Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 10:35:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 8556 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #150 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:48:25 am »

Chương bốn
Ý NGHĨA THẮNG LỢI VÀ MẤY VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ


Chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược.

Ta tiêu diệt một quân đoàn địch trong chiến dịch, đó là một đòn rất nặng làm cho chúng bị suy yếu nhanh chóng và nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tai hại tức thì đến toàn bộ lực lượng vũ trang của chúng.


Quân đoàn là đơn vị chiến lược của địch. Mất một quân đoàn là một thất bại chiến lược; mất một quân đoàn trong giai đoạn đầu của cuộc Tổng tiến công thì thất bại chiến lược đó lại càng có ảnh hưởng rộng lớn. Trước khi bước vào cuộc Tổng tiến công và trong thời kỳ mở đầu cuộc Tổng tiến công, lực lượng địch còn nguyên, trận địa địch còn có tổ chức, còn tương đối vững vàng, chưa bị xiêu vẹo và chưa bị phá vỡ, tinh thần địch còn ổn định và ngoan cố. Nhưng đến khi bị tiêu diệt lớn thì chúng bắt đầu có sự xáo động mạnh, đi đến chuyển biến xấu về nhiều mặt.


Ta tiêu diệt địch nhanh (tiêu diệt một quân đoàn trong khoảng 20 ngày, từ 4-3 đến 24-3-1975) làm cho sự chuyển biến diễn ra càng nhanh và càng mạnh, gây ra những tác động đột biến về phía địch.

Ta tiêu diệt địch ở ngay trong trận địa kiên cố, trên tuyến phòng ngự cơ bản và ở ngay trong các sào huyệt, các thành phố, thị xã,... làm cho trận địa phòng ngự chung và thế phòng ngự chung của chúng bị rung động dữ dội. Một sở chỉ huy cấp quân đoàn phải tháo chạy, một căn cứ quân sự liên hợp cấp quân đoàn buộc phải bỏ ngỏ càng làm cho hệ thống phòng ngự của địch bị rã rời và sụp đổ với một tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy.


Một lực lượng lớn bị tiêu diệt tất sẽ mất theo một vùng đất đai rộng lớn, có số dân đông; địa bàn địch kiểm soát tất bị thu hẹp và trận địa còn lại của chúng cũng bị uy hiếp mạnh. Đương nhiên, ý nghĩa quan trọng của vấn đề không phải chỉ có như vậy mà còn biểu lộ ở sự suy sụp về tinh thần và ý chí chiến đấu của địch cũng như sự thay đổi về so sánh lực lượng và thế trận chiến lược hai bên.


Thất bại của địch ở Tây Nguyên - một quân đoàn bị tiêu diệt, một vùng đất đai rộng lớn, một địa bàn chiến lược cơ động, có lợi thế về địa hình bị mất - là khởi điểm dẫn đến sự tan rã về chiến lược của chúng.


Tây Nguyên được giải phóng đã mở một cửa đột phá chiến lược về thế trận, đồng thời cũng mở một cửa đột phá chiến lược về tinh thần trên chiến trường. Sau thất bại Tây Nguyên, quân địch bắt đầu phải thực hiện rút lui chiến lược và co cụm chiến lược. Từ chiến lược phòng ngự toàn diện, có phản công bộ phận (phần lớn không thành công), chúng buộc phải chuyển sang chiến lược phòng ngự toàn diện, không còn phản công bộ phận nữa mà đã sa vào trạng thái phòng ngự rút lui - một hình thức phòng ngự yếu kém nhất, với xu thế tiêu cực một chiều, hoàn toàn bị động. Chiến lược phòng ngự đó của địch tất không thể không rơi xuống vực thẳm thất bại. Lần đầu tiên, một hiện tượng mới rất quan trọng về chiến lược, một chuyển biến về chất trong chiến lược đã xuất hiện trong cuộc chiến tranh này.


Từ chỗ quá chủ quan, tham lam và ngoan cố, bỗng đột ngột bị một đòn quá nặng, quân địch đã đi tới chỗ đột biến về tinh thần và chính trị, hoang mang mất phương hướng, bi quan chán nản, không còn tin tưởng ở mình nữa. Sự đột biến đó làm cho sức chiến đấu của chúng bị sa sút hẳn. Tâm lý thất bại bao trùm lên quân địch. Vì vậy, hễ thấy bóng dáng quân ta là chúng rơi ngay vào tâm trạng kinh hoàng, khiếp sợ.


Bị một đòn điểm huvệt choáng váng ở Buôn Ma Thuột, quân địch buộc phải rút bở Tây Nguyên, nhưng rồi đến lượt toàn bộ đoàn quân tháo chạy cũng lại bị tiêu diệt gọn. Rõ ràng, chúng đã bị thất bại, đã phạm sai lầm và mất đà về chiến lược - một nguy cơ mà lịch sử chiến tranh trước nay đều chứng minh ràng, đã sa vào đó thì khó lòng cứu vãn và gượng dậy nổi.


Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã tạo cho ta sức mạnh toàn diện mới, rất lớn. Nó giúp ta những kinh nghiệm quý giá và mở ra những tiền đề vô cùng thuận lợi để tiếp tục đẩy cuộc tiến công phát tnển mạnh mẽ. Điều quan trọng là nó đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về tinh thần - tư tưởng, về so sánh lực lượng, về thế chiến lược giữa ta và địch.


Về so sánh lực lượng đôi bên, thì sự mạnh yếu, hơn kém đã quá rõ ràng. Địch mất một quân đoàn, mất cả vùng Tây Nguyên rộng lớn, nghĩa là mất gần một phần tư lực lượng và đất đai. Song về tinh thần và thế chiến lược thì có thể chúng đã mất gấp mấy lần và đấy mới là cái mất lớn. Còn ta, nếu như trước chiến thắng Tây Nguyên, ta chỉ mạnh hơn địch một lần thì sau chiến thắng Tây Nguyên, có thể ta mạnh hơn chúng nhiều lần, mạnh hơn gấp bội.


Về thế chiến lược, thì sau chiến thắng Tây Nguyên quân ta có một bàn đạp rất vững chắc và cơ động, chiếm ưu thế về địa hình và thế trận hiểm sắc để đánh xuống đồng bằng, cắt toàn bộ trận địa địch ra làm đôi, và mở ra một hành lang chiến lược rất thuận lợi để tiến xuống Sài Gòn, đánh vào sào huyệt của địch. Thế chiến lược mới đó của ta đã đưa quân địch đến tình cảnh hết sức nguy hiểm, gây rối loạn và làm đảo lộn sự chỉ huy cũng như thế trận chiến lược của chúng. Trận địa địch bị cát làm đôi, trận địa chính bị uy hiếp, làm cho toàn bộ thế trận chiến lược của chúng trở nên không vững chắc, dễ bị sụp đổ.


Mất Tây Nguyên, địch phải nghĩ ngay đến việc phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn, từ bờ biển đến giáp biên giới phía tây; đồng thời cũng phải phòng thủ ngay tại Sài Gòn. Nhưng muốn làm được công việc đó thì phải có lực lượng và thời gian. Vì chiến tranh nhân dân của ta phát triển cao, quân ta đã xen kẽ sâu và chặt vào trong thế trận của địch, đã chia cắt chúng thành nhiều mảnh, nhiều cụm và đồng loạt tiến công mạnh mẽ nên chúng không thể hoàn thành công việc đó một cách cơ bản được.


Tiếp sau chiến thắng Tây Nguyên ít ngày là chiến thắng Huế - Đà Nẵng, chiến thắng Phan Rang và Xuân Lộc. Rồi chỉ sau ít ngày nữa lại đến chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng Sài Gòn.

Chiến thắng Tây Nguyên giúp ta thấy rõ khả năng của ta và của địch, giúp ta đánh giá được chính xác hơn lực lượng tinh thần cũng như nghệ thuật quân sự của địch. Qua chiến thắng Tây Nguyên, ta càng thấy rõ hơn sự suy yếu trầm trọng của địch về các mặt, thấy sự sụp đổ của địch trong một thời gian ngắn là không thể tránh khỏi.


Chiến thắng Tây Nguyên đã cổ vũ, động viên rất mạnh mẽ khí thế quân dân ta ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương, càng củng cố quyết tâm chiến đấu và lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của quân dân ta.

Chiến thắng Tây Nguyên cũng bồi bổ cho quân ta nhiều kinh nghiệm tốt về chiến dịch và chiến đấu. Chúng ta có thêm kinh nghiệm về đánh lớn, đánh tiêu diệt lớn, tác chiến tặp trung, sử dụng các binh đoàn lớn tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đánh thành phố trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh là yêu cầu cần thiết. Qua kinh nghiệm Phước Long, đầu năm 1975 đến Buôn Ma Thuột, chúng ta đã có một số kinh nghiệm đánh thành phố. Tốc độ tiến công cao, hành quân cơ động bằng cơ giới, chuyển lật cánh một cách nhanh nhẹn, hành động chiến đấu đúng thời cơ, cũng là những kinh nghiệm rất quan trọng và rất quý. Hành động chiến đấu tiếp theo sau đó của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trong các trận đánh hoặc các chiến dịch, đều phát triển theo phương hướng này ở một trình độ cao hơn. Chiến thắng Tây Nguyên đã tạo ra một bước ngoặt, một cục diện mới trong chiến tranh.


Chiến thắng Tây Nguyên là khỏi điểm dẫn đến sự tan rã và suy sụp về chiến lược của địch. Chiến thắng Tây Nguyên đã tạo cho quân dân ta những điều kiện thuận lợi để chuyển sang cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ngày càng phát triển mạnh mẽ trên khắp các chiến trường và giành thắng lợi ngày càng lớn. Chiến thắng Tây Nguyên là đòn chiến lược mở đầu, là trận then chốt về chiến lược tạo ra điều kiện và thời cơ cho các trận then chốt và quyết định tiếp theo giành thắng lợi lớn hơn và đi đến toàn thắng.


Chiến thắng Tây Nguyên là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, là thắng lợi của nền khoa học và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam. Hàng loạt vấn đề về chỉ đạo chiến lược liên quan đến chiến dịch Tây Nguyên cần được nghiên cứu sâu sắc, đòi hỏi nhiều thời gian và công phu. Dưới đây là một số trong những vấn đề nổi bật.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #151 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:48:55 am »

1. Đánh tiêu diệt chiến lược.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết vào tháng 1 năm 1973, so sánh lực lượng giữa ta và dịch tại miền Nam Việt Nam đã thay đổi về cơ bản. Quân đội ngụy Nguyễn Văn Thiệu càng bị lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Tuy nhiên, lực lượng chúng còn đông, đất đai chúng kiểm soát còn rộng, do đấy chúng vẫn ra sức mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm, phả hoại Hiệp định Pa-ri, với tham vọng giành lại quyền chủ động chiến lược. Giữa năm 1973 đến tháng 1 năm 1975, ta liên tiếp mở nhiều đòn trừng phạt nghiêm khắc để cảnh cáo quân đội ngụy và đập tan các mưu mô "hồi sức" của chúng. Tại Tây Nguyên, ta đã tiêu diệt nhanh gọn vị trí Chư Nghé (Lệ Minh) vào ngày 23 tháng 9 năm 1973, đánh thắng nhiều trận khác trên chiến trường Tây Nguyên và đồng bằng quân khu 5 vào mùa xuân và mùa thu năm 1974. Đến tháng 1 năm 1975, ta thắng lớn tại Phước Long, giải phóng thị xã Phưỡc Long. Khả năng tiêu diệt các đơn vị lớn quân địch, giải phóng các thị xã và thành phố lớn đi đến tiêu diệt toàn bộ lực lượng vũ trang địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc đã xuất hiện. Vấn đề đánh những trận tiêu diệt chiến lược, tiến hành quyết chiến chiến lược bằng các chiến dịch lớn, bằng các lực lượng tập trung lớn để tiêu diệt từng mảng lớn lực lượng vũ trang địch, giải phóng từng mảng lớn đất đai nhằm đạt đến mục tiêu thắng lợi cuối cùng đã được Bộ Chính trị đặt ra.


Trong những năm 1973-1974, ta chỉ đánh tiêu diệt các cứ điểm, cụm cứ điểm cấp tiểu đoàn, tiểu đoàn tăng cường, giải phóng một số quận lỵ, chi khu và vào đầu năm 1975, giải phóng một thị xã nhỏ. Năm 1975, ta phải đánh tiêu diệt lớn hơn, giải phóng những thị xã, thành phố vừa và lớn ở những vùng dân cư đông đúc hơn, có địa bàn chiến lược quan trọng hơn. Muốn đánh tiêu diệt chiến lược và thực hành quyết chiến chiến lược, cần phải tổ chức những binh đoàn lớn và tiến hành tác chiến bằng những binh đoàn lớn. Có thế mới tiêu diệt được các sư đoàn, quân đoàn địch, giải phóng được các thị xã lớn, thành phố, thậm chí cả thủ đô của địch.


Chiến trường Tây Nguyên được chọn làm nơi đầu tiên thực hiện chủ trương trên. Ta đã tập trung cho chiến dịch Tây Nguyên nhiều binh đoàn và binh chủng thiện chiến, với số lượng đông hơn địch để có đủ khả năng hoàn thành thắng lợi một đòn chiến lược quan trọng, mở đầu thuận lợi và làm đà, tạo thế thôi động cho các đòn chiến lược then chốt, quyết định tiếp theo của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã tiêu diệt bảy vạn quân địch, cơ bản loại khòi vòng chiến đấu một quân đoàn chủ lực địch trong hai mươi ngày đêm. Sự kiện này có ý nghĩa và tác dụng của một trận tiêu diệt chiến lược, giành dược thắng lợi nhanh, gọn, lớn và rất quan trọng. Đó cũng là trận mở đầu có giá trị chiến lược, tạo ra được tác dụng then chốt thúc đẩy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy phát triển.


Quy luật đánh tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược được vận dụng thắng lợi ở Tây Nguyên đã tiếp tục phát huy tác dụng mạnh mẽ trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Và cuối cùng, quy luật đó đã được vận dụng và phát huy đến mức cao nhất trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc hội quân lớn nhất của các binh đoàn chiến lược trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ và tay sai, giải phóng Sài Gòn và giành được thắng lợi huy hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #152 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:50:36 am »

2. Tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trên chiến trường Tây Nguyên, các trận đánh quan trọng đều diễn ra bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Xây dựng được những binh đoàn chiến lược và đưa được các binh đoàn đó ra tác chiến hiệp đồng binh chủng trên quy mô lớn, nhất là trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt của chiến trường miền Nam Việt Nam nói chung và trên chiến trường có địa hình rừng núi như Tây Nguyên nói riêng, đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt vấn đề khó khăn, phức tạp. Dưới sự chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, những binh đoàn chiến lược lớn của ta được tổ chức kịp thời, được biên chế, trang bị, huấn luyện khá hoàn chỉnh để có khả năng tiến hành chiến đấu hiệp đồng binh chủng thắng lợi trên chiến trường. Bước vào chiến dịch, chúng ta đã nắm chắc được trong tay một trong những yếu tố chủ yếu quyết định thắng lợi, kết quả của công phu nhiều năm xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Tiến hành tổ chức, xây dựng những binh đoàn chiến lược tác chiến hiệp đồng binh chủng vào lúc nào, tung các binh đoàn này ra quyết chiến chiến lược vào lúc nào, ở đâu, đều là những vấn đề quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến kết quả của cuộc chiến tranh. Trong chỉ đạo chiến lược, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã giải quyết những vấn đề đó đúng lúc, đúng nơi, rất chính xác, chuẩn bị sẵn mọi điều kiện cần thiết để đạt được thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Trận đánh lớn quan trọng, trận mở đầu then chót đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta đã tác chiến hiệp đồng binh chủng có bộ binh, xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa phòng không, công binh, thông tin và vận tải cơ giới tham chiến. Sau đó đến trận tiêu diệt sư đoàn 23 đổ bộ hạ cánh đường không trên đường số 21, trận tiêu diệt tập đoàn địch rút chạy từ Plây Cu đến Cheo Reo, Củng Sơn trên đường số 7 và trận tiêu diệt trung đoàn 40 (thiếu) cùng lữ đoàn dù 3 ở Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng trên đường 21 về Ninh Hòa, quân ta đều tác chiến hiệp đồng binh chủng với đầy đủ các binh chủng tham chiến. Từ trận Buôn Ma Thuột trở đi, phần lớn các trận diễn ra đều là những trận tác chiến hiệp đồng binh chủng.


Tác chiến hiệp đồng binh chủng có các binh chủng chiến đấu, các binh chủng bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu tham gia đã tạo ra một sức mạnh chiến đấu lớn, làm cho việc tiêu diệt các lực lượng lớn của địch được nhanh, gọn và kịp thời, trong mọi điều kiện và tình huống chiến đấu, dù đóng quân phòng ngự ở trong công sự, trong thị xã, thành phố hay tiến quân vận động ở dã ngoại, hoặc rút chạy về chiến lược.


Mỗi khi có một thứ vũ khí mới, một thứ công cụ chiến tranh hoặc một binh chủng, quân chủng nào đó mới ra đời và tham chiến thì chiến đấu đều có phát triển, có nhảy vọt và thay đổi về tính chất, hoặc nhiều hoặc ít.


Trước kia, khi chưa dụng độ với pháo binh của ta, tinh thần và chiến thuật của quân ngụy Sài Gòn có khác. Đến khi pháo binh ta xuất hiện thì tinh thần của chúng rõ ràng có biến đổi theo chiều tiêu cực, đồng thời chiến thuật của chúng cũng phải thay đổi. Ở chiến trường Tây Nguyên, vào giữa năm 1972, khi ta vận dụng một chiến thuật mới, một cách đánh mới của pháo binh thì tinh thần của quân ngụy đã thay đổi theo chiều tiêu cực hơn. Về phía ta, chiến thuật cũng phát triển mạnh mẽ và có chất cao hơn. Cùng một công cụ, một binh khí nhưng có phương pháp sử dụng mới thì có thể thúc đẩy chiến thuật, chiến đấu phát triển lên một chất mới cao hơn.


Khi pháo cao xạ ta chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, tiến vào tới tuyến xuất phát tiến công, ta có khả năng vững chắc khống chế được máy bay cường kích bổ nhào của quân ngụy Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho đội hình ta chiến đấu ở trước tiền duyên trận địa địch, yểm hộ đắc lực cho bộ binh và xe tăng cùng pháo bắn ngắm trực tiếp của ta thực hành đột phá, không cho máy bay địch bịt cửa mở, cản trở bước xung phong của bộ binh và xe tăng ta tiến vào cửa mở.


Trên chiến trường Tây Nguyên, kinh nghiệm này xuất hiện từ trận Chư Nghé (Lệ Minh) trừng phạt quân ngụy Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pa-ri vào tháng 9 năm 1973. Trận Chư Nghé mở đầu các trận tiếp theo trong những năm 1973, 1974 và 1975 đã cho ta dẫn chứng thực tế tương đối đầy đủ để nêu ra kết luận trên đây.


Khi xe tăng ta xuất hiện, quân ngụy Sài Gòn - những kẻ vốn quá sùng bái kỹ thuật, đã bị bất ngờ về nhận thức, tư tưởng và đâm ra hoảng hốt về tinh thần, về chiến thuật; do đó sức chiến đấu bị sa sút nặng.


Trận Buôn Ma Thuột, ta hành quân cơ giới để tập kết bộ đội. Trong một thời gian ngắn, ta đã tập kết được một số quân đông của các binh chủng tham chiến, nhờ đó mà giữ được bí mật, làm cho quân địch bị bất ngờ. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta phán đoán địch có khả năng cho sư đoàn 23 (thiếu) đổ bộ hạ cánh đường không xuống đường 21 ở phía đông Buôn Ma Thuột để ngăn chặn quân ta tiến công xuống đồng bằng và cũng có thể phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Khả năng đó đã thành hiện thực. Ngoài lực lượng đã bố trí sẵn, ta liền cơ động bằng cơ giới một đơn vị vừa mới đánh xong ở nơi khác đến đường 21, tăng cường cho đơn vị tại chỗ. Do hành quân bằng cơ giới nên đơn vị trên cơ động được nhanh và đã tới kịp. Lực lượng đánh sư đoàn 23 ngụy như thế là sung sức. Sư đoàn 23 ngụy vừa mới đổ quân xuống, chân ướt chân ráo, chưa kịp tổ chức chiến đấu, đã bị ta đánh ngay nên bị tiêu diệt một cách nhanh chóng.


Trận đánh quyết định tiêu diệt tập đoàn tháo chạy của quân đoàn 2 địch từ Kon Tum, Plây Cu về đường số 7, quân ta cũng cơ động bằng cơ giới, nên mới chớp được thời cơ then chốt quý báu hiếm có đó. Quân ta hành quân, cơ động bằng cơ giới, nâng cao hiệu suất chiến đấu và tốc độ tiến công lại làm cho địch mắc thêm một bất ngờ nữa.


Chiến đấu hiệp đồng binh chủng, quân chủng là một yêu cầu tất yếu và ngày càng phát triển của chiến tranh hiện đại trong thời đại công nghiệp hóa ở trình độ cao. Ăng-ghen nói: "Chúng ta đã dần dần thấy rõ ràng, khi những thành tựu về kỹ thuật vừa mới trở thành có thể áp dụng được và trong thực tế được dùng vào mục đích quân sự, thì lập tức và hầu như cưỡng bức phải có những sự thay đổi, thậm chí những sự đảo lộn cả phương pháp tác chiến. Sự thay đổi và đảo lộn đó thường ngược lại ý muốn của những người chỉ huy quân đội"1 (Mác, Ăng-ghen, Lênin, Xta-lin, Trích luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 24).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #153 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:52:03 am »

3. Chọn hướng

Sau khi đã xác định nhiệm vụ của tổng tiến công là đánh tiêu diệt chiến lược và tiến hành quyết chiến chiến lược để hoàn thành nhiệm vụ của chiến tranh, thì tổ chức thế trận là vấn đề rất quan trọng. Trong thế trận có các vấn đề như chọn tuyến, hướng, xác định các khu vực, địa bàn để đánh tiêu diệt chiến lược và tiến hành quyết chiến chiến lược, vấn đề hiệp đồng giữa các lực lượng, vấn đề phối hợp chiến trường, vấn đề thứ tự hành động của các lực lượng tiến công, vấn đề thứ tự tiến công trên các hướng, v.v...


Hướng tiến công chủ yếu trong giai đoạn đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là chiến trường Tây Nguyên. Nhiệm vụ chiến lược trước mắt là tiêu diệt lực lượng cơ bản của quân đoàn 2 địch, giải phóng Tây Nguyên. Nhiệm vụ chiến lược tiếp theo là giải phóng vùng đồng bằng, ven biển và vùng ven Sài Gòn. Nhiệm vụ cuối cùng là đánh vào thủ đô của địch, tiêu diệt lực lượng vũ trang còn lại của địch, tiêu diệt chính quyền trung ương của địch, giải phóng Sài Gòn, kết thúc chiến tranh.


Mở đầu cuộc tiến công chiến lược, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu. Thực tiễn chiến đấu đã chứng minh rằng, đó là một quyết định hoàn toàn chính xác. Giai đoạn đầu của cuộc tiến công chiến lược, ta tiêu diệt được lực lượng chủ yếu của quân đoàn 2 và một bộ phận lực lượng tổng dự bị chiến lược địch, giải phóng Tây Nguyên, do đó đã tạo ra một chuyển biến rất quan trọng về so sánh lực lượng, về thế chiến lược và một sự thay đổi đột ngột về tinh thần. Tình hình này đã tạo điều kiện và thời cơ rất thuận lợi để giải phóng vùng đồng bằng, vùng ven biển và vùng ven Sài Gòn. Quân địch mất một quân đoàn, mất một địa bàn chiến lược quan trọng là nguy cơ rất nghiêm trọng đối với chúng. Tầy Nguyên là hướng quân địch yếu, nhưng lại là hướng hiểm yếu. Vì vậy, ta đã giành được thắng lợi lớn, dễ, nhanh và gọn ở đây, sau đó lại có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tiến công tiếp theo đi các hướng, các mục tiêu quan trọng và hướng quyết định. Đó là một kinh nghiệm hay của việc chọn hướng tiến công. Đó cũng là yêu cầu chắc thắng và yêu cầu phát triển của tiến công trong việc chọn hướng.


Một vấn đề nữa của việc chọn hướng tiến công chủ yếu là sau khi đã tiến công giành được thắng lợi, phải bảo đảm vững chắc thắng lợi đó, làm bàn đạp tốt cho việc tiếp tục phát triển tiến công.

Sau khi Tây Nguyên được giải phóng, quân địch rất khó tiến hành phản kích để chiếm lại. Nếu chúng có tiến hành phản kích thì chẳng qua chỉ là hành động một cách liều lĩnh và dại dột. Lực lượng của địch đã bị căng mỏng ra trên khắp các chiến trường và ở đâu cũng đều bị quân ta tiến công, có nơi lại bị tiến công mạnh. Nếu chúng rút một ít lực lượng ở các chiến trường khác, tung ra phản kích ở Tây Nguyên thì vừa có thể bị sa lầy và bị tiêu diệt ở Tây Nguyên, lại vừa có thể bị thua to ở các nơi khác.


Muốn tiến hành phản kích lấy lại Tây Nguyên, quân địch cần sử dụng bao nhiêu lực lượng? Chúng phán đoán quân ta ở chiến trường Tây Nguyên có không dưới 3 sư đoàn và nhiều đơn vị binh chủng thiện chiến. Đối chọi với một tập đoàn hùng mạnh như thế, quân địch cần có một lực lượng nhiều hơn, ít ra cũng phải gấp đôi đối phương. Chúng lấy đâu ra được 5 - 6 sư đoàn? Hành động dốc túi là một cuộc tự sát!


Căn cứ vào những điều phân tích trên, qua thực tiễn chiến đấu, ta phán đoán là địch khó phản kích được ở Tây Nguyên. Thực tế cho ta thấy quân địch đã vội vã tháo chạy và tiến hành ngăn chặn bộ phận. Nhưng tất cả những hành động đó đều bị thất bại thảm hại, vì tốc độ tiến công của quân ta quá nhanh.


Chính Ma-tin, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng không dám nhìn thẳng vào sự kiện Tây Nguyên. Ngày 14 tháng 3 năm 1975, sau khi mất Buôn Ma Thuột, từ bên Mỹ, Ma-tin viết cho Thiệu một bức thư, chỉ thị cho Thiệu phải cố giành lấy môt vài thắng lợi vang dội để gây lòng tin và vòi quốc hội Mỹ cấp cho tiến viện trợ. Thắng lợi vang dội mà Ma-tin yêu cầu không phải ở Tây Nguyên, mà ở Tây Ninh. Bức thư có đoạn viết: "Như tôi đã nói với ngài từ trước, tôi không nghĩ rằng hiện nay người Mỹ thực sự có đủ tiêu chuẩn (về pháp lý) để giúp ý kiến cố vấn về quân sự. Vì tác động chính trị, nếu như trong vài tuần tới có thể có cơ hội để quân lực cộng hòa đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam làm cho công chúng thấy rõ, thì ít ra có tác dụng. Phản ứng chính trị ở đây (Mỹ) sẽ rất tốt nếu có sự kiện như vậy. Có thể các trận đánh tới ở quanh Tây Ninh hoặc các nơi khác trong quân khu 3 sẽ tạo ra cơ hội trên, ở đây, một số người lo rằng ngài có thể dùng quá nhiều lực lượng để tái chiếm Buôn Ma Thuột ngay..."1 (Tài liệu thu được ở nhà Thiệu (Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu)).


Nếu quân địch dám liều lĩnh tập trung quân lên phản kích ở Tây Nguyên thì ta vừa có điều kiện tiêu diệt chúng một cách dễ dàng, lại vừa có thời cơ giải phóng các vùng đồng bằng ven biển một cách nhanh chóng.
Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược lợi hại, là một chiến trường rất cơ động. Chiến lược Tây Nguyên, quân ta có thể bảo đảm thắng lợi vững chắc và lấy đó làm bàn đạp tốt, tập trung thêm lực lượng để phát triển tiến công một cách thuận lợi về các hướng quan trọng khác như vùng đồng bằng, ven biển và đông - bắc Sài Gòn. Thực tế chiến đấu diễn ra đã chứng minh sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong việc chọn hướng này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #154 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:52:35 am »

4. Phương pháp tiến công và phối hợp chiến trường

Trong giai đoạn đầu của cuộc tiến công chiến lược, ta chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu không có nghĩa là chỉ đánh lớn ở Tây Nguyên. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân. Không phải chỉ có bộ đội địa phương và dân quân du kích mà cả bộ đội chủ lực cũng bố trí xen kẽ, cài chặt vào quân địch ở khắp mọi nơi, mọi hướng. Thế trận sâu hiểm đó của ta buộc quân địch phải phân tán mỏng ra khắp mọi chiến trường.


Khi ta tập trung lực lượng tiến công ở Tây Nguyên thì ở các hướng khác, quân ta cũng tiến công phối hợp, căng kéo kìm giữ quân địch lại khiến chúng không ứng cứu được cho nhau, đồng thời tạo điều kiện và chuẩn bị tiến công lớn trên các hướng đó. Đòn Tây Nguyên vừa kết thúc thắng lợi, quân địch đang hoang mang dao động mạnh thì ở hướng kế cận, quân ta liền mở đòn tiến công lớn kế tiếp ngay làm cho địch thở không được, trở tay không kịp.


Mở các đòn tiến công chiến lược liên tục kế tiếp nhau, đồng loạt hoặc gối đầu trên các hướng khác nhau là phương pháp tiến công chiến lược hay. Cần giữ thế chủ động trong suốt cả quá trình tiến công. Tiến công phải liên tục không dừng lại, không để đứt quãng; nếu dừng lại, đứt quãng, không liên tục thì quân địch có thể hồi phục, kịp thời điều động, sử dụng các lực lượng dự bị, chấn chỉnh lực lượng và có thể giành lại được chủ động, thực hành phản công hoặc bố trí lại thế trận, tổ chức lại phòng ngự, gây khó khăn cho ta.


Muốn tiến công liên tục, kế tiếp nhau một cách chủ động trên nhiều hướng thì cần có nhiều binh đoàn chiến lược, cần có nhiều đạo quân, bố trí sẵn trên nhiều chiến trường, nhiều hướng chiến lược. Chiến trường nào, lúc nào, thời cơ nào trở thành trọng điểm sẽ được cơ động tập trung nhiều hơn. Thế trận chiến tranh nhân dân cài răng lược, xen kẽ đã tạo ra thế trận chiến lược sâu hiểm và phương pháp tiến công chiến lược lợi hại này.


Nhiều chiến trường, nhiều hướng chiến lược cùng ở thế tiến công, các binh đoàn chiến lược cùng tiến vào giao chiến, thì phải đặt ra vấn đề phối hợp chiến trường.

Khi quân ta ở hướng Tây Nguyên triển khai cuộc tiến công thì ở hướng Trị - Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, hướng miền Đông Nam Bộ, các binh đoàn khác cũng triển khai cuộc tiến công phối hợp. Các chiến trường đã tiến công phối hợp với Tây Nguyên: tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân, phân tán hai sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ ở Trị - Thiên và Quảng Đà. Chiến trường Khu 5 đã giam chân sư đoàn 22 địch ở đường số 19. Vì vậy, khi bọn cầm đầu Mỹ - ngụy phát hiện ra hướng hoạt động chủ yếu của quân ta là chiến trường Tây Nguyên thì dù chúng có muốn tăng cường ứng cứu cũng không điều được lực lượng. Mặt khác, cũng còn vì phải lo đối phó ở khắp nơi nên địch không đủ tỉnh táo để đối phó với quân ta ở chiến trường Tây Nguyên một cách có hiệu quả. Rõ ràng, các chiến trường khác đã hoạt động yểm hộ rất đắc lực, tạo điều kiện thuận lợi cho hướng Tây Nguyên giành thắng lợi lớn, nhanh và gọn. Ngược lại, chiến thắng Tây Nguyên đã có tác dụng trở lại đối với các chiến trường toàn miền Nam, làm cho kẻ địch ngày càng lúng túng và sai lầm, dẫn tới những đột biến vô cùng thuận lợi cho quân ta.


Do có phương pháp tiến công đúng, có sự phối hợp chiến trường chặt chẽ, nên ta đã nâng cao được tốc độ tiến công, liên tục tiêu diệt quân địch, giải phóng đất đai và địa bàn quan trọng, giành được thắng lợi hết sức to lớn và cực kỳ nhanh chóng. Tốc độ tiến công thần tốc đó như một cơn bão mạnh ập xuống quân thù khiến chúng không kịp chuẩn bị đối phó, không kịp chấn chỉnh và điều động lực lượng, không kịp bố trí lại thế trận đã bị đảo lộn và xé nát, thậm chí không kịp cả suy nghĩ nữa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #155 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:55:01 am »

5. Chỉ đạo thời cơ

Chỉ đạo thời cơ là một vấn đề rất quan trọng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến lược. Chỉ đạo thời cơ là tạo ra được thời cơ, nám được thời cơ và biết khuếch trương, phát triển thời cơ.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ta đã tạo được thời cơ để chiến dịch mở đầu Tây Nguyên nắm chắc phần thắng và quân ta ở hướng Tây Nguyên tiêu diệt được quân đoàn 2 của địch.

 Trong chỉ đạo chiến lược, ta đã tổ chức thế trận chiến lược, bố trí lực lượng chiến lược và tiến công chiến lược, phối hợp chiến trường nhịp nhàng khiến cho hướng Tây Nguyên có đủ điều kiện thuận lợi để giành chiến thắng. Nhằm mục đích trên, lực lượng ta đã đánh tiêu hao và tiêu diệt để giam chân lực lượng tổng dự bị chiến lược tinh nhuệ nhất của địch ở chiến trường Trị - Thiên và Quảng Đà. Hoạt động phối hợp của các lực lượng ta ở nhiều hướng khiến cho bọn cầm đầu quân ngụy do dự trong việc sử dụng lực lượng tổng dự bị chiến lược hoặc sử dụng một cách sai lầm. Trong quá trình diễn biến của chiến dịch Tây Nguyên, địch chỉ điều được từ Nam Bộ ra Plây Cu một liên đoàn biệt động quân - liên đoàn số 7 - sau khi chúng mất Buôn Ma Thuột tiếp đó là lữ đoàn dù số 3 ra chặn ở đèo Phượng Hoàng, phía tây thị trấn Ninh Hòa, sau khi quân ta tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy tại Phước An. Các đơn vị quân ngụy này đều chung một số phận với quân đoàn 2 ngụy bị quân ta tiêu diệt.


Trong chỉ đạo chiến lược, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tạo ra và nắm chắc thời cơ tiêu diệt Buôn Ma Thuột. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, quân địch hoang mang, bối rối, đã bị động càng thêm bị động. Đối với quân ta, đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột, thế chia cắt vây hãm chiến lược toàn Tây Nguyên, đòn tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy cùng với thế tiến công thắng lợi của quân ta trên toàn chiến trường lại tạo ra một thời cơ mới: thời cơ tiêu diệt tập đoàn tháo chạy của quân đoàn 2 ngụy. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhanh chóng nắm chắc thời cơ này và chỉ đạo quân ta khẩn trương tiêu diệt tập đoàn tháo chạy của quân đoàn 2 ngụy. Mặt khác, thất bại nặng nề của quân ngụy tại Tây Nguyên đã làm rung động cả thế trận của quân đội ngụy trên toàn chiến trường miền Nam, đẩy chúng lâm vào tình trạng hoang mang, bối rối, kể cả tên tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lẫn binh lính ngụy. Từ chiến lược phòng ngự toàn tuyến không chịu mất đất, và có phản công bộ phận, quân ngụy đã buộc phải chuyển sang rút lui chiến lược, co cụm phòng ngự có trọng điểm. Cũng từ đó, thời cơ lớn đã xuất hiện.


Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã kịp thời nắm lấy thời cơ ngàn năm có một ấy, lãnh đạo quân dân ta phát triển cuộc tiến công chiến lược thành tổng tiến công chiến lược, liên tục giải phóng hết vùng này đến vùng khác, cuối cùng đã giải phóng toàn bộ miền Nam nước ta.


Đoạn trên đã nêu một số vấn đề nổi bật về chỉ đạo chiến lược. Riêng về mặt nghệ thuật chiến dịch cũng có nhiều vấn đề phong phú. Dưới đây, xin nêu một số kinh nghiệm chỉ đạo, chỉ huy trong chiến dịch.


1. Sử dụng lực lượng

Với tư tưởng chỉ đạo tác chiến đánh chắc thắng và nguyên tắc đánh chắc thắng trận đầu, ta đã nghiên cứu kỹ càng việc tập trung ưu thế lực lượng để có thể đánh chắc thắng, thắng nhanh và thắng gọn.


Trong những điều kiện cụ thể của chiến trường Tây Nguyên, ta cần có ưu thế nhất định về lực lượng so với địch trên toàn tuyến chiến dịch, song đó chỉ là ưu thế tương đối. Trong thực tế, nếu chỉ tính so sánh lực lượng đôi bên về số quân và vũ khí thì nói chung toàn chiến trường Tây Nguyên, ta không có ưu thế lớn so với địch. Thế nhưng, ta còn có các mặt ưu thế khác để tạo thành ưu thế tổng hợp lớn hơn hẳn địch như ưu thế về tinh thần, về địa hình, về nghệ thuật quân sự, v.v...


Về tinh thần chiến đấu, giữa quân ta và quân địch ai hơn ai kém đã quá rõ ràng.

Về địa hình, Tây Nguyên với núi rừng và cao nguyên rộng lớn có nhiều điểm thuận lợi cho ta. Nó có thể tiếp nhận được một lực lượng chiến đấu lớn; vào mùa khô, sông suối cạn, đường sá thuận tiện, ta có thể sử dụng được các binh đoàn lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng. Còn đối với địch, Tây Nguyên dễ bị cô lập, bị cắt đứt với hậu phương chiến lược ở đồng bằng ven biển; bản thân quân địch ở Tây Nguyên cũng dễ bị chia cắt giữa khu vực này với khu vực khác. Vì vậy trong chiến dịch Tây Nguyên, do biết triệt để lợi dụng địa hình để phục vụ đắc lực cho các yêu cầu chiến đấu của ta nên với số quân không nhiều hơn địch là bao trên toàn chiến trường, thậm chí có những trận còn ít hơn địch, ta vẫn đánh thắng chúng.


Về nghệ thuật sử dụng lực lượng, ta biết tổ chức, bố trí và phân phối lực lượng một cách khoa học, hợp lý. Ta có lực lượng tập trung và lực lượng phân tán; có lực lượng lớn và lực lượng nhỏ; có chỗ nhiều, có chỗ ít; có chỗ dày, có chỗ mỏng; có bộ đội chủ lực và có bộ đội địa phương, dân quân du kích; có lực lượng tiến công và có lực lượng nổi dậy. Nói chung, các lực lượng của ta ở vào vị trí nào, giữ vai trò gì, đều phát huy được tác dụng tích cực, lại hành động thống nhất và hiệp đồng chặt chẽ nên tạo ra được một sức mạnh thống nhất về lực lượng rất lớn. Các lực lượng đó lại trải ra chiếm một không gian rộng lớn, vừa có bể rộng và bề sâu, vừa có chiều dày và chiều nhọn, bao bọc và xuyên sâu vào không gian của địch, khiên ta hành động được tự do, linh hoạt và dồn ép địch vào nơi chật hẹp, không hành động được.


Trên toàn tuyến chiến dịch, ta chỉ có ưu thế lực lượng tương đối so với địch, nhưng ở hướng chủ yếu, ở khu vực trọng điểm như Buôn Ma Thuột ta đã chiếm ưu thế tuyệt đối hơn địch. Chỗ giỏi của ta là biết phản tán địch ra thành hai khối ở hai đầu để tập trung ưu thế lớn vào nơi quyết định, đánh vào Buôn Ma Thuột; đồng thời kèm cụm mạnh của địch ở Plây Cu. Trong trận mở đầu quyết định này, ta đã tập trung một lực lượng đúng mức và hợp lý, tạo thành một quả đấm mạnh đủ sức thôi động tình thế nên đã giành được thắng lợi to lớn và nhanh chóng. Mặt khác, lực lượng quân ta lại có tính cơ động, linh hoạt cao. Cũng trong đòn mở đầu chiến dịch, ta sử dụng 1 sư đoàn tăng cường đánh Buôn Ma Thuột, 1 sư đoàn (thiếu) đánh Đức Lập xong liến được dùng ngay làm dự bị cho hướng Buôn Ma Thuột, 1 sư đoàn đứng ở giữa Buôn Ma Thuột và Plây Cu có thể được sử dụng vào Buôn Ma Thuột hoặc vào Plây Cu. Do đó, ta đã thực hiện được tập trung, phán tán, chuyển hưởng, lật cánh lực lượng một cách linh hoạt, cơ động uà kịp thời, tạo ra được một thế trận vừa có chiều dày lại vừa có chiều rộng, một thế trận vừa mạnh lại vừa dẻo dai, sắc nhọn. Cho nên ngoài hướng chủ yếu, ở các hướng quan trọng khác và tiếp ngay sau đó sẽ nhanh chóng trở thành hướng chủ yếu, lực lượng của ta cũng đủ mạnh để đón thời cơ chung và tạo ra thời cơ trực tiếp, đánh những đòn then chốt và quyết định, giành thắng lợi cũng rất to lớn và nhanh chóng (đòn đánh quân phản kích ở Phước An, đòn truy kích trên đường số 7).


Nói đến ưu thế, không thể chỉ tính có giai đoạn đầu mà còn phải tính cả đến giai đoạn tiếp sau của chiến dịch. Bước mở màn chiến dịch, ta đã chiếm ưu thế hơn địch mà trong quá trình chiến dịch tiếp diễn, địch điều động lực lượng tới tăng cường, ta cũng vẫn giữ được ưu thế. Chẳng hạn, sau trận Buôn Ma Thuột, ta đã điều động lực lượng dự bị kịp thời để tiêu diệt sư đoàn 23 đến phản kích. Ngày 12 tháng 3, địch điều liên đoàn biệt động quân 7 ở Nam Bộ ra tăng cường cho quân đoàn 2, đổ bộ xuống Plây Cu. Song nó đã bị tiêu diệt như các liên đoàn biệt động quân khác của quân đoàn 2. Sau khi ta tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy, địch điều trung đoàn 40 và lữ đoàn dù số 3 đến Khánh Dương và đèo Phượng Hoàng. Song chúng vẫn không thay đổi được tình thế, không làm mất được ưu thế của quân ta, mà rốt cuộc cũng bị quân ta tiêu diệt. Ta giữ được ưu thế từ đầu đến cuối là nhờ cớ sự chỉ đạo chiến lược tài tình của trên, sự phối hợp nhịp nhàng và tích cực của các chiến trường. Trên các hướng khác, ta đều đánh mạnh, tiêu hao, tiêu diệt, căng kéo, phân tán lực lượng tổng dự bị của địch, khiến chúng bối rối và do dự trong việc sử dụng, không ứng cứu được nhau. Do đó, quân ta ở hướng Tây Nguyên cũng được rảnh tay, chủ động và có điều kiện thuận lợi để chiến thắng nhanh chóng, kể cả khi địch điều động lực lượng dự bị tới tăng cường, cứu nguy.


Nhìn chung, do biết phát huy và thống nhất các yếu tố tinh thần, vật chất, địa hình và nghệ thuật chỉ huy nên với một lực lượng quân chủ lực vừa phải, không nhiều hơn địch là mấy, ta vẫn tạo được sức mạnh tổng hợp lớn, giữ vững được ưu thế tuyệt đối từ đầu đến cuối chiến dịch để giành thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #156 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2023, 06:55:38 am »

2. Lợi dụng địa hình

Tại Tây Nguyên, địch tập trung vào một đầu có thế và lực phòng ngự mạnh, có địa hình vững chắc, nhưng lại yếu và sơ hở ở một đầu khác. Ta thì tập trung vào một đầu địch yếu về phòng ngự và địa hình, thuận lợi cho ta phát huy lực lượng và thế tiến công cũng như thế phát triển tiến công một cách rộng lớn, trên một địa hình thuận lợi.


Bố trí trên địa hình Tây Nguyên, quân địch dễ bị chia cắt, vây hãm và cô lập với đồng bằng, cũng như giữa các khu vực trong bản thân chiến trường Tây Nguyên với nhau. Còn ta thì vừa tập trung được lực lượng vào hướng chính, hướng quyết định, lại vừa xen được vào trong hình thái bố trí của địch mà làm nhão, làm nát và chia cắt nó, khiến cho nó mất vững chắc đi.


Địa hình Tây Nguyên có những nơi cao, thấp, gồ ghề, hiểm trở, lại có những nơi mấp mô, trung bình, tương đối bằng phẳng, nhìn chung thuận lợi cho phía chúng ta. Với tính năng động cách mạng, ta có thể lợi dụng địa hình đó để khắc phục mặt yếu và phát huy mặt mạnh của ta. Còn đối với địch, địa hình đó lại hạn chế mặt mạnh và tảng mặt yếu lên.


Một công sự giản đơn của ta trên một sườn núi hiểm trở cũng làm cho hỏa lực địch khó sát thương được quân ta, dù đó là hỏa lực pháo binh hay máy bay B.52. Tổ chức trận địa ở đâu, quân ta cũng thường có điều kiện tìm vật liệu tại chỗ để làm công sự vững chắc bằng gỗ, đất. Một trung đội quân ta chiếm lĩnh một đỉnh đèo có thể ngăn chặn được hàng tiểu đoàn quân địch. Cho nên, với địa hình như thế, với điều kiện làm công sự như thế, một phân đội pháo binh hoặc pháo cao xạ của ta cũng có thể chiến đấu độc lập được, không cần có sự yểm hộ của bộ binh. Các pháo thủ được trang bị thêm súng tiểu liên, súng B.40, súng phóng lựu có thể đánh tan, đánh bại được các đợt xung phong của từng đại đội bộ binh địch. Một trận địa hỏa lực có 1 khẩu súng cối 82 ly và 1 khẩu 60 ly của quân ta, có địa hình hiểm trở và có công sự vững chắc đã từng làm tốt nhiệm vụ kìm diệt một trận địa pháo 105 ly bốn khẩu của quân Mỹ. Tuy có khí tài trinh sát hiện đại, quân địch cũng khó phát hiện được đội hình của từng trung đoàn quân ta chỉ cách trận địa chúng khoảng 5 - 10km. Trong cùng một hôn núi, quân địch bố trí trên đỉnh núi, còn quân ta lại bố trí ở ngang sườn núi.


Tại Tây Nguyên, quân ta đã tận dụng thế lợi, đã khắc phục, cải tạo và phát huy tác dụng của địa hình rừng núi, cũng như đã vận dụng sáng tạo thêm về mặt chiến thuật trong chiến đấu ở rừng núi cho cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Chiến thuật đánh gần, chiến thuật bám trụ ở rừng núi đã được nâng cao và phát triển.


Địa hình là một trong những yếu tố để bố trí binh lực nên có mối liên quan với hình thái bố trí chiến lược. Để bảo vệ các thị xã, thị trấn, các trung tâm chính trị, quân sự và kinh tế, các trục giao thông, các khu vực tập trung dân, trong thế phòng ngự ngày càng tiêu cực, quân địch bắt buộc phải phân tán bố trí binh lực. Chúng phải chia quân ra chiếm giữ, khống chế nhiều điểm cao và nhiều tuyến điểm cao chung quanh các thị xã, thị trấn ven các trục giao thông. Trước những cách đánh linh hoạt sáng tạo và những đòn tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng, gồm quân chủ lực, quân địa phương và quân du kích trong thế trận chiến tranh nhân dân, dù cho quân địch bố trí binh lực như thế nào, khống chế bao nhiêu điểm cao, ngọn đồi, đỉnh núi, sườn đèo, chúng cũng vẫn thấy là còn có sơ hở. Trong thế phòng ngự, chúng lại càng phải rải quân ra phòng ngự, trong thế phân tán lại càng phải phân tán mỏng.


Hướng phòng ngự chủ yếu của địch ở Tây Nguyên là bắc Tây Nguyên, gồm hai thị xã Plây Cu, Kon Tum và trục đường giao thông số 19. Tại đây tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực của quân đoàn 2. Hướng phòng ngự thứ yếu của địch, vùng nam Tây Nguyên gồm hai tỉnh Đắc Lắc và Quảng Đức, chỉ có 1 trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân và 1 trung đoàn xe tăng - xe bọc thép.


Hệ thống phòng ngự chủ yếu bắc Tây Nguyên của địch được bố trí thành hai cụm và một tuyến: cụm Plây Cu, cụm Kon Tum và tuyến đường số 19. Do phải phòng ngự rải ra trên một diện rộng toàn tuyến, nên dù có tập trung vào hướng chủ yếu, thì ở đó cũng vẫn cứ mỏng yếu. Các cụm phòng ngự dễ bị chia cắt, vây hãm, cô lập. Đường giao thông rất dễ bị cắt đứt. Tại nam Tây Nguyên, trên phạm vi hai tỉnh rừng núi có đất đai rộng lớn, lực lượng phòng ngự của địch lại càng mỏng yếu. Khi bị một đòn đánh lớn của chủ lực đối phương, quân địch rất khó xoay xở, đối phó.


Do bị phụ thuộc vào địa hình, bị phụ thuộc vào cách đánh của quân ta, do tư tưởng và phương pháp phòng ngự của địch, nên lực lượng của địch đã phải dàn ra thành một cái hình dài, mỏng, thấp và hẹp, tuy chúng có vận dụng được một phần chiến lược phòng ngự diện địa. Do đó, ta có nhiều điều kiện thuận lợi để chia cắt quân địch ra thành nhiều mảnh, vây hãm và cô lập chúng với nhau; cô lập, tách rời Tây Nguyên với hậu phương chiến lược của chúng ở vùng đồng bằng ven biển, làm cho chúng khốn quẫn về vật chất và tinh thần, rồi đi đến chỗ bị đánh tiêu diệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #157 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:13:21 am »

3. Cách đánh

Thành công nổi bật về cách đánh trong chiến dịch Tây Nguyên là: quân ta đã thực hiện đòn mở đầu then chốt vào Buôn Ma Thuột, đánh thẳng vào đầu não, đánh trúng vào huyệt hiểm của địch, khiến chúng bị choáng váng thần kinh, phải hốt hoảng rút bỏ tây Nguyên, tiếp đó đã sa vào hàng loạt sai lầm và thất bại khác.


Như ta biết, Buôn Ma Thuột là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa, là nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động của khu vực Tây Nguyên và bọn cầm đầu hệ thống chỉ huy các lực lượng địa phương của tỉnh Đắc Lắc. Đồng thời, Buôn Ma Thuột còn là nơi đóng sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23. Vì vậy, trong trận tiến công Buôn Ma Thuột, quân ta đã chọn sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23 làm mục tiêu chủ yếu: các hướng, các mũi tiến công bàng binh chủng hợp thành đều tập trung vào đó để hiệp đồng tiến công hợp điểm, giành thắng lợi quyết định, sở chỉ huy sư đoàn 23 bị đánh thì các lực lượng của sư đoàn này sống chết cũng phải tới phản kích, tăng viện, ứng cứu. Cho nên, quân ta đã bố trí sẵn thế trận đón đánh chúng ở phía đông Buôn Ma Thuột. Thực tế diễn biến chiến sự cho thấy: sư đoàn 23 bị xóa sổ đã làm cho bọn cầm đầu quân ngụy mất hẳn chỗ dựa chủ yếu của chúng ở Tây Nguyên. Bộ xương sống bị đập gãy thì toàn bộ cơ thể bị sụp đổ, lực lượng chủ chốt của địch là sư đoàn 23 bị tiêu diệt thì bọn quân địa phương ở khu vực này cũng nhanh chóng tan rã hoặc bị tiêu diệt theo. Điểm Buôn Ma Thuột đã bị diệt, viện gần bị mất, viện xa không có khả năng, tất nhiên các lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên đang bị vây hãm cô lập, nếu không bỏ chạy thì chỉ còn con đường đầu hàng hoặc bị tiêu diệt tại chỗ mà thôi.


Mặt khác, Buôn Ma Thuột lại là ngã ba đường chiến lược quan trọng. Từ địa điểm cơ động có ý nghĩa chiến lược này, quân ta có thể tiến nhanh đến các mục tiêu chiến lược còn quan trọng hơn cả Tây Nguyên. Trong khi đó, tập đoàn chủ yếu của quân đoàn 2 địch ở Plây Cu và Kon Tum lại đang bị trói chặt, cứ nằm chết gí ở đây thì lãng phí lực lượng mà rồi cũng sẽ chết dần chết mòn. Nếu đối phương không đánh Plây Cu và Kon Tum, chỉ dùng một số ít lực lượng tiếp tục vây hãm tập đoàn này, rồi đem đại quân từ Buôn Ma Thuột thọc thẳng theo đường 21 xuống đánh Nha Trang và Cam Ranh thì tình thế còn rối bời hơn. Vùng đồng bằng ven biển sẽ bị cắt ra làm đôi, và con đường tiến về Sài Gòn sẽ mở ra trước mắt. Lúc đó, dù không bị đánh thì Plây Cu và Kon Tum cũng phải đầu hàng. Cho nên, muốn hay không muốn, chúng cũng buộc phải nhanh chóng rút bỏ Tây Nguyên để về giữ đồng bằng.


Buôn Ma Thuột giữ vị trí hiểm yếu như vậy, song lại là nơi địch có nhiều sơ hở. Địch cho rằng đây là một vị trí nằm sâu trong vùng chúng chiếm đóng, không trực tiếp đối mặt với ta, thêm nữa lại cho rằng ta chưa đủ khả năng đánh chiếm những thị xã lớn như thế, nên chúng bố trí lực lượng ở đây không nhiều và sự bố phòng cũng không chặt chẽ bằng các vị trí khác. Vì vậy, sự kiện ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột đã làm cho địch hết sức bất ngờ, choáng váng trước sức mạnh và trình độ tác chiến của ta. Đòn hiểm Buôn Ma Thuột rõ ràng đã gây chấn động lớn đến toàn chiến trường Tây Nguyên và cả các chiến trường khác, tạo nên những đột biến dây chuyền lớn hơn tiếp sau, khiến địch không sao chống đỡ nổi và đi đến sụp đổ hoàn toàn.


Một cách đánh rất có hiệu quả nữa mà ta đã vận dụng trong chiến dịch Tây Nguyên là chia cắt, vây hãm, kết hợp với đột phá và đột phá kết hợp với thọc sâu, vu hồi.

Bước vào chiến dịch, ta đã tiến hành chia cắt vây hãm trước. Chính cách đánh này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đột phá tiếp theo và đảm bảo đột phá thành công, truy kích thắng lợi. Tất nhiên, riêng cách đánh chia cắt vây hãm không thể đưa chiến dịch đến kết thúc thắng lợi mà cuối cùng ta vẫn phải dùng cách đánh đột phá, đánh phản kích và truy kích. Tại Tây Nguyên, ta đã chọn cách đánh chia cắt vây hãm kết hợp với đột phá vì trong những điều kiện cụ thể của chiến trường, cách đánh này bảo đảm cho ta chủ động và chắc thắng hơn. Về mặt chủ động, sau khi đã chia cắt vây hãm quân địch rồi, ta muốn đánh lớn lúc nào, ở đâu là do ta chọn. Ta không phải đánh theo ý đồ của địch, không buộc phải quyết chiến khi tình huống chưa chín muồi, thời cơ chưa đến. Quân địch có mạnh chúng ta cũng có cách đối phó tốt. Ngoài ra, phương pháp này còn tạo điều kiện cho ta tiêu diệt gọn quân địch, bắt sống được nhiều quân địch, kể cả cơ quan chỉ huy của chúng. Vì ta đã vây hãm nhiều tầng thì chúng khó chạy thoát.


Diễn biến thực tế của chiến dịch đã chứng minh cách đánh trên đây là chính xác.

Dựa vào thuận lợi của địa hình hiểm trở ở vùng rừng núi và hình thái bố trí của địch, quân ta đã diệt một số cứ điểm quận lỵ nằm trên đường giao thông chiến lược, đánh chiếm từng đoạn đường số 19, số 21 và số 14, chia cắt vây hãm quân địch thành từng cụm cô lập rồi mới tiến công đột phá đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Hành động tiến công chia cắt, vây hãm của quân ta đã đặt quân địch vào trong vòng vô cùng khốn quẫn, vì bị cô lập hẳn với hậu phương chiến lược của chúng ở đồng bằng.


Về tiếp tế, quân địch vẫn còn hàng tháng dự trữ, nhưng chúng vẫn buộc phải tiết kiệm đạn dược, xăng dầu đề phòng đường sá bị cắt đứt dài ngày. Điều đó ảnh hưởng đến việc sử dụng hỏa lực, cơ động quân và sức đột kích của xe tăng, có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết tâm chiến đấu và vận dụng chiến thuật.


Kết quả quan trọng khác của hành động tiến công chia cắt vây hãm là nó tác động trực tiếp ngay đến sự phát triển của chiến đấu và chiến dịch: thế trận của địch bị chia cắt cô lập thành từng cụm, từng mảng và cụm nào cũng bị đánh hoặc bị uy hiếp. Toàn bộ quân địch ở Tây Nguyên bị trói chặt, từng cụm một nằm trong cái thòng lọng của quân ta đang thắt lại. Quân địch không cựa quậy được và ngạt thở. Chúng còn có thể sử dụng được những phương tiện đi lại lẻ tẻ trên không (ngay các sân bay cũng bị hỏa lực ta khống chế), song những phương tiện hạn chế đó không thể cứu vãn chúng thoát khỏi cảnh nguy ngập. Quân địch lâm vào thế quân đứng ở đâu bị chôn chân ở đó, bị đánh ở đâu đối phó ngay tại đó, không thể ứng cứu lẫn nhau được. Có chỗ thừa quân buộc lòng phải cho là thừa, có chỗ thiếu quân thì phải cố mà chịu cái phận thiếu.


Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần binh lính địch và gia đình của họ, gây nên một làn sóng dao động, hoang mang, sợ hãi, dẫn đến tình hình trật tự, kỷ luật bị phá vỡ, chỉ huy bất lực và cuối cùng là hỗn loạn lan tràn từ trên xuống dưới trong hàng ngũ địch. Tình trạng "vỡ đê" về tinh thần đó càng dồn quân địch vào cảnh sụp đổ hoàn toàn không phương cứu vãn.


Ba tác dụng trên đây của cách đánh chia cắt, vây hãm đã tạo cho ta những điều kiện rất thuận lợi để thực hành đột phá, tiêu diệt các cụm phòng ngự của địch, đánh chiếm các căn cứ quân sự, các thị xã giành thắng lợi to lớn và nhanh gọn.


Đột phá là hành động cuối cùng của chiến đấu và chiến dịch. Chỉ có tiến công đột phá vào trận địa của địch, tiêu diệt và bắt sống hết quân địch ngay tại trận địa phòng ngự của chúng thì chiến đấu mới kết thúc, đạt được thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng đột phá phải tinh nhuệ, thiện chiến và mạnh, vì phải đánh vào chỗ địch cứng nhất, mạnh nhất và có tính chất quyết định nhất của chiến đấu. Đột phá, đánh vỡ những cụm phòng ngự then chốt của địch là một điều kiện rất quan trọng. Các điểm phòng ngự then chốt là các điểm tụ, điểm tập trung sức mạnh của lực lượng phòng ngự. Các điểm này bị phá vỡ, sức mạnh bị tiêu diệt thì thế trận của địch bị rệu rã và đổ vỡ.


Trên cơ sở chia cắt, vây hãm ba cụm phòng ngự của địch ở: Kon Tum, Plây Cu và Buôn Ma Thuột, quan trong nhất là chia cắt, vây hãm tập đoàn chủ yếu của địch ở Plây Cu, ta thực hành một đòn đột phá Buôn Ma Thuột, đánh đúng vào cái huyệt hiểm của địch ở Tây Nguyên, ở Buôn Ma Thuột, ta không đột phá lần lượt, không đột phá vòng ngoài mà đột phá thọc sâu và vu hồi làm cho địch bị tiêu diệt nhanh chóng. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, các đội quân có sức chiến đấu mạnh hơn của địch ở Plây Cu đành đứng cứng ở đó mà nhìn, vì không mở được đường để đi ứng cứu. Địch cố tập trung và điều động máy bay lên thẳng ở các chiến trường khác đến, nhưng cũng chỉ đổ bộ hạ cánh được sư đoàn 23 (thiếu), không có xe tăng mà chỉ có ít pháo, xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường số 21. Sư đoàn này chưa kịp chuẩn bị, triển khai để làm nhiệm vụ thì đã bị tiêu diệt và đánh tan. Điều đó chứng tỏ tính chất lợi hại của thế chia cắt, vây hãm và sức mạnh của đột phá.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta đã thực hiện chia cắt vây hãm vững chắc và dẻo dai, đã tiến hành đột phá nhanh mạnh, sắc nhọn. Hai vế, hai thành phần của cách đánh này đều được thực hiện tốt nên đã bảo đảm thắng lợi của chiến dịch.


Do vây hãm tốt và đột phá giỏi nên ta lại tạo ra cách đánh quân địch tháo chạy, cách đánh dễ nhất, tốt nhất và tiêu diệt được nhiều quân địch nhất. Quân ta chỉ đánh một đòn mà ăn hai, không cần đánh vào Plây Cu mà địch ở đó đã phải bỏ chạy. Đây cũng là một thành công nổi bật của cách đánh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #158 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:18:36 am »

4. Điều khiển tình huống

Một điểm nổi rõ trong nghệ thuật chiến dịch ở Tây Nguyên là ta đã chủ động điều khiển tình huống, đã có mưu kế để gạn lọc và loại trừ những tình huống phức tạp, làm cho những tình huống phức tạp ít có khả năng xảy ra, vì thế chiến dịch diễn ra cũng giản đơn bớt đi, thuận lợi cho việc xử trí chỉ huy.


Chẳng hạn, mở đầu chiến dịch, quân ta đánh cắt các đường bộ, có nghĩa là đã loại trừ được hai tình huống: tình huống địch tăng viện, phản kích ứng cứu bằng đường bộ và tình huống địch rút chạy (địch tăng viện, phản kích bằng đường bộ là tình huống rất quan trọng; có trường hợp chiến dịch không thành công vì không đánh bại được quân tiếp viện phản kích). Loại trừ được hai tình huống quan trọng đó rồi, chúng ta chỉ cần dự kiến ba tình huống: một là quân địch tăng viện, phản kích bằng đường không, hai là chúng co cụm lớn, ngoan cố chống cự trong công sự vững chắc và ba là chúng liều lĩnh phá vây để rút chạy. Diễn biến thực tế cho ta thấy: quân địch đã phản kích bằng đường không về hướng Buôn Ma Thuột và liều lĩnh phá vây từ Plây Cu rút chạy về hướng đường 7, còn tình huống địch ngoan cố chống cự trong công sự vững chắc thì không xảy ra. Khi hai tình huống trên diễn ra, ta đều giải quyết được tốt vì đã có sẵn mưu kế và chỉ huy linh hoạt, kịp thời.


Điều khiển tình huống là một cuộc đối chọi gay gắt và khẩn trương giữa ta với dịch. Nó đòi hỏi bộ chỉ huy phải có nhiều mưu kế, phải sáng suốt, tỉnh táo, bình tĩnh, nhạy bén và quả cảm. Do có mưu kế và thực hiện được các mưu kế chiến dịch, ta đã làm chủ được các tình huống trong suốt quá trình diễn biến của chiến dịch Tây Nguyên và tạo ra được những tình huống có lợi. Kinh nghiệm cho thấy, trong chỉ đạo chiến lược và chiến dịch, nếu tạo ra được tình huống buộc địch phải bị động tháo chạy trong thế trận của ta là rất hay.


Căn cứ vào nhiệm vụ và ý đồ chiến lược chung, ý đồ của ta trong chiến dịch Tây Nguyên là tiêu diệt địch và giải phóng khu vực nam Tây Nguyên trước, sau đó sẽ giải phóng toàn Tây Nguyên và phát triển đi các hướng khác. Mưu kế chiến dịch của ta là: trước tiên hãy cô lập Tây Nguyên với đồng bằng. Trong phạm vi chiến trường Tây Nguyên, tiến hành chia cắt bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên, vây hám, cô lập tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tự do hành động, để có thể đối phó được ở chiến trường nam Tây Nguyên. Khi tập đoàn chủ yếu của địch đã bị trói chặt ở bắc Tây Nguyên, thì chiến trường nam Tây Nguyên hoàn toàn bị sơ hở. Ở đó, ta sẽ tập trung lực lượng chủ yếu, nhanh chóng đánh chiếm Buôn Ma Thuột, rồi giải phóng toàn bộ nam Tây Nguyên. Từ địa bàn rộng lớn cơ động lợi hại này, các binh đoàn hùng mạnh của quân ta sẽ ngang dọc đánh thọc đi các hướng. Vùng cao nguyên Trung Bộ và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ sẽ vô cùng sôi động, góp phần tạo ra thế chiến lược sôi động chung của toàn chiến trường miền Nam.


Thực hiện chia cắt, cô lập Tây Nguyên với đồng bằng là việc tương đối dễ vì ta giữ được quyền chủ động tương đối. Lôi kéo, thu hút quân địch lên bắc Tây Nguyên rồi giam hãm chúng ở đây là việc khó hơn, có thể là tình huống khó nhất. Ta phải đấu mưu đấu trí với địch trước khi bước vào trận Buôn Ma Thuột ở nam Tây Nguyên.


Tình huống thứ hai yêu cầu phải có mưu trí là tiến hành trận đánh then chốt vào Buôn Ma Thuột. Đánh thắng trận đầu vốn đã rất quan trọng, đánh thắng trận đầu then chốt lại càng quan trọng hơn. Vì thế, ta phải làm cho chiến trường nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột sơ hở.


Tình huống thứ ba ta dự kiến là: khi ta đang đánh thị xã Buôn Ma Thuột, có khả năng địch sẽ phản kích bằng đổ bộ máy bay lên thẳng, song lực lượng tăng viện bằng máy bay lên thẳng của quân ngụy không mạnh. Vì vậy binh đoàn đánh Buôn Ma Thuột phải tự mình có lực lượng dự bị, ngoài ra Bộ tư lệnh chiến dịch cũng có lực lượng dự bị chiến dịch để đối phó với các tình huống trên.


Tình huống thứ tư là: sau khi đã giải phóng được Buôn Ma Thuột, địch sẽ thực hành phản kích lớn, định chiếm lại Buôn Ma Thuột. Trường hợp này, quân ta đã có một địa bàn rộng rãi; ta có thể tập trung lực lượng dự bị chiến dịch cũng như lực lượng đánh Buôn Ma Thuột lúc đó đã rảnh tay, để đánh quân phản kích.


Tình huống thứ năm là: sau khi ta đã đánh bại được quân phản kích của địch về Buôn Ma Thuột, hoặc ta chưa đánh bại được hoàn toàn nhưng địch cũng không còn đủ sức để phản kích nữa thì ta xử trí ra sao, đánh đi đâu, phát triển tiến công về hướng nào? Để chỉ huy được tình huống này, ta phải có nhiều mưu kế và phải hết sức linh hoạt.


Trên đây là những tình huống lớn và cơ bản; cũng từ những tình huống đó, ta đã đặt ra những mưu kế lớn và cơ bản. Trong quá trình thực hành chiến dịch, mưu kế của ta đã phát triển hết sức phong phú. Trước hết, ta đã thực hiện tốt mưu kế thứ nhất là kéo địch về bắc Tây Nguyên và hãm địch ở đấy. Tuy nhiên, như ta biết, để thực hiện được mưu kế này, ta phải đấu tranh với địch rất gay gắt, đấu tranh hàng ngày, suốt từ tháng 2 cho đến ngày 10 tháng 3, ngày mở đầu trận then chốt đánh vào Buôn Ma Thuột. Ta làm cho địch mắc mưu và phán đoán lầm rằng ta sẽ tiến công bắc Tây Nguyên là chủ yếu, do đó từ cuối tháng 2 trở đi chúng đã để hở hướng nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Ta phải cố giữ tình trạng này cho đến đầu tháng 3, lúc ta bắt đầu đánh, cắt đường để cô lập Tây Nguyên với đồng bằng và chia cắt Tây Nguyên, vây hãm cụm Plây Cu, Kon Tum, cô lập Buôn Ma Thuột. Thành công này giúp ta điều kiện thuận lợi để đánh Buôn Ma Thuột nhanh chóng, gọn ghẽ.


Mưu kế kéo địch, hãm địch và diệt địch, đánh đòn then chốt đã giành được thắng lợi tốt đẹp. Song nếu không thực hiện được mưu kế đánh bại quân phản kích thì thắng lợi bước trước của ta sẽ bị mất hoặc không được củng cố. Đánh bại quân phản kích của địch không những bảo đảm củng cố được thắng lợi bưốc trưốc mà còn tạo ra được điều kiện để giành thắng lợi trong bước tiếp sau. Trong chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng của quân đoàn 2 không đáng ngại lắm đối với ta, vì ta có khả năng căng kéo, phân tán được chúng ra các hướng trên chiến trường Tây Nguyên. Điều ta cần quan tâm hơn là lực lượng tăng viện địch điều từ các chiến trường khác đến, nhất là lực lượng tổng dự bị.


Trong kế hoạch đánh Buôn Ma Thuột, ta đã dự kiến mấy tình huống và có mưu kế đối phó. Tình huống thứ nhất là trước khi ta đánh Buôn Ma Thuột, địch có thể điều động về đây từ 1 đến 2 trung đoàn để tăng cường phòng ngự cho thị xã này. Tình huống thứ hai là sau khi ta giái phóng được Buôn Ma Thuột, địch có thể tổ chức phản kích quyết liệt ở hai hướng: một là từ Plây Cu xuống, hai là từ Nha Trang lên. Thực tế cho thấy: địch không tăng cường trước cho Buôn Ma Thuột được; như thế là tình huống thứ nhất không xảy ra và được loại trừ. Mưu kế căng kéo, thu hút của ta đã thành công. Tình huống địch phản kích về Buôn Ma Thuột có xảy ra nhưng địch phản kích yếu ớt, không quyết liệt do bị chia cắt, vây hãm. Khi dịch đổ bộ hạ cánh sư đoàn 23 (thiếu) từ Plây Cu xuống dường 21, phía đông Buôn Ma Thuột thì ta đã có lực lượng dự bị hùng hậu, sẵn sàng tiến ra đánh phủ đầu ngay cánh quân phản kích đó và đánh bại chúng một cách nhanh chóng. Như thế là mưu kế đánh phản kích của ta cũng thành công.


Thắng lợi này đã củng cố thắng lợi Buôn Ma Thuột và tạo điều kiện để nhanh chóng phát triển tiến công xuống đồng bằng, đánh tan quân dù ra ngăn chặn và giải phóng Nha Trang, Cam Ranh.

Gạn lọc được tình huống, điều khiển được tình huống, đặt ra và thực hiện được nhiều mưu kế linh hoạt, sâu hiểm, quân ta đã dồn quân địch vào cảnh thế cùng, lực tận để rồi tiêu diệt chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #159 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2023, 07:20:08 am »

5. Thế trận

Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã kết hợp thế đánh đằng trước mặt địch với thế đánh ở đằng sau lưng và cạnh sườn quân địch, làm cho địch bị đánh từ nhiều phía, không đường xoay xở và chống đỡ, không thể tập trung được lực lượng, phải bị động đối phó ở khắp nơi. Ta đánh địch ở Buôn Ma Thuột, Plây Cu, đồng thời lại đánh cả ở trên đường số 19, 21 và 14. Thế trận đó vừa mạnh lại vừa hiểm, linh hoạt và dẻo dai, thiên biến vạn hóa, khiến ta có thể phá được thê địch chứ không để cho địch phá được thế ta. Lực lượng đánh Buôn Ma Thuột của ta không đơn độc, khi cần thiết có thể được lực lượng đánh trên đường số 14 ở Cẩm Ga - Thuần Mẫn đến tăng cường.


Thế đánh trên đường số 14 ở Cẩm Ga, giữa Plây Cu và Buôn Ma Thuật rất linh hoạt, cơ động. Ta có thể đánh về hướng Buôn Ma Thuột, đánh về hướng Plây Cu, và cũng có thể đánh về hướng Cheo Reo. Lực lượng ở hướng đường số 19 có thể đánh địch ở trên đường bộ và khi cần lại có thể đánh về hướng Plây Cu, hoặc về hướng An Khê. Thế đánh ở đường số 19 và đường số 21 là thế đánh chia cắt quân địch ở Tây Nguyên với đồng bằng, lại là thế đánh vào đằng sau lưng địch, một thế đánh sâu và hiểm. Thế đánh vào sân bay nhằm làm cho địch không thể tiếp tế bằng đường không một cách dễ dàng.


Thế trận càng phong phú, nhiều hình nhiều vẻ, càng phức tạp thì càng dễ điều khiển các tình huống và chỉ huy càng chủ động. Trong chiến dịch Tây Nguyên, các thế trận đã được tổ chức tương đối hoàn chỉnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ được lẫn nhau, hợp thành chính thể của một thế trận chung, vừa vững mạnh vừa sắc nhọn.


Thực hiện được thế vây, thế cắt trên các đường số 19, 21 và 14, ta đã làm cho quân địch ở Tây Nguyên bị cô lập ra từng cụm, từng mảnh, đi đến chỗ bị suy yếu, mòn mỏi.

Thực hiện được thế kìm, thế hãm quân địch ở bắc Tây Nguyên, ta đã làm cho địch bị thu hút và bị trói chặt, bị giam hãm ở đó, có lực lượng mà đành chịu không phát huy được. Thế này đã tạo được điều kiện tốt cho thế diệt.


Do được tổ chức tốt, lại được các thế khác tạo điều kiện thuận lợi, nên thế diệt của ta đã phát triển được liên tục, ngày càng mạnh và thắng lợi ngày càng to, từ Buôn Ma Thuột đến Cheo Reo, Phước An, Khánh Dương, Củng Sơn, đèo Phượng Hoàng đến Bình Khê, sân bay Gò Quánh, thị xã Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh và sân bay Thành Sơn.


Ta thực hiện được các thế trận thành công là do đã phân tích đúng hình thái và thế trận của địch và đã đánh đúng vào chỗ dễ tan vỡ của địch.

Thế trận của địch được tổ chức và bố trí thành tuyến chạy dọc theo các trục đường giao thông. Trên tuyến có các điểm gồm các thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự và các đồn bốt lẻ. Các thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự là những điểm phòng ngự then chốt, những cái nút của tuyến phòng ngự, là chỗ tựa của lực lượng phòng ngự.


Tuyến phòng ngự chạy dọc theo đường giao thông là tuyến phòng ngự cơ bản, là xương sống của phòng ngự địch. Một số điểm phòng ngự lẻ, đồn bốt, cứ điểm lẻ, bố trí ở ven phía ngoài đường giao thông hình thành một tuyến phòng ngự tiền duyên không liên tục, đứt đoạn, rất mỏng yếu. Nó mang tính chất an ninh, cảnh giới, chỉ có khả năng đối phó với hoạt động tác chiến du kích, không đủ sức chống cự với quân chủ lực của đối phương. Vì vậy, quân chủ lực của ta chỉ cần đánh một vài cứ điểm hoặc có khi không cần đánh vẫn có thể vượt qua tuyến phòng ngự tiền duyên đó để đánh thẳng vào các thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự nằm trên trục đường giao thông. Khi đánh thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta đã vượt qua, không cần đánh các cứ điểm phòng ngự vòng ngoài, trên tuyến phòng ngự tiền duyên của Buôn Ma Thuột là Bản Đôn, Chi Lăng, Chư Nga ở phía bắc, Đra Dơ Lin ở phía tây, cầu Sê Rê Pốc, Đoàn Kết, Thọ Thành ở phía tây - nam và nam.


Cách bố trí tuyến phòng ngự của địch như vậy lộ rõ sự mỏng yếu, không có chiều sâu phòng ngự lớn và vững chắc. (Tuy nhiên, ở một vài khu vực phòng ngự chủ yếu, thế trận phòng ngự của địch cũng có chiều sâu khá hơn, như ở Plây Cu, Kon Tum, Buôn Ma Thuột). Đối phương rất dễ tiến công, đánh chiếm các cứ điểm trên tuyến cơ bản, cắt đứt xương sống phòng ngự ra làm nhiều mảnh, phá vỡ thế trận phòng ngự của địch. Khi một điểm nào đó ở trên tuyến bị tiến công, đội dự bị hoặc thê đội hai của địch ra phản kích lại phải tiến dọc theo đường, giơ sườn lồ lộ ra cho đối phương chặn lại tiêu diệt, không tiến tới được mục tiêu cần ứng cứu.


Ta đã biết khai thác, khoét sâu nhược điểm đó nên chỗ yếu mỏng của địch càng tăng. Trong chiến dịch, ta đã bám lấy hai bên đường giao thông, tức là thế chiều dọc của tuyến phòng ngự cơ bản của địch, mà đánh vào từng điểm. Như vậy, chỉ cần một lần đột phá chiến thuật hoặc chiến dịch, ta cũng đánh được vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, không phải trải qua nhiều lần đột phá liên tục. Đánh một thị trấn, chi khu, quận lỵ trên đường giao thông, ta chỉ cần đột phá chiến thuật là giải quyết ngay được căn cứ quân sự cỡ nhỏ hoặc cỡ vừa đó. Điều này đã được trận đánh Cẩm Ga - Thuần Mẫn ngày 8 tháng 3 và trận Đức Lập ngày 9 tháng 3 chứng minh là đúng. Đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột, ta cũng chỉ cần một lần đột phá chiến dịch, không cần đột phá liên tục. Tuy là đột phá chiến dịch, nhưng tại nhiều mũi, ta cũng chỉ cần có một lần đột phá chiến thuật là đánh ngay được vào thị xã, không kể mũi thọc sâu.


Như thế là đột phá chiến thuật đã làm được đột phá chiến dịch. Thế trận, đội hình phòng ngự theo tuyến đường giao thông của địch nói chung tương đối đơn giản, không có nhiều tuyến phụ, điểm phụ, mỏng yếu, không vững chắc. Đó là do nó bị tác động bởi thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Ta đã đánh ép địch, đã cài xen kẽ, buộc thế trận của địch phải co hẹp vào mấy tuyến trơ trọi và một số điểm không có độ dày. Như vậy, thế trận của địch đã bị thế trận của ta bao vây và xuyên cắt. Muốn toàn bộ đội hình của địch nhanh chóng bị xiêu vẹo, đổ vỡ thì ta đánh đồng thồi hoặc đánh kế tiếp liên tục vào cả hai thành phần cấu thành thế trận của địch là tuyến và điểm. Có thể hình dung tuyến là cạnh và điểm là góc. Đánh đồng thời, kế tiếp cả cạnh và góc thì cái hình sẽ mau sụp đổ. Đánh cạnh trước rồi tiếp ngay sau đó đánh luôn cả góc. Đánh cạnh dễ hơn đánh góc, vì góc là chỗ hợp tụ của lực. Đánh cạnh thì góc đâm ra yếu đi, và dễ đánh hơn. Có lực lượng lớn, ta có thể đánh ngay góc trước làm cho toàn bộ cái hình đổ vỡ nhanh hơn. Nếu không có lực lượng lớn, song góc lộ ra chỗ yếu thì ta cũng có thể đánh ngay vào đó trước. Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975, ta đánh vào tất cả các cạnh của cái hình Tây Nguyên và đập vào một góc quan trọng là Buôn Ma Thuột, do đó toàn bộ cái hình Tây Nguyên đổ vỡ. Tất cả các cạnh ở Tây Nguyên đều bị đánh, bị vỡ nên tất cả các góc ở Tây Nguyên đều yếu đi và xiêu vẹo. Cái góc Buôn Ma Thuột lại có liên quan với các cạnh và các góc trong một cái hình rộng lớn ở đồng bằng ven biển, nên khi nó bị vỡ thì rung động xiêu vẹo cả Tây Nguyên và đồng bằng, làm cho Tây Nguyên bị đổ vỡ nhanh chống, kéo theo ngay sự đổ vỡ của đồng bằng.


Cùng với thế trận chung, quân ta cũng đã giải quyết được tốt các yếu tố, các thành phần khác của thế trận, ví dụ các vấn đề: xác định khu quyết chiến để đánh trận then chốt, tổ chức và sử dụng các đội dự bị chiến dịch gần và xa, tổ chức và thiết bị chiến trường, v.v... để đưa trận Buôn Ma Thuột và cả chiến dịch Tây Nguyên đến thắng lợi nhanh gọn, giòn giã.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM