Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Giêng, 2023, 12:41:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phòng chống diễn biến hòa bình ở Việt Nam - Mệnh lệnh cuộc sống  (Đọc 971 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2022, 12:33:17 pm »

V- LUẬN THUYẾT CỦA V.I. LÊNIN VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG MÁCXÍT CẦM QUYỀN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Kế thừa những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về sự cần thiết phải xây dựng một chính đảng độc lập của giai cấp vô sản, V.I. Lênin với tư cách là "một nhà cách mạng chuyên nghiệp", lãnh tụ của phong trào công nhân Nga, đã kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động với mưu đồ cố tình xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phá hoại phong trào công nhân; qua đó, bổ sung, phát triển sáng tạo những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Và chính Người đã trực tiếp tổ chức, thành lập, lãnh đạo Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga - một chính đảng vô sản kiếu mới - tiền thân của Đảng Cộng sản Liên Xô sau này. Đây là "một đảng kiểu mới, thật sự cách mạng và thật sự cộng sản", khác với tất cả các đảng kiểu cũ ở châu Âu của những người theo "chủ nghĩa xã hội chân chính" hay theo đuôi "chủ nghĩa cải lương đại nghị"...


Theo V.I. Lênin, xây dựng và củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân là điều kiện cơ bản hàng đầu, mang ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, thực hiện khát vọng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Khác với tất cả các tổ chức đảng chính trị đương thời - những tổ chức không có hình thù rõ rệt, kiểu như một câu lạc bộ, một thực thể lỏng lẻo, không có trật tự, kỷ cương, kỷ luật; hoạt động không có nguyên tắc, không có quan hệ ràng buộc về mặt tổ chức, xa rời quần chúng nhân dân và quản lý đảng viên theo kiểu "thỏa hiệp", "bè phái" - Đảng Cộng sản mácxít kiểu mới phải là đội tiên phong chính trị chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân; đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình.


Đảng Cộng sản là lương tâm, trí tuệ và là niềm vinh dự, tự hào của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. V.I. Lênin cho rằng, chính Đảng Cộng sản (chứ không phải là đảng chính trị của các lực lượng nào khác) có ý thức trách nhiệm rõ ràng về việc đưa lý luận khoa học, cách mạng vào phong trào công nhân, trực tiếp lãnh đạo, định hướng chính trị và tổ chức giáo dục, động viên giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân hành động cách mạng, nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là đấu tranh vứt bỏ mọi gông xiềng, xích sắt, xóa bỏ mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công; giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người,... xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa: hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc.


Do đó, mỗi đảng viên cộng sản cũng như toàn bộ Đảng Cộng sản, từ trung ương đến cơ sở phải ý thức rõ ràng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ chính trị và sự tiên phong, gương mẫu của mình trước giai cấp và không được lẫn lộn đảng với toàn bộ giai cấp hoặc đồng nhất Đảng Cộng sản là giai cấp công nhân như V.I. Lênin đã cảnh báo: "Không được lẫn lộn đảng, tức là đội tiền phong của giai cấp công nhân, với toàn bộ giai cấp"1 (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.289).


Người vạch rõ: "Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình, chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực của chủ nghĩa tư bản"1 (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.227; t.6, tr.32), những tệ nạn, thói hư, tật xấu của nó.


Trong quan điểm lý luận cũng như trong chỉ đạo thực tiễn cách mạng, V.I. Lênin đều khẳng định rằng: Một Đảng Cộng sản thực sự cách mạng sẽ trở thành nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nếu như những đảng viên của đảng đó thấm nhuần sâu sắc và giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, tự nguyện suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng vì sự nghiệp giải phóng con người thoát khỏi sự "tha hóa", bất công, đói nghèo, đem lại hạnh phúc cho giai cấp công nhân và toàn thế nhân dân lao động. Muốn vậy, trong đảng phải có sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Chính sự thống nhất này đã, đang và sẽ luôn đặt ra như "là sự sống còn - một mệnh lệnh tối cao của cuộc sống", đòi hỏi Đảng Cộng sản phải có nguyên tắc tổ chức khoa học và cách mạng, phải dựa trên "một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong''2 (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.227; t.6, tr.32). Có như vậy, Đảng mới thực sự trong sạch vững mạnh, có uy tín và sức chiến đấu cao. Đó là điều kiện chắc chắn nhất để Đảng Cộng sản xứng tầm là đội tiền phong gương mẫu của giai cấp công nhân, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình.


Bám sát thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân và dựa vào nguyên tắc tập trung dân chủ mà C. Mác, Ph. Ấngghen đề ra, V.I. Lênin đã phát triển toàn diện nguyên tắc đó và khẳng định rằng, tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng mácxít kiểu mới mà còn là nguyên tắc mang tính khoa học trong quản lý nhà nước, tổ chức cộng đồng, chỉ đạo các hoạt động cách mạng có văn hóa, có bản lĩnh và trí tuệ, có kỷ cương, đoàn kết thống nhất. Thực chất của nguyên tắc này là kết hợp hữu cơ giữa chế độ tập trung với chế độ dân chủ triệt để vốn có của giai cấp công nhân, bắt nguồn từ những đòi hỏi của nền sản xuất đại công nghiệp với trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại. Từ trong bản chất, nguyên tắc tập trung dân chủ loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng vô chính phủ, sự thiếu thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức, bộ phận, cá nhân phá hoại sự thống nhất ây, đồng thời cũng loại bỏ khuynh hướng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, cục bộ, bản vị, tham nhũng, lãng phí và quan liêu mà một số lãnh tụ của các đảng chính trị khác cũng như một số đảng viên cộng sản đã bị thoái hóa, biến chất thường mắc phải.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #21 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2022, 12:34:15 pm »

Theo V.I. Lênin, nguyên tắc tập trung dân chủ hoàn toàn không phải là sự tự phát, những biểu hiện ngẫu hứng, cứng nhắc, đơn độc của một cá nhân hay một nhóm người đầy thiên kiến, hẹp hòi, mà là cả một quá trình và kết quả của lao động trí tuệ, một sự gạn lọc tinh chất nhất, một sự sáng tạo triệt để nhất để dân chủ trở thành sức sống, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển, cải tạo thực tiễn vì sự tiến bộ xã hội. V.I. Lênin khẳng định, nếu không có chế độ tập trung dân chủ thì Đảng Cộng sản không thể là đội tiền phong chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; Đảng không thê tránh khỏi bị chia rẽ, tản mạn, mang tính cục bộ; thoái hóa về tư tưởng chính trị, suy đồi về đạo đức cách mạng và lối sống văn hóa. Người còn chỉ rõ: ai đó tự thừa nhận mình là đảng viên của Đảng Cộng sản mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, nghĩa là phủ nhận tính tổ chức và kỷ luật của đảng thì người ấy đã rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại và đang biến Đảng Cộng sản thành "câu lạc bộ tranh luận"; và chính nó là biểu hiện rõ ràng nhất về sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống.


Rõ ràng là, nếu phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ thì coi như tính chất và bản chất của Đảng Cộng sản đã bị tổn hại và đảng đứng trước nguy cơ tan rã, không thể trở thành đội tiền phong gương mẫu, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, và đương nhiên, đảng không có khả năng vạch ra một cương lĩnh hành động, một đường lối cách mạng triệt để, khoa học, cách mạng; không có sức mạnh toát lên từ sự nêu gương, giáo dục, thuyết phục quần chúng nhân dân học tập, noi theo, làm theo bằng trí tuệ, trái tim và bằng cả xương máu của mình để thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách đã đề ra và do đó, đảng không đủ uy tín để lãnh đạo cách mạng; không được nhân dân suy tôn là người lãnh đạo, người "đầy tớ thật trung thành của nhân dân"; và quần chúng nhân dân sẽ không đứng về phía đảng, dành cho đảng sự đồng tình, ủng hộ trong đấu tranh cách mạng; thậm chí sẽ nghi ngờ mục tiêu, lý tưởng của đảng, xa rời đảng.


Rơi vào hoàn cảnh ấy, V.I. Lênin nhấn mạnh rằng, không ít người sẽ nhận thấy họ bị lừa dối, bị phản bội vì đã nhầm lẫn khi trao gửi niềm tin cho đảng, đã đi theo đảng; tức là họ đã sai lầm khi đứng về phía đảng, một lòng một dạ đi theo đảng, kiên quyết đấu tranh lật đổ chế độ người áp bức, bóc lột người và quá tin vào tương lai, tiền đồ của cách mạng và lời hứa của đảng về xây dựng cuộc sống mới hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là một tổn thất lớn của đảng và nó không thể cứu vãn khi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng "lây nhiễm" từ một bộ phận quần chúng vào trong nội bộ đảng, biến đảng thành "bộ phận theo đuôi quần chúng". Chính vì vậy, V.I. Lênin nhấn mạnh rằng, một trong những vấn đề then chốt, quyết định đến chất lượng xây dựng đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân là xây dựng đảng thật sự trong sạch vững mạnh; là đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, củng cố mối liên hệ "máu thịt" giữa đảng và quần chúng nhân dân. Người chỉ rõ: "Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân"1 (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.35, tr.64). Trong đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện cơ bản hàng đầu đế tạo ra sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn đảng. V.I. Lênin coi sự đoàn kết, thống nhất trong toàn đảng là cội nguồn của sức mạnh đê chiến thắng mọi kẻ thù, chiến thắng đói nghèo, dốt nát.


Theo V.I. Lênin, đảng phải đặc biệt coi trọng và thường xuyên, nghiêm túc thực hiện tốt công tác phê bình và tự phê bình trong đảng, vì đây là biện pháp "khó khăn, phức tạp nhất nhưng hữu dụng nhất" và chính nó là "phép màu" để nâng cao uy tín, phát huy vai trò và tăng cường sức mạnh chiến đấu của đảng, cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào đảng. V.I. Lênin khẳng định, "công tác phê bình và tự phê bình trong đảng có vai trò đặc biệt quan trọng" và "hết sức cần thiết" để nâng cao trí tuệ, để phát hiện và giải quyết mâu thuẫn kịp thời, làm cho nội bộ đảng trong sạch vững mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất. Người viết: "Thái độ của một chính đảng trước những sai lầm của mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để xem xét đảng ấy có nghiêm túc không... Công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy - đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc..."1 (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.51; t.5, tr.336).


Đoàn kết, thống nhất là cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản, V.I. Lênin chỉ ra rằng: "Nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất"2 (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.51; t.5, tr.336). Như vậy, cơ sở tư tưởng chung của sự đoàn kết thống nhất trong đảng, theo V.I. Lênin, phải dựa vào sự thống nhất của cương lĩnh, đường lối, cả trong tư tưởng, tổ chức và hành động, tức là lý luận phải gắn chặt với thực tiễn, lời nói phải gắn chặt với việc làm; đảng viên Đảng Cộng sản phải luôn đề cao sự nêu gương, làm mẫu trước quần chúng nhân dân để họ nhìn vào đó học tập, noi theo, làm theo.


V.I. Lênin chỉ ra và cảnh báo về những "căn bệnh" đã và đang trở thành nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng, làm phá sản thành quả cách mạng, đánh mất niềm tin, uy tín của đảng. Đó là "căn bệnh" chủ quan duy ý chí, cơ hội, hối lộ, tham nhũng, quan liêu, xa dân, v.v... Vì vậy, Người yêu cầu đảng của giai cấp công nhân phải "tẩy sạch" khỏi đảng những phần tử tha hóa, biến chất, những người "đội lôt, mang danh đảng viên Đảng Cộng sản" đế tuyên truyền quan điểm chống đảng, phá đảng. Bởi vì, nêu trong đảng mà có những người cơ hội hoặc công khai, hoặc "ngấm ngầm" thì sớm hay muộn, đảng sẽ "không thể tránh khỏi tan rã, trước tiên là tan rã về tư tưởng, sau đó sẽ tan rã về tổ chức".


Cho nên, để đảng không bị chia rẽ thành bè phái hoặc hình thành các phe nhóm, nhất thiết đảng phải thường xuyên thực hiện phê bình và tự phê bình, thường xuyên củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong đảng, giữ cho đảng thật sự trong sạch, vững mạnh và mỗi đảng viên của đảng phải thật sự trung thực, gương mẫu về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện tốt những điều quy định đảng viên không được làm; lấy lời căn dặn của Bác Hồ trong Di chúc làm phương châm hành động cách mạng: cán bộ, đảng viên phải giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng như "giữ gìn con ngươi của mắt mình".
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #22 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2022, 12:34:58 pm »

Bên cạnh việc nhắc nhở phải đưa ra khỏi đảng những người không đủ tư cách đảng viên Đảng Cộng sản và coi đó là công việc nhất thiết phải làm, thì đồng thời, V.I. Lênin luôn đề cao vai trò của công tác giáo dục, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lấy việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi cán bộ, đảng viên làm nòng cốt; giúp họ tự ý thức sâu sắc về việc nâng cao danh hiệu người đảng viên cộng sản trước quần chúng nhân dân. Nhiệm vụ này không chỉ có ý nghĩa quyết định việc củng cố, tăng cường và nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng mà còn đặc biệt hệ trọng đối với việc củng cố niềm tin của nhân dân vào đảng cũng như việc nâng tầm cao uy tín, vị thế của mỗi đảng viên trước nhân dân, nhất là những người giữ chức vụ cao trong bộ máy của đảng, nhà nước, chính quyền các cấp. Đây là điều kiện tốt nhất để đảng gần dân, sống trong lòng nhân dân, phát huy vai trò của họ trong việc phát hiện, xem xét, nhận diện cái tốt, cái xấu để bảo vệ đảng; đóng góp ý kiến, đề xuất biện pháp giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên khi họ mắc sai lầm, khuyết điểm cũng như giới thiệu cho đảng những quần chúng ưu tú để đảng bồi dưỡng và kết nạp họ vào đội ngũ của mình. Đây là một công việc quan trọng và Tất cần thiết. Nhờ đó mà Đảng Cộng sản ngày càng vững mạnh và có như vậy, đảng mới làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. V.I. Lênin nhấn mạnh: Một trong những điều tối kỵ nhất là đảng tuyệt đối không được để những phần tử cơ hội, "những phần tử xấu, những cặn bã của chủ nghĩa tư bản cũ len lỏi vào trong đảng chân chính"1 (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr.256).


V.I. Lênin cho rằng, việc thoái hóa, biến chất về tư tưởng, đạo đức, nhất là những sai lầm về đường lối chính trị. Đó là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với bất kỳ Đảng Cộng sản nào, nhất là đối với những "người giữ chức trọng quyền cao"; phải coi đó là sự tổn thất to lớn của đảng, nhưng nghiêm trọng hơn, tổn thất nặng nề hơn không chỉ cho đảng mà cho cả giai cấp công nhân và nhân dân lao động là sự sai lầm về đường lối chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền. Bởi vì, toàn bộ sự nghiệp của đảng, trước hết phụ thuộc vào sự đúng đắn của đường lối chính trị do đảng khởi xướng và lãnh đạo. Do đó, nhiều lần V.I. Lênin nhắc nhở rằng, đảng phải hết sức cảnh giác, đề phòng nguy cơ "chệch hướng", sai lầm về đường lối chính trị và nguy cơ trong nội bộ đảng có cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, tham nhũng, quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân, "nói một đằng, làm một nẻo"... Phải khẳng định rõ ràng rằng, đó không chỉ là sự nguy hiểm mà là cực kỳ nguy hiểm, nếu đảng của nó lại cầm quyền ở một nước mà giai cấp công nhân chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân cư. Cho nên, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, trong công tác xây dựng đảng, phải đặc biệt chú trọng quan tâm làm tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng, nhất là đội ngũ những người giữ chức vụ chủ chốt, phải rà xét thật sự nghiêm túc về phẩm chất và năng lực, cũng như giao cho họ những công việc thật sự khó khăn đế rèn luyện, thử thách và kiểm chứng sự gắn bó của họ với quần chúng nhân dân, sự tuyệt đối trung thành của họ đối với sự nghiệp cách mạng của đảng.


Mặt khác, V.I. Lênin luôn để nghị phải "trí tuệ hóa" đảng, nhất là trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân - những người mới bước ra từ chiến tranh, chưa có nhiều kinh nghiệm về tổ chức, quản lý công tác xây dựng, phát triển kinh tế văn hóa, xã hội. Bởi lẽ, có được cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn là một trong những phương sách tốt để nâng cao vai trò và uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhưng nếu trong đảng chỉ có nhiều người nhiệt tình cách mạng mà thiếu tri thức khoa học, văn hóa thấp thì đó là một nguy cơ làm suy yếu đảng từ bên trong. Nói cách khác, đảng thiếu đội ngũ cán bộ tốt thì sự nghiệp cách mạng sẽ gặp vô vàn khó khăn, thậm chí sẽ không thể thành công.


Do vậy, trong công tác cán bộ, nhất là việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ chủ chốt phải nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có lòng nhân hậu, có bản lĩnh chính trị thật sự kiên định, vững vàng, có tri thức khoa học...; tức là có đủ đức, có đủ tài để giao những trọng trách đặc biệt quan trọng mà đảng và nhân dân tin cậy, phó thác.


Nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo luận thuyết của V.I. Lênin về xây dựng đảng mácxít kiểu mới trong bôi cảnh tình hình hiện nay ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam; đặc biệt là đối với việc nghiên cứu, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; suy ngẫm về những điều V.I. Lênin căn dặn đối với việc xây dựng đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân, thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những di huấn của V.I. Lênin về xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Đó là những bài học kinh nghiệm quý báu đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.


Kể từ sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực, chúng ta đang khẩn trương chuẩn bị cho đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ XII của Đảng thành công, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội khóa XIV, trong các đợt sinh hoạt chính trị này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đều sôi nổi thảo luận các vấn đề quốc kế, dân sinh; đặc biệt có nhiều nội dung liên quan đến con đường đi tới, vận mệnh quốc gia, dân tộc, đến Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội ta; hai trong các vấn đề đó là nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các thế lực thù địch đang cố tình sử dụng chiến lược "diễn biến hòa bình", chống phá ta quyết liệt cả hai vấn đề nêu trên. Điều đó cũng có nghĩa là chúng đã và đang run sợ trước sức mạnh đoàn kết, thống nhất của nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; niềm tin và sự lựa chọn đúng đắn con đường đi tới của chúng ta.


Hãy vững tin vào mục tiêu, lý tưởng, con đường đã lựa chọn; tuyệt đối không thể mắc mưu kẻ thù, không để rối loạn, sai lầm về đường lối chính trị, kiên quyết đập tan mọi mưu đồ gây rối, phá vỡ sự thống nhất nền tảng tư tưởng trong Đảng, Nhà nước và trong xã hội ta. Sự nghiệp của chúng ta do chúng ta quyết định, không có thể lực thù địch nào có thể cản bước, ngăn đường. Kiên định và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng là lòng tin, niềm tự hào và trách nhiệm thiêng liêng của mỗi cán bộ, đảng viên, của mỗi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị và ý nghĩa những luận điểm của V.I. Lênin đối với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta hiện nay, nhất là cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, luôn luôn xứng đáng là một đảng "đạo đức", một đảng "văn minh"; là nhân tố lãnh đạo đóng vai trò quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bôi cảnh tình hình mới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #23 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2022, 12:36:32 pm »

VI- SẼ MẤT PHƯƠNG HƯỚNG CÁCH MẠNG NẾU COI THƯỜNG THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Thế giới ngày nay đang diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc, đã và đang bị chi phối bởi xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức và nó đang diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, ngoại giao và quốc phòng, an ninh, v.v... Trong bối cảnh biến động khôn lường, đặc biệt phức tạp ấy, vai trò của triết học Mác - Lênin không hề bị suy giảm, mà trái lại, ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò nhận thức và cải tạo thế giới to lớn của mình. Vì vậy, tất cả các quốc gia, dân tộc muốn tồn tại và phát triển không thể không tính đến những thời cơ, vận hội và những thách thức to lớn do toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức đem lại. Hơn thế nữa, để tồn tại, phát triển và phát triển ổn định, bền vững; không bị hòa tan, không bị chệch hướng trước xu thế toàn cầu hóa, tất cả các quốc gia, dân tộc; trong đó có Việt Nam, cần phải phát triển khoa học và công nghệ hiện đại, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần đây nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Muốn vậy, triết học phải góp phần giải đáp các vấn đề về phát huy nhân tố con người, khơi dậy tiềm năng vô tận của họ; coi đó là một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa quyết định thành công trên con đường xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Triết học Mác - Lênin là khoa học về thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, không thể đứng ngoài cuộc mà phải góp phần tích cực hóa nhân tố con người; nghiên cứu và kịp thời cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ tốt hơn việc tham mưu, xây dựng đường lối, xác định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có. Trên cơ sở đó, triết học nước ta cần có những nghiên cứu hết sức cơ bản để vạch ra những định hướng lớn mang tầm chiến lược nhằm phát triển đất nước đúng định hướng xã hội chủ nghĩa với những bước đi thích hợp cho mỗi giai đoạn, thời kỳ, phù hợp với quy luật khách quan; bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững chứ không phải phát triển bằng mọi giá.


Trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, bộ mặt thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng, đang vận động, biến đổi từng ngày. Nghiên cứu và giảng triết học ở nước ta chưa bao giờ lại phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn như vậy. Xu hướng toàn cầu hóa, trong đó có toàn cầu hóa về văn hóa, giáo dục và đào tạo đang diễn ra gay gắt, buộc các cấp có thẩm quyền và cả đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy triết học phải xem xét, rà soát lại tổng thể mọi vấn đề từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, tuyên truyền, phổ biến tri thức triết học đến chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giảng dạy, biên soạn giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học môn triết học theo phương pháp truyền thống hay hiện đại để đổi mới cho phù hợp, đạt hiệu quả. Trong thời điểm mang tính chất bước ngoặc hiện nay, đổi mới chương trình, nội dung nghiên cứu, phương pháp giảng dạy triết học là một tất yếu khách quan, song đổi mới như thế nào, đổi mới cái gì, rất cần phải cân nhắc cẩn trọng và có những quyết định sáng suốt, chính xác để không bị chệch hướng chính trị, không xa rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối không để mắc mưu "diễn biến hòa bình". Trong quá trình đổi mới, cần khẳng định rõ lập trường, quan điểm có tính nguyên tắc: triết học Mác - Lênin là hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, là thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Tính đảng của triết học phải gắn chặt với tính khoa học. Đó là nền tảng vững chắc để chúng ta không rơi vào phương pháp tư duy siêu hình, chủ quan, duy ý chí; không lầm đường, lạc lôi bởi bị "lây nhiễm" quan điểm duy tâm, tôn giáo.


Vì vậy, sứ mệnh thiêng liêng của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy triết học ở nước ta là chú trọng nghiên cứu, tiếp thu "tinh hoa văn hóa, triết học nhân loại" một cách có hệ thống để vận dụng triết học vào thực tiễn cuộc sống đương đại; đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi trào lưu, quan điểm sai trái, phản động, phản khoa học; bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là phép biện chứng duy vật vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức hiện nay. Qua đó, vạch ra được những vấn đề có tính quy luật của sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam trong thế giới đương đại, dự báo chính xác xu hướng vận động và các nhân tố tác động, đề xuất được các giải pháp khả thi để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.


Trình độ tư duy thấp kém, tư duy giáo điều hoặc sai lầm dưới các dạng khác nhau đều không thể thúc đẩy sự phát triển, trái lại, còn kìm hãm, cản trở sự phát triển của tât cả các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội. Vì thế, ngay từ năm 1878, Ph. Ăngghen đã nhắc nhở chúng ta rằng, "một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận"1 (C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.489, 487). "Nhưng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà thôi. Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước"2 (C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.489, 487). Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng theo cách nói của một số người; song, cần nhận thức rằng, trong thế giới gọi là phẳng ấy, đã và đang có không ít những chỗ lồi, lõm rất khác nhau, chịu sự tác động gay gắt của toàn cầu hóa, của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nếu vẫn cứ tiếp tục lối mòn của phương pháp tư duy lạc hậu, áp đặt chủ quan, duy ý chí hoặc siêu hình; tức là coi thường phép biện chứng duy vật thì điều đó cũng đồng nghĩa là chúng ta "dẫm chân tại chỗ", "tự trói buộc mình", không thể bàn chuyện vượt lên phía trước; chúng ta sẽ tụt hậu xa hơn. Tình trạng đồng nhất môn triết học với môn giáo dục chính trị đã được khắc phục ít nhiều trong những năm đổi mới đất nước và nó đã đạt được những kết quả nhất định, nhất là sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII của Đảng về đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.


Tuy nhiên, thời gian gần đây, căn bệnh "coi thường triết học" lại có biểu hiện tái phát và có xu hướng nặng nề hơn trước. Điều đáng lo ngại là người ta đã từng bước loại bỏ triết học với tư cách là hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đến mức "coi thường" nó. Việc cắt xén, thu gọn nội dung, giảm đến mức tối đa số giờ lên lớp... đến mức biến triết học Mác - Lênin thành những nguyên lý cứng nhắc, khó hiểu, chẳng có cội nguồn, gốc rễ đã làm cho thế hệ trẻ và không ít người, trên thực tế, đã hiểu không đúng, không đầy đủ về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng lý luận và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.


Việc "coi thường" triết học đã được Ph. Ăngghen cảnh báo rằng: Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng, họ thoát ra khỏi triết học bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó. Nhưng vì không có tư duy thì không thể tiến lên một bước nào, và muốn tư duy thì họ cần có những phạm trù lôgíc... Vì vậy, những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là nô lệ của những tàn tích thô tục hóa, tồi tệ nhất của những triết học tồi tệ nhất. Cho nên, dù ai có làm gì đi chăng nữa thì họ cũng vẫn bị triết học chi phối. Đối với chúng ta, sống trong một thế giới phẳng đầy biến động khôn lường như hiện nay, chúng ta không chỉ cần có tri thức tổng hợp liên ngành, đa ngành mà điều quan trọng hơn là phải biết lựa chọn những tri thức nào cho phù hợp với đời sống đương đại. Chìa khóa để mở con đường đi tới là phải nắm vững và vận dụng sáng tạo phương pháp tư duy biện chứng duy vật. Vì thế, biết phê phán, biết xác định giá trị, dám nghi ngờ, dám tìm tòi, sáng tạo để rút ra chân lý, có phát kiến mới, thiết thực, hiệu quả thật sự là điều cuộc sống đòi hỏi, cần thiết. Muốn vậy, mỗi người không có cách nào khác là nắm vững chắc tri thức triết học, đặc biệt là lịch sử triết học mácxít và phép biện chứng duy vật - phương pháp nhận thức, tư duy thật sự khoa học, cách mạng làm hành trang, vốn liếng để phân tích, luận giải đúng đắn bản chất mọi vấn đề phát sinh và cải tạo thực tiễn đạt hiệu quả; tránh được những sai lầm đáng tiếc.


Thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và những thành tựu mà chúng ta đạt được 30 năm qua đã chỉ ra rằng: xây dựng và phát triển nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp là làm theo sự áp đặt chủ quan, duy ý chí, là bất chấp quy luật khách quan, không phù hợp với thực tiễn. Những sai lầm đó có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ phương pháp tư duy siêu hình hoặc "lây nhiễm nặng" quan điểm duy tâm, tôn giáo. Điều đó cũng có nghĩa là đã mắc bệnh coi thường, nhận thức chưa đúng, chưa trúng và vận dụng sai lầm các nguyên lý, quy luật của phép biện chứng duy vật nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #24 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2022, 12:37:22 pm »

Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, cả C. Mác và V.I. Lênin đều khẳng định rằng, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng, trong đó, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất. Thế nhưng, do nhận thức chưa đầy đủ quy luật này, lại rơi vào chủ quan, duy ý chí, nóng vội, mong muốn có ngay chủ nghĩa xã hội; chúng ta đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi quyết định đưa quan hệ sản xuất đi trước một bước để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.


Việc làm đó là hoàn toàn trái với quan điểm của C. Mác và V.I. Lênin, là làm cho quan hệ sản xuất "đi trước" không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sai lầm đó đã được Đại hội VI của Đảng phê phán nghiêm khắc. Đồng thời, Đại hội cũng đưa ra kết luận mang tính triết học sâu sắc "phải xuất phát từ hiện thực khách quan; tôn trọng quy luật khách quan". Nhờ đó, chúng ta đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Đó là cơ sở để chúng ta xây dựng lại quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết, quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


Rõ ràng là, thế giới quan và phương pháp luận triết học đã và đang đóng vai trò tích cực trong việc phê phán, bác bỏ phương pháp tư duy siêu hình, quan điểm duy tâm, tôn giáo; đưa tinh thần của phép biện chứng duy vật vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thành tựu mà chúng ta giành được qua gần 30 năm đổi mới toàn diện đất nước là một minh chứng đầy thuyết phục, khẳng định niềm tin vào lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.


Trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, thế giới ngày nay ngày càng trở nên phẳng hơn, song cũng lồi lõm hơn. Đó là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Tri thức khoa học đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp như điều C. Mác đã dự báo trước đây đã trở thành hiện thực. Thời cơ, vận hội đã và đang mở ra cho mọi quốc gia, dân tộc đi tới, phát triển. Tuy nhiên, làm gì và làm như thế nào để nắm bắt và tận dụng thật hiệu quả thời cơ, vận hội đưa đến và hạn chế những tác động tiêu cực mà nó đưa lại là hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, nắm bắt và vận dụng sáng tạo thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận biện chứng duy vật mácxít của chúng ta.


Sống trong một bối cảnh thế giới sôi động và phức tạp như vậy, chúng ta cần phải có một thế giới quan, phương pháp luận triết học chân chính dẫn đường với một triết lý nhân sinh đúng đắn, nhân văn gợi mở, giúp chúng ta vạch đường đi tới. Một triết học như vậy không thể nào khác là triết học Mác - Lênin, khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Về điều này, Giắccơ Đêriđa, nhà triết học đương đại nổi tiếng người Pháp, trong tác phẩm Những bóng ma của Mác đã nhận định rằng, "tất cả mọi người trên toàn trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa của Mác và chủ nghĩa Mác với một mức độ nhất định...". Và Giắccơ Đêriđa khẳng định: "luôn luôn sẽ là một sai lầm, nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận nhũng tác phẩm của Mác. Đó sẽ càng ngày càng là một sai lầm, một sự thiếu tránh nhiệm về mặt lý luận, triết học và chính trị... Sẽ không có tương lai khi không có trách nhiệm đó. Không có tương lai mà lại không có Mác. Nêu không có ký ức về Mác và không có di sản của Mác".


Từ những vấn đề nêu trên, có thể khẳng định rằng, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu thiếu sự dẫn đường của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hoặc coi thường tri thức triết học nói chung, triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, sẽ chẳng mang lại điều gì tốt đẹp nếu những sai lầm cũ không được phá bỏ hoặc chậm được khắc phục. Bởi lẽ, triết học là thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, là công cụ nhận thức vĩ đại để chúng ta sử dụng vào việc khám phá, chinh phục và cải tạo thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta cần đổi mới nhận thức và phương pháp tư duy truyền thông, có cách nhìn nhận và giải quyết những mâu thuẫn của thời đại vốn đã bị giáo điều hóa, một cách thật sự khách quan, toàn diện, cụ thể, lịch sử và phát triển đế đúc kết, khái quát, xây dựng lý luận mới, tư duy mới và giải quyết thấu đáo mọi vấn đề do toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức đặt ra theo một triết lý nhân sinh mới, nhân văn: hướng đến sự phát triển bền vững của cả cộng đồng nhân loại trên cơ sở phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc Việt Nam.


Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu là những vấn đề mang tính toàn cầu hóa của thế giới đương đại, bao hàm sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và sự phát triển bền vững của cả cộng đồng nhân loại. Đó là cách tốt nhất để triết học nước ta không đứng ngoài cuộc những vấn đề toàn cầu, đặc biệt là những vấn đề về tính tất yếu khách quan, bản chất, đặc điểm, vai trò, thực trạng tác động, nguyên nhân, các yêu cầu và đề xuất các giải pháp phát huy mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực do toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế gây ra. Hướng vào nghiên cứu và giải quyết những vấn đề do toàn cầu hóa đặt ra, xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học đúng đắn về toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, triết học sẽ giúp cộng đồng nhân loại nói chung, nhân dân ta nói riêng, nhận thức sâu sắc hơn về vị thế làm chủ thế giới, làm chủ nhận thức, cải tạo và sáng tạo thế giới của mình trên cơ sở làm chủ tồn tại xã hội và làm chủ chính bản thân mình. Không thể có sự phát triển bền vững cộng đồng nhân loại trong kỷ nguyên toàn cầu hóa nếu không có sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và ngược lại.


Đối với chúng ta, nhận thức đúng và giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn mà công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đặt ra trong bối cảnh tình hình hiện nay phải được coi là một trong những định hướng chủ đạo, nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Chỉ có làm như vậy, triết học Mác - Lênin mới hoàn thành xuất sắc chức năng, vai trò thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho nhận thức và cải tạo thực tiễn; đồng thời, làm tốt các vai trò chức năng vốn có: chuẩn mực, phê phán, định hướng, tiên đoán khoa học, tổng hợp tri thức... của mình. Đó cũng là con đường cần phải đi tới của triết học Mác - Lênin trong kỷ nguyên toàn cầu hóa: đem lại cách tiếp cận phức hợp, liên ngành để nhận thức sâu sắc bản chất, xu hướng vận động, phát triển của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế phát triển kinh tế tri thức; từ đó mà có những luận chứng mới, sâu sắc về mặt lý luận, giúp cho Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng từ trung ương đến cơ sở hoạch định đúng đắn đường lối, chiến lược, sách lược phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, đưa đất nước phát triển đúng định hướng, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra. Sai lầm trong thực tiễn là rất đáng sợ, nhưng sai lầm trong nhận thức và sự ngộ nhận mình luôn luôn đúng, trong khi thực tiễn hoàn toàn không phải là như vậy còn nguy hiểm, đáng sợ hơn nhiều. Cách tốt nhất để mỗi người chúng ta không mắc phải sai lầm là nắm vững tri thức khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là phép biện chứng duy vật mácxít. Đây là chiếc chìa khóa mở con đường đưa chúng ta tự tin bước vào thế giới của kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức và nó cũng là bí quyết đưa chúng ta đi đến mọi thành công.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2022, 08:27:08 pm »

Phần thứ hai
THÚC ĐẨY "TỰ DIỄN BlẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" - CHIÊU TRÒ MỚI CỦA "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CHỐNG PHÁ VIỆT NAM


I- NHỮNG NƠI "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" ĐI QUA VÀ NỖI ĐAU ĐỂ LẠI

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ đã đẩy thế giới vào cuộc "chạy đua vũ trang" và "chiến tranh lạnh". Đồng hành cùng với hai cuộc chiến vừa "công khai" vừa "lặng lẽ, âm thầm" nhưng vô cùng tàn khốc, quyết liệt nêu trên, "diễn biến hòa bình" với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chủ mưu nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, dập tắt phong trào độc lập dân tộc mà không cần chiến tranh đã được triển khai thực hiện.


Với quá trình hình thành và phát triển khá phức tạp, "diễn biến hòa bình" đã và đang được các thế lực thù địch bổ sung, hoàn thiện và triệt để sử dụng để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, dập tắt phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Với mục tiêu đã xác định, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bước đầu đã đạt được những thành công trong việc đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu; làm rối ren, phức tạp hóa tình hình kinh tế chính trị, xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Sự nguy hiểm và tác hại của nó đã và đang khiến hàng triệu người sửng sốt, lo ngại và chính nó đang đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá, nhận thức rõ hơn bản chất, âm mưu, thủ đoạn và tác hại của nó để chủ động đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" ở nước ta hiện nay.


Có thể khái lược sự xuất hiện của chiến lược "diễn biến hòa bình" trên các khía cạnh sau: Năm 1953, F. Đalét - Ngoại trưởng Mỹ cho rằng, nước Mỹ có đủ sức mạnh để thực hiện cuộc "giải phóng" nhân loại khỏi chế độ cộng sản mà không cần chiến tranh. Phương cách mà ông ta đưa ra là dùng "biện pháp hòa bình", "phi vũ trang", đánh thẳng vào các Đảng Cộng sản, gây mâu thuẫn từ sự chia rẽ nội bộ Đảng và Nhà nước, sự phân ly giữa người dân và chính quyền các cấp; gây "tự diễn biến" trong nội bộ. Bằng cách này, F. Đalét khẳng định: Mỹ và phương Tây sẽ chiến thắng chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh.


Nhấn mạnh điều này, F. Đalét đã xuất phát từ quan điểm của phép biện chứng duy vật mácxít, cho rằng trong thế giới, chẳng có cái gì là trường tồn, bất biến mà luôn vận động, biến đổi không ngừng. Vì vậy, ông ta khẳng định: sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội không phải là vĩnh hằng và nó có thể được thay đổi nếu các nước Tây Âu tạo ra được sự "đột phá" trong cách hành xử với "Liên Xô cộng sản và các nước theo đuôi Liên Xô".


Một trong những chiêu thức mang ý nghĩa quyết định việc giành chiến thắng chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh là Mỹ và phương Tây cần đẩy mạnh đầu tư, phát triển kinh tế "đổ tiền của, đồng đôla" vào các nước xã hội chủ nghĩa đang "muốn có nhiều tiền, vốn, khoa học, công nghệ và tự do, dân chủ"; tức là Mỹ và phương Tây cần phải làm gì đó để "hé tấm màn sắt" ở các nước xã hội chủ nghĩa, sao cho các "giá trị của phương Tây có cách lọt vào trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa" thì ngay lập tức, người dân ở các nước này sẽ chào đón họ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để đi theo các nước phương Tây, vì lúc đó, người dân sẽ thấy rõ giá trị của tự do và cuộc sống tốt đẹp ở các nước phát triển như một sự "cứu sinh", đem lại cuộc sống đích thực cho họ. Muốn vậy, F. Đalét đề xuất phương Tây cần phải đẩy mạnh phong tỏa, bao vây, cấm vận về kinh tế đối với các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô; làm cho các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng kiệt quệ, nhân dân ở các nước này ngày càng đói khổ, lâm vào tình cảnh túng quẫn, cùng đường thì đến lúc đó, họ càng chán ghét chế độ, căm phẫn Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa; chính điều đó sẽ làm cho họ sớm rũ bỏ chủ nghĩa cộng sản, tự tìm đến Tây Âu.


Về điều này, Kennơđi - Tổng thống Mỹ thời đó đã lắng nghe, tiếp nhận và khẳng định rằng: "diễn biến hòa bình" là một phương án tốt, song nó cần có biện pháp cụ thể hơn là chủ trương. Kennơđi đã chỉ đạo CIA và hối thúc các quan chức Mỹ mở rộng thương mại, tăng tiếp xúc, trao đổi kinh tế, văn hóa, thông tin, khoa học, giáo dục,... với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, làm cho các giá trị Mỹ xâm nhập ngày càng sâu rộng vào các nước này. Theo Kennơđi, từng bước một, các giá trị văn hóa phương Tây sẽ xâm nhập, thẩm thấu ngày càng sâu rộng vào các nước xã hội chủ nghĩa và tất yếu nó sẽ "gặm nhấm", từng bước làm tha hóa, biến chất chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu. Với nhiều chiêu bài, sách lược khác nhau, Mỹ và phương Tây đã chính thức đưa chiến lược "diễn biến hòa bình" thành "thượng sách" để chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, trọng điểm là Liên Xô - thành trì hệ thống xã hội chủ nghĩa, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga.


Mũi nhọn của chiến lược "diễn biến hòa bình" là từng bước làm xuất hiện "những nhân tố mới lạ, xa dần với các giá trị chuẩn mực của chủ nghĩa cộng sản", tiến tới làm thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Cuối cùng sẽ đánh sập hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Một trong những khởi phát của chiến lược "diễn biến hòa bình" là nhằm vào mắt khâu yếu nhất của sợi dây chuyền dẫn của chủ nghĩa xã hội, đó là Hunggari (năm 1956).


Hunggari là nước đầu tiên bị Mỹ và phương Tây thí điểm để áp dụng "diễn biến hòa bình" với các biện pháp can thiệp ngầm, sâu vào nội bộ Hunggari bằng kịch bản "không đánh mà thắng"; qua đó rút kinh nghiệm, bổ sung và hoàn thiện chiến lược này để áp dụng rộng rãi vào các nước xã hội chủ nghĩa cả ở phương Tây lẫn phương Đông. Mỹ và phương Tây đã cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử truyền thông và chọn khâu then chốt nhất là đánh vào lòng người, dùng biện pháp gây ảnh hưởng tâm lý của người dân Hunggari để lôi kéo họ đứng về phía Mỹ và phương Tây, xa rời chế độ xã hội chủ nghĩa.


Thất bại trong việc lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Hunggari năm 1956, song Mỹ và phương Tây vẫn không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" ở nước này. Lợi dụng làn sóng cải cách, mở cửa giữa những năm 80 của thế kỷ XX, các chuyên gia người Mỹ đã dùng mọi biện pháp tâm lý để kích động người dân Hunggari khuyến khích phát triển tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, từng bước làm cho người dân Hunggari quay lưng lại với Liên Xô; hướng về phương Tây, kết thân với Mỹ, nuôi dưỡng hy vọng được sống sung sướng. Ngón đòn nguy hiếm nhất mà Mỹ và phương Tây đã áp dụng ở Hunggari là thực hiện chiến dịch "đánh tỉa" nhằm thẳng vào giới trẻ "năng động nhất, nhạy cảm nhất, dễ sai khiến nhất". Trên cơ sở kích động tâm lý sùng bái hàng ngoại, nhạc ngoại, văn hóa ngoại, giáo dục - đào tạo ngoại..., tiến tới tiêm nhiễm tư tưởng, văn hóa phương Tây; từ đó tạo ra sự bất mãn với chế độ xã hội chủ nghĩa, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, mất niềm tin của sinh viên, thanh niên với Đảng Lao động Hunggari (tháng 11-1956, đổi tên thành Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari).
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2022, 08:28:16 pm »

Những động thái nêu trên diễn ra rất nhanh và trên thực tế, Mỹ và phương Tây đã chiếm được sự ủng hộ, đồng tình của phần lớn sinh viên, thanh niên Hunggari, nhất là các tổ chức của hai lực lượng này. Vì vậy, các cuộc biểu tình, tuần hành kéo dài của thanh niên, sinh viên đã "lây nhiễm" sang các tầng lớp nhân dân khác trong xã hội, làm cho hầu hết các thành phố lớn ở Hunggari hỗn loạn, trật tự, kỷ cương, sinh hoạt xã hội bị rối loạn; nhiều hoạt động khác như sản xuất, kinh doanh, xuất bản, truyền thông..., Chính phủ không kiếm soát được. Điều này đã gây áp lực vô cùng lớn cho Đảng và Nhà nước Hunggari, buộc Đảng, Nhà nước Hunggari phải thỏa hiệp, nhượng bộ phe đối lập, tiến hành sửa đổi hiến pháp và cuối cùng dẫn đến thay đổi đường lối, kết cục là chế độ xã hội chủ nghĩa của Hunggari tan rã và sụp đổ.


Cần phải nói ngay rằng, trước tình hình hỗn loạn của xã hội, nội bộ Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari phải đoàn kết, nhất trí cao nhưng ngược lại, nội bộ Đảng lại bất đồng, mâu thuẫn sâu sắc. Một bộ phận lớn cán bộ, đảng viên đã "tự diễn biến" rời khỏi hàng ngũ của Đảng. Sự suy kiệt của nền kinh tế rối loạn chính trị đã dẫn đến sự khủng hoảng lãnh đạo trong nội bộ Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari, buộc Đảng liên tục phải nhượng bộ phe đối lập nhất trí thông qua đường lối, chấp nhận chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


Tất cả điều đó đã mở đường cho phe đối lập trỗi dậy, nắm giữ các vị trí then chốt và cuối cùng giành lấy chính quyền, thực hiện xong mưu đồ xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Hunggari. Rõ ràng, Mỹ và phương Tây đã thí điểm thành công phương thức chiến thắng chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh, dùng "diễn biến hòa bình" như một phương án tối ưu để áp dụng vào việc đánh đổ chế độ xã hội ở các nước khác, dù rằng, chúng có "cải tiến", "cách tân", làm mới chiến lược này cho phù hợp với đặc điểm tình hình mỗi nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với phong tục tập quán và bản tính người dân bản địa.


Cùng thời gian ây, sự lây nhiễm của "diễn biến hòa bình" đã tràn vào Ba Lan, làm cho không ít đảng viên của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan thừa nhận, họ đã được đổi đời, như được "hồi sinh", "lột xác" nhờ tiếp nhận "luồng gió mới, mát lành". Không ai khác, chính những đảng viên Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan đã tự đốt thẻ đảng, tự "sám hối" là cả đời mình do mắc sai lầm đi theo Đảng Cộng sản và chính bộ phận "thay lòng đổi dạ" này đã kịch liệt công kích, phản kháng, phủ nhận tính hợp pháp của quân đội Liên Xô ở Ba Lan, dù trong sâu thẳm tâm hồn, họ vẫn biết nhờ có quân đội Liên Xô, đất nước Ba Lan mới thoát khỏi thảm họa diệt vong do phát xít Đức gây ra. Nhưng ngọn lửa hận thủ đã làm họ mờ mắt, họ đã công khai phủ nhận mối quan hệ Ba Lan - Liên Xô, làm cho sự hoài nghi Liên Xô từ những người cộng sản đã ảnh hưởng sâu sắc đến lòng tin của người dân trong xã hội Ba Lan lúc bây giờ.


Đây là kẽ hở lớn nhất do nội bộ Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan tạo ra và nó đã được Mỹ và phương Tây chớp thời cơ, triệt để lợi dụng như một ngón đòn "độc chiêu" để thực hiện "diễn biến hòa bình" ở nước này. So với Hunggari, Mỹ và phương Tây đã "khôn khéo" khoét sâu vào điểm yếu nhất của xã hội Ba Lan thời đó là nước này đi lên chủ nghĩa xã hội từ nền nông nghiệp kém phát triển; những người đóng vai trò lãnh đạo ở trong Đảng và Nhà nước Ba Lan chủ yếu đều xuất thân từ nông dân.


Mỹ đã tuyên truyền, kích động, lôi kéo những cán bộ cao cấp và tầng lớp trí thức, công nhân xuất thân từ nông dân để thành lập Công đoàn Đoàn kết, một lực lượng đối trọng với Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan. Nội dung chủ yếu trong màn kịch "diễn biến hòa bình" ở Ba Lan là Mỹ và phương Tây luôn rùm beng tuyên truyền về mức sống quá thấp trong xã hội, làm cho người dân Ba Lan so sánh và nhìn thấy sự chênh lệch về mức sống của người dân Ba Lan với người dân phương Tây; qua đó làm cho họ chán nản chế độ xã hội chủ nghĩa và cho rằng, chính chủ nghĩa xã hội là nguyên nhân làm cho người dân Ba Lan đói khổ, đất nước tụt hậu, không thể phát triển. Mỹ và phương Tây đã hô trợ các lãnh tụ của Công đoàn Đoàn kết và nhà thờ, phát động quần chúng xuống đường biểu tình, gây bạo loạn từ thâp tới cao, làm cho sản xuất, kinh doanh đình đốn, xã hội rối loạn, qua đó gây áp lực với Đảng, Nhà nước, buộc Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan phải nhượng bộ, thỏa hiệp, bộ máy nhà nước mất khả năng điều hành, quản lý xã hội.


Thêm vào đó, Mỹ và phương Tây đã tiêm nhiễm tư tưởng "chia rẽ" vào thanh niên, sinh viên sự "xâm lược của Liên Xô", đòi Ba Lan tách khỏi "sự thống trị của Liên Xô". Với các yêu sách đề ra, vào năm 1988, các cuộc đình công kéo dài ở Ba Lan đã diễn ra, buộc Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan phải ngồi vào "bàn tròn" đàm phán với phe đối lập. Kết cục của cuộc gặp "bàn tròn" ấy là sự buông xuôi của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan, để cho các phe đối lập, đảng phái tranh giành quyền lực, lũng loạn trong Đảng, trong Quốc hội và Chính phủ. Việc Công đoàn Đoàn kết chiếm 99% số ghế ở Thượng viện đã đánh dấu sự thất bại cay đắng hoàn toàn của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan.


Tình hình ở Tiệp Khắc cũng diễn ra đúng như kịch bản "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch như đã áp dụng ở Hunggari và Ba Lan. Mỹ và phương Tây đã thực thi một cách "êm đẹp" các chiêu bài tranh giành thanh niên và trí thức, lợi dụng sức mạnh của lực lượng này để tạo ra các cuộc biểu tình, gây mâu thuẫn nội bộ và rối loạn xã hội. Việc ầm ĩ tuyên truyền rộng rãi trong xã hội Tiệp Khắc mức sống qua sự so sánh quá chênh lệch giữa chủ nghĩa tư bản và đời sống của người dân ở Tiệp Khắc là một chiêu thức vô cùng hấp dẫn đã đẩy giới trẻ, trí thức ở Tiệp Khắc đi tiên phong trong việc lên tiếng đòi quyền tự do, dân chủ, đòi Chính phủ phải nâng cao mức sống và điều kiện làm việc cho người dân và sinh viên, thanh niên mà lúc ấy, xã hội Tiệp Khắc không thể giải quyết được, đã làm cho xã hội Tiệp Khắc "nóng lên" từng ngày và cuối cùng rơi vào bế tắc, đất nước lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng.


Rõ ràng, việc sử dụng ngón đòn đánh vào tâm lý, thu phục lòng người của Mỹ và phương Tây đã phát huy hết công năng, tác dụng. Phe đối lập ngày càng lớn mạnh nhờ sự hỗ trợ đắc lực của Mỹ và phương Tây. Các cuộc biểu tình dài ngày, gây rối loạn, làm tê liệt các hoạt động xã hội, đã tạo ra áp lực rất lớn, buộc Đảng Cộng sản Tiệp Khắc phải tiến hành cải cách chính trị, cho phép thành lập hàng chục câu lạc bộ chính trị. Chính điều này đã làm cho tình hình chính trị - xã hội ở Tiệp Khắc bị rối loạn, các quan điểm trái ngược nhau trong Đảng đua nhau nảy nở đẩy xã hội Tiệp Khắc đến bờ vực thẳm. Các cuộc xung đột chính trị bắt đầu từ xung đột trong bộ máy lãnh đạo, làm cho Đảng, Nhà nước bị chia rẽ và ngày càng suy yếu.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2022, 08:29:06 pm »

Trước sự phản ứng yếu ớt và không rõ ràng của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, sự quản lý lỏng lẻo, bất lực của bộ máy nhà nước đã làm cho cuộc khủng hoảng trong xã hội Tiệp Khắc ngày càng trở nên trầm trọng. Trước tình cảnh ấy, nội bộ Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lại mất đoàn kết kéo dài; không tìm ra phương pháp hữu hiệu nào để bảo vệ Đảng, Nhà nước trước nguy cơ sụp đổ. Đó là mảnh đất màu mỡ khiến cho các nước phương Tây đẩy nhanh tiến độ thực hiện "diễn biến hòa bình". Cuối năm 1989, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc mất vai trò lãnh đạo và chính phủ mới được thành lập với các thành viên đa số không phải là đảng viên Đảng Cộng sản.


Qua việc phác thảo ba bức tranh nêu trên, có thể thấy một trong những đòn ác hiểm nhất là Mỹ và phương Tây đã chọn và đánh trúng, đánh đúng vào điểm hiểm yếu nhất của các nước xã hội chủ nghĩa là sự non kém của bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản và nhà nước ở các nước vừa nêu trên. Giá như các Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu sáng suốt, tinh táo hơn thì họ đã không mắc mưu "diễn biến hòa bình". Chính điều đó đã khẳng định rằng, trong thời đại hiện nay, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa đều phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc mácxít trong lãnh đạo nhà nước và xã hội, phải nắm chắc lực lượng vũ trang và pháp luật; thật sự đoàn kết, thống nhất, ra sức chăm lo phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tôn trọng nhân dân, lấy dân làm gốc; quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ... Tất cả những điều đó nếu được làm tốt thì "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch dù có trăm ngàn phương sách, lắm trò "ảo thuật" cũng không thể gây hại cho Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa.


Xem lại kịch bản "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng ở Hunggari, Ba Lan và Tiệp Khắc và triệt để áp dụng nó để xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1989 có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn điều nhận định trên.


Nét mới trong triển khai thực hiện "diễn biến hòa bình" ở Cộng hòa Dân chủ Đức là Mỹ và phương Tây đã tăng cường hối thúc "tự diễn biến" trong lòng Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức thông qua việc lợi dụng triệt để sự phân hóa trong giới lãnh đạo do mâu thuẫn nội bộ Đảng gây nên; đồng thời, rất quyết liệt trong việc tranh giành và sử dụng lực lượng thanh niên để kích động tính dân tộc Đức nhằm đánh thẳng vào các tổ chức và người đứng đầu Đảng, Nhà nước; tùng bước chặt đứt mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân, làm cho sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào đường lối của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước tăng vọt trong dân chúng.


Mặt khác, các thế lực thù địch đã rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện "diễn biến hòa bình" ở Hunggari, Ba Lan, Tiệp Khắc để đẩy mạnh việc chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước với Liên Xô, làm cho nội bộ Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức ngày càng mâu thuẫn gay gắt với nhau và với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, dẫn đến mất đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, kích động, cổ súy cho các lực lượng chống đối Đảng, Nhà nước dưới các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tạo điều kiện cho người dân, chủ yếu là thanh niên, trí thức rời bỏ đất nước chạy sang Cộng hòa Liên bang Đức. Để làm việc đó, Mỹ và phương Tây, nhất là Cộng hòa Liên bang Đức đã chi những khoản tiền kếch xù để hỗ trợ cho các phe phái đối lập với Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức, nhất là các tổ chức thanh niên, sinh viên để lực lượng này kéo dài biểu tình liên tục, ở nhiều thành phố với quy mô lớn, có sự tham gia của một số tầng lớp nhân dân; gây áp lực ngày càng tăng cho Đảng và bộ máy nhà nước, dẫn đến sự hỗn loạn trong lòng xã hội Cộng hòa Dân chủ Đức, khiên hầu hết các nhà máy, xí nghiệp, trường học ở Cộng hòa Dân chủ Đức phải đóng cửa.


Tình hình chính trị - xã hội diễn biến ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh ấy, Ban lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức đã tỏ ra hết sức lúng túng, bị động, không thể đưa ra được chủ trương, giải pháp phù hợp để giải quyết bất đồng và những tình huông chính trị, quân sự phát sinh phức tạp. Tất cả họ đều trông chờ vào sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô để ổn định tình hình, trong khi đó, bản thân Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức mới, tự mình chưa thể khắc phục được.


Đầu tháng 10-1989, nhân dịp tổ chức kỷ niệm ngày Quốc khánh lần thứ 40 của Cộng hòa Dân chủ Đức, tại 15 tỉnh, thành phố của nước này đã đồng loạt diễn ra các cuộc biểu tình chống Đảng, Nhà nước. Nội dung yêu sách của các cuộc biểu tình là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức, đòi thống nhất Cộng hòa Dân chủ Đức vào Cộng hòa Liên bang Đức và đòi thay đổi hiến pháp hiện thời. Trước các cuộc biểu tình ngày càng phức tạp và vô cùng quyết liệt, Ban lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức từng bước nhượng bộ rồi rút lui. Kết cục của những cuộc biểu tình, bạo loạn chính trị là ngày 18-11-1989, Hội nghị Trung ương Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức đã họp và Bộ Chính trị từ chức tập thể. Mười ngày sau đó, cựu Tổng Bí thư Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức Hônếchkơ bị bắt với cáo buộc phản bội Tổ quốc, vi phạm hiến pháp. Đó là cột mốc đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của Cộng hòa Dân chủ Đức, chấm dứt vai trò lãnh đạo của Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức.


Có thể khẳng định rằng, kịch bản "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch từng bước được bổ sung hoàn thiện và đã đạt đến sự thành công bước đầu là xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa ở Cộng hòa Dân chủ Đức, quê hương của C. Mác và Ph. Ăngghen, lãnh tụ của phong trào cộng sản và công  nhân quốc tế.


Tuy nhiên, trong kịch bản thực hiện "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với Liên Xô có những nét riêng, khá độc đáo. Để đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Mỹ và phương Tây hết sức coi trọng việc truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, thực hiện sách lược "mưa dầm thâm lâu", luồn sâu, leo cao, thận trọng từng bước, quyết tâm "hé mở tấm màn sắt" để can thiệp ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao và quốc phòng, an ninh của Liên Xô, thực hiện đánh đổ từ bên trong kết hợp với răn đe sức mạnh quân sự từ bên ngoài, đẩy mạnh chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, thúc đẩy "tự diễn biến" trong nội bộ 15 nước cộng hòa và hệ thống chuyên chính vô sản đã được thiết lập khá vững chắc từ thời V.I. Lênin.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2022, 08:29:59 pm »

Một trong những người có công đưa "diễn biến hòa bình" vào Liên Xô nhanh nhất, đáng kể là Kenan - đại diện lâm thời của Mỹ tại Liên Xô. Ông ta đã nghiên cứu khá kỹ tình hình xã hội Liên Xô và tham mưu cho Nhà Trắng những điều hết sức thiết thực. Theo Kenan, việc áp dụng "diễn biến hòa bình" ở Liên Xô phải khác so với Hunggari, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức vì "tính đặc biệt thống nhất của hệ thống chính trị ở Liên Xô". Ông ta đã khuyên Nhà Trắng không nên nôn nóng, sốt ruột, mà thực hiện chính sách kiềm chế, lâu dài, "nhẫn nhịn" chờ đợi thế hệ cũ mất đi, thế hệ mới bước vào chính trường, lúc đó Mỹ và phương Tây sẽ thúc đẩy "tự diễn biến" trong nội bộ Đảng và Nhà nước để làm tha hóa và biến chất bộ máy lãnh đạo Liên Xô.


Đầu năm 1950, Tổng thống Mỹ hồi đó là Truman đã chủ trương "gieo hạt giống thức tỉnh và hủy diệt chế độ Xôviết" bằng việc "tạo dựng ngọn cờ", xây dựng lực lượng thân cận Mỹ, chờ đợi thời cơ sẽ thay đổi tận gốc xã hội Liên Xô. Phụ họa cho điều này, Brezinski cũng cho rằng, đến năm 2017, khi người Nga kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga thì Quảng trường Đỏ Mátxcơva sẽ biến thành Quảng trường Tự Do.


Đầu năm 1961, sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ, Kennơđi đã tuyên bố, Mỹ cần giữ thái độ cứng rắn với Liên Xô, đó là nguyên tắc, nhưng đồng thời, phải sử dụng một loạt các công cụ linh hoạt, mềm dẻo như "ngoại giao thân thiện", đẩy mạnh viện trợ kinh tế, mở rộng buôn bán, giao lưu với sinh viên, tầng lớp trí thức, các nhà khoa học, báo chí, du lịch nhằm thúc đẩy sự biến đổi hòa bình trước, trong và sau "tấm màn sắt" đầy bí hiểm của Đảng Cộng sản Liên Xô và từng bước biến đổi nhận thức của hàng triệu cựu chiến binh.


Do kiên trì thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 80 của thế kỷ XX, Mỹ và phương Tây đã chớp được thời cơ khi Liên Xô thực hiện cải tổ để đẩy nhanh tiến độ "diễn biến hòa bình" ở nước này. Vào thời điểm đó, nền kinh tế của Liên Xô gặp nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng. Mỹ và phương Tây đã triệt để lợi dụng cái gọi là chính sách công khai, dân chủ của Goócbachốp - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong nhiều nước cộng hòa của Liên bang Xôviết. Vì vậy, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của Liên Xô ngày càng rơi vào tình trạng hỗn loạn, lạm phát, nợ công, khủng hoảng trầm trọng. Trong Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, lực lượng cơ hội, cấp tiến ngày càng chiếm ưu thế và có tiếng nói quyết định trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng. Nhiều ủy viên Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phản lại Đảng Cộng sản. Trong khi đó, kinh tế suy thoái, chính trị rối ren, Mỹ và phương Tây khôn khéo lợi dụng tình thế ấy đã tăng viện trợ kinh tế ép Liên Xô phải cải cách chính trị và chấp nhận cho các quốc gia vùng Ban Tích tách khỏi Liên bang Xôviết.


Ngoài việc sai lầm về đường lối chính trị, Goócbachốp, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã buông lỏng xây dựng lực lượng vũ trang, thải hồi, cho về hưu hàng trăm tướng lĩnh có kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng quân đội; từng bước nhân nhượng vô nguyên tắc với Mỹ trong thương lượng giải trừ vũ khí hạt nhân làm cho sức mạnh quân sự của Liên Xô suy giảm nghiêm trọng; đồng thời, đổi mới công tác giáo dục chính trị trong quân đội Liên Xô theo hướng phương Tây hóa quân đội và công an. Điều đó đã làm cho quân đội Liên Xô mất phương hướng chính trị, không còn sức chiến đấu dù lúc đó, Liên Xô có quân hùng, tướng mạnh, vũ khí tối tân, hiện đại.


Vào tháng 8-1991, Mỹ và phương Tây đã tích cực hỗ trợ những kẻ phản bội trong Đảng Cộng sản Liên Xô lật đổ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, thay vào đó là thiết lập hệ thống chính trị mới theo đường lối tư bản chủ nghĩa, thân phương Tây. Liên bang Xôviết tan vỡ, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ hoàn toàn, các nước cộng hòa vốn là anh em trong đại gia đình Xôviết đã quay lưng, thậm chí một số nước đã chĩa súng bắn vào nhau, gây nên thảm cảnh "nồi da nấu thịt". Tình cảnh xung đột vũ trang đẫm máu ở Ucraina những năm qua đã nói lên điều đó.


Các tác giả của chiến lược "diễn biến hòa bình" đã hí hửng chào đón thắng lợi sau sự kiện chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu nhưng chúng đã phải im lặng khi "diễn biến hòa bình" không áp đặt thành công ở Trung Quốc, một nước chiêm diện tích bằng 1/4 châu Á và 1/4 dân số thế giới. Khác với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, từ năm 1957, Mỹ đã rất thận trọng khi xác định Trung Quốc là một trong những trọng điểm chống phá bằng biện pháp "diễn biến hòa bình". Nét đặc sắc của "diễn biến hòa bình" ở Trung Quốc được các thế lực thù địch vận dụng vô cùng khôn ngoan, xảo quyệt; song lại rất mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo; đó là sử dụng đồng thời nhiều biện pháp để làm tha hóa, biến chất bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó biện pháp tối ưu được chúng xác định là thúc đẩy "tự diễn biến, tự biến chất" do Mỹ và phương Tây chủ mưu, các thế lực phản động trong và ngoài nước trợ giúp. Để đạt được mục tiêu đặt ra, một trong những thủ đoạn nham hiểm được Mỹ và phương Tây áp dụng "khôn ngoan" ở Trung Quốc là thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nhất là quan hệ kinh tế, thương mại; đồng thời, dùng đồng đôla để quyên rũ, gây chia rẽ nội bộ và luồn sâu vào các cơ quan cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội Trung Quốc.


Năm 1989, sự kiện Thiên An Môn bắt đầu khi Hồ Diệu Bang, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (người ủng hộ xu hướng tự do, dân chủ theo phương Tây) qua đời. Những kẻ cầm đầu cuộc bạo loạn Thiên An Môn đứng ra thành lập Hội Sinh viên tự trị để phát động thanh niên, sinh viên chống chính quyền, bắt đầu từ việc tuần hành và nêu yêu sách, yêu cầu Chính phủ đối thoại với sinh viên; qua đó đòi xác lập chế độ dân chủ tư sản theo kiểu phương Tây, đòi sửa đổi hiến pháp, đòi tự do hóa kinh tế, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Vào tháng 5-1989, cuộc bạo loạn chính trị phát triển tới đỉnh điểm thành bạo loạn. Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực đế giải tán biểu tình, kiên quyết châm dứt bạo loạn.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2022, 08:31:14 pm »

Năm 1992, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Mỹ và phương Tây dồn sức, tập trung mọi lực lượng, chĩa mũi nhọn vào Trung Quốc, thực hiện "diễn biến hòa bình" ở nước này với nhiều biện pháp rất thâm độc, trong đó các biện pháp tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo được chúng áp dụng triệt để. Trước tình hình trên, chính quyền Trung Quốc một lần nữa đã thống nhất vẫn kiên quyết dùng vũ lực để giải tán tất cả các cuộc bạo loạn ở Tây Tạng, Bắc Kinh và nhiều thành phố khác.


Vì vậy, âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ của Mỹ và phương Tây đã không thành công. Trong mọi hoàn cảnh, tình huống, Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc đều chủ trương kiên quyết, kiên trì đường lối không nhượng bộ, không thỏa hiệp với bất kỳ lực lượng, phe phái đối lập nào, đồng thời dùng sức mạnh chuyên chính vô sản để đập tan mọi cuộc bạo loạn bằng sức mạnh tổng hợp, sử dụng sức mạnh của quân đội, công an để trấn áp; cấm các phóng viên nước ngoài tiếp cận, đưa tin; kịp thời tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại chủ nghĩa khủng bố, bạo loạn; đồng thời nghiêm túc rút kinh nghiệm sau các cuộc bạo loạn lật đổ do các thế lực thù địch gây ra để triển khai đồng bộ, thống nhất trong toàn quốc.


Đó là điều khác biệt căn bản so với cách làm của các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Vì lẽ đó, "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã không thể thực hiện được ở Trung Quốc. Điều này nói lên rằng, "diễn biến hòa bình" với các âm mưu, thủ đoạn dù có tinh vi, xảo quyệt đến mức nào, song đó chỉ là ý muốn chủ quan mang tính áp đặt của các thế lực thù địch, còn nó có thực hiện được hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào đường lối, chủ trương, chính sách của các Đảng Cộng sản và sự giác ngộ, tinh thần đề cao cảnh giác cách mạng của quần chúng nhân dân và việc nhận thức sự nguy hiểm, tác hại của "diễn biến hòa bình" do các thế lực thù địch gây ra. Từ sự phân tích trên, có hai vấn đề đặt ra đối với việc phòng, chống "diễn biến hòa bình" ở Việt Nam hiện nay mà chúng ta cần học tập, rút kinh nghiệm.


Thứ nhất, tại sao các Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lại mắc mưu "diễn biến hòa bình", lâm vào khủng hoảng trầm trọng, nhân dân mất niềm tin vào Đảng, và tự Đảng Cộng sản đánh mất vai trò lãnh đạo, sự cầm quyền của mình, dẫn đến kết cục bi thảm: Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội; chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt và công sức của hàng trăm triệu người, hàng chục năm vun đắp đã bị đánh cắp, bị sụp đổ. Có thể nhìn nhận vấn đề trên ở các khía cạnh sau:

Một là, do Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Xô vi phạm thô bạo nguyên tắc mácxít - lêninnít, dẫn đến nội bộ đảng, nhà nước và nhân dân bị chia rẽ, mất đoàn kết, thiếu thống nhất, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã bị tha hóa, biến chất. Đó là những điểm yếu chí mạng, dân đến những sai lầm nghiêm trọng trong xác định đường lối, chiến lược, sách lược của đảng. Mặt khác, do biến chất, thoái hóa, nên đảng không thường xuyên chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ của đảng, làm trong sạch, lành mạnh "bộ máy", nội bộ đảng, nhà nước và chính quyền các cấp. Trong nội bộ đảng, nhà nước đã bị tác động mạnh của "diễn biến hòa bình" dẫn đến tự chuyển biến, tự chuyển hóa, làm cho các phe phái nổi lên tranh giành quyển lực. Không ít cán bộ cao cấp của đảng đã phản bội đảng.

Hai là, các Đảng Cộng sản nêu trên đã bị "lây nhiễm" tư tưởng tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây trong cải cách, cải tổ, đã thỏa hiệp, chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong quá trình cải tổ, cải cách đất nước, dẫn đến tình trạng tranh giành quyền lực, đấu đá, xâu xé lẫn nhau, làm suy yếu đảng, đánh mất niềm tin, sự giúp đỡ của nhân dân.

Ba là, các Đảng Cộng sản nêu trên không những không chăm lo xây dựng đất nước, chăm lo phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mà còn mắc mưu "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch, không chăm lo xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh, làm trong sạch các cơ quan bảo vệ luật pháp như thanh tra, kiểm tra, công tố và tòa án.

Bốn là, sự can thiệp ngày càng sâu rộng của Mỹ và phương Tây, nhất là việc tạo dựng "ngọn cờ", hỗ trợ lực lượng đối lập, chống đối trong nước, làm cho các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô gặp không ít khó khăn cả về kinh tế lẫn chính trị, xã hội, dẫn đến khủng hoảng trầm trọng; đảng không thể lãnh đạo nhà nước và xã hội, còn nhà nước không thể kiểm soát đội ngũ công chức và chính quyền nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác.

Năm là, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã lợi dụng triệt để "diễn biến hòa bình" để tập hợp, lôi kéo các phần tử bất mãn với chế độ, xuyên tạc sự thật để nhân dân nghi ngờ, mất niềm tin vào đảng, chống lại đảng, nhà nước; đồng thời, kích động, mua chuộc, lôi kéo một bộ phận không nhỏ nhân dân đứng về phía chúng, gây khó khăn cho đảng, nhà nước. Mặt khác, các Đảng Cộng sản đã coi thường, không chăm lo công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tự mình làm hư hỏng nền tảng tư tưởng của Đảng.


Thứ hai, cần đặt câu hỏi: Tại sao "diễn biến hòa bình" đã không thành công ở Trung Quốc và Cuba? Phải chăng ở hai nước này, các Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa không mắc mưu "diễn biến hòa bình"; đã nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của "diễn biến hòa bình", có đối sách chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" một cách hiệu quả nên không để xảy ra tình trạng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để cho tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây thấm sâu vào quần chúng nhân dân? Có lẽ thực tiên đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" ở các nước này đã trả lời, giải đáp câu hỏi đó.


Chúng ta đều thấy rằng, ở Trung Quốc và Cuba, tuy còn khó khăn về kinh tế, song vượt lên trên mọi khó khăn, thách thức, nội bộ đảng, nhà nước thật sự đoàn kết, thống nhất; đường 101, chủ trương, chính sách, pháp luật đều được triển khai đồng bộ, thống nhất, thực hiện nghiêm minh. Đảng Cộng sản và nhà nước đã đề ra chiến lược phòng, chống "diễn biến hòa bình" một cách phù hợp, thiết thực, hiệu quả; đã xử lý đúng đắn các mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới, ổn định và phát triển, giữa xây dựng và bảo vệ tổ quốc; luôn quan tâm phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng thành quả, lợi ích của công cuộc cải cách, đổi mới; làm cho người dân tin đảng, nhà nước và chế độ, gắn bó và ra sức cùng đảng, nhà nước chăm lo xây dựng chế độ xã hội mới; người dân cảm nhận được chính họ đang làm chủ cuộc sống, vận mệnh của mình.


Hơn thế nữa, đảng, nhà nước luôn bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết trong nội bộ, luôn tăng cường sự lãnh đạo của đảng, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, kịp thời phát hiện, đấu tranh loại bỏ các phần tử cơ hội, biến chất trong tổ chức, đặc biệt, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí rất quyết liệt, không để xảy ra hiện tượng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; không để biểu tình, bãi công kéo dài, gây mâu thuẫn, bất bình trong nhân dân, gây rồi loạn chính trị, xã hội đất nước.


Đảng, nhà nước luôn chăm lo xây dụng quân đội nhân dân, công an nhân dân, luôn kiên trì nguyên tắc đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội nhân dân và công an nhân dân; chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trừ họa từ trước, từ lúc đất nước còn thanh bình, chưa lâm nguy; không để các thế lực phản động tạo dựng ngọn cờ, xây dựng lực lượng để chống đảng, phá hoại nhà nước. Mặt khác, đảng, nhà nước luôn tôn trọng, đề cao vai trò của nhân dân trong công cuộc cải cách, đổi mới; được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm, đồng tình ủng hộ.


Ngoài ra, đảng, nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa nêu trên không để xảy ra "diễn biến hòa bình", không mắc mưu "tự chuyển biến", "tự chuyển hóa", không bị "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang là do thường xuyên thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; chủ động, tích cực sơ kết, rút kinh nghiệm đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" từ thực tiễn đấu tranh trong nước và các nước khác với tinh thẩn cảnh giác cách mạng cao. Đó là những bài học kinh nghiệm quý được đúc rút, khái quát từ thực tiễn nghiên cứu nguyên nhân sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu và sự đứng vững của các nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, Cuba. Và nó có tác dụng rất thiết thực trong chỉ đạo cuộc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" ở Việt Nam hiện nay.


Điệp khúc của "diễn biến hòa bình" do các thế lực thù địch gây ra đối với mỗi nước tuy có những điểm khác nhau, song nhìn tổng thể, nó đều có điểm chung, khá thống nhất là tập trung đánh phá, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang,... Vì vậy, nghiên cứu, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn và các hình thức, biểu hiện mới của "diễn biến hòa bình" đối với từng nước xã hội chủ nghĩa thời gian qua để vận dụng một cách sáng tạo vào cuộc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, xét cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đó là đòi hỏi của cuộc sống, là lương tâm, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM