Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2022, 08:08:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phòng chống diễn biến hòa bình ở Việt Nam - Mệnh lệnh cuộc sống  (Đọc 683 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #50 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2022, 07:45:17 pm »

Việt Nam là một trong những nước đi sau so với những nước đã tham gia hội nhập quốc tế trước đó. Chúng ta có lợi thế lớn là "đi tắt", "đón đầu", bỏ qua một số khâu, đoạn để đi ngay vào hội nhập quốc tế; rút ngắn được thời gian mò mẫm, thử nghiệm. Những bài học thành công, không thành công của một số nước là "liều thuốc thử vô cùng quý báu", đã và đang giúp chúng ta tránh rơi vào bế tắc, sai lầm.


Chúng ta xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị độc lập, tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn khách quan là phải bảo đảm độc lập, tự chủ vững chắc về chính trị, coi đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững khi chúng ta mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.


Không thể nói rằng, chúng ta có độc lập, tự chủ về chính trị nhưng nền kinh tế của chúng ta lại phụ thuộc vào quốc gia, dân tộc khác, bị chi phối bởi các đối tác. Đây là một bài học kinh nghiệm "xương máu" mà một số nước tham gia hội nhập quốc tế trước ta đã mắc phải, chúng ta kiên quyết không đi lại lối mòn, lặp lại điệp khúc sai lầm.


Thực tế chỉ ra rằng, nếu không xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ thì đương nhiên, chúng ta sẽ bị lệ thuộc vào nước khác, sẽ bị các thế lực thù địch lợi dụng để lôi kéo, mua chuộc, hoặc không chế ép buộc chúng ta thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quỹ đạo xã hội chủ nghĩa và nền độc lập, tự do giành lại được bằng xương máu của hàng triệu người đã hy sinh sẽ trở nên vô nghĩa. Cho nên, cần hiểu một cách biện chứng rằng, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất vững chắc nhất để bảo đảm cho độc lập, tự chủ về chính trị; không bao giờ có độc lập, tự chủ về chính trị nếu bị phụ thuộc về kinh tế, bị người khác chi phối, giật dây, sai khiến.


Rõ ràng là, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ ở nước ta không có nghĩa là "đóng cửa", chỉ chăm lo xây dựng một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín, không cần quan hệ với ai, tự ta "một mình một chợ", tách biệt với thế giới bên ngoài cho "an toàn". Trong bối cảnh hiện nay, làm như thế là chúng ta tự cô lập mình, là sự phòng vệ thụ động, tiêu cực, không chắc chắn, không hiệu quả. Bởi vì, một mặt, chúng ta không biết kế thừa, sử dụng những thành tựu, tinh hoa văn hóa, khoa học, công nghệ mà nhân loại đã sáng tạo ra để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; mặt khác, chúng ta sẽ mãi mãi nằm trong thế bị kẹt, bị bao vây, cấm vận, phong tỏa do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch gây nên từ nhiều thập kỷ trước đó.


Chúng ta đều biết rằng, cho đến tận ngày nay, chưa có nước nào tồn tại biệt lập mà có nền kinh tế năng động, phát triển bền vững, quốc gia, dân tộc đi đến phồn vinh, con người phát triển toàn diện, hạnh phúc. Bài học lịch sử và kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp thêm niềm tin, nghị lực, cho phép Đảng và nhân dân ta vững bước khai thông con đường mở cửa, hội nhập quốc tế để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Lý luận và thực tiễn nhiều năm hội nhập kinh tế quốc tế theo đường lối của Đảng đã chỉ ra rằng, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế không mâu thuẫn với nhau, nêu đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa để xem xét, luận bàn. Bởi lẽ, cả hai chủ trương - đối sách của Đảng, Nhà nước ta đều phục vụ một mục đích là lợi ích quốc gia, dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nội lực bao giờ cũng mang ý nghĩa quyết định, các nguồn ngoại lực là quan trọng. Nếu kết hợp hài hòa hai nguồn nội lực và ngoại lực thì sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển và hiệu quả đạt được từ quá trình ấy sẽ vô cùng to lớn, nhưng nếu tách riêng từng lĩnh vực, từng nguồn lực thì công dụng, hiệu quả của từng lĩnh vực, từng nguồn lực sẽ rất thấp.


Vì vậy, chỉ có thể tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế khi chúng ta kết hợp hài hòa các yếu tố nội lực và ngoại lực; làm cho các yếu tố nội lực, nhất là nguồn nhân lực, nguồn vật lực, tức là sản phẩm hàng hóa được nâng cấp, hiện đại hóa, có đủ sức cạnh tranh khi tham gia hội nhập, và ngược lại, các yếu tố ngoại lực, khi đã nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta, chúng sẽ phát huy tác dụng, là tăng thêm sức sống cho nền kinh tế từ việc bổ sung kịp thời nguồn vốn, thông tin, các thành tựu khoa học, công nghệ, kinh nghiệm điều hành, quản lý để phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả các sản phẩm hàng hóa tạo ra. Rõ ràng là, hai chủ trương - một đối sách mà Đảng, Nhà nước ta nêu trên không chỉ giống nhau về mục đích, con đường, bước đi mà còn tương đồng về điều kiện, giải pháp thực hiện nhằm tăng thêm sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, yếu tố nội sinh và sức "đề kháng" của nền kinh tế, giúp chúng ta tự tin, vững vàng tham gia hội nhập với tư cách là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.


Đối với nước ta, độc lập, tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm chắc chắn định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Vì vậy, ngay từ bây giờ, bằng sự khôn ngoan và tỉnh táo của mình, chúng ta hãy ra sức xây dựng và bảo vệ nền kinh tế độc lập, tự chủ, làm cho nó sinh sôi, nảy nở, đơm hoa, kết trái trên cơ sở phát huy tối đa mọi tiềm năng sẵn có.


Trách nhiệm của mỗi công dân là thực hiện tốt các yêu cầu, nguyên tắc cơ bản về phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tư an toàn xã hội; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Đương nhiên, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ là một quá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài, chúng ta không vì mong muốn là có ngay được những điều cần có mà nóng vội, đốt cháy giai đoạn; làm sai quy trình, vi phạm cam kết, luật pháp quốc gia và quốc tế. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ở nước ta là một quá trình tự giác, nhất thiết phải kinh qua những bước đi tuần tự từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện với thái độ tích cực, chủ động, sáng tạo và có các chủ trương, chính sách, bước đi phù hợp, hiệu quả. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức đúng việc tiếp thu, kế thừa và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm về hội nhập quốc tế mà các nước đã kinh qua cũng như nắm vững và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của thời cuộc vào sự nghiệp xây dụng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tóm lại, chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là thực hiện chủ định tạo ra thời cơ, vận hội mới với các điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Và khi có được độc lập, tự chủ về kinh tế thì mới thật sự tự tin để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là điều căn bản nhất, cốt tử nhất trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc và đó cũng là đổi sách mềm dẻo, năng động, sáng tạo để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #51 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2022, 07:47:39 pm »

IV- HÃY LÀ CÔNG DÂN TỐT CỦA ĐẤT NƯỚC CÓ ĐỘC LẬP, TỰ DO

Gần đây, một bộ phận giáo dân ở một số địa phương đã có những hành vi vi phạm pháp luật, gây mất an ninh, trật tự trên địa bàn. Trước tình hình ấy, đồng bào cả nước, những người có đạo hay không có đạo đều rất bất bình. Để những hành động này không còn tái diễn cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, song điều quan trọng nhất là nhận thức đúng đắn vấn đề: "Giáo dân tốt trước hết phải là công dân tốt".


Pháp luật và giáo luật đều hướng con người đến việc tốt làm điều thiện.

Để xã hội và đời sống tôn giáo phát triển ổn định, chế độ nhà nước nào cũng có pháp luật và tôn giáo nào cũng có giáo luật của mình. Pháp luật và giáo luật đều có điểm chung, rất tương đồng là định hình, định hướng hành vi và đạo đức nhân cách con người, giúp mọi người đạt đến mục đích: làm những việc thiện, ích nước lợi nhà, tốt đời đẹp đạo, vì sự phồn vinh và bình yên cuộc sống, vì hạnh phúc của con người; phù hợp với sự phát triển của chế độ nhà nước và tôn giáo, vì sự tiên bộ xã hội. Hoa Kỳ, một nhà nước được cho là "tự do nhất" trên thế giới, thì pháp luật của họ cũng có những điều khoản quy định rõ ràng về việc công dân phải thực hiện Lời thề trung thành với Hiến pháp: "Bảo vệ và hỗ trợ Hiến pháp, hỗ trợ và bảo vệ luật pháp Hoa Kỳ". Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Việt Nam thừa nhận: "Người dân Mỹ cũng nhận thức rõ ràng rằng, nếu muốn các quyền của mình được bảo vệ, họ cũng phải có trách nhiệm với xã hội. Phần lớn những người dân Mỹ đều sẵn sàng sống trong khuôn khổ của pháp luật"1 (Đại sứ quán Họp chủng quốc Hoa Kỳ, Hà Nội, Việt Nam, Quyền công dân của Hoa Kỳ). Ở Việt Nam, pháp luật của nước ta đã quy định: "Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội"; "Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng".


Nói đến tôn giáo là nói đến đạo, là đường tu. Dẫu các tôn giáo có khác nhau ở đức tin hay đường tu, song tôn giáo nào, đạo nào cũng đều hướng con người đến việc "tu nhân tích đức", làm điều hay, lẽ phải; sống tốt, làm nhiều việc thiện, tránh làm điều xấu, điều ác. Đặc biệt, Đức Chúa và Đức Phật đều khuyên con người sống chân thiện, không gây tội ác giết người, gian dâm, lấy của người, xúi bẩy người làm điều ác... Vì vậy, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, con người đều phải tránh xa tội lỗi; hạn chế tham, sân, si; một lòng thành tâm, kính Chúa, yêu nước; đi theo con đường mà các đấng cứu rỗi đã chọn, "khai tâm, khai đức", làm cầu nối, chỉ giáo nhân gian, sống có nhân, có đức, có nghĩa tình, đạo lý, đúng pháp lý. Mười điều răn của Chúa và sáu điều răn của Giáo hội đều khuyên mọi người làm việc tốt. Đức Chúa và Đức Phật đều khuyến khích mọi người "tu nhân, tích đức", hằng ngày sống và làm việc thiện... Có thể khẳng định rằng, quan điểm, tư tưởng nhân văn của các tôn giáo là trong sáng, đúng đắn, phù hợp với lòng người, với đời sống pháp luật; không tôn giáo nào khuyên khích hay xúi bẩy con người làm việc xấu, việc ác hay chống đối chính quyền và luật pháp quốc gia. Ở nước ta, các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc và cách mạng; đồng bào các tôn giáo yêu đạo, yêu nước, luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta giành được trong hơn 8 thập kỷ qua, đều có sự đóng góp rất đáng trân trọng của đồng bào các tôn giáo, các dân tộc Việt Nam.


Sống "tốt đời, đẹp đạo" - giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam và giá trị nhân văn của tôn giáo

Dẫu lịch sử hình thành của mỗi tôn giáo ở nước ta và mỗi tôn giáo trên thế giới có lịch sử truyền thống, giáo lý, nghi lễ riêng, song đều gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; thống nhất ở mục đích, phương châm hoạt động "kính Chúa, yêu nước", "tốt đời, đẹp đạo". Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đồng bào các tôn giáo đã cùng nhân dân cả nước đứng lên làm cách mạng, tham gia kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tiến hành công cuộc đổi mới đất nước với ý chí, quyết tâm cao: tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, lao động quên mình, sống sâu đậm tình nghĩa quê hương, làng xóm của đồng bào các tôn giáo Việt Nam thật đáng ngưỡng mộ, tự hào, rất cần phát huy trong thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Phật giáo đã gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử; tồn tại và phát triển đúng định hướng "Đạo pháp bất ly thế gian giác" và hiện nay đang nhất quán thực hành phương châm: Đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội. Công giáo trong quá trình phát triển ở Việt Nam cũng luôn răn dạy đồng bào sống kính Chúa, yêu nước, yêu thương con người, tôn trọng lẽ phải, sự thật và hiện nay là: Sống phúc âm trong lòng dân tộc đểphục vụ hạnh phúc của đồng bào. Các tôn giáo khác ở nước ta cũng luôn gắn đạo với đời, luôn định hướng các hoạt động vào sự tuân thủ pháp luật và giáo luật, gắn bó với dân tộc, vững bước trên con đường đổi mới, phấn đấu vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Triết lý nhân sinh sống "tốt đời, đẹp đạo" luôn tỏa sáng, là ngọn đuốc soi đường, dẫn lối, động viên đồng bào các tôn giáo và nhân dân cả nước chung một mặt trận thống nhất, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.


Sống tốt đời, đẹp đạo không chỉ là một dâu ấn sâu đậm được thể hiện hài hòa trong nếp sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi giáo dân Việt Nam mà còn là phương châm chỉ đạo hành động vì việc thiện, vì đạo lý, nhân cách, truyền thống văn hóa con người Việt Nam. Nét đẹp văn hóa của đồng bào các tôn giáo là: Tu dưỡng tinh thần, đạo đức trong sáng, đúng với phép đời và phép đạo; nêu gương sáng và răn dạy con cháu, họ đạo làm tốt việc đời, việc họ, việc đạo; động viên cháu con và gia đình, dòng họ tích cực lao động, sản xuất, tuân thủ pháp luật, xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho sáng danh các đấng tối cao; quan tâm động viên tinh thần và ý thức của người mắc tội, lầm lỗi...


Những việc làm tốt đẹp đó, Phật giáo thường gọi là "cứu một mạng người, phúc đẳng hà sa", hay "dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người"; còn Kinh Phúc Âm của Thiên Chúa giáo truyền dạy: "Các con hãy tỏ lòng thương xót như cha các con hay thương xót"... Như vậy, sống tốt đời, đẹp đạo không chỉ là nhu cầu văn hóa, đạo đức của xã hội và công dân, mà còn là lòng tin, đức tin vào những giá trị tốt đẹp chân - thiện - mỹ của xã hội, con người, cùng những giá trị tinh thần cao đẹp của mỗi tôn giáo. Vì vậy, chẳng có lý do gì cản trở đồng bào, giáo dân phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc mà đồng bào giáo dân và nhân dân cả nước bằng xương máu của mình xây đắp nên.


Người công dân tốt và giáo dân tốt

Dù pháp luật và giáo luật có tốt đẹp đến đâu, dù giá trị của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam cũng như giá trị nhân văn của các tôn giáo có sâu sắc, thắm đượm tình người như thế nào, thì tinh thần, tư tưởng và giá trị của nó cũng phải được thể hiện qua thái độ, hành vi, hành động hằng ngày của mỗi con người, ở việc thiện, việc tử tế. Một giáo dân tốt trước hết phải là một công dân tốt, sống phúc âm trong lòng dân tộc đế phục vụ hạnh phúc đồng bào, mưu cầu lợi ích cho quốc gia, dân tộc.


Là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta đều mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, con dân đất Việt. Nếu biết đồng cam cộng khổ, biết chia ngọt sẻ bùi, nhất định chúng ta sẽ vượt qua khó khăn, thách thức, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu. Đừng vì khó khăn trước mắt mà đánh mất niềm tin, đừng vì lợi ích cá nhân, bị người xấu xúi giục mà chà đạp lên lợi ích tập thể; vì thiếu hiểu biết mà vi phạm pháp luật.


Không có đất nước nào và tôn giáo nào trên thế giới chấp nhận những hành vi vi phạm pháp luật. Những giáo dân coi thường pháp luật, giáo luật; những chức sắc, chức việc bất chấp luật pháp, kích động giáo dân chống đối chính quyền đều bị nghiêm trị theo pháp luật của nước sở tại.


Để không làm hổ danh Đức Chúa và không làm vẩn đục những triết lý cao cả của Ngài, mỗi giáo dân cùng chức sắc, chức việc trước hết phải là một công dân tốt. Bên cạnh việc chăm lo lao động sản xuất, phát triển kinh tế, tích cực xây dựng nông thôn mới, đồng bào có đạo, cần tôn trọng pháp luật, răn dạy con cháu trong nhà, trong họ không để bị lôi kéo và tham gia vào các hành động quá khích; đặc biệt là biết lắng nghe, phân biệt phải - trái, không nghe theo những kẻ đang lợi dụng và chiếm đoạt lòng tin vào Thiên Chúa của mình để làm những việc trái với pháp luật và giáo luật.


Nhà nước ta luôn đề cao tình thương yêu, tính thiện, sự hòa đồng cùng nhau xây dựng một xã hội phồn thịnh về vật chất và tinh thần; song dứt khoát không dung tha, sẽ nghiêm trị những người lợi dụng niềm tin tôn giáo, lòng tốt của nhân dân để mưu cầu lợi ích riêng hoặc phá hoại hạnh phúc của nhân dân. Tuân theo pháp luật cũng là hành đạo; làm đúng điều răn "Kính Chúa, yêu nước, thương yêu người", đó là đức tính, phẩm giá, nhân cách tốt của một giáo dân - của một công dân tốt.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #52 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 07:52:08 pm »

V- CHIÊU TRÒ MỚI VỀ VẤN ĐỀ "DÂN CHỦ" TRONG CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch luôn xác định Việt Nam là một trọng điểm chống phá. Bằng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", "đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập"..., chúng đã và đang ráo riết thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta, tạo ra sự khủng hoảng về chính trị, làm chệch hướng và sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; trong đó, mục tiêu quan trọng hàng đầu mà chúng xác định là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam thông qua thực hiện "con đường dân chủ".


Vì vậy, từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX, L.I. Gơnbơgiơ, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đã "nửa kín, nửa hở" khi nêu ra bốn điều kiện về "dân chủ hóa", để "thực hiện ngoại giao thân thiện", viện trợ kinh tế "giúp Việt Nam". Theo L.I. Gơnbơgiơ, "con đường dân chủ" mà Việt Nam sẽ đi tới, cần có bôn điều kiện bảo đảm: 1. Thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chấm dứt sự độc quyền của Đảng Cộng sản; 2. Làm cho kinh tế thị trường phát triển, mà nòng cốt là phát triển kinh tế tư nhân; 3. Đề cao các quyền con người ở Việt Nam; 4. Đưa văn hóa Mỹ vào Việt Nam...


Rõ ràng, với chiêu bài "dân chủ", L.I. Gơnbơgiơ và những người ở chiến tuyến bên kia đã công khai rõ mục đích lợi dụng vấn đề "dân chủ" để phá hoại công cuộc đổi mới ở nước ta. Để thực hiện mục tiêu trên, họ sử dụng mọi thủ đoạn có thể nhằm chĩa mũi nhọn vào Đảng, đòi Đảng ta từ bỏ quyền lãnh đạo bằng việc tuyên truyền luận thuyết đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


Với chiêu bài "dân chủ", chúng mưu toan xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ta đi theo mô hình tự do, dân chủ tư sản, dân chủ phương Tây. Chúng cho rằng, thông qua dân chủ hóa về chính trị, tự do hóa về kinh tế sẽ tạo tiền đề cho "diễn biến hòa bình", làm nảy sinh ngay trong lòng xã hội Việt Nam các khuynh hướng tư tưởng xa lạ chủ nghĩa xã hội và các lực lượng chống đối, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, chúng ra sức đả phá nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc có ý nghĩa sống còn của Đảng Cộng sản; đồng thời, triệt để lợi dụng những khó khăn, sai lầm, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Đảng, Nhà nước ta để kích động dân chủ hóa đời sống chính trị, đòi tiến hành bầu cử tự do theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và tìm mọi cách tài trợ, hậu thuẫn lực lượng chống đối, các phần tử đối lập để từng bước thiết lập "chuyên chính tư sản", thay thế cho "chuyên chính vô sản" ở nước ta.


Để thực hiện "con đường dân chủ ở Việt Nam", chúng tìm mọi cách hậu thuẫn, tạo dựng ngọn cờ đối lập từ những kẻ cơ hội chính trị, những người có quan điểm chính trị đối lập, bất mãn, tán thành đa nguyên, đa đảng, những người có tư tưởng cực đoan trong các tôn giáo, theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; kết hợp với nuôi dưỡng, huấn luyện các tổ chức phản động lưu vong để đấu tranh công khai giành chính quyền, thiết lập chế độ tư bản.


Vì thế chúng không tiếc công, tiền của đổ vào Việt Nam để gây dựng các tổ chức chính trị đối lập, khuyến khích, nuôi dưỡng sự tồn tại của các tổ chức ấy trong lòng chế độ xã hội ta. Sự hoạt động của các tổ chức này dù công khai hay ngấm ngầm đều chung một mục đích: gây mất ổn định chính trị, xã hội ở nước ta, tiến tới giành chính quyền thông qua kêu gọi và thực hiện "bầu cử tự do". Chúng đã, đang và vẫn tiếp tục hy vọng rằng, thông qua "bầu cử tự do", các phần tử cơ hội, xét lại và phản bội sẽ luổn sâu, leo cao vào bộ máy của Đảng, Nhà nước ta; từng bước "vô hiệu hóa", thay thế những người lãnh đạo trung kiên, nắm giữ những vị trí lãnh đạo then chôt trong bộ máy của Đảng, Nhà nước đế chuyển hóa chính quyền; thực hiện kịch bản như chúng đã làm ở Ba Lan, Hunggari, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Anbani...


Những năm gần đây, chúng tìm mọi cách tạo dựng, hậu thuẫn bọn tay sai đế làm ngọn cờ quy tụ, tập hợp những phần tử chống đối vào các hoạt động phá hoại công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; khi có thời cơ, sẽ lật đổ chính quyển bằng cuộc cách mạng "nhung lụa" kết hợp với bạo loạn chính trị và sử dụng sức mạnh quân sự. Có thể khẳng định rằng, các thế lực thù địch đang triệt để sử dụng vấn đề "dân chủ" như một công cụ hữu hiệu để ép buộc Nhà nước ta chấp nhận và hợp lý hóa sự có mặt các lực lượng đối lập, tạo dựng "ngọn cờ" hòng lật đổ chính quyền cách mạng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Sự thâm hiểm, quỷ quyệt của các thế lực thù địch là chúng triệt để sử dụng chiêu bài "dân chủ" để cấy vào trong đời sống xã hội Việt Nam tư tưởng tự do dân chủ tư sản, cố tình tạo dựng một nền tảng tư tưởng dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nội bộ ta đi theo quỹ đạo dân chủ tư sản. Với âm mưu, thủ đoạn này, chúng hy vọng một bộ phận quần chúng nhân dân, những người "nhẹ dạ cả tin" mất niềm tin, mất phương hướng chính trị, ngả nghiêng, quay sang lập trường dân chủ tư sản. Đây là cách chúng tranh giành quần chúng nhân dân, làm cho họ quay lưng lại với Đảng, Nhà nước, không ủng hộ, bảo vệ chính quyền và những giá trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chính người dân lao động bằng mồ hôi, nước mắt và thậm chí bằng xương máu của mình đã xây dựng nên.


Hơn ai hết, các thế lực thù địch đều hiểu rõ rằng, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chừng nào quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhà nước chỉ là cơ quan đại diện được trao quyền thực thi dân chủ của nhân dân; nhân dân là nguồn sức mạnh, là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản và hệ thống chính trị đất nước thì chừng ấy, chúng khó bề áp đặt các "giá trị dân chủ tư sản" ở Việt Nam. Chỉ có thông qua con đường "dân chủ" thì chúng mới có thể làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng; mới phá bỏ được nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Đây là ý đồ cực kỳ hiểm độc mà chúng đang rắp tâm thực hiện để làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.


Rõ ràng là, các thế lực thù địch đang triệt để sử dụng chiêu bài "dân chủ", coi nó là khâu đột phá của chiến lược "diễn biến hòa bình" để chống phá cách mạng Việt Nam. Cần nhắc lại là, âm mưu cơ bản, mục tiêu xuyên suốt, lâu dài của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng; tuyên truyền và làm cho tư tưởng tư sản về dân chủ phát triển và sinh sôi, nảy nở trong đời sống xã hội Việt Nam, tiến tới thiết lập nền dân chủ tư sản ở nước ta. Cho nên, chiêu bài "dân chủ" trong chiến lược "diễn biến hòa bình" là một trong những ngón đòn "độc chiêu" vô cùng ác hiểm, được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để đưa vào lòng người, nhất là một bộ phận không nhỏ đồng bào ta ở vùng sâu, vùng xa..., do trình độ nhận thức còn hạn chế, chưa hiểu biết sâu sắc mọi vấn đề.


Vì lẽ đó, chúng ta cần đề cao cảnh giác, nhận rõ mục đích, bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của các thế lực thù địch trong sử dụng chiêu bài "dân chủ" trong thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Đây là vấn đề mấu chốt để chúng ta tổ chức, triển khai, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, ý đồ đen tối của các thế lực thù địch, cơ hội; xây dựng cách nhìn, quan điểm đúng đắn, niềm tin của quần chúng nhân dân, đặc biệt là cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ vào nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng.


Để phá hoại sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gần đây, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch liên tiếp tung ra "điệp khúc" với luận điệu: độc đảng là độc tài, độc đoán, là thủ tiêu dân chủ, thủ tiêu động lực phát triển của đất nước. Chúng gán cho Đảng ta là đảng theo chủ nghĩa toàn trị và xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam tự cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, rằng độc tài, đảng trị là cái gốc của những sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại. Với lý lẽ ấy, các thế lực thù địch vu khống trắng trợn ta dùng "bạo lực", "pháp luật" để "bóp chết tư tưởng dân chủ"; từ đó, chúng ra sức cổ súy cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Chúng xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên nhân chủ yếu sinh ra sự độc đoán, độc quyền, mất dân chủ. Chúng mô tả xã hội ta không có tự do, dân chủ do có một bộ máy nhà nước độc đoán, độc tài, toàn trị, v.v...


Một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta đã hùa theo các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch ngụy biện rằng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mâu thuẫn với triết học mácxít, vì theo lý luận của triết học Mác - Lênin, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng. Việt Nam đang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đa chế độ sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tất yếu cần phải có đa nguyên chính trị trong kiến trúc thượng tầng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #53 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 07:52:52 pm »

Ở nước ta, không ít người đã ca ngợi không công cho nền dân chủ tư sản. Họ cố tình đề cao cái gọi là thế giới tự do mà trong đó, mọi công dân đều được tham gia bình đẳng vào đời sống chính trị đất nước. Nhưng sự thật lại không phải như vậy, trong các nước tư bản chủ nghĩa, đại đa số nhân dân lao động bị chi phối bởi quyền lực của một thiểu số người trong xã hội. Thực tế, ở Mỹ có Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Cả hai đảng này đều là đại diện cho những tập đoàn tư sản Mỹ, họ vừa tranh giành quyền lực, vừa thỏa hiệp để cùng nhau thực hiện dân chủ cho giai cấp tư sản Mỹ. Vì thế, ở đó người ta càng mở rộng dân chủ cho giai cấp cầm quyền thì dân chủ đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động càng bị thu hẹp. Do việc quy định bắt buộc về tài sản của các ứng cử viên tham gia chính quyền, làm cho 80% dân số Mỹ không có quyền ứng cử. Người dân chỉ được quyền lựa chọn những người lãnh đạo trong giai cấp tư sản, những người có của, giàu có.


Bức xúc với sự bất công trong chế độ tư bản chủ nghĩa, người dân đã đứng lên đấu tranh chống lại nhà nước tư sản. Do thành quả đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản buộc phải điều chỉnh theo hướng cải cách dân chủ nhất định; buộc phải công nhận các lực lượng đối lập, kể cả các Đảng Cộng sản. Song, về bản chất, chế độ dân chủ tư sản vẫn là nền dân chủ tư sản mà thôi; nó chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặc dù ở các nước tư bản có nhiều đảng chính trị, nhưng quyền lãnh đạo xã hội vẫn là đảng của giai cấp tư sản. Do đó, việc thực hiện dân chủ, về thực chất, không phải là để thực hiện dân chủ cho nhân dân lao động mà là dân chủ đối với giai cap tư sản.


Để làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch chĩa mũi nhọn vào nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng hòng phá vỡ tính tổ chức của Đảng. Chúng lừa gạt nhân dân rằng, hầu hết các Đảng Cộng sản trên thế giới đã từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, vì thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng dẫn đến triệt tiêu dân chủ, làm cho dân chủ trở thành "đồ rởm", chỉ có tác dụng trang trí cho tập trung quyền lực. Chúng khẳng định: nguyên tắc tập trung dân chủ hiện nay đã lỗi thời, thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn tới mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Dựa vào điều đó chúng ra sức tán dương và khuyến khích cho việc thực hiện dân chủ cực đoan trong Đảng; rằng trong Đảng ta nên có các phe nhóm đối lập, để bàn bạc, tranh luận, đấu tranh, cốt để chia rẽ Đảng ta thành các phe nhóm đối lập: cấp tiến, bảo thủ. Thâm độc hơn, chúng đang tim mọi cách lôi kéo những kẻ thoái hóa biến chất, chống lại Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Đối với những đảng viên chân chính, trung kiên thì bị chúng nhạo báng là bảo thủ, cứng nhắc, giáo điều. Thực chất của mưu đồ này là đối lập những cán bộ lãnh đạo của Đảng với đảng viên, chia rẽ lớp đảng viên này với lớp đảng viên khác, mưu toan gây chia rẽ nội bộ Đảng, từng bước làm cho Đảng ta xa rời mục tiêu chính trị, tan rã về tổ chức.


Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của đảng mácxít - lêninnít; bảo đảm cho Đảng ta phát huy tính năng động, sáng tạo của đảng viên và tổ chức đảng, đồng thời là điều kiện để giữ gìn sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện rõ nhất bản chất khoa học, cách mạng của Đảng ta; là sự thống nhất biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ, dân chủ có sự lãnh đạo, có sự bảo đảm của tập trung. Chỉ giữ vững được tập trung mới có thể thực hiện và mở rộng dân chủ. Phát triển, mở rộng dân chủ luôn gắn liền với giữ vững và tăng cường tập trung, trên cơ sở đó, dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc. Nguyên tắc này chính là điều kiện để bảo đảm cho tổ chức đảng vững chắc về mặt tổ chức, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Thực tế chỉ ra rằng, trong điều kiện ngày nay, bất cứ Đảng Cộng sản nào, nếu từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, tất yếu sẽ rơi vào tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nội bộ mất đoàn kết, bị chia rẽ, tổ chức và xã hội sẽ rối loạn dẫn tới tan rã. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu đã chứng minh điều nhận định trên.


Vì vậy, trong tình hình hiện nay, hễ là người Việt Nam yêu nước đều cần phải đề cao tinh thần cảnh giác; luôn tỉnh táo trước mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, nhất là sự chống phá, xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gắn liền với việc chống Đảng, các thế lực thù địch đồng thời quyết liệt chống phá, xuyên tạc bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng rêu rao rằng, ở Việt Nam, do chế độ độc đảng, do Đảng Cộng sản kiểm soát nên Chính phủ Việt Nam không có quyền lực gì ngoài việc dùng quân đội, công an để ngăn cấm tự do thông tin, tự do hội họp, tự do báo chí. Chúng đối lập Đảng với Nhà nước; chia rẽ Nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị đất nước; chia rẽ Nhà nước với nhân dân.


Thực chất của vấn đề lợi dụng "dân chủ" để xuyên tạc, phủ nhận bản chất dân chủ của Nhà nước ta của các thế lực thù địch, chính là lái thiết chế dân chủ ở nước ta đi theo quỹ đạo của nền dân chủ tư sản.

Ở nước ta, một số người thường lấy thu nhập bình quân đầu người của các nước tư bản để làm chỉ số đánh giá sự tiến bộ xã hội. Song, họ không hiểu rằng, về thực chất, sự dư thừa của cải vật chất ấy không đem lại bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Thực tế đã phơi bày một nghịch lý là, ở Mỹ, những người giàu có chiếm 1% dân số nhưng lại chiếm tới 43,7% tài sản của nước Mỹ. Các nước tư bản phát triển khác cũng tương tự như nước Mỹ.


Dân chủ hay không dân chủ là ở chỗ nhà nước có thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân hay không; có đem lại lợi ích cho nhân dân hay không. Thực tiễn đã chứng minh rằng, Nhà nước ta ra đời sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhà nước do nhân dân bầu cử, thông qua phổ thông đầu phiếu, bầu cử tự do; ở đó, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục đích tối thượng trong hoạt động của Nhà nước.


Với việc triệt để lợi dụng, sử dụng chiêu bài "dân chủ", "con đường dân chủ" để chống phá ta, các thế lực thù địch đã và đang cổ súy những phần tử cơ hội, xét lại về chính trị ở trong và ngoài nước chĩa mũi nhọn, tấn công, chống phá Đảng và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hành động chống phá của chúng ít nhiều gây ra sự phân tâm trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt đồng bào các dân tộc thiểu số, trong các tôn giáo vì thiếu thông tin và ít hiểu biết đã suy giảm niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng; đối với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Vì vậy, từ nay đến khi tổ chức đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và sau Đại hội, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn sử dụng chiêu bài "dân chủ" để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá chế độ ta của các thế lực thù địch.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #54 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 07:54:44 pm »

VI - "THUỐC ĐẮNG SẼ DÃ TẬT", SỰ THẬT SẼ "KHÔNG SỢ MẤT LÒNG"

Sinh thời, Bác Hồ đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình. Tư tưởng của Người về tự phê bình và phê bình là một trong những nội dung cơ bản của công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức nhân cách người cách mạng, có đóng góp quan trọng trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng đảng mácxít - lêninnít, là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tệ nạn, tiêu cực xã hội.


Trong tác phẩm Đường cách mệnh xuất bản năm 1927, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nói về tư cách người cách mạng với vấn đề tự phê bình và phê bình, hàm chứa những nội dung giáo dục và định hướng cách mạng sâu sắc. Là nhà cách mạng thực tiễn, kê từ khi ra đi tìm đường cứu nước, đi đến nhiều châu lục, làm nhiều nghề để sinh sống, cho đến khi trở thành lãnh tụ, sáng lập Đảng, Nhà nước ta, Bác luôn là người mẫu mực về tự phê bình và phê bình, coi tự phê bình và phê bình là động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển của mỗi người, mỗi tổ chức.


Bác hiểu sâu sắc triết lý nhân sinh mà tiền nhân đã nói "nhân vô thập toàn"; nghĩa là ở đời, người ta chẳng có ai là tuyệt đối tốt, cũng chẳng có ai là hoàn toàn xấu mà ở mỗi người, đều có nhiều điểm tốt và cũng có một số điểm chưa tốt, cần phải nhận thức đúng điểm hạn chế thiếu sót để sửa chữa, khắc phục, trở thành người tốt hơn. Bác yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, không kể chức vụ, cấp bậc, không phân biệt người tuổi cao hay còn trẻ tuổi, đều phải tự nhận thức, tự đánh giá, hiểu đúng điểm mạnh, điểm yếu của mình, từ đó mà "cả quyết sửa lỗi mình... có lòng bày vẽ cho người... hay xem xét người"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280). Trong một số tác phẩm Người viết sau này, trên cương vị là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Bác tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện quan điểm về tự phê bình và phê bình với nhiều nội dung mới, rất thực tế. Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên Đường cách mệnh đến tác phẩm cuối cùng là Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố hơn 200 tác phẩm, bài viết, bài nói về xây dựng Đảng và hơn 120 bài viết khác có liên quan đến xây dựng Đảng; trong đó, tự phê bình và phê bình luôn là tiêu điểm, trọng tâm.


Trong các tác phẩm, bài viết, bài nói của Người, bằng cách tiếp cận này hay góc độ phản ánh khác, Bác đều đề cập đến tự phê bình và phê bình; phân tích sâu sắc về tư cách, yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người cán bộ, đảng viên, coi tự phê bình và phê bình là phương cách giữ vững khí tiết người cách mạng. Điều đó thế hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của Bác về phương pháp hành động và đạo đức cách mạng của người "đầy tớ của nhân dân". Bác coi đó là "liều thuốc quý" để trị bệnh, cứu người; giữ cho cơ thể khỏe mạnh, cường tráng và chính điều đó là phương cách tốt nhất để mỗi người tự "miễn dịch" trước sự xâm nhập, tấn công của mọi loại "vi rút" độc hại.


Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác quan niệm: "Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đối với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.307). Với cách diễn đạt giản dị, ngắn gọn và súc tích, Bác đã đưa ra khái niệm: tự phê bình và phê bình một cách rõ ràng, chính xác cả về mục đích, tính chất và nội dung. Đây là cơ sở lý luận rất quan trọng để chúng ta tiếp cận nghiên cứu, phát triển lý luận về tự phê bình và phê bình; soi rọi vào thực tiễn, liên hệ với bản thân và tổ chức đảng nơi mình đang sinh hoạt để thấy rõ hơn cái tốt để phát huy, nhân lên, làm cho nó "đơm hoa kết trái"; đồng thời, nhận ra cái chưa tốt để sửa chữa, khắc phục, làm cho mình tiến bộ, trưởng thành; nhờ đó mà góp phần xây dựng, chính đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, gây dựng, củng cố niềm tin, sự yêu mến, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân.


Theo Bác, tự phê bình phải đi đôi với phê bình. Hai mặt này phải kết hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau, không thể tách rời nhau; không nên thiên vị, khuếch đại một mặt nào. Trong mối quan hệ biện chứng này, tự phê bình được coi là tiền đề, là cơ sở cho phê bình. Người nói: "Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.75, 221).


Xuất phát từ triết lý nhân sinh, "người đời ai cũng có khuyết điểm nhưng ai cũng có ưu điểm...", Bác căn dặn: "Nói cái xấu phải nói cả cái tốt. Nếu chỉ chuyên nói cái xấu là lệch"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.75, 221), Do vậy, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, nhất là đánh giá con người phải đặc biệt thận trọng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh hơn, mỗi người tốt hơn. Vì vậy, "lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"; sao cho sau khi được phê bình, tình đồng chí, đồng đội tốt hơn, đoàn kết chặt chẽ hơn.


Cho nên, tự phê bình và phê bình đúng mực là chỉ ra được mặt ưu điểm và cả mặt khuyết điểm "có lý, có tình" làm cho người nghe "tâm phục, khẩu phục", thấy ưu điểm là đúng, vui vẻ hơn, phấn chấn hơn, làm việc tốt hơn; đồng thời, thấy khuyết điểm cũng là đúng nên cũng vui vẻ tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ. Không nên "yêu thì nói tốt, ghét thì nói xấu", "bằng mặt nhưng không bằng lòng"; không nên tô hồng cũng như bôi đen hiện thực khách quan, nói sai, phản ánh sai lệch sự thật. Bác dạy rằng, tự phê bình và phê bình là nhằm phát huy mặt tốt, khắc phục mặt xấu, giúp cho suy nghĩ, nhận thức, hành động đúng hơn, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp cách mạng. Không nên dùng tự phê bình và phê bình để phê phán, chỉ trích, miệt thị nhau; làm cho người ta "mất mặt", làm nhục tinh thần, thể xác con người theo nghĩa "vùi dập nhau", "triệt hạ nhau"; bất luận vì lý do gì thì đều không nên "giận cá chém thớt". Theo Bác, khi tự phê bình và phê bình "phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm... phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.272). Trong mọi lúc, cái tâm của người phê bình phải sáng, cái đức phải cao; tự phê bình và phê bình sẽ kém hiệu quả nếu thiếu cái tâm, cái đức hoặc cái tâm, cái đức không trong sáng.


Trong hoạt động thực tiễn, dưới bất cứ hình thức nào, công việc nào cũng đều có mâu thuẫn. Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn, về thực chất, là cuộc đấu tranh vì thắng lợi của cái đúng, cái tích cực, tiến bộ; hạn chế khắc phục, sửa chữa cái sai, cái lạc hậu, tiêu cực; nâng cao trình độ mọi mặt của người cách mạng. Phương pháp giải quyết mâu thuân đạt hiệu quả cao nhất, theo Bác, là tự phê bình và phê bình; bởi vì, đã là người cộng sản, dứt khoát không được che đậy, giấu giêm khuyết điểm mà cần công khai phê bình khuyết điểm ấy. Người viết: "luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.305, 301). Người cho rằng, "Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rổi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiên bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.305, 301).


Rõ ràng, đối với Đảng, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, tự phê bình và phê bình là "liều thuốc quý", có tác dụng chữa và cắt được bệnh, đồng thời, bồi bổ, làm người ta phân chân, tăng thêm sức khỏe" đế phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân. Vì lẽ đó, tự phê bình và phê bình cần cho tất cả mọi người ví như họ cần không khí để thở, nước để uông, để rửa mặt, làm vệ sinh hằng ngày. Bản chất tự phê bình và phê bình là giải quyết mâu thuẫn nội bộ Đảng, củng cố môi quan hệ đoàn kết, thống nhất trong nhân dân, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng, đưa nó đi đến bến bờ thành công. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ta (2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, "Đảng Lao động Việt Nam dùng lối phê bình và tự phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quần chúng"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.41; t.9, tr.413).


Đó là tính tất yếu khách quan, là giá trị phổ biến trong quá trình xây dựng, phát triển của Đảng, nhất thiết mọi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ nghiêm ngặt, thực hiện đúng quy luật này. Nếu xa rời, làm trái quy luật, Đảng sẽ không thể tồn tại, phát triển. Bác chỉ rõ, "Đảng hằng ngày hằng giờ vận dụng nguyên tắc phê bình và tự phê bình"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.41; t.9, tr.413). Tự phê bình và phê bình đã được ghi thành chế độ, quy định chặt chẽ trong Điều lệ Đảng, bảo đảm tính pháp lý để mọi tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên, bất kể là ai, đều phải chấp hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc.


Rõ ràng, quan niệm của Bác về tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại, phát triển, là nguyên tắc và là chế độ sinh hoạt Đảng, hoàn toàn không có gì mâu thuẫn mà thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo Bác, tự phê bình và phê bình còn là một trong những tiêu chí quan trọng để phân biệt Đảng Cộng sản với các đảng cơ hội, xét lại, cải lương.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #55 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 07:56:58 pm »

Xa rời tự phê bình và phê bình là xa rời bản chất Đảng, là nguy cơ gây ra tình trạng trì trệ, bảo thủ, là chỗ dựa vững chắc của khuyết điểm, sai lầm, yếu kém, của sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng, tạo kẽ hở để những kẻ xu nịnh, thoái hóa, biến chất tồn tại; bọn cơ hội, xét lại chui vào Đảng, thậm chí, thao túng, lũng đoạn, làm cho Đảng biến chất, thoái hóa, mất sức chiến đấu. Điều đó hoàn toàn đúng với thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế những năm 90 của thế kỷ XX, khi Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản Đông Âu bị "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa.


Điều đó có thể khẳng định rằng, trong điều kiện ngày nay, bất cứ một Đảng Cộng sản nào, nếu xem nhẹ tự phê bình và phê bình, không thường xuyên phát hiện những sai lầm, đặc biệt là những sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, công tác tư tưởng và tổ chức, cán bộ, để xảy ra tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm suy yếu, dẫn đến phá hoại Đảng. Bác luôn luôn nhấn mạnh: tự phê bình và phê bình một mặt để sửa chữa cho nhau; mặt khác, để bắt chước nhau làm việc tốt, để nêu gương, dạy dỗ đảng viên, quần chúng tiến bộ. Vì vậy, tự phê bình và phê bình vừa là hành động cách mạng vừa là một nghệ thuật mang tính khoa học cao. Việc phê bình, xem xét, đánh giá, chỉ rõ đúng - sai nhất thiết phải bảo đảm tính trung thực, khách quan và công khai; phải phân tích kỹ lưỡng điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân khách quan, chủ quan tạo nên ưu điểm, dẫn đến khuyết điểm; tức là "nói có sách, mách có chứng"; có như vậy, ý kiến đóng góp, phê bình mới chính xác, có sức thuyết phục cao.


Bác nhiều lần nhắc nhở chúng ta rằng, tự phê bình và phê bình cần có thái độ khách quan, trung thực, tôn trọng sự thật, không khách sáo xã giao, không lồng ý đồ cá nhân ích kỷ, không vội vàng quy kết, chụp mũ cho đồng chí, đồng đội của mình, phải lấy lòng nhân ái, thành thật mà phê phán đồng chí. Do đó, tự phê bình và phê bình cần công khai, hết sức tránh chuyện "bàn tán xì xào", trong hội nghị thì "thứ nhất ngồi ỳ, thứ nhì đồng ý, thứ ba ra về" nhưng ngoài hội nghị thì bàn tán râm ran, nói sai sự thật, gây mâu thuẫn, nghi kỵ, hiếu nhầm nhau. Vì thế, Bác luôn coi trọng và đề cao tính dân chủ, công khai trong sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình. Công khai tự phê bình và phê bình có tác dụng rất tốt, cán bộ, đảng viên, quần chúng có thể học tập ưu điểm lẫn nhau và rút kinh nghiệm từ khuyết điểm của người khác mà tránh sai sót tương tự; đồng thời, ngăn ngừa được tình trạng phát ngôn "vô tổ chức", nghi kỵ, thiếu tin tưởng, không thừa nhận, thiếu tôn trọng nhau.


Bác cho rằng, "Phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.324; t.9, tr.521); còn nếu như sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị khi thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình là một chứng bệnh cần khắc phục. Vì vậy, Bác luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên "phải nâng cao giác ngộ tư tưởng ngăn ngừa tự đại tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thu lời phê bình của người khác"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.324; t.9, tr.521).


Bác cũng dạy chúng ta rằng, muốn tự phê bình và phê bình đạt chất lượng, hiệu quả cao, cần phải "thấu lý", "đạt tình"; tức là phải kết hợp nhuần nhuyễn cả lý và tình. Bởi vì, nếu chỉ "có lý" mà không "có tình" thì tự phê bình và phê bình dễ rơi vào cứng nhắc, máy móc, giáo điều, thiếu sức thuyết phục. Nêu chỉ "có tình" mà không "có lý" sẽ dẫn đến tình trạng "dĩ hòa vi quý", "ngươi không đụng đến ta thì ta không đụng đến ngươi"; tức là xuê xoa, buông lỏng, thậm chí làm sai nguyên tắc sinh hoạt Đảng.


Vì vậy, Bác thường dạy rằng, cán bộ, đảng viên, nhất là người chủ trì đơn vị, chủ trì hội nghị phải "khéo" sử dụng "vũ khí" tự phê bình và phê bình. Theo Bác, "khéo" sử dụng "vũ khí" tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng có nghĩa là biết dùng nghệ thuật để quan hệ, ứng xử sao cho thấu tình, đạt lý; nói cách khác, là sự nhuần nhuyễn giữa tinh và lý, sự hài hòa giữa nếp sống văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây, với nếp sống, đạo lý, phong tục tập quán, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Chữ "khéo" ở đây còn là hệ thống phương pháp tác động, thúc đẩy cùng chiều, cùng hướng để tạo thành tổng hợp lực: từ sự trong sáng của cái tâm, sự chân thành giúp đõ, giáo dục, cảm hóa, thuyết phục, tỉnh táo để phê phán, áp dụng các hình thức kỷ luật là nặng hay nhẹ, cốt để người nhận ra lẽ phải, trái, đúng sai, sớm sửa chữa khuyết điểm, mau tiến bộ, trưởng thành.


"Khéo" sử dụng "vũ khí" tự phê bình và phê bình còn là một phương pháp cách mạng vừa là một nghệ thuật cách mạng. Phương pháp và thái độ đúng đắn nhất trong tự phê bình và phê bình là đứng vững trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phải xem xét sự việc một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, thực tiễn và theo quan điểm phát triển; có nhân tâm trong sáng và tinh thần cách mạng kiên cường, vì việc vì người, đúng như lời dạy của Bác: "Phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.272); làm sao sau hội nghị, sau phê bình, bản thân mình và người nhận được phê bình đều vui vẻ, thoải mái, hăng say rèn luyện, phấn đấu, không cảm thấy "lòng nặng như đá đeo", mặc cảm, thu mình trong vỏ ốc, tự vệ, phòng thủ, giữ mình, xa lánh mọi người.


Tư tưởng của Bác về tự phê bình và phê bình là một trong nhiều nội dung câu thành tư tưởng, lối sống, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nghiên cứu, học tập vấn đề này giúp chúng ta không chỉ hiểu biết sâu sắc hơn tấm lòng, khát vọng, ý chí nghị lực phi thường và nỗi quan tâm đặc biệt của Người đối với sự nghiệp xây dựng Đảng, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam mà còn là thang thuốc quý để dưỡng tâm, dưỡng tính, nâng cao ý chí, tinh thần; đồng thời, ngăn chặn, phòng chống, điều trị các chứng bệnh, thói hư tật xấu cản trở bước tiến của người cách mạng.


Điều Bác nói trước đây đã kiểm nghiệm là đúng, vận dụng vào xem xét tình cảnh ngày nay thấy chẳng hề sai, nhất là trong điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều cái tốt, cái tích cực đan xen với các tệ nạn, tiêu cực xã hội, đã và đang phát sinh, nảy nở. Các chứng bệnh vốn có của cơ chế kinh tế thị trường dù đã nhận biết, có sự việc đã nhìn rõ mặt nhưng quá trình đấu tranh loại bỏ những tiêu cực, hạn chế, thiếu sót của nó không phải dễ dàng, muốn là làm xong ngay trong một sớm một chiều.


Nhận thức đúng bản chất sự việc, có ý chí tiến thủ, nuôi dưỡng lòng kiên trì và luôn đề cao tinh thần cách mạng tiến công là vũ khí sắc bén, rất hiệu nghiệm để chúng ta xóa bỏ những tàn dư, thói hư tật xấu; tự tin, vững bước trên con đường đấu tranh cách mạng. Bí quyết của sự thành công này là thực hiện thật tốt lời dạy của Bác kính yêu: nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng và trong xã hội ta. Đây cũng là phương sách hữu hiệu để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, phòng chống "diễn biến hòa bình", không mắc mưu "tự chuyến biến", "tự chuyển hóa" do các thế lực thù địch gây ra.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #56 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 07:58:44 pm »

VII- ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Tư tưởng, nhận thức lý luận có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động sống của con người và xã hội. Theo Bác Hồ: Tư tưởng, nhận thức lý luận tựa như cái "la bàn" giúp người ta định vị, xác định phương hướng, dẫn dắt người ta đi đúng con đường lựa chọn. Cho nên, tư tưởng chỉ đạo hành động, nhận thức đúng, hiểu đúng thì làm đúng; nhận thức sai, hiểu sai sẽ làm sai. Sai một ly đi một dặm. Kẻ thù của chúng ta rất hiểu điều này và chúng triệt để lợi dụng vấn đề tư tường, lý luận để chống phá ta.


Âm mưu cơ bản, mục tiêu xuyên suốt, lâu dài của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta; chúng coi đây là khâu cơ bản, mấu chốt nhất để hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng, xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng thì hệ quả tất yếu của nó là xóa bỏ được Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và công cụ bạo lực của Nhà nước ta là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Đây là cơ sở để tiêu diệt tận gốc mầm mống xã hội chủ nghĩa ở nước ta và thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã giành được.


Vì vậy, dù có thay hình đổi dạng, thì về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chúng đối với nước ta không hề thay đổi. Việc phương Tây thông qua "hợp tác đầu tư", thực hiện một số dự án kinh tế, quan hệ thương mại với Việt Nam, đổ một ít tiền của vào Việt Nam không phải là vì "lòng tốt, hảo tâm", muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam thụ hưởng lợi ích cũng như việc săn đón, mời chào các đoàn cán bộ, học sinh, sinh viên Việt Nam du học ở phương Tây không phải để củng cố, phát triển ý thức hệ Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà trái lại, chống phá ta về lâu dài bằng cách "thay máu cho hệ tư tưởng", loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thay vào đó là lý luận của giai cấp tư sản phản động.


Cùng với việc phát tán và thẩm thấu các tài liệu qua biên giới, gần đây, các thế lực thù địch tiếp tục tận dụng triệt để mạng xã hội, facebook... nhắn, gửi, tuyên truyền, lôi kéo, dụ dỗ nhiều người cùng kết nối và tham gia vào các tổ chức, hoạt động tuyên truyền và lập kế hoạch tiến công. Chúng không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn xảo trá nhất để chống phá chính quyền các cấp dưới những hình thức khiếu kiện, biểu tình..., và trương những khẩu hiệu phản động, chống đối về tư tưởng chính trị nhằm tạo dựng, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đồng thời, chúng liên kết chặt chẽ giữa các lực lượng, thành phần cả bên trong và bên ngoài, với các tổ chức chính trị, nhân quyền, tôn giáo quốc tế phát tán rộng khắp và dày đặc các tư tưởng, quan điểm phản động.


Hơn thế, chúng triệt để tận dụng các yếu kém mà Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan truyền thông của ta nhận định, kết luận làm "bằng cớ" tiến công tư tưởng, lý luận; kết hợp bịa đặt, xuyên tạc, lật ngược và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống lịch sử dân tộc, cách mạng, hòng tác động tới tâm lý, tư tưởng, tình cảm, sự bất bình, bất mãn trong cán bộ, đảng viên, quần chúng. Chúng đã và đang tiếp tục sử dụng các chiêu bài cũ như phê phán các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, làm sai lệch mục đích, ý định sửa đổi Hiến pháp năm 1992, bôi nhọ nhân cách, thân thế sự nghiệp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ và hiện nay nhằm gây mâu thuẫn trong nội bộ, hạ thấp uy tín của Đảng ta, thực hiện mưu đồ "tự chuyến biến", "tự chuyển hóa" mà chúng đã xác định.


Nội dung chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay của các thế lực thù địch tập trung trên các vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên những nguyên lý nền tảng nhất, khuyên Việt Nam nên từ bỏ lý thuyết của Các Mác, của V.I. Lênin - nền tảng của xã hội cộng sản, cốt lõi là từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là mũi tiến công tư tưởng - lý luận chủ yếu, thường xuyên, liên tục với mật độ cao của các thế lực thù địch trong năm 2013, 2014 và sẽ mạnh hơn trong năm 2015, 2016. Chúng trích dẫn, cắt xén, vứt bỏ những vấn đề lịch sử, cụ thể, đảo lộn hoàn toàn học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.


2. Tập trung xuyên tạc những vấn đề cơ bản nhất trong Hiến pháp năm 2013, coi đó là mũi nhọn chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Mục tiêu của chúng là:

- Tiến công phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Phủ nhận thể chế chính trị nhất nguyên, kêu gọi, yêu cầu hiến định thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

- Phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chế độ xã hội, nhà nước, đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. Đây là nội dung trọng điểm với cường độ, mật độ dày đặc các bài viết đã công bố trên các trang mạng, phát tán qua các tài liệu trong năm 2013.

Các luận điệu tung ra chẳng có gì mới, chúng vẫn nhai lại điệp khúc bác bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi "phi chính trị hóa" quân đội, quân đội phải trung lập, kêu gọi quốc gia hóa quân đội.

Luận thuyết về "phi chính trị hóa" quân đội, các lực lượng vũ trang gổm: Quân đội của một quốc gia phải đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết; phải "phi đảng phái", không để các đảng phái can thiệp vào các chính sách đối nội của quân đội.


3. Xuyên tạc lịch sử cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, bôi nhọ và phủ nhận vai trò, công lao của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc thân thế, thanh danh và công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đảo lộn lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tuyên truyền, bịa đặt ý nghĩa dân tộc và thời đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


4. Tuyên truyền, bịa đặt sai sự thật, ra sức chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, chính quyền nhà nước; phủ nhận công lao của Đảng trong công cuộc đổi mới. Xuyên tạc tình hình chính trị ở nước ta hiện nay nhằm phủ nhận vai trò của Đảng trong sự nghiệp đổi mới; tạo dựng các vấn đề giả để chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa Đảng và Nhà nước...


5. Xuyên tạc, làm sai lệch tinh thần, nội dung và kết quả các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, cô lập nước ta trên trường quốc tế.


6. Bác bỏ, phủ nhận mọi cố gắng, nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong 30 năm đổi mới đất nước; qua đó, kích động các tư tưởng chống Đảng và bạo động, gây rối ren tình hình chính trị - xã hội.


7. Khoét sâu yêu kém, tạo dựng, lan truyền tư tưởng "chán chường", "mất niềm tin", hòng gây hoang mang trong Đảng, quần chúng nhân dân; tiêm nhiễm những tư tưởng và mưu đồ "cải tổ" xã hội trong nhân dân.


8. Xuyên tạc, vu cáo tình hình dân chủ, nhân quyền, tôn giáo ở Việt Nam; tuyên truyền quan điểm nhân quyền tư sản, tự do tuyệt đối, đấu tranh bất bạo động; kích động tư tưởng, hành động chống đối, lật đổ chính quyền.

Điểm đáng chú ý là chúng đã lập mới nhóm "blogger trẻ", ra "tuyên bố 258", hoạt động công khai, bán công khai, liên tục phát tán thông tin, kêu gọi biểu tình, chống đối, sự ủng hộ của dư luận trong, ngoài nước, hòng buộc Việt Nam bãi bỏ Điều 258: "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" trong Bộ luật hình sự.


9. Lợi dụng việc sửa đổi Hiến pháp, chúng tiếp tục tiến công tư tưởng đòi tách sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #57 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 08:00:39 pm »

Trong năm 2013-2014, quân đội đã chủ động, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và đạt được những kết quả rất đáng trân trọng với ưu điểm nổi bật là:

Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, toàn quân đã làm tốt công tác dự báo âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của các thế lực thù địch; không để bị động, bất ngờ.


Chúng ta đã dự báo đúng âm mưu, thủ đoạn mới trong chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, đã nhìn thấy rõ việc chúng sẽ triệt để lợi dụng việc Quốc hội chủ trương lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân về Dự thảo sửa đối Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đối Luật đất đai năm 2003 để tuyên truyền những quan điểm sai trái, phản động, đòi xóa bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về xác định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; tiếp tục đẩy mạnh chống phá, đòi "phi chính trị hóa" quân đội, kêu gọi "quân đội trung lập về chính trị"; xuyên tạc, bóp méo thành quả của cách mạng nước ta, phủ nhận bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc ý nghĩa của việc Quốc hội tổ chức lấy ý kiến góp ý của nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, phủ nhận đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đòi tư nhân hóa đất đai.


Đồng thời, chúng ta đã dự báo chính xác và có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động tuyên truyền nhằm xuyên tạc kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI Một số vấn đề cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay, các nghị quyết, kết luận của các hội nghị Trung ương khóa XI, v.v...


Trên thực tế, sự chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch đã diễn ra gần đúng như kịch bản mà chúng đã dàn dựng và những điều chúng ta đã dự báo, đã nhìn thấy trước nên việc triển khai công tác đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở; trong đó có quân đội đã diễn ra đúng hướng, luôn chủ động, kịp thời, làm thất bại các thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, sự ổn định chính trị, trận tự an toàn xã hội, tạo môi trường hòa bình để phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Thứ hai, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cơ quan chức năng, cấp ủy và chỉ huy các cấp đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận.


Ngay từ đầu năm, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Ban Chỉ đạo đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ở các đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã làm tốt việc tổng kết đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận, sớm xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp và tổ chức lực lượng đấu tranh.


Quân ủy Trung ương, trực tiếp là thủ trưởng Tổng cục Chính trị đã chỉ đạo, giao nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận cho các cơ quan, đơn vị có liên quan, trong đó có bộ phận chuyên sâu của các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Đặc biệt, khi xuất hiện những "điểm nóng" trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận, Ban Chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" của Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị đã chỉ đạo và tổ chức lực lượng xung kích, kịp thời đấu tranh có hiệu quả, như việc tổ chức đấu tranh chống các quan điểm, luận điệu sai trái dưới vỏ bọc là kiên nghị về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, mà cốt lõi là phát tán bản Dự thảo Hiến pháp năm 2013 do các nhóm này soạn thảo.


Trong quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận, quân đội đã thường xuyên tổ chức sơ kết, kịp thời rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn công tác này. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị, các đầu mối cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tổ chức sơ kết đánh giá ưu điểm, hạn chế; xác định phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp đấu tranh; đề xuất, kiến nghị về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm cho nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trong thời gian tới. Trên cơ sở sơ kết đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận, các đầu mối cơ quan, đơn vị trong toàn quân, Ban Chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị đã tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá kết quả đã đạt được của đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận thời gian qua; xác định phương hướng, nhiệm vụ, lực lượng, phương tiện, biện pháp đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận trong thời gian tới.


Thứ ba, quân đội đã phát huy được sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận.

Nhiều cơ quan, đơn vị quân đội tích cực triển khai đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực này, tiêu biểu là: Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Truyền hình Quốc phòng Việt Nam, v.v...


Nhiều cơ quan, đơn vị quân đội đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan lý luận của Đảng, Nhà nước, bộ, ban, ngành như phó'i hợp với Hội đồng lý luận Trung ương, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Cộng sản điện tử, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Công an nhân dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương... cùng đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận.


Thứ tư, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của quân đội phong phú, đa dạng, hiệu quả hơn.

Trong những năm qua, nhiều cơ quan, đơn vị đã kết hợp tốt các hình thức tuyên truyền giáo dục, sinh hoạt chính trị tư tưởng, trao đổi, tọa đàm, hội thảo khoa học, thông qua hội nghị góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Luật đất đai năm 2003,... để đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch. Đồng thời, toàn quân đã sử dụng tốt các phương tiện thông tin báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, báo cáo viên, tuyên truyền viên,... tuyên truyền, đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận. Tiêu biểu là báo Quân đội nhân dẩn, ngoài chuyên mục "Làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" thứ hai, thứ tư hằng tuần, đã mở thêm mục "Góp ý Dự thảo Hiến pháp" hằng ngày, đăng tải các ý kiến góp ý của nhân dân, lực lượng vũ trang vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Luật đất đai năm 2003, trực tiếp đấu tranh với những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch, phản động.


Bên cạnh hình thức đấu tranh tư tưởng, lý luận qua các bài viết chính luận trên các báo, tạp chí và phương tiện thông tin đại chúng, đã xuất bản sách Sự thật về tôn giáo ở Việt Nam (Học viện Chính trị biên soạn); tổ chức Hội thảo khoa học: "Đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận" (Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự)..., thu hút nhiều cán bộ, nhà khoa học trong, ngoài quân đội tham gia. Sau hội thảo, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự đã tuyển chọn các bài tham luận, biên soạn và xuất bản sách đấu tranh tư tưởng, lý luận với tiêu đề: Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Đây là một trong những cuốn sách được sử dụng làm tài liệu học tập chính thức của các lớp nguồn do Ban Bí thư tổ chức ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.


Trong những năm qua, nhiều đơn vị trong toàn quân, trong đó có Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự..., đã tích cực triển khai hình thức đấu tranh tư tưởng, lý luận thông qua các blog cá nhân do đơn vị quản lý nhằm sử dụng, phát huy vai trò lực lượng chuyên sâu trong đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên các trang mạng xã hội. Đây là hình thức đấu tranh mới, mềm dẻo, linh hoạt, lượng người đọc đông, tầm ảnh hưởng rộng, kịp thời tuyên truyền quan điểm chính thông, định hướng dư luận và phê phán các quan điểm sai trái, thù địch.


Thứ năm, số lượng, chất lượng các sản phẩm, bài viết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của quân đội được nâng lên.

Toàn quân đã triển khai đấu tranh khá toàn diện trên các nội dung mà các thế lực thù địch chống phá; số lượng các sản phẩm, bài viết đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của quân đội tăng lên đáng kể. Chất lượng sản phẩm, bài viết cũng được nâng lên, tạo được tầm ảnh hưởng rộng trong xã hội.


Nhìn chung, do làm tốt công tác dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị và của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, các đơn vị, nên toàn quân đã triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận; kịp thời vạch trần bản chất phản động về chính trị, phản khoa học của các luận điệu tuyên truyền của chúng; phê phán những nhận thức không đúng, mơ hồ, lệch lạc, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và củng cố niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao nhận thức, giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ quân đội và xã hội, sự ổn định chính trị đất nước, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #58 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 08:01:54 pm »

Bên cạnh những ưu điểm, việc triển khai đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của quân đội còn có những hạn chế nhất định, trong đó nổi lên là: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị của một số cơ quan, đơn vị về đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận còn những hạn chế nhất định. Đáng lưu ý là khâu xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện đấu tranh chưa kịp thời, chỉ đạo chưa thật kiên quyết, dẫn đến kết quả còn có mặt hạn chế.


Một số ban chỉ đạo đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở một số cơ quan, đơn vị quân đội chưa phát huy tốt vai trò tham mưu, đề xuất với cấp ủy cấp mình những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận ở các đơn vị thuộc quyền.


Việc tổ chức đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của quân đội vẫn thiếu những hình thức, biện pháp hâp dẫn, quy mô lớn, tầm ảnh hưởng rộng (như các buổi tọa đàm trên Chương trình phát thanh Quân đội nhân dân, kênh Quốc phòng Việt Nam của Trung tâm phát thanh, truyền hình quân đội; xuất bản loại sách nhỏ, tuyên truyền chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, v.v...). Sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thông tấn báo chí, đơn vị, học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu khoa học còn thiếu chặt chẽ; các hình thức, biện pháp đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận chưa được tổ chức phong phú, đa dạng và thống nhất.


Số lượng bài viết đấu tranh tư tưởng, lý luận sắc sảo, có tính thuyết phục khoa học chưa cao, còn nặng về lý luận, thiếu đấu tranh trực diện, vạch trần bản chất, âm mun, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Lực lượng tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của quân đội vẫn chủ yếu là một bộ phận thuộc lực lượng nòng cốt, chuyên sâu (cán bộ lãnh đạo, cán bộ khoa học, phóng viên, biên tập viên); bộ phận lãnh đạo chủ chốt của cơ quan chiến lược, đơn vị địa phương, cơ sở còn ít người tham gia; nhân tố mới, cán bộ, giảng viên của một số học viện, trường sĩ quan, cán bộ trẻ ít xuất hiện.


Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do ban chi đạo đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận ở một số cơ quan, đơn vị quân đội vẫn còn thụ động, trông chờ vào cấp trên, coi việc đấu tranh này chủ yếu là nhiệm vụ của các cơ quan thông tấn báo chí, các học viện, nhà trường, của các viện nghiên cứu khoa học, chưa kiên quyết trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện.


Năng lực lãnh đạo, chi đạo của cấp ủy, chỉ huy của một số cơ quan, đơn vị đối với việc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận còn có những hạn chế; có lúc bị động, bất ngờ trước tình huống và nhiệm vụ khó khăn trên giao.


Công tác tổ chức, bảo đảm, cơ chế, chính sách trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận của Đảng, Nhà nước và quân đội còn có những bất cập nhất định, nên chưa huy động và tổ chức được đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận trên quy mô lớn với nhiều tầng, nhiều lớp tham gia; tầm ảnh hưởng chưa rộng; chưa động viên, khuyến khích được các lực lượng chủ công trong quân đội, lực lượng đông đảo ngoài quân đội tham gia.


Để nâng cao hơn nữa chất lượng đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận, cần tập trung thực hiện thật tốt một số giải pháp chính sau:

Một là, cần triển khai kịp thời việc tổng kết, rút kinh nghiệm về việc triển khai cuộc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận, chỉ ra những việc cần làm ngay và những công việc mang tính cơ bản, căn cốt nhất để ngăn chặn, đẩy lùi mọi hành vi, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá trung thực, khách quan những kết quả, thành tựu đạt được; những hạn chế, khuyết điểm, qua đó, rút ra những kinh nghiệm về tổ chức đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách kịp thời và cụ thể, thật sự nghiêm túc, hiệu quả.


Hai là, tập trung nâng cao nhận thức cho toàn quân và cả xã hội đối với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận. Đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, quần chúng nhận thức đúng, rõ ràng bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận của các thế lực thù địch, đặc biệt là làm chuyến biến nhận thức của giới trẻ để họ có định hướng chính trị đúng đắn; không bị mắc mưu các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng bộ đội, phát hiện kịp thời những tình huống phức tạp.


Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn quân. Củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tường Hồ Chí Minh và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và chiến đấu của quân đội.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #59 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2022, 08:02:29 pm »

Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp, kiến nghị đã đề xuất, tập trung chỉ đạo thống nhất nội dung, hình thức và lực lượng đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận. Cần chỉ đạo tập trung thống nhất từ trung ương đến đơn vị cơ sở, ở tất cả các cấp cả về nội dung, lực lượng và biện pháp, hình thức đấu tranh. Chú trọng khuyến khích và tăng cường lực lượng, phương tiện phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận; phát huy vai trò của các lực lượng ở các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội. Tổng cục Chính trị cần chỉ đạo tốt hơn nữa đối với các lực lượng trong toàn quân và phối, kết hợp với các lực lượng bên ngoài; đồng thời, lựa chọn một số nhà khoa học, nhà lý luận có bản lĩnh chính trị vững vàng và chuyên môn cao, có năng lực đấu tranh, kết hợp giữa xây dựng lực lượng "mũi nhọn", nòng cốt và rộng khắp trên mặt trận đấu tranh này.


Bốn là, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị có năng lực và trách nhiệm chủ động lựa chọn một số nội dung lý luận cơ bản, trọng điểm, có ảnh hưởng tư tưởng lớn, xây dựng các vấn đề đấu tranh với nhiều hình thức phong phú, tập trung nâng cao chất lượng bài viết, đăng tải các bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng, xuất bản sách, phát hành trong toàn quân và xã hội. Dự kiến trước các vấn đề, hướng nội dung tiến công của chúng và lực lượng đấu tranh của ta, tránh thụ động, bị động đối phó.


Tổ chức biên soạn, xuất bản và phát hành sách đấu tranh tư tưởng, lý luận, văn hóa trên những nội dung về quân sự, quốc phòng, hệ tư tưởng chính trị, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, đặc biệt là về nhân quyền, quyền con người, Hiến pháp, các văn bản pháp luật mới, các văn kiện Đảng. Cần thành lập ban chỉ đạo chọn tuyển sách do Tổng cục Chính trị phụ trách và lập ban tuyển chọn, biên tập các sách đấu tranh tư tưởng lý luận với sự tham gia của một số nhà khoa học, biên tập viên quân đội có đủ uy tín, đủ bản lĩnh và trình độ lý luận; đồng thời có sự bảo đảm về điều kiện vật chất, kinh phí cần thiết đủ để thực hiện nhiệm vụ.


Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức tọa đàm, hội thảo khoa học đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận kết hợp với kịp thời tuyên truyền và biên soạn, xuất bản sách chuyên đề về phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận... Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục hướng vào những ngày lễ lớn của quốc gia và quân đội, như các ngày thành lập Đảng 3-2, Đại thắng mùa Xuân 1975, Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12...


Các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường, báo chí quân đội phải có kế hoạch nghiên cứu, tuyên truyền khẳng định rõ tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng vào nhũng vấn đề nguyên tắc, nhạy cảm; đấu tranh sắc bén nhằm phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.


Năm là, lựa chọn và tăng cường giao nhiệm vụ cụ thể cho lực lượng trực tiếp đấu tranh, những cán bộ có kinh nghiệm, trình độ, động viên tinh thần trách nhiệm đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận. Bổ sung và bảo đảm tốt hơn nữa việc đầu tư và sử dụng kinh phí hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực này theo hướng thiết thực, hiệu quả và trực tiếp đến các tập thể và cá nhân đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, lý luận...


Trước mắt, cần tập trung giải quyết ngay một số nội dung cần kíp:

- Tiếp tục đề cao cảnh giác, chủ động, tích cực đối mới công tác giáo dục lý luận chính trị, phổ biến, tuyên truyền làm cho mọi người nhận thức đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình". Chú ý tập trung vào những diễn biến mới về tình hình biển Đông và hoạt động đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta...

- Phát huy hơn nữa vai trò xung kích của các cơ quan tuyên giáo, báo chí của quân đội và quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội trong đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận hiện nay. Tổ chức tốt việc phổ biến, tuyên truyền các nghị quyết Trung ương khóa XI, dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; có các bài viết phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, những nhận thức không đúng về vấn đề này.

- Tổng rà soát lại chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho các đối tượng người học; lập lại các môn học lịch sử của ba môn lý luận Mác - Lênin: Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học; bổ sung Lịch sử tư tưởng Hồ Chí Minh, để thế hệ sau hiểu rõ nguồn gốc nền tảng lý luận của Đảng ta.

- Tích cực, chủ động bồi dưỡng lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền miệng, lực lượng viết trẻ theo hướng chuyên sâu, theo mảng vấn đề qua các đợt thi hằng năm để tạo nguồn kế cận, kế tiếp đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận. Chọn lọc khoảng 30 - 35 cán bộ chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận trong toàn quân, do Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị trực tiếp quản lý, có chương trình, sinh hoạt định kỳ, biết một số thông tin hạn chế, và phân công viết bài chống "diễn biến hòa bình" từng tháng. Sau đó, hằng năm kết nạp bổ sung vào lực lượng này các cây bút trẻ nổi trội trong năm.


Cho đến nay, đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận chống quan điểm sai trái, phản động của giới cầm quyền phản động nước ngoài đối với Việt Nam, chưa thành nền nếp, chưa thành hệ thống, chưa rõ chủ thuyết của họ; nên trong nhận thức và chỉ đạo nội dung, phương thức đấu tranh tư tưởng, văn hóa, lý luận chống giới cầm quyền phản động nước ngoài xâm phạm chủ quyền Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, chúng ta chưa thống nhất được nhận thức về phương diện này. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu tổ chức hội thảo hay tọa đàm khoa học để làm rõ cơ sở lý luận, nguồn gốc, bản chất, âm mưu, thủ đoạn, chủ thuyết của giới cầm quyền phản động nước ngoài trong chống phá Việt Nam, giải pháp phòng tránh, đánh trả, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. Cần sử dụng kết quả các hội thảo khoa học để tuyên truyền và chọn lực lượng cốt cán để viết các bài chống giới cầm quyền phản động nước ngoài, cũng như các lực lượng chống đối bên trong, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM