng, chiều sâu không lớn, nếu cứ rút mãi thì sẽ không còn đất để mà rút, phải tự hãm mình vào thế bị động nghiêm trọng. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chặn đứng địch ở phía nam, trong khi ở phía bắc thì chỉ huy chủ lực rút lui từng bước. Trong cuộc chiến tranh này cũng như nhiều cuộc chiến tranh tự vệ khác, khi chủ lực rút lui, quân địa phương vẫn ở lại phối hợp với thổ binh, dân binh, hương binh đánh địch tại chỗ, thực hiện rút phía trước nhưng đánh mạnh phía sau lưng địch. Tóm lại, trong quá trình rút lui vẫn tiến công tích cực. Trong lịch sử dân tộc, cũng có những nhà cầm quân không biết tiếp thu nghệ thuật đúng đắn đó của dân tộc, nên đã bị thất bại; trong chiến tranh chống quân Minh dưới thời Hồ, trận quyết chiến thất bại ở Đa Bang, rồi chỉ rút lui chạy dài mà không tích cực tiến công địch, đã đưa cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta đến thất bại.


Thừa nhận sự cần thiết rút lui chiến lược, biết cách rút lui đúng đắn và có lợi, các nhà quân sự ta còn thông thạo trong việc tạo nên điều kiện để chuyển sang quật trả lại địch những đòn quyết liệt, biết vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc quân sự cổ đại "dĩ dật đãi lao" tức là lấy nhàn chờ mệt, lấy mạnh chờ yếu, lấy sung sức chờ hao mòn. Trong quá trình phòng ngự, rút lui, không những đã liên tục tiêu hao địch, buộc địch phải chịu ảnh hưởng không lợi của khí hậu và địa hình nước ta, hãm chúng vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, mà còn biết buộc, địch rải quân ra (như Trần Quốc Tuấn) hoặc làm cho địch sơ hở phạm sai lầm (như Nguyễn Huệ), tức là tạo nên một thế chiến lược khiến cho địch từ mạnh trở thành yếu, tự bộc lộ nhược điểm, để diệt đội quân xâm lược lớn mạnh.


Để đạt tới mục đích đó, các nhà quân sự ta thường dùng hai cách: Một là, khi địch đã rải quán, ta đi từ thắng lợi nhỏ, vừa, đến thắng lợi lớn, tạo nên bước ngoặt trong chiến tranh. Trong trường hợp này, tổ tiên ta đã tỏ ra biết nắm quy luật phát triển của địch trong chiến tranh. Trong quá trình ta phản công, quân địch bị tiêu diệt từng bộ phận ngày càng lớn hơn, đến một mức nào đó, khi những đạo quân nào đó bị tiêu diệt, thì đoàn quân xâm lược to lớn của địch bắt đầu tan rã (như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên). Khi chưa tạo ra được bưâc ngoặt chiến lược, tổ tiên ta biết đánh địch một cách vững chắc. Khi thì lấy ít thắng nhiều, khi thì lấy nhiều thắng ít, tiêu diệt tiêu hao địch, tạo ra từng bước chuyển biến, nhưng chủ yếu vẫn là lấy ít thắng nhiều. Nhưng sau khi bước ngoặt diễn ra, lại táo bạo lấy ít đánh nhiều, dốc lực lượng thường không nhiều của mình đánh vào toàn bộ quân địch với số lượng còn to lớn nhưng chất lượng đã suy sụp mà giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh tự vệ. Hai là, địch tuy chưa rải quân nhưng có sơ hở nên ta thực hành chia cắt địch ra từng mảng, giáng những đòn mãnh liệt vào chỗ hiểm nhất của địch, đánh vào trung tâm đầu não của chúng khiến cho địch choáng váng, kinh hoàng, rối loạn, tê liệt (như Nguyễn Huệ đánh quân Thanh). Từ những cuộc chiến tranh thắng lợi đó có thể thấy rằng ngay trong khi rút lui chiến lược, các nhà quân sự ta luôn luôn nhằm vào mục đích phản công tiêu diệt địch, tích cực tạo điều kiện để chuyển sang phản công chiến lược. Trong phản công chiến lược đã sáng tạo ra cách đánh tiến công lần lượt hoặc đồng thời, tiến công từ nhỏ đến lớn hoặc đánh một đòn quyết định.


Trong chiến tranh giải phóng, tổ tiên ta đã thực hiện chiến lược đánh lâu dài một cách khác. Trong điều kiện dân tộc ta sống dưới sự thống trị của phong kiến nước ngoài và bè lũ tay sai, các nhà yêu nước ngày xưa đã nắm được khá chính xác tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, thấy rõ thế và lực của địch và ta, lãnh đạo dân tộc vùng lên khởi nghĩa, thực hành liên tục tiến công địch cho đến khi đánh đổ hoàn toàn nền thống trị của chúng. Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành chiến tranh giải phóng lâu dài. Trong quá trình đó, về chiến lược, ta không ngừng tiến công địch trong nhiều năm liền (không kể thời gian đình chiến) với quy mô ngày càng to lớn cho đến thắng lợi hoàn toàn. Còn địch thì không ngừng phản công hòng tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa và khôi phục nền thống trị của chúng. Chúng nhiều lần tăng thêm quân đội từ chính quốc nhưng thế phản công chung của chúng không ngừng sút kém; chúng ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự cho đến khi chịu thất bại hoàn toàn. Trên chiến trường, quá trình giao tranh giữa ta và địch diễn ra theo hình thái: ta tiến công và phản công đánh tan các cuộc phản công và tiến công của địch cho đến thắng lợi hoàn toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #186 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:23:08 am »

Khi mới bắt đầu đứng lên tiến công địch, tuy thế chính trị và chiến lược trên những mặt nào đó có lợi cho ta không lợi cho địch, nhưng lực lượng quân sự địch nhiều hơn ta. Trong điều kiện đó các nhà quân sự ta đã biết "chờ thời để lừa khi địch mỏi mệt, giấu mũi nhọn và bít ánh sáng" buộc địch phải đánh lâu dài, ngày càng tiêu hao, suy yếu; còn ta có thể tranh thủ thời gian xây dựng, mở rộng lực lượng vũ trang và chỗ đứng chân của mình. Do đó mà tạo nên thời cơ chiến lược có lợi, giáng cho địch những đòn quyết định trong những năm sau của cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài.


Khởi nghĩa Lam Sơn và nhiều cuộc khởi nghĩa khác của dân tộc ta trong lịch sử đã sáng tạo ra một kinh nghiệm quý báu: Trong thế chính trị và chiến lược chung có lợi cho ta, không lợi cho địch ở một số mặt, có thể tạo thành ưu thế cục bộ mà tiến công địch, phát triển tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn cục, giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng lâu dài.


Có thể nói hình thái phát triển của những cuộc chiến tranh tự vệ và giải phóng đã nói trên như sau:

   Thời Lý: Phòng ngự chiến lược tích cực, phản công chiến lược.

   Thời Trần: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược.

   Thời Tây Sơn: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược.

   Thời Lê: Liên tục tiến công chiến lược từ nhỏ đến lớn (có hai năm đình chiến).

   Thời Hồ: Phòng ngự, rút lui.


Trong bốn cuộc chiến tranh thắng lợi trên, nhờ biết tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không lợi, tiến lên quyết chiến trong điều kiện có lợi, tổ tiên ta đã đưa chiến tranh lâu dài đến thắng lợi hoàn toàn. Ngược lại, trong chiến tranh thời Hồ, do bị buộc phải quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi cho ta mà lợi cho địch, không biết bảo toàn chủ lực trong tình hình địch mạnh, ta yếu, dốc sức để phân thắng bại ngay từ đầu, kết quả là chủ lực tan vỡ. Do không nắm vững được quy luật chỉ đạo chiến tranh tự vệ theo chiến lược đánh lâu dài của thời Lý, thời Trần, nên bị thất bại là điều tất yếu.


Đáng chú ý là các nhà quân sự của ta học tập Tôn Tử, nhưng không theo quan điểm "thắng nhanh" của Tôn Tử. Binh pháp Tôn Tử cho rằng "việc dùng binh, chỉ nghe nói có tốc quyết vụng về, chứ không thấy có lâu dài, khôn khéo; chiến tranh lâu dài mà có lợi cho quốc gia là việc không thể có". Biết đánh lâu dài, điều đó chứng tỏ tinh thần độc lập sáng tạo của tổ tiên ta.


Chính sách "ngụ binh ư nông" (nghĩa là đặt binh ở nông thôn) được thi hành ở nước ta từ khá sớm, nhất là từ thời kỳ Lý, Trần trở đi. Chính sách đó nhằm bảo đảm có số quân tập trung của triều đình đến mức cần thiết và hợp lý, giảm một phần nào đóng góp của nhân dân và tiêu dùng của nhà nước, bảo đảm có sức sản xuất để đánh lâu dài. Điều quan trọng hơn nữa là với chính sách đó, ngoài việc bảo đảm có quân đội tập trung còn tổ chức nên những đội dân binh (hương binh, thổ binh) bảo vệ các thôn, ấp, đánh địch tại chỗ. Thời Lê lại phát tríen đến chính sách "vừa đánh giặc vừa cày ruộng" nhằm bảo đảm xây dựng "chỗ đứng chân" để từ đó tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước. Đó là những điều kiện rất quan trọng để có thể đánh lâu dài.


Đánh lâu dài rõ ràng là một kinh nghiệm quý báu của dân tộc ta. Khi thì đánh đòn phủ đầu trước, khiến địch phải tiến quân trong thế bị động, rồi chặn đứng địch trên tuyến thuận lợi đã chuẩn bị sẵn, chuyển sang quật trả địch (thời Lý). Khi thì cho địch vào thật sâu, buộc địch rải quân, rồi chọn thời gian, địa điểm tốt, đánh địch từng trận đến khi tiêu diệt toàn bộ (thời Trần). Khi thì lập chỗ đứng chân quần nhau lâu dài với địch, rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch (thời Lê). Khi thì chủ động rút, nhân sơ hở của địch, điều động chủ lực từ xa tới, chiến thắng địch trong một trận thần tốc (thời Tây Sơn)... Hình thức nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nội dung là một: tránh quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi, làm cho địch từ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh phải chuyển sang đánh lâu dài, đợi cho địch từ mạnh trở thành yếu, lực còn nhiều nhưng thế đã yếu, số lượng còn đông nhưng chất lượng đã kém; còn ta thì giữ gìn và bồi dưỡng được lực lượng tiến lên đánh cho địch một đòn hoặc nhiều đòn quyết chiến chiến lược liên tiếp, tiêu diệt phần lớn hay toàn bộ quân địch, giành thắng lợi to lớn. Điều đáng chú ý là trong quá trình đánh lâu dài như vậy, các nhà quân sự ta đã biết chớp thời cơ có lợi, chuyển sang giáng cho địch những đòn mãnh liệt, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn.


Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta, tư tưởng, đường lối chung về chiến lược là đánh lâu dài, vì quân xâm lược thường mạnh hơn quân ta lúc đầu. Nhưng căn cứ vào các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau về các mặt của cuộc chiến tranh mà tình hình lâu dài có khác nhau. Cũng có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #187 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 08:16:34 am »

2. Trong nhiều cuộc chiến tranh, các nhà quân sự thời xưa đã biết khéo léo vận dụng hai cách đánh: đánh phân tán và đánh tập trung, tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại quân địch.

Biết kết hợp cách đánh nhỏ của dân chúng và các lực lượng vũ trang địa phương nhỏ bé với cách đánh tập trung lớn của quân đội triều đình là một sáng tạo quan trọng của tổ tiên ta.

Trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta, lực lượng vũ trang tập trung của ta bao giờ cũng kém xa địch về số lượng và ở một mức độ nhất định, cũng kém địch về trang bị kỹ thuật, vật chất, nhất là trong thời kỳ đầu của chiến tranh. Để đánh thắng một quân giặc mạnh hơn, ta không thể chỉ đánh bằng riêng các lực lượng vũ trang tập trung được, mà phải đánh bằng tất cả tinh thần và vật chất của dân tộc ta, của toàn thể nhân dân ta. Tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược đã thắng lợi trong lịch sử nước ta đều là những cuộc chiến tranh mà toàn thể dân tộc ta, toàn thể nhân dân ta gián tiếp và trực tiếp cùng các lực lượng vũ trang của mình đánh giặc.


Trong nhiều triều đại, tổ chức lực lượng vũ trang không phải chỉ có quân đội của triều đình. Tuy tên gọi khác nhau, cách tổ chức cũng có điều khác nhau, song thường có 3 cấp lực lượng rõ rệt: quân tập trung của triều đình gọi là du quân, đại quân; quân ở các địa phương (quân do các chính quyền địa phương tổ chức và quản lý hoặc quân của các vương hầu nhưng chịu sự chỉ huy của triều đình) tùy từng thời mà gọi là quân các lộ, quân các đạo; và dân binh còn gọi là thổ binh hoặc hương binh. Quân tập trung của triều đình thường làm nhiệm vụ cơ động trong cả nước. Quân ở các địa phương có trách nhiệm giữ các lộ, các đạo, các thành quan trọng, còn dân binh thì bảo vệ các thôn ấp.


Nhờ biết tổ chức lực lượng một cách rộng rãi và hợp lý như vậy, cho nên dân tộc ta đã có thể thực hành vừa đánh phân tán, vừa đánh tập trung, vừa đánh nhỏ, vừa đánh lớn. Và chính nghệ thuật biết vận dụng khéo léo và hình thức đánh phân tán và tập trung như vậy đã cho phép huy động được lực lượng to lớn của toàn dân và các lực lượng vũ trang ở các cấp để tiêu diệt địch.


Cách đánh nhỏ, phân tán của dân chúng và quân đội đã từng có một địa vị và tác dụng rất lớn trong lịch sử dân tộc ta. Triệu Quang Phục dùng cách đánh "đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày, lâm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba, bốn năm không hề đối diện chiến đấu"1 (Lĩnh Nam trích quái, bản dịch, Nxb Văn hóa, H. 1960, tr. 37) đã làm quân Lương vô cùng khốn đốn, sức cùng chí nản. Thời Trần, các đội dân binh cùng dân chúng đã làm quân Nguyên nhanh chóng mất sức tiến công. Thời Lê, nghĩa quân Lam Sơn lúc lên phía bắc, thoắt quay về nam, khi xuất hiện ở đông, lúc đánh úp ở tây, nên với số quân ít, đã từng đánh tan nhiều cuộc tiến công càn quét có khi đông đến hàng chục vạn quân Minh.


Cách đánh lớn, tập trung của quân đội triều đình (quân chủ lực) đã từng lập nên những chiến thắng oanh liệt: Bạch Đằng, Chương Dương, Vạn Kiếp, Xương Giang, Ngọc Hồi, Đống Đa... Đáng chú ý là cách đánh tập trung của quân đội ta thời xưa cũng có đặc điểm rất Việt Nam, phù hợp với điều kiện đất không rộng, người không đông. Đó là những cách đánh mà các nhà quân sự thời xưa gọi là "xuất kỳ bất ý", là "công kỳ vô bị", là đánh bằng kỳ binh, phục binh, tức là những cách đánh không bộc lộ mục tiêu, không đối trận với địch, mà dựa vào điều kiện nhân dân ủng hộ, không theo địa hình mà phát huy đến độ cao tính bất ngờ, giáng những đòn rất mạnh, giải quyết trận đánh rất nhanh "sấm ran, chớp giật" như Nguyễn Trãi nói.


Trong nhiều triều đại, tổ tiên ta đã nhiều lần vùng lên, bắt đầu bằng khởi nghĩa ở một số địa phương, tiến hành đánh du kích, cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng nhằm lật đổ ách thống trị của nước ngoài, khôi phục quyền làm chủ của dân tộc. Về quân sự, ta đã từ đánh du kích, đánh nhỏ, tiến lên đánh tập trung với quy mô ngày càng lớn. Việc phát triển từ đánh du kích lên đánh tập trung đã cho phép dân tộc ta giành được thắng lợi to lớn và quyết định trong cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài. Cuộc chiến tranh của Triệu Quang Phục chống quân Lương đã chứng minh rõ ràng điều đó và cuộc chiến tranh giải phớng thời Lê có the xem là một điển hình thành công của dân tộc ta trong lịch sử thời xưa về việc vận dụng khéo léo đánh du kích và đánh tập trung.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc, tổ tiên ta đã nhiều lần biết kết hợp khéo léo đánh phân tán và đánh tập trung. Trong chiến tranh giải phóng, sau khi đã từ đánh phân tán mà phát triển lên đánh tập trung, tổ tiên ta đã biết kết hợp hai cách đánh đó, nhò đó mà phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân (thời Lê). Trong chiến tranh tự vệ có những lần dân ta dựa vào lực lượng quân đội đánh tập trung quy mô lớn, mà giành những thắng lợi vang dội, như Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu mà phá kế hoạch xâm lược của nhà Tống; Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Tình hình đó không tách rời khỏi sự chỉ huy tài tình biết nhằm nơi địch sơ hở mà nhanh chóng giáng đòn mãnh liệt, quyết định, không tách rời khỏi sự ủng hộ to lớn nhiều mặt của nhân dân. Nhưng nhìn chung thì trước kẻ thù lớn mạnh đang xâm lược nước ta, việc kết hợp cách đánh của quân đội triều đình (quân chủ lực) với cách đánh nhỏ của quân đội các địa phương và của dân chúng cho phép dân tộc ta phân tán, tiêu hao, làm suy yếu quân địch, tạo ra điều kiện thuận lợi cho quân đội tập trung tiêu diệt quân địch, nhờ đó mà nhiều lần chiến thắng oanh liệt. Nhiều triều đại đơn thuần dựa vào quân đội tập trung, nhất là khi lại phạm sai lầm về chỉ đạo chiến lược đã bị thất bại (An Dương Vương, Lý Phật Tử, Hồ Quý Ly).


Đưa đánh du kích lên đánh tập trung, kết hợp đánh tập trung và đánh du kích là một kinh nghiệm sáng tạo của dân tộc ta. Kinh nghiệm chiến tranh thắng, bại của nhiều triều đại hoặc ngay trong bản thân một số triều đại đã chứng minh tính chất quan trọng của sự kết hợp đó.


'"Sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Bôn (Lý Bí) đã để lại cho ta ba bài học lịch sử khác nhau: Bài học thành công lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa khôi phục nền độc lập; bài học thất bại gân mất hết nghiệp nước khi lấy mạnh chọi mạnh theo chiến lược dốc túi đánh nhanh thắng nhanh chống lại quân phong kiến xâm lược Trần Bá Tiên (nhà Lương); sau đó phải lui quân về Hưng Hóa đê tổ chức lại đội ngữ mưu tính cuộc kháng chiến lâu dài, giao binh quyền cho Triệu Quang Phục chuyển sang không trực diện đánh ban ngày với địch mà đêm đêm bí mật tổ chức đánh úp (tập kích) tiêu diệt địch, lấy lương thực vũ khí của địch để đánh lâu dài đến khi nhà Lương bị quét sach, đó là bài học thứ ba, bài học thành công"1 (Văn Tiến Dũng, Phát huy sức mạnh của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước - Tạp chí Quân đội nhân dân, số 6 năm 1966, tr. 21).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #188 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 08:19:05 am »

3. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến về chiến lược chiến thuật của tổ tiên ta có nhiều điều rất tiến bộ.

a) Trong việc chỉ đạo chiến lược chiến thuật, tổ tiên ta đã biểu lộ một tinh thần tích cực, chủ động tiến công rất mãnh liệt.

Trong chiến tranh tự vệ, tinh thần đó biểu hiện trong các hoạt động chiến lược của quân đội nhà Lý (Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu phá các cuộc xâm lược của nhà Tống), quân đội nhà Trần (trong cả ba cuộc chiến tranh, nhất là trong các trận phản công chiến lược); và trong cuộc hành binh táo bạo, thần tốc đại phố quân Thanh của quân đội Tây Sơn thì tinh thần đó được phát huy đến độ cao.


"Ngồi đợi giặc đến, không bằng đánh trước làm nhụt nhuệ khí của giặc"2 (Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, bản dịch, Nxb Văn hóa, H. 1960, tr. 30).

Trong chiến tranh giải phóng, tinh thần đó biểu hiện trong khắp các cuộc khởi nghĩa của dân tộc ta, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh thời Lê.

Tinh thần tích cực chủ động tiến công rất mãnh liệt đó không tách ròi khỏi lòng yêu nước nồng nàn, chí kiên cường bất khuất của dân tộc ta.

"Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải luôn luôn chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do, sự sống còn của mình, cho nên có tinh thần tự vệ rất mạnh. Chính trên cơ sở của tình thần tự vệ mạnh mẽ đó đã nảy sinh ra cách đánh giặc của người Việt Nam. Không phải là ngẫu nhiên mà trong lịch sử nước ta, mỗi khi dân tộc ta vùng dậy chống ngoại xâm, là chỉ tiến công chứ không phòng ngự, tiến công kẻ xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Tiến công là chiến lược, còn phòng ngự chỉ là sách lược"1 (Lê Duẩn, Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 30).


b) Về thực tế cũng như về lý luận, trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh tự vệ, nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của tổ tiên ta đều chú trọng tránh chỗ mạnh của địch, giành chỗ lợi cho mình, lấy cái mạnh của mình tìm chỗ yếu của địch mà đánh. Do đó, sức mạnh của địch không dùng được, lực lượng lớn của địch không phát huy hết sức mạnh, không đạt được hiệu quả cao. Trái lại ta thì dùng mọi sức mạnh của ta một cách thích hợp, có thể tiến công tiêu diệt địch ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi quy mô khác nhau.


Nói chung, tổ tiên ta thừa nhận công thành là "hạ sách" và nhấn mạnh đánh bất ngờ, mai phục, đánh úp.

"Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không xuống, gây nên cuộc đời vô sự"2 (Trần Quốc Tuấn, Binh thư yếu lược, Sđd).

"Lấy yếu thắng mạnh, tiến công khi giặc không chuẩn bị, lấy ít đánh nhiều, thường mai phục, ra kỳ binh"3 (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo. Chiến thuật cổ đại thường chia ra chính và kỳ: bộ đội đánh theo chính là chính binh, đánh theo kỳ, là kỳ binh: đánh trước mặt địch, đánh dàn trận với địch, đánh theo cách đánh thông thường là đánh theo chính, đánh sau lưng địch, đánh bất ngờ, đánh theo cách đánh đặc biệt là đánh theo kỳ. Phối hợp khéo léo chính và kỳ, thay đổi khéo léo chính và kỳ là một yêu cầu trong chỉ huy quân đội thời xưa).


Trên thực tế chỉ đạo chiến lược chiến thuật, các nhà quân sự ta biết cắt địch ra từng mảnh, tiêu diệt địch từng bộ phận, đánh bại địch từng bước. Trong dân gian từ xưa thường có câu "bẻ đũa không bẻ cả nắm", "đánh rắn phải đập nát đầu"; những câu đó nói lên tư tưởng cắt địch ra từng mảnh, đánh vào những chỗ hiểm yếu nhất của địch, để tiêu diệt chúng.


Quán triệt những tư tưởng trên, các nhà quân sự ta thông thường biết:

Lợi dụng những sơ hở, những chỗ yếu của địch do nhận thức được địch có những chỗ yếu về nhiều mặt, nhất là những chỗ yếu trí mạng do tính chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược đẻ ra; các nhà quân sự thời xưa một mặt phát hiện những chỗ yếu của chúng để lợi dụng, mặt khác khoét sâu sơ hở và nhược diểm đó của địch rồi giáng những đòn mạnh mẽ.


"Đánh mà muốn lấy được phải đánh vào chỗ giặc không giữ, nếu quân địch lấy quân các nơi tăng cường cho Nghệ An, thành ta khó đánh, trái lại các nơi khác thì địch sơ hở, chi bằng chia quân đi đánh các nơi khác, khiến Nghệ An bị hãm vào thế cô lập, tức khắc giặc phải hàng. Các bậc tướng giỏi đời xưa đánh chỗ thực, công chỗ hư..."1 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).


''Binh đánh vào đâu như lấy đá gieo vào quả trứng". "Phàm lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, Sđd, tr. 56).

"Nuôi uy chứa sức, đợi đánh tan viện binh thì thành phải hàng, làm một được hai"3 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).

Cuộc tiến công Chương Dương, Tây Kết, trận đánh thuyền lương Trương Văn Hổ, cuộc tiến quân của Lê Lợi vào Nghệ An, Diễn Châu, Tân Binh - Thuận Hóa, cuộc hành binh táo bạo của Nguyễn Huệ ra Thăng Long đều là những trận chiến thắng nêu rõ sự lợi dụng khéo léo sơ hở và nhược điểm của địch của tổ tiên ta.


Tạo nên sơ hở cho địch, làm cho địch bộc lộ chỗ yếu bằng nhiều biện pháp tích cực khác nhau, như nghi binh, tỏ ra yếu, che giấu ý định của mình, đưa địch vào những địa điểm bất lợi, v.v... các nhà quân sự ta đã làm cho địch nhận định sai lầm, chủ quan, khinh thường đối phương, hành động sai lầm, do đó tự bộc lộ sơ hở, nhược điểm. Những cuộc xuất kích trên tuyến sông Cầu của Lý Thường Kiệt để tiêu hao liên tục đội kỵ binh thiện chiến của Quách Quỳ; Trần Quốc Tuấn kéo quân kỵ binh cơ động của quân Nguyên rời khỏi thành Thăng Long để tiêu diệt dọc đường; việc gửi thư cho Liễu Thăng trước khi viện binh Minh vượt biên giới; các trận đánh kéo địch vào trận địa mai phục Chi Lăng, v.v... và một khi địch có sơ hở bộc lộ chỗ yếu, các nhà quân sự ta biết tập trung lực lượng bất ngờ giáng những đòn mãnh liệt để tiêu diệt chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #189 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 08:20:28 am »

Trong điều kiện nước ta là một nước đất không rộng, người không đông mà phải đánh những đạo quân xâm lược lớn mạnh, tổ tiên ta đã biết huy động toàn dân cùng với lực lượng vũ trang tập trung đánh giặc, tạo nên một sức mạnh to lớn. Mặt khác, muốn phát huy tác dụng to lớn của lực lượng vũ trang tập trung thường kém xa địch về số lượng, tổ tiên ta đã có nghệ thuật biết dùng lực lượng vũ trang đó với một hiệu lực lớn nhất để đánh bại một kẻ địch đông hơn và thiện chiến. Tư tưởng chỉ đạo của nghệ thuật đó được Nguyễn Trãi nêu lên một cách xuất sắc: "Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi"1 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).


Chính vì vậy mà nét sáng tạo trong nghệ thuật quân sự dân tộc của ta là không những tổ tiên ta biết lấy nhiều đánh ít mà còn biết lấy ít đánh nhiều: khi cần thiết thì tập trung quân có số lượng lớn hơn địch để tìm diệt chúng; khi thì biết dùng những đạo quân có chất lượng cao, có sức chiến đấu lớn để tiêu diệt những đạo quân đông hơn của địch trong những thời cơ thuận lợi. Có thể nói rằng những chiến thắng oanh liệt nhất trong những cuộc chiến tranh thắng lợi đều là những trận lấy ít thắng nhiều: Vạn Kiếp, Chúc Động - Tốt Động, Chi Lăng - Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa...


Để đạt được yêu cầu đó, tổ tiên ta đã rất chú trọng đến nhân tố chất lượng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang. Nhiều nhà quân sự của ta ngày xưa xem nhân tố chính trị, tinh thần, đoàn kết nhất trí, đồng cam cộng khổ cùng với nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi, sự tinh nhuệ của quân đội là những nhân tố rất cơ bản quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trần Quốc Tuấn nói: "Binh quý về tinh, không quý về nhiều".


Nguyễn Trãi đã đánh giá như sau về sức mạnh của quân đội nhà Hồ và nghĩa quân Lam Sơn:

"Quân mạnh hay yếu không cứ ở nhiều. Quân của nhà Hồ trăm vạn người, trăm vạn lòng, mà quân của tôi bất quá vài mươi vạn, nhưng ai cũng một lòng"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 51, 57).

Nguyễn Huệ thì nói: "Còn như quân lính thì cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều".

Trong khi Hồ Quý Ly luôn luôn lo lắng "làm thế nào để có trăm vạn quân thì địch nổi giặc Bắc" mà rút cuộc vẫn bại trận.

Để tăng sức mạnh của lực lượng vũ trang, tổ tiên ta biết: "Vỗ nuôi sĩ tốt, vời đón hiền giả, thu dụng nhân tài, sửa rèn khí giới, luyện tập binh tượng, dạy bảo những phương pháp ngồi, dậy, tiến lui, lại hun đúc bằng những điều nhân nghĩa, khiến ai ai cũng hết lòng thành, thân với kẻ trên, chết cho người trưởng". Cho nên Nguyễn Trãi nói: "Đem quân ấy ra đối phó với địch, thì kẻ nào theo ý hướng ta sẽ sống, kẻ nào trái ý hướng ta sẽ chết".


Trái lại điều trên, nhà Hồ đặt trọng tâm việc nâng cao sức chiến đấu của quân đội vào đúc súng "thần công" đóng thuyền "cổ lâu", tức là cải tiến vũ khí.

Thắng lợi của bốn cuộc chiến tranh và thất bại của nhà Hồ, những lời nói của những nhà quân sự đánh thắng và của Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng đã nêu lên khá rõ kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta: vũ khí và số lượng là quan trọng, nhưng quyết định là con người và chất lượng.


Tư tưởng tích cực tiến công, phát huy mọi chỗ mạnh của mình nhằm mọi chỗ yếu của địch mà đánh, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ, vừa đến lớn, đã được vận dụng trong thực tế hết sức cơ động, linh hoạt, mưu trí bằng nhiều cách đánh tài tình, sáng tạo, đánh trước mặt và đánh sau lưng, đánh phân tán và đánh tập trung, đánh bằng tiến công quân sự và bằng tiến công binh vận, đánh vào tất cả các mục tiêu, đánh bằng nhiều phép đánh độc đáo.


Những cách đánh thiên biến vạn hóa đó là những cách đánh vượt ra ngoài cách đánh thông thường của các binh pháp cổ đại. Trên cơ sở của tinh thần anh dũng quả cảm đã sản sinh ra những cách đánh thông minh linh hoạt, phát huy được mọi tài năng, sở trường của ta, mà hạn chế được mọi khả năng, sở trường của địch. Quân kỵ binh Mông Cổ rất cơ động, giỏi đánh ngoài thành lũy, trên đồng nội, đã từng phát huy đến cao độ sở trường của họ trên nhiều chiến trường. Nhưng, trước những cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta thời Trần, đã không thể phát huy được lối đánh sở trường đó, như Nguyên sử đã thừa nhận, trên đất nước Đại Việt "quân và ngựa Mông Cổ đã không thi thố" được tài năng nào". Quân Minh thông thạo công thành và giữ thành, vẫn không thoát khỏi bị tiêu diệt hết đạo quân này đến đạo quân khác ngoài thành lũy.


Những trận đánh trên các đường giao thông thủy bộ, đánh vào các căn cứ an toàn, đánh vào các cơ quan đầu não của địch vừa tiêu diệt sinh lực, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh (xe, thuyền, vũ khí) và cơ sở vật chất khác (lương thực); những trận hạ thành bằng vây hãm quân sự kết hợp với tiến công binh vận, làm tan rã tổ chức và tinh thần của địch, những phép đánh như đục thuyền, dùng cọc gỗ và lợi dụng thủy triều để phá hủy quân địch, v.v... đều chứng tỏ dân tộc ta đã sáng tạo ra nhiều cách đánh phong phú, độc đáo, kết hợp chặt chẽ anh dũng và thông minh, khiến cho quân và dân ta có thể giành và giữ quyền chủ động ở độ cao, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chịu đòn. Những cách đánh cơ động mưu trí đó, không những đã không cho địch phát huy được sở trường của chúng mà còn buộc địch phải đánh theo cách đánh có lợi cho ta, phải phục tùng ý chí của quân và dân ta. Do đó, chúng đánh ta thì đánh không trúng, không tiêu diệt nổi quân ta; quân ta đánh thì đánh rất trúng, đánh tiêu diệt chúng. Các cách đánh phản công mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, các cách đánh mai phục bất ngờ của Lê Lợi, cách hành binh thần tốc, táo bạo đánh úp của Nguyễn Huệ là những cách đánh chứng tỏ địch không cách nào đối phó nổi.


Sử thần Ngô Sĩ Liên đã nói như sau về trận đánh của Lý Thường Kiệt: "Hơn mười vạn quân hoành hành đi sâu vào nước người, đánh tan quân 3 châu gần như dễ bẻ cành khô; khi ở đấy thì không ai dám đương đầu, lúc rút về thì không ai dám theo sau"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, bản dịch, Nxb Sử học, H. 1961, tr. 195). Trong Hoàng Lê nhất thống chí có nêu rõ nhận định của địch đối với nghĩa quân Tây Sơn là ẩn hiện như thần, "tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên".


Nhờ sự chỉ đạo chiến tranh tài tình, nhờ tư tưởng chiến lược, chiến thuật đúng đắn, cộng với chất lượng cao của quân đội và nhiều trường hợp biết dựa vào dân, tổ tiên ta đã nhiều phen đánh bại, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt những đội quân xâm lược về số lượng đông hơn quân đội tập trung của ta, nhiều khi đến gấp mấy lần.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM