Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Bảy, 2024, 06:34:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 13630 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #130 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2023, 08:01:02 am »

Xét về hình thái chiến trường, thị xã Kon Tum là một khu vực phòng ngự của địch nằm nhô ra trên đoạn đầu của tuyến phòng ngự chiến lược Tây Nguyên. Sau Hiệp định Pa-ri, đối diện với thị xã này là vùng giải phóng của ta, có bộ đội chủ lực mạnh bố trí bám sát. Địch cho rằng nếu đánh Tây Nguyên ta sẽ đánh phía bắc, nên chúng tập trung lực lượng để giữ Kon Tum và Plây Cu. Quân địch phòng ngự khu vực thị xã Kon Tum không những luôn luôn được tăng cường về mặt bố phòng mà còn được bố trí lực lượng mạnh hơn so với thị xã Buôn Ma Thuột. Vì vậy, nếu chọn thị xã Kon Tum làm trận then chốt và trận mở đầu chiến cục mùa Xuân 1975 thì có nghĩa là sẽ đánh vào một kẻ địch luôn luôn có bố phòng cẩn mật, đánh váo một khu vực phòng ngự nhô ra, không phải là một điểm cơ động để từ đấy có thể phát triển tiến công đi các hướng, nói chung rất ít có liên quan về chiến dịch và chiến lược với toàn bộ chiến trường. Mặc dầu tại khu vực này ta có một số thuận lợi cho việc chuẩn bị tiến công, nhưng nếu chọn đây là điểm của chiến dịch thì không thích hợp, còn làm trận mở đầu thì không giành được thế bất ngờ vì địch đã có đề phòng, chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho ta. Mà nếu ta có quyết tâm khắc phục khó khăn để đánh chiếm được Kon Tum thì cũng không có hướng phát triển rộng và hiểm; muốn phát triển ta lại phải tổ chức tiến công tiếp vào tuyến phòng ngự chính, tức là vào thị xã Plây Cu, mới có điều kiện. Như vậy thì khó làm rung chuyển được chiến trường Tây Nguyên và các chiến trường lân cận.


Đặt vấn đề tiến công tiếp ngay một thị xã lớn hơn để lấy đà phát triển chiến dịch là vấn đề không đơn giản. Muốn hay không muốn thì khi mất Kon Tum, địch ở Plây Cu cũng phản ứng quyết liệt. Ta chưa đánh chiếm được Plây Cu thì địch vẫn còn khả năng tăng cường cố thủ Plây Cu, kết hợp với quân tăng viện đường không phản kích lại, không phải chỉ phản kích một lần mà có khả năng phản kích nhiều lần, tình huống sẽ diễn ra rất phức tạp. Như vậy, chiến dịch dễ lâm vào tình trạng bế tắc, không phát triển được. Cho nên chọn thị xã Kon Tum làm điểm đánh trận đầu là không hay.


So sánh với thị xã Kon Tum thì thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch. Buôn Ma Thuột có 120.000 dân, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Tây Nguyên và cũng là nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động ở vùng này. Về quân sự, thị xã Buôn Ma Thuột có vị trí rất cơ động, đứng ngay ở ngã ba đường chiến lược số 21 nối liền với Nha Trang và đường số 14, phía bắc đi Cheo Reo và Plây Cu, phía nam đi Gia Nghĩa và miền Đông Nam Bộ. Do nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch nên quân chiếm đóng ở đây không bị đối mặt trực tiếp với quân ta như ở Kon Tum. Tuy chúng có đặt hậu cứ của sư đoàn 23 ở đây, nhưng so sánh tổng số lực lượng chiến đấu thì ít hơn Kon Tum, về mặt bố phòng cũng không chặt chẽ bằng.


Đánh Buôn Ma Thuột, ta sẽ có khó khăn trong công tác trinh sát nắm địch, nắm địa hình, vận chuyển vật chất hậu cần và cơ động tập kết, triển khai lực lượng. Mọi hoạt động chuẩn bị cho các công tác trên phải làm rất công phu và phải tuyệt đối giữ bí mật, kết hợp với hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý và đối phó của địch về hướng khác thì mới loại bỏ được khả năng địch tăng cường dự phòng. Tuy nhiên, dù công tác chuẩn bị có khó khăn và công phu thật song ta vẫn có khả năng khắc phục, vì điều kiện khắc phục hoàn toàn do nỗ lực chủ quan của ta quyết định.


Quyết tâm chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm trận đánh then chốt, trận đánh mở đầu là rất chính xác, làm một đòn đánh hiểm, nhằm vào chỗ sơ hở, điểm yếu của địch. Đánh chiếm được Buôn Ma Thuột, ta sẽ tạo được đà để nhanh chóng phát triển lực lượng xuống các tỉnh ven biển miền Trung, và tùy tình hình lúc đó sẽ phát triển được lực lượng xuống miền Đông Nam Bộ, hay phát triển tiến công thị xã Plây Cu. Một khi đã tạo ra được đà phát triển thì cũng tức là đã làm chuyển biến tình thế chiến lược, mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của địch, cô lập quân địch còn lại ở quân khu 2 và trực tiếp uy hiếp quân khu 3 của chúng. Ý nghĩa quan trọng của việc đánh Buôn Ma Thuột là tạo thế phát triển tiến công ra các hướng hiểm yếu và quan trọng khác.


Với thế trận đánh chia cắt, ta đã cài sẵn được lực lượng, thì khi đánh thị xã Buôn Ma Thuột, địch khó có thể cơ động được lực lượng đến phản kích bằng đường bộ như ở Kon Tum. Địch có thể cơ động được lực lượng đến phản kích bằng đường không, song khó đưa lực lượng lớn đến ngay được. Và khi đã mất Buôn Ma Thuột thì dù địch ra phản kích bằng đường không lớn hay nhỏ, nhanh hay chậm hoặc có thể gây cho ta những khó khăn nhất định, chúng vẫn không cản được đà phát triển của quân ta ra các hướng. Nếu dự kiến được kế hoạch chu đáo, nắm chắc lực lượng dự bị và sẵn sàng cơ động, ta có khả năng tiêu diệt quân phản kích nhanh gọn.


Như vậy là mọi người đã nhanh chóng nhất trí về nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của chiến dịch.

Để thực hiện các đòn chiến dịch, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch đề ra ý định tác chiến như sau:

Trước hết nhử địch, kéo địch về Plây Cu - Kon Tum rồi hãm địch ở đó, làm cho Buôn Ma Thuột bị sơ hở để ta tiêu diệt một cách dễ dàng và ít bị tổn thất. Tiếp đó, ta tiến công Cheo Reo (Phú Bổn) rồi đến Gia Nghĩa (Quảng Đức) giải phóng ba tỉnh ở phía nam để mở ra khu vực rộng lớn có lợi, tạo điều kiện và thời cơ phát triển tiến công đi các hướng khác. Trong quá trình này, ta vừa trói chặt vừa tiến công tập đoàn chủ yếu của địch ở Plây Cu - Kon Tum làm cho chúng bị suy yếu mòn mỏi, rồi bất ngờ tiêu diệt chúng một cách nhanh chóng.


Theo phương án tác chiến của chiến dịch, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch đã kết luận là phải bố trí lực lượng hình thành một thế trận "trói địch lại mà đánh", nghĩa là thế trận hoàn toàn chủ động tiến công địch, buộc địch phải bị động đối phó theo cách đánh của ta và loại trừ tình huống địch tăng viện lớn theo đường bộ đến trong lúc ta đang giải quyết các mục tiêu chính của chiến dịch. Thế trận "trói địch lại mà đánh" ta lập ở Tây Nguyên hoàn toàn có cơ sở khách quan, vì nó căn cứ vào tình hình bố trí lực lượng và thế trận phòng ngự của địch ở vùng này.


Như ta đã biết, trên địa bàn Mỹ - ngụy còn kiểm soát được ở miền Nam, thế trận phòng ngự chiến lược của địch cho đến lúc ta chuẩn bị chiến dịch Tây Nguyên vẫn chưa có gì thay đổi: chúng vẫn bố trí lực lượng, giữ thế mạnh ở hai đầu. Ở địa bàn chiến lược quân khu 2, chúng vẫn bố trí lực lượng ít hơn các quân khu khác. Trong phạm vi quân khu 2, chúng lại tăng cường đại bộ phận chủ lực của quân khu cho Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành tuyến chiến lược thứ nhất, các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định đến Bình Thuận là tuyến chiến lược thứ hai. Ý đồ phòng ngự chiến lược của địch bộc lộ khá rõ ràng:

- Một là dùng Tây Nguyên làm tuyến cơ bản để thực hành tác chiến phòng ngự từ vòng ngoài, án ngữ và ngăn chặn không cho ta phát triển tiến công xuống các tỉnh miền Trung.

- Hai là lợi dụng tính chất phân cắt của địa hình Tây Nguyên để tổ chức phòng ngự khu vực trên toàn tuyến phòng ngự chiến lược này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #131 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2023, 08:01:50 am »

Với cách tổ chức trên, địch định lợi dụng dung lượng chiến trường lớn của Tây Nguyên để triển khai tại chỗ binh lực lớn và vũ khí kỹ thuật. Nếu như Tây Nguyên là tuyến thứ nhất đồng thời là tuyến cơ bản để chống cự với ta thì các tỉnh ven biển miền Trung là tuyến thứ hai đồng thời là tuyến hậu phương. Tuyến hậu phương ven biển có hai con đường chiến lược số 19 và số 21 nối liền với Tây Nguyên và được tuyến Tây Nguyên nằm án ngũ trên hai con đường đó che chở an toàn. Vì lẽ đó nên địch có thể bớt lực lượng ở tuyến hậu phương để tăng cường bố trí cho tuyến thứ nhất, thường xuyên tiếp tế vận chuyển hậu cần, khi cần thiết và có điều kiện thì tăng viện cho nó.


Thế nhưng, dù địch có khôn ngoan mấy đi nữa cũng không tránh khỏi những nhược điểm của một thế trận phòng ngự bị động và chắp vá, mạnh tuyến ngoài, yếu tuyến trong, có tung thâm sâu nhưng trống rỗng. Đành rằng địch có thể ỷ lại vào phương tiện chuyên chở nên có khả năng cơ động tăng viện, song yếu tố bên ngoài không thể thay thế cho yếu tố bên trong, thế trận của chúng là thế trận đảo ngược. Trước thế trận đó, nếu ta đánh chia cắt hai con đường chiến lược 19 và 21 thì quân khu 2 của địch sẽ trở thành hai khu riêng biệt, không liên hệ được với nhau. Và nếu ta áp sát, bao vây chặt Tây Nguyên thì khu vực này sẽ bị cô lập hoàn toàn. Trường hợp đó, địch có thể lập một cầu hàng không để vận chuyển tiếp tế và cơ động lực lượng tổng dự bị đến tăng viện, nhưng chúng khó mà thực hiện được khả năng vô cùng tốn kém này giữa lúc quân dân ta đang vừa tiến công vừa nổi dậy trên khắp các chiến trường với khí thế ngút trời. Thảng hoặc, chúng cũng có thể dốc hết sức ra để thực hiện được phần nào song lại rất dễ bị quân ta chặn đánh hoặc tiêu diệt.


Đối với hệ thống phòng ngự khu vực của địch trên chiến trường Tây Nguyên, ta cần nghiên cứu kỹ từng khu vực cụ thể để sử dụng lực lượng và vận đụng cách đánh cho thích hợp. Tuy nhiên, nếu xét toàn tuyến Tây Nguyên, được hình thành bởi các khu vực phòng ngự, thì rõ ràng kẻ địch ở đây đã bộc lộ những chỗ trống hoặc những kẽ hở của nơi tiếp giáp giữa hai khu vực. Ta có thể lợi dụng những chỗ trống và những kẽ hở đó để thực hành chia cắt quân địch ở Tây Nguyên ra làm nhiều mảng và bao vây chặt chúng ở từng khu vực để tiêu diệt.


Thế trận "trói địch lại mà đánh" ta lập ở Tây Nguyên đã hình thành trên cơ sở phân tích tình hình địch nói trên. Với tư tưởng triệt để lợi dụng những chỗ yếu và sơ hở của địch, đó là thế trận "chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công đột phá, vừa bí mật vừa nghi binh".


- Thế chia cắt: trong chiến dịch có hai thứ chia cắt - chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch.

Chia cắt chiến lược là chia cắt giữa tuyến Tây Nguyên với tuyến hậu phương các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, nhằm cô lập Tây Nguyên với các chiến trường khác ở miền Nam. Mục tiêu chia cắt là đường chiến lược số 19 và đường chiến lược số 21.


Chia cắt chiến dịch là chia cắt giữa các khu vực phòng ngự với nhau trên chiến trường Tây Nguyên, chia cắt nam và bắc Tây Nguyên, làm cho các khu vực không liên hệ và chi viện được cho nhau, nhằm cắt và giữ tập đoàn chủ yếu của địch ở Plây Cu - Kon Tum, làm cho Buôn Ma Thuột sơ hở và cô lập để ta dễ tiêu diệt.


Ta đã từng có kinh nghiệm thực tiễn về chia cắt địch. Năm 1972, ta dùng 2 trung đoàn đánh chia cắt, giữ đường số 14 suốt 68 ngày rồi tự động rút, địch không làm gì được. Trên đường số 13, ta dùng một sư đoàn đánh chia cắt, chốt giữ Tàu Ô - Chơn Thành từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 1 nâm 1973, vừa đúng 10 tháng, đến lúc ký Hiệp định Pa-ri địch cũng không chọc thủng được.


Trong chiến dịch này, ý định chia cắt địch có tầm quan trọng đặc biệt mà ta phải đạt bằng được. Để chia cắt đường số 19, Bộ Tổng tư lệnh cho 1 sư đoàn của Quân khu 5 đảm nhiệm chia cắt đoạn từ Phú Phong đến An Khê (Bình Định), 1 trung đoàn của lực lượng chiến dịch đảm nhiệm đoạn từ Côn Tầng đến A Dun (Gia Lai). Để chia cắt đường số 21, 1 trung đoàn khác của lực lượng chiến dịch đảm nhiệm đoạn đông - tây Chư Cúc thuộc địa phận huyện Khánh Dương. Đặc biệt trên đường số 14, 1 sư đoàn mạnh của lực lượng chiến dịch vừa đảm nhiệm đánh chia cắt đoạn Cẩm Ga - Thuần Mẫn nhằm cắt đứt sự liên hệ của địch giữa Plây Cu với Buôn Ma Thuột, cô lập Buôn Ma Thuột, đồng thời lại đảm nhiệm tiêu diệt quân tăng viện từ Plây Cu xuống Buôn Ma Thuột và sẵn sàng làm lực lượng cơ động cho chiến dịch.


Để đối phó với lực lượng quân ta đánh chia cắt, không tính thời gian chỉ tính lực lượng, thì trên đường số 19 muốn giải tỏa được giao thông, ít nhất quân địch cũng phải đưa ra khoảng 2 sư đoàn; trên đường số 21 ít nhất cũng phải đưa ra 1 sư đoàn. Còn trên đường số 14, nếu chỉ có lực lượng của địch ở Tây Nguyên thôi thì chúng không có cách gì qua nổi. Ta có thể khẳng định rằng đây là đòn hiểm, xuyên cắt sống lưng địch ra làm hai phần.


Thực hiện được thế trận đánh chia cắt trên, ta có khả năng loại trừ được tình huống quân địch từ chiến trường ven biển lên tăng viện cho Tây Nguyên bằng đường bộ, hoặc cơ động lực lượng từ khu vực này sang khu vực khác trên chiến trường Tây Nguyên. Nhưng chúng vẫn có thể có khả năng tăng viện bằng đường không, tuy lực lượng tăng viện không lớn. Vì vậy, các lực lượng đánh chia cắt phải dự kiến được trước khu vực địch đổ bộ, có kế hoạch tác chiến trên hướng đánh chia cắt và sẵn sàng có lực lượng cơ động phối hợp với binh đoàn dự bị của chiến dịch để nhanh chóng tiêu diệt chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #132 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2023, 08:03:46 am »

- Thế vây hãm, vừa vây hãm vừa tiến công, đột phá: trong chiến dịch có cả vây hãm về chiến dịch, có cả vây hãm về chiến thuật.

Vây hãm về chiến dịch là vây hãm cô lập chiến trường Tây Nguyên, vây hãm về chiến thuật là vây hãm mục tiêu định tiến công tiêu diệt. Giữa vây hãm chiến dịch và vây hãm chiến thuật thì vây hãm về chiến dịch phải được thực hiện trước một bước. Trong vây hãm chiến thuật có thể có mục tiêu phải hình thành vây hãm trước rồi mới tiến công, đột phá và cũng có thể có mục tiêu phải thực hiện vây hãm trong quá trình tiến công, đột phá.


Do đó vây hãm phải kết hợp chặt chẽ với tiến công, đột phá; thực hành vây hãm phải tạo cho được bàn đạp tiến công và thời cơ tiến công, đột phá. Phải vây hãm được địch rồi mới tiến công, đột phá và ngược lại phải tiến công, đột phá mãnh liệt để tạo điều kiện phát triển vây hãm trong trường hợp mục tiêu định vây hãm tiếp phải hình thành trong quá trình tiến công, đột phá.


Thực hiện được vây hãm tức là ta đã trói địch lại mà đánh. Một kẻ địch đã bị trói như vậy thì chỉ còn con đường đầu hàng hay tháo chạy, hoặc để ta tiêu diệt đến tên cuối cùng mà thôi.

So sánh chung lực lượng ta với địch trên toàn chiến trường thì có mặt ta hơn địch không nhiều, có những mặt ta lại kém địch. Thế nhưng, thực tiễn chiến đấu đã chứng minh: khi địch sa vào thế vây hãm, chia cắt của ta thì ngay từ giai đoạn đầu của chiến dịch, ta đã tập trung được ưu thế lực lượng so với địch ở khu vực chủ yếu. Trận Buôn Ma Thuột, so sánh lực lượng đôi bên, ta thấy: về bộ binh, ta 5,5 - địch chỉ có 1; về xe tăng, xe bọc thép, ta 1,2 - địch 1; về pháo lớn, ta 2,1 - địch 1. Nếu trong quá trình phát triển chiến dịch, thế trận bao vây chia cắt vẫn vững vàng, ta tiến công quân địch ở chỗ nào diệt gọn chúng ở chỗ đó, thì ta còn có thể cơ động tập trung lực lượng lớn hơn để thực hiện tiến công hợp điểm vào mục tiêu lớn hơn nữa, và cứ như thế tăng dần sự tập trung lực lượng, lần lượt tiêu diệt đến tên địch cuối cùng một cách thuận lợi mà chúng không có cách gì cứu vãn nổi.


- Bí mật, nghi binh: nghi binh phải tiến hành song song với giữ bí mật.

Trong chiến dịch, ta dùng 1 sư đoàn (thiếu) làm nhiệm vụ nghi binh thu hút địch ở hướng Kon Tum và Plây Cu. Hoạt động nghi binh phải phối hợp chặt chẽ với hoạt động đánh chia cắt địch làm chúng hoang mang, phán đoán sai lầm, phân tán sự đối phó và khi đã biết được đích xác hướng tiến công của ta thì chúng cũng không còn cách gì chống đỡ được nữa.


Thế trận của chiến dịch là một thế trận hoàn chỉnh. Ta phải bí mật triển khai lực lượng để hình thành thế trận đó. Giữa chia cắt, vây hãm, tiến công và nghi binh phải có sự kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ trực tiếp cho nhau để tạo ra thời cơ cho chiến dịch. Đương nhiên, chiến dịch phát triển được thuận lợi hay không còn tùy thuộc vào nghệ thuật chỉ huy và hành động của các binh đoàn, bộ đội binh chủng hiệp đồng chiến đấu. Song bày được một thế trận hay là cơ sở cho người chỉ huy chủ động điều khiển chiến dịch biến hóa nhịp nhàng, trong quá trình diễn biến của chiến dịch có thể nhanh chóng khắc phục được những khó khăn do địch chống cự gây ra và luôn luôn tạo ra được tình thế mới, thời cơ mới thuận lợi hơn.


Bày được thế trận đó ở Tây Nguyên tức là ta đã thực hiện mưu kế của ta nhằm đạt được ý đồ dùng vài ba đòn chiến dịch để tiêu diệt quân đoàn 2 địch và giải phóng Tây Nguyên.

Về phương án đánh Buôn Ma Thuột - trận mở đầu then chốt của chiến dịch Tây Nguyên, chúng ta đã chuẩn bị rất kỹ.

Xuất phát từ nhiệm vụ chiến dịch, đặc điểm tình hình ta - địch, điều kiện chiến trường... đặc biệt là căn cứ vào sự phân tích thủ đoạn phòng ngự và biện pháp tăng cường dự phòng của địch, ta đã đề ra hai phương án tác chiến để bảo đảm đánh chắc thắng.


Phương án 1: Đánh quân địch chưa có phòng ngự dự phòng.

Như ta đã biết, lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột cơ bản gồm có các đơn vị chủ lực: 1 trung đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh; các căn cứ: hậu cứ sư đoàn 23 và các đơn vị trực thuộc, hậu cứ trung đoàn 45 bộ binh, hậu cứ trung đoàn 8 thiết giáp, hậu cứ trung đoàn 232 pháo binh; sân bay thị xã; các đơn vị địa phương: 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ, 800 cảnh sát các loại, các lực lượng bảo an, dân vệ quận lỵ chi khu, ấp chiến lược và trung đoàn 23 (thiếu) cùng lính bảo vệ ở sân bay Hòa Bình. Tổng cộng khoảng 8.410 tên.


Trong quá trình ta tiến công vào Buôn Ma Thuột, địch có thể cơ động đến thêm 2 - 3 trung đoàn hoặc liên đoàn quân biệt động. Nhưng trong điều kiện ta khóa được đường bộ, địch phải cơ động bằng đường không, thì sau khi ta nổ súng từ 2 đến 3 ngày, địch mới có thể cơ động đến 1 trung đoàn và sau 3 đến 5 ngày mới có thể cơ động đến trung đoàn thứ hai.


Nếu đến ngày N (ngày quy định nổ súng của cấp trên) tình hình địch vẫn không có gì thay đổi thì các lực lượng của ta tham gia trận đánh gồm có:

- 1 sư đoàn tăng cường (Sư đoàn 316 tăng cường trung đoàn 95A và tiểu đoàn 5 của Sư đoàn 10),

- 1 trung đoàn đặc công (trung đoàn 198),

- 2 trung đoàn cao xạ (trung đoàn 232 và trung đoàn 234),

- 2 cụm pháo binh (trung đoàn 40 và trung đoàn 675),

- 2 trung đoàn công binh (trung đoàn 7 và trung đoàn 575),
   
- 1 trung đoàn xe tăng - xe bọc thép (trung đoàn 273),

- 1 trung đoàn thông tin (trung đoàn 29).

Ta dùng cách đánh như sau: đánh bên ngoài thị xã kết hợp với đánh trực tiếp vào thị xã, lấy đánh trực tiếp vào thị xã làm chủ yếu; kết hợp đột phá với đặc công luồn sâu, bộ binh và xe tăng - xe bọc thép thọc sâu, chia cắt và cô lập địch ra từng khu vực, dùng đột phá kết hợp với thọc sâu làm chủ yếu để tiêu diệt địch.


Trong thị xã có 5 khu vực mục tiêu: sân bay thị xã, trận địa pháo binh - thiết giáp, tiểu khu Đắc Lắc, sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy với các phân đội trực thuộc, khu kho Mai Hắc Đế. Sở chỉ huy sư đoàn 23 được xác định là mục tiêu chủ yếu, tiểu khu Đắc Lắc và trận địa pháo binh - thiết giáp là mục tiêu quan trọng.


Ngoài thị xã có các khu vực mục tiêu liên quan, trực tiếp bảo vệ thị xã gồm: hậu cứ trung đoàn 45 thuộc sữ đoàn 23 ờ dọc hai bên đường 21 cách thị xã 2km về phía đông; sân bay Hòa Bình và hậu cứ trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23 ở cách thị xã 5km vẽ phía đông, đông - nam và các điểm cao Chư Duê, Chư E Bua, 596, 491,... cùng các ấp chiến lược ở sát xung quanh thị xã.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #133 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2023, 08:04:55 am »

Căn cứ vào hình thái bố trí phòng ngự, tính chất các mục tiêu của địch và tình hình địa hình, ta xác định ba hướng tiến công: hướng bắc, hướng tây - nam và hướng nam, lấy hướng bắc làm hướng chủ yếu.


Về đội hình chiến đấu, ta tổ chức thành bốn mũi tiến công và một đội dự bị mạnh. Khi thông qua, Bộ chỉ huy tiền phương, Bộ Tổng tư lệnh có bổ sung thêm một mũi thọc sâu nữa là năm mũi. Các mũi tiến công đều tổ chức lực lượng đột kích bằng binh chủng hợp thành cỡ tiểu đoàn, trung đoàn, trang bị tương đối mạnh. Trong năm mũi tiến công thì bốn mũi có xe tăng - xe bọc thép (đông - bắc, tây, tây - bắc và tây - nam). Còn mũi vào hướng đông - nam do phải cơ động xa, qua nhiều địa hình phức tạp, nên không tổ chức xe tăng cùng đi được. Để thực hiện cách đánh và giữ bí mật, các mũi đột kích không bố trí sẵn ở vị trí xuất phát tiến công mà tập kết ở một đia điểm cách mục tiêu tiến công từ 15 - 20 - 25km. Trong khi đó, ta tổ chức các đơn vị đặc công, bộ binh luồn sâu, ém sẵn, đánh chiếm một số mục tiêu xung yếu tạo thời cơ, đồng thời tổ chức một số trận địa pháo ĐKB, H12, dùng hỏa lực tập kích gây thiệt hại cho địch và tổ chức các đơn vị công binh, bí mật làm đường cơ động tới gần các khu vực mục tiêu tiến công địch.


Ta tổ chức phản chia nhiệm vụ và hành động hiệp đồng cho các đơn vị như sau:

- Các đơn vị đặc công, có bộ binh theo sau, luồn áp sát mục tiêu và được ưu tiên nổ súng trước, bất ngờ đánh chiếm sân bay thị xã phát triển vào chiếm và chốt Ngã Sáu trong thị xã; đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế và sân bay Hòa Bình, nhằm cắt ngay nguồn cung cấp vật chất và khả năng cơ động tăng viện hoặc tháo chạy bằng đường không của địch, đồng thời tạo điều kiện cho các lực lượng đột kích vận động vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

- Một số đơn vị bộ binh do các hướng phái ra, bí mật chiếm lĩnh trận địa, sau khi đặc công nổ súng thì tập kích đánh chiếm Chư E Bua, Chư Duê, điểm cao 491, 596 để làm bàn đạp hình thành thế bao vây tiến công địch.

Khi các đơn vị đặc công, bộ binh đánh chiếm các mục tiêu theo nhiệm vụ được phân công thì các đơn vị pháo binh dùng hỏa lực tập kích vào sở chỉ huy sư đoàn 23, khu trung tâm thông tin, tiểu khu Đắc Lắc gây cho địch thiệt hại, rối loạn chỉ huy và phải đối phó lúng túng.


Lợi dụng thời cơ địch đang phải đối phó với các hoạt động đặc công, tập kích, pháo kích của ta, các đơn vị công binh nâng cao hiệu suất bảo đảm đường sá vào sát thị xã, các mũi đột kích binh chủng hợp thành và các binh chủng kỹ thuật, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, nhanh chóng cơ động, công binh làm đường đến đâu cơ động ngay đến đó, bỏ qua các mục tiêu bên ngoài, áp sát ngay vào thị xã hình thành thế bao vây chặt, chuẩn bị chiến đấu khẩn trương rồi kết hợp chặt chẽ với thọc sâu bất ngờ tiến công, đột phá trận địa địch liên tục.


Do tình hình địch và địa hình có nhiều khó khăn phức tạp, cự ly vận động của các hưỏng xa gần khác nhau, nên thời gian xuất phát tiến công của các hướng không thống nhất. Hướng đông - bắc, tây - bắc có điều kiện thuận lợi, ở cự ly gần hơn thì vận động vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức tiến công đánh chiếm ngay trận địa pháo binh, thiết giáp và tiểu khu Đắc Lắc, phát triển áp sát vào phía bắc và đông - bắc sở chỉ huy sư đoàn 23. Đồng thời mũi thọc sâu phía tây cũng áp sát và đánh ngay vào sở chỉ huy sư đoàn địch. Trong khi đó, các mũi trên hướng nam phải nhanh chóng vận động chiếm lĩnh bằng được trận địa tiến công của mình, hiệp đồng với các hướng đông - bắc, tây - bắc và mũi thọc sâu để tiêu diệt toàn bộ quân địch ở phía tây - nam và đông - nam sở chỉ huy sư đoàn 23. Sau khi tiêu diệt xong quân địch trong thị xã sẽ quay ra diệt nốt các mục tiêu quân địch ở xung quanh thị xã để giải phóng thị xã một cách triệt để.


Về việc cơ động của hướng nam, ta dự kiến hành động một cách táo bạo: theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, ta đánh Đức Lập ngày 9 tháng 3, thì ngay từ chiều 9 tháng 3 lực lượng đánh Buôn Ma Thuột sẽ được phép sử dụng một số đơn vị pháo bản chế áp các mục tiêu địch cản trở đường cơ động của ta, bắt chúng phải co vào trong vị trí, không dám ra sục sạo, bảo đảm cho công binh ta làm đường và chuẩn bị bến vượt sớm hơn. Có đường đi sớm rồi, các mũi đột kích hướng nam phải tính toán thời gian vận động cho chính xác để kịp vào chiếm lĩnh trận địa tiến công và cùng các hướng thực hiện giờ G thống nhất. Đánh hiệp đồng binh chủng phải tập trung sức mạnh vào cùng một thời điểm, trong một không gian nhất định, theo một kế hoạch thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh chiến đấu của các binh chủng, mau chóng đánh ngã được kẻ địch để giành thắng lợi.


Phương án 2: Đánh quân địch đã có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng.

Đây là trường hợp địch đã phát hiện được hành động chuẩn bị tiến công của ta hoặc phán đoán ta sẽ tiến công thị xã Buôn Ma Thuột nên đưa lực lượng đến tăng cường phòng ngự dự phòng. Ngoài số lực lượng địch đã có sẵn như phương án 1, chúng có thể tăng cường thêm 1 - 2 trung đoàn, 1 thiết đoàn, 1 - 2 tiểu đoàn pháo binh, đưa tổng số quân chủ lực ở Buôn Ma Thuột lên 2 - 3 trung đoàn, 2 thiết đoàn thiếu, 3 - 4 tiểu đoàn pháo binh, về bố trí lực lượng, chúng có thể dùng từng trung đoàn thiếu hoặc trung đoàn bố trí trên một hướng, lấy đơn vị là tiểu đoàn kết hợp với xe tăng - xe bọc thép để tổ chức phòng ngự. Chúng có thể chiếm lĩnh các điểm cao khống chế, các công sự chuẩn bị sẵn và các kiến trúc để hình thành tuyến phòng ngự vòng ngoài thị xã. Về hình thức phòng ngự dự phòng, chúng có thể có bộ phận ở trong chốt cố định, có thể có bộ phận lưu động và có thể có lực lượng bộ binh - xe bọc thép dự bị sẵn sàng cơ động đối phó với ta. Hướng địch chú ý phòng ngự dự phòng là hướng tây, tây - bắc và bắc.


Căn cứ vào dự kiến trên, ta sẽ sử dụng từ 2 đến 3 sư đoàn và toàn bộ bộ đội binh chủng kỹ thuật của chiến dịch. Ta phải thực hiện "đánh chắc, tiến chắc và đột phá liên tục". Trước hết, một bộ phận lực lượng bất ngờ đánh chiếm một số mục tiêu làm bàn đạp và cửa mở, đưa lực lượng vào triển khai hình thành thế trận bao vây, kéo quân địch ra phản kích để tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của chúng và tạo thời cơ đánh chiếm thị xã. Tiếp đó, lực lượng đột kích binh chủng hợp thành thực hành tiến công vào thị xã trên ba hướng: đông - bắc, tây - bắc và nam, lấy hướng nam làm chủ yếu và hướng vào ba mục tiêu quan trọng nhất là: sở chỉ huy sư đoàn 23, khu xe tăng - xe bọc thép, trận địa pháo và tiểu khu Đắc Lắc, trong đó sở chỉ huy sư đoàn 23 vẫn là mục tiêu chủ yếu. Trong quá trình tiến công, bộ phận lực lượng dự bị của chiến dịch phải sẵn sàng đánh quân địch đến tăng viện, chủ yếu là quân cơ động bằng máy bay lên thẳng hạ cánh xuống các khu vực cách thị xã 1 - 3km về phía đông, đông - bắc và đông - nam. Các hướng tiến công cũng phải sẵn sàng có lực lượng phối hợp với bộ phận dự bị của chiến dịch đánh quân tăng viện đổ quân xuống phạm vi hướng mình phụ trách.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #134 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2023, 08:05:39 am »

Đánh quân địch theo dự kiến của phương án 2 là một trận đánh gay go, quyết liệt và còn có thể có những khó khăn, phức tạp ta chưa lường hết vì chưa có quân địch cụ thể. Do đó công tác chuẩn bị cho trận đánh phải tiến hành thật chu đáo khẩn trương, đặc biệt là việc bám nắm địch phải được tổ chức chặt chẽ để nhanh chóng phát hiện địch. Khi chúng xuất hiện, phải tổ chức điều tra cụ thể, kịp thời bổ sung cho phương án tác chiến đầy đủ, chính xác. Nếu quân địch xuất hiện không giống như dự kiến thì phải căn cứ vào tình hình thực tế để chấn chỉnh tổ chức phân chia nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng chiến đấu cho phù hợp.


Hai phương án có hai cách sử dụng lực lượng và vận dụng cách đánh cụ thể khác nhau, mỗi phương án đêu có những khó khăn riêng. Nhưng phương án 2 đòi hỏi công tác chuẩn bị phải làm công phu hơn, số lượng đơn vị, vật chất khí tài nhiều hơn và kế hoạch hiệp đồng chiến đấu cũng phức tạp hơn phương án 1. Do đó, trong công tác chuẩn bị chiến đấu phải chuẩn bị cho cả hai phương án thật tốt, và lấy phương án 2 - phương án khó nhất - để triển khai mọi công tác chuẩn bị cho đầy đủ, mặt khác vẫn phải ra sức giữ bí mật và tích cực hoạt động nghi binh để tranh thủ thực hiện được phương án 1.


Đến ngày quy định, cài thế chiến dịch xong, địch vẫn không biết hướng ta tiến công, không có lực lượng đến tăng cường phòng ngự dự phòng, ta đánh theo phương án 1 trong điều kiện chuẩn bị theo phương án 2 thì rõ ràng có nhiều thuận lợi hơn. Chuẩn bị như trên là cách làm một công được đôi ba việc mà việc nào cũng đạt được ý định.


Việc xây dựng phương án tác chiến chiến dịch và trận đánh vào Buôn Ma Thuột được tiến hành tỉ mỉ và chặt chẽ. Ngày 25 tháng 2 năm 1975, Bộ chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh đã soát lại cụ thể các phương án và bổ sung những ý kiến đầy đủ hơn. Bộ chỉ huy tiền phương nhấn mạnh các sư đoàn, các đơn vị binh chủng tham gia chiến dịch, đánh trận then chốt quyết định, phải chú ý ba mục tiêu là: tiểu khu Đắc Lắc, sở chỉ huy sư đoàn 23, sân bay Hòa Bình; phải nghiên cứu bước 1, hiệp đồng các hướng đánh ngay vào đầu não, do đó cần có một mũi thọc sâu bằng binh chủng hợp thành có cả xe tăng - xe bọc thép vào phía tây, mũi đông - bắc và phía nam cũng cho thọc vào sở chỉ huy sư đoàn 23. Các mũi tiến công phải tận dụng hỏa lực đi cùng để giải quyết mục tiêu, không ỷ lại hỏa lực của pháo chiến dịch. Phải bảo đảm cho lực lượng dự bị nhanh chóng cơ động từ Đức Lập sang sẵn sàng đánh địch phản kích từ hướng đông tới.


Để thực hiện phương án tốc chiến, mọi công tác tiếp tục chuẩn bị chiến đấu gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đòi hỏi các cơ quan, các ngành, các sư đoàn, các đơn vị binh chủng phải làm rất công phu và kiên trì dũng cảm.


Ngay từ khi làm kế hoạch hiệp đồng động tác và hiệp đồng tác chiến, ta đã phải bảo đảm chính xác đến từng phân đội chiến đấu, từng khẩu pháo kéo vào trận địa, từng xe đạn, từng chiếc xe tăng vượt qua rừng rậm sông sâu, xuyên qua đồn bốt tiền duyên địch, từng dây điện thoại bắc qua một con đường,... để hiệp đồng cùng bộ binh thực hành đột kích. Việc hiệp đồng không phải chỉ tiến hành trên một hướng mà trên nhiều hướng của chiến dịch, nhiều trận đánh trên toàn chiến trường. Kế hoạch hiệp đồng cũng phải làm rất công phu để bảo đảm nguyên tắc bí mật, bất ngờ, chính xác về nhiệm vụ, thời gian, mục tiêu, địa điểm và hành động của tất cả các sư đoàn, các đơn vị binh chủng, hiệp đồng giữa hướng chủ yếu với hướng thứ yếu, giữa hỏa lực và đột kích, giữa bộ binh với xe tăng, giữa phía trước và phía sau, giữa cấp trên với cấp dưới một cách chính xác và chặt chẽ.


Để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chiến đấu nhưng lại phải chuẩn bị trong điều kiện hạn chế, cán bộ các sư đoàn, các binh chủng phải quy định ngày và từng giờ trong đêm để thay nhau mò vào sát trận địa địch, thống nhất với nhau về mục tiêu, về địa điểm bố trí, về cách đánh và về hướng phát triển. Các đơn vị đặc công phải tiến hành chuẩn bị công phu và thật táo bạo mới kịp thời gian quy định. Đơn vị tiến công nghi binh nhủ địch, thu hút sự chú ý, phân tán sự đối phó của chúng cũng phải nghiên cứu thời gian, lực lượng, mục tiêu, hướng nghi binh sao cho phù hợp để đạt được mục đích dành bí mật bất ngờ cho chiến dịch. Các trung đoàn pháo binh, cao xạ, xe tăng - xe bọc thép tiến hành mọi mặt chuẩn bị cũng gặp không ít khó khăn: trên chặng đường dài 200 - 300km phải ngày nghỉ, đêm đi, vượt đèo lội suối, phải bảo đảm xăng dầu, kỹ thuật và giữ bí mật trên dọc đường, trong điều kiện đường trơn, xe cộ hỏng hóc và ùn lại ngổn ngang,...


Các đơn vị bảo đảm và phục vụ chiến đấu đã tiến hành công tác chuẩn bị với tinh thần nỗ lực vượt bậc để khắc phục khó khăn.

Các trung đoàn công binh phải đêm ngày hoạt động trên nhiều tuyến đường: có đoạn phải san rừng, xẻ núi, bắc cầu, làm đường mới hoàn toàn; có chỗ tận dụng được các đường có sẵn hoặc theo vết xe chở gỗ xuyên rừng; có những nơi phải làm qua nương rẫy gần các ấp chiến lược, các đồn bốt tiền duyên. Anh em phải bí mật triển khai, cưa cây sẵn nhưng chưa cho đổ, khi cần vượt qua mới phá đổ hẳn cho nhanh. Đặc biệt những chỗ phải vượt sông trong vùng địch, không những phải tính toán khối lượng phương tiện, nhân công mà còn phải tính toán cả những khả năng vừa chiến đấu vừa vận chuyển ghép phà và giữ các loại bến phà nặng, bến phà nhẹ, bảo đảm cho từng đoàn xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, xe vận tải dưới bom đạn vẫn an toàn vượt qua đúng thứ tự đội hình, vào tới vị trí kịp giờ G. Chỉ tính con đường phục vụ cho trận đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột cũng phải làm tới 367km (có 226km khôi phục đường cũ, 141km đường mới), 3 bến phà (1 bến 50 tấn, 2 bến 35 tấn), 18 ngầm,...


Trung đoàn thông tin phải bảo đảm liên lạc với nhiều đối tượng, đồng thời còn phải bảo đảm vững chắc trong nhiều tình huống trên một địa bàn rộng. Có đơn vị ở xa hàng trăm ki-lô-mét không được phép dùng vô tuyến điện để giữ bí mật, cán bộ thông tin phải trèo đèo lội suối luồn vào lòng địch, bắt liên lạc với đơn vị đó để chuyển đạt nhiệm vụ. Có những đường dây rải kín đến nỗi sau quay trở lại cũng khó tìm. Có trường hợp quá xa, phải từ hai đầu đối tượng vượt rừng rậm sông sâu sẵn sàng bí mật chờ đợi ở hai bên bờ sông khi điều kiện cho phép mới được bơi qua sông tìm gặp nhau để nối mạch điện.


Song song với sự nỗ lực chuẩn bị của các sư đoàn và bộ đội binh chủng, công tác hậu cần cũng được xúc tiến với một nhịp độ mạnh mẽ. Các đơn vị vận chuyển chiến lược, chiến dịch hoạt động tích cực không kể ngày đêm trên các hướng của chiến dịch. Các kho trạm vật chất, bãi xe, bãi xăng dầu, đường ống, các trạm cấp cứu, các bệnh viện dã chiến,... đều có những cố gắng vươn lên chuẩn bị đi trước một bước (thực hiện bí mật đến gần) để bảo đảm cho chiến dịch không những không thiếu lương thực, đạn dược, khí tài,... mà còn có lượng dự trữ chiến đấu lâu đài.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #135 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2023, 08:06:30 am »

Trong lúc bộ đội chủ lực tích cực khẩn trương chuẩn bị chiến dịch thì các cơ quan Dân Chính Đảng, bộ đội địa phương, dân quân và đồng bào vùng giải phóng (những địa phương ta huy động) cũng tích cực phối hợp chuẩn bị chiến đấu và đấu tranh trực diện với địch. Theo kế hoạch của ta phổ biến, có địa phương rất nhiệt tình cử người đi dân công làm đường và đi tìm người thân ở vùng địch kiểm soát phao tin nghi binh đánh lừa địch, làm cho chúng hoang mang lo sợ và đối phó lúng túng.


Trong quá trình tiến hành những hoạt động chuẩn bị cho chiến dịch, quân dân ta tuy gặp nhiều khó khăn trở ngại và làm rất khẩn trương táo bạo nhưng vẫn kiên trì vượt qua và triệt để giữ bí mật.

Ngay sau khi ta giải phóng Phước Long, địch phán đoán ta có thể đánh Đức Lập, Gia Nghĩa nên chúng điều một bộ phận lực lượng của trung đoàn 53 lên tăng cường dự phòng cho Đức Lập (sau này tên chuẩn tướng Lê Trung Tường, tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh ngụy, bị bắt khai là: khoảng trước Tết âm lịch, hắn đến thăm Thiệu được Thiệu phổ biến "Sau Tết âm lịch, Việt cộng sẽ đánh Đức Lập, Bản Đôn, Kon Tum để thông đường hành lang, nối liền tuyến vận chuyển từ Bắc vào Nam").


Đi đôi với thủ đoạn tăng cường lực lượng dự phòng, địch còn dùng mọi biện pháp trinh sát, biệt kích, gián điệp để phát hiện ý định và lực lượng của ta. Tháng 1 năm 1975, địch cho nhau biết là ta "có hai sư đoàn ăn Tết trước và đang cơ động đi đâu chưa rõ".


Cũng trong tháng 1 năm 1975, quân ta cơ động chuyển quân và vận chuyển vật chất hậu cần với mật độ rất lớn, rất khẩn trương. Đồng thời ta còn tích cực hoạt động nghi binh: bộ binh liên tiếp mở các trận đánh nhở trên đường 19 đông, 19 tây và từ bắc thị xã Kon Tum đến bắc Gia Lai; đặc công đánh kho xăng Plây Cu, pháo cối đánh La Sơn và Thanh An, cao xạ đánh cầu Diên Bình; bộ đội đẩy mạnh các hoạt động làm đường 220, làm trận địa pháo, cơ động lực lượng nghi binh. Ta còn đưa tin và phao tin trong nhân dân rằng bộ đội cách mạng sẽ tiến công Kon Tum.


Địch bị thu hút vào các hoạt động nghi binh của ta, phán đoán ta sắp mở chiến dịch Tây Nguyên, lấy Kon Tum làm mục tiêu chủ yếu. Chúng điều các liên đoàn quân biệt động 6, 21, 22, 24 đến tăng cường dự phòng ở Kon Tum để đối phó với ta. Vì thế địch không phát hiện được cụ thể các sư đoàn của ta cơ động đi đâu.


Trong tháng 2 năm 1975, ta vẫn tiếp tục hoạt động nghi binh. Theo tin địch, chúng đã phát hiện được các lực lượng của ta ở Plây Cu, ngoài một sư đoàn và một trung đoàn đến từ cuối tháng 1 năm 1975, nay lại có thêm một sư đoàn nữa tới. Chúng phán đoán ta đánh Plây Cu là chủ yếu nên vội vàng lệnh cho liên đoàn biệt động 23 và các trung đoàn 44, 45 thuộc sư đoàn 23 để tảng cường phòng ngự dự phòng.


Nhưng tiếp đó địch lại được tin của địa phương Đắc Lắc cho biết năm nay ta sẽ đánh lớn ở Tây Nguyên, đánh Buôn Ma Thuột. Chúng lại hốt hoảng điều ngay trung đoàn 53 thiếu lên lùng sục để phát hiện ta ở khu vực Quảng Nhiêu, Buôn Hồ cách thị xã Buôn Ma Thuột trên 10km về phía bắc.


Khoảng giữa tháng 2 năm 1975, tại phía nam Plây Cu, một đơn vị của ta sơ hở để một hạ sĩ bị địch bắt, khai báo với địch là: ta đang cơ động lực lượng xuống phía nam; một sư đoàn chuẩn bị đánh Đức Lập; một sư đoàn chuẩn bị đánh Cẩm Ga, có bộ phận chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột. Ngày 19 tháng 2 năm 1975, địch vội vã điều ngay trung đoàn 45 xuống khu vực Cẩm Ga, Thuần Mẫn, để phối hợp với trung đoàn 53 thiếu lùng sục phát hiện quân ta trên dọc phía tây đường số 14.


Ta nhận định: trước một số sự việc, địch có thể nghi ta chuẩn bị đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột và cắt đường số 14 ở đoạn Cẩm Ga. Chưa có triệu chứng địch phát hiện được ý định và lực lượng chiến dịch của ta. Những hoạt động lùng sục của địch có tính chất bị động, rời rạc. Tuy nhiên ta vẫn cần phải đề phòng tình hình phức tạp xảy ra. Nếu địch sục sạo từ một tuần đến mười ngày không phát hiện thấy gì thì chúng có thể chuyển hướng sang nơi khác.


Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn chủ trương kiên trì giữ bí mật ý định và lực lượng ở khu vực tác chiến chủ yếu, tích cực khôn khéo hoạt động nghi binh hơn nữa để nhử địch về hướng bắc, tạo điều kiện cho quân ta tiếp tục chuẩn bị tốt ở hướng nam.


Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 hoạt động ở khu vực đường số 14, một mặt phải hết sức tránh đụng độ với địch, một mặt phải bám sát chúng. Đến gần ngày N, cũng tức là khoảng sau một tuần đến mười ngày, nếu địch lùng sục không phát hiện được ta, có thể có triệu chứng chúng tập trung để cơ động về hướng Buôn Ma Thuột, thì Sư đoàn 320 phải lập tức đánh giữ chân chúng lại. Đồng thời Bộ tư lệnh cũng lệnh cho Sư đoàn 968 hoạt động nghi binh theo kế hoạch, tích cực hoạt động để thu hút địch về hướng Kon Tum - Plây Cu.


Những ngày ấy, trung đoàn 45 ngụy ráo riết lùng sục vào các khu vực phía tây đường số 14, có chỗ sâu gần 10km, nhưng không tìm thấy dấu vết gì của quân ta mặc dầu Sư đoàn 320 vẫn bố trí trên hướng đó. Các hoạt động tung trinh sát, biệt kích, gián điệp để điều tra hướng cơ động của 2 sư đoàn quần ta cũng không đưa lại kết quả gì.


Cuối tháng 2 năm 1975, quân ta hoạt động mạnh ở Plây Cu, Kon Tum. Từ ngày 1 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 968 đánh nghi binh đã sử dụng lực lượng với những quy mô thích hợp cho từng mục tiêu và vận dụng các cách đánh có bài bản để tiến công địch ở phía tây - nam thị xã Plây Cu. Sư đoàn đã cùng một thời gian đánh các cứ điểm địch ở ngoại vi quận lỵ Thanh An, bức rút đồn Tầm, đánh chiếm dãy cao điểm Chư Ca Ra, Chư Gôi, 605, uy hiếp mạnh Thanh Bình, Thanh An ở tây - nam Plây Cu, đồng thời kết hợp đánh nhở ở hướng tây Plây Cu, bắc Kon Tum, làm trận địa pháo và huy động nhân dân rầm rộ làm đường. Trước khí thế tiến công nghi binh của quân ta, ngày 3 tháng 3 năm 1975, địch phải vội vã rút trung đoàn 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga, Thuần Mẫn trở về Thanh An để đối phó. Trung đoàn 44 cùng một số liên đoàn quân biệt động ngụy cũng bị tiêu hao nặng và buộc phải nằm chết gí ở khu vực Plây Cu.


Do quân ta giữ được bí mật ý đồ và hành động, lại cũng do ta nghi binh có kết quả nên địch trở nên rất lúng túng. Chúng vẫn phán đoán ta đánh Plây Cu hoặc Kon Tum là chủ yếu. Có lúc ta được tin chúng định điều cả bộ chỉ huy sư đoàn 23 về Buôn Ma Thuột để sẵn sàng đối phó với quân ta nếu ta đánh Gia Nghĩa, Đức Lập. Nhưng sau không thấy chúng thực hiện. Theo lời khai của Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23 ngụy, sau khi hắn bị bắt: lúc đó địch cho những tin ghi nhận được là không có cơ sở, chúng vẫn nhận định ta ít có khả năng sử dụng lực lượng lớn để giải phóng Buôn Ma Thuột và nếu ta có đánh Đắc Lắc thì cũng chỉ có thể đánh các chi khu vòng ngoài, còn hướng hoạt động lớn của ta vẫn là bắc Tây Nguyên.


Thế là cùng với việc hoàn thành tốt mọi công tác chuẩn bị chiến dịch, kế hoạch nghi binh nhử địch, điều động và giam giữ chúng cũng thành công. Ở tỉnh Đắc Lắc và khu vực thị xã Buôn Ma Thuột, chủ lực địch vẫn chỉ có trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh và quân bảo an, cảnh sát như bình thường mà thôi.


Thời cơ và điều kiện tiến hành kế hoạch bố trí lực lượng hình thành thế trận của chiến dịch và thực hiện kế hoạch tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột đã mở.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #136 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2023, 07:10:19 am »

Chương ba
DIỄN BIẾN CHIẾN SỰ


Từ ngày 1 tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên trực tiếp điều khiển các hoạt động của mọi lực lượng tham chiến trên toàn chiến trường, mở đầu chiến dịch.

Theo kế hoạch hiệp đồng, ta lấy ngày 4 tháng 3 năm 1975 là ngày nổ súng đánh chia cắt để cài thế chiến dịch, ngày 10 tháng 3 năm 1975 là ngày N của toàn chiến dịch tức là ngày đánh trận then chốt quyết định ở thị xã Buôn Ma Thuột. Thế nhưng, đến ngày 3 tháng 3 năm 1975 ta vẫn chưa thấy hiện tượng gì chứng tỏ rằng địch có sự đối phó với quân ta trên hướng Buôn Ma Thuột, không những thế chúng còn ra lệnh rút trung đoàn 45 về Thanh An.


Thời cơ là ở chỗ này đây... Song tính đến ngày N thì vẫn còn năm ngày đêm. Trong việc tranh chấp thời gian với địch, có được năm ngày đêm để triển khai hoàn chỉnh thế trận chiến dịch là ít, nhưng để đạt được yếu tố bất ngờ thì lại quá dài. Điều mà mọi người lo lắng là năm ngày đêm nữa, ta có loại trừ được tình huống quân địch đưa thêm lực lượng đến Buôn Ma Thuột để tăng cường phòng ngự dự phòng không? Nếu năm ngày đêm nữa, ta vẫn giữ được tình trạng như hiện nay thì thật là lý tưởng: ta có thể đánh chúng bằng cách bất ngờ nhất và sẽ làm cho chúng vô cùng nguy khôn. Do đó ta phải suy nghĩ tìm mọi biện pháp, mọi hình thức để tiếp tục giữ bí mật, để thực hiện đánh địch theo phương án chúng chưa có phòng ngự dự phòng.


Cơ quan tham mưu chiến dịch tấp nập làm việc với nhịp độ rất khẩn trương và liên tục, đã chuyển lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch cho các sư đoàn, trung đoàn thực hiện kế hoạch đánh chia cắt và bố trí đội hình và thế trận chiến dịch. Trong lúc đang tổ chức chuyển tiếp điện chỉ thị của Bộ tư lệnh chiến dịch và nhác các đơn vị kiểm tra đôn đốc bộ đội chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về giữ bí mật thì cơ quan tác chiến nhận được tin điện khẩn cấp báo cáo về. Nội dung bức điện như sau:

"Lâm Đồng điện gửi Z,

Bộ phận đi chuẩn bị trận địa pháo phía bắc A (Buôn Ma Thuột) gặp bộ binh, xe tăng địch (của trung đoàn 53) nông ra sục sạo. Do ta thiếu, cảnh giác, bị chúng sát thương một số đồng chí và bất mang đi một đồng chí bị thương nặng, nhưng đồng chí này đang hôn mê, địch chưa khai thác được gì".

Điện báo cáo của đơn vị Lâm Đồng là một tin quan trọng. Nắm được tin này, nếu địch phán đoán ra ý định, lực lượng và phương hướng tác chiến của ta thì chúng có thể tìm cách đối phó, gây trở ngại lớn cho chiến dịch và cho trận chiến đấu then chốt ta sắp mở.

Nhận được tin trên, Bộ tư lệnh chiến dịch đã kịp thời nhận định:

Sơ hở để xảy ra hiện tượng bị thương vong, mất người có thể dẫn tới tình huống xấu. Ta đã chuẩn bị phương án 2 để đánh địch có phòng ngự dự phòng, song về mặt chỉ đạo thực hiện, ta phải tích cực tạo ra thời cơ để đánh chúng trong những điều kiện thuận lợi nhất. Xét hiện tượng sơ hở trên, ta thấy chưa có đủ yếu tố để kết luận địch đã nắm được ý định, lực lượng và phương hướng tiến công của ta vì địch mới chỉ phát hiện được quân ta chuẩn bị trận địa pháo, có thể chúng chỉ phán đoán là ta sẽ pháo kích. Mặt khác, ta tin chiến sĩ của ta bị chúng bắt, với tinh thần dũng cảm hy sinh, quân thù không dễ gì khuất phục được. Tuy nhiên, ta cần theo dõi chặt việc địch khai thác, hỏi cung chiến sĩ của ta, nếu để lộ tin vì bị chúng dùng cực hỉnh tra tấn thì ta cũng còn thời gian để suy nghĩ cách đối phó với địch. Trước mắt, cơ quan tham mưu chiến dịch phải tiếp tục kiểm tra việc chuyển lệnh và đôn đốc các đơn vị thực hiện kế hoạch bố trí lực lượng cài thế và tiến công chia cắt để tạo thế chiến dịch.


Trong lúc quân địch hoang mang, xử trí chắp vá như kẻ mù lòa không tìm thấy lối đi thì quân ta tỉnh táo chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, từ khu vực tập kết tiến ra các hướng tiến công với khí thế vô cùng mạnh mẽ.


Kế hoạch tác chiến của ta là: chia cắt, vây hãm trước rồi sau đó mới tiến công tiêu diệt lực lượng phòng giữ của địch, giải phóng các thị xã. Thời cơ thực hiện quyết tâm và ý đồ đã được ta tạo ra rồi. Thời điểm tác chiến đã tới.


Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3, trung đoàn 95A được lệnh đánh cắt đường số 19, nhanh chóng tiêu diệt ngay một số chốt giao thông (trong đó có căn cứ A Dun) và làm chủ hoàn toàn đoạn đường dài 20km, từ ngã ba Plây Bôn đến gần ấp Phú Yên. Cùng đêm hôm đó, Sư đoàn 320 ở khu vực đường số 14 cũng được lệnh cho một bộ phận ra cắt đường ở bắc Cẩm Ga.


Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 Quân khu 5, dù có nhiều khó khăn về số quân và bảo đảm hậu cần, cũng đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, tích cực phổỉ hợp đánh cắt đường số 19 từ đèo Thượng An đến cầu số 13, chiếm 9 chốt giao thông, diệt 2 đại đội và tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 47, bắt sống 20 tên, thu nhiều vũ khí, làm chủ hoàn toàn đoạn đường trên.


Tiếp đó, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 3, trung đoàn 25 hoạt động trên đường số 21 ở khu vực Chư Cúc cũng đánh chiếm và giữ một đoạn đường về phía đông Chư Cúc.

Thế là quân ta cơ bản đã cài xong thế trận chiến dịch. Thế trận được hình thành đúng như mưu kế, đạt được cả ba thế chia cắt:

- Một là chia cắt đường số 19, tạo ra cảnh hiểm nghèo nhất đối với địch, vì nó là tuyến mạch máu chính, địch vẫn dùng để vận chuyển vật chất từ thị xã Quy Nhơn lên thị xã Plây Cu, nuôi sống tập đoàn chủ yếu của Tây Nguyên ở Plây Cu và Kon Tum.

- Hai là chia cắt đường số 21, cũng là tuyến mạch máu vận chuyển từ thị trấn Ninh Hòa lên thị xã Buôn Ma Thuột để nuôi sống các lực lượng địch ở tình Đắc Lắc và tỉnh Quảng Đức, đồng thời còn là đường dự bị vận chuyển bổ sung cho hướng Plây Cu - Kon Tum.

- Ba là chia cắt đường số 14, đã thực hiện được ý đồ cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi, khiến bản thân tập đoàn Tây Nguyên của địch cũng bị xé làm hai cụm bắc - nam cô lập, không chi viện ứng cứu được cho nhau.

Các thế chia cắt trên thực sự đã đưa lại một hiểm họa cho địch. Việc giao lưu giữa thị xã Quy Nhơn với thị xã Plây Cu - Kon Tum, giữa thị xã Nha Trang với thị xã Buôn Ma Thuột, Gia Nghĩa và giữa thị xã Plây Cu, Cheo Reo với thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cắt đứt. Từ đó, không một chiếc ô tô nào của địch chạy được trên đường số 19, 21 và 14.


Thế chia cắt thật hiểm hóc đối với quân địch và ngược lại thật có lợi đối với quân ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #137 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2023, 07:11:12 am »

Tác dụng trước tiên của thế chia cắt là đánh một đòn tâm lý vào binh lính địch và gây tác động mạnh đối với nhân dân trong vùng chúng kiểm soát, nhất là nhân dân ở các đô thị. Đòn tâm lý đó làm cho binh lính địch sợ hãi, hoang mang, đao động đi đến xáo trộn và rối loạn.


Tác dụng chủ yếu của thế chia cắt là cùng với thế vây hãm chia xẻ quân địch phòng ngự ra làm nhiều mảnh, thành từng khu vực bị cô lập, không tiếp tế vận chuyển được và không chi viện ứng cứu được cho nhau bằng đường bộ. Tình hình này sẽ dẫn đến chỗ làm cho địch không những suy sụp khốn quẫn về tinh thần, suy yếu mòn mỏi về vặt chất mà còn mất hẳn sức chiến đấu và đi đến chỗ bị tiêu diệt một cách nhanh chóng, hoặc dễ dàng tan rã tháo chạy, đầu hàng.


Sau khi thực hành chia cắt Tây Nguyên và vây hãm các cụm chiến dịch của địch, quân ta đã dàn được thế trận tiến công vững vàng, mạnh mẽ. Trên thế trận đó, ta lại nắm chắc quyền chủ động trong tay và có thời cơ thuận lợi, do đó ta có thể điều khiển nhịp nhàng các lực lượng thực hành tiến công theo kế hoạch đã định.


Về hành động của địch, thì quả như ta đã dự kiến: chúng tập trung đối phó ở hướng Plây Cu và trên đường số 19 thuộc tỉnh Gia Lai, hướng chống cự mạnh nhất của địch là phía tây thị xã; đồng thời chúng kết hợp với phản kích để giải tỏa giao thông ở hướng đèo Măng Giang. Trên đường số 19 thuộc phạm vi tỉnh Bình Định, địch điều 2 trung đoàn của sư đoàn bộ binh số 22, từ phía bắc tỉnh Bình Định cơ động đến phản kích giải tỏa đoạn đèo Thượng An, phía đông thị trấn An Khê và khu vực thung lũng Vĩnh Thạnh.


Tất cả những cố gắng của địch đều bị quân ta ở các hướng đó đánh bại. Đặc biệt, quân ta còn tiến thêm một bước nữa là tiến công phá vỡ một số đoạn trận địa phòng ngự của địch ở tây - nam thị xã Plây Cu, làm cho tuyến phòng ngự của địch bị co hẹp lại.


Đồng thời, để tăng thêm liều lượng cho thế vây cắt chung, làm giảm tác dụng, đi đến triệt phá, vây cắt vận chuyển, cơ động bằng đường không của địch, tiếp theo sau các hoạt động vây cắt đường bộ, ta đã sử dụng bộ đội đặc công, tên lửa phòng không vác vai và pháo phản lực (rốc-két ĐKB) bắn phá và khống chế sân bay Cù Hanh ở Plây Cu và sân bay Hòa Bình ở Buôn Ma Thuột.


Tình thế đã đưa quân địch đến chỗ bị cô lập trong thê bị trói chặt thành từng cụm, nằm chết cúng một chỗ để chịu đòn.

Điều kiện và thời cơ mở cửa đột phá của chiến dịch Tây Nguyên đã tới.

Thường vụ Đàng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm đánh địch theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột; đồng thời xác định mấy biện pháp tiếp sau để bảo đảm cho quân ta thực hiện kế hoạch triển khai đội hình tiến công vào Buôn Ma Thuột:

- Kiểm tra và chỉ huy Sư đoàn 320 đánh chia cắt ở khu vực đường số 14 chặt chẽ.

- Thúc đẩy Sư đoàn 968 hoạt động nghi binh hành động tích cực, từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 3 được phép sử dụng thêm đạn pháo bắn vào Kon Tum, Plây Cu, kết hợp với bao vây giữ chặt khối chủ lực địch ở Kon Tum, Plây Cu; đối tượng chủ yếu phải tiêu hao, vây giữ là sư đoàn 23.

- Lệnh cho Sư đoàn 316 - đơn vị đánh vào hướng nam thị xã Buôn Ma Thuột - vượt đường số 14, sẵn sàng chuyển sang thế bố trí tiến công.

- Theo dõi chặt chẽ hành động của địch và của ta trên toàn chiến trường Tây Nguyên.

Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh đã nhất trí với quyết tâm trên của Bộ tư lệnh chiến dịch, có nhắc nhở thêm về các biện pháp giữ bí mật bất ngờ, nắm chặt Sư đoàn 320 ở khu vực đường số 14. Bộ tư lệnh tiền phương cũng chỉ thị cho Sư đoàn 3 thuộc Quân khu 5, có nhiệm vụ đánh đường số 19 tích cực hoạt động ở khu vực Phú Phong - An Khê để phối hợp.


Nói chung, đến lúc bấy giờ ta vẫn phải kiên trì, khôn khéo giữ bí mật đến cùng cho trận tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 5 tháng 3, sau khi ta cắt đường số 21 thì địch đã thấy rõ Buôn Ma Thuột bị cô lập và đang bị uy hiếp (theo lời khai của Vũ Thế Quang, sư đoàn phó sư đoàn 23). Ngoài sự việc địch bắt được một pháo thủ của đơn vị Lâm Đồng, ta còn được tin thêm bọn chúng thông báo cho nhau: sáng 5 tháng 3, các toán quân đi lùng sục của địch phát hiện có dấu vết quân ta trú quân chừng một tiểu đoàn ở nam đường số 14, cách Đức Lập khoảng 10km về phía đông - nam.


Cũng thời gian ấy, ta lại nhận được điện của đơn vị dưới báo cáo lên: bon dân vệ ở phía nam Buôn Ma Thuột bắt mất của ta một chiến sĩ thông tin đang rải dây điện thoại, ở đấy không có điện đài, chúng đang giải chiến sĩ đó xuống quận Đức Lập (bọn dân vệ ở sát thị xã Buôn Ma Thuột nhưng lại giải người bị bắt xuống quận Đức Lập theo tổ chức hành chính từ xã lên quận của địch).


Ta còn biết địch đã lệnh cho cứ điểm Chư Nga (một cứ điểm cách Buôn Ma Thuột khoảng 7 - 8km về phía bắc) đề phòng ta pháo kích, lệnh cho trung đoàn 53 (thiếu) cùng 1 chi đội thiết giáp và 1 tiểu đoàn bảo an tiếp tục lùng sục khu vực phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Cùng với tin trên, ta còn thấy đại đội trinh sát của trung đoàn 45 xuất hiện ở Bản Đôn và liên đoàn quân biệt động số 21 ở Kon Tum có triệu chứng di chuyển về hướng Buôn Ma Thuột.


Chiều ngày 5 tháng 3, một đoàn 15 xe địch chở quân và kéo 4 khẩu pháo từ Plây Cu định theo đường số 14 xuống Buôn Ma Thuột. Hồi 16 giờ, một bộ phận quân ta ở khu vực bắc Cẩm Ga đã chặn đánh đoàn xe đó, diệt 8 xe, còn 7 xe phía sau chạy thoát về hướng Plây Cu, trong đó có tên sư đoàn phó sư đoàn 23.


Do hoạt động lùng sục của địch, công tác chuẩn bị đường vào chiếm lĩnh, chuẩn bị trận địa pháo và các vị trí tập kết cuối cùng của các đơn vị trên hướng bắc thị xã Buôn Ma Thuột có thể gặp nhiều trở ngại và có khả năng không thực hiện được đúng yêu cầu của kế hoạch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #138 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2023, 07:12:22 am »

Sau khi nghiên cứu tổng hợp tình hình địch - ta, sáng ngày 6 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương kiên trì khôn khéo giữ bí mật đến cùng để đánh thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án đã xác định và đề ra các biện pháp xử trí sau đây:

- Đôn đốc các tổ trinh sát bám địch, các tổ trinh sát kỹ thuật theo dõi nắm thêm địch.

- Lệnh cho các đơn vị ở hướng bắc thị xã Buôn Ma Thuật tạm ngừng công tác chuẩn bị ở sát bắc thị xã, nhưng vẫn phải sẵn sàng đánh địch vào đúng ngày N. Dù phải từ cự ly xa tiếp cận địch, dù pháo không làm sẵn được công sự vẫn có lợi hơn là lộ bí mật. Nếu để địch tăng cường lực lượng dự phòng cho thị xã thì ta phải đánh chúng trong điều kiện khó khăn và phức tạp hơn nhiều.

- Đến nay ta đã cài xong thế trận chiến dịch, nhưng khả năng mới chỉ khóa được đường bộ, địch còn có thể cơ động được bằng đường không. Để ngăn chặn và hạn chế chúng, đơn vị pháo nòng dài phải chuẩn bị sẵn sàng hỏa lực bắn vào sân bay Hòa Bình trong những ngày 8 và 9 tháng 3, nếu địch đổ quân xuống thì bắn chế áp ngay không cho chúng đổ tiếp. Đơn vị ĐKB chuẩn bị sẵn sàng hỏa lực bắn vào sân bay Cù Hanh (bắc Plây Cu); nếu địch tập trung quân để lên máy bay phải lặp tức bắn sát thương, tiêu diệt không cho chúng kịp cơ động.


Chiều ngày 6 tháng 3, sở chỉ huy tiền phương thông báo:

"Trên chiến trường toàn miền, hướng phòng thủ chính của địch vẫn là hướng quân đoàn 1 ngụy, sư đoàn dù hiện còn đứng ở vùng I. Quân đoàn 3 ngụy đang đề phòng ta ép xuống đồng bằng và chúng đang lên triển khai ở khu vực núi Bà Đen. Ở Tây Nguyên, địch vẫn khẳng định hướng chính chúng phải đối phó là Kon Tum, Plây Cu. Ta chia cắt đường số 19, 14 và 21, chúng cho chỉ là những hành động phối hợp (Bộ tổng tham mưu ngụy và CIA đều thống nhất nhận định như vậy)".

"Ở đường 14, đường 21 tuy ta đã xuất lộ lực lượng nhưng chưa có gì buộc địch phải xử trí lớn, ta vẫn giữ được bí mật ý định tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Tuy có một số chi tiết bị lộ, địch vẫn chưa chú ý. Trong mấy ngày tới, nếu địch có phản ứng, cũng chưa có thể có phản ứng lớn ngay được".


Với nhận định trên, Sở chỉ huy tiền phương và Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt địch, chiếm điểm cao Chư Xê, một cứ điểm bảo an nằm án ngữ trên đường số 14 cách Cẩm Ga 15km về phía nam, để kéo trung đoàn 53 (thiếu) lên đối phó, tạo điều kiện cho hướng bắc thị xã tiến hành công tác chuẩn bị thêm.


Từ khi ra bám đường số 14, quân ta đã bám sát tất cả các mục tiêu địch và chuẩn bị sẵn sàng phương án tiêu diệt chúng trong khu vực tác chiến này. 6 giờ 15 phút ngày 7 tháng 3, một bộ phận lực lượng quân ta bao vây tiến công cứ điểm Chư Xê. Sau 40 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt gọn một trung đội địch.


Cũng trong ngày 7 tháng 3, qua khai thác tin tức, địch biết và phán đoán ta chuẩn bị pháo kích vào Buôn Ma Thuột. Căn cứ vào đó, cùng với những tin tức và dấu vết chuẩn bị đánh Đức Lập của quân ta, địch ra lệnh báo động Đức Lập và Buôn Ma Thuột, đồng thời rút trung đoàn 53 (thiếu) về thị xã để sẵn sàng đối phó. Trưa ngày 8 tháng 3, trung đoàn này về tới căn cứ ở cạnh sân bay Hòa Bình.


Như vậy, tính đến ngày N thì có thể địch biết được ý định tiến công của ta trước 2 ngày. Tuy nhiên với tri thức quân sự tư sản, chúng chưa hẳn đã phán đoán được quy mô lực lượng và hình thức tác chiến của quân ta, hơn nữa chúng lại biết quá muộn. Thế trận của quân ta đã trói chặt chúng lại rồi, dù chúng có trăm mưu, nghìn kế cũng không sao thoát được tình cảnh hiểm nghèo này.


Thế trận đã bày, các cửa ra vào đã cài then chặt, quân ta trong tư thế chủ động, đàng hoàng, có khả năng đánh ngăn chặn bất kỳ lực lượng nào của địch định cơ động trên các đường số 19, 21 và 14. Do đó Sư đoàn 320 phụ trách đường số 14, trước mắt chưa có thời cơ đánh quân địch tăng viện lớn. Để mở rộng khu vực, tạo thêm thời cơ thuận lợi và rảnh tay khi đánh Buôn Ma Thuột, ta chủ trương tiến công tiêu diệt cứ điểm Cẩm Ga (tức quận lỵ Thuần Mẫn).


Sau khi nhận mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, một đơn vị thuộc sư đoàn hoạt động ở khu vực đường số 14 và một bộ phận pháo cơ giới, gồm 3 khẩu pháo 85 ly, 2 khẩu pháo 105 ly, ngay trong đêm 7 tháng 3 vào chiếm lĩnh trận địa, hình thành thế bao vây cứ điểm. Đúng 6 giờ ngày 8 tháng 3, quân ta nổ súng tiến công, đến 7 giờ 20 phút thì làm chủ hoàn toàn cứ điểm, tiêu diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát và cơ quan chi khu, thu 200 súng các loại (2 khẩu pháo 105 ly, 1 khẩu cối 106,7 ly) và 18 xe cơ giới.


Trận Cẩm Ga tiêu diệt địch nhanh gọn cùng với trận Chư Xê ngày 7 tháng 3 là hai trận không nằm trong kế hoạch đánh trong thời gian này. Nhưng chúng đã phát huy tác dụng rất tốt, làm cho quân địch càng hoang mang, lúng túng và tạo cho quân ta thêm thời cơ thuận lợi. Chủ trương đánh Cẩm Ga và Chư Xê trong quá trình chỉ đạo mở đầu chiến dịch đã chứng minh việc vận dụng nghệ thuật quân sự của quân ta là rất sinh động.


Sau khi ta tiêu diệt Cẩm Ga, đường số 14 bị cắt đứt, Buôn Ma Thuột bị uy hiếp mạnh nhưng trên hướng Kon Tum - Plây Cu, hoạt động có giảm xuống, địch liền lợi dụng tình hình đó để rút ngay liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu) ở hướng này đi. Chiều ngày 8 tháng 3, liên đoàn này đã từ Kon Tum cơ động bằng máy bay lên thẳng đến sân bay Hòa Bình. Sáng ngày 9 tháng 3, chúng cơ động tiếp bằng cơ giới lên hướng Buôn Hồ. Ý đồ của địch là dùng liên đoàn quân biệt động số 21 (thiếu) để phòng giữ Buôn Hồ và lấy đây làm bàn đạp để đánh chiếm lại Cẩm Ga, mở thông đường số 14.


Có thể coi việc điều quân của địch như một cách đối phó, có liên quan trực tiếp tới ý định tác chiến chiến dịch của ta. Song đó chỉ là một cách đối phó bị động, chắp vá, không gây ra được khó khăn gì lớn để ngăn cản bước tiến của quân ta.


Sau các trận Cẩm Ga, Chư Xê và các hoạt động quân sự khác của ta, quân địch ở thị xã Buôn Ma Thuột và thị trấn Đức Lập đã báo động. Trưa ngày 8 tháng 3, trung đoàn 53 (thiếu) về thị xã Buôn Ma Thuột, liên đoàn quân biệt động số 21 xuất hiện ở Buôn Hồ, có bộ phận lực lượng của liên đoàn và quân bảo an đã ra khu vực Mê Van, cách bắc, tây - bắc Buôn Ma Thuột 10km.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #139 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2023, 07:13:42 am »

Xem xét những hoạt động của địch đối phó với quân ta. Bộ tư lệnh chiến dịch nhắc các đơn vị đang chuẩn bị đường đi và vị trí chiếm lĩnh ở hướng bắc thị xã Buôn Ma Thuột cần đề phòng địch ở Mê Van ra lùng sục phát hiện thày dấu vết của ta. Còn ở các hướng khác, hoạt động của địch về cơ bản chưa có ảnh hưởng gì đến ý định tiến công của ta. Đặc biệt trong thị xã Buôn Ma Thuột, ngoài trung đoàn 53 (thiếu) trở về ở hình thái cũ, địch cũng không có lực lượng đến thêm để tăng cường phòng ngự dự phòng.


Ta vẫn giữ được bí mật. Ngày 7 và 8 tháng 3, các lực lượng trên hướng tiến công vào bắc thị xã Buôn Ma Thuột đã cơ bản hoàn thành xong công tác chuẩn bị. Đêm ngày 7 tháng 3, trên hướng tiến công vào nam thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta đã vào được vị trí tập kết cuối cùng. Đơn vị đặc công đánh sân bay Hòa Bình cũng làm xong công tác chuẩn bị. Trên hướng Đức Lập, quân ta hoàn thành công tác chuẩn bị tương đối tốt, các lực lượng đã sẵn sàng chờ lệnh triển khai tiến công địch.


Nhìn chung quá trình điều khiển chiến dịch, thế trận của ta đã hình thành: ta đánh chia cắt tốt, cài thế bao vây chắc, hoạt động nghi binh khôn khéo, thu hút được địch về hướng Kon Tum - Plây Cu, giữ được chân chúng ở đó, lại có sáng kiến đánh hai trận ngoài kế hoạch thành công nhanh gọn. Kết quả trên đã tạo ra thời cơ rất thuận lợi cho chiến dịch. Điều kiện thực hiện tiến công, đánh các trận then chốt đã chín muồi, nhờ đó ta có thể thực hiện theo đúng kế hoạch.


Xuất phát từ các cơ sở trên, Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tiến công quận lỵ Đức Lập vào rạng sáng ngày 9 tháng 3 và sẵn sàng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột vào ngày 10 tháng 3 (ngày N) theo phương án 1 (phương án địch không có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng).


Ngoài ý nghĩa dứt điểm để có thể cơ động lực lượng tăng cường sớm cho Buôn Ma Thuột, trận đánh Đức Lập còn có ý nghĩa bảo đảm hành lang cho các lực lượng tiến công vào hướng nam Buôn Ma Thuột, thu hút thêm sự chú ý của địch về hướng Đức Lập và bảo đảm bất ngờ cao nhất cho trận đánh then chốt quyết định này.


Theo đúng kế hoạch, quân ta sử dụng Sư đoàn 10 (thiếu), tăng cường một đơn vị đặc công, một bộ phận pháo của chiến dịch để tiến công Đức Lập, lấy căn cứ 23 và căn cứ Núi Lửa trong quận lỵ làm trọng điểm tiến công ban đầu.


5 giờ 35 phút ngày 9 tháng 3, pháo binh ta bắt đầu bắn. Đến 8 giờ 30 phút, quân ta chiếm được căn cứ 23 và căn cứ Núi Lửa, hình thành ngay hai mũi phát triển tiến công vào khu thị trấn. Trước sức tiến công uy hiếp của quân ta, địch trong thị trấn tung ra một tin điện, báo cáo với bọn chỉ huy cấp trên là chúng "không giữ được thị trấn, đã di tản đến khu vực Y... và đề nghị cho máy bay oanh tạc chặn quân ta không cho vào khu vực đó, chi viện cho chúng rút chạy" (thực ra đây chỉ là thủ đoạn nghi binh của chúng).


Quân ta, vì nắm địch không chắc, tổ chức binh hỏa lực hiệp đồng không chặt, có bộ phận đã phát triển truy kích theo tin nắm được của địch nên bị chúng chặn lại. Ngày 10 tháng 3, sau khi tổ chức nắm địch cụ thể, điều chỉnh thế bố trí tiến công và tăng cường thêm lực lượng, quân ta phải tổ chức đợt tiến công thứ hai vào thị trấn mới dứt điểm được. Cùng ngày 10 tháng 3, một đơn vị bộ binh ta phối hợp với đơn vị đặc công thực hành bao vây bức hàng vị trí tiền tiêu ở ngã ba Đắc Sắc (do tiểu đoàn thuộc trung đoàn 53 ngụy phòng giữ). Địch không chịu hàng. 16 giờ ngày 10 tháng 3, ta tổ chức tiến công tiêu diệt, chúng tháo chạy được một số tên. Khuếch trương thắng lợi, pháo ta bắn tiếp vào một căn cứ ấp chiến lược ở Đắc Sắc, địch bỏ chạy. Ta giải phóng toàn bộ khu vực quận lỵ Đức Lập, tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, bắt sống trên 100 tên trong đó có tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 trung đoàn 53, thu 14 khẩu pháo, 20 xe tăng - thiết giáp, 6 xe ô tô.


Theo tin ta nắm được, địch có kế hoạch ngày 10 tháng 3 điều trung đoàn 53 (thiếu) và 1 chi đội xe bọc thép từ Buôn Ma Thuột lên tăng viện cho Đức Lập. Nhưng do ta dứt điểm căn cứ 23, Núi Lửa nhanh, và còn vì trong ngày 10 tháng 3, chúng chưa kịp ra quân thì quân ta đã tiến công Buôn Ma Thuật nên chúng đã bị ta tiến công giữ lại, tiếp sau đó chúng đã bị quân ta tiêu diệt ở ngay tại căn cứ xuất phát của chúng.

Đánh Buôn Ma Thuột: đòn mở đầu đúng huyệt

Trong khi quân địch đang bối rối, bị động đối phó ở khắp mọi nơi, trên hướng Kon Tum - Plây Cu, hướng đường số 19, số 21 và số 14, đặc biệt Đức Lập đang sắp bị tiêu diệt hoàn toàn, thì quân ta lập tức giáng xuống đầu chúng đòn tiến công chính vào thị xã Buôn Ma Thuột, đòn đánh mở cửa đột phá của chiến dịch Tây Nguyên, với sức mạnh vũ bão và thế đánh hoàn toàn áp đảo.


Quân địch ở bên trong và ngoại vi thị xã Buôn Ma Thuột trước lúc ta nổ súng có: sở chỉ huy tiển phương của sư đoàn 23, bộ chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, trung đoàn 53 (thiếu), 1 tiểu đoàn xe bọc thép, 1 tiểu đoàn pháo binh, bộ phận các phân đội trực thuộc của sư đoàn, các hậu cứ của các trung đoàn 45 và 44, 2 tiểu đoàn bảo an cùng một số đại đội bảo an, cảnh sát và dân vệ, phòng vệ dân sự. Quân số của địch tổng cộng có khoảng trên 8.000 tên.


Địa hình chung quanh thị xã Buôn Ma Thuột là cao nguyên, mấp mô trung bình thấp, tương đối bằng phẳng, rải rác có một số điểm cao độc lập cách thị xã 2 - 5km và 10 - 15km. Ở vùng này sông suối ít, nhỏ, lại giữa mùa khô nên ít gây trở ngại cho hành động của bộ đội (trừ sông Sê Rê Pốc ở phía tây thị xã). Địa hình này tiện cho việc sử dụng các binh chủng cơ giới.


Tổ chức bố trí phòng ngự của địch: ở tuyến ngoài, cách thị xã 10 - 15km có một số cứ điểm của các đại đội và tiểu đoàn bảo an, có căn cứ hỏa lực pháo binh, ở phía trong tuyến này là tuyến phòng ngự ngoại vi sát gần thị xã, có cứ điểm của các đại đội bảo an và các hậu cứ của các trung đoàn thuộc sư đoàn 23, bãi tập và các kho tàng, ở bên trong thị xã là hạt nhân phòng ngự gồm các doanh trại của các cơ quan quân sự, đều tổ chức chiến đấu phòng ngự.


Nhìn chung tổ chức phòng ngự của địch yếu, không phức tạp mà lại có nhiều quãng hở. Quân ta có thể luồn lách, vượt qua tuyến phòng ngự bên ngoài để đánh thẳng ngay vào thị xã được, vì các cứ điểm đại đội bảo an, tiểu đoàn bảo an sẽ co rúm lại trước đạo quân chủ lực binh chủng hợp thành hùng mạnh của ta rầm rập tiến quân. Tất nhiên, chúng ta cũng cần có một ít đội pháo, cối để đánh kèm, diệt hỏa lực pháo binh của địch ở một số cứ điểm có căn cứ hỏa lực.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM