Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Bảy, 2024, 09:02:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 13505 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #160 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:30:32 am »

6. Thời cơ chiến dịch

Một điểm nổi bật nữa trong nghệ thuật chỉ huy thực hành tác chiến chiến dịch ở Tây Nguyên là: trên cơ sở nắm chắc thời cơ chiến lược, ta đã luôn luôn chủ động tạo ra tình huống tốt và chín muồi, tạo ra thế có lợi và thời cơ có lợi, rồi nhanh chóng chớp lấy thời cơ, giáng cho địch những đòn quyết định, giành thắng lợi quyết định cho từng trận chiến đấu và toàn chiến dịch. Thành công của mỗi đòn lớn trong chiến dịch đều gắn liền với cả một quá trình dẫn dắt tình huống để tạo thế và tạo thời cơ, chớp thời cơ. Vì vậy nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ chiến dịch cũng tức là nghệ thuật chỉ huy thực hành tác chiến chiến dịch.


Thực hiện đòn mở đầu chiến dịch, ta đã xây dựng tình huống để tạo thời cơ như nghi binh để kéo trung đoàn 45 của địch về Plây Cu, đồng thời tiến hành đánh cắt đường. Buôn Ma Thuột trở nên sơ hở. Vậy là ta đã tạo ra tình huống, tạo ra thời cơ. Nhưng muốn bảo đảm cho thời cơ chín nẫu hơn, vững chắc hơn, ta cần xây dựng, tổ chức thêm một tình huống nữa là trói chặt tập đoàn chủ yếu của quân đoàn 2 địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng cường hoặc ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng. Để bồi bổ cho thời cơ, lúc cần thiết ta lại tiến hành chặt bớt chân tay của địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, làm cho cứ điểm đó càng thêm yếu mềm và bị cô lập, đồng thời mở rộng và tạo thêm chỗ đứng của ta. Tình huống này được xây dựng bằng cách đánh Cẩm Ga - Thuần Mẫn và Đức Lập. Tuy nhiên tiến công Cẩm Ga - Thuần Mẫn và Đức Lập có thể đánh động, khiến địch ở Buôn Ma Thuột phán đoán ta đang chuẩn bị đánh thị xã này và chú ý đề phòng. (Vì thế, có thể và cũng có thể không cần xây dựng tình huống này). Và thời điểm của thời cơ đánh Buôn Ma Thuột phải rất ăn khớp, rất sát với tình huống Cẩm Ga - Thuần Mẫn và Đức Lập, khiến cho bộ tư lệnh quân đoàn 2 địch ở Plây Cu và sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23 ở Buôn Ma Thuột không kịp trở tay. Ngày 8 tháng 3 ta đánh Cẩm Ga - Thuần Mẫn, ngày 9 tháng 3 ta đánh Đức Lập và ngày 10 tháng 3 ta đánh Buôn Ma Thuột. Tình huống diễn ra liên tục, dồn dập trong ba ngày liền. Địch bôi rối, phán đoán mờ mịt, xử trí do dự, quyết tâm rối loạn. Chúng chưa kịp suy nghĩ thì số phận Buôn Ma Thuột đã được định đoạt trong ngày 11 tháng 3 năm 1975.


Nhìn chung trận Buôn Ma Thuột, ta vừa có thế tốt lại vừa có lực mạnh. Thế tốt ở chỗ, trước trận đánh ta đã chia cắt, vây hãm địch và rất chủ động, có thể phát huy cao và phát huy hết sức mạnh của mình. Ta có thể chủ động tập trung lực lượng đánh địch ở nhiều hướng và ở những hướng thuận lợi nhất. Địch thì như cá trong chậu, chim trong lồng, khó bề xoay xở. Còn lực mạnh ở chỗ, ta đã tập trung được phần lớn lực lượng của chiến dịch vào trận Buôn Ma Thuột và xung quanh Buôn Ma Thuột để đảm bảo cho trận này chắc thắng. Lực mạnh và thế tốt là hai thành phần của thời cơ. Thành phần thứ ba của thời cơ là thời điểm đúng. Có lực mạnh và thế tốt nhưng hành động sớm quá hoặc muộn quá cũng không thành công.


Nếu ngày 11 hoặc ngày 12 tháng 3 ta mới đánh Buôn Ma Thuột thì cũng có thể còn thời cơ và cũng có thể lỡ thời cơ, mất thời cơ. Nếu ta đánh chậm một vài ngày sau, địch có thể đổ bộ hạ cánh thêm lực lượng xuống phòng thủ, đối phó. Đánh ngày 10 tháng 3 là đúng thời điểm, hợp thời cơ. Trong khi tạo ra thời cơ để đánh Buôn Ma Thuột, sự đối chọi giữa ta và địch diễn ra rất phức tạp, khẩn trương và quyết liệt.


Thời cơ thứ nhất thành công tốt đẹp thúc đẩy thời cơ khác nhanh chóng xuất hiện. Đó là thời cơ đánh địch đi mở đường giải tỏa giao thông và thời cơ đánh địch phản kích.

Trên đường số 19, sư đoàn 22 của địch đã phải tập trung vào đoạn giữa thị trấn Bình Khê và thị trấn An Khê để đi giải tỏa, mở đường. Nắm thời cơ, quân ta đã giam chân và tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn của sư đoàn này, và cuối cùng dã tiêu diệt sư đoàn này, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân giải phóng thị xã Quy Nhơn.


Thời cơ quan trọng tiếp theo là đánh địch phản kích. Ta dự kiến và bố trí lực lượng sẵn sàng đánh quân phản kích trên hai hướng đường bộ (đường số 14 và số 21) và một hướng đường không. Thực tế chỉ xảy ra một hướng đường không mà ta đã dự kiến.


Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, ta đã tập trung lực lượng hùng hậu và tổ chức thế trận để quyết tâm đánh bại phản kích của địch. Lực và thế ta đã sẵn, đã tốt, thời của ta cũng vừa kịp vừa khớp.


Sự thống nhất các yếu tố đó đã tạo nên sức mạnh lớn. Trung đoàn 45, đội tiên phong của sư đoàn 23 ngụy vừa mới chạm chân xuống tới đất, chưa kịp chuẩn bị trận địa triển khai chiến đấu đã bị đánh mạnh, không ngóc đầu dậy được và bị tiêu diệt, tan rã. Đâm lao phải theo lao, các thê đội tiếp sau của sư đoàn 23 tiếp tục đổ xuống, và cuối cùng số phận của chúng đã được định đoạt ở quận lỵ Phước An sau 6 ngày phản kích bằng đường không.


Trong lúc ta đang đánh bại cuộc ngăn chặn, phản kích, tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy, thì một thời cơ môi đã xuất hiện: địch bị choáng váng sau đòn mở đầu Buôn Ma Thuột, hốt hoảng rút bỏ Tây Nguyên, co về giữ đồng bằng.


Tình huống đã diễn ra và thời cơ đã đến. Vậy phải xoay chuyển tình huống như thế nào để chớp được thời cơ, tiêu diệt bằng được tập đoàn tháo chạy của địch, không cho chúng về tới đồng bằng? Điều trước tiên là phải nhanh chóng chặn quân địch lại và làm cho đội hình chúng bị rối loạn, mất trật tự, khiến tiến trình tháo chạy bị chậm lại, để ta kịp thời đưa lực lượng đến tiêu diệt chúng. Ta có một điều kiện thuận lợi để tạo ra khả năng đó. Cánh quân ở hướng Thuần Mẫn có một mũi đang chuẩn bị đánh địch ở hướng Cheo Reo, đang đứng chân sẵn ở gần Cheo Reo và đường số 7. Tức thì đơn vị này được lệnh tiến ra đánh chặn địch ở phía đông Cheo Reo và chốt đường số 7. Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Phú Yên cũng được điều động ra đánh chặn địch ở khu vực Củng Sơn, Sơn Hòa. Và, ta đã thực hiện thành công kế hoạch này bằng hai đòn tiêu diệt: đòn thứ nhất ở Cheo Reo, đòn thứ hai ở Củng Sơn. Tóm lại, do thực hiện được việc xoay chuyển thế trận, điều động lực lượng, tổ chức thế đánh chặn và xây dựng thế đánh tiêu diệt nên ta đã chớp được thời cơ giành thắng lợi lớn.


Thời cơ không phải chỉ được tạo ra ở một hướng, một khu quyết chiến mà phải có sự hỗ trợ của các hướng khác, do sự chỉ đạo chiến lược và chiến dịch tạo ra. Quân địch không thể ứng cứu tập đoàn tháo chạy trên đường số 7 vì Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang,... còn quan trọng hơn, lực lượng tổng dự bị của địch đang phải xé ra để đối phó ở các nơi đó. Quân địch ở Cheo Reo, Củng Sơn phải tự lo liệu lấy, không được ứng cứu, do đó ta có điều kiện thuận lợi để tạo ra thời cơ tiêu diệt toàn bộ bọn chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #161 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:31:17 am »

Sau thời cơ này, một thời cơ quan trọng khác đã xuất hiện nối tiếp. Đó là thời cơ quét sạch quân địch còn lại ở vùng giáp ranh giữa Tây Nguyên và đồng bằng, giải phóng toàn Tây Nguyên và tiến xuống đồng bằng, trong khi quân địch đã bước sang thời kỳ suy yếu mới một cách toàn diện.


Quân địch còn lại ở vùng giáp ranh là trung đoàn 40 (thiếu) ở Khánh Dương và lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng. Hai đơn vị này bị tiêu diệt thì cái cửa vào Nha Trang cũng được mở toang. Quân địch còn lại ở đây lâm vào một tình trạng vô cùng hoang mang, sức chống cự của chúng không còn mạnh nữa.


Để tranh thủ thời cơ, ta đã nâng cao tốc độ tiến công bằng tiến công trong hành tiến hoặc tiến công có chuẩn bị gấp. Ta tiến công theo đội hình vừa đi vừa đánh hoặc triển khai nhanh rồi đánh ngay. Quân ta đã hành quân, cơ động bằng xe cơ giới và chiến thắng vẻ vang ở khắp nơi.


Trên đây là những thời cơ lớn, then chốt, có tính chất quyết định của chiến dịch. Sự thành cõng trong chỉ đạo thời cơ đã làm cho chiến dịch phát triển thuận lợi, nhanh chóng và giành thắng lợi lớn. Điều đó chứng tỏ tạo thời cơ và chớp thời cơ là hoạt động tổng hợp, là sự phát triển cao của nghệ thuật chỉ huy tác chiến chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta đã tập trung đánh từng trận tiêu diệt có ảnh hưởng lớn. Các trận Cẩm Ga - Thuần Mẫn, Đức Lập, Buôn Ma Thuột, Phước An, Cheo Reo, Củng Sơn, v.v... là những trận đánh tiêu diệt có giá trị kế tiếp nhau, làm cho quân địch không thể ngóc đầu dậy được và nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn.


Từ trận mở đầu cho đến trận kết thúc trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta thực hiện được đánh tiêu diệt nhanh, gọn, triệt để là do có công phu xây dựng về mặt chiến thuật.

Ta đã xây dựng được các chiến thuật cơ bản, rất quan trọng để đánh bại mọi chiến thuật của địch. Đó là chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc, chiến thuật đánh thành phố và chiến thuật đánh địch tiến quân và tạm dừng ở đã ngoại.


Đánh địch trong công sự vững chắc là chiến thuật quan trọng nhất. Trước hết vì có vận dụng thành thạo chiến thuật này mới tiêu diệt được các đồn bốt, quận lỵ, chi khu của địch. Chiến thuật này còn là cơ sở và thành phần cơ bản của các chiến thuật đánh căn cứ quân sự lớn, đánh thành phố - những sào huyệt cuối cũng của địch.


Đánh công sự vững chắc trong giai đoạn mới là đánh các cụm công sự vững chắc lớn, các tập đoàn phòng ngự bằng hiệp đồng binh chủng, gồm bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa, công binh, thông tin, v.v... Đánh hiệp đồng binh chủng rất quan trọng, vì sức mạnh tập thể của các binh chủng của hỏa lực và đột kích rất lỏn. Có đánh hiệp đồng binh chủng mới tiêu diệt được nhanh chớng các cụm phòng ngự công sự vững chắc lớn của địch.


Trình độ đánh công sự vững chắc hiệp đồng binh chủng của bộ đội ta đã khá thành thạo và phát triển đồng đều. Đó là một sức mạnh tập thể rất lớn. Có một số đơn vị đã đạt tới trình độ điêu luyện. Trong chiến dịch mùa Xuân 1975, quân ta đánh đâu là thắng đó, thắng giòn giã. Có một số vị trí địch cỡ tiểu đoàn, tiểu đoàn tăng cường, vị trí quận lỵ, chi khu, quân ta chỉ đánh trong 3 - 4 tiếng đồng hồ; có thành phố loại vừa, quân ta chỉ đánh trong 1 ngày rưỡi.


Ngoài chiến thuật đánh công sự vững chắc, đánh thành phố, ta còn xây dựng chiến thuật đánh địch tạm dừng ở dã ngoại. Chiến thuật này không phức tạp, luyện tập không công phu bằng chiến thuật đánh công sự vững chắc. Nhưng, cái khó của chiến thuật này là đánh tiêu diệt gọn. Quân địch ở trong công sự vững chắc có thể chạy khi có nguy cơ bị tiêu diệt, nhưng dù sao vẫn khó. Quân địch tạm dừng ở dã ngoại chạy dễ hơn, đường chạy nhiều hơn, "thời cơ" chạy cũng rộng rãi hơn, có khi chưa gặp nguy cơ bị tiêu diệt, chúng đã chạy rồi. Tư tưởng chỉ đạo của chiến thuật này cũng như của mọi chiến thuật là đánh tiêu diệt. Yêu cầu chính của chiến thuật này là không cho địch chạy, vì để địch chạy được là không tiêu diệt gọn, không thực hiện được đánh tiêu diệt. Biện pháp quan trọng của chiến thuật đánh địch tạm dừng ở dã ngoại là tập trung lực lượng đủ để vây lõng, có khi còn nhiều hơn cả lực lượng sử dụng trong chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc. Có thế mới thực hiện được thế bao vây rộng, bao vây hẹp, bao vây vòng trong vòng ngoài, bao vây nhiều tầng nhiều lớp, hình thành một cái lưới giãng ra kín chắc. Có hình thành một thế bao vây như thế, rồi mới thực hành công kích, đột phá, thì quân địch mới bị tiêu diệt và bị bắt sống, khó lọt lưới được. Sư đoàn 23 của địch tiến hành ngăn chặn, phản kích ở phía đông Buôn Ma Thuột và bị tiêu diệt ở Phước An, tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 bị tiêu diệt trên đường số 7, lữ đoàn dù số 3 bị tiêu diệt ở đèo Phượng Hoàng trên đường số 21 đã chứng minh hiệu quả của chiến thuật này.


Muốn đánh tiêu diệt thì cần có chiến thuật phù hợp. Nhưng muốn đánh tiêu diệt được triệt để thì lại cần phải có tư tưởng đánh gần, thể hiện cụ thể trong các thủ đoạn và động tác chiến thuật. Đánh gần thể hiện tính chiến đấu cao, tinh thần ngoan cường, dũng cảm của quân đội ta. Quân địch không có tư tưởng đánh gần, không đám đánh gần, vì tinh thần chiến đấu của chúng yếu kém. Trong đánh gần, khi mặt giáp mặt với quân địch thì quân ta có ưu thế tuyệt đối về tinh thần hơn địch. Khi đánh gần, mặt giáp mặt với địch, nắm lây thắt lưng, nắm lấy đầu địch mà đánh thì hỏa lực pháo binh, máy bay của địch rất bị hạn chế. Mỗi khẩu B.40, khẩu B.41, mỗi quả bộc phá của quân ta cũng có giá trị như một khẩu pháo, một trái bom. Trong đánh gần, các loại vũ khí bộ binh của ta có sức mạnh hơn hẳn các loại vũ khí bộ binh của địch. Chiến thuật đánh gần không phải chỉ được quán triệt và được vận dụng trong bộ binh và cho các loại vũ khí bộ binh. Các quân chủng và binh chủng khác của ta cũng quán triệt tư tưởng đánh gần và vận dụng chiến thuật này đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975, chiến thuật đánh gần của ta đã thực hiện được yêu cầu cao về đánh tiêu diệt và giành thắng lợi nhanh chóng. Trận Buôn Ma Thuột, khi bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, công binh của quân ta xuất hiện ở dầu các đường phố, ở rìa ngoại ô thị xã, quân địch mới biết chính xác là thị xã này đã bị bao vây và đang bị tiến công. Khi các binh đoàn binh chủng hợp thành của quân ta triển khai, tiến sát vào tới trước trận địa của địch, sức mạnh của các binh chủng của ta được tăng lên gấp bội. Về phía quân địch thì chúng đã bị một đòn đột ngột về tinh thần, bị cướp mất thời gian và bị chèn ép về không gian.


Quân địch tuy có chiến thuật đổ bộ hạ cánh đường không bằng máy bay lên thẳng, nhưng vẫn không thể phát huy được tác dụng trước chiến thuật đánh gần của quân ta. Khi quân địch đã bị quân ta bao vây gần, bao vây chặt thì máy bay lên thẳng của chúng không thể hạ cánh vào trong vòng vây để tăng viện hoặc bôc cháy được; thậm chí có trận chúng còn không thả được đồ tiếp tế. Trên tuyến bao vây, về lưới lửa phòng không, quân ta không phải chỉ có pháo cao xạ và súng máy cao xạ, mà còn có cả các loại súng trường, súng máy của bộ binh. Lưới lửa phòng không của các loại súng trường, súng tiểu liên, súng máy cũng rất dày đặc và lợi hại. Máy bay lên thẳng của địch đã khiếp sợ không dám bén mảng.


Nếu quân địch đổ bộ hạ cánh ở ngoài vòng vây để đến ứng cứu, chúng cũng không có sức mạnh, vì không có xe tăng và chỉ có một số ít pháo binh. Khi quân địch không có xe tăng, pháo binh hoặc có ít các loại binh khí đó, sức chiến đấu của chúng đã kém lại càng rất kém.


Đánh tiêu diệt và đánh gần là tư tưởng chiến thuật độc đáo và là ưu thế của quân đội ta. Nó có tính cách mạng và tính khoa học cao. Tư tưởng và cách đánh gần đã được vận dụng thắng lợi trong mọi chiến thuật của các quân chủng, binh chủng của quân đội ta. Nổi bật nhất là ta đã vận dụng vào chiến thuật đánh công sự vững chắc, đánh thành phố và đánh địch tiến công hoặc phản kích trong trạng thái tạm thời dừng lại ở ngoài dã ngoại. Thắng lợi giòn giã của các trận đánh tiêu diệt trong chiến dịch Tây Nguyên đã chứng minh điều đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #162 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:31:54 am »

KẾT LUẬN


Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mùa thắng lợi huy hoàng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, mùa lập nên chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm từ ngàn xưa đến nay của dân tộc ta.


Chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng. Nó tạo điều kiện thuận lợi và làm đà cho các chiến thắng lớn hơn tiếp sau, giành toàn thắng cho dân tộc. Mặt khác, chiến thắng Tây Nguyên lại năm trong thế tiến công mạnh mẽ của toàn chiến trường miền Nam, nằm trong thế thuận lợi của cả nước chung sức đánh giặc, quyết tâm giành thắng lợi, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Chính vì vậy chiến dịch Tây Nguyên đã hoàn thành nhiệm vụ và chiến thắng vẻ vang.


Những kinh nghiệm của chiến dịch Tây Nguyên là những kinh nghiệm của một hướng chiến lược, một chiến trường, một loại địa hình, trong giai đoạn đầu của chiến lược. Những kinh nghiệm đó phản ánh những cái riêng biệt của chiến dịch Tây Nguyên, song cũng phản ánh những cái phổ biến của toàn cuộc Tổng tiến công vồ nổi dậy mùa Xuân 1975 và của nghệ thuật chiến dịch nói chung. Vì vậy, chúng có thể góp phần vào việc tổng kết và khái quát những nguyên tắc và quy luật chung về chiến dịch, trong quá trình xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #163 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:34:37 am »

PHỤ LỤC


KẾT QUẢ CHIẾN ĐẤU CỦA TOÀN CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
TỪ 4-3 ĐẾN 3-4-1975



Quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã quân đoàn 2, một bộ phận lực lượng dự bị chiến lược, toàn bộ lực lượng địch ở Tây Nguyên và ở hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa.

Cụ thể là: tiêu diệt sư đoàn 23; lữ đoàn dù số 3; 7 liên đoàn quân biệt động (số 4, 6, 7, 21, 22, 23, 25); 4 trung đoàn thiết giáp (sô 9, 8, 21, 19); 11 tiểu đoàn và 11 đại đội pháo. Tiêu diệt và làm tan rã trung đoàn 40 (thiếu) của sư đoàn 22, một liên đoàn công binh và liên đoàn quân biệt động số 24. Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn (trong đó có 5 liên đoàn) và 51 đại đội bảo an, toàn bộ dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát 7 tỉnh. Đánh thiệt hại nặng sư đoàn 6 không quân ngụy.


Tổng cộng diệt và bắt sống 28.514 tên lính chủ lực ngụy (diệt 4.502 tên, có 165 sĩ quan; bắt sống 16.822 tên, có 779 sĩ quan từ chuẩn úy đến chuẩn tướng, phóng thích tại chỗ 7.190 tên).

Bắn rơi 44 máy bay, thu và phá 110 chiếc.

Thu và phá 17.183 súng các loại (có 9 khẩu pháo 175 ly, 30 khẩu 155 ly, 101 khẩu 105 ly), 767 máy thông tin các loại, 1.095 xe các loại (có 72 xe tăng, 52 xe bọc thép).

Thu toàn bộ kho tàng thiết bị chỉ huy, cơ sở sửa chữa của quân đoàn 2 ở Tây Nguyên và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa.

Giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa (có hai thành phố Nha Trang và Cam Ranh) thuộc Khu 5. Số dân trong vùng giải phóng có khoảng một triệu sáu trăm nghìn người (1.600.000).


KẾT QUẢ TRẬN TIẾN CÔNG THỊ XÃ BUÔN MA THUỘT

Tính cả trong và ngoài thị xã, ta tiêu diệt, làm tan rã và bắt sống 10.210 tên (riêng trong thị xã có 3.523 tên): bắt sống 5.197 tên, có 186 sĩ quan các cấp từ chuẩn úy đến đại tá (3 tên đại tá, trong đó có tên sư đoàn phó sư đoàn 23 và tên tỉnh trưởng Đắc Lắc); làm tan rã 1.490 tên.


Các đơn vị địch bị diệt ở trong thị xã có: sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 23 cùng các đơn vị trực thuộc (tiểu đoàn 23 thông tin, tiểu đoàn 23 công binh, tiểu đoàn 23 vận tải, tiểu đoàn 23 tiếp vận, đại đội 23 trinh sát, đại đội 23 vận tải, đại đội 23 thông tin hữu tuyến điện, đại đội 154 thông tin vô tuyến điện); ban chỉ huy thiết đoàn 8, chiến đoàn 3 thiết đoàn 8; liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu); tiểu đoàn 1 trung đoàn 53; lực lượng bảo vệ hậu cứ trung đoàn 45; các tiểu đoàn 230, 232 pháo binh và số lính đang huấn luyện; 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ, 2 đại đội cảnh sát, cơ quan ngụy quân, ngụy quyền tỉnh; 1 đại đội máy bay lên thẳng và nhân viên kỹ thuật.


Các đơn vị bị diệt và tan rã ở ngoài thị xã có: cơ quan chỉ huy, nhân viên kỹ thuật, cảnh sốt sân bay Hòa Bình; ban chỉ huy trung đoàn 53, tiểu đoàn 3 trung đoàn 53, đại đội 45 trinh sát; 1 tiểu đoàn và 4 đại đội bảo an; 57 trung đội dân vệ, cảnh sát quận, xã; 5 trung đội pháo hỗn hợp; 1 chi đội thiết giáp.


Ta thu được 3.215 súng các loại (có 42 khẩu pháo, súng cối); thu 355 xe ô tô, 24 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 386 xe các loại; thu 3.200 tấn đạn dược, hàng triệu lít xăng dầu.

Ta bắn rơi và phá hủy 50 mảy bay, gồm 30 máy bay A.37, 4 máy bay L.19, 13 máy bay lên thẳng, 3 máy bay C.130.
 

KẾT QUẢ TRẬN ĐÁNH QUÂN TĂNG VIỆN PHẢN KÍCH Ở KHU VỰC PHƯỚC AN - CHƯ CÚC

Tổng cộng, trên hướng đánh quân địch ra tăng viện, ta tiêu diệt và bắt sống 5.266 tên; thu 3.718 khẩu súng các loại (có 5 khẩu pháo 155 ly, 9 khẩu 105 ly), 170 xe vận tải GMC, 8 xe M.113, 127 xe giép và 1 máy bay lên thẳng.

Các đơn vị địch bị diệt có: sư đoàn 23 bộ binh ngụy (thiếu) gồm hai trung đoàn 44 và 45; các lực lượng bảo an dân vệ địa phương và tàn quân các nơi chạy về.


KẾT QUẢ TRẬN TRUY KÍCH ĐOÀN QUÂN ĐỊCH THÁO CHẠY TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7

Quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân địch rút chạy trên đường số 7 và quân địch co cụm ở Cheo Reo, Củng Sơn.

Cụ thể là: tiêu diệt 4 liên đoàn quân biệt động (số 22, 23, 6, 25); lữ đoàn kỵ binh số 2, 3 thiết đoàn (số 3, 19, 21); tiểu đoàn bộ binh số 4 thuộc trung đoàn 44; tiểu đoàn 89 thuộc liên đoàn quân biệt động số 21; sở chỉ huy nhẹ trung đoàn 44, cơ quan quân đoàn 2 và cơ quan sư đoàn 6 không quân, 6 tiểu đoàn pháo, liên đoàn 66 truyền tin, liên đoàn 20 công binh. Tiêu diệt và làm tan rã: 2 liên đoàn quân biệt động (số 4 và 7); 2 liên đoàn bảo an, nhiều trung đội, đại đội bảo an, cảnh sát và nhiều lực lượng ác ôn, bình định, chiêu hồi, tể điệp,... của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, quận Sơn Hòa tỉnh Phú Yên.


Loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục nghìn tên địch, có 14.729 tên lính chủ lực ngụy (diệt 1.044 tên; bắt sống 6.458 tên, có 538 sĩ quan từ chuẩn úy đến đại tá; gọi hàng 7.225 tên, có 97 sĩ quan từ chuẩn úy đến đại tá). Phóng thích hàng nghìn tên ở ngay tại trận, hàng chục nghìn tên ra trình diện với địa phương.


Ta thu 5.759 súng các loại (có 22 khẩu pháo 155 ly, 9 khẩu 175 ly, 48 khẩu 105 ly), 314 máy vô tuyến điện, 185 máy điện thoại (chưa kể số lượng địa phương thu được). Thu và phá hủy 2.000 xe các loại (có 207 xe tăng - xe bọc thép). Bắn rơi và bắn cháy 5 máy bay HU.1A và một máy bay A.37.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #164 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:36:32 am »

TÌM HIỂU VỀ TỔ TIÊN TA ĐÁNH GIẶC1
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1977)

Lời nhà xuất bản


Dân tộc Việt Nam ta đã có hơn bốn nghìn năm lịch sử vẻ vang.

Đất nước Việt Nam đã có hàng mấy chục thế kỷ lịch sử đấu tranh anh dũng, quật cường và bất khuất.

Đó là lịch sử của một dân tộc anh hùng mà sự sống còn và phát triển luôn luôn gắn liền với lịch sử của những cuộc đấu tranh lâu dài chống kẻ thù xâm lược.

Điều đó ngày nay cả thế giới đều công nhận và nhất là được thực tế lịch sử của dân tộc ta đã chứng mình một cách rất sinh động.

Nước Việt Nam chúng ta nằm ở ven biển Thái Bình Dương, cửa ngõ quan trọng đi vào lục địa Đông nam châu Á, nên suốt bao thế kỷ nay bọn xâm lược phong kiến và đế quốc luôn luôn nhòm ngó và xăm lăng. Nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Có thể nói từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã đời này qua đời khác, bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tô quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ...


Ngày nay dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân ta đã phát huy cao độ truyền thống anh hùng của dân tộc kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiến lên giành được những thắng lợi hết sức to lớn. Dân tộc ta đã làm cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam châu Á. Dân tộc ta đã đánh thắng oanh liệt hai cường quốc đế quốc là Nhật và Pháp. Dân tộc chúng ta đã đánh thắng, đang đánh thắng và nhất định đánh thắng hoàn toàn cường quốc đế quốc đầu sỏ - đế quốc Mỹ - tên hung nô của thời đại, kẻ thù số một của dân tộc ta và của cả loài người tiến bộ.


Thắng lợi đó không tách khỏi truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc. Và truyền thống đó bao giờ cũng là một nhân tố tạo thành sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta. Ngày nay, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc trên cơ sở tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân, vẫn luôn luôn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp trước kia cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hiện nay. Vì vậy vấn đề nghiên cứu, học tập và phát huy truyền thống dân tộc luôn luôn là một đòi hỏi khách quan, một nhiệm vụ quan trọng đối với quân và dân ở trên cả hai miền Nam, Bắc nước ta.


Để đáp ứng yêu cầu đó, một trong những việc làm vừa qua của Quân giải phóng Tây Nguyên là nghiên cứu, biên soạn và xuất bản (1971) cuốn sách Tổ tiên ta đánh giặc với nội dung:

- Một số cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trong lịch sử.

- Một số vấn đề nghiên cứu về truyền thống của dân tộc ta.

Trong điều kiện chiến đấu hết sức khẩn trương và gian khổ mà cuốn sách được xuất bản ngay tại chiến trường là một sự cố gắng rất lớn. Tuy nhiên cũng vì trong điều kiện chiến đấu như vậy nên cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế nhất định.


Để phục vụ bạn đọc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in lại cuốn Tổ tiên ta đánh giặc của Quân giải phóng Tây Nguyên dưới tên Tìm hiểu về tổ tiên ta đánh giặc.

Xin trân trọng giới thiệu với các đồng chí và các bạn.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #165 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:38:31 am »

VIỆT NAM, DÂN TỘC ANH HÙNG


Nước Việt Nam nằm ở miền Đông nam châu Á, ven biển Thái Bình Dương.

Từ hàng chục vạn năm nay, người Việt Nam đã sinh sống trên khoảng đất đai gồm phần lớn miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Đến thế kỷ thứ XVII, đất nước Việt Nam đã bao gồm cả miền nam Trung Bộ và Nam Bộ ngày nay.


Từ đó đến nay, lãnh thổ thống nhất của nước ta đi từ điểm cực bắc, là chòm Lũng Cú trên cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), đến điểm cực nam là xóm Rạch Tàu trên mũi Cà Mau, diện tích 334.334km2. Trên lãnh thổ thống nhất đó đã sinh sống và phát triển các dân tộc hợp thành dân tộc Việt Nam thống nhất cùng chung một lịch sử, một nền văn hóa, dân số hiện nay trên 31 triệu người.


Từ khi có lịch sử dân tộc, mở đầu bằng quốc gia Văn Lang, hơn bốn mươi thế kỷ đã trôi qua. Bốn nghìn năm lịch sử ấy là bốn nghìn năm dân tộc ta đấu tranh anh dũng kiên cường, liên tục, bền bỉ, chinh phục thiên nhiên hà khắc và chống sự xâm lược của nước ngoài để sống còn và phát triển.


Thế kỷ thứ III trước công nguyên, An Dương Vương thành lập nước Âu Lạc, đóng đô tại Phong Khê (Cổ Loa, thuộc Hà Nội ngày nay). Trong lần đánh xuống phương Nam của tên Tần Thủy Hoàng, năm 218 trước công nguyên, một bộ phận trong 50 vạn quân Tần đã tiến đánh nước ta, bị nhân dân ta anh dũng chống lại. Năm 180 trước công nguyên, Triệu Đà, một tướng của nhà Hán, tiến quân đánh chiếm Âu Lạc. Quân dân ta nhiều lần đánh bại quân xâm lược, nhưng rồi nước ta lại rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc. Dân tộc ta mất nền độc lập bắt đầu từ đó.


Nhưng dân tộc ta quyết không chịu làm nô lệ, nhân dân ta quyết không chịu mất nước. Trong gần 12 thế kỷ, từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ X, dân tộc ta đã hàng trăm lần anh dũng nổi dậy nhằm lật đổ ách thống trị của nước ngoài, khôi phục quyền làm chủ đất nước mình. Trong đó có nhiều cuộc nổi dậy rất lớn, trên quy mô cả nước.


Thế kỷ thứ I, năm 40, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, dân tộc ta đã vùng lên giành 65 thành, lật đổ bọn thống trị, khôi phục nền tự chủ trong ba năm. Sau đó lại bị nhà Hán đặt ách nô dịch.

Tiếp theo những cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt (năm 160), Lương Long (năm 178), là cuộc nổi dậy anh dũng của nhân dân ta năm 218, dưới sự lãnh đạo của Bà Triệu.

Tiếp đó, năm 541, Lý Bôn nổi dậy lật đổ ách thống trị của nhà Lương, khôi phục chủ quyền dân tộc, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Ba năm sau, quân Lương tiến sang xâm lược. Quân và dân ta chống đánh quyết liệt, nhưng Lý Bôn phải rút về Khuất Lão (Hưng Hóa, thuộc Vĩnh Phú ngày nay) trao binh quyền cho Triệu Quang Phục. Trong nhiều năm liên tiếp, Triệu Quang Phục dựa vào đầm Dạ Trạch (thuộc Hải Hưng ngày nay) làm chỗ đứng chân, chuyển sang không trực tiếp đối diện chiến đấu chống địch, mà ngày thì ẩn, đêm đánh úp, làm địch mệt mỏi suy yếu, cuối cùng tiến lên đánh lớn, quật ngã quân thù, thu phục thành Long Biên, giải phóng đất nước. Nhà nước Vạn Xuân tồn tại đến năm 602 thì bị nhà Tùy thôn tính.


Năm 722, Mai Thúc Loan liên minh với các nước Lâm Ấp và Chân Lạp nổi lên đuổi bọn thống trị nhà Đường, nhưng sau đó đã bị quân Đường tăng viện đánh bại. Tiếp đó là cuộc nổi dậy của Phùng Hưng năm 791. Trước sự xâm lược tàn bạo của quân thù, nhân dân các dân tộc trong cả nước ta đều một lòng đứng dậy đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong thời kỳ này nhân dân Tây Bắc cũng quật cường đứng dậy chiến đấu diệt thù. Nhân dân Thái có các lãnh tụ Lý Tự Tiên và Dương Thanh đều cùng lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược. Đến đầu thế kỷ thứ X, nhân lúc chính quyền thống trị đang suy yếu trầm trọng, năm 905, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy lật đổ chính quyền đô hộ, tiến quân chiếm lấy thành Tống Bình (thuộc miền Hà Nội ngày nay) quét sạch quân Đường mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Cuối năm 931, Dương Diên Nghệ đã quét sạch quân Nam Hán khôi phục chủ quyền dân tộc.


Năm 938, Nam Hán phái quân đội xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, quân và dân ta đã chiến đấu rất anh dũng, giành chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, tiêu diệt phần lớn quân xâm lược, kết thúc trên mười hai thế kỷ bị nô dịch và mở ra giai đoạn lịch sử mới: dân tộc ta hoàn toàn giành lại nền độc lập, quyền làm chủ đất nước và sự toàn vẹn về lãnh thổ.


Trong hơn mười hai thế kỷ trên, dân tộc ta luôn luôn tỏ ra kiên cường bất khuất, anh dũng vùng lên, do thiếu kinh nghiệm nên tạm thời thất bại, lại quật khởi nổi dậy, nhân dân ta đã dùng vũ lực chống lại vũ lực của quân thù, cho đến lúc hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị của phong kiến nước ngoài, hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình. Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938 biểu hiện rực rỡ về sự kết hợp chặt chẽ của tinh thần anh dũng kiên cường và mưu trí sáng tạo của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã quyết định thắng bại trong cuộc vật lộn trường kỳ quyết liệt, giữa dân tộc ta và bọn xâm lược thống trị nước ngoài trên hơn một nghìn nàm lịch sử.


Năm 981, nhà Tống phái quân sang xâm lược nước ta. Trên ải Chi Lăng và sông Bạch Đằng, Lê Hoàn đã đánh bại hoàn toàn quân Tống giữ vững nền độc lập dân tộc. Nước ta bước vào thời kỳ chế độ phong kiến tập quyền.


Giữa thế kỷ XI, nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Lý Thường Kiệt, từ năm 1075 đến năm 1077, quân và dân ta đã đập tan mưu đồ đó, chủ động đánh đòn phủ đầu mãnh liệt vào căn cứ tiến quân của địch, rồi chặn đứng quân xâm lược trên đất nước ta, chuyển sang phản công anh dũng, quét sạch quân Tống ra khỏi bờ cõi.


Đến thời Trần, trong khoảng ba mươi năm, dân tộc ta đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, đẩy lùi ba lần tiến quân xâm lược của quân Nguyên, một đế quốc thuộc loại mạnh nhất thời ấy đang thống trị toàn Trung Quốc và trên nửa châu Âu. Chiến thắng vang dội Đông Bộ Đầu (1258), Tây Kêt, Vạn Kiếp (1285), Bạch Đằng - Nội Bàng (1288) là những chiến thắng nổi tiếng hết sức oanh liệt, tiêu diệt hàng mây chục vạn quân hung nô xâm lược. Trong thời nhà Trần đánh quân Nguyên, ở Lạng Sơn có Nguyễn Lộc lãnh đạo nhân dân địa phương đánh đằng sau quân Nguyên khi chúng đã tiến qua Lạng Sơn về Thăng Long.


Ở Vĩnh Phú (cũng trong thời nhà Trần) có Hà Đặc và Hà Chương cũng lãnh đạo nhân dân các dân tộc ở địa phương đứng lên đánh quân Nguyên.

Năm 1407, nhà Minh cất quân xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến của nhà Hồ bị thất bại. Nhân dân ta liên tục vùng lên. Và chỉ mười năm sau, cờ khởi nghĩa lại phất lên từ Lam Sơn. Trải qua mười năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, dân tộc ta liên tục tiến công, tiêu diệt hết đạo quân này đến đạo quân khác của địch, mở rộng vùng giải phóng, tiến lên hoàn toàn tiêu diệt địch ở Chi Lăng - Xương Giang; buộc 10 vạn quân địch còn lại đầu hàng, kết thúc hai mươi năm thống trị của nhà Minh (1427).


Hơn ba thế kỷ sau, nước ta đứng trước nguy cơ bị nhà Mãn Thanh thống trị. Năm 1789, đạo quân nông dân đầy nhuệ khí đã từng quật đổ nền thống trị của bọn phong kiến phản động Nguyễn, Trịnh, Lê, dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã cùng toàn dân làm nên chiến công hiển hách, trong khoảng năm ngày, chiến đấu mãnh liệt và thần tốc, với trận Ngọc Hồi - Đống Đa oanh liệt, tiêu diệt 20 vạn quân xâm lược, giữ vững độc lập thống nhất của dân tộc chấm dứt nạn xâm lược của phong kiến phương Bắc luôn luôn đe dọa dân tộc ta từ trên hai mươi thế kỷ.


Đến thế kỷ thứ XIX, dân tộc ta lại đứng trước một kẻ thù mới: chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Năm 1858, đế quốc Pháp được đế quốc Tây Ban Nha giúp sức, bắt đầu xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng từng bước; đến năm 1883 đã hoàn toàn bán nước ta cho bọn đế quốc Pháp. Nhưng ngay từ khi quân xâm lược đặt chân vào nước ta, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên cầm vũ khí đánh quân thù. Trương Định phất cao cờ khởi nghĩa, liên tục đánh địch trên miền đồng bằng rộng rãi của Nam Bộ, đã từng nhiều lần đánh bại thủy quân và lục quần của quân viễn chinh Pháp. Từ Hương Sơn, Phan Đình Phùng đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy đánh địch trên mười năm. Hoàng Hoa Thám dựa vào vùng Yên Thế, đã cùng nông dân phất cao cờ nghĩa, anh dũng bền bỉ tiêu hao, tiêu diệt địch trong hơn ba mươi năm. Ma Trang Lơn ở Đắc Lắc (Tây Nguyên) đã lãnh đạo nhân dân Tây Nguyên đứng lên chống Pháp một cách kiên cường bất khuất hàng chục năm trời ở vùng rừng núi hiểm trở. Và còn rất nhiều nhà yêu nước khác ở miền đồng bằng cũng như trên miền núi, đã bền bỉ vùng lên chống nền thống trị của thực dán Pháp. Vì không có một đường lối đúng đắn lãnh đạo, những cuộc khởi nghĩa anh dũng đó đã lần lượt bị thất bại, nhưng vũ khí của quân thù không bao giờ dập tắt nổi ngọn lửa yêu nước, tinh thần dân tộc của nhân dân ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #166 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:44:56 am »

Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, phất cao ngọn cờ lãnh đạo cách mạng, phát động một phong trào giải phóng dân tộc sôi nổi với đỉnh cao là Xô-viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931). Kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời học tập những kinh nghiệm quý báu của các đảng anh em, Đảng Cộng sản Đông Dương ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn để giải phóng nhân dân; kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc, của phong kiến, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, đem lại ruộng đất cho dân cày và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Mười lăm năm sau khi ra đời, Đảng đã nhằm lúc quân đội Xô-viết anh hùng đánh thắng bọn phát xít Nhật, lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam châu Á.


Chưa đầy một tháng sau, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài và cực kỳ anh dũng chống bọn thực dân Pháp xâm lược có đế quốc Mỹ giúp sức và cuối cùng đã giành được thắng lợi vĩ đại Điện Biên Phủ, chấn động hoàn cầu, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.


Từ năm 1954, nhân dân ta tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh yêu nước để giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tiến tới thực hiện thống nhất nước nhà.


Ở miền Bắc, sau khi hoàn thành thắng lợi cải cách ruộng đất, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, từng bước xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hiện, nay vừa chiến đấu vừa sản xuất, miền Bắc nước ta tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đánh bại "chiến tranh phá hoại" bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.


Ở miền Nam, sau thắng lợi của "đồng khởi", nhân dân ta đã đánh thắng cuộc "chiến tranh đặc biệt" và đang đánh thắng cuộc "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ và bẽ lũ tay sai, lập nên những kỳ công chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh anh dũng kiên cường của dân tộc từ trên bốn nghìn năm nay.


Chỉ trong một thời gian lịch sử ngắn ngủi, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã liên tục đánh thắng chủ nghĩa quân phiệt của đế quốc Nhật, chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp và đang đánh thắng chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ.


Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã chiến đấu anh dũng kiên cường, không hề mệt mỏi, đã chiến thắng oanh liệt, vẻ vang, giữ vững độc lập của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc.

Từ An Dương Vương lập nước đến nay, chỉ tính những cuộc chiến tranh (tự vệ và giải phóng) lớn, có quy mô cả nước, dân tộc ta đã trải qua hàng chục cuộc chiến tranh quyết liệt một mất một còn với mọi kẻ thủ, để giữ gìn độc lập, thống nhất. Rất nhiều lần nổi dậy lật đổ ách thống trị của nước ngoài. Trong hàng chục lần đứng lên chống lại sự xâm lược vũ trang của giặc ngoài, có một số lần tạm thời thất bại còn phần lớn lần thành công hiển hách, với những chiến công oanh liệt Bạch Đằng, sông Cầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa, Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Điện Biên Phủ... lịch sử dân tộc ta nói lên rằng, một dân tộc người không đông, đất không rộng, nhưng anh dũng kiên cường, quyết đánh quyết thắng, có đường lối đúng đắn lãnh đạo, có nỗ lực chủ quan phi thường, thì nhất định có thể đánh bại mọi quân thù.


Đặc điểm và nội dung chủ yếu của các cuộc chiến tranh đó như sau:

- Cuộc chiến tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một cuộc khởi nghĩa vũ trang, một cuộc đồng khởi, khởi nghĩa cả nước, ở cả trung ương và các địa phương. Quân thù bị đánh đổ ngay, không chống cự nổi, không ứng cứu lẫn cho nhau được. Đó là một cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thắng lợi.


- Cuộc chiến tranh do Lý Bôn và Triệu Quang Phục lãnh đạo cũng là một cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thắng lợi. Sau đó lại tiếp tục tiến hành một cuộc chiến tranh du kích và rồi từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung; cuối cùng giành được thắng lợi, giữ vững được nước non bờ cõi.


- Cuộc chiến tranh do Lý Thường Kiệt tiến hành là một cuộc chiến tranh chính quy, đánh tập trung, có cả đánh trận địa và đánh vận động.

Tư tưởng chỉ đạo tác chiến rất tích cực có tư tưởng tiến công cao; đánh phủ đầu quân địch đang chuẩn bị tiến công ta, phá tiến cuộc tiến công của địch ngay trong trứng nước.

Phòng ngự trận địa kết hợp với phản công để tiêu diệt địch, đánh bại cuộc tiến công của địch.


- Cuộc chiến tranh dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo là một cuộc chiến tranh chính quy kết hợp với chiến tranh du kích, đánh vận động là chủ yếu kết hợp với đánh thành, đánh trận địa.

Về chỉ đạo chiến tranh, xác định được đường lối và nguyên tắc chỉ đạo đánh một kẻ địch mạnh hơn mình, mạnh nhất thế giới thời kỳ bấy giờ, là nhử địch vào sâu, phân tán chia cắt quân địch, vừa đánh vào sinh lực, vừa đánh vào tiếp tế, làm cho địch khó khăn, mệt mỏi, khốn quẫn về các mặt, rồi tập trung lực lượng tiêu diệt từng bộ phận, từng cánh quân đi đến tiêu diệt hoàn toàn.


Nhìn chung về cả chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cuộc chiến tranh là một cuộc chiến tranh vận động, tính cơ động về mặt chiến lược cao. Nhưng về mặt chiến dịch và chiến thuật cũng có kết hợp một phần với đánh thành, đánh trận địa khi cần thiết.


- Cuộc chiến tranh do Lê Lợi chủ trương là một cuộc chiến tranh du kích lâu dài. Từ đánh du kích tiên lên đánh tập trung. Những vấn đề chiến lược quan trọng là xây dựng lực lượng, tổ chức các thứ quân, xây dựng căn cứ địa, đánh quân địch yếu trước, đánh quân địch mạnh sau.

Về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật chủ yếu là đánh vận động. Trong chiến thuật thì lấy phục kích là chủ yếu, khi cần có tập kích và rất ít đánh thành.


- Cuộc chiến tranh do Quang Trung lãnh đạo là một cuộc chiến tranh chính quy, đánh tập trung cao và chủ yếu là đánh công thành, đánh trận địa, có kết hợp đánh vận động khi cần thiết.

Về chiến lược là một cuộc chiến tranh cơ động rất cao. Về chiến dịch và chiến thuật thì chủ yếu là đánh công thành, sức đột phá trong tiến công rất mạnh, kết hợp với nghệ thuật bao vây vu hồi rất tài tình. Nghệ thuật bao vây vu hồi của Quang Trung không những chỉ thực hành trong chiến dịch mà còn thực hành cả về chiến lược. Đó là tư tưởng tiến công rất tích cực, tư tưởng đánh tiêu diệt rất cao, đánh tiêu diệt triệt để.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #167 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:15:31 am »

Phần thứ nhất
MỘT SỐ CUỘC CHIẾN TRANH
CHỐNG NGOẠI XÂM TRONG LịCH SỬ
1
(Đề mục này chúng tôi thêm vào (Nxb QĐND))


I. CHIẾN TRANH TỰ VỆ THỜI LÝ CHỐNG TỐNG (1075-1077)

Đầu thế kỷ thứ X, triều Lý được thành lập đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của nước ta. Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp khá phát triển với những công trình thủy lợi và hệ thống đê điều đã được mở mang, chế độ phong kiến trung ương tập quyền được củng cố và hoàn bị dần dần. Nước Đại Việt với kinh đô mới là Thăng Long - nơi trung tâm của đất nước - đã trờ thành một quốc gia hoàn chỉnh có chính quyền trung ương vững chắc, có lực lượng vũ trang khá mạnh.


Thời kỳ ấy, nhà Tống đã làm chủ Trung Quốc, nhưng luôn luôn bị nạn uy hiếp, xâm lấn của hai nước Liêu, Hạ, ở phía bắc, mà không sao trừ diệt được. Cho nên nhà Tống chủ trương thực hiện chính sách "trước Nam, sau Bắc", tức là đánh nước ta ở phía Nam trước, để gây thanh thế và sức mạnh, khiến có thể đánh thắng Liêu, Hạ ở phía Bắc sau. Do đấy, nhà Tống đã luôn luôn dòm ngó nước ta và đã thực tế bắt tay vào việc chuẩn bị xâm lược.


Chúng mua chuộc, chia rẽ các dân tộc miền núi với nhân dân miên xuôi, cắt đứt quan hệ buôn bán giữa hai nước, luyện binh đổi tướng, đóng thuyền, tích trữ quân lương, quấy rối biên giới, lôi kéo Chiêm Thành. Ba châu Ung - Khâm - Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) đã trở thành những căn cứ rất quan trọng, nơi tập trung quân đội, lương thực, khí giới chuẩn bị cho cuộc xâm lược sắp tới.


Nắm được âm mưu của giặc, nhà Lý cũng ra sức chuẩn bị đối phó. Đối với dân, đi đôi với những biện pháp kinh tế để phát triển sản xuất nông nghiệp, triều Lý nới rộng luật lệ, giảm thuế, tranh thủ nhân dân miền núi. Về mặt quân sự: tích cực luyện binh, tập trận, tãng cường lực lượng phòng thủ biên giới ở cả hai mặt bắc - nam. Ngoài ra dùng một số biện pháp như tăng cường đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo, hậu đãi các lão thần, mở khoa thi tuyển nhân tài...


Sang năm 1075, dân tộc ta đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.


1. Để chặn thế mạnh của giặc, quân đội Đại Việt tiến công Ung - Khâm - Liêm

Trước âm mưu và hành động chuẩn bị xâm lược ngày càng nghiêm trọng rõ rệt của Tống, Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt chủ trương: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước chặn thế mạnh của giặc". Theo ông thì trước khi Tống khởi sự, ta nên đánh vào các châu Ung - Khâm - Liêm là những căn cứ quan trọng của giặc để đánh sang ta, nhằm làm suy yếu sức tiến công của chúng, do đó mà đạt được mục đích của chiến tranh tự vệ. Chủ trương này được triều đình tán thành.


Nhằm đúng lúc Tống đang gặp nhiều khó khăn lớn, trong thì nhân dân chống đối, ngoài thì Liêu, Hạ uy hiếp, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân tiến vào đất Tống.

Trước tiên, dùng 4 vạn quân (gồm phần lớn thổ binh, tiến công ở dọc biên giới, nhằm thu hút lực lượng địch). Sau đó 6 vạn đại quân vượt biển, bất ngờ đổ bộ đánh chiếm các cảng Khâm (Khâm Châu), Liêm (Hợp Phổ), rồi tiến về phía thành Ung (Nam Ninh) hợp với đạo quân từ phía biên giới theo hướng Vĩnh Bình đánh sang.


Ngày 15 tháng 9 (26-10-1075) suốt dọc biên giới từ Quảng Uyên (Cao Bằng) tới Vĩnh An (Móng Cái) quân ta bất ngờ tiến công phá hủy các đồn trại và tiêu diệt nhiều binh lính, tướng lĩnh địch. Bị đánh bất ngờ, triều đình Tống không kịp đối phó.


Ngày 20 tháng 10 (30-12-1075), đại quân ta đổ bộ lên cảng Khâm. Địch hoàn toàn bị bất ngờ và bị tiêu diệt toàn bộ. Bốn ngày sau, một cánh quân khác của ta đổ bộ bất ngờ vào cảng Liêm, hạ luôn thành này. Từ châu Liêm, một bộ phận quân ta tiến lên Ung Châu nhằm chặn viện binh địch từ phía đông kéo tới.


Trên hai hướng, 10 vạn quân Đại Việt tiến sâu vào đất Tống, nhằm hướng chung là thành Ung. Trên đường hành binh, với danh nghĩa chính đáng là chỉ đánh quân Tống để giữ nước và đưa quân tới để cứu dân, quân đội Đại Việt đã tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của nhân dân Tống.


Ngày 10 tháng Chạp (18-1-1076), đại quân ta đã vây chặt thành Ung.

Trước thế tiến công hết sức bất ngờ và mạnh mẽ của quân ta, triều Tống lúc đầu rất bị động, lúng túng. Nhưng sau đó, chúng cho rằng: đại quân ta kéo vào đất Tống, trong nước tất trống rỗng có thể nhân cơ hội này mà đánh úp, sau đó sẽ tập trung lực lượng tiêu diệt đại quân Lý Thường Kiệt.


Thực hiện âm mưu trên, một mặt chúng lo đối phó với quân ta ở trước mặt (di chuyển kho tàng, cố thủ các thành quan trọng, tăng viện, v.v...), một mặt chúng điều động quân đội, chọn tướng lĩnh thành lập "An Nam hành doanh" chỉ huy đại binh tiến thẳng sang ta.


Trong kế hoạch trên, việc giữ được thành Ung là điểm then chốt, vì đó là căn cứ chính của địch để đánh ta, đó là nơi kìm chân quân đội Đại Việt, nên địch kiên quyết giữ. Về phía ta, nhận rõ tầm quan trọng của thành Ung, ta cũng kiên quyết đánh. Do đó trận chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt.


Đoán chắc địch có thể từ phía bắc kéo xuống cứu viện thành Ung Châu, nên ngay trong lúc đang vây đánh thành Ung, Lý Thường Kiệt đã phái một đạo quân quan trọng tiến lên phía Côn Lôn Quan (cách Ung Châu khoảng 40km về phía bắc) để chặn địch từ Quế Lâm kéo xuống và ngày 4 tháng Giêng, ta tiêu diệt được đạo viện binh địch ở Côn Lôn Quan. Ngày 23 tháng Giêng, sau 42 ngày vây hãm và tiến công quyết liệt, ta hạ thành Ung, diệt và bắt sống nhiều địch.


Nhận thấy những mục đích của cuộc tiến công đã đạt, nhiều lực lượng địch bị tiêu diệt, nhiều thành lũy lớn nhỏ bị san bằng, lương thực, khí giới bị hủy hoặc bị đoạt, sự chuẩn bị xâm lược của giặc bị phá vỡ nghiêm trọng, Lý Thường Kiệt quyết định lui quân về nước. Cuộc lui quân đúng lúc của ta không những đã bảo toàn được lực lượng mà còn phá luôn được cả kế hoạch nham hiểm của giặc định đánh úp nước ta. Tất cả những điều đó sẽ gây ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc tiến quân xâm lược của Tống vào Đại Việt sau này: chúng phải tiến quân trong những điều kiện chính trị, quân sự không lợi, trong một thế bị động khá sâu sắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #168 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:22:51 am »

2. Quân Tống xâm lược Đại Việt

Chật vật mãi, tới tháng 10 năm 1076, Tống mới điều động và dẫn được quân ra biên giới. Lực lượng có 10 vạn quân chiến đấu, 20 vạn quân tải lương. Quách Quỳ làm thống soái.

Kế hoạch của giặc là: đại quân sẽ tiến theo hướng Lạng Sơn, Thăng Long; thủy quân sẽ dọc theo ven biển vào sông Bạch Đằng; sau khi đánh tan các đạo quân thủy, bộ của ta, chúng sẽ hội quân, dùng thuyền vượt sông, đánh chiếm Thăng Long.


Về phía ta, sau khi rút quân về nước, biết rõ Tống sẽ sang xâm lược, quân dân ta cũng tích cực chuẩn bị đối phó. Kế hoạch như sau:

- Trên khu vực biên giới, chủ yếu sử dụng các lực lượng thổ binh, hương binh bố trí tại một số nơi như Quảng Uyên (Cao Bằng), Hạ Liêu và Cổ Lộng (vùng tiếp giới giữa Bắc Cạn và Thái Nguyên). Quyết Lý và Giáp Khẩu (tức Châu Ôn và Chi Lăng) có nhiệm vụ tiêu hao ngăn chặn địch. Quyết Lý và Giáp Khẩu là hướng quan trọng, được tăng cường một bộ phận quân triều đình do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy. Ven biển có thủy quân đóng căn cứ tại Vân Đồn (thuộc Quảng Yên) phối hợp với quân bộ đóng ở Ngọc Sơn (thuộc Móng Cái), có nhiệm vụ đánh chặn địch trên vùng biển Đông Kênh (ven biển Quảng Ninh ngày nay).

- Chiến tuyến chính là ở trung du, dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), đắp đê cao, có rào giậu chắc chắn, chạy dài từ sườn đông bắc dãy Tam Đảo đến sườn tây nam dãy Nham Biển (Yên Dũng, Hà Bắc) khoảng trên 200 dặm (chừng 100km). Dưới sông có thủy quân, trên thành có quân đóng và tuần tiễu, tập trung gần các bến đò quan trọng.


Đại quân gồm hai bộ phận: quân bộ đóng ở vùng Thiên Đức (giữa Bắc Ninh và Thăng Long), quân thủy có trên 400 chiến thuyên đóng tại vùng Vạn Xuân (Phả Lại ngày nay), cả 2 bộ phận đểu có thể sẵn sàng cơ động ra đánh địch ở các hướng.


Cuối tháng 11 năm 1076, chiến sự bắt đầu trên khu vực biên giới. Trước tiên, Quách Quỳ cử một đạo quân đánh chiếm Quảng Uyên, nơi y nhận định là "cổ họng" của nước ta. Nhưng chúng đã vấp phải sức chống trả mạnh mẽ của quân dân Quảng Uyên. Cuối cùng với thủ đoạn mua chuộc, ly gián, chúng đã lôi kéo được Lưu Kỳ, người chỉ huy ở khu vực ấy và chiếm được đất Quảng Uyên.


Ngày 11 tháng Chạp, đại quân Tống chia làm nhiều cánh vượt biên giới trên hướng Lạng Sơn, chiếm được các Châu Ôn, Quyết Lý, Quang Lang, Tô Mậu... Để tiến nhanh, Quách Quỳ cho đại quân vòng sang phía tây, lọt giữa hai đạo quân ta, theo đường tắt vượt qua dãy Bắc Sơn và tiến đến sông Phú Lương (sông Cầu, thuộc phần đất Thái Nguyên ngày nay). Đồng thời cho một bộ phận vòng đánh vào phía sau lưng Thân Cảnh Phúc. Thân Cảnh Phúc cho bộ phận chủ yếu của mình lại hướng Vạn Xuân, giữ liên hệ với thủy quân, bộ phận còn lại phân tán dựa vào rừng núi hiểm trở, dùng lối đánh tỉa, đánh úp, đánh lén, đánh phục các toán quân nhỏ, nhất là các đoàn tải lương của địch.


Sau một tháng tác chiến trên khu vực biên giới, ngày 21 tháng Chạp (18-1-1077), đại quân Tống đã tiến đến bờ bắc sông Cầu. Cánh phải do Miêu Lý chỉ huy tập trung trên đoạn bến Như Nguyệt, cánh trái do Quách Quỳ chỉ huy đóng ở Thị Cầu.


Nhưng trên biển, thủy quân địch đã bị ta đánh bại, phải rút về đóng ỏ cửa Đông Kênh (có thể là Tiên Yên ngày nay) cho tới hết chiến tranh.

Cuối tháng Chạp, Miêu Lý cho bắc cầu nổi, vượt sông tiến công, trên bến Như Nguyệt. Quân ta đánh lại quyết liệt. Nhưng có bộ phận địch đã đột nhập được chiến tuyến, ồ ạt tiến sâu. Kỵ binh đi trước của chúng có lúc đã đến cách Thăng Long khoảng 15 dặm, nhưng đã bị một bộ phận quân ta từ phía Thiên Đức cơ động tới bao vây tiêu diệt.


Chờ mãi không thấy thủy quân tới, Quách Quỳ phải cho đóng bè chở quân đánh sang. Cuộc tiến công lớn này lại bị thất bại hết sức nặng nề, đến nỗi Quách Quỳ phải quay về cố thủ bờ bắc và hạ lệnh "ai bàn đánh sẽ bị chém".


Để làm địch càng bị tiêu hao mệt mỏi, cả phía trước lẫn phía sau, ta đều tăng cường hoạt động, đánh lén, đánh úp... làm chúng phải bị động đối phó và sa vào thế thiếu thốn lương thực nghiêm trọng.

Nắm thời cơ địch tuy còn đông (8 vạn) nhưng sức lực, sĩ khí giảm sút, ý chí tiến công không còn, Lý Thường Kiệt cho bắt đầu phản công.

Trên đoạn từ đông Nham Biền đến tây Vạn Xuân, Hoằng Chân chỉ huy 400 chiến thuyền và vài vạn quân đánh sang tiến sâu vào đất địch. Địch liều chết chống lại và tung kỵ binh ra phản kích. Ta lui quân về bờ nam sau khi đã gây tổn thất lớn cho địch, đặc biệt là đội kỵ binh cơ động Quách Quỳ.


Nhân lúc địch tập trung đối phó ở phía cánh phải, Lý Thường Kiệt chỉ huy đại quân vượt sông Phú Lương, tiến công giặc cánh trái, thu được thắng lợi rất lớn. Theo Việt sử lược, trong trận này địch 10 phần đã bị giết 5, 6 phần.


Những thắng lợi liên tiếp của quân ta đã đẩy địch vào một tình trạng hết sức khốn quẫn. Từ tiến công chuyển vào phòng ngự, bị động chịu đòn, quân bốn phần đã mất ba, trước mặt cũng bị đánh, sau lưng cũng bị thổ binh, hương binh đánh. Lương thảo đã gần cạn, sức cùng, chí nản. Vua quan nhà Tống cũng hoang mang, mâu thuẫn giữa chủ hòa, chủ chiến càng tăng.


Nắm rõ tình hình trên, dựa vào sức mạnh và thanh thế đang lên của quân dân ta, để kết thúc chiến tranh một cách có lợi cho ta, Lý Thường Kiệt chủ động cử người sang gặp Quách Quỳ bàn hòa với điều kiện: toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất nước mà ta sẽ sang giao hảo và tu công.


Trước nguy sắp bị tiêu diệt, không còn con đường nào khác, Quách Quỳ vội nhận điều kiện trên và không chờ lệnh triều đình, y lập tức rút quân. Ta thu hồi toàn bộ đât đai, trừ Quảng Uyên, địch còn ngoan cố chống lại.


Tháng 2 năm 1077, 23.400 quân chiến đấu và 3.174 ngựa của Quách Quỳ đã về tới đất Tống. Trong hơn hai tháng chiến đấu anh dũng, ta đã tiêu diệt trên 19 vạn quân chiến đấu, tải lương và gần 6 nghìn ngựa của địch. Tính cả trận tiến công vào Ung - Khâm - Liêm, gần 30 vạn quân địch đã bị tiêu diệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #169 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:23:24 am »

3. Tiếp tục tiến công ngoại giao giành toàn vẹn lãnh thổ

Quyết không chịu để một bộ phận đất đai của ta lọt vào tay nhà Tống, trên cơ sở thắng lợi lớn về quân sự vừa qua, nhà Lý đã dùng ngoại giao liên tục tiến công trên hai năm, buộc Tổng phải trả hoàn toàn đất Quảng Uyên về với ta.


Cuộc đấu tranh đó rất gay go, có lúc đã căng thẳng cao độ. Lợi dụng những bất đồng trong nội bộ triều Tống và những khó khăn của Tống đang bị Liêu, Hạ uy hiếp ở phương Bắc, đi đôi với việc dùng lý lẽ đấu tranh, nhà Lý còn cho tập trung quân xung quanh Quảng Uyên làm áp lực kết hợp với đấu tranh của nhân dân ở bên trong và cuối cùng đã thu được thắng lợi. Năm 1079, sau khi được ta giao trả 221 tù binh, những tên xâm lược cuối cùng của Tống đã phải rút khỏi Quảng Uyên.


Sau này còn tiếp tục đấu tranh buộc Tống phải công nhận Đại Việt là một nước riêng biệt chứ không phải là một quận của Tông, vua Lý là một quốc vương chứ không phải là "Giao Chỉ quận vương" như vua Tống thường "phong".


Những cuộc đấu tranh ngoại giao nói trên đã thu hồi được toàn vẹn lãnh thổ và đã nâng cao địa vị của nước ta, của dân tộc ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM