Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2022, 08:40:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sống mãi với thời gian  (Đọc 1203 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2022, 07:51:00 pm »


Sau khi tiêu diệt binh đoàn cơ động số 100 ở Đắc-pớt trên đường 19 vào ngày 24 tháng 6 năm 1954, Trung đoàn chủ lực 803 của ta đã áp sát và có mặt ở cửa ngõ thị xã Buôn Ma Thuột. Anh Phan Hàm điện cho anh Chánh xin đánh vào thị xã. Anh Chánh trả lời: "Đã đến lúc đình chiến rồi, nhất định ta không để cho một giọt máu nào của chiến sĩ chảy nữa".

Có một đêm ở vùng núi huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, tôi mang điện sang cho anh Chánh. Vừa quay lưng định im lặng rút lui, thì anh gọi lại: "Đồng chí Sơn, vào đây đã". Tôi không biết có việc gì sẽ xảy ra... Anh Chánh bảo các đồng chí vệ binh dừng tay đào hầm, và nhắc đồng chí bảo vệ riêng của mình mang nồi chè ra, múc cho mỗi người một bát chè đậu đen. Anh cùng ăn với tất cả chúng tôi. Đột nhiên, anh hỏi:

- Nếu nay mai ta tập kết quân ra Bắc, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà, chúng ta sẽ trở về, thì các đồng chí thấy như thế nào?

Anh Chánh đưa mắt nhìn mọi người và nói tiếp:

- Thôi, đồng chí Sơn hãy nói trước, nghe nào?

Tôi thật thà đáp:

- Thưa anh, mình đang thắng lớn quá! Tại sao lại đình chiến và ngừng bắn? Mình đi tập kết rồi, địch nó đến, liệu đồng bào vùng tự do của mình có sống được với nó không anh?...

Lần đầu tiên tôi thấy anh Chánh vẻ trầm tư, đôi mắt đượm buồn. Rồi anh thong thả nói với giọng không vui:

- Chúng ta phải tin tưởng và chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên.

Bỗng nhiên, anh lại hỏi:

- Nhưng nếu ra miền Bắc rồi, sau này Đảng kêu gọi các đồng chí lại trở về cầm súng chiến đấu để giải phóng miền Nam thì các đồng chí có chấp hành không?

Tất cả chúng tôi đều vui vẻ trả lời:

- Chúng em lúc nào cũng sẵn sàng...

Bẵng đi một thời gian dài, cho đến tháng 2 năm 1955, tình cờ tôi gặp lại anh Nguyễn Chánh đang làm việc với anh Giáp Văn Cương. Anh Chánh lúc này là Phó tổng tham mưu trưởng, thay mặt Bộ vào chỉ đạo cuộc tập kết của Liên khu 5. Anh Chánh gọi tôi:

- Đồng chí Sơn, dừng lại đã, vào đây! Vào đây, đợi mình một tí...

Anh lục lọi trong túi rồi lấy ra một cuốn sổ bìa cứng. Anh tự tay ghi vào sổ: "Thân chuyển tặng đồng chí Sơn. Hãy cố gắng ghi vào đây những thành tích xứng đáng". Anh ký tên: Chí Thuần. Tôi nhìn lên phía trên của trang viết có dòng chữ: "Quà tặng của Tổng cục Chính trị" có đóng dấu tròn đỏ. Anh Chánh tặng tôi cuốn sổ và một huy hiệu Bác Hồ dành tặng cho Người tốt - Việc tốt. Tôi vô cùng xúc động. Không ngờ anh Chánh vẫn nhớ tên, vẫn yêu quý những người cấp dưới quá đỗi bình thường như tôi: Dòng lưu bút của anh Chánh là nguồn động viên to lớn của Đảng, lời căn dặn ân cần của một người anh thân yêu trong suốt cuộc đời tôi. Tôi luôn lấy đó làm mục tiêu phấn đấu và sửa mình.

Tập kết ra Bắc, tôi được đi bổ túc quân sự khóa 10 Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam. Một ngày mùa thu năm 1956 các học viên Liên khu 5 chúng tôi được thông báo lên hội trường. Không ngờ được anh Chánh đến thăm và nói chuyện. Anh vừa đi chữa bệnh bên Trung Quốc về nhưng trông vẫn gầy yếu và già đi nhiều. Một số học viên vẫn thắc mắc về "2 năm tổng tuyển cử...". Anh Chánh chậm rãi trả lời:

- Trước đây, tôi có khuyết điểm đã nói với các đồng chí sau hai năm sẽ tổng tuyển cử nhưng điều đó sẽ không có đâu. Mỹ - Diệm đã xé hiệp định, chia cắt đất nước lâu dài và hô hào "Bắc tiến". Giờ đây, tôi muốn nói với các đồng chí, con đường duy nhất đúng là phất cao ngọn cờ quyết chiến quyết thắng, trở về giải phóng miền Nam, các đồng chí thấy thế nào?

Cả hội trường bừng bừng sôi động trong tiếng vỗ tay với khí thế sẵn sàng.

Tan cuộc, tôi nhanh chân ra cửa chào anh Chánh. Anh nhìn tôi, bắt tay tươi cười và hóm hỉnh:

- Ủa, Sơn đấy hả, em cũng về học ở đây à, tốt đấy. Trông có vẻ đẹp trai và khỏe mạnh hơn nhiều. Cố gắng nhé! Biết đâu anh em ta lại gặp nhau trên chiến trường quê hương...

Lần đầu tiên, anh Chánh gọi tôi bằng "em" và bắt tay tôi rất chặt. Tôi thật sự sung sướng vì anh đã bày tỏ lòng thương yêu, tin cậy tôi như một người thân thiết. Còn gì hạnh phúc bằng khi người ta sống thật sự tin yêu nhau!

Không ngờ, đó lại là lần cuối cùng tôi được gặp anh.

Cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ đến anh Chánh, tôi không thể nào quên hình ảnh một người cộng sản mẫu mực, cũng không quên hình ảnh một vị tướng giàu lòng nhân ái, một người anh nhân hậu lạ thường. Trái tim anh ngày đêm chan hòa cùng nỗi niềm và nỗi đau của nhân dân, đất nước. Anh đã sống với một tấm lòng trong triệu tấm lòng, một cái tâm cao thượng và trong sáng long lanh như hạt sương mai.

Đại thi hào Nguyễn Du đã viết: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Có lẽ vì vậy, dù năm tháng qua đi, dù vật đổi sao dời, anh Chánh thân yêu - người anh cả của các lực lượng vũ trang Liên khu 5, mãi mãi sống trong tâm trí của đồng chí, bạn bè.

Tháng Giêng 2005
(Đại tá, nhà báo, nhà thơ Hồ Ngọc Sơn,
"Có một người cộng sản như thế”,
Báo Nhà báo và Công luận, in trong 3 số:
từ 18-24 tháng 2 năm 2005,
từ 25 tháng 2 - mùng 3 tháng 3,
từ 4-10 tháng 3 năm 2005)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2022, 07:53:28 pm »


MỘT DANH TƯỚNG KHÔNG QUÂN HÀM


Nhà báo, nhà thơ THANH THẢO

Đó là danh tướng Nguyễn Chánh, người được Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết những dòng thắm thiết trong hồi ức của ông: "Cuộc đời một người mới 43 tuổi đã để lại sự nghiệp như vậy, có thể nói là một cuộc đời thật đẹp: cuộc đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có đức, có tài, một con người mẫu mực" (Nguyễn Chánh - con người và sự nghiệp, tr. 49).

Sinh ra trong một gia đình lao động bên bờ sông Trà Khúc, lại tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, Nguyễn Chánh không có điều kiện học hành bài bản. Nhưng ông là một người bẩm sinh thông minh và có khả năng tự học hiếm thấy. Khi tham gia cách mạng, ông đã sớm trau rèn bản lĩnh, và từ một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đội du kích Ba Tơ, ông trở thành một "Vị tướng không quân hàm" của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tài thao lược của Nguyễn Chánh trong những chiến dịch lớn ở chiến trường Khu 5 thời chống Pháp không chỉ được người Việt Nam yêu nước ca ngợi, mà còn được chính đối phương - một đại tá Pháp chỉ huy chiến trường Tây Nguyên - người đã trực tiếp đối đầu và đã thua tướng Nguyễn Chánh, bày tỏ sự khâm phục rất chân thành, rất quân tử. Những người đã có thời gian sống và chiến đấu "dưới cờ" của tướng Nguyễn Chánh như nhà văn Nguyên Ngọc, nhà văn Nguyễn Chí Trung khi nói chuyện với lớp hậu sinh chúng tôi đều không tiếc lời ca ngợi một vị tướng, một con người mà theo các ông là "độc nhất vô nhị". Tướng tài thì trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam không hiếm. Nhưng vừa là tướng tài vừa là một con người sống có nhân có nghĩa, sống hết mình vì đồng đội, hễt mình yêu thương chiến sĩ, nhìn được từng điểm mạnh điểm yếu của những người lính thuộc quyền để phát huy tốt nhất khả năng và sở trường của họ thì Nguyễn Chánh là một vị tướng thực sự hiếm. Đọc những thiên hồi ký của những quân nhân từng là "lính" của Nguyễn Chánh mới thấy hết cái nhân cái nghĩa của một người lãnh đạo, nó không đơn giản là "thuật lãnh đạo" hay "thuật dùng người", nó là nhân cách, nhân phẩm, đạo đức của một người làm tướng, một người lãnh đạo. Vì thế, từ khi Nguyễn Chánh mất đến nay đã gần 50 năm, mà những kỷ niệm về ông vẫn tươi rói nơi những người từng cùng ông chiến đấu, hay đơn giản, chỉ là những người dân lao động quê ông, là láng giềng hàng xóm của gia đình ông.

Tỉnh Quảng Ngãi vừa làm lễ khánh thành ngôi nhà lưu niệm danh tướng Nguyễn Chánh tại quê ông, ngay trên nền nhà cũ của gia đình ông. Năm nay đã 93 tuổi, bà Phạm Thị Trinh - một nhà cách mạng lão thành và là bạn đời của tướng Nguyễn Chánh - đã kể cho tôi nghe những chuyện rất đời thường của chồng mình. Số phận buộc họ phải xa lìa nhau 49 năm nay, nhưng trong giọng kể của người phụ nữ từng một thời oanh liệt này, tôi vẫn nghe những âm hưởng tha thiết của một tình yêu mà thời gian và nỗi cách biệt âm dương chỉ làm sâu nặng thêm. Người đã khuất nửa thế kỷ mà còn lung linh đến thế trong ký ức những người thân thì quả là hiếm có, quả là hạnh phúc.

Sinh thời, Nguyễn Chánh đã viết những bài thơ đầy khí khái nhưng cũng chan chứa tình yêu. Như có lần ông thổ lộ với nhà văn Nguyên Ngọc, nếu không làm cách mạng, ông chỉ khao khát được trở thành một nghệ sĩ tuồng ở làng xóm, diễn những vở tuồng đã quen thuộc cho bà con nghèo mình coi. Và làm thơ, những bài thơ mộc mạc chan chứa tình yêu quê hương đất nước, tình yêu trai gái vợ chồng. Một ước mơ thật giản dị mà thật đẹp! Một chiến sĩ cách mạng, một vị tướng tài danh lại chỉ mơ ước làm một nghệ sĩ, một nhà thơ khi đất nước thanh bình, điều đó chẳng đáng cho ta phải suy nghĩ sao? Nhưng khi phải làm lính hay làm tướng thì phụng sự hết mình, xả thân hy sinh vì nhân dân vì đất nước. Thanh thản biết bao là những con người, những tâm hồn như vậy!

Và đã thế, thì dù là "tướng có quân hàm" hay "tướng không quân hàm" cũng chẳng có gì khác biệt, chẳng có gì phải phiền lòng. Nguyễn Chánh đã luôn được hậu thế tôn vinh là một danh tướng, dù bình sinh ông chưa hề đeo trên ve áo một ngôi sao nào.

(Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Quảng Ngãi,
nhà báo, nhà thơ, giải thưởng nhà nước …,
Tạp chí Sông Trà, số tháng 9/…)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2022, 07:57:26 pm »


NGUYỄN CHÁNH - VỊ TƯỚNG TÀI ĐỨC VẸN TOÀN

HUỲNH THẾ

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vừa tổ chức lễ khánh thành Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Chánh tại xóm 4, thôn Thọ Lộc Tây, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh.

Nhà lưu niệm được thiết kế theo tiêu chuẩn nhà cấp 4A, rộng 85m2 gồm: Phòng dâng hương tưởng niệm, nhà trưng bày và cảnh quan sân vườn. Tại nhà trưng bày hiện có hơn 100 hình ảnh và hiện vật, tư liệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Chánh. Đánh giá cuộc đời của đồng chí Nguyễn Chánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Đó là một cuộc đời thật đẹp, cuộc đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có đức, có tài, một con người mẫu mực".


MỘT NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN CƯỜNG,
MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước, nhiều người tham gia, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh chống áp bức, bóc lột và ách đô hộ của thực dân, phong kiến - đồng chí Nguyễn Chánh tham gia cách mạng từ khi 14 tuổi. Trải qua sự rèn luyện trong thực tiễn hoạt động cách mạng, đồng chí đã sớm trở thành một nhà lãnh đạo xuất sắc, toàn diện, một vị tướng mưu lược của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Chỉ với 43 tuổi đời, nhưng đồng chí đã có gần 30 năm hoạt động cách mạng, đã cống hiến cho Đảng, quân đội nhiều kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và lý luận quý báu, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách như: Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Bí thư Liên tỉnh Nghĩa - Bình - Phú; Chính trị viên Ban Quân sự tỉnh Quảng Ngãi; Chính trị viên trưởng và Bí thư chi bộ Đội du kích Ba Tơ; Trưởng ban Soạn thảo kế hoạch Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi; Ủy viên trưởng quốc phòng Trung Bộ; Chính ủy kiêm Tư lệnh trưởng các lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 5; Bí thư Liên khu ủy Khu 5, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ - Bộ Quốc phòng.

Ở bất cứ cương vị, hoàn cảnh nào, khi hòa mình trong quần chúng hoạt động hay trực tiếp đấu tranh dưới nanh vuốt kẻ thù trong chốn lao tù, ở đâu đồng chí Nguyễn Chánh cũng đều một lòng, một dạ quên mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước; luôn gắn bó, sẻ chia với đồng chí, đồng đội, đồng bào; luôn nặng tình, nặng nghĩa với quê hương.


MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ ĐỘC ĐÁO

Cùng tập thể, đồng chí đã đem hết sức lực, trí tuệ lãnh đạo việc xây dựng và tác chiến của Đội du kích Ba Tơ. Trong cao trào Cách mạng tháng Tám 1945 ở Quảng Ngãi, đồng chí đã tỏ rõ tài năng chính trị, quân sự vẹn toàn, nhanh nhạy nắm bắt thời cơ, hành động kiên quyết và kịp thời, cùng với đảng bộ và nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí là người gắn bó với chiến trường Nam Trung Bộ. Từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến, đồng chí phụ trách về quân sự và ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến - giai đoạn khó khăn và quyết định nhất - đồng chí đã gánh vác trọng trách là người đứng đầu Đảng bộ Liên khu 5 và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó.

Với tư chất thông minh, lại được tắm mình trong hào khí sục sôi của phong trào cách mạng, được đường lối quân sự của Đảng soi đường, đồng chí Nguyễn Chánh đã trở thành một danh tướng có những đóng góp xuất sắc về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến trường miền Nam Trung Bộ. Đồng chí cũng là một nhà lãnh đạo toàn năng, không chỉ trong lĩnh vực chính trị, quân sự mà cả trong các lĩnh vực khác như giáo dục, văn học nghệ thuật... ở lĩnh vực nào cũng in đậm dấu ấn của một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, có những quyết sách đúng đắn, sắc sảo, kịp thời. Đến nay, gần 50 năm sau ngày đồng chí Nguyễn Chánh qua đời, ấn tượng sâu đậm về một người cộng sản kiên cường, một tướng lĩnh mẫu mực, một con người giàu lòng nhân ái, vẫn còn lưu lại sống động trong nhiều thế hệ cán bộ, tướng lĩnh và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tên tuổi của đồng chí Nguyễn Chánh gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của Quảng Ngãi, người dân ở đây luôn tự hào và ghi nhớ công lao của đồng chí - một người con của quê hương đã làm rạng danh vùng đất Ấn - Trà. Một con đường và một ngôi trường ở Quảng Ngãi đã được vinh dự mang tên vị tướng tài đức này.

(Huỳnh Thế, "Vị tướng tài đức vẹn toàn",
trích từ báo Quảng Ngãi chủ nhật, 3-9-2006)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #23 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2022, 08:29:14 am »


TÌNH LÁNG GIỀNG GIỮA GIA ĐÌNH CÁC VỊ TƯỚNG


MẠNH VIỆT - TRẦN HIẾU (ghi chép)

Trong thời kỳ công tác và chiến đấu tại Chiến khu 5, tướng Nguyễn Sơn có hai người bạn chí cốt là Phạm Kiệt và Nguyễn Chánh - cũng là hai vị tướng mà tên tuổi gắn liền với khởi nghĩa Ba Tơ nổi tiếng. Tháng 9 năm 1956, tại Bắc Kinh, biết bệnh tình của mình khó qua khỏi, tướng Nguyễn Sơn đã viết bức thư cuối cùng gửi cho tướng Nguyễn Chánh. Ông Nguyễn Cương - con trai út của tướng Nguyễn Sơn - kể lại: trước khi qua đời, cha tôi hết sức lo lắng cho cuộc sống của những người vợ và các con, nên cha tôi đã viết thư gửi gắm vợ con mình nhờ bạn là bác Nguyễn Chánh chăm nom giúp. Nhận được thư của cha tôi, bác Nguyễn Chánh cùng bác Phạm Thị Trinh (em gái tướng Phạm Kiệt) - đã hết lòng thương yêu chúng tôi, lúc đó còn là những đứa trẻ thơ dại. Hai bác thường xuyên tới thăm gia đình, là chỗ dựa vững chãi cho mẹ Hằng Huân. Nhưng, tiếc thay, chưa đầy một năm sau, ngày 24 tháng 9 năm 1957, bác Nguyễn Chánh cũng đột ngột qua đời. Sau khi bác Chánh mất, bác Phạm Thị Trinh đã tìm bức thư và trao lại cho mẹ Hằng Huân. Hai người chinh phụ góa chồng ôm nhau khóc mãi...

Ngoài tình cảm thân thiết với gia đình, vợ con tướng Nguyễn Sơn, gia đình tướng Nguyễn Chánh còn có những mối quan hệ rất chân tình với hàng xóm, anh em đồng chí khác, đặc biệt là với gia đình Đại tướng Văn Tiến Dũng.

Có lẽ, "phố nhà binh" đầu tiên ở Hà Nội không phải là Lý Nam Đế mà là Hoàng Diệu. Phố này một dạo không được thông giao. Sau khi hòa bình lập lại, rất nhiều vị tướng, quan chức quân đội cư ngụ tại đây. Cũng chính nơi đây, đã có rất nhiều kỷ niệm cảm động về tình làng, nghĩa xóm giữa các gia đình tướng lĩnh. Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc nhớ lại rằng, thuở ông còn là cậu bé 13-14 tuổi, mỗi lần được cha là nhà trí thức lão thành Tạ Quang Đạm, cho theo đến thăm bác ruột (Tạ Quang Bửu - nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), đều rất háo hức. Các vị tướng đều coi chú bé Ngọc như con cháu trong nhà. Nhiều lần, Quang Ngọc còn được "giao lưu" bóng bàn với các chú, nhất là tướng Hoàng Văn Thái...

Trở lại chuyện tình cảm giữa hai gia đình tướng Nguyễn Chánh và Văn Tiến Dũng, cụ bà Phạm Thị Trinh trong hồi ức của mình còn nhớ như in ngày đầu mới đặt chân lên đất Hà Nội: "Khoảng cuối năm 1954, con tàu nước bạn Ba Lan đưa chúng tôi cập bến Sầm Sơn thì có xe của quân đội ra đón và đưa chúng tôi về nhà số 6 đường Hoàng Diệu. Anh Dũng (Đại tướng Văn Tiến Dũng - PV) từ trong nhà chạy ra đón. Anh và anh Chánh ôm nhau nghẹn ngào xúc động. Anh bảo các đồng chí cùng đi: "Các anh đưa chị và các cháu vào nhà xếp chỗ nghỉ ngơi", rồi quay lại nói với tôi: "Tối nay anh chị và các cháu dùng cơm với gia đình tôi. Cứ tạm nghỉ ở đây đã". Chúng tôi được bố trí nghỉ ở tầng dưới, còn gia đình anh ở tầng trên. Anh ân cần hỏi thăm sức khoẻ của anh Chánh và mọi người trong gia đình. Chợt anh thấy cháu Dũng (mới 5 tuổi, bị mắc bệnh khiếm thính - PV) đang đứng ngơ ngác nhìn xung quanh, anh liền ôm cháu vào lòng và nói: "Thằng bé xinh thế này mà bị bệnh tật, tội quá". Anh gọi các con Trình, Mai, Huấn trên gác xuống bảo: "Đây là các bạn Sương, Tường, Dũng, con bác Chánh ở miền Nam mới ra. Các con chơi với nhau nhé...". Tôi và chị Kỳ - (vợ anh) - chuyện trò với nhau thân thiết, các cháu cũng nhanh chóng trở thành bạn bè quấn quýt bên nhau, nhất là cháu Tường và cháu Trình, hai đứa suốt ngày quanh quẩn bên nhau, bày trò đuổi bắt, nghịch ngợm. Những ngày thơ ấu đẹp đẽ ấy đã làm cho các cháu trở thành đôi bạn thân thiết sau này...

Khi anh Chánh trở lại Liên khu 5, tôi đang trở dạ sắp sinh cháu út Chí Hoà thì hôm sau, anh Dũng và chị Kỳ vào ngay bệnh viện thăm tôi. Anh nói: "Anh Chánh vào miền Nam lần này tuy tình hình trong đó còn phức tạp, nhưng chị đừng lo, cứ tĩnh dưỡng cho khỏe..., các cháu ở nhà đã có chúng tôi lo liệu thay chị". Nói xong anh đi gặp bác sĩ Tuấn - Trưởng khoa gửi gắm nhờ bệnh viện chăm sóc chu đáo mẹ con tôi. Đầu tháng 9 năm 1957, tôi được cử đi học lớp lý luận ở Trường Nguyễn Ái Quốc. Nội quy nhà trường chỉ cho phép học viên về nhà từ chiều thứ bảy đến chiều chủ nhật, không ngờ đến tuần thứ ba tôi chia tay anh Chánh vào trường là lần vĩnh biệt, anh Chánh đã đột ngột ra đi lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 9 năm 1957. Trong lúc tôi đang nghe giảng bài thì có một xe ô tô quân đội lên đón tôi về. Dọc đường, tôi gạn hỏi đồng chí sĩ quan: "Đồng chí có biết việc gì mà đón tôi gấp thế không?". Đồng chí ấy trả lời: "Anh Văn Tiến Dũng gọi điện bảo tôi đi đón chị thì tôi đi chứ không biết cụ thể". Xe về gần tới nhà thì tôi thấy có nhiều xe con đậu trước nhà. Xe vừa dừng, anh Dũng chạy ra đỡ tôi xuống rồi nắm tay dắt tôi lên nhà. Đưa mắt nhìn sang phòng khách, thấy các anh trong Bộ Chính trị và bạn bè anh Chánh đều có mặt. Tôi vào phòng thì thấy anh Võ Nguyên Giáp đứng ở cửa phòng bảo tôi: "Chị bình tĩnh để bác sĩ chữa bệnh cho anh". Nhưng thực ra tim anh Chánh đã ngừng đập từ 5 giờ sáng rồi, các bác sĩ đang cố truyền máu vào ven nhưng không được. Anh Phạm Kiệt - anh ruột tôi - đưa tôi sang phòng bên, chị Kỳ và các chị đỡ tôi ngồi và cho tôi uống nước. Tôi ngã gục vào tường không biết gì. Một lúc sau bỗng nghe có tiếng người đi vào, tôi mở mắt ngước lên hỏi: "Anh Chánh mất rồi phải không các anh?". Lúc đó, anh Phạm Văn Đồng gục trán lên đầu tôi. Anh Dũng nắm chặt tay tôi, rồi hai anh khóc òa lên... Nhờ có sự quan tâm của tổ chức, anh Dũng, chị Kỳ và bạn bè, tôi đã bình tĩnh lại, gạt nước mắt để chuẩn bị đón nhận trách nhiệm của người mẹ của sáu đứa con mồ côi cha...

Sau này, có thời gian tôi nhiều bệnh và yếu nên Ban Tổ chức Trung ương tạo điều kiện cho đi điều dưỡng ở Quảng Bá (Hà Nội). Lúc này, các cháu đều đang trong quân ngũ và học ở nước ngoài, chỉ còn cháu Tường đang chờ công tác, phải ở nhà tự nấu ăn một mình. Biết chuyện, anh Dũng - chị Kỳ đến Quảng Bá thăm tôi và bảo: "Chị đi viện, Tường ở nhà một mình, chị cho cháu lên ở với gia đình tôi để sinh hoạt cho tiện, chị đừng ngại gì cả, cứ an tâm dưỡng sức chứ chúng tôi thấy chị xanh quá". Sau đấy, cháu Tường lên ở với anh chị Dũng hàng tháng. Lúc lên thăm tôi, cháu khoe: "Chú và cô luôn bảo con đừng ngại gì, con và Trình có bàn bóng tha hồ đánh, cô Kỳ thì đưa chiếc xe đạp vừa mua cho em Mai, cô bảo con cứ giữ lấy đi chơi và vào thăm mẹ. Con, Trình và các em cùng ăn cơm một mâm với cô chú, chú coi con như con trong nhà không hề phân biệt gì, mẹ cứ an tâm nghỉ ngơi đừng lo gì cho con cả".

Cuộc đời của hai người "chinh phụ" góa chồng Lê Hằng Huân - vợ tướng Nguyễn Sơn và Phạm Thị Trinh - Vợ tướng Nguyễn Chánh sao lại có những nét giống nhau đến vậy: Sau khi chồng qua đời, hai người đều vừa phải công tác, vừa phải một nách chăm sóc, nuôi dạy 5 - 6 đứa con mồ côi. Sau này, các con của họ đều trưởng thành hầu hết trong quân ngũ và có lẽ đây cũng là những người đầu tiên tự nguyện trả lại biệt thự cho Nhà nước.

Còn nhớ, sau khi tướng Nguyễn Chánh được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ (Bộ Quốc phòng), gia đình ông đã giao lại nhà Hoàng Diệu để chuyển về ở 34 Lý Nam Đế. Một thời gian ngắn sau khi tướng Nguyễn Chánh qua đời, người vợ liền bày tỏ ý nguyện trả lại nhà 34 Lý Nam Đế, chuyển về khu tập thể ở chung với mọi người. Nhiều người khuyên ngăn: "Chị và các cháu cứ ở đây, anh Chánh vừa mới mất, chị đừng làm thế các cháu nó lo lắng!". Có người còn bảo: "Chị lúc nào cũng nguyên tắc cứng nhắc, khi anh còn sống để đảm bảo tiêu chuẩn của anh nên không chịu ăn cơm chung, khi cùng đi họp ở Trung ương, chị không chịu đi xe ô tô chung với anh Chánh vì không phải tiêu chuẩn xe của chị. Bây giờ chị có muốn chung cũng không được nữa rồi!". Mặc dầu vậy, bà Phạm Thị Trinh vẫn tìm mọi cách để đạt nguyện vọng của mình nên sau đó, tổ chức đã bố trí cho gia đình về ở khu tập thể 38A Trần Phú. Trong thời kỳ giặc Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, các con đều đã lớn tham gia bộ đội hoặc công tác, đi học xa, một mình bà ở lại Hà Nội công tác tại Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bà lại xin trả lại nhà 38A Trần Phú và dọn đến ở ngay tại nơi làm việc...

Giờ đây, tuy nghèo khó, nhưng bà vẫn sống rất thanh thản, lạc quan. Ngoài những "cố nhân", thi thoảng, bà còn làm bạn với thi ca...

(Mạnh Việt - Trần Hiếu, “Tình láng giềng giữa gia đình các vị tướng",
Báo Tiền phong, số 277, 28-11-2006)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #24 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2022, 08:32:31 am »


TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH VÀ ĐỘI DU KÍCH BA TƠ


NGUYỄN THẾ KỶ

                                                                                                                                                               
           
Cha mẹ đặt tên cho anh là Nguyễn Hiệp. Nhưng ở địa phương có tục kêu tên bằng thứ, nên bà con thường gọi anh là anh Chín. Năm 1929, anh làm liên lạc cho tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Năm 1930, anh làm công tác tuyên truyền cho "Phân ban Bắc Trà" của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Mảnh đất "Hà Nhai Vãn độ" (nay là xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh) nơi anh cất tiếng khóc chào đời và cũng là nơi anh bị thực dân Pháp bắt lần thứ nhất, lúc còn ở tuổi vị thành niên.

Nhiều lần bị địch tra khảo, đánh đập... lần nào anh cũng nói trước sau như một: "Tôi sinh năm 1916 (khai sụt). Tôi tên là "Nguyễn Chánh" (không khai tên cha mẹ đặt). Cái tên Nguyễn Chánh từ đó sống chết chẳng rời anh, như lòng chung thủy của anh với Đảng, với nhân dân. Chúng giam anh 2 năm. Hết hạn tù, anh bị quản thúc tại gia.

Một bạn tù kể lại: "Anh Chánh là thầy đốt, thầy châm cứu... chữa lành cho biết bao bệnh nhân bị sưng khớp, bại liệt, loét dạ dày... ở các nhà tù mà anh đã đi qua...".

Tình yêu trung thực - dám sông chết với nhau, đã trở thành tính cách của Nguyễn Chánh. Hồi ở tù, cũng như khi giữ chức Tỉnh ủy viên thường trực phụ trách đấu tranh công khai, đạt bao nhiêu thành công to lớn, chính là do tính cách đó của anh quyết định... Thực dân Pháp bắt anh lần thứ hai khi cấp trên đã chỉ định anh làm Bí thư Liên tỉnh ủy ba tỉnh Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên. Chúng bắt anh đẩy anh ngay vào xà lim số 1. Người ta đồn rằng, ai vô đây trở ra - một là đầu hàng, hai là tàn phế. Nhưng Nguyễn Chánh thà chết không khai.

Kết án khổ sai, địch áp giải anh lên đồn Ba Tơ. Nhận thấy Nguyễn Chánh vẫn là một nguy hiểm ở đây, bọn cai ngục Ba Tơ liền chuyển anh ra Gi Lăng, rồi chúng đày lên Buôn Ma Thuột...

Ở đây anh cũng không ngừng đấu tranh chống đàn áp tù nhân, tổ chức tuyệt thực, tổ chức học tập... Càng đấu tranh, tính cách Nguvễn Chánh càng đậm sắc. Khi anh hết hạn tù, lũ tay sai của thực dân Pháp vẫn còn sợ "thả hổ về rừng". Phải đến lúc Nhật đảo chính, anh mới vượt mọi khổ ải từ căng an trí Phú Bài trở về quê hương và đã nghe có bài thơ về "Đội du kích Ba Tơ":

"Khởi nghĩa Ba Tơ dày chiến tích
Cao muôn trùng điệp gió ngàn ru
Đèo lên mây chạm đầu du kích
Dốc xuống mưa lùa chân chiến khu"

Những chính trị phạm hết án tù, địch đưa lên căng an trí Ba Tơ, để tách "cá khỏi nước". Anh em phải tự tạo ra nguồn, bươn chải để sống thích nghi theo hoàn cảnh của từng người. Anh Phạm Kiệt đã từ Buôn Ma Thuột về tới Ba Tơ và tổ chức phổ biến ngay Nghị quyết 8 của Trung ương cho mọi người học tập. Trước đó, anh em tù chính trị an trí tại Ba Tơ còn hoạt động rời rạc, lẻ tẻ, nhưng khi nghe tin quân Đồng minh thắng phát xít Đức thì nhiều người đã xem Nghị quyết 8 của Trung ương như ngọn đuốc sáng soi đường giữa đêm đen... và những anh em tù an trí đã tập hợp nhau lại thành đội ngũ, lấy tên là "Đội du kích Ba Tơ".

Đang còn sắp xếp, thì tin ở cơ sở Sông Vệ cho hay "Dưới xuôi Nhật đã chiếm hết rồi", tiếp đến là mẩu thư nhỏ chính thức báo tin, đọc xong, Ban chỉ huy bố trí ngay nhóm đội viên trang bị vũ khí đi về hướng đèo Đá Chát... Giữa đường thấy chiếc xe kéo của Pháp chạy từ thị xã Quảng Ngãi lên. Anh em chĩa giáo mác ra, chặn lại. Tên quan ba Pháp hốt hoảng nhảy xuống, hứa sẽ giao đồn. Nhưng đến lúc ta vào gặp để tiếp quản đồn thì tên này lại đề nghị du kích phối hợp với quân đội Pháp chống Nhật.

Trước tình hình rối loạn của địch, theo tinh thần Nghị quyết 8 của Trung ương - Khởi nghĩa từng phần đợi thời cơ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa toàn quốc; một mặt củng cố đội ngũ, mặt khác đội du kích đã cử người đi vào quần chúng tuyên truyền vận động đồng bào Kinh cũng như đồng bào dân tộc sẵn sàng chờ lệnh. Đúng theo chương trình hành động, trưa ngày 10 ta chiếm nha Kiếm Lý. Chiều và tối ngày hôm đó, rút kinh nghiệm bài học thất bại lần trước, Đội du kích Ba Tơ bao vây, áp sát quanh đồn, bắc loa kêu gọi binh lính địch đầu hàng...

Với sự chỉ huy của tên quan ba Pháp, mỗi lần nghe tiếng loa ta gọi bọn lính trong đồn lại bắn trả. Nhưng ta vẫn liên tục giải thích đường lối chính sách của Mặt trận Việt Minh, của cách mạng... Đợi đến giờ, cùng một lúc khắp Ba Tơ nổi dậy rung trời, chuyển đất. Cờ như rừng. Lửa như núi. Gươm dao, giáo mác, trống mõ... của đồng bào Kinh từ Trường An, thị trấn Ba Tơ kéo lên. Cung tên, tù và, tét hú... của đồng bào dân tộc thiểu số quanh vùng núi Cao Muôn tuôn ra. Ngay lúc đó, nội công của ta trong hàng ngũ địch chủ động mở cổng đồn. Đội du kích Ba Tơ, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt tràn vào chiếm lĩnh toàn bộ đồn Ba Tơ.

Khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11 tháng 3 năm 1945 thành công. Chi bộ đảng Đội du kích Ba Tơ chủ trương rời bỏ đồn, chuyển quân ra rừng xây dựng căn cứ địa để phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang. Toàn đội đã chào nhau bằng những nắm tay đưa lên "Hy sinh vì Tổ quốc" như lời thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Và, "vạn sự khỏi đầu nan" - càng đi sâu vào rừng càng gặp muôn vàn khó khăn, quân số mỗi ngày một giảm. Trước tình hình "tiến thoái lưỡng nan", anh Nguyễn Chánh xuất hiện, như là "cá gặp nước", toàn đội du kích vui mừng đón anh bên bờ suối...

Qua những điều mắt thấy tai nghe, anh Chánh đặt ra cho đội nhiều vấn đề. Trong đó, có một câu hỏi: "Bao giờ Đội du kích chúng ta mới về đồng bằng?". Như "nắng hạn gặp mưa rào", tất cả du kích Ba Tơ tham gia bàn bạc sôi nổi, gay gắt... Cuối cùng anh nhẹ nhàng nói:

"Lâu nay chúng ta quen có khái niệm căn cứ địa phải ở rừng núi, nhưng bây giờ, chúng ta phải nhớ rằng, có một nơi vô cùng rộng lớn, vô cùng kín đáo, có thể che chở và đùm bọc cho ta - đó là lòng dân". Tất cả đã lặng phắc lắng nghe chính trị viên của mình phân tích, rồi Đội du kích được lệnh hành quân...

Lên đường từ Cơ Nhứt, toàn đội đi đến đâu đều được đồng bào dân tộc thiểu số đùm bọc, cho ăn, cho đắp... Trước sự phân tích phải dựa vào dân để sống và chiến đấu của anh Chánh, anh em du kích càng đi vào thực tế, càng thấm thía. Ai cũng đồng tình với ý kiến chuyển hướng Đội du kích về đồng bằng và Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã thống nhất với đề xuất này...

Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ thắng lợi, phong trào dân quân, tự vệ ở đồng bằng phát triển nhanh. Đội du kích Ba Tơ chia làm hai, bổ sung thành hai đại đội đứng chân ở hai nơi. Đại đội Phan Đình Phùng phía nam tỉnh, đại đội Hoàng Hoa Thám phía bắc tỉnh. Đơn vị nào cũng tích cực bố trí chiến sĩ xuống tận xóm thôn để huấn luyện quân sự cho cơ sở. Chẳng bao lâu Đội du kích Ba Tơ từ hơn hai mươi người, đã phát triển lên tới hai ngàn vệ quốc quân, đáp ứng quân số kịp thời, góp phần cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành công...

(Nguyễn Thế Kỷ, “Tướng Nguyễn Chánh và Đội du kích Ba Tơ",
Báo Sài Gòn giải phóng, số 10672, ngày 10-3-2007)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2022, 07:35:54 am »


NGƯỜI CON CỦA NÚI ẤN SÔNG TRÀ
(DANH TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH)


Đại tá, nhà báo, nhà văn NSUT CHI PHAN

Hằng năm, cứ đến ngày 24 tháng 9, tại nhà cụ Phạm Thị Trinh, vợ Danh tướng Nguyễn Chánh, ở quận Đống Đa, Hà Nội, những người thân trong gia đình cùng bạn bè, đồng đội lại thành kính tổ chức lễ tưởng niệm ông. Những con trai, con gái, con dâu, con rể và đàn cháu nội, ngoại, quây quần quanh cụ Trinh để nghe kể chuyện về người cha, người ông cách đây hơn nửa thế kỷ. Tuy đã trên 90 tuổi, nhưng trí nhớ của cụ còn minh mẫn, sáng suốt, giọng nói miền Trung nhỏ nhẹ, sâu lắng, nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm với người chồng mà cụ thương yêu hơn cả bản thân mình...

Nguyễn Chánh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1914, trong một gia đình nông dân, tại thôn Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mảnh đất "Gấm Thành" xưa đã nổi tiếng có 12 cảnh đẹp, trong đó, Tịnh Hà cũng được xếp vào một trong 12 cảnh đẹp ấy. "Gấm vóc non sông dệt khí người", quê hương ông vốn có truyền thống hiếu học, trọng việc nghĩa, không khuất phục trước uy vũ kẻ thù; đã xuất hiện nhiều vị tiến sĩ, cử nhân, tú tài, từng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược và triều đình phong kiến bán nước. Cuộc khởi nghĩa đó cụ cử nhân Lê Trung Đình lãnh đạo, đã dùng kế "nội công, ngoại kích", đánh chiếm thành Quảng Ngãi. Lúc xung trận, cụ mặc áo bào, cưỡi ngựa, hô quân xông lên. Kẻ thù xả súng bắn vào quần chúng. Cụ Lê Trung Đình bị địch bắt, mang ra pháp trường xử chém. Cụ vẫn hiên ngang đến phút cuối cùng trước lưỡi gươm của giặc.

Nguyễn Chánh thường nói với mọi người:

- Nhân dân Quảng Ngãi như thế; làng quê mình như thế, làm sao không yêu quý tự hào được...

Hơn nữa, ông cũng rất khâm phục lòng yêu nước, tinh thần quả cảm, đầy khí phách anh hùng của các đồng chí: Trương Quang Trọng, Bí thư Thanh niên Cách mạng đồng chí hội năm 1929; Nguyễn Nghiêm, Bí thư Đảng Cộng sản ở Quảng Ngãi năm 1930. Sa vào tay địch, bị chúng kết án tử hình, Nguyễn Nghiêm vẫn hô vang khẩu hiệu: "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!" giữa pháp trường, khiến tên đao phủ run sợ, phải chém nhiều nhát, đồng chí mới hy sinh. Trương Quang Trọng bị kẻ thù kết án 20 năm tù và đày đi ngục Kon Tum. Đồng chí lãnh đạo anh em đấu tranh quyết liệt chống lại chế độ nhà tù tàn ác. Bọn địch xông vào đàn áp và hỏi:

- Tên nào là Trương Quang Trọng?
- Tao đây!

Chúng hô:

- Bắn!

Người khác tiếp tục đứng lên đấu tranh. Lại bị chúng bắn lần lượt tám đồng chí hy sinh. Sự kiện bi tráng này đã ghi lại thành thơ ca ngợi:

Khí xung mất vía phường cai trị
Máu đổ kinh hồn bọn sếp lao,...

Nguyễn Chánh thuộc lòng những câu thơ trên và nói:

- Là người phải biết tử sinh như anh Trọng, anh Nghiêm...

Ông là con út trong gia đình. Cha mẹ, tám lần sinh nhưng còn sáu người – bốn gái, hai trai. Thời thơ ấu, Nguyễn Chánh là trò giỏi, con ngoan, học rất thông minh, được các thầy giáo yêu quý, bạn bè nể phục. Thường thường, tan buổi học, thầy Rôm ra về rồi, ông rủ bạn ở lại ngồi "truy" bài. Ai chưa hiểu, ông giảng lại như thầy giáo phụ giảng. Có bạn quá nghèo, Nguyễn Chánh cho cả vở để viết. Thi sơ học yếu lược (tương đương lớp 3 - tiểu học), vào môn vấn đáp, giám khảo hỏi ông:

- Tại sao người ta lập đền miếu để thờ?

Nguyễn Chánh thản nhiên trả lời:

- Thưa thầy, đó là xưa bày, nay làm; chứ con nghĩ, không có thần thánh ma quỷ nào cả.

Thầy giáo ngạc nhiên và cho điểm tốt. Cùng với các môn thi khác, ông đỗ đầu kỳ thi sơ học yếu lược. Tiếp đó, Nguyễn Chánh còn đi học chữ Hán của thầy Tú Trầm và học phương pháp châm cứu, đốt chữa bại liệt, bốc thuốc bắc của thầy Cừ. Nối nghiệp bậc ân sư, ông đã chữa lành bệnh cho nhiều người.

Cụ thân sinh ra Nguyễn Chánh thường trò chuyện với người thân trong gia đình:

- Hồi nhỏ, thằng Chín (gọi theo thứ tự các con trong gia đình, vào tù ông khai chệch thành Chánh, từ đó có tên là Nguyễn Chánh) sức yếu nhưng rất hiếu động. Cái gì nó cũng thích học, thích làm; mà đã làm thì làm đến nơi, đến chốn. Nguyễn Chánh học chữ Nho, theo các cậu đằng ngoại đều là học sĩ, tú tài nho học như: Tú Sáu, Tú Mười, Học Bấn và học mẹ đẻ để làm thơ, nói về đạo lý ở đời.

Có lần, mẹ ông - bà Trương Thị Nhẫn, ra bốn chữ: "Quân - Sư - Phụ - Hữu", bảo con trai út, lúc đó mới 12 tuổi, hãy lấy ý đó làm bài thơ. Nguyễn Chánh cầm bút hý hoáy, cặm cụi một lúc thì xong và đọc cho mẹ nghe bài thơ có tựa đề: "Thơ gùi mẹ". Ý tứ trong bài già dặn, xác định rõ sứ mệnh và nghĩa vụ của "đạo làm trai" đối với Tổ quốc đang còn bị rên xiết dưới gót giày xâm lược của thực dân đế quốc:

"Quân, sư, phụ, hữu ấy vì ai?
Chữ đó về con có một vai
Vì nước, lao đao còn gánh nặng
Vì thầy, bận việc phải xía vai
Vì ơn cốt nhục, vàng không nhạt
Vì nghĩa đồng bào, đá chẳng phai
Gánh nợ non sông thân bảy thước
Ở sao cho trọn đạo làm trai”.

Ngày cụ Phan Chu Trinh về nước, ông thường đi mua sách báo, thơ ca yêu nước rồi tập hợp gia đình, chòm xóm lại đọc cho mọi người nghe. Nguyễn Chánh đọc các tác phẩm: "Quốc gia huyết lệ”, "Nam quốc dân tu trí", "Nữ quốc dân tu trí"... và đọc thơ cách mạng. Từ đó, lúc nào ông cũng nói đến độc lập, tự do của dân tộc và căm thù bọn thực dân Pháp xâm lược.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2022, 07:36:51 am »


Đến tuổi 15, qua anh ruột là Nguyễn Tải, Nguyễn Chánh bắt đầu hoạt động cách mạng: làm liên lạc, bảo vệ, che giấu các đồng chí đảng viên cộng sản ở Suối Ngổ. Ông được làm liên lạc cho Trương Quang Trọng, trước lúc đồng chí này hy sinh anh dũng ở Kon Tum. Thời điểm ấy, đánh dấu một bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Chánh. Ông từng kể lại, lúc đầu gặp mặt, đồng chí Trọng hỏi:

- Em có dám làm liên lạc cho các anh không? Nhiệm vụ này nguy hiểm lắm; em có sợ không?

Nguyễn Chánh trả lời ngay:

- Em không sợ! Các anh giao việc gì, em cũng làm. Muốn đánh đuổi được thằng Pháp, nếu mình sợ thì còn làm gì được nó ....

- Anh biết rồi. Anh Tải, anh Độ đã kể cho anh nghe, chuyện em đưa các anh chị cán bộ lánh lên núi an toàn. Em giỏi lắm. Anh tin em.

Sau đó, anh Trọng giao cho ông mang tài liệu tới các huyện Mộ Đức, Đức Phổ, Bình Sơn và mang thư của anh Phạm Viết Dương về cơ quan. Nguyễn Chánh giấu thư trong gánh bắp ngô, quảy đi. Về đến quán cơm ở đầu cầu Trà Khúc, gặp địch, chúng hỏi ông:

- Thằng nhỏ kia, gánh gì? Để xuống chúng tao khám.

- Thưa các thầy, em đi thăm cô em. Cô cho ít bắp mang về cho mẹ.

- Nhà mày ở đâu?

- Nhà em ở gần đây thôi. Có vườn mít và rất nhiều dừa. Hôm nào rảnh rỗi, mời các thầy đến chơi. Cha mẹ em được gặp các thầy sẽ mừng rỡ lắm đó.

Bọn chúng vẫn tiếp tục lục soát, ông vồn vã, mời:

- Cô em cho cả bắp non luộc, mời các thầy ăn cho vui.

Chúng hý hửng tranh nhau ăn bắp luộc rồi ra hiệu cho Nguyễn Chánh đi. Biết chuyện, anh Trọng khen:

- Em bình tĩnh và thông minh lắm...

Năm 1930, Nguyễn Chánh được phân công làm nhiệm vụ tuyên truyền ở phân ban Tỉnh ủy Bắc Trà. Mỗi lần đi tham gia mít tinh, diễn thuyết ở các xã về, ông thường trằn trọc suốt đêm. Nguyễn Chánh tâm sự với bạn bè:

- Đồng bào ven biển sống khổ quá: Đói khát, quần áo rách bươm. Hôm nào biển động, những ngư dân không đi đánh cá được thì cái nồi đất lại treo lên tường. Vợ con họ bụng lép kẹp, gầy trơ xương, đến cọng rau cũng không có mà ăn. Song chính những vùng quê nghèo này, phong trào cách mạng lại lên cao. Người dân nghèo khổ nhất là người có tinh thần cách mạng triệt để nhất.

Ông và Phan Bưng đang làm nhiệm vụ ở cơ sở thì gặp chuyện không may. Anh Bưng bị ốm nặng. Nguyễn Chánh không dám đưa đồng đội vào bệnh viện, sợ bị lộ nên phải dùng thuyền chở đến nhà cụ Tú Trầm chữa bằng thuốc bắc. Trên đường đi, anh Bưng sốt cao nên đã chết trên thuyền, giữa dòng sông Trà Khúc. Nguyễn Chánh thương tiếc, xin cỗ hậu sự của cha để chôn đồng đội trên bãi cát, cạnh một bụi tre làm dấu. Ông xúc động nói:

- Tôi không bao giờ quên được bữa đến thăm bà Xách, mẹ của anh Bưng. Bà ngồi một mình vò võ, trong túp lều, ra vào phải khom lưng. Bà cứ ôm lấy tôi mà khóc, nói: "Thằng Bưng của mẹ đâu con? Thằng Bưng của mẹ đâu?".

Mỗi lần công tác ghé qua nhà, Nguyễn Chánh đều ra cạnh bụi tre, cắm ba nén hương, tưởng nhớ anh Bưng.

Sau ngày 1 tháng 5 năm 1931, ông bị địch bắt trên sông Trà Khúc. Bọn xã đoàn giải ngay về huyện để lĩnh thưởng của tri huyện Nguyễn Bính. Trong phòng hỏi cung, Nguyễn Chánh khai, sinh năm 1916 (14 tuổi), trình độ văn hoá - sơ học yếu lược; đang lao động chăn trâu ở Suôi Ngổ, nơi ông bố vỡ hoang, trồng thuốc lá. Địch bắt ông phải nhận làm cộng sản. Nguyễn Chánh khai đi, khai lại, cương quyết không nhận. Tri huyện Nguyễn Bính trực tiếp hỏi cung. Mặt nó hầm hầm, quát nạt:

- Mày muốn sống thì khai đi!

- Tôi còn nhỏ, không biết cộng sản là gì. Tôi không trốn, ngày ngày tôi chăn trâu cho cha tôi ở Suối Ngổ.

- Tao đã cho lính tìm mày ở đó, không thấy.

- Tôi chăn đến bốn - năm con trâu; phải cho nó vào rừng sâu mới có cỏ. Tôi đi xa quá nên ngủ luôn ở trong núi không về; sợ bỏ trâu đói, cha mắng.

Tri huyện Nguyễn Bính dịu giọng:

- Mày khai đi, tất cả những việc làm của mày là bị bọn cộng sản lừa phỉnh ra sao. Quan sẽ chiếu cố tuổi vị thành niên, cho về với mẹ. Mẹ mày đang lo sợ, đau buồn lắm vì thằng Nguyễn Tải, anh mày là cộng sản, đang bị tra tấn gần chết ở bên tỉnh; mày có biết không?

Nguyễn Chánh không còn lạ gì thủ đoạn lừa phỉnh, doạ nạt, thuyết phục rồi đánh đập của địch. Ông mặc kệ, âm mưu của nó thì nó cứ thực hiện, còn việc của ông là kiên định, không chuyển lay. Tên Nguyễn Bính ra lệnh tra tấn. Chúng xông vào đánh Nguyễn Chánh mấy tiếng đồng hồ liền. Ông kêu la:

- Tôi là trẻ con mới 14 tuổi; tôi không biết cộng sản. Các ông đánh tôi đau quá! Cha ơi! Mẹ ơi!

Mấy ngày sau, địch chuyển Nguyễn Chánh lên nhà lao tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, có tên lãnh binh Trần Luận khét tiếng tàn ác, uống máu người. Chúng treo Nguyễn Chánh lên đánh liên tục hai ngày liền, ông vẫn không một lời khai báo. Chúng kết án Nguyễn Chánh hai năm tù vì tội (trốn) theo cộng sản. Nhà tù Quảng Ngãi là một địa ngục trần gian. Anh chị em ở đây không chỉ chết vì các đòn tra tấn dã man mà còn chết vì ngạt thở, phù thũng. Những lao "nam án", người đông, chật đến nỗi chỉ đứng hoặc ngồi, không có chỗ để nằm. Cơm tù nấu bằng gạo mục có lẫn sâu mọt. Rau muống luộc lẫn cả với giẻ rách. Ngày nào cũng có xe bò kéo xác tù đi chôn ở núi Bút.

Trước thảm cảnh đó, Nguyễn Chánh tham gia ban đấu tranh, quyết định tuyệt thực để chống chế độ nhà tù hà khắc. Ông đọc to hai câu thơ:

"Nó "đãi" mình như trâu như chó
Mình sợ gì chúng nó mà làm thinh"

Bọn địch phải nhượng bộ, cải thiện một phần chế độ ăn uống trong nhà tù. Khi hết hạn, ra tù, ông vẫn bị địch o ép, quản thúc tại nhà. Lúc đó, bà mẹ Nguyễn Chánh bị ốm nặng và không qua khỏi. Ông rất đau buồn. Với mẹ, ngoài tình mẫu tử, còn là người thầy, giúp Nguyễn Chánh có sự hiểu biết về đời sống xã hội, tầm nhìn sâu xa về đạo lý làm người. Chính bà mẹ đã động viên, hỗ trợ ông trên bước đường cách mạng từ thời niên thiếu. Vì vậy, ông đã viết bài thơ khóc mẹ lâm ly, thống thiết:

"Đầu non gãy một cành huyên,
Mặt đất nhỏ đôi dòng lệ,
Mẹ năm mươi phải đành tạ thế
Con mười chín chịu gánh càn khôn”...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2022, 07:37:40 am »


Năm 1937, Nguyễn Chánh là Tỉnh ủy viên, Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi, phụ trách đấu tranh công khai. Năm 1939, Xứ ủy chỉ định ông làm Bí thư Liên tỉnh: Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên. Tình thế lúc này đã thay đổi. Mặt trận bình dân Pháp thất bại. Bọn địch quay lại khủng bố mạnh, Nguyễn Chánh bị bắt lần thứ hai, lúc ông tròn 25 tuổi; đã xây dựng gia đình với bà Phạm Thị Trinh. Địch đưa Nguyễn Chánh về sở mật thám rồi giam vào xà lim số một. Thông thường, ai đã vào đây cũng trở thành tàn phế vì những đòn tra tấn dã man của bọn mật thám Bùi Trọng Lệ. Trước khi vào xà lim, chúng lột hết quần áo của ông, chỉ để lại cái quần đùi che thân. Bốn bức tường xà lim đầy vết máu: Máu của tù nhân bị tra tấn quệt vào tường; máu do muỗi nhiều như ong đốt tù nhân, Hằng ngày, tên lính mở cửa, nhét vào nắm cơm gạo mục không muối, không rau. Mùi khai thối của ống tre chứa phân, nước tiểu ở góc xà lim, khiến tù nhân càng ngột ngạt, kinh lợm. Suốt ngày đêm, họ chỉ nghe thấy tiếng chân giày của lính gác và tiếng gầm gừ đe doạ của chó béc-giê. Hôm sau, chúng đưa Nguyễn Chánh lên phòng nhì. Hai tên ác ôn Ngô và Hoành thay nhau đánh đập ông chết đi sống lại, hòng bắt ông khai ra Xứ ủy và nhận làm Bí thư Liên tỉnh. Trước sau Nguyễn Chánh kiên quyết không khai. Chúng còn đưa ảnh mấy đồng chí trong Xứ ủy ra và nói:

- Mấy tên này đã khai hết rồi. Mày có chịu nhận không?

Ông phủ định:

- Tôi không hề biết những người đó.

Lập tức, mấy tên lại xông vào tra tấn tiếp; cả tên Bùi Trọng Lệ dùng đòn võ hiểm đá vào ngực Nguyễn Chánh. Ông hộc máu, ngất đi, mê man bất tỉnh. Chúng khiêng vứt về xà lim. Không khai thác được tin tức gì ở Nguyễn Chánh, địch đưa ông lên đồn Ba Tơ, đồn Gi Lăng, rồi đày đi Buôn Ma Thuột. Tại đây, Nguyễn Chánh cũng tham gia ban lãnh đạo đấu tranh chống đàn áp tù nhân; tổ chức nhiều cuộc tuyệt thực, làm náo động cả thị xã. Ngoài ra, anh em còn tiến hành học tập rất tích cực: Học lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, học đường lối chính sách của Đảng, học quân sự, học văn hoá, học tiếng Pháp và học làm thơ. Nguyễn Chánh dạy chữ Hán, dạy làm thơ Đường luật và chăm chỉ học tiếng Pháp, đủ từ ngữ giao thiệp được với bọn cai sếp Tây và học chính trị. Nhà tù đã thực sự biến thành trường học cách mạng.

Tháng 9 năm 1944, hết hạn tù, địch bắt ông đi an trí ở căng Phú Bài - Thừa Thiên. Chúng chở ông bằng tàu hoả. Người làng trông thấy, chạy về báo cho cụ thân sinh và bà Phạm Thị Trinh chạy ra ga Quảng Ngãi, lúc tàu dừng, mong nhìn thấy Nguyễn Chánh. Ra tới nơi, tàu vừa chạy, hai người chỉ nhìn thoáng qua thấy hình dáng ông tiều tụy, hai tay bị còng, đầu cạo trọc, mặt mày xanh xao, hốc hác... Ông cụ sững sờ, đau xót nhìn theo con. Bà Phạm Thị Trinh ngồi bệt xuống đất, khóc không thành tiếng... Nửa tháng sau, gia đình nhận được bài thơ của Nguyễn Chánh gửi về động viên người thân:

"Cuộc gặp gỡ đâu phải là tái hợp,
Khi chia tay ta chỉ đứng nhìn nhau,
Anh ở trên cao, không rời được con tàu,
Em dưới đất mà đôi môi mím chặt,
Đứng dậy em ơi, hãy lau nước mắt"...

Căng an trí Phú Bài thực chất là nhà tù trung cổ, làm cho tù nhân chết dần, chết mòn. Căng như ấp chiến lược, xung quanh có hào sâu, dây thép gai, hầm chông, cạm bẫy. Tù nhân bị bắt đi làm xâu, vô cùng vất vả, cực nhọc. Họ vào ra qua một cái cầu treo, cầu kéo lên, căng bị cô lập với bên ngoài. Lính gác dày đặc trên các chòi canh, sẵn sàng bắn bất cứ ai chúng tình nghi chạy trốn. Nguyễn Chánh cùng một số tù nhân khác đấu tranh quyết liệt, hô khẩu hiệu: Đả đảo khủng bố! Phải trả tự do cho anh em an trí!". Địch xông vào đánh đập và bắt ông đưa về nhốt ở ca-sô, thuộc nhà lao Thừa Phủ, Huế. Ca-sô là xà lim dưới hầm, chật cứng người; đứng phải khom lưng. Lính gác lăm lăm khẩu súng, hễ nghe tiếng động là bắn, không cần chờ lệnh. Tính mạng tù nhân như ngàn cân treo sợi tóc. Về mùa đông, ở ca-sô Huế, rét buốt xương thịt. Bọn cai ngục chỉ cho mỗi người mặc một quần đùi, một áo may ô. Nhưng quần áo lót cũng không còn vì phải xé dần để đi ngoài. Do vậy, ai nấy đều ở trần như nhộng. Bao nhiều năm ở tù, lần này Nguyễn Chánh mới thấy hết cái dã man tàn ác của kẻ thù trong mấy tháng bị đày đoạ ở ca-sô Huế. Nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con và người thân da diết cùng với lòng tin mãnh liệt vào chiến thắng của cách mạng đã thôi thúc ông làm bài thơ "Gắng đợi ngày mai" ở ca-sô Huế. Bài thơ có đoạn:

"Ai về nhắn bạn cố tri,
Tình riêng ai lại khác gì hơn ai?
Trên đường gió bụi, chông gai
Đạp bằng ta sẽ cùng ai đi về
Bóng hồng phủ khắp thôn quê,
Tình nhà, nợ nước đôi bề vẹn hai,
Em ơi gắng đợi ngày mai"...

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Việt Nam. Các tù nhân đấu tranh ráo riết, cuối cùng bọn Nhật phải thả anh em ra. Nguyễn Chánh có cái nhìn sắc sảo và đánh giá thời cuộc chính xác, có độ khái quát cao. Ông nói ngay với các đồng chí bị giam cầm trong ca-sô Huế:

- Tình hình này, theo tôi, thế nào ở Ba Tơ cũng có khởi nghĩa. Do đó, tôi phải về ngay.

Quả đúng như vậy, cuộc khởi nghĩa Ba Tơ nổ ra vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 và đã thành công tốt đẹp. Căng an trí ở hạt Ba Tơ, đồng bào Kinh, Thượng đã nổi dậy cướp đồn địch, lật đổ chính quyển ngụy, Pháp, thiết lập chính quyền cách mạng. Sáng 12 tháng 3 năm 1945 Đội du kích Ba Tơ được thành lập gồm có 27 người. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành được thắng lợi trọn vẹn; tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cuộc Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, ở Quảng Ngãi. Vừa mới ở ca-sô Huế về, Nguyễn Chánh được bổ sung vào Tỉnh ủy lâm thời và được phân công lãnh đạo Đội du kích Ba Tơ cùng với các đồng chí Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt.

Sau khởi nghĩa Ba Tơ, chi bộ quyết định chuyển đội du kích vào rừng núi, xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng. Song tình hình diễn biến ngày càng khó khăn, phức tạp: Số anh em đau ốm càng nhiều, không thuốc men, đói cơm, nhạt muối, thiếu quần áo mặc... Số quân không phát triển mà lại giảm đi. Trước hiện trạng đó, Nguyễn Chánh sâu sát, xem xét, suy nghĩ và kiến nghị hai vấn đề lớn: Phải xây dựng, củng cố chi bộ Đảng, làm hạt nhân lãnh đạo; phải đưa ngay đội du kích về đồng bằng, dựa vào phong trào cách mạng của quần chúng để xây dựng, phát triển và chiến đấu. Đội lấy dân làm gốc, dựa vào dân, được nhân dân che chở là kín đáo nhất, vững chắc nhất.

Những ngày đầu cách mạng, vạn sự khởi đầu nan; không thầy dạy, không sách vở, phải mò mẫm, tìm tòi... thì quan điểm, nhận thức tư tưởng này là một cống hiến đặc sắc của Nguyễn Chánh cho kho tàng lý luận cũng như hoạt động thực tiễn xây dựng và chiến đấu của quân dân ta. Nó mãi mãi là phương châm chỉ đạo của sự nghiệp cách mạng nói chung và của các lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng.

Đội du kích Ba Tơ về đồng bằng, sống trong cái nôi của nhân dân; động viên được nhân tài, vật lực để xây đựng đơn vị. Chẳng bao lâu, đội từ gần 30 người, phát triển lên hàng nghìn người cùng với mấy vạn du kích ở khắp nơi trong tỉnh. Tầm nhìn thấu suốt của Nguyễn Chánh đã góp phần xây dựng Đội du kích Ba Tơ trở thành lực lượng trung tâm của cao trào kháng Nhật, cứu nước ở miền Nam Trung Bộ; là hạt nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, xứng đáng là một trong những tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Đội du kích Ba Tơ cùng nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa ở Quảng Ngãi, là một trong những địa phương đã sớm vùng lên giành chính quyền trong thời cơ phát xít Nhật đầu hàng. Với cương vị là Trưởng ban quân sự, chỉ huy cuộc Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Chánh tỏ rõ tài năng chính trị, quân sự song toàn, nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ, hành động kiên quyết, kịp thời, đã cùng tập thể đưa cuộc Tổng khởi nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2022, 07:38:34 am »


Liên khu 5 có vị trí chiến lược quan trọng; đặc biệt có chiến trường Tây Nguyên, khống chế cả khu vực Nam bán đảo Đông Dương và nối liền hành lang huyết mạch với Nam Bộ. Vì vậy, từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, đồng chí Phạm Văn Đồng được trên cử vào làm đại diện của Trung ương và Chính phủ ở miền Trung, trực tiếp chỉ đạo chiến trường này. Trong thời kỳ đó, quân và dân Liên khu 5 đã lập được kỳ tích: Giữa vòng vây của quân thù, vẫn giữ vững vùng tự do gồm bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn - Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bên cạnh đó, các địa phương còn xây dựng được hệ thống chính quyền cách mạng hoàn chỉnh; có kinh tế tự túc ổn định; văn hoá giáo dục phát triển; hệ thống đường giao thông giữa các tỉnh với Nam Bộ, Nam Trung Bộ thực sự trở thành một hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Với cương vị là Chính ủy Bộ tư lệnh Liên khu 5, Nguyễn Chánh có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích nói trên.

Từ năm 1949 trở đi, đồng chí Phạm Văn Đồng, rồi một số đồng chí lãnh đạo khác như Nguyễn Duy Trinh, lần lượt về Trung ương. Vì vậy, nhiệm vụ của ông ngày càng nặng nề hơn. Nguyễn Chánh giữ trọng trách vừa là Bí thư Liên khu ủy, vừa là Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5. Đây là một thử thách lớn, làm bộc lộ bản lĩnh, tài năng, đức độ của ông.

Từ năm 1951 trở đi, phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu 5 không những tiếp tục được giữ vững mà còn có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, Nguyễn Chánh tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, ông tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là người chỉ huy kiên quyết, có tài năng tổ chức. Vào những năm 1951-1952, Liên khu 5 gặp nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp: Vụ Sơn Hà; nạn đói trầm trọng vì thiên tai; những sai lầm trong chỉ đạo thu thuế nông nghiệp, thực hiện tổng động viên; những vấn đề nảy sinh trong xây dựng và tác chiến của các lực lượng vũ trang... Nguyễn Chánh một lần nữa lại tỏ rõ tài năng bao quát mọi lĩnh vực, giải quyết dứt điểm từng vấn đề, trên cơ sở một tri thức sâu rộng và đầu óc thực tiễn nhạy bén.

Trong khi thực hiện phong trào "Đời sống mới" ở Sơn Hà, miền Tây Quảng Ngãi, một số cán bộ đã có những việc làm quá trớn, trái với phong tục, tập quán và xâm phạm quyền lợi của đồng bào các dân tộc. Lợi dụng sai lầm này, bọn địch kích động nhân dân bạo loạn. Nguyễn Chánh chủ trương, vận dụng cả chính trị và quân sự, trong đó, chính trị là chủ yếu, vừa tác chiến vừa làm công tác dân vận, ngụy vận, chú trọng giải quyết tốt đời sống cho đồng bào, đồng thời xin tự phê bình trước mọi người về những sai lầm của một số cán bộ. Đến cuối năm 1951, vụ Sơn Hà đã giải quyết tốt.

Năm 1952, ở Bắc Quảng Ngãi, Nam Quảng Nam bị hạn hán nặng, mất mùa; nạn đói lan tràn kéo theo dịch bệnh khắp nơi. Thêm vào đó, tình hình trộm cắp nổi lên, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Nguyễn Chánh với chiếc xe đạp cùng vài đồng chí cán bộ, đi đến tận nơi có nạn đói xảy ra. Ông sâu sát xuống tận xã, thôn thăm hỏi một số đồng bào đang nằm liệt giường vì đói, vì bệnh tật. Có người đã chết đói. Nguyễn Chánh trở về báo cáo với Liên khu ủy và đề xuất cứu đói kịp thời như cứu hoả. Ông động viên toàn quân trong Liên khu nhịn ăn một bữa, bớt gạo để cứu đói và chính bản thân nêu gương đầu. Nguyễn Chánh còn đưa một số đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đi cứu đói. Với lon gạo, bát cơm, thìa cháo, viên thuốc, bộ đội chăm sóc cho trẻ em, người già, phụ nữ đang đói khát, bệnh tật nằm liệt giường. Các đơn vị tổ chức làm tổng vệ sinh môi trường, quét dọn, khử trùng trong thôn, xóm. Qua những việc làm ấy, lòng tin của dân với Đảng được củng cố, tình quân dân ngày càng bền chặt. Bài học về "Lòng dân không mất", "Vì nhân dân phục vụ" luôn rực sáng trong con người Nguyễn Chánh. Ông có niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh nhân dân và lòng thương yêu họ như máu thịt của mình. Hơn nữa, Nguyễn Chánh công tác, chiến đấu tử sinh cùng quần chúng, lăn lộn trong quần chúng nên mới có được đức tính cao quý của một nhà lãnh đạo, chiếm được lòng tin tuyệt đối trong nhân dân. Năm 1951, khi được bầu vào Trung ương Đảng, ông đã được Bác Hồ trực tiếp căn dặn: "Làm cách mạng là luôn luôn phải học tập; có ai sinh ra để làm Trung ương đâu. Chú cứ an tâm, Đại hội tín nhiệm bầu chú vào Ban Chấp hành Trung ương là có cân nhắc. Chú về trong đó cố gắng làm tốt trách nhiệm của mình. Các đồng chí và Bác luôn luôn theo dõi và giúp chú". Từ đó, Nguyễn Chánh càng sống gần gũi với chiến sĩ, đồng bào hơn. Ông không chỉ quan tâm chăm lo cho dân mà còn rất tin và đồng cảm với họ, đặc biệt là với đồng bào các dân tộc thiểu số. Dù bận công việc nhưng Nguyễn Chánh vẫn dành thời gian về các buôn làng thăm bà con, tìm hiểu đời sống, những khó khăn và lắng nghe nguyện vọng của họ. Ông luôn luôn nhắc nhở các đoàn đi xây dựng cơ sở ở Tây Nguyên, Đông Bắc Cam-pu-chia, Hạ Lào rằng, dù đến đâu cũng phải lo làm sao cho đồng bào bớt đói, bớt đau, bớt rách rưới và bớt nhạt muối. Nguyễn Chánh nhiều lần tự mình đi khắp nơi, động viên mọi tầng lớp nhân dân đóng góp công sức, trí tuệ, bảo vệ và xây dựng vùng tự do...

Một điểm nổi bật nữa là lòng nhân hậu, tình thương yêu đồng chí, đồng đội sâu sắc. Nguyễn Chánh chăm lo đến cuộc sống tình cảm, hạnh phúc gia đình của họ một cách tự nhiên, chân thành. Ai có băn khoăn, ông đến trực tiếp giúp tháo gỡ. Ai có khuyết điểm, lỗi lầm, ông đến khuyên răn, động viên, không thành kiến. Chính vì vậy mà anh em thường nói: "Ông Chánh chửi nghe cũng sướng", hoặc "Ngồi nghe ông Chánh chỉnh ngon lành, sướng ghê!".

Thời đó, ở Liên khu 5, bộ đội thường đóng trong dân; được bà con thương yêu, đùm bọc. Nhưng cũng có hiện tượng một vài cán bộ, chiến sĩ có quan hệ không đúng với phụ nữ. Số này bị kỷ luật, đơn vị giam trong buồng tối. Dân thương bộ đội, tìm đến cấp chỉ huy xin tha cho anh em. Biết chuyện, Nguyễn Chánh nói: "Tất nhiên là bộ đội không được vi phạm kỷ luật dân vận. Nhưng đơn vị cũng đừng quá khe khắt với anh em. Họ còn trẻ, xa nhà, thiếu thốn tình cảm. Những chuyện như vậy, ta không khuyến khích nhưng chưa có gì nghiêm trọng cả. Đơn vị nên thả anh em ra; yêu cầu làm kiểm điểm và xin lỗi chủ nhà". Ông cười và nói thêm: "Hồi còn thanh niên thì mình cũng như tụi nó thôi. Vì nhiệm vụ nên phải tự kiềm chế. Do vậy, phải hiểu và thông cảm với anh em...".

Bộ đội bảo nhau: "Ông Chánh là một danh tướng, một người lãnh đạo tài năng. Ông còn là một con người "rất con người". Đồng chí Trần Quỳnh, lúc đó làm Chủ nhiệm chính trị của Liên khu 5, bị bệnh ho lao rất nặng, bị thổ huyết và rất bi quan. Mọi người xung quanh xa lánh, sợ bị lây nhiễm. Nguyễn Chánh quyết định để bệnh nhân nghỉ chữa bệnh dài hạn. Hôm ông tới thăm, Trần Quỳnh khóc rưng rức vì lo cho sức khoẻ của mình. Nguyễn Chánh đến ngồi sát, nắm tay và vuốt ve bệnh nhân như người ruột thịt. Ông hỏi han việc ăn ngủ và nói với Trần Quỳnh: "Anh đừng lo. Bệnh này không phải như người ta tưởng đâu; cứ chịu khó thuốc thang, tĩnh dưỡng, nhất định sẽ khỏi bệnh". Quả nhiên, sau một thời gian, đồng chí Trần Quỳnh đã khoẻ trở lại, tiếp tục công tác với cương vị Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 5 và sau làm Phó thủ tướng Chính phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #29 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2022, 07:39:16 am »


Nguyễn Chánh là người có duyên làm mối. Ông đã trực tiếp giúp đỡ hàng chục cặp cán bộ, chiến sĩ nên vợ, nên chồng. Đại tá Phan Thượng Địch, nguyên Trưởng Ban Quân lực Bộ tư lệnh Liên khu 5 kể lại:

- Hiệp định Giơ-ne-vơ sắp ký. Một hôm, anh Chánh gọi tôi lên bảo: "Ta sẽ phải đi tập kết. Cậu lo giải quyết chuyện vợ con đi!". Tôi đáp: "Nhưng bận quá anh ạ?". Anh bảo: "Bận thì để tao đi hỏi vợ cho?". Tôi tưởng nói đùa, hoá ra anh đi thật. Đường từ Nghĩa Hành, nơi ở của cơ quan, lên Ba Tơ khá xa. Hơn nữa, ở đèo Đá Chát, cây số 13, đường lên Ba Tơ, có con cọp dữ nổi tiếng, đã bắt nhiều người. Vậy mà bất chấp nguy hiểm, anh Chánh đã cùng với một đồng chí bảo vệ, đi suốt đêm để tới nhà mẹ vợ tôi sau này, xin con gái bà cho tôi. Bà cụ cảm động: "Anh là người nắm quân đội. Anh biết ai ra sao. Thầy nó mất rồi. Anh như người anh cả trong gia đình. Trăm sự như anh định liệu cho em nó...".

Hôm sau, anh Chánh về, bảo tôi: "Chuyện vợ con của cậu xong rồi? Lo liệu cưới đi". Tôi kêu lên: "Trời ơi? Đêm hôm, cọp beo như vậy, anh đi nếu xảy ra chuyện gì thì sao?".

Anh nở nụ cười rất tươi và hiền. Sau khi cưới, vợ chồng tôi đến thăm và tạ ơn anh. Hôm đó, trời đổ mưa như trút nước. Anh Chánh hỏi: "Đêm nay chúng mày ở đâu?". Tôi thưa: "Ở nhà dân ạ!". Anh nói: "Không được đâu, nhà dân, vợ chồng ăn ở với nhau, người ta kiêng. Thôi, hai đứa vô cái lán của tao, có giường tre mà nghỉ. Tao qua lán khác, mắc võng nằm". Tôi kêu lên: "Không được, anh ạ!". Anh cười giòn tan: "Đây là lệnh... đồng chí phải chấp hành...".

Cách ứng xử với đồng đội của Nguyễn Chánh là như vậy: mộc mạc, giản dị, sâu sắc, ân tình. Ông tiếp cận, nhìn người và có nhận xét, đánh giá chính xác; tiêu biểu là việc xét chọn các chiến sĩ thi đua, đặc biệt là đối với ông Đinh Núp trong Đại hội Chiến sĩ thi đua Liên khu 5. Một số ý kiến còn phân vân, cho rằng ông Đinh Núp chưa đủ tiêu chuẩn bình chọn vì trình độ văn hoá - lý luận còn quá thấp. Nguyễn Chánh đã có ý kiến sắc sảo, sinh động và cụ thể, có lý, có tình. Ông nói đại ý: Văn hoá và lý luận hết sức cần thiết; nhưng lòng căm thù giặc, kiên quyết, dũng cảm hy sinh để tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ dân lại là điều cần thiết gấp bội. Có thể có văn hoá, có lý luận nhưng chưa chắc đã dũng cảm chiến đấu. Ngược lại, căm thù giặc cao độ, hy sinh dũng cảm diệt giặc nên đã tìm được cách đánh hay, đạt hiệu quả. Ông Đinh Núp biết lo cho dân; động viên họ dùng vũ khí thô sơ giết giặc, mấy lần dời làng và biết đốt tranh ăn thay muối. Đó là sự hiểu biết, là lý luận và thực tế. Tất nhiên, còn cần lý luận cao hơn nữa. Nhưng phải từ những hiểu biết và hành động cụ thể, thiết thực như thế mới đúc kết thành lý luận.

Trước những lý lẽ đầy sức thuyết phục ấy của Nguyễn Chánh, mọi người hoàn toàn nhất trí chọn Đinh Núp là chiến sĩ thi đua. Sau này, Đinh Núp đã trở thành anh hùng, nổi tiếng toàn quân, toàn quốc và là con chim đầu đàn trong kháng chiến chống thực dân Pháp của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Từ chỗ biết nhìn nhận, đánh giá con người chính xác, Nguyễn Chánh có biệt tài thu phục trí thức. Ông tuy không được học hành nhiều nhưng anh em trí thức rất mến phục. Bởi lẽ, Nguyễn Chánh có tấm lòng nhân ái, sự đồng cảm, biết dùng người, tạo mọi điều kiện cho anh em đem hết tài năng, sức lực phục vụ cách mạng. Ông có cách nói rất hấp dẫn: mạch lạc, chặt chẽ, cụ thể, sinh động và chân tình; nghiêm khắc nhưng độ lượng, thấm đượm tình người. Vì vậy, Nguyễn Chánh đã tập hợp được đông đảo anh em trí thức, sử dụng thành công và phát huy tài năng của họ phục vụ cho cách mạng. Đó là các ông: Cao Văn Khánh, Nguyễn Thế Lâm, Giáp Văn Cương, Phan Hạo, Phan Hàm, Huỳnh Đắc Hương, Đoàn Huyên, Lư Giang, Nguyễn Minh Vỹ, Hoàng Xuân Khang... Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Chánh không mắc căn bệnh ấu trĩ, "thành phần chủ nghĩa", kỳ thị trí thức. Ông vẫn tin tưởng, giao các nhiệm vụ quan trọng cho những người thuộc thành phần "không cơ bản" và tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt công việc. Ông Giáp Văn Cương nguyên là sếp ga thời Pháp, đi theo cách mạng, lúc đầu làm quân giới. Về sau, Nguyễn Chánh phát hiện thấy Giáp Văn Cương có năng khiếu về chỉ huy nên đưa sang tác chiến. Vừa ra đơn vị chiến đấu, ông đã chỉ huy đánh một trận xuất sắc ở đèo Hải Vân năm 1947. Ông Lư Giang xuất thân là gia đình địa chủ, nhưng có tài và có uy tín lớn. Nguyễn Chánh giao cho ông làm trung đoàn trưởng kiêm chính ủy một trung đoàn. Ông đã trưởng thành vững chắc trên cương vị này. Lại nữa, ông Nguyễn Minh Vỹ, dòng dõi Tôn Thất nhà vua (Tôn Thất Vỹ), được Nguyễn Chánh giao nhiệm vụ làm Chánh văn phòng Liên khu ủy 5. Sau này, ông Vỹ nói: "Nếu ông Chánh mà có óc "thành phần" thì cái dòng Tôn Thất nhà mình khi mô được làm việc này, việc nọ!".

Trường Thanh niên tiền tuyến do hai ông Phan Anh và Tạ Quang Bửu tổ chức, dưới thời chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim. Các học viên của trường cũng như lớp cựu sĩ quan của chế độ cũ, phần lớn có trình độ tú tài, cử nhân. Nguyễn Chánh đã đoàn kết tất cả anh em lại vì sự nghiệp cách mạng của Đảng nhằm chiến thắng thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Các ông Phan Hàm, Hồ Văn Điềm đều là thành phần lớp trên và là học viên của Trường Thanh niên tiền tuyến. Hai ông bị Việt Minh Quảng Nam và Quảng Ngãi đòi về để xử lý. Thấy vậy, Nguyễn Chánh nhất định không cho về mà giữ lại, giao công tác xây dựng quân đội tại Huế. Lưc lượng Giải phóng quân hồi đó ở đây có khá nhiều người là trí thức, công chức và binh sĩ trong chính quyền cũ. Ông Hàm và ông Điềm đã tích cực đóng góp công sức vào việc xây dựng lực lượng Giải phóng quân ở Huế.

Ngành Quân y Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, có thể nói là nơi tập hợp nhiều trí thức nhất. Nguyễn Chánh rất thông cảm với những đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh riêng của các bác sĩ, dược sĩ. Ông có chủ trương cởi mở và thực tế, đồng ý cho các bác sĩ khám chữa bệnh ngoài giờ hành chính, giúp nhân dân địa phương. Đối với người nghèo thì chữa giúp; đối với người có khả năng thì lấy một ít tiền thù lao góp vào việc cải thiện đời sống gia đình. Chính sách linh hoạt, thông thoáng và nhân ái đã động viên các bác sĩ, dược sĩ vượt lên mọi khó khăn, thiếu thốn, vững vàng, kiên định phục vụ kháng chiến.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM