Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 09 Tháng Hai, 2023, 04:04:34 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguồn sức mạnh và những ký ức không quên  (Đọc 1583 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #30 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:07:51 pm »

NHỚ MÃI ĐÊM 31 THÁNG 8 NĂM 1969


Bùi Trọng Thuỷ


Mười giờ đêm 31 tháng 8 năm 1969, tôi được đồng chí Vũ Xuân Sắc, bí thư của Chính uỷ Đặng Tính (nay gọi là trợ lý của Chính uỷ), gọi lên gặp đồng chí Đặng Tính.

Là tổ trưởng tổ bảo mật Cục Chính trị quân chủng, được các thủ trưởng gọi lên giao việc là điều diễn ra thường xuyên, nhất là những lúc tình hình chiến sự khấn trương, hoặc các kỳ hội nghị Đảng uỷ Quân chủng. Nhưng lần này được gọi lên gặp trực tiếp đồng chí Chính uỷ quân chủng, tôi thấy có điều gì khác thường. Tôi nói với anh, chị em trong tổ ở nhà chờ tôi.


Tôi vừa đi vừa chạy đến phòng đồng chí Vũ Xuân Sắc. Vừa bước vào phòng, tôi đã thấy Chính uỷ Đặng Tính và đồng chí Sắc đang trao đổi công việc. Tôi đứng nghiêm:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi có mặt!

Chính uỷ Đặng Tính: "Thuỷ đấy à, ngồi xuống đây! Có việc gấp, cậu phải hoàn thành trong đêm nay. Nhưng phải tuyệt đối giữ bí mật. Đánh máy xong, kiểm tra lại và mang ngay lên cho đồng chí Sắc. Việc cụ thể, đồng chí Sắc sẽ dặn cậu ...

Sau khi đồng chí Chính uỷ đi, anh Sắc nói:

- Thuỷ này, có văn bản của Thường vụ Quân uỷ Trung ương, cậu về đánh máy gấp và in rô-nê-ô 20 bản, đúng 1 giờ sáng mang lên cho tôi. Nhớ là thủ trưởng Tính đã dặn, các cậu phải tuyệt đối giữ bí mật đấy!

Sau đó, đồng chí Sắc giao tài liệu cho tôi cầm tài liệu, tay tôi run run khi nhìn tiêu đề: "Chỉ thị của Thường vụ Quân uỷ Trung ương về việc lãnh đạo tư tưởng khi thông báo tin A1 từ trần!"...

Chạy vội về phòng làm việc, tôi thấy anh, chị em nhân viên vẫn ngồi chờ.

Tôi nói có tài liệu phải sao lục gấp. Đồng chí Chiêng và tôi ở lại, đồng chí Thân, đồng chí Năm về nghỉ để sáng mai trực thay chúng tôi.

Sau khi các đồng chí Thân, Năm về nghỉ, tôi nói với đồng chí Chiêng:

- Chính uỷ Đặng Tính và anh Sắc giao cho tổ ta phải sao lục gấp tài liệu này. Để kịp thời gian, anh đọc, tôi đánh máy, sau đó ta in, cố gắng 1 giờ sáng phải xong!

Cầm tài liệu trên tay, cả tôi và đồng chí Chiêng đều băn khoăn hỏi nhau: "Ai mất?, A1 là ai?"...

Khi đồng chí Chiêng đọc: "A1 là lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta; là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân"... Đến lúc này, cả hai chúng tôi đều nhận ra rằng: A1 chính là Bác Hồ kính yêu!

Hai đứa chúng tôi đều xúc động, trào nước mắt. Đồng chí Chiêng đọc lắp bắp, tôi đánh máy bị lỗi liên tục. Cứ như vậy phải mất gần 10 phút mới trấn tĩnh được. Chúng tôi nói với nhau: "Chính uỷ đã căn dặn phải hoàn thành đúng thời gian. Anh em mình phải cố gắng, nén xúc động để hoàn thành tốt công việc"...


Cả đời tôi chưa bao giờ phải làm việc với tình cảm xúc động như vậy. Vừa đánh máy, tôi vừa khóc...

Sau khi đánh máy xong, chúng tôi đọc kiểm tra lại lần cuối trước khi in rô-nê-ô và hoàn thành đúng thời gian quy định. Tôi giao tài liệu cho đồng chí Vũ Xuân Sắc, đồng chí nói ngay với tôi:

- 6 giờ 30 sáng mai mồng 1 tháng 9, cậu sang Văn phòng để phát tài liệu cho các đảng uỷ viên quân chủng.

Chiều ngày mùng 2 tháng 9 năm 1969, Đài tiếng nói Việt Nam thông báo về tình hình sức khỏe của Bác Hồ!

Sáng mồng 4 tháng 9 năm 1969, Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc "Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần!" ...


Đã hơn 40 năm qua kể từ ngày Bác đi xa, sau này dù trải qua nhiều công tác khác nhau, nhưng kỷ niệm được đồng chí Chính uỷ Đặng Tính giao nhiệm vụ đánh máy tài liệu đêm 31 tháng 8 năm 1969, không bao giờ quên trong ký ức của tôi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #31 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:09:41 pm »

NHỚ ANH ĐẶNG TÍNH


Nguyễn Xuân Mậu


Anh là Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân từ những ngày đầu thành lập.

Tôi gặp anh lần đầu tại Bắc Kinh - Trung Quốc trong những năm 1956-1957, lúc anh đang học tại Học viện Không quân, còn tôi học tại Học viện Chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Vào ngày chủ nhật, chúng tôi thường đi tham quan cố Cung và Di Hoà Viên, danh thắng của các triều đại phong kiến Trung Hoa nổi tiếng. Thật không ngờ quả đất tròn. Năm 1963, khi cấp trên chủ trương hợp nhất Binh chủng Phòng không và Cục Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân, anh được trên quyết định về làm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng; anh Phùng Thế Tài làm Tư lệnh; tôi được trên giao chức Chủ nhiệm Chính trị, và được cấp uỷ bầu làm Phó Bí thư Đảng uỷ. Sau tôi lại được quyết định làm Phó chính uỷ giúp anh về các mặt công tác chính trị tư tưởng và xây dựng Đảng, và công tác cán bộ trong điều kiện rất khẩn trương để bước vào cuộc chiến đấu đánh trả không quân đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc và chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Từ ngày 22 tháng 10 năm 1963 cho đến ngày 4/10/1971, anh được trên giao nhiệm vụ mới hết sức quan trọng trong tình thế cách mạng chuyển biển có lợi cho ta.


Tôi nhớ đầu tháng 10 năm 1971, trong phiên họp Đảng uỷ quân chủng bàn định kế hoạch xây dựng và tác chiến Đông Xuân năm 1971 - 1972 thì nhận được chỉ thị của trên:

Anh Đặng Tính - Chính uỷ kiêm Tư lệnh quân chủng sẽ lên đường đi nhận nhiệm vụ Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn (559) đường Hồ Chí Minh để thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương là giành thắng lợi quyết định trong năm 1972.


Anh Tính bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh cho anh Lê Văn Tri và nhiệm vụ Chính uỷ cho anh Hoàng Phương.

Trong Đàng uỷ khi nghe phổ biến, phút đầu ai nấy đều đột ngột thể hiện sự lưu luyến đối với anh. Bởi anh đã gắn bó với quân chủng từ những ngày đầu thành lập. Anh đã cùng tập thể Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân chủng lãnh đạo xây dựng và chỉ huy bộ đội đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc lần thứ nhất; Quân chủng Phòng không - Không quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.


Tôi cũng như các đồng chí trong Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân chủng, trong đó có các anh em ở cơ quan Cục Chính trị, cũng như các cơ quan trong Bộ tư lệnh quân chủng vô cùng quyến luyến đối với đồng chí Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ đức độ, mẫu mực, sắc sảo và nhạy bén, giàu trí tuệ, là hạt nhân đoàn kết trong Đảng, trong quân chủng. Anh Đặng Tính là một cán bộ chính trị vừa có đức, có tài, có kiến thức, năng lực lãnh đạo và chỉ huy. Anh có tác phong và phương pháp lãnh đạo vừa sâu sát, xông xáo và rất thực tế. Anh thường đi tới những nơi chiến đấu ác liệt để kiểm tra và phát hiện giải quyết những vấn đề quan trọng. Trong mối quan hệ giữa tư tưởng chính trị và kỹ thuật, khắc phục những nhận thức không đúng như xem nhẹ khâu tư tưởng, đồng thợi cũng khắc phục hiện tượng xem nhẹ về khâu kỹ thuật khoa học, nhất là ở một quân chủng có nhiều binh chủng trang bị vũ khí hiện đại.


Anh Đặng Tính luôn luôn phát huy dân chủ, tôn trọng lãnh đạo tập thể, lắng nghe ý kiến của các đồng chí, kể cả cán bộ cấp dưới, có những ý kiến trái với suy nghĩ của mình. Anh luôn luôn bình tĩnh lý giải, phân biệt đúng sai, không đao to bủa lớn, mà lấy lý thuyết phục, lấy tình để cảm hoá, phân biệt đúng sai một cách chân thành, làm cho cán bộ và cấp dưới gần gũi, quý trọng anh.


Với cương vị là Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ, anh luôn luôn chăm lo công tác xây dựng Đảng bộ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, củng cố đoàn kết nội bộ, coi trọng công tác xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh. Anh nhắc tôi tổ chức rút kinh nghiệm, mở hội nghị "chi bộ 4 tốt" của toàn quân chủng. Trong hoàn cảnh chiến tranh, anh nêu trong điều kiện chiến tranh là cơ hội để xây dựng, chỉnh đốn Đảng mạnh về tổ chức, vững về chính trị, càng nâng cao khả năng và sức chiến đấu của quân chủng. Anh luôn luôn nhắc tôi trong công tác cán bộ, một khâu rất quan trọng; trong công tác tổ chức phải có kế hoạch lựa chọn, bồi dưỡng để đảm bảo xây dựng và chiến đấu lâu dài cũng như phát triển của các binh chủng. Đặc biệt việc tuyển lựa, đào tạo, sử dụng đội ngũ người lái máy bay, khối sĩ quan điều khiến tên lửa và trắc thủ ra-đa, nhân viên, cán bộ kỹ thuật đầu ngành. Anh Tính tuy sức không được khoẻ, lại bị cái chân tập tễnh, nhưng anh xông xáo, đi xuống Trung đoàn chiến đấu ở Vĩnh Linh, nơi ác liệt để kiểm tra và động viên bộ đội, bàn cách đánh thắng không quân Mỹ. Khi chúng bị thất bại, dùng kỹ thuật gây nhiễu điện tử để đối phó với tên lửa, ra-đa của ta. Anh bảo tôi trực và giải quyết công việc ở nhà, anh xuống Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 236 tên lửa, ngồi cùng anh em và kíp chiến đấu mấy ngày liên tục để kết luận chính xác, nguyên nhân đạn tên lửa của ta rơi xuống đất, không bắn trúng mục tiêu là do địch đã sử dụng loại nhiễu mới. Từ thực tế đó, anh kết luận với cán bộ và bộ đội tìm ra cách khắc phục, phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo, nhất định sẽ đánh thắng chúng. Và đúng như vậy, sau một thời gian ngắn, tên lửa của ta đánh thắng liên tục, có ngày, có tuần bắn rơi hàng chục máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái ngay giữa Thủ đô Hà Nội.


Anh Đặng Tính sống chân tình, thân ái, thương yêu cán bộ, quý trọng đồng cấp, tôn trọng cấp trên, tác phong sâu sát, sinh hoạt giản dị, gương mẫu. Có lần, bà mẹ bị ốm, mặc dù cương vị của anh có thể được phép nhưng anh nhờ đồng chí công vụ, dùng xe đạp chở mẹ đến bệnh viện khám bệnh. Tôi biết tin đó, sang phòng anh trao đổi, trách anh sao không cho tôi biết mà lại để công vụ đèo cụ đi, không bảo đảm an toàn. Anh chỉ cười và trao đổi công việc khác. Điều đó thể hiện đức độ và phong cách mẫu mực rẩt đáng quý ở anh. Trước lúc sắp chia tay, tất cả chúng tôi động viên anh lên đường mạnh khoẻ và hứa cùng anh: Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân nguyện nỗ lực vượt bậc, khắc phục khó khăn, tiếp tục những công việc xây dựng quân chủng vững mạnh hơn nữa. Chuẩn bị thật tốt về mọi mặt tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật, cách đánh để sẵn sàng giáng trả không quân Mỹ, kể cả B-52 nếu chúng liều lĩnh đánh trở lại miền Bắc lần thứ hai, nhất định chúng sẽ thất bại hoàn toàn trên bầu trời Hà Nội. Anh cười và lạc quan hứa hẹn, ta sẽ thi đua Quyết thắng và hẹn ngày gặp nhau sau thắng lợi.


Trưa ngày 20 tháng 10 năm 1971, Bộ tư lệnh quân chủng chúng tôi tổ chức bữa cơm thân mật tiễn anh lên đường, có mời chị Tính cùng các cháu dự và bắt tay tạm biệt, hẹn ngày gặp lại.

Một hôm, chúng tôi và chị Tính cùng các cháu đang chờ anh ra Hà Nội họp thì một tin sét đánh đên với chúng tôi: Anh đã hy sinh trên đường đi làm nhiệm vụ ở Nam Lào vào ngày 4/4/1973.

Mắt chúng tôi ai nấy đều đẫm lệ, ruột đau như cắt, mong rằng tin đó không thể có. Nhưng sự thật đau đớn đó đã đến. Ngày 9/4/1973, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thể lễ tang anh, chúng tôi tham dự tiễn đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng, và chia buồn cùng gia đình vượt qua đau thương vô cùng to lớn này.


Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức lễ truy điệu anh. Tại hội trường lớn của quân chủng, có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đại điện quân chủng và các cơ quan tới dự lễ tiễn biệt anh. Hiện tên anh đã được khắc vào tấm bia liệt sĩ của quân chủng, đặt tại Bảo tàng Quân chủng Phòng không - Không quân. Anh đứng đầu cùng hàng ngàn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước đã tặng anh huân chương Độc lập hạng Nhất, huân chương Quân công hạng Nhất, huân chương Kháng chiến hạng Nhất; truy tặng anh huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #32 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:10:42 pm »

GẶP NGƯỜI CÒN LẠI TRONG TỔ BAY
ĐÃ BẮN CHÌM TÀU BIỆT KÍCH MỸ


Bùi Nguyễn


Tấm ảnh tổ bay An-2, số hiệu 670 đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không - Không quân, tôi chụp khoảng tháng 4 năm 1966. Tổ bay gồm các đồng chí: Phan Như Cẩn (tiểu đoàn trưởng, lái chính); Phạm Thanh Tâm (chủ nhiệm dẫn đường); Trần Sĩ Tiêu (chủ nhiệm thông tin, kiêm phụ lái) và Loan Thế Linh (thợ máy trên không). Ảnh chụp ngay sau khi tổ bay vừa lập công xuất sắc, lần đầu tiên ta dùng máy bay vận tải bắn chìm tàu biệt kích Mỹ ở vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá hôm 7-3-1966. Ngày ấy tôi là phóng viên báo Phòng không - Không quân, vì để giữ bí mật quân sự nên chỉ được chụp ảnh làm tài liệu lịch sử, không được viết bài tuyên truyền trên báo. Rồi sau đó hai năm, tôi bất ngờ được tin cả tổ bay của Tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn đã anh dũng hy sinh. Đó là đêm 12/1/1968, các anh đã tham gia trận tập kích tiêu diệt hoàn toàn căn cứ ra-đa của địch tại điểm cao Pa Thí trên đất Lào - một trạm dẫn đường lợi hại của không quân Mỹ vào đánh phá miền Bẳc nước ta và hy sinh. Tôi không còn được gặp lại tổ bay 670, mà chỉ có thể tưởng nhớ tới các anh mỗi khi về thăm Bảo tàng quân chủng, xúc động ngắm tấm ảnh tổ bay được phóng to treo trên tường với dòng chú thích: "Có gì đánh nấy - Ta cải tiến máy bay vận tải An-2, lắp rốc-két, ban đêm bay ra biển tiêu diệt tàu biệt kích Mỹ" ...


Tình cờ một buổi tối cuối tháng 3 năm 2005, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS I lồ Chí Minh, tôi được mời dự buổi giao lưu giữa chi hội Cựu chiến binh (CCB) với chi đoàn Thanh niên tổ 12A, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân (Hà Nội). Trong đêm giao lưu ấy, ban tổ chức giới thiệu một hội viên CCB, nguyên trung tá không quân đã từng cùng tổ bay đánh chìm tàu biệt kích Mỹ lên kể chuyện. Tôi sửng sốt nhìn đồng chí cựu chiến binh bước lên diễn đàn và nhận ngay ra anh Linh - anh Loan Thể Linh, người dân tộc Tày ở huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, là thợ máy trên không của tổ bay 670 tôi đã chụp ảnh năm xưa. Thì ra trận đánh điểm cao Pa Thí năm 1968 anh được phân công nhiệm vụ khác, không tham dự. Giờ đây anh đã ở tuổi 70 nhưng vẫn rất khoẻ và còn sôi nổi lắm. Câu chuyện anh kể với thanh niên chỉ kéo dài 20 phút, đã gợi cho tôi nhớ lại một sự kiện hơn 40 năm về trước mà báo chí chưa nói hết!...


Từ năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta. Chúng dùng cả tàu biệt kích quấy phá một số tỉnh ven biển như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh... và ngang nhiên bắt cả ngư dân ta đang đánh cá trên biển. Đêm đêm, tàu biệt kích Mỹ thường áp sát gần bờ biển ngang nhiên bắn đạn pháo vào đất liền, hoặc ban truyền đơn vào gây chiến tranh tâm lý.


Bộ đội hải quân, pháo bờ biển của ta đã đánh trả quyết liệt, nhưng chưa diệt được chúng. Trên chủ trương cho cải tiến loại máy bay vận tải có tốc độ chậm, để phối hợp đánh tàu biệt kích Mỹ ngay từ ngoài biển khơi. Đoàn không quân vận tải Hồng Hà được giao nhiệm vụ cải tiến máy bay An-2 là loại máy bay vận tải nhỏ hai tầng cánh, vừa có tốc độ chậm, vừa có khả năng bay thấp để thực hiện nhiệm vụ này. Các đồng chí kỹ sư Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Long và các cán bộ, chiến sĩ quân giới của trung đoàn nhanh chóng cải tiến, lắp ráp trang bị cho mỗi chiếc An-2 có hai thùng đạn rốc-két 32 quả và một giàn đạn cối 12 quả, biến loại máy bay "bà già lắm cánh nhiều càng" này thành máy bay chiến đấu thật sự.


Tổ bay Phan Như Cẩn là một trong những tổ bay An-2 được giao nhiệm vụ huấn luyện làm chủ kỹ thuật, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Các anh đã trải qua ba tháng tập thực hành bay đêm, lấy ô tô trên đường số 5 và tàu, thuyền chạy đêm trên sông Hồng làm mục tiêu giả định để tập ngắm bắn...


Đầu tháng 3 năm 1966, các tổ bay An-2 bẳt đầu nhận nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Một sở chỉ huy dã chiến cũng được thành lập, đặt tại huyện Quảng Xương, Thanh Hoá, chuyên chỉ huy bay đánh tàu biệt kích Mỹ. 23 giờ đêm 7 tháng 3 năm 1966, rađa biển của Hải quân ta phát hiện mục tiêu, thông báo có 3 tàu biệt kích Mỹ từ ngoài khơi sắp áp sát bờ vùng biển Sầm Sơn. Bảy phút sau, tổ bay 670 cất cánh rồi vòng rộng về phía nam để bám đuôi tàu địch, ngược với ánh trăng cho dễ phát hiện. Còn cách địch khoảng 4km, cả tổ bay đều nhận thấy 3 vệt sáng mờ dưới đầu mút cánh bên phải rồi lại biến mất. Bốn cặp mắt của bốn anh em đều căng ra tìm kiểm trên mặt biển mênh mông, mờ mịt dưới ánh trăng. Linh bỗng nhìn thấy sóng biển chồm lên sủi bọt trắng, anh liếc sang phía đồng hồ đo độ cao đang chỉ ở con số 50m, vội hô lớn:

- Chú ý độ cao!

Mải tìm địch, Cẩn đã cho máy bay xuống quá thấp, nghe Linh nhắc, anh vội kéo lên độ cao 200m. Lần này, Sở chỉ huy đưa máy bay của Cẩn bắt lại mục tiêu với góc kẹp hẹp hơn lần trước. Chưa đầy một phút sau, tiếng Cẩn đã vang lên trong buồng lái:

- Đã thấy mục tiêu, 670 xin công kích!

Chiếc tàu địch chạy sau cùng mỗi lúc một rõ, Linh nhìn thấy cả lớp sóng cuồn cuộn của chân vịt, sáng trắng như ánh sáng lân tinh. Có tiếng Têu nhắc Cẩn:

- Bổ nhào đi, gần lắm rồi!

Cẩn chỉ khẽ gật đầu, anh chờ khi khoảng cách ứng với góc bắn mới đẩy vòng lái bổ nhào. Mặt biển như dâng lên vùn vụt. Trước mắt Linh, con tàu hiện lên càng lớn, anh nhìn rõ cả chiếc cột chữ thập màu đen. Cẩn đã xiết cò, phóng rốc-két. Hai vệt lửa dài xanh lẹt của 36 quả rốc két lao thẳng xuống, chụp đúng mục tiêu, Cẩn vội kéo mạnh cần lái, chiếc An-2 của họ vọt lên, vòng đổi hướng với độ nghiêng rất lớn. Phía dưới cánh bay, tàu địch đang bốc cháy, lửa phụt lên rất cao. Hai chiếc tàu chạy trước vội dạt ra, bật đèn sáng rực và nổ súng phản ứng. Một mảnh đạn địch đã đập vỡ khoang kính buồng lái, một mảnh kính văng vào trán Phan Như Cẩn.


Lái chính đã bị thương, anh vẫn bình tĩnh nắm chắc vòng lái. Lúc này, với tốc độ bay trên 180km/giờ, gió biển tạt qua ô kính vỡ vào buồng lái của họ còn mạnh hơn bão. Tình huống không thể tiếp tục bay về sân bay hạ cánh, tổ bay xin được hạ cánh bắt buộc xuống bãi cát ven biển. Tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn vừa động viên anh em, vừa cố sức kéo vòng lượn lấy mép nước biển sáng loáng làm chuẩn. Họ đã hạ cánh an toàn giữa ban đêm xuống một bãi cát thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá...


Nghe CCB Loan Thể Linh kể, không chỉ chi đoàn thanh niên mà cả các CCB chi hội 12A đều như lẳng xuống, chăm chú nghe như nuốt từng lời. Một câu chuyện ngẳn, cũng là bài học thực tế, sinh động của những chiến sĩ Không quân nhân dân Việt Nam trẻ tuổi, tài hoa và quả cảm trong kháng chiến chống Mỹ. Tôi còn biết thêm sau trận thắng đầu tiên ấy, tổ bay bốn người của tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn còn đánh thắng trận thứ hai, họ đã bắn chìm thêm chiếc tàu biệt kích Mỹ nữa tại vùng biển Hòn Mê, Thanh Hóa.


Giờ đây, tổ bay chỉ còn lại một mình bác Loan Thế Linh. Họ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng và dân tộc. Mỗi người trong tổ bay đều được tặng thưởng huân chương Chiến công. Riêng tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn, người con trai huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #33 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:11:54 pm »

NHỮNG THÁNG NĂM CÔNG TÁC Ở
CỤC CHÍNH TRỊ QUÂN CHỦNG


Trần Xuân Vinh


Đầu năm 1970, tôi được cấp trên cho đi học lớp bổ túc cán bộ chính trị trung cao cấp tại Học viện Chính trị, cùng với các đồng chí Trần Quốc Hanh, Hoàng Đạm, Phạm Duy Kích... trong thời gian 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1970). Học xong, tôi lại trở về đơn vị cũ là Sư đoàn Phòng không 367 với cương vị Chủ nhiệm chính trị trung đoàn 280.


Mùa khô năm 1971, ta mở chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Nhiệm vụ của trung đoàn 280 là bảo vệ hậu phương chiến dịch. Lúc này địch đã dùng nhiều tốp máy bay đánh phá các kho tàng, các trọng điểm giao thông huyết mạch, trong đó có phà A và phà B - Xuân Sơn rất ác liệt. Trong một trận chiến đấu để bảo vệ bến phà, Đại đội 7, Tiểu đoàn 103 bị tổn thất nặng, do bị địch ném bom vào trận địa. Tôi được Thường vụ Đảng uỷ trung đoàn phân công trực tiếp xuống động viên, giúp đỡ Đại đội 7 củng cố, giải quyết những tổn thất do dịch gây ra. Sau khi hoàn thành công việc, về đến Ban Chính trị tôi lại nhận được lệnh của Quân chủng: Ngày 28 tháng 3 năm 1971 phải có mặt tại Học viện Chính trị ở xã Tiền Phong để học tập. Khi nhận được điện, đồng chí Nguyễn Nghị, Chính uỷ trung đoàn nói: "Đồng chí chủ nhiệm mới đi học về được mấy tháng, nay trên lại cho đi học tiếp, không hiểu học gì?" Đối với tôi, đã trải qua 12 năm liên tục công tác, chiến đấu ở cấp trung đoàn, kể từ ngày thành lập (1959 - 1971), nay phải xa đơn vị nên rất nhớ đồng chí, đồng đội. Không biết sau khi học xong có được trở lại trung đoàn nữa hay không? Để chấp hành nghiêm chỉ thị của trên, tôi khẩn trương lên đường ra Học viện đúng thời gian quy định.


Đến nơi tôi mới biết: Tổng Cục Chính trị mở lớp bồi dưỡng các trưởng, phó Phòng, Ban cán bộ trong toàn quân. Riêng Quân chủng Phòng không - Không quân được cử đi 6 người, trong đó có anh Phạm Liêm là Phó phòng và các đồng chí đang giữ chức Trưởng ban cán bộ ở các sư đoàn và nhà trường, như đồng chí Võ Triên ở Sư đoàn 361, Nguyễn Ngà - Sư đoàn 363, Lê Huệ ở binh chủng ra-đa và đồng chí Nguyễn Chuyên ở trường Sĩ quan Phòng không. Còn tôi, chưa một ngày làm nghiệp vụ công tác cán bộ. Tuy vậy, cũng cố gắng học hỏi về kinh nghiệm thực tế của các đồng chí đã làm, kết hợp với lý luận, nguyên tắc đã được học. Qua bốn tháng học tập với kết quả bước đầu đạt được, tôi được anh Phạm Liêm đề nghị giữ lại công tác ở Phòng Cán bộ, tiếp đó được cử đi học lớp trợ lý kế hoạch cán bộ cấp quân khu, quân chủng, binh chủng do Cục Cán bộ tổ chức tại xã Thịnh Liệt - huyện Thanh Trì, Hà Nội.


Sau khi học tập về, tôi được giao nhiệm vụ làm trợ lý kế hoạch của Phòng cán bộ. Lúc đầu còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, nhưng được sự giúp đỡ, hướng dẫn của trưởng, phó phòng, trong đó có anh Nguyễn Khắc Chuẩn đã làm công tác kế hoạch cán bộ lâu năm, có kinh nghiệm, đã giúp tôi học hỏi được nhiều.


Cứ mỗi lần xuống làm việc với Ban cán bộ Sư đoàn Không quân 371, tôi thường nói với anh Thân Đức Đệ là trưởng ban: "Đối với Binh chủng Không quân, tôi chưa hiểu biết nhiều, đề nghị anh giúp về đặc điểm, tính năng, tác dụng của các loại khí tài như "khí tài ba trạm", "dạ hàng"...


Đầu năm 1972, theo nhận định của trên, đế quốc Mỹ sẽ liều lĩnh đưa máy bay B-52 ra ném bom miền Bắc, trong đó có Thủ đô Hà Nội và một số thành phố khác. Sở chỉ huy và các cơ quan quân chủng được chuyến vào xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (cũ). Trong lúc toàn quân chủng, đang tập trung cho nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao, thì được lệnh cùa Bộ Quốc phòng giao cho quân chủng tổ chức ngay hai trung đoàn, lấy phiên hiệu là 276, 277 để sang Liên Xô (cũ) sử dụng tên lửa mới "PETRORA-M loại 4 cần", thời gian rất gấp. Cả hai trung đoàn phải có mặt ở Bai-can vào ngày đã định Phòng Cán bộ đã khẩn trương lập kế hoạch điều động cán bộ theo sự chỉ dạo của Cục Chính trị và chỉ thị của Thường vụ Dảng uỷ, bố trí đủ cán bộ từ trung đội trưởng, các trưởng xe, sĩ quan điều khiển cho đến trung đoàn trưởng và chính ủy theo biên chế. Số cán bộ này lấy ở các sư đoàn Phòng không và các cơ quan quân chủng. Đối với Sư đoàn Phòng không 361, do lực lượng đông, số cán bộ phải điều động tới gần 100 người.


Có một điều rất thú vị, khi tôi xuống trực tiếp làm việc với đồng chí Võ Triên - Trưởng Ban Cán bộ về kế hoạch điều cán bộ tỏ ra lo lắng về số cán bộ rút đi nhiều, sợ đồng chí Trần Quang Hùng - Tư lệnh sư đoàn - không đồng ý. Lúc đó tôi nói: "Nếu đồng chí ngại báo cáo với Tư lệnh thì đưa tôi lên gặp Tư lệnh". Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình rút số cán bộ của sư đoàn để thành lập hai trung đoàn tên lửa sang Liên Xô chuyển binh chủng gấp, tôi thấy trên nét mặt của Tư lệnh sư đoàn nở nụ cười, vui vẻ nói: "Tôi chỉ sợ quân chủng rút "một thiên", chứ "một bách" thì sư đoàn sẵn sàng cung cấp đủ số cán bộ theo kế hoạch trên đã điều". Rồi đồng chí giao cho trưởng Ban Cán bộ tổ chức thực hiện ngay. Trở lại Ban Cán bộ tiếp tục làm việc để xem phương án điều động cán bộ của sư đoàn, lúc đó đồng chí Võ Triên mới nói với tôi: "Hôm nay không có anh xuống trực tiếp gặp đồng chí Tư lệnh sư đoàn xin ý kiến, mà để một mình tôi lên báo cáo, tôi chỉ sợ đồng chí ấy "quạt" cho thì chết". Tôi vội nói đùa: "Được Tư lệnh quạt cho thì mát chứ sao". Lúc đó, cả hai chúng tôi cùng cười vui vẻ.


Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Sở chỉ huy và các cơ quan quân chủng lại chuyển về vị trí cũ ở Bạch Mai. Tháng 3 năm 1973, tôi được Phòng Cán bộ và Cục Chính trị đề nghị lên Thường vụ Đảng uỷ quân chủng quyết định đưa tôi đi làm trưởng Ban Cán bộ ở một sư đoàn. Ý định của Phòng và Cục định đưa tôi về Sư đoàn 365 (sư đoàn cơ động). Nhưng đồng chí Phó chính uỷ quân chủng Nguyễn Xuân Mậu, trực tiếp chỉ đạo công tác cán bộ không đồng ý, lý do là tôi đã qua 12 năm làm nhiệm vụ chiến đấu trên các địa bàn từ Quân khu IV, đến đường 20 Quyết Thắng trong điều kiện gian khổ ác liệt, sức khỏe không bảo đảm. Sau khi đồng chí Hà Văn Khoa - Phó phòng lên gặp đồng chí Mậu về, nói lại với anh em trong phòng ý kiến của đồng chí Phó chính uỷ quân chủng là: "Nếu các anh không có phương án nào khác, tôi sẽ báo cáo Thường vụ Đảng uỷ quyết định đưa đồng chí Vinh về làm Trưởng Ban Cán bộ Sư đoàn Phòng không 363, là đơn vị bảo vệ yếu địa, đóng quân ở Hải Phòng, gần biển, khí hậu mát mẻ có lợi cho sức khoẻ, và điều đồng chí Nguyễn Liệu về làm Trưởng Ban Cán bộ trường Sỹ quan Phòng không".


Tháng 4 năm 1973, tôi được bổ nhiệm chính thức làm Trưởng Ban cán bộ Sư đoàn Phòng không 363, cho đến tháng 9 - 1976, được điều về Cục Chính trị, ở bộ phận tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Tôi được phân công tổng kết về công tác cán bộ. Trong bộ phận tổng kết có các đồng chí: Trần Nhiệm, Lê Thoan, Nguyễn Ngọc Tất, Giang Văn Yên, Trương Cam, Kiều Lộc...


Năm 1977, theo quyết định của trên, tách Quân chủng PK-KQ thành hai quân chủng: Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân. Đến quý III năm 1977, khi công tác tổng kết gần kết thúc, chỉ còn chờ thông qua Cục Chính trị, tôi và đồng chí Kiêu Lộc được Tư lệnh Hoàng Văn Khánh và Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu gọi lên giao nhiệm vụ: Đồng chí Kiều Lộc giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn phòng không 361; còn tôi giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Phòng không 375 đóng quân ở Đà Nẵng. Sau đó sáp nhập với Sư đoàn Phòng không 365, lấy phiên hiệu là Sư đoàn 365. Lực lượng của sư đoàn lúc đó có 4 trung đoàn, gồm: Trung đoàn 224 đóng ở kho An Đồn, Trung đoàn 267 ở gần Sư đoàn bộ (Phước Tường), Trung đoàn 275 ở Cam Phúc - Cam Ranh, Trung đoàn 228 ở Nha Trang - Khánh Hòa. Lúc giao nhiệm vụ cho tôi, đồng chí Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu dặn: "Khi về sư đoàn phải cùng với anh em trong Phòng Chính trị, giúp Chính ủy, Đảng ủy sư đoàn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cho tốt, vì đó là khâu quyết định


Năm 1978, để chuẩn bị đối phó với tình hình ở biên giới phía Bắc, lúc này, trên lại quyết định tách Sư đoàn 365 thành hai Sư đoàn 375 và Sư đoàn 365 như cũ. Tháng 10/1978, Sư đoàn 365 được lệnh hành quân ra Hà Bắc, đóng quân trên địa bàn huyện Lạng Giang. Tháng 8 năm 1978, tôi nhận được quyết định của Quân chủng do Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu ký điều động tôi về làm Phó phòng cán bộ. Lúc đó, sư đoàn chưa có chủ nhiệm chính trị, mà chỉ có hai Phó chủ nhiệm thì đồng chí Nguyễn Đình Huyền được cử đi học bổ túc ở Học viện Chính trị, chỉ còn một mình tôi, đang phải tập trung vào công việc chia tách thành hai Phòng chính trị, mặt khác chưa có cán bộ vào thay. Đến tháng 9 năm 1978, lại có quyết định của Bộ Quốc phòng bổ nhiệm tôi giữ chức Trưởng phòng cán bộ Quân chủng Phòng không, do đồng chí Thứ trưởng Đặng Vũ Hiệp ký. Sau khi có quyết định, đến tháng 10 năm 1978, tôi mới về Cục Chính trị nhận nhiệm vụ mới. Vì lúc đó, cấp trên mới điều đồng chí Chuyên - Chính uỷ Trung đoàn 212 - vào thay. Trên đường từ Đà Nẵng ra, gặp phải ba cơn bão, phải nằm lại ở phía nam phà Bến Thuỷ mất gần một tuần mới sang được phía bờ bắc. Ra đến Thanh Hoá lại gặp cơn bão tiếp theo; đến Ninh Bình thì cầu phao ở bến phà Gián Khuất bị trôi, đành phải quay xe đi theo đường Nam Định. Khi về đến Cục Chính trị, xe đã hết xăng. Tôi báo cáo với anh Phạm Liêm - Phó chủ nhiệm - xin Cục hai mươi lít xăng để đi lên Hà Bắc, bàn giao công việc và chia tay với các anh lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn, các cơ quan và anh em trong Phòng chính trị để đi nhận nhiệm vụ theo quyết định của trên.


Về đến Cục Chính trị được nghỉ ngơi ba hôm, Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu lại gọi anh Nguyễn Khắc Chuẩn và tôi sang gặp, chỉ thị cho tôi và anh Chuẩn trong việc bàn giao công việc. Đồng chí Mậu nói: "Anh Chuẩn là Trưởng phòng Cán bộ, nay sẽ về giữ chức Phó Chính uỷ Sư đoàn Phòng không 361. Đồng chí Vinh cũng đã có quyết định bổ nhiệm giữ chức Trưởng phòng Cán bộ thay anh Chuẩn. Tôi giao cho hai anh trong thời hạn một tháng phải làm xong việc trao đổi và bàn giao công việc để đi vào chức trách, nhiệm vụ". Bản thân tôi, tuy đã được Chính uỷ quân chủng động viên nhưng trong tâm tư rất lo lắng. Tuy trước đây đã từng làm trợ lý kế hoạch cán bộ, nhưng đã cách xa sáu, bảy năm. Đội ngũ cán bộ trong quân chủng đến nay đã có nhiều biến động. Nhưng được sự giúp đỡ tận tình của các anh Phạm Liêm, anh Chuẩn và các đồng chí trong phòng, công tác cán bộ vẫn duy trì được nền nếp. Cuối năm 1978, tôi và đồng chí Thái Hồng Giang - trợ lý kế hoạch, đi họp trên Cục Cán bộ, để nghe phổ biến về kế hoạch công tác cán bộ năm 1979. Khi kết luận hội nghị, đồng chí Lê Đình Số - Cục trưởng Cục Cán bộ nói: "Với lực lượng Phòng không, sang năm 1979 chưa có gì biến động và phát triển lớn". Sau khi đi họp về, tôi báo cáo trực tiếp lại với thủ trưởng Cục Chính trị và Chính uỷ quân chủng biết về kế hoạch của trên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #34 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:12:32 pm »

Tình hình chuyển biến rất nhanh. Khi tôi và anh em trong phòng đang làm kế hoạch cán bộ năm 1979, thì Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu cho gọi tôi lên gặp ngay. Tôi vừa vào đến phòng làm việc, đồng chí nói luôn: "Mới cách đây mấy hôm, đồng chí đi họp về có báo cáo với tôi là lực lượng Quân chủng không có gì biến động và phát triển. Nhưng theo điện sáng nay của anh Lê Đình Số - Cục trưởng Cục Cán bộ, thì quân chủng Phòng không phải tổ chức xong một khung cán bộ có đủ lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn và sư đoàn bộ lấy phiên hiệu là Sư đoàn Phòng không 380. Đồng chí về bàn với anh em, có kế hoạch điều động, sắp xếp ngay. Đến sáng ngày mai, sang báo cáo với tôi về phương án sắp xếp cán bộ, để tôi bảo cáo với Thường vụ Đảng uỷ quyết định".


Về đến phòng, sau khi nghe tôi phổ biển chỉ thị của Chính uỷ quân chủng, tôi cùng với anh Nguyễn Hoà - Phó phòng, làm việc với bộ phận kế hoạch và nhân sự, khẩn trương bắt tay vào công việc để kịp sáng hôm sau, có đầy đủ phương án báo cáo. Có thể nói cả một đêm thức trắng để làm việc, tuy vất vả, mệt nhọc, chỉ có lương khô 701 và nước chè "bồi dưỡng" làm việc ban đêm nhưng anh em vẫn vui vẻ. Sau khi phương án bổ nhiệm được Cục Chính trị duyệt và Thường vụ Đảng uỷ quân chủng thông qua, cán bộ được tập trung tại địa điểm Phòng Kỹ thuật Sư đoàn 363 ở ngã tư An Dương - thành phố Hải Phòng lại được lệnh của Bộ Quốc phòng không tổ chức Sư đoàn 380 nữa. Lúc này một số lớn cán bộ đã được bổ nhiệm lên chức vụ mới, bây giờ giải thể sư đoàn, không biết sẽ đưa số cán bộ này đi đâu? Phòng Cán bộ mạnh dạn báo cáo với Cục Chính trị, đề nghị Thường vụ Đảng uỷ quân chủng quyết định đưa số này về Trường Sĩ quan Phòng không để học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ và để chủ động đối phó với cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc xảy ra. Chỉ sau một thời gian ngấn, theo chỉ thị của trên, lực lượng của quân chủng đã phát triển thêm 2 sư đoàn và 1 lữ đoàn. Tính từ khi tách Quân chủng Phòng không - Không quân thành hai quân chủng, lực lượng phòng không từ 4 sư đoàn đã phát triển thành 7 sư đoàn và 1 lữ doàn, tăng gần gấp đôi, đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của quân chủng trong tình hình mới. Mặt khác còn xây dựng được quy hoạch cán bộ dài hạn từ 15 năm đến 20 năm (1979 - 1995). Quy hoạch này cũng đã được Cục Chính trị duyệt và Đảng uỷ quân chủng thông qua. Tôi có vinh dự được đi tháp tùng Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu lên Tổng Cục Chính trị thông qua quy hoạch với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đặng Vũ Hiệp.


Năm 1980, thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội, Chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu có quyết định của trên điều lên Tổng Cục Chính trị, giữ chức Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Trước khi dời quân chủng, đồng chí gặp đồng chí Đinh Phúc Hải, lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng, có cả tôi và đồng chí Nguyễn Hoà - Phó phòng tại nhà làm việc của Chủ nhiệm chính trị. Chính uỷ đã tâm sự với trách nhiệm của một cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong quân chủng được phân công chỉ đạo công tác cán bộ. Đồng chí nói: "Sắp tới cấp trên sẽ có quyết định bổ nhiệm đồng chí Đinh Phúc Hải giữ chức Phó Tư lệnh về Chính trị, cũng sẽ trực tiếp chỉ đạo công tác cán bộ. Vấn đề này rất khó, bản thân tôi đã nghĩ đến bạc đầu. Tuổi đồng chí Hải đã cao, chỉ nên ở cương vị Phó tư lệnh chính trị vài ba năm, sau này có Học viện Phòng không (theo quy hoạch), đồng chí sẽ về Học viện để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cho quân chủng. Đồng chí Vinh - Trưởng phòng, tới đây nên đi học lớp chuyển binh chủng về tên lửa mới (Volga và PETRORA-M) do chuyên gia Liên Xô sang giảng dạy ở Lữ đoàn 378 tại Cam Ranh, nắm thêm loại khí tài mới, để làm tốt công tác cán bộ. Sau khi học xong sẽ xuống làm phó Sư đoàn về chính trị một thời gian, sau đó trở về làm tiếp Trưởng phòng cán bộ, cho đến tuổi nghỉ hưu. Đây là ý kiến cá nhân đã trải qua kinh nghiệm thực tế, tôi thực lòng muốn trao đổi với các đồng chí. Còn sau này có thực hiện được hay không, là do tập thể lãnh đạo và chỉ đạo của quân chủng''. Tiếp lời tâm sự của đồng chí Mậu, đồng chí Hải nói: "Qua ý kiến của anh, chúng tôi nhận thay rất quý báu. Đây là những kinh nghiệm và bài học thực tế đối với những người lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ trong một quân chủng kỹ thuật. Theo cá nhân tôi, đối với đồng chí Vinh trước đây đã từng giữ quyền Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 365, cũng đã trực tiếp chỉ đạo công tác Đàng, công tác chính trị cắp sư đoàn, nên có cần thiết sau khi học xong xuống làm phó sư đoàn trưởng về chính trị nữa không?". Lúc ấy, đồng chí Mậu nói luôn: "Cái đó sau này tuỳ các anh quyết định".


Tháng 3 năm 1981, tôi và các đồng chí khác, như La Văn Sàng, Thái Duy Trinh... lên đường vào Lữ đoàn 378 đế học hai loại khí tài tên lửa mới. Theo chương trình học tập là 12 tháng, nhưng tôi mới học được 7 tháng, lại nhận được điện của quân chủng gọi ra để chỉ đạo việc nghiên cứu biên soạn chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ cho các cơ quan và nhà trường trong quân chủng, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị. Sau thời gian tôi đi học, Quân chủng đã đề nghị Bộ Quốc phòng quyết định điều đồng chí Đào Tiến - Phó Cục trưởng Cục Chính trị, thay tôi làm Trưởng Phòng Cán bộ. Đến cuối năm 1982, theo chỉ thị của trên thành lập lại Phòng Chính sách trực thuộc Tư lệnh, lúc đó tôi lại có quyết định điều động giữ chức vụ Trưởng phòng Chính sách. Đến cuối năm 1983, tôi được cử đi tập huấn ở trên Bộ về thực hiện cơ chế mới theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị và được trên quyết định giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 365, cho đến khi chuyển sang cơ chế 27. Sau đó, tôi được Tổng Cục Chính trị tạm thời điều lên Cục Cán bộ chính trị để nghiên cứu biên soạn, xây dựng chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ chính trị trong quân đội. Đến cuối tháng 4 năm 1986, đồng chí Lê Đình Số - Cục trưởng Cục Cán bộ, báo cho tôi biết là chiều nay ăn bữa cơm thân mật với Cục, để chia tay tôi trở về quân chủng nhận nhiệm vụ mới. Trên đường về quân chủng, tôi nghe tin đồng chí Đinh Đình Sành - Thiếu tướng, Phó Tư lệnh, Cục trưởng Cục Phòng không Lục quân đang điều trị tại Quân y viện 108, nên ghé vào thăm. Khi thấy tôi đến, đồng chí Sành nói ngay: "Cậu đã có quyết định của Bộ Quốc phòng, bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng về Chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị Cục Hậu cần", về đến Cục Chính trị, được đồng chí Hoà - Phó phòng Cán bộ, báo cho tôi biết về ngày giờ Bộ Tư lệnh gặp để giao nhiệm vụ. Nhưng sau đó có vấn đề trục trặc, nên tôi chủ động đề nghị không thực hiện quyết định ấy nữa.


Tháng 6 năm 1986, Đại hội Đảng bộ Quân chủng Phòng không lần thứ nhất. Khi Đảng uỷ nhiệm kỳ mới tiến hành họp phiên đầu tiên, bầu Ban thường vụ và Ủy ban kiểm tra, tôi được bầu làm uỷ viên Ủy ban kiểm tra cùng với bốn đồng chí khác. Sau đó được Thường vụ Đảng uỷ quân chủng đề nghị lên Tổng cục Chính trị bổ nhiệm tôi làm Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra chuyên trách cho đến tháng 9 năm 1990, được trên quyết định cho nghỉ hưu.


Trải qua gần hai mươi năm (1971 - 1990), tuy không liên tục, bốn lần đi về, trên bốn cương vị công tác khác nhau; được sống, làm việc ở Cục Chính trị Quân chủng PK- KQ, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, nhưng được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ và sự chỉ đạo của thủ trưởng Cục Chính trị, cùng với sự tận tình giúp đỡ của đồng chí, đồng đội trong cơ quan, tôi đã ngày càng trưởng thành. Nay đã 19 năm về với đời thường, nhưng biết bao kỷ niệm đẹp đã in sâu trong ký ức, tôi không bao giờ quên được.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #35 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:15:12 pm »

CHÚNG TÔI CHUẨN BỊ RA SỐ BÁO ĐẦU TIÊN


Xuân Mai


Đầu năm 1965, tôi là thư ký Toà soạn tờ Tập san phòng không. Tập san được coi như diễn đàn về công tác Đảng, công tác chính trị, là phương tiện trao đổi, phổ biến kinh nghiệm trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân. Tập san ra định kỳ mỗi tháng một lần, chỉ phát hành đến cán bộ trung, cao cấp trong quân chủng, số đầu tiên ra tháng 4 năm 1964.


Nhưng từ tháng 2 năm 1965, do thất bại nặng trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đưa cuộc chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân ra miền Bắc. Chỉ tính từ ngày 7 tháng 2 đến 26 tháng 3 năm 1965, những cuộc tập kích dồn dập của không quân Mỹ từng bước "leo thang" từ Vĩnh Linh đển Quảng Bình, Hà Tĩnh... Các đơn vị Quân chủng Phòng không - Không quân đã cùng quân và dân các địa phương trên đánh trả quyết liệt , bắn rơi gần 100 máy bay Mỹ, bắt sống giặc Mỹ lái máy bay. Miền Bắc đã thực sự bước vào thời chiến. Bộ đội pháo cao xạ, ra - đa thường xuyên phải cơ động chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị luôn luôn sẵn sàng trên trận địa suốt ngày đêm... Trước tình hình đó, tờ Tập san không thể đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, cổ động kịp thời trong chiến đấu được.


Ngày 27 tháng 3 năm 1965, tôi và các anh Trần Duy Hợi, Nguyễn Ngọc Thục trong Ban biên tập Tập san Phòng không và anh Đỗ Văn Dân, nhà văn ở tổ Câu lạc bộ được anh Trần Thái Vĩnh - Trưởng phòng Tuyên huấn gọi đến giao nhiệm vụ. Anh Thái Vĩnh nhắc đến sự kiện máy bay Mỹ ném bom trận địa ra - đa Đại đội 13, Trung đoàn 290 ở Rú Nài, thị xã Hà Tĩnh chiều 26 tháng 3. Hôm đó do ta chủ động di chuyển trận địa sớm, nên người và khí tài đều an toàn. Nay tương kế tựu kế, ta dựng một dàn ăng - ten ra - đa giả trên đồi Rú Nài, coi như máy ra-đa vẫn hoạt động để nhử địch, tổ chức một trận phục kích bắn máy bay Mỹ ở đó. Anh Thái Vĩnh nhấn mạnh:

- Tình hình nhiệm vụ chiến đấu của quân chủng đang rất khẩn trương. Yêu cầu công tác tuyên truyền chiến đấu phải nhanh và kịp thời, mà tờ Tập san ra hằng tháng không còn phù hợp nữa. Thủ trưởng Cục Chính trị đã có chủ trương xin chuyển tờ Tập san ra hằng tháng thành tờ báo ra hằng tuần, phát hành rộng rãi đến chiến sĩ toàn quân chủng. Nhưng chuyển thế nào, phải có mô hình để báo cáo Thường vụ Đảng uỷ, cho quyết định.


Anh Thái Vĩnh giao cho tôi phụ trách tổ phóng viên gồm các anh nói trên, đi ngay Hà Tĩnh để kịp dự trận phục kích bắn máy bay Mỹ bên đồi Rú Nài. Nhiệm vụ của chúng tôi phải có mặt trên các trận địa, bám sát bộ đội trong chiến đấu, thu thập tư liệu, chụp ảnh, về tổ chức ra ngay một phụ trương của Tập san tháng 4 như một tờ báo ra hằng tuần, làm mô hình báo cáo Thường vụ Đảng uỷ và phát hành rộng rãi trong quân chủng để lấy ý kiến quần chúng.


Ngay tối hôm đó, chúng tôi đã ba lô trên vai, khẩn trương ra ga mua vé tàu. Nhưng vì thời chiến, tàu xe đi rất chậm. Tàu hoả chỉ chạy đến Vinh. Từ đó vào Hà Tĩnh phải đi xe khách, qua phà Bến Thủy mỗi ngày chỉ có một chuyến vào sáng sớm.


Khi chúng tôi đến được thị xã Hà Tĩnh, đã gần 10 giờ ngày 29 tháng 3. Đến nhà khách của Tỉnh uỷ, chúng tôi gặp tới vài chục phóng viên các báo đã đến đây ngay sau trận chiến đấu ngày 26 tháng 3.

Lực lượng chiến đấu ở thị xã Hà Tĩnh lúc đó có Tiểu đoàn 8 gồm 2 đại đội pháo cao xạ 37 ly mà chiến sĩ đều là học viên trường Sĩ quan Phòng không sắp tốt nghiệp. Tỉnh đội Hà Tĩnh có Đại đội 27 pháo cao xạ 37 ly. Trung đoàn ra-đa 290 có trung đội súng máy 14 ly 5 bốn nòng và hai nòng. Dân quân, tự vệ thị xã Hà Tĩnh cũng có trên 10 tổ bắn máy bay bằng súng 12 ly 7, súng trung liên, súng trường... Tất cả đều bố trí thành đội hình nhằm mục tiêu chính bảo vệ trận địa giả trên đồi Rú Nài.


Chúng tôi đến Sở chỉ huy Tiểu đoàn 8, trường Sĩ quan Phòng không. Anh Lê Đình Truy, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng từ Hà Nội cũng vừa vào. Anh cho biết chuyến đi của chúng tôi chuẩn bị ra số báo thí điểm, đã được Cục Chính trị báo cáo Bộ Tư lệnh quân chủng. Anh động viên chúng tôi hãy dũng cảm như một chiến đấu viên, cố gắng thu thập tình hình, chụp được nhiều ảnh chiến đấu, phát hiện được nhiều gương điển hình chiến đấu. Ket quả chuyến đi của chúng tôi được coi như kết quả của một trận đánh.


Chính trị viên Tiểu đoàn 8 Đỗ Văn Dĩnh cung cấp cho chúng tôi tình hình tiểu đoàn vừa hành quân vừa chiến đấu từ Vĩnh Linh ra Hà Tĩnh; phương án tác chiến và đội hình chiến đấu của tiểu đoàn trong trận phục kích bắn máy bay Mỹ.


Tối 30 tháng 3, chúng tôi toả xuống các trận địa. Tôi và anh Văn Dân xuống Đại đội 83 ở vị trí "ôm lấy mục tiêu mà đánh" ngay sát chân đồi Rú Nài, chỉ cách trận địa giả chừng 200m. Anh Trần Duy Hợi xuống Đại đội 32 ở phía tây. Anh Nguyễn Ngọc Thục xuống Đại đội 27 của Tỉnh đội Hà Tĩnh ở hướng đông - bắc. Các trận địa chỉ cách xa nhau chừng trên 1000m. Ở Đại đội 83, tôi tranh thủ nắm kỹ về trận chiến đấu trên đường hành quân chiều 22 tháng 3, chính trị viên đại đội Ngô Văn Phán chỉ huy hai khẩu đội hành quân sau, đã bắn rơi 1 máy bay F8 trên đỉnh Đèo Ngang. Tôi tranh thủ phỏng vấn, chụp ảnh một số gương điển hình chiến đấu của đại đội trong trận chiều 26 tháng 3 ở thị xã Hà Tĩnh.


Sáng 31 tháng 3, khi trời còn mù sương, tôi và anh Văn Dân cùng nhau lên quan sát cảnh trận địa Rú Nài vừa bị không quân Mỹ tập kích. Rú Nài là ngọn đồi nhỏ và thấp, nằm một mình giữa cánh đồng ngoại vi thị xã Hà Tĩnh. Cây cột ăng-ten ra-đa giả vẫn đứng sừng sững giữa đỉnh đồi. Các chiến sĩ tự vệ công nhân thị xã Hà Tĩnh thật khéo tay, đã "chế tạo" dàn ăng-ten ra-đa giả sơn màu cỏ úa giống như thật. Thật đến mức khi chúng tôi đến gần khoảng 30m mới biết đó là "của giả". Thì ra hôm 26 tháng 3, Mỹ chủ yếu ném bom cỡ 25kg một quả. Những lán nghỉ của bộ đội đều bị bom phá nát, cây cối xác xơ. Đó đây còn lăn lóc những quả bom 25kg chưa nổ. Tôi tranh thủ chụp ảnh cây cột ăng-ten ra-đa giả "giống như thật" ấy và vài quả bom 25kg chưa nổ về làm tư liệu.


Khoảng 2 giờ chiều ngày 31 tháng 3, Hà Tĩnh nổi còi báo động. Những chiếc máy bay một động cơ cánh quạt kiểu A.D6 dàn đội hình lần lượt bổ nhào trút bom xuống cây cột ăng-ten ra-đa giả. Những chiếc máy bay phản lực F8 sà xuống rất thấp, vừa để uy hiếp tinh thần, vừa phóng rốc - két bừa bãi. Bom địch nổ ngay sát trận địa Đại đội 83. Đất đá tung lên mù mịt, rơi xuống quanh chúng tôi như mưa rào. Đại đội 83 nổ súng rất đĩnh đạc. Ngay giữa trận đánh, tôi thấy có hàng chục anh, chị dân quân không quản hiểm nguy lao vào trận địa, người lau đạn, người tiếp đạn cho bộ đội bắn. Những tiếng reo "máy bay cháy" của nhân dân gần khu vực trận địa, thỉnh thoảng lại rộn lên...


Đây là lần đầu tiên tôi cầm máy chụp ảnh một trận chiến đấu thực sự. Với chiếc máy ảnh Exa cũ trong tay, lại đứng giữa một khẩu đội pháo đang nổ súng, xung quanh tiếng bom nổ chói óc, tôi không sao xử lý kịp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #36 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:16:15 pm »

Khói bom và đất đá bên đồi Rú Nài tạt sang; khói và cát bụi từ các khẩu pháo bắn toả ra, trận địa mù mịt, ống kính máy ảnh nhìn rất khó. Sau tôi phải nhảy ra giữa trận địa mới bấm được vài kiểu pháo đang bắn nhưng không rõ lắm vì khói và bụi. Chỉ có một số kiểu chụp gần cảnh dân quân hiệp đồng chiến đấu, rõ nhất có cô Trần Thanh Xuân, y sĩ bệnh viện tỉnh và chị Lê Thị Thiềng, tự vệ thị xã. Anh Văn Dân ghi chép rất kỹ, sau về viết được bài "Cô y sĩ trên trận địa" cho số báo ra thí điểm.


Trận đánh kết thúc. Trời đã ngả về chiều, nhưng trận địa Đại đội 83 vẫn tấp nập trước hình ảnh đoàn kết gắn bó quân dân. Các bà mẹ già đến từng khẩu đội thăm hỏi, rót nước cho các chiến sĩ uống; các anh, các chị dân quân mang theo những bó giẻ đến tham gia lau pháo, lau đạn với bộ đội. Các em nhỏ ríu rít mang những bó lá xanh đến nguỵ trang cho các khẩu pháo. Các chị mậu dịch viên đẩy xe hàng gồm bánh kẹo, nước ngọt... đến phân phát cho các chiến sỹ. Khi đề nghị được thanh toán tiền, các chị chỉ cười, đáp lại rất vui: " Đây là quà của Tỉnh uỷ uý lạo các anh bộ đội vừa lập công xuất sắc!"...


Loa phát thanh thông báo ngày 31 tháng 3 năm 1965, quân và dân thị xã Hà Tĩnh hạ 12 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc máy bay Mỹ thứ 100 bị bắn rơi trên miền Bắc. Cùng lúc đó, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đã có mặt trên các trận địa kịp thời động viên, thăm hỏi bộ đội. Ở Đại đội 83, đồng chí Lê Đình Truy, Phó Chủ nhiệm Chính trị quân chủng cũng đã đến cảm ơn các mẹ, các chiến sĩ dân quân, tự vệ và biểu dương các chiến sỹ chiến đấu dũng cảm, bắn rơi máy bay Mỹ.


Trận chiến đấu ngày 31 tháng 3 chỉ có Đại đội 83 không dính bom đạn địch. Các Đại đội 82, Đại đội 27... đều trúng đạn rốc-két từ máy bay F8 phóng xuống, đều có thương vong. Tổ phóng viên chúng tôi, có anh Nguyễn Ngọc Thục bị thương ở trận địa Đại đội 27. Tối hôm đó chúng tôi vào thăm anh trong bệnh viện, anh kể: Khi anh đang giơ máy ảnh lên chưa kịp chụp cảnh pháo bắn, đã bị ngay một mảnh rốc-két văng vào bả vai.


Anh Ngọc Thục phải nằm viện. Còn lại ba chúng tôi sau khi dự tổng kết rút kinh nghiệm trận đánh ở Tiểu đoàn 8, vội ra xe trở về Hà Nội. Về tới quân chủng đã quá trưa ngày 2 tháng 4. Chúng tôi lên gặp trưởng phòng báo cáo kết quả chuyến đi và dự kiến đề cương tờ phụ trương Tập san. Anh Thái Vĩnh vui vẻ bắt tay khen ngợi chúng tôi, rồi nói ngay:

- Nội dung tờ phụ trương có lẽ phải bổ sung thêm vì hai hôm nay địch trinh sát Hàm Rồng dữ lắm. Rất có thể chúng sắp đánh cầu Hàm Rồng!

Quả nhiên trong hai ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, địch liên tiếp đánh phá ác liệt cầu Hàm Rồng. Các đơn vị pháo cao xạ cùng dân quân, tự vệ hai bên bờ sông Mã và pháo trên tàu Hải quân ta đã đánh trả kịp thời. Đặc biệt trong hai ngày 3 và 4 tháng 4, không quân tiêm kích ta lần đầu ra trận, đã bắn rơi cả F8, A4 và F105 "Thần sấm" Mỹ.


Sáng ngày 6 tháng 4, trưởng phòng Trần Thái Vĩnh nhắc chúng tôi khẩn trương làm ngay tờ phụ trương báo, vì chiến sự đã lan rộng. Kết quả từng trận đánh mới, có thể nắm ngay trong giao ban hằng ngày...

Ba chúng tôi tập trung làm tờ phụ trương theo tinh thần nhanh chóng ra mắt bạn đọc. Anh Trần Thái Vĩnh tuy rất bận, vẫn tranh thủ viết cho bài xã luận "Bình tĩnh, vừng vàng, kiên cường chiến đấu với tư thế người chiến thắng" để in trang nhất. Trên trang nhất chúng tôi làm nổi bật thư khen của Bác Hồ gửi Không quân nhân dân Việt Nam, bên tin chiến sự tổng hợp chiến thắng Hàm Rồng; tin không quân nhân dân ta lần đầu xuất kích lập chiến công oanh liệt và chiến công bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 100 trên miền Bắc trong trận phục kích bên đồi Rú Nài ở Hà Tĩnh. Ảnh minh hoạ trang nhất có một khẩu đội Đại đội 83 đang nổ súng bẳn máy bay Mỹ bên đồi Rú Nài ngày 31 tháng 3 và ảnh biên đội MIC-17 của ta đang chuẩn bị cất cánh. Anh Trần Duy Hợi chụp được tấm ảnh đẹp về đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đến động viên bộ đội trên trận địa. Bài minh hoạ có "Quật ngã thần sấm sét" cùng với chân dung biên đội trưởng Trần Hanh đội mũ bay, phản ánh trận không chiến bắn rơi máy bay F105 Mỹ. Phụ trương có nhiều gương chiến đấu; những mẩu chuyện về tình đoàn kết chiến đấu quân dân; có nhiều chuyên mục như: "Xây dựng Đảng"; "sinh hoạt Đoàn thanh niên"; tiểu phẩm vui; thơ, ca dao; tin vắn về phong trào thi đua toàn quân chủng; thông tin lư liệu về không quân địch ...


Tờ phụ trương chỉ có 4 trang khổ tuần báo, được in tại Nhà máy in Tiến Bộ nên ảnh và kiểu chữ đẹp, hiện đại, được hoàn thành ngày 12, nhưng chúng tôi đề số phát hành vào ngày 13 tháng 5 năm 1965. Tờ phụ trương được Thường vụ Đảng uỷ quân chủng nhất trí thông qua, dư luận hoan nghênh, coi như mô hình cho việc làm thủ tục xin chuyển từ Tập san Phòng không sang loại báo ra hằng tuần của Quân chủng Phòng không - Không quân. Nhưng chúng tôi vẫn phải làm nốt hai kỳ tập san Phòng không tháng 4 và tháng 5 năm 1965 theo nền nếp, chỉ được nghỉ tháng 6 để làm thủ tục và chuẩn bị, đến ngày 15 tháng 7 năm 1965, siis 1 tờ báo Phòng không - Không quân ra hằng tuần mới chính thức được ra đời.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #37 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:18:25 pm »

BÀI HỌC VIẾT CỦA TÔI


Trần Quốc Hanh


Tôi được thủ trưởng Cục Chính trị giao viết một tài liệu giáo dục. Viết ngày, viết đêm. Thông qua ba lần, bị mang về ba lần để bổ sung, sửa chữa. Mệt và cáu. Lần thứ tư, tôi mang tài liệu lên thông qua. Không lo, không ngại nữa, tôi chỉ bực. Bực vì khi giao việc, trên chỉ nói sơ sơ. Mỗi lần thông qua lại thêm một ý tưởng mới, có khi khác hẳn lần trước, bắt viết lại. Lần này ấy à, nếu lại thay đổi, bổ sung ý tưởng thì... tôi xin "chào thua" luôn!


Vừa nhìn thấy tôi, Cục phó Cục Chính trị Đoàn Chương đã hỏi: "Thế nào? Đã được chưa?...". Chẳng nhẽ lại nói toạc ra nỗi bực dọc của mình, tôi nén lòng trả lời: "Thủ trưởng thấy được là được, chứ tự tôi thấy được thì có ý nghĩa, tác dụng gì!".

- "Hè... hè... hè... mệt hả? ... Thôi, uống nước, làm vài cái kẹo cho đỡ mệt rồi ta cùng xem!".

Chén trà đặc trước mặt. Điếu thuốc lá trễ trên môi. Khói thuốc che mờ cả khuôn mặt có cặp mắt thông minh, thân tình, Cục phó Đoàn Chương chăm chú giở từng trang bản thảo ra đọc. Tôi thì lơ đãng nhìn quanh. Không quan tâm liệu lần này có qua được "cửa ải" hay không?...


Bỗng tiếng cười của Cục phó lại bật lên: "Cậu viết cứ như ông P.K.H. nói ấy... hè... hè (Hừ! - Tôi nghĩ - thế là thế nào? ... Mặc, không nói rõ thì coi như không nghe, không hiểu. Thế là xong). Lát sau, lại tiếng cười hè hè cất lên: "Được đấy, nhưng mà... Thế rồi cứ như vậy, chỉ "bình an" được một tý, lại "hò... hè... ý... chỗ này của cậu là gì?", "Thế này là thế nào?"... khiến tôi không thể không chú ý xem thủ trưởng soi vào đâu và soi như thế nào. Tuy cũng chớm thấy những chỗ "cụ" soi là có lý, nhưng vẫn bực. Có phải ý của tôi đâu! Ý của thủ trưởng bổ sung lần trước đấy chứ! Cũng có phải tôi viết cái chỗ "thế này là thế nào" đâu, mà là tôi "copy" từ một bài xã luận trên một tờ tạp chí của quân đội, tôi mà dám tự mình viết ra điều tầy đình thế sao?. Vừa lúc đó lại: "Hè... hè... lô-gích của cậu đâu rồi hả?". Không kìm nổi mình nữa, tôi "bật nắp nồi áp suất" luôn:

- Thủ trưởng thừa biết tôi vào quân đội, tôi có được học hành tý nào đâu mà có lô-gích! Tôi viết sai, viết chưa được chỗ nào, thủ trưởng cứ chỉ rõ phải sửa ra sao, tôi sẽ sửa đúng như thủ trưởng muốn...

Bật nồi hơi ầm ầm thế mà "cụ" vẫn cứ tỉnh như không:

- "Hè... hè... hè... Không có gì mà phải cáu như thế! Uống chén nước đi cho hạ hoả. Chờ một tý, tớ xong rồi đây!" Nói rồi, ông lại tiếp tục chăm chú đọc, thỉnh thoảng lại bật lên tiếng cười nhẹ "hè... hè... " trong khi đưa tay đánh dấu vào một chỗ nào đó trong bản thảo. Cuối cùng, ông tháo kính, đặt bút, vươn vai, bẻ ngón tay, nhìn tôi, cười cười vẻ trêu chọc: "Hè... hè...! Cho đánh máy được rồi. Cậu thấy thế nào?" (Lại "cậu thấy thế nào?"...) Tôi vừa mừng vì không phải viết lại lần nữa nhưng vẫn còn bực, vội "vâng" rồi cầm bản thảo đứng dậy, xin phép về. "Ngài" Cục phó lại cười:

- Từ từ đã, ngồi xuống uống chén nước rồi xem lại tớ sửa thế nào, có đồng ý với tớ không đã chứ!

Tôi miễn cưỡng ngồi xuống. Ông rót cho tôi chén nước, rồi tủm tỉm cười, ngồi nhìn tôi giở tài liệu ra xem. Hơn mười trang tài liệu, ông sửa không nhiều. Chỉ thêm một số chấm câu, ngắt đoạn, đảo từ, thêm chủ ngữ... mà câu văn sáng sủa, ý tứ rõ ràng hẳn ra. Có nhiều đoạn ông còn đánh dấu đậm và ghi bên cạnh: "Được",... "Tốt". Xem đến đâu, trong lòng tôi dịu đi đến đấy. Không phải vì những lời khen mà vì thấy rõ những chỗ sửa đổi rất cần thiết và rất hay của ông. Mặt tôi lúc này chắc cũng đã dãn ra, tươi tỉnh lên đôi chút, không còn căng thẳng như trước.

Chờ tôi uống xong chén nước, ông mới nhấn nha nói:

- Làm nghề viết lách, phải viết đi viết lại là chuyện bình thường. Có vượt qua được thử thách ấy mới viết giỏi, viết hay được... Đây là bài học của bản thân tớ từ khi còn làm thư ký cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh trong kháng chiến chống Pháp. Tớ chỉ muốn truyền bài học quý ấy cho cậu thôi mà!

Thế rồi ông chân tình kể cho tôi nghe:

- Khi làm thư ký của anh Thanh, Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị lúc đó, mình mới 21, 22 tuổi. Trong một thời gian khá dài ban đầu, viết tài liệu, văn kiện theo chỉ đạo của anh ấy rất ít khi chỉ hai, ba lần là được. Nhất là những bài phải thông qua cả anh Trường Chinh. Không chỉ ý tứ mà cả từng câu, từng chữ, từng cái dấu chấm, dấu phấy cũng phải rõ ràng, nghiêm túc, chặt chẽ. Viết đi viết lại bốn, năm, bảy lần là bình thường. Viết đi viết lại, tất nhiên là mình rất mệt nhưng tài liệu càng có chất lượng, trình độ của mình càng khá lên. Cuối năm 1950 đầu năm 1951, mình được anh Nguyễn Chí Thanh giao soạn thảo một văn kiện quan trọng. Thật tình mình rất sợ. Văn kiện ở tầm mức lớn quá, cao quá, mà mình thì... Biết mình sợ, anh Thanh động viên: "Cậu cứ nghiên cứu, chuẩn bị để viết đi, mình sẽ thảo luận, trao đổi ý kiến với cậu trong từng bước của quá trình viết". Sau gần một tháng trời đánh vật, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của anh Nguyễn Chí Thanh, mình viết xong, được 120 trang bản thảo. Thông qua mấy lần, viết lại mấy lần, rút xuống còn 80 trang. Đưa lên đồng chí Trường Chinh duyệt, sửa đi sửa lại mấy lần nữa, còn 60 trang. Cuối cùng, các anh ấy giao cho mình mang bản thảo đã sửa hoàn chỉnh lên trình để Bác Hồ duyệt.


Cầm bản thảo lên trình với Bác, trong lòng mình cực kỳ hạnh phúc. Hạnh phúc vì được gặp Bác và hạnh phúc vì đã hoàn thành được nhiệm vụ nặng nề, vượt quá sức mình. Bụng chắc mẩm văn kiện đã được cả hai đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh thông qua, chắc cũng sẽ được Bác duyệt ngay thôi. Ai dè, chưa kịp đưa tài liệu ra trình, Bác đã hỏi:

- Tài liệu chú soạn bao nhiêu trang?

- Dạ, thưa Bác, 60 trang ạ!

- Thế chú có biết ai sẽ đọc và thực hiện văn kiện này không?

- Dạ, có. Là nhân dân vùng cao ạ!

- Nhân dân ở đó phần lớn còn chưa biết đọc, biết viết, ngôn ngữ lại bất đồng. Chú viết dài như thế làm sao bà con hiểu, nhớ và thực hiện được?

- ...?

- Thôi, chú mang về viết lại đi. Cho chú 20 trang. Ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Viết xong, đưa chú Trường Chinh, chú Thanh xem lại rồi mang đến đây cho Bác. Cố gắng nhé!

- Vâng ạ!

Miệng thì "vâng" nhưng người mình thì toát hết cả mồ hôi. Vấn đề lớn tầy đình, 60 trang viết còn lo chưa diễn giải được rõ ràng mà nay chỉ được diễn đạt trong có 20 trang thì làm thế nào bây giờ ?...

Về nhà - ông kể tiếp, được hai "cụ" Trường Chinh và Nguyễn Chí Thanh tập trung hướng dẫn. Sau hai tuần lễ viết không kể ngày đêm, mình mang bản thảo viết lại đến trình với Bác. Câu đầu tiên Bác hỏi là:

- Bao nhiêu trang?

- Dạ thưa Bác, 19 trang ạ!

- 19 trang?... Giỏi! Trước hết, Bác thưởng cho chú một điếu thuốc lá và một cái kẹo vì đã vượt yêu cầu một trang. Còn tài liệu, cứ để đấy Bác xem. Xong, Bác sẽ gửi lại cho các chú.

Ba ngày sau, Bác cho đưa tài liệu về. Giở ra xem, cả anh Trường Chinh, anh Nguyễn Chí Thanh, và dĩ nhiên là cả mình nữa, vừa nhẹ cả người, vừa vui sướng: Văn kiện đã được Bác thông qua, Bác chỉ sửa đôi chỗ, chủ yếu là về câu, chữ cho người đọc dễ hiểu, dễ nhớ hơn mà thôi...


Qua lần viết văn kiện đó, mình đã được rèn luyện và trưởng thành lên rất nhiều về trình độ, tri thức đấu tranh cách mạng và năng lực soạn thảo văn kiện chính trị. Có nhiều bài học. Trong đó thấm thìa nhất là bài học được Bác Hồ dạy: Viết để làm gì? Viết cho ai? Viết như thế nào?


Cậu có biết không, ngày ấy tớ phải viết đi viết lại văn kiện đó không dưới 10 lần. Mệt và nản lắm chứ. Nhưng nhờ vượt qua được cái đận thử thách ấy mà tớ tiến bộ hẳn lên về nhiều mặt. Bây giờ cậu mới phải viết lại đến lần thứ tư thì có gì mà phải cáu chứ?"...


Câu chuyện của Cục phó Đoàn Chương kết thúc, tôi thấy nhẹ đi rất nhiều nỗi bực dọc trong lòng. Càng về sau, tôi ngày càng nghiệm thấy ý nghĩa sâu xa và tác dụng thực tế lớn lao của bài học được Cục phó truyền lại cho. Một "tay" tuyên huấn "chân đất" như tôi, chẳng được học qua trường lớp nào, nhờ trân trọng và kiên trì vận dụng bài học ấy mà dần dần cũng "chen" được vào hàng ngũ những "tay viết" của Cục chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân thời kháng chiến chống Mỹ. Cũng là một kỷ niệm khó quên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #38 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:19:23 pm »

MỘT LẦN BỊ TRƯỞNG PHÒNG "SỜ GÁY"


Hoàng Long


Hồi ấy, tôi mới về Phòng Tuyên huấn được hơn một tháng. Chưa kịp tìm hiểu kỹ chức năng, nhiệm vụ của phòng ra sao thì một hôm, Trưởng phòng Lê Chí Hướng gọi tôi lên giao nhiệm vụ: "Tối nay, có đoàn cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Ba Lan xuống thăm nhà máy dệt Nam Định. Trên đường về, đoàn sẽ ghé thăm một đơn vị pháo phòng không của Trung đoàn 250, nằm gần quốc lộ số 1. Đồng chí đi cùng với đoàn. Khi đoàn trở về, đồng chí dẫn đoàn vào thăm đơn vị".


Tôi trả lời "rõ" sau khi nhận nhiệm vụ. Trưởng phòng nói: "Tốt! Đồng chí về chuẩn bị tốt cho chuyến đi!". Cơm chiều xong, tôi đạp xe đến Bộ Ngoại giao. Để xe đạp lại rồi cùng đoàn lên ô tô, đi về hướng Nam Định.

Lần đầu tiên được ngồi trên chiếc xe ngoại giao lướt đi rất êm. Mỗi khi gặp ổ gà, nó chỉ khẽ lắc lư như ngồi trên võng, chứ không nẩy tung lên như chiếc xe đít vuông của Cục.

Đến nơi, thấy nhà máy đã chuẩn bị đón đoàn rất trọng thị. Tôi cảm thấy hơi choáng ngợp. Thế là tôi nghiễm nhiên trở thành một thành viên "bất đắc dĩ" của đoàn. Tôi cũng cùng dự tiệc vui với đoàn, cũng nhấm nháp chút kẹo bánh, chút bia bọt như ai...


Thăm nhà máy dệt xong, trời đã khuya. Trên đường về đến trận địa pháo, để đoàn đứng ngoài chờ, tôi vào trước thông báo cho đơn vị đón đoàn.

Vào đến nơi, thấy cả trận địa im lìm, mọi người đang say sưa trong giấc ngủ. Tôi bồn chồn lo lắng, đi tìm chỉ huy đơn vị. Sau một thời gian khá dài, ban chỉ huy cũng điều động được một số anh em ra ngồi trên mâm pháo. Tôi ra mời đoàn vào. Đến nơi, đoàn có mấy lời hỏi thăm, chúc mừng xã giao đơn vị rồi ra xe ô tô trở về Hà Nội luôn.


Sáng hôm sau, tôi ung dung lên báo cáo trưởng phòng về chuyến đi đêm qua. Nghe xong, trưởng phòng quắc mắt, giơ tay đập mạnh xuống bàn. Tôi giật thót tim, chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra thì trưởng phòng đã rít lên: "Chết rồi! Thật chết rồi! Tôi cử đồng chí đi chuẩn bị cho đơn vị đón đoàn thật chu đáo để thể hiện được khí phách của một quân chủng vừa chiến thắng oanh liệt không quân đế quốc Mỹ xâm lược, chứ không phải để cả đơn vị ngủ lăn ra như thế! Đồng chí là cán bộ tuyên huấn đi làm nhiệm vụ tuyên huấn, chứ có phải là ông đại sứ con đâu?".


Tôi nóng ran cả mặt, chưa kịp phản ứng gì thì trưởng phòng bực bội đứng lên, đi về cuối phòng. Tôi khó chịu và tủi hổ thực sự. Tôi nấn ná ngồi lại vài phút, rồi cũng đứng lên đi về phòng làm việc của mình, trong lòng buồn chán vô hạn.


Về phòng làm việc, tôi chẳng nghĩ được gì cứ thờ thẫn trong lòng vì câu chuyện vừa xảy ra với trưởng phòng. Tôi trầm ngâm suy nghĩ về việc làm của mình, tự phê phán, xỉ vả mình và nghĩ rằng: "Có lẽ mình không hợp với công tác tuyên huấn thật!".


Qua sự việc trên, tôi nghiệm ra ràng: "Đã là tuyên huấn thì phải đi trước thiên hạ một bước". Từ đó tôi chịu khó học hỏi, rèn luyện về kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ. Tôi đã trưởng thành nhiều, và đến cuối năm 1968, đã được anh em bình chọn là Chiến sĩ thi đua của Phòng Tuyên huấn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1166



« Trả lời #39 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2022, 08:20:30 pm »

TÔI LÀM THƠ TRÀO PHÚNG


Trần Cường


Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi được Ban biên tập báo Phòng không - Không quân phân công viết 2 chuyên mục trào phúng: "Thông nòng" và "Quét sân bay". Suốt thời gian đó, báo của quân chủng in ở Nhà in báo Hà Nội Mới. Một lần, cô Oanh - công nhân nhà in đọc bài thơ "Canh ... Trời!" trong mục "Thông nòng" của tờ báo Phòng không - Không quân in thử, cứ ngâm nga hai câu kết: "Thôi thôi hãy thả bóng hồng, để trong đôi mắt phòng không canh trời" rồi tủm tỉm: "Trông hiền thế mà đáo để thật!". Chả là bài ấy cười mấy chiến sĩ trinh sát một đại đội pháo cao xạ trực chiến, từ sáng sớm đã quay kính TZK ngắm mấy cô thôn nữ cách xa trận địa mấy cây số đang sắn cao quần lội bùn cấy lúa, làm các chiến sĩ ta sao nhãng trực chiến.


Hàng trăm bài báo như vậy, nay còn lưu ở Toà soạn báo Phòng không - Không quân và bảo tàng Phòng không - Không quân trên đường Trường Chinh, Hà Nội.

Vậy nguyên do nào tôi làm thơ trào phúng? Cũng phải trích ngang một chút chỗ này. Bà mẹ tôi là người thuộc làu truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc... và ca dao tục ngữ. Cụ thường mắng tôi bằng những câu này, thí dụ: Ngày tôi bốn tuổi thường ôm cái chổi to đùng quét sân, mẹ tôi bảo: "Con ơi! Đã quét thì quét cho sạch, chớ có "một nhát đến tai, hai nhát đến gáy" đấy nhé!" Ông anh tôi đẽo những đôi guốc mộc bằng gỗ củi tạ nặng hàng kilô, tôi cũng xỏ chân vào đi lộc cộc, mẹ tôi lại lắc đầu mắng: "Con tôi, lúc nào cũng "ra giày vào dép, ra hán vào hài thôi!". Gần Tết, tôi bảo mẹ: "Sắp Tết rồi, mẹ may cho con cái quần mới đi!". Mẹ tôi rầu rầu bảo: "Nhà ta nghèo, con là út chịu khó mặc quần áo chật của các anh con cho đỡ tiền, chớ nên "con nhà lính, tính nhà quan!". Có hôm tôi bảo mẹ: "Mẹ ơi! Con thèm cá lắm, hôm nay mẹ mua cá đi!", mẹ tôi lại bảo: "Làng xóm đang chết đói đầy đường, nhà ta cơm độn là may rồi, "hay gì ăn trắng mặc trơn" con ơi! (trận đói năm Ất Dậu, nhà tôi cứu được chị Mùi và anh Tiểu sắp chết đói, đưa về nuôi, sau đó gả chồng cho chị Mùi). Những câu như thế nhiều lắm, nhưng thật thấm thìa, nó theo tôi suốt cuộc đời và cả trong mọi công tác. Lại nói ông bố tôi, làng xóm thường bảo: "Trông ông Bảy cứ như ông Bụt ấy!" (Bố tôi là thứ bảy trong gia đình), ấy vậy mà lại là một cây hài hước có cỡ đấy! Tôi chỉ xin kể một câu chuyện ngắn thôi: Chả là nhà tôi ở trước một cái chợ làng kéo dài hơn nửa cây số. Cửa nhà lại có một số bà bán hàng ngồi nhờ thường xuyên, trong đó có một bà thầy bói mù và một bà hàng vải tên là bà Điều. Bà này là dân đi đạo. Bà ấy vừa bày hàng xong thì có một ông thầy tu đi qua chợ. Bố tôi lẩm bẩm: "Ông này mình cao số nặng, phải đội bát nhang đấy!". Câu nói làm bà hàng vải ngẫm nghĩ mãi và lúc sau bà ấy hiểu ra cái ý hài hước của bố tôi, bà ẩy cười lăn cười bò ra suốt buổi sáng không bán được hàng nữa. Cũng may bà ấy không phải là người đạo gốc.


Kể một chút như vậy để thấy có nhẽ tôi cũng ảnh hường ông bố, bà mẹ thế nào ấy chứ tôi vốn là thằng bé thất học vì lúc đó Nhật chiếm nước ta, quân đồng minh thường cho máy bay ném bom trại lính Nhật không lúc nào yên. Nhất là trường tiểu học gần nhà tôi, lại nằm ngay cửa ngõ cái hẻm núi, nghe nói trong đó là nhà máy vũ khí và thuốc súng của Nhật nên càng không thể tiếp tục học được. Nhưng cái máu trào phúng ấy nó cũng làm tôi... khốn khổ! Đầu đuôi thế này: Năm tôi lên chín tuổi, ông anh tôi tên là Cang, mua được đôi chim sẻ đá về nuôi trong lồng, chăm chút ghê lắm. Nhưng rồi một hôm hớ hênh thế nào để xổ lồng, chim bay mất. Tôi bèn làm luôn mấy câu ca dao:

   ... Chim sẻ đá mua ở Hải Phòng
   Chẳng may nó lại xổ lồng bay xa
   Giữa ngày mồng tám thảng ba
   "Mày đi mày để lòng ta rối bời. "
   Ông Cang bổi hổi bồi hồi
   Chạy ngay lên gác đứng ngồi không yên
   Tay cầm cải ná bản chim
   Định bắn cho chết, cóc tìm thấy đâu!


Câu cú chẳng hay ho gì nhưng tôi cũng được cái "nhuận bút" đầu đời từ tuổi ấu thơ bằng cái tát nảy đom đóm mắt vì tội dám lấy phấn viết bậy lên cửa!. Ấy cái tinh hoa phát tiết cũng khổ thế đấy! Năm 13 tuổi, tôi làm liên lạc cho Uỷ ban kháng chiến hành chính xã Tam Hưng, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Giấy chứng minh thư xã cấp cho tôi với cái tên rất "kiếm hiệp": Lâm Quốc Hùng. Cuối năm 1949, xã bị địch tạm chiếm. Tôi được xã cho theo mấy anh người làng ra Chiến khu Đông Triều, học văn hoá được vài tháng rồi đứt nguồn tiếp tế. Lúc đó tôi mới 14 tuổi, may được anh người làng xin cho làm văn thư ở Ty Y tế tỉnh Quảng Yên. Cũng được no hai bữa ăn mỗi ngày, thỉnh thoảng lại viết ca dao cho báo của Ty Tuyên truyền Văn nghệ tỉnh. Liên tiếp hai năm 1951 và 1952, tuy là nhân viên hành chính ở một cơ quan chuyên môn, nhưng tôi được bầu là Chiến sĩ Thi đua số 1 của ngành Y tế tỉnh, được Bộ trưởng Bộ Y tế khen và thông báo toàn quốc, nên năm 1953 được Bộ Y tế gọi về Bộ công tác rồi về tiếp quản Thủ đô và được cử đi học. Năm 1958, lại được quân đội chọn vào làm ở Phòng Bí thư, Bộ Tham mưu Tổng Cục Hậu cần. Chuyện học tập của tôi xin kể vào dịp khác. Từ năm 1960 đến 1964 tôi đã viết thơ đả kích cho báo Quân đội nhân dân và thơ châm biếm cho báo Cứu quốc và báo Thời Mớ ... Xin kể một chuyện đáng nhớ là vào dịp Tết năm Nhâm Dần 1962, tôi viết một bài thơ dài: Quẻ thẻ đầu năm cọp của Tổng Diệm, đăng gần một nửa trang báo Quân đội nhân dân. Ngày đó trên báo Nhân dân có ông Thợ Rèn, nên bút danh tôi lấy tên Thợ Gò (ý tôi là cái gì méo mó thì gò cho phẳng phiu ra). Đoạn mở đầu tôi viết thế này:

   Đêm Ba mươi thức khuya ngủ gật
   Thợ Gò mơ thăm đất Sài Gòn
   Vượt Trường Sơn núi cùng non
   Vào thăm cảnh Tết bà con Sài Thành
   Phố phường lạnh lẽo vắng tanh
   Đảo quanh cảnh chợ Bến Thành bất an
   Thiết quân luật lệnh Diệm ban
   Cảnh binh, mật vụ nhan nhan vỉa hè.
   Bỗng đâu thiết giáp dăm xe
   Đỗ ngay trước cửa Thị Nghè trông sang
   Trên xe một gã mỡ màng
   Mắt lươn, bụng ỷ, mõm lang, tai cầy
   Thì ra Tổng Diệm tới đây
   Dụng tâm tìm thầy đoán thè đầu năm.
   Thợ Gò định tránh chó săn
   Chẳng ngờ Diệm đã trật khăn vái chào
   Hỏi "Thầy quê quản nơi nao
   Cho bản chức biết thấp cao tình hình"
   Mỗ rằng: "Quỷ Cốc tái sinh,
   Hà Thành quẽ ngụ, tính danh Thợ Gò"
   Nghe xong Diệm mới nhỏ to
   Xin thầy đoán giúp cho "Mo" quẻ đầu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM