Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2022, 08:55:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sóng gió một vùng biển  (Đọc 869 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #20 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2022, 08:50:43 am »


*

*         *

Cơn bảo số hai ập đến thật bất ngờ. Luồng gió xoáy từ biển tràn vào nhanh hơn mọi dự đoán. Bão ở vùng đồng bằng, rừng núi thì đổ nhà, đổ cây, nhưng dữ dằn nhất, điên cuồng nhất vẫn là bão ở vùng biển. Ở đây, cảnh vật trần trụi, cô độc hơn. Những bãi sú, bãi vẹt mới trồng vừa nhô khỏi mặt nước đã bị sóng biển bứt ra khỏi đất liền. Những cột buồm, những chiếc thuyền câu bé nhỏ bị gió bão quật vào bờ đá. Đàn chim biển như một đám lá đổi màu, bay và rụng lả tả xuống mặt đê hoặc đồng nước. Phải nói chúng là một loài chim rất thính nhạy với sự đột biến của thiên nhiên, khốn nỗi sức chúng quá mỏng manh và bất lực trước gió xoáy, sóng dữ.

Buổi sáng hôm đó, con đê ở ngoại ô thành phố Hải Phòng trầm mình trong cơn bão. Sóng ném những tảng đá lớn vào đường phố Đồ Sơn làm sập một số ngôi nhà. Sóng ném cả những chiếc sà lan, những chiếc phao ngoài xa lên đoạn đê mới đắp. Dãy lán của công trường mới dựng ở ven con đường nhựa bị gió thổi tung. Những hàng thông vặn mình răng rắc, những cột điện bị gãy nằm ngổn ngang, xiêu vẹo ở ven đường.

Đoạn đê mới đắp bị vỡ. Cái tin đồn đó lan nhanh về thành phố và các vùng lân cận. Trong khi gió bão, toàn bộ ban chỉ huy công trường, cùng một số các đơn vị công binh, bộ đội biên phòng, trường quân sự, rồi tiếp đến các cơ quan bạn, Ty thủy lợi thành phố, đều lần lượt có mặt trên đê. Đoạn đường nhựa nước dâng, nhiều đoạn có cây đổ, bùn thụt đến đầu gối, xe con không đi được, mọi người đành phải chân trần đi bộ. Dòng người đổ lên phía đoạn đê bị vỡ.

Sau gần một giờ khảo sát, ban chỉ huy công trường đếm được mười lỗ thủng trên mặt đê. Trước mắt họ, đoạn đê dài giống như một sợi chỉ mỏng manh có nhiều chõ đứt. Đê mới đắp xong, chỉ một trận bão là vỡ, bao nhiêu công sức của con người bị sóng gió cuốn đi trong chớp mắt. Đứng trên mặt đê, bao nhiêu người đều xót xa, lo lắng, song không ít người tỏ ra chán nản.

Một người dáng hình thấp bé, mặc bộ com lê màu đen, khoác mảnh vải nhựa màu trắng, tay xách đôi ủng bết bùn lách đám đông đi lại phía Vũ Sinh:

— Thôi, công dã tràng xe cát rồi ông Sinh ơi. Hàng chục triệu đồng của nhà nước chứ đâu phải ít của?

Vu Sinh nhận ra ngay cái dáng vẻ loắt choắt, giọng nói pha chút bề trên của người đang đứng trước mặt mình. Ông cố nén bình tĩnh đáp lại:

— Chúng tôi sẽ tổ chức lực lượng hàn lại đoạn đê này. Chỉ cần các anh cấp cho vật liệu để thi công.

Người mặc áo com lê màu đen vốn là một cán bộ quyền chức ở Ty thủy lợi. Ông ta ngước cặp kính lão hé mắt nhìn Vũ Sinh, giọng ngạc nhiên:

— Các anh lại nhận đoạn đê này? Không liều lĩnh chứ?

Vũ Sinh đáp gọn lỏn:

— Chúng tôi đã đắp được đê thì cũng giữ được đê. Vả lại, lao động ở đây mấy tháng ròng, các đơn vị đã quen công việc.

— Nhưng xin anh nhớ cho, việc hàn đê khác hẳn với việc đắp đê, cũng như việc đánh giặc khác hẳn với việc làm kinh tế. Chỉ có lòng quyết tâm chưa đủ đâu...

Giá như trong hội nghị, Vũ Sinh có thể tranh luận rạch ròi với người đang đứng trước mặt mình. Nhưng giữa đám đông ồn ã, giữa trời bão gió này, có bao nhiêu công việc ông phải lo, lý sự với nhau mãi cũng chẳng tích sự gì. Rời đám đông, ông đi về phía những lỗ thủng khác trên mặt đê. Nhìn dòng nước xoáy ào ào vào đoạn đê vỡ, ông suy nghĩ miên man. Làm thế nào để hàn vá được mười lỗ thủng trên quãng đê này. Ông ước tính sổ lượng đá cũng phải tới hơn một nghìn mét khối, tre pheo vài nghìn cây, rồi rọ sắt, thuyền mảng, sà lan, tàu hút bùn. Từng ấy vật liệu, có xoay xỏa được không? Tất nhiên, lực lượng bộ đội, dân quân có, dẫu khó khăn đến mấy cũng phải làm. Phía sau ông, cả một vùng đất đã được con đê mới bao bọc, rồi đây nhất định những bãi sú, bãi vẹt sẽ biến thành khu đất dựng nhà, nuôi tôm thả cá. Không lẽ từng ấy con người cứ ngồi đấy mà chịu cho đê vỡ, cho sóng gió đe dọa đất liền; Mấy tháng nay, cùng các cán bộ trong ban chỉ huy công trường đứng chân ở mặt trận này, mọi người đều xốc vác, nhiệt tình, nhưng kinh nghiệm chưa có. Hơn nữa có một vài cán bộ chủ công bên ngoài chưa tin rằng bộ đội làm được kinh tế. Mà khi chưa tin thì họ nhìn nhận mình bằng con mắt e dè ái ngại. Mình làm ăn khấm khá thì họ cho là may mắn, mình bị thất bại thì họ vạch lá tìm sâu phê phán, chụp mũ. Không hiểu sao, hình ảnh người cán bộ già mặc bộ com lê màu đen lúc nãy cứ lởn vởn trong đầu Vũ Sinh. Thực ra, hai người đã từng gặp nhau, đã từng đối thoại với nhau nhiều lần:

— Ở đơn vị anh có đến chục kỹ sư thủy lợi không?

— Có bốn. Hiện nay chúng tôi đang cử người đi học tiếp.

— Quá ít, làm sao mà đảm đương nổi với khối lượng công việc khổng lồ như thế. Làm kinh tế mà rời khoa học thì gay go lắm.

Vũ Sinh trầm tĩnh đáp:

— Chúng tôi sẽ cố gắng tận dụng hết khả năng của anh em.

— Tôi đã nói với anh: việc làm kinh tế không phải chuyện đùa. Yêu cầu cấp vốn, cấp vật liệu của anh, dĩ nhiên chúng tôi phải xem xét thận trọng đã... Vũ Sinh là người quyết đoán, dám nhận trách nhiệm về mình. Công việc đắp đê bước đầu đã gặp biết bao khó khăn. Rồi con đê đang được hoàn thành thì cơn bão số hai ập đến. Đê vỡ. Những lời đồn đại theo cơn bão tràn đi rất nhanh. Vũ Sinh biết rằng trong đám người kéo lên mặt đê kia, không phải tất cả đều có chung một nỗi lo âu, đồng cảm với mình. Một số rất ít, vì bảo thủ, ghen tị, đã mượn gió bẻ măng, nhân cớ này mà chụp mũ, kết tội người khác.

Trong lúc Vũ Sinh một mình đang bước những bước trồi sụt trên đoạn đê lầy lội thì cậu liên lạc trong ban chỉ huy công trường vượt tắt con đường qua bãi sú lên mặt đê tìm anh. Nghe tiếng gọi, Vũ Sinh quay lại. Giọng cậu liên lạc hổn hển, đứt quãng trong tiếng gió:

— Báo cáo... thủ trưởng. Bộ chỉ huy điện gọi thủ trưởng về họp.

— Ngay bây giờ.

— Vâng. Đường từ đây về thành phố cũng không xa, xe con đi không tiện lắm. Em đã thổi cơm và mượn cho thủ trưởng một xe đạp.

Đạp xe tới Bộ chỉ huy, Vũ Sinh gặp ngay đồng chí chỉ huy trưởng cũng vừa đi xuống cơ sở về. Cuộc họp diễn ra rất nhanh. Đúng như Vũ Sinh dự đoán, thành ủy vẫn giao cho ban chỉ huy công trường tổ chức lực lượng hàn đê. Đồng chí chỉ huy trưởng hỏi anh:

— Bao giờ thì các đơn vị ra quân được?

— Báo cáo. Tình hình hàn đê rất gấp. Tối nay, chúng tôi sẽ họp ban chỉ huy công trường, Ngày mai, ngày kia ra quân.

Đồng chí chỉ huy trưởng ân cần hỏi:

— Vật liệu còn thiếu những khoản nào?

— Cần khoảng hơn hai nghìn cây tre, hơn một nghìn khối đá, một trăm cái rọ sắt...

— Khối lượng đó lớn đấy, không phải ngày một ngày hai mà có đủ ngay được đâu. Nhưng theo mình, xe chở vật liệu về đến đâu ta làm ngay đến đó. Trước mắt, ta có thể tận dụng số đá của đoạn đê cũ để sử dụng vào việc hàn đê.

— Vâng. Tôi rất yên tâm vì lực lượng lao động của mình rất đông. Ngoài tiểu đoàn công binh của thành còn có trung đoàn biên phòng, các đơn vị của trường quân sự và dân quân tự vệ. Chỉ lo nhất là thiếu vật liệu thi công.

Kết thúc cuộc họp, đồng chí chỉ huy trưởng thân mật xiết chặt tay Vũ Sinh:

— Thuận lợi cũng nhiều nhưng khó khăn cũng không phải ít. Cần việc gì ông cứ đề đạt trực tiếp với mình. Xin chúc toàn thể công trường chúng ta sớm hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #21 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2022, 08:51:42 am »


*

*        *

Suốt một tháng nay, từ khi ban chỉ huy công trường mít tinh, mở những cuộc ra quân lớn trên mặt trận thủy lợi, ngày nào trên đoạn đê ngoại ô cũng đông nghịt những người. Những đơn vị bộ đội, dân quân nhận kế hoạch hàn vá các lỗ thủng. Đám thợ đấu ở thành phố và các làng lân cận cũng lũ lượt kéo về nhận việc đào đất ở những đầm nước mặn. Từng đoàn xe tải chở đất chở đá, nối nhau đổ dồn về phía mặt đê. Hàng chục chiếc sà lan chất nặng đá áp sát vào các lỗ thủng. Sáu chiếc tàu cuốc liên tục hút bùn ở những vùng lầy. Những bãi sú, bãi vẹt được phát quang. Rồi tre pheo, rọ sắt, cùng những dụng cụ lao động khác được chuyển tới, dồn lại thành đống trên mặt đê. Nhịp độ của con người và máy móc đang quay vòng theo thời gian, hối hả và bền bỉ.

Như trên đã nói, đoạn đê này là đoạn đê mới đắp. Việc nó ra đời khiến cho một số người sửng sốt, khó tin. Khi nó bị cơn bão phá vỡ, bỗng nhiên gieo vào lòng những người trước kia vốn đã nghi hoặc một sự trắc ẩn và chán nản. Vì thế, khi biết tin công trường lại ra quân, mở chiến dịch hàn đê, một số các cụ già ở gần đó, kéo đến công trường phản đối. Đã sống gần tròn một đời người ở làng biển, các cụ già cho rằng việc đắp đê lấn biển là phiêu liêu, mạo hiểm. Bởi từ bao đời nay, dân làng ở đây đã từng làm, song rốt cuộc đều thất bại trước uy vũ của biển cả. Thất bại và cam chịu, một số người tin vào thần linh. Trên đoạn đê cũ ngày trước, còn rải rác vài ngôi đền nhỏ dân làng lập nên, làm nơi cầu nguyện của những người đi biển.

Một hôm, trong lúc mọi người đang hối hả hàn đê, cụ Bậu cùng mấy bô lão trong làng Kim khăn áo tề chỉnh, kéo nhau ra mỏm Cồn Sú. Các cụ mang theo một mâm xôi gà, kê đá lập thành bàn thờ trên khoảng đất ì ầm sóng gió. Cụ Bậu cùng các bô lão đặt mâm xôi gà lên mấy hòn đá rồi thành kính thắp hương. Những dáng hình vốn đã khô gầy bỗng nhiên như nhỏ lại. Những đôi mắt mờ đục nhìn ra biển cả như tìm thấy trong khoảng không bao la kia bóng dáng của thần linh mà bấy lâu nay họ vẫn nguyện cầu để mong được cưu mang, che chở. Các cụ rì rầm khấn vái, cho tới lúc tàn hai lần hương rồi mới lặng lẽ ra về.

Trên đường về, các cụ rẽ vào nhà ban chỉ huy công trường. Trong lúc uống nước, cụ Bậu lựa lời hỏi Vũ Sinh:

— Có phải chiều hôm qua, ở công trường ta xảy ra tai nạn lao động không?

Vũ Sinh rót thêm nước mời khách:

— Vâng. Báo cáo các cụ, chiều hôm qua, có một trận mưa lớn từ biển ập vào. Mưa to và sét giật trong lúc mọi người đang làm việc...

Cụ Bậu:

— Chúng tôi nghe nói sét đánh bị thương mười hai người và một cô gái ở làng Kim bị ngã từ sà lan xuống biển?

— Vâng. Nhưng số người bị sét đánh cũng nhẹ thôi, trong số mười hai người thì hôm nay sáu người đã có mặt ở công trường. Còn cô Tân, người làng Kim thì...

Cụ Bậu rơm rớm nước mắt:

— Nó là cháu ruột tôi đấy. Vì nhà thiếu ăn, nó phải đi làm nghề thợ đấu mấy tháng nay. Tội nghiệp nó, gia đình thì neo đơn. Nó mà có mệnh hệ gì thì tôi biết trông cậy vào ai.

Vũ Sinh an ủi:

— Thưa cụ, cô Tân đã được đưa đi viện kịp thời. Chỉ ngày một ngày hai là bình phục thôi.

— Tôi chẳng tin nó sống được. Anh mới đến đây không rõ chứ, từ xưa, ở cái làng này hễ cứ đắp đê là phải cúng lễ linh đình và thần biển năm nào cũng lấy đi một cô gái đẹp nhất. Đêm hôm qua, trong lúc ngủ mơ, tôi đã được thần biển báo mộng rồi...

Một cụ già trong đám đi lễ đang ngồi cạnh cụ Bậu nói chen vào:

— Những năm trước, dân làng ở đây chỉ dám bồi đất vào con đê cũ chứ có dám tính đến chuyện đào đắp thêm ra phía biển đâu. Các anh đắp đê mới, lại còn định đưa người ra dựng nhà, trồng cây ở đây là không ổn rồi. Đấy, từ hôm các anh đắp đê đến nay, có bao nhiêu chuyện xảy ra. Đê đắp gần xong thì có bão, đê vỡ. Khi các anh hàn đê thì trời đổ mưa lớn. Sét đánh gãy cây gạo già to nhất của làng Kim, sét đánh cả vào đám dân thường. Đó là điềm dữ. Các anh là lớp hậu sinh, chúng tôi sống ở đây lâu, biết hết mọi chuyện. Nếu có ngỏ lời khuyên can cũng chỉ vì lợi ích của dân làng.

Vũ Sinh:

— Các cụ là những người cao tuổi trong làng, có lời chỉ bảo thế, chúng tôi rất cảm ơn. Nhưng chúng tôi xin đề nghị các cụ hết sức ủng hộ chúng tôi. Nếu thấy khó khăn trước mắt, các cụ suy diễn ra những điều này, điều nọ thì sẽ ảnh hưởng đến đám con cháu mình đang góp công, góp sức trong việc hàn đê...

Ông Bậu cùng các bô lão đối đáp với Vũ Sinh một hồi lâu rồi cáo lui. Đưa chân các cụ ra khỏi ban chỉ huy sở, Vũ Sinh đi thẳng tới công trường. Trước mặt ông là một biển người đang hối hả với công việc. Chiếc loa phóng thanh đang truyền đi những tin tức lao động của các đơn vị. Như thế, một tháng nay, công trường đã hàn được tám trong số mười lỗ thủng trên mặt đê. Chỉ ngày mai, ngày kia, toàn bộ lực lượng của công trường sẽ hàn tiếp hai lỗ thủng số bốn và số năm còn lại. So với các lỗ thủng khác, lỗ thủng số bốn và số năm, to hơn, khó hàn hơn. Chiều nay, ban chỉ huy công trường đã cử người đi chuẩn bị lực lượng lao động và số lượng vật liệu cho những ngày sắp tới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2022, 08:53:28 am »


*

*         *

Muốn hàn vá lỗ thủng số bốn và số năm được bảo đảm, ngoài những vật liệu như: đá, tre, rọ sắt… cần phải có một số cọc gỗ dài khoảng mười hai thước. Cọc gỗ đã có, nhưng làm thế nào để đóng sâu, đóng chặt được vào lòng đê thì các kỹ sư thủy lợi chưa tính ra. Đồng chí Mến, cán bộ huyện Đồ Sơn xin đảm nhận việc này. Vốn là người quê gốc vùng biển, Mến thuộc giờ con nước lên xuống như người vùng rừng thuộc tên cây, tên suối. Vào lúc nước lặng, Mến cùng mấy chiến sĩ chở thuyền ra chỗ lỗ thủng trên mặt đê. Họ ngồi ở trên thuyền, dùng sức người cắm cọc. Một đầu cọc đã được vát nhọn như đòn sóc, cắm sâu vào lỗ thủng của lòng đê đầy nước. Nhưng mỗi cọc dài tới mười hai thước, cắm được đến nửa chừng thì đầu cọc chạm vào lớp đất rắn. Mến phân công hai chiến sĩ quấn hai đoạn dây thừng quanh thân gỗ, vừa kéo, vừa lắc theo chiều nước, đoạn anh trèo hẳn lên đầu cọc. Có người trèo lên, chiếc cọc thêm sức nặng. Hai đoạn dây thừng vẫn kéo đi, kéo lại, khiến chiếc cọc lún dần như mũi khoan lớn khoan sâu vào đất. Chừng nửa giờ sau, chiếc cọc dài đã cắm ngập vào lòng đê. Mến từ dưới nước bơi vào thuyền giục mọi người cắm tiếp chiếc cọc khác.

Nhân lúc giải lao, Vũ Sinh hỏi Mến:

— Vậy ra lời đồn của dân làng quả không sai. Người ta bảo ông có tài cắm cọc và bỏ kè từ thuở nhỏ. Ai truyền nghề cho ông vậy?

Mến cầm khăn tay lau khuôn mặt, ướt nước và nói như khoe: — Ông bố tôi cũng rất giỏi nghề này. Dân làng biển, ai cần cắm đăng chắn cá, muốn cho chắc chắn, thường hay gọi đến bố con tôi làm giúp. Nghe các cụ nói, ngày xưa, thời Trần Hưng Đạo cắm cọc gỗ ở sông Bạch Đằng cũng áp dụng theo cách đó. Cứ một người trèo lên, hai người ngồi ở hai thuyền, ròng dây vào cọc kéo đi kéo lại, đất rắn mấy cũng phải lút.

— Nhưng phải thay phiên nhau chứ mình ông, thấm mệt đấy. Còn cắm nhiều cọc cơ mà.

Mến nói vui:

— Ở quanh đây trừ anh ra, kiếm đâu được người nặng bẩy mươi ký như tôi. Vả lại người to mà không biết trèo, cọc trơn như bôi mỡ, dễ tụt lắm.

Mến cười vang rồi khoan thai bước xuống thuyền. Anh mặc một chiếc quần bộ đội cũ và chiếc áo cộc tay, nước da loáng nước ngăm den, tóc rễ tre dựng ngược, vồng ngực và bắp thịt ở tay nổi lên từng múi. Cả thân hình ấy toát lên vẻ đẹp trai trẻ, cường tráng.

Hai ngày sau, khi những cọc gỗ đã cắm chắc, ken dày ở lỗ thủng số bốn và số năm, thì đất đá được dòng người thi nhau chuyển xuống. Hai lỗ thủng số bốn và số năm to rộng như miệng ao đã được san bằng. Rồi đầm, rồi vồ thi nhau nện thình thịch trên lớp đất mới. Dòng người trên mặt đê vừa làm việc vừa hò reo không ngớt. Ai nấy đều sung sướng, hỉ hả, không khí công trường thoáng chốc rộn lên như một cuộc chạy đua sắp về tới đích. Mười lỗ thủng trên mặt đê đã hàn xong. Dải đê dài hóa thành vòng tay ôm chắn một vùng đất rộng lớn. Biển cả vẫn duềnh lên từng đợt sóng dữ dội hòng nhấn chìm tất cả, nhưng con đê như cao hơn, dài hơn, vững vàng hơn trước mọi đe dọa, thử thách hiểm nghèo.

Ngày cắt băng khánh thành con đê trở nên một ngày hội lớn không hẹn trước. Xe con của các cấp lãnh đạo trên thành phố, của các huyện đỗ rải rác gần mặt đê. Nhân dân địa phương nô nức rủ nhau, mang quà cáp mừng tặng các đơn vị đã tham gia lao động trên công trường, Lại có cả một số phóng viên nhà báo, mang theo máy ảnh ghi âm đến từng tốp bộ đội, dân quân đề chụp ảnh, phỏng vấn. Từng đoàn thiếu nhi mang hoa đứng thành vòng trên bãi đất dài ẩm ướt. Đoàn văn công thành phố cũng xin về biểu diễn ngoài trời. Tiếng nhạc xập xình nổi lên át cả tiếng sóng biển đang ầm ào, gào thét.


*

*         *

Biết tôi muốn tìm hiểu về công trình hàn đê của các đơn vị bộ đội và dân quân Hải Phòng, Vũ Sinh dành hẳn một buổi chiều dẫn tôi đi thăm tuyến đê mới. Để kết thúc câu chuyện, Vũ Sinh kéo tôi ngồi xuống bãi cỏ, đoạn mở cặp lấy ra một tấm ảnh cỡ lớn:

— Đây là bức ảnh tôi nhờ một trợ lý tuyên huấn bộ chỉ huy chụp nhân ngày lễ khánh thành tuyến đê này. Dĩ nhiên tôi còn có cả những tấm ảnh chụp với các đơn vị bộ đội dân quân đang hàn vá đê hoặc cánh thợ đấu đang đẩy thuyền đào đất. Nhưng riêng tôi, đây là bức ảnh đáng nhớ hơn cả. Anh thử đoán xem, những ai trong tấm ảnh này?

 
Tôi chỉ vào một người đứng tuổi, dáng hình thấp đậm, mặc bộ com lê màu đen, đeo kính trắng:

— Có phải đây là vị cán bộ thủy lợi mà anh đã kể cho tôi nghe không?

— Đúng. Trong khi chúng tôi chỉ huy đơn vị hàn đê thì ông ta dùng quyền chức của mình để cản trở công việc. Nhưng ngày lễ khánh thành tuyến đê thì ông ta đến sớm để chúc mừng tôi.

Vũ Sinh cười ý nhị và chỉ tay vào hình một cụ già râu tóc bạc phơ đứng giữa:

— Còn đây là cụ Bậu, người ở làng Kim. Hôm lễ khánh thành tuyến đê, cụ Bậu rủ các bô lão trong làng ra tận nơi thăm hỏi các đơn vị. Trông thấy anh em chúng tôi, cụ Bậu mừng lắm. Cụ mừng vì tuyến đê đã hoàn thành mà trời biển vẫn yên hàn và cô Tân cháu ruột cụ đã được anh em bộ đội cứu sống. A, tôi chưa kể cho anh nghe về cô Tân, một thợ đấu giỏi của công trường. Hôm đó, bị sét đánh, cô Tân trượt chân từ sà lan ngã xuống dòng nước xoáy. Nghe tiếng kêu, mấy anh bộ đội vội nhảy ào vào dòng nước, bơi theo. Một đợt sóng chồm vào bờ rồi cuốn cả người bị ngã lẫn người cứu mang ra xa. Lập tức, một chiếc thuyền từ bờ đê lao vút tới chỗ đám người bị nước xoáy. Cũng may hôm đó mái tóc dài của cô Tân vướng vào chiếc cọc tre nơi bãi sú, nếu không sức đàn bà con gái ắt sẽ bị sóng biển nhấn chìm. Mấy anh bộ đội đều giỏi bơi. Họ lựa theo chiều sóng nghiêng người bơi về phía chiếc cọc tre, gỡ tóc và dìu cô lên thuyền. Khi thuyền vào đến bờ, thấy máu mũi cô Tân ứa ra, mấy anh bộ đội thì mặt mày nhợt nhạt, mọi người lo quá. Bọn tôi phải lấy chiếc xe con của ban chỉ huy công trường thay xe cấp cứu, đưa họ đi viện luôn. Anh biết không, chỉ bốn năm ngày sau, mấy anh bộ đội và cô Tân thợ đấu đã xuất viện, sức khỏe trở lại bình thường. Cô Tân lại đẩy thuyền đi đào đất và lại cất tiếng hát ở loa phóng thanh công trường. Đấy cô Tân đứng bên cạnh đồng chí Mến, người cắm cọc gỗ ở lỗ thủng số bốn và số năm đấy. Anh trông cô Tân có dáng dấp của cô gái thợ đấu vùng biển không?

Vũ Sinh còn giới thiệu cho tôi biết những người khác trong bức ảnh. Đó là những cán bộ, chiến sĩ mà tôi chưa quen, chưa gặp bao giờ. Hiện tại họ ở đâu, làm gì, cuộc đời riêng của họ ra sao? Chỉ biết họ có mặt ở nơi đây, đã mang công sức của mình góp phần tạo thành con đê mới, vạm vỡ và chắc bền qua năm tháng.

Và nhìn sâu vào bức ảnh ở một góc độ khác, tôi lại thấy hiện lên một vùng đê trong cơn bão, với những lỗ thủng đã được san bằng, những xói mòn trồi sụt đã được hàn vá, trên mặt đất mới đắp đang lan dày những vạt cỏ xanh non.

N.Đ.M.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2022, 01:22:34 pm »


ÁNH HỒNG

BAY LÊN BẰNG NHỮNG TẤM THẢM


Trước mắt tôi là hình ảnh ngôi nhà sàn của Bác ẩn dưới những bóng cây mát rượi và hàng phượng cháy lên màu hoa đỏ rung rinh trong mặt hồ gợn sóng. Tất cả hòa vào nhau, tạo nên không khí tinh khiết, bình dị, tưởng như nghe được tiếng sỏi cựa mình trên con đường Bác mới đi qua. Và, đây nữa, Đồ Sơn, đá lớn nổi bật với những hình thù giữa biển trời hòa sắc mùi hoa hồng, mùi dầu ô liu thơm thoảng từ mảnh vườn Bắc Âu tĩnh lặng... không còn biết mình đang ở đâu nữa, nói đúng ra, tâm hồn tôi đang bay trên những tấm thảm do bàn tay tài hoa của những người thợ thảm len Hàng Kênh.

— Chào các đồng chí — Tiếng giám đốc Đinh Văn Thập kéo tôi trở về với thực tại. Giám đốc Thập bước vào phòng khách lúc nào, khi chúng tôi tới, anh còn bận họp. Các đồng chí cán bộ công ty cho biết mọi việc «Thượng vàng hạ cám” ở đơn vị đều liên quan tới anh, từ việc tiếp khách nước ngoài, xây dựng cơ bản, thiết kế bản mẫu, giá cả, chất lượng...

Anh làm việc liên miên, dường như không nghỉ, kể cả buổi tối. Khó tưởng tượng nổi anh phụ trách cả một cơ sở sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu lớn gồm hai xí nghiệp quốc doanh, 25 hợp tác xã với hơn mười nghìn lao động, hầu hết là nữ.

Anh, người chiến sĩ dũng cảm đánh sân bay Cát Bi của giặc Pháp năm nào. Hòa bình lập lại, rời quân ngũ, anh được Đảng cho đi học quản lý kinh tế. Trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau: cơ khí, xây dựng cơ bản, dệt, phó chủ tịch quận Hồng Bàng... nay là giám đốc Công ty thảm len Hàng Kênh; nói đúng ra là giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp thảm len.

“Ông vua tẩy” đang ngồi trước tôi — nói như khách hàng một số nước tư bản gọi giám đốc Thập khi công ty anh tìm ra phương pháp tẩy bóng làm cho thảm len vừa đẹp lại vừa rẻ tiền. Tôi muốn thầm cảm ơn anh bộ đội Cụ Hồ đang ngồi kia đã dám đứng mũi chịu sào cùng tập thể lãnh đạo đơn vị đem lại việc làm chính đáng cho mười nghìn con người, làm sống dậy mặt hàng mỹ nghệ thủ công từng ba chìm bảy nổi theo năm tháng và đưa nó đạt tầm quốc tế ngày càng được bè bạn nước ngoài yêu thích, sánh đôi cùng những tấm thảm Ba Tư đi vào trong huyền thoại. Và, khẳng định một điều: quân đội ta không những chỉ đánh giặc giỏi mà còn làm kinh tế cừ!

So với các nghề truyền thống khác, tuổi đời của nghề thảm len chưa được là bao. Nó mới có ở Hà Nội từ năm 1926 thuộc hãng dệt TEXO rồi chuyển sang hãng IMEX do tên «Tây râu xồm” làm chủ. Sau IMEX vỡ nợ chuyển về Hải Phòng thành Tapi Hàng Kênh... cho đến năm 1954. Suốt thời gian do tư bản Pháp quản lý, nghề thảm len Hải Phòng chỉ lèo tèo với vài chục người, chãt lượng và số lượng không đáng kể.

Khi tách khỏi nhà máy len Hải Phỏng, xí nghiệp có hơn 460 công nhân cùng một hợp tác xã, sản xuất một năm 1.587 mét vuông với một mặt hàng thuấn túy là thảm len trơn.

Nay, số người là mười nghìn, sản lượng mỗi năm xấp xỉ 80 nghìn mét vuông, chiếm một phần ba sản lượng toàn quốc; trị giá trên, dưới 600 triệu đồng, gồm đủ các mặt hàng với kích thước khác nhau: thảm trơn, thảm tranh, thảm PAX, thảm Priman, đặc biệt là thảm tư bản, xuất ra nước ngoài hàng năm thu cho nhà nước một số lớn ngoại tệ.

Song, con đường đi lên của Công ty thảm len Hàng Kênh chẳng lấy gì làm thuận buồm xuôi gió. Bản thân đơn vị đã trải qua năm đời giám đốc, cũng đủ nói lên điều đó.

Cái khó của đơn vị không chỉ là nguyên liệu (len) phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài, và từng mặt hàng phải làm theo yêu cầu của họ; mà còn đòi hỏi các tiêu chuẩn thẩm mỹ cao, phù hợp với thị hiếu của từng nước, đồng thời luôn phải đổi mới các mẫu hàng, nhất là loại sản xuất cho các nước tư bản. Chỉ cần một sự sai sót nhỏ: mấy nút thắt lỗi, đôi ba họa tiết tỉa không đều, các gam màu không lên đúng độ, thế là tấm thảm bị giáng xuống thứ phẩm, mấy chục nghìn đi toi. Lấy đâu nguyên liệu bù cho họ? Uy tín của tổ quốc ra sao? Người ta đánh giá con người Việt Nam thế nào? Ấy là không nói đến sự «sập tiệm» phá sản nếu không thực hiện đúng các hợp đồng, kéo theo hàng nghìn người không có công ăn việc làm.

Làm thế nào để cơ sở sản xuất ngày càng phát triển, đời sống những «nghệ sĩ» dệt thảm ổn định và từng bước cải thiện trong tình hình khó khăn chung của cả nước?

Làm thế nào có thể bay lên từ những tấm thảm khi trang bị, thiết bị kỹ thuật còn thiếu thốn, không đồng bộ, điện, nước thường và lối làm ăn sản xuất nhỏ: trì trệ, bao cấp còn đè nặng?

Trước những vấn đề hóc búa đó, đảng ủy công ty cùng giám đốc Thập và các cán bộ chủ chốt của đơn vị đã chủ động tìm ra những biện pháp tháo gỡ.

— Cái khó, theo chúng tôi không phải là ở nguyên liệu, trang thiết bị, cái đó mình có thể nhập được; mà ở chỗ tổ chức và quản lý con người ra sao. Đấy mới là vấn đề then chốt — giám đốc Thập nhấp hụm nước vào thẳng vấn đề chúng tôi cần tìm hiểu. Anh tiếp: — Thực tiễn hoạt động ở đơn vị đã chứng minh điều đó. Năm 1977 là thời kỳ đi xuống của đơn vị, sản lượng chỉ đạt 25 nghìn mét vuông, nguyên nhân do sự xáo trộn tổ chức vì mới tách đơn vị ra khỏi nhà máy len thành phố để thành lập công ty. Bảy mươi phần trăm cán bộ chủ chốt vướng mắc về tư tưởng.

Đồng chí biết đấy, đặc thù nghề nghiệp của chúng tôi, rất khác với một số ngành, yếu tố tâm lý quan trọng lắm, đòi hỏi mỗi người thợ phải tự giác, phải linh cảm, nhạy bén đi đôi với sự tỉ mỉ cần cù. Chỉ cần sự biến đổi tâm trạng là ảnh hưởng ngay đến sự nhận biết màu sắc, và thế là sản phẩm làm ra không đúng với bản mẫu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2022, 01:24:37 pm »


Mặt khác, đơn vị hầu hết là nữ, một số chị em lại có chồng là bộ đội đang chiến đấu và công tác nơi xa; chị em đâu chỉ có mỗi việc lao vào sản xuất, còn trăm thứ khác, công việc nội trợ gia đình, chăm sóc con cái, động viên chồng yên tâm chiến đấu, nên không thể quản lý chị em như nam giới được. Mình là bộ đội, mình biết. Vả lại, công tác ở môi trường dân sự khác, không thể quân lệnh như sơn. Khối anh chỉ vì cứng nhắc, không phản ứng linh hoạt với môi trường cộng tác mới, nên ý định thì tốt, nhưng khi làm lại hỏng việc. Đâu phải ngẫu nhiên bên ngoài họ có ấn tượng với cánh cán bộ quân đội chuyển ngành. Kinh nghiệm của đồng đội đã rút cho mình tránh được những bài học cay đắng đó.

Mọi việc ở đây đều phải tế nhị, lấy động viên làm chính; đồng thời cố gắng tạo cho chị em có một nguồn thu nhập thích hợp. Nếu không, anh chồng sẽ bắt ở nhà làm việc khác. Chắc các đồng chí chẳng lạ gì thành phố cảng chúng tôi. Và, lẽ đời, anh nào nắm được kinh tế, ăn nói cũng dễ dàng hơn.

Điều này càng biểu hiện rõ trong quan hệ gia đình.

Thực tế, trình độ cơ sở đã phát triển thành Liên hiệp các xí nghiệp thảm len, đòi hỏi người lãnh đạo đơn vị phải có năng lực quản lý để mở rộng quan hệ sản xuất.

Việc đầu tiên là mạnh dạn đào tạo và đề bạt cán bộ từ những quần chúng tích cực, đó là những cán bộ, chiến sĩ quân đội chuyển ngành, là những thợ giỏi, những người thực sự có năng lực, nhất là ở lứa tuổi thanh niên.

Đối với nghề thảm, người thợ càng trẻ càng tốt, họ không chỉ nhanh tay nhanh mắt, có kiến thức văn hóa chóng tiếp thu kỹ thuật, mà còn nhạy cảm về mặt thẩm mỹ. Biết bao lớp thợ ở tuổi hai mươi, mười tám mới qua một tuổi nghề, đã có tay nghề bậc cao, nhiều em trở thành thợ giỏi. Và, nhiều cán bộ, chiến sĩ hôm qua, áo còn chưa hết mùi thuốc súng, nay đã là cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật vững, dám xông xáo trên mặt trận kinh tế.

Vào bất kỳ xí nghiệp nào, tôi cũng như lạc vào động tiên, chung quanh tôi là những nàng tiên trẻ đẹp với đôi tay thần kỳ đang mải mê dệt lên cỏ cây, hoa lá, đất trời. Hiện tại trộn cùng dĩ vãng hiện dần lên trên mặt thảm phảng lì, êm mát hơn nhung.

Đây mùa xuân, con hươu đang vờn trên cỏ biếc với vài bông hoa hé nở bên đường. Đây Mùa thu vàng, với những lá bạch dương bay nghiêng, xạc xào trong gió, làm sống dậy tâm hồn La-vi-tan qua mùa thu nước Nga.

Và đây nữa, Cô gái Ấn Độ, áo choàng và chiếc khăn Bom Bay vẫn không giấu được một tâm hồn rực cháy qua ánh mắt đa tình. Và, Ông nghè vinh quy với chiếc áo màu huyết dụ vua ban, phe phẩy chiếc quạt, nằm trên võng cho bõ lúc còng lưng đèn sách...

Tiêu biểu là xí nghiệp Toàn Thắng mới khai trương ngày 19 tháng 5 năm 1983, hầu hết thợ mới, nhất là ngành B do chị Trần Thị Hòa phụ trách. Ở đây mới từ cơ sở vật chất đến cán bộ, công nhân, từ giám đốc Phạm Thị Hồng Anh kiêm phó giám đốc Công ty, trước cũng từ công nhân dệt trưởng thành đến em Trần Thị Oanh mới vào nghề được một năm đã có tay nghề cao, là tuyển thủ dự bị trong đội tuyển thi thợ giỏi vừa qua ở Côn Sơn giữa ba địa phương Hà Nội — Hải Phòng — Hải Hưng của ngành thảm len, Oanh có năng suất cao bình quân mỗi ngày một vạn nút.

Cái khó ló cái khôn. Thiếu nhà dệt, tỉa cho chị em làm việc, giám đốc Thập quyết định vừa xây dựng vừa sản xuất ...

Nhà nào xây cơ bản xong, có thể bảo đảm cho công nhân dệt, tỉa làm việc, lập tức giám đốc Thập đưa ngay vào sản xuất, còn đâu hoàn thiện dần. Tôi đã gặp hai ba khung nhà Tiệp như thế ở xí nghiêp Toàn Thắng, Hàng Kênh, Cát Bi.

Có cái còn chưa che kính xung quanh trên cao phòng mưa hắt, nhưng chị em vẫn say mê làm việc. Và, từ những ngôi nhà này, hàng trăm mét thảm đã ra đời. Tại phân xuởng mẫu, ngôi nhà vẫn còn nồng mùi vôi vữa, chưa có cánh cửa, lớp họa sĩ thiết kế mẫu, phần lớn là con em các gia đình bộ đội, tuổi chưa đến hai mươi vẫn cặm cụi bên những tờ giấy vẽ. Phong phú, đa dạng, tươi mát và hồn nhiên; cảnh sắc trời, đất cứ hiện dần lên mặt giấy qua ngọn bút của các em. Tôi lặng lẽ, không dám hỏi sợ làm bay đi cảm giác chập chờn của màu sắc mà các em thoáng thấy được. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không phân biệt nổi dệt thảm len có nên gọi là một nghề không? Và xếp vào loại lao động nào? Tôi chỉ biết đây là một loại nghệ thuật công nghiệp đầy sáng tạo, biến hóa và tinh vi — một nghệ thuật của trái tim, tâm hồn.

Nhờ vừa xây dựng vừa sản xuất, nên trong những năm qua, Công ty không những bảo đảm được kế hoạch sản lượng thảm ký kết theo hợp đồng mà còn củng cố, phát triển được nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật như hoàn thành những khung nhà Tiệp ở xí nghiệp Toàn Thắng, cải tạo sửa chữa khu vực xí nghiệp Cát Bi, Hàng Kênh, chế tạo thêm khung dệt, xây thêm bể nước, sửa chữa nhà ở, nhà mẫu giáo.

Ngoài ra, công ty còn có nhiều sáng kiến trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật làm cho lao động thủ công của chị em đỡ vất vả, lại đạt hiệu suất và giá trị cao như: đưa cơ khí vào mắc dây sợi dọc, cùng với đơn vị bạn tham gia thiết kế máy đo chiều dài sợi len, lắp ráp máy sửa mặt phẳng thảm của Cộng hòa Dân chủ Đức, chế tạo hầm sấy thảm...

Nhưng, có người và phương tiện vật chất kỹ thuật, chắc gì đã sản xuất tốt. Lực lượng sản xuất chỉ được thúc đẩy và phát triển khi có quan hệ sản xuất tốt, biết tổ chức và quản lý.

Gần lúc ra về, với tâm hồn cởi mở của người lính gà cho nhau cách làm ăn, giám đốc Thập tiết lộ cái bí quyết «Ăn nên làm ra» của đơn vị anh: — Cái chốt của tình hình hiện nay vẫn là cơ chế, giải quyết tốt vấn đề cơ chế sẽ thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất tốt. Thực tế, đơn vị tôi đã làm được một phần vấn đề này, nên mới mở mày mở mặt được. Cái may của chúng tôi là có chủ trương của Đảng rất sáng suốt kịp thời trong việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhất là chúng tôi được Thành ủy quan tâm ủng hộ; tiêu biểu là đồng chí bí thư Thành ủy Đoàn Duy Thành chỉ bảo rất sát sao và anh dám trách nhiệm.

Giám đốc Thập dừng một lát, tiếp: — Việc đầu tiên, chúng tôi mạnh dạn tổ chức sắp xếp lại quản lý sản xuất. Làm được vấn đề này phải hết sức cụ thể, không thể chung chung.

Phải tiêu chuẩn hóa từ thủ trưởng đơn vị trở xuống. Người thủ trưởng không chỉ có nhiệt tình, mà còn phải có kiến thức, năng lực.

Từ đó, căn cứ vào tình hình đặc điểm đơn vị đề ra kế hoạch sản xuất từng thời kỳ trên cơ sở sản xuất thực tế của mình ra sao? Anh ta phải nhìn xa thấy rộng, đừng tham bát bỏ mâm, chớ cò con. Làm kinh tế, anh nào chẳng tính lỗ, lãi; nhất là đối ngoại với các nước tư bản, họ tính chi li lắm, mình phải thận trọng. Song, thận trọng không có nghĩa là đừng quan hệ.

Thí dụ ở đơn vị tôi, lúc đầu có một nước tư bản đặt làm 150 mét thảm loại mỹ thuật cao. Nếu tính mọi chi phí: nhân công, thời gian, trang thiết bị, rõ ràng mình lỗ.

Sau khi cân nhắc, thăm dò, chúng tôi cứ quyết định làm.

Nhiều người lúc đầu cho rằng khả năng đơn vị không thể làm nổi vì anh chủ hàng này chặt chẽ, quy lát quá từ màu sắc, độ dày, độ bóng, số nút, trọng lượng, kích thước từng tấm thảm.

Nhưng nhờ phát động quần chúng, khơi dậy những khả năng tiềm ẩn của họ. Cuối cùng chúng tôi đã thắng lợi. Và, hiện nay họ rất tin tưởng vào ta, đặt một số lượng lớn như kế hoạch năm 1985 là mười nghìn mét; mà một mét thảm loại này, giá trị xuất khẩu gấp ba mét thảm thường.

«Anh bộ đội Cụ Hồ này cả gan thật, làm kinh tế cũng quyết thắng như đánh giặc » — Tôi cười và nghĩ thầm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2022, 01:25:33 pm »


Chúng tôi đều hể hả vì ta đã thắng một ván bài với con buôn tư bản lọc lõi trên mặt trận kinh tế.

Trong không khí vui vẻ, chan hòa đó, giám đốc Thập nói thêm: — Một phần không kém quan trọng để thúc đẩy các đơn vị kinh tế hoàn thành kế kế hoạch và có lãi cho Nhà nước là phải biết kết hợp hài hòa giữa quyền lợi của cán bộ, công nhân đơn vị mình. Phải cố tạo cho họ có thu nhập tương đối thỏa đáng, kịp thời như: phát lương đúng kỳ hạn, tiền thưởng phải kịp thời... Có thế người ta mới hăng hái tái sản xuất sức lao động.

Riêng đối với thợ giỏi, chúng tôi có quy định tiêu chuẩn và chế độ đãi ngộ như một công phải dệt được 1,8 mét thảm, bảo đảm kỹ thuật 97% xuất khẩu, không hao quá 50 gam len một mét thảm.

Thợ giỏi ngoài việc được thưởng hiện vật, còn được ưu tiên đi tham quan, an dưỡng và cử đi học.

Chính nhờ có chế độ ưu tiên, nên thợ giỏi ngày càng nhiều.

Và, như đồng chí nói đấy, chủ trương của đảng ủy và ban giám đốc chúng tôi sẽ cố hết sức để đào tạo chị em thành những chuyên gia thảm len, những «nghệ sĩ» dệt và tỉa thảm.

Để tăng thu nhập, chúng tôi còn tổ chức thu nhặt sắt vụn bán cho nhà nước. À ra thế! Bây giờ tôi mới vỡ lẽ, thảo nào khi đi thăm Xí nghiệp Toàn Thắng, tôi thấy hàng đống lớn sắt, thép cũ được xếp gọn ghẽ.

Giám đốc Thập vừa đi vừa tâm sự: — Đối với những gia đình cán bộ, công nhân, nhất là những gia đình bộ đội, công ty cũng thường xuyên trợ cấp khó khăn, đặc biệt là sắp xếp việc làm cho con em họ, cụ thể đã giải quyết việc làm cho 500 — 600 con em cán bộ công nhân viên.

Nhưng, nếu chỉ nặng vật chất cũng hỏng, đồng chí ạ. Phải kết hợp quan tâm về mặt đời sống tinh thần nữa.

Đồng chí Chúc, trưởng phòng thi đua — tuyên truyền, trước là bộ đội đặc công, từng giáp mặt nhiều trận với lính Nam Triều Tiên và lính Mỹ, sau chuyển về bộ đội biên phòng, bảo vệ cảng. Chính trong thời gian bảo vệ cảng, nhiều lần anh đã chiến đấu rất dũng cảm để chống bọn làm ăn tiêu cực, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Đôi giày đen cao cổ anh đi vẫn còn dấu vết mũi dao găm do một toán cướp ỷ đông xông lại lấy hàng của Nhà nước.

Bằng những động tác võ thuật của mình, anh đã cùng đồng đội đánh gục bọn chúng. Một tên cướp biết anh là đối thủ lợi hại, lén phi dao găm vào ngực Chúc. Lanh mắt, Chúc né mình, dùng chân đá bay con dao.

Quanh anh biết bao chuyện về phẩm chất tốt đẹp và lòng dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng. Trông bề ngoài anh dong dỏng cao, tính tình vui vẻ, luôn cười nói, khó ai có thể biết anh là con người đã từng vào sinh ra tử trong những nằm tháng chống Mỹ cứu nước. Anh nói nhỏ nhẹ: — Riêng mặt này chúng tôi còn phải phấn đấu hơn. Hiện nay ở mỗi cơ sở mới có các đội văn nghệ như đội múa 50 chị em ở Xí nghiệp Toàn Thắng, nhưng hoạt động chưa đều lắm. Còn loa, đài, cả ba khu vực chúng tôi đều có. Riêng sách, báo mua rất đều đặn cùng việc tổ chức mua vé xem phim, xem hát cho các đơn vị.

Chúng tôi dùng hình thức văn nghệ để giáo dục một cách nhẹ nhàng những ai vướng mắc khuyết điểm. Thắng lợi lắm! Gần đây, chúng tôi liên tiếp tổ chức cho anh chị em đi thăm các công trình như: thủy điện Sông Đà, nhiệt điện Phả Lại, xi măng Hoàng Thạch, giấy Bãi Bằng, cầu Thăng Long... để anh chị em có tầm nhìn rộng hơn.

Bây giờ tôi mới hiểu vì sao cán bộ, công nhân ở đây thích đọc tiểu thuyết «Đứng trước biển» của Nguyễn Mạnh Tuấn. Và, bản thân giám đốc Thập rất chí thú về cuốn tiểu thuyết ấy, anh hỏi tôi ý kiến về quyển sách này ra sao.

Chiểu theo yều cầu của tôi, giám đốc Thập mời đồng chí trưởng phòng nghiệp vụ kế hoạch đem theo tất cả các đơn đặt hàng, biên bản xác nhận quy cách phẩm chất cùng ca-tô-nô của khách hàng nước ngoài tới. Đó là một cán bộ trẻ, hoạt bát mới ngoài ba mươi tuổi, anh giới thiệu cho tôi biết các chi tiết mặt hàng, những đề nghị của khách bằng tiếng Anh khá lưu loát. Tôi chăm chú đọc từng cái «Lits», từng mẫu hàng một. Quả thật làm ăn với nước ngoài không thể dĩ hòa vi quý được. Họ quy lát, chặt chẽ từng chi tiết về số lượng, chất lượng, màu sắc loại sợi len, tỷ lệ độ ẩm, ngày, giờ giao nhận và nguyên liệu họ giao cho ta gia công từng đợt còn tồn bao nhiêu. Tất cả đều được in rất rõ trên từng tờ giấy cứng khá đẹp. Thế mà đơn vị anh Thập đáp ứng được hết, không một lời phàn nàn của khách hàng.

Giám đốc Thập nhìn tôi đang chăm chú đọc một cách soi mói những ý kiến của khách hàng, anh nói: - Chính nhờ làm ăn với nước ngoài, chúng tôi học tập và nâng cao được trình độ nghiệp vụ làm kinh tế. Không thể tùy tiện, luộm thuộm theo lối nông dân được.

— Yet, Stand and Stand — Tôi đáp. Anh cười. Và, tôi hiểu sau nụ cười kia là bao đêm anh phải vùi đầu vào học và đọc sách, báo, tài liệu nước ngoài để đối đầu bằng được và chắc thắng với các đối thủ lọc lõi trong nghề buôn bán. Chính nhờ quyết tâm tiến công vào mặt trận khoa học kỹ thuật và lòng tin của anh cùng tập thể cán bộ, công nhân công ty nên đã tìm ra phương pháp tẩy bóng tối ưu nhất; góp phần tăng giá trị những tấm thảm suất khẩu, khiến khách hàng tư bản phải ngạc nhiên.

Và cũng chính nhờ quyết tâm đó, năm 1983, mặc dù đơn vị phải thay đổi 4.000 mét vuông mặt hàng từ đề tài đến kích thước, kỹ thuật lại khó gấp ba, đơn vị vẫn hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước là 19,10%, về trước thời gian 16 ngày.

Năm 1984, lại hoàn thành kế hoạch Nhà nước với tổng giá trị là 102%; trong đó mặt hàng thảm mỹ thuật cao tăng gấp đôi. Và, cũng là lý do vì sao đơn vị anh được Thành ủy Hải Phòng tặng cờ Đảng bộ vững mạnh.

Sau mấy ngày mưa, trời hửng. Tôi bước ra cổng Công ty lững thững dạo chơi. Trước mắt tôi là chiếc cầu An Dương mới hoàn thành trong năm qua, to rộng và có dáng thanh mảnh rất đẹp. Bất giác, tôi nhớ tới hướng đi của Công ty thảm len Hàng Kênh và người lính Cụ Hồ trên một trận hết sức mới mẻ này. Chỗ kia, phía trái cách cầu khoảng trăm mét, ngày mai sẽ mọc lên một phân xưởng nhuộm mới, diện tích một—hai héc-ta với những trang bị hiện đại, đồng bộ.

Tôi tin là đơn vị sẽ sớm hoàn thành và hoàn thành tốt vì niềm tin của tôi được bảo đảm bằng một bề dày chắc chắn của đơn vị, bằng những cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang không tiếc máu mình trong những năm dài bảo vệ nền độc lập tự do của đất nước, giờ các anh lại đi đầu trên trận tuyến mới biết đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau với 29 tổ, đội Lao động Xã hội chủ nghĩa và hơn 100 chiến sĩ thi đua...

Phải chăng cung cách làm ăn của Công ty thảm len Hàng Kênh cũng là chiếc cầu tôi đang đứng đây—một chiếc cầu chắc chắn, khỏe đẹp bắc qua bến bờ của lối làm ăn mới, thiết thực và có lãi. Tôi đắm mình trong suy tưởng. Trước mắt tôi là cửa biển, gió lộng thổi. Chấp chới những con tàu vẫy gọi: Hãy đi xa, hỡi những con người đã từng chiếm huy chương vàng trong Hội chợ Lép-dích và Plô-díp. Hãy đi xa, đi xa!

A.H
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2022, 08:46:33 pm »


CAO TIẾN LÊ

ĐÊM ĐÊM GIỮA THÀNH PHỐ


Nghĩ rằng chuyến đi này sẽ không gặp người con gái nào cả, bởi vì tôi đến với những người lính đang ngày đêm trăn trở làm tốt hai nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên một thành phố biển hết sức cuốn hút không những đối với họ mà còn đối với mọi người từ xa đến, bởi họ có những khám phá mới mẻ, những suy nghĩ về tính chất lao động... Nhưng tôi lại gặp Tuyẽt ở nhà Thế Đính. Đính là bạn cũ, họa sĩ, hiện công tác tại Công ty du lịch Hải Phòng số nhà 55 Điện Biên.

Từ năm 1971, sau khi chiến thắng đường 9 Nam Lào, đập tan cái gọi là “cuộc hành quân Lam Sơn 719” của bọn Mỹ — Ngụy, chúng tôi mỗi người chuyển đi một mặt trận, bây giờ mới gặp lại nhau. Thôi thì bao nhiêu chuyện cần hỏi cần nghe. Hãy giản ước những sinh hoạt rườm rà bằng cách cho cơm nguội vào chảo rang lên, mỗi người một chiếc thìa xúc ăn, sống lại thời giữa Trường Sơn gian khổ, ác liệt, đầy thích thú của tuổi thanh xuân, mà giờ đây nhắc lại tưởng như mới qua đi một vài tháng thôi. Có lúc cả hai đứa ngừng nhai, trố mắt nhìn nhau, cùng khà khà cười khoái chí, khi nhắc tên một đặc điểm... Nhưng chuyện riêng của chúng tôi không thể kéo dài vì Tuyết đến. Một cô gái thoáng trông vóc dáng có vẻ hơi to, bởi hôm nay đột ngột trời trở rét, với hai chiếc áo len mặc trong và khoác ngoài, quần bò Zan trên đôi guốc nhọn kiểu cách, thân hình như lúc nào cũng sắp chuyển động theo tiếng nhạc. Thấy tôi Tuyết xin phép ra ngoài, chốc quay lại, nhưng Đính đã kịp đưa xe đạp vào phòng, khép cánh cửa, và qua thái độ hình như Tuyết cũng không muốn đi. Tuyết nhập cuộc ngay bằng nấu thêm cơm, nấu thịt, xào su hào, nấu canh và quây quần bên hai cái bếp điện.

Thế Đính đã giới thiệu nhưng tôi cho là giới thiệu không thật, hoặc giới thiệu chưa hết. Thôi, hạ hồi phân giải, cứ như thế đã. Tuyết hỏi tôi về chuyện «chiếc xe rác... ». Có phải tác giả định kết thúc như vậy không? Tôi hỏi Tuyết xem truyện ngắn ấy ở đâu? Báo Văn nghệ, hay đài truyền hình Trung ương? Tuyết trả lời là xem cả hai nơi. Tôi bảo tác giả định kết thúc truyện ở chỗ hai người đẩy chiếc xe rác đi quanh Bờ Hồ đúng đêm giao thừa, đầy pháo đầy hoa. Nhưng kết thúc như thế không có hậu.

Tuyết phê phán là các anh viết bao giờ cũng có hậu, làm câu chuyện tròn trĩnh quá — Giọng Tuyết, hơi vang, khi nói hình như cố tình cong luỡi lên như giọng của diễn viên kịch. Tôi đoán Tuyết ở trong đoàn kịch nghiệp dư nào đó, hoặc có thể là nhân viên công ty du lịch. Tôi sợ những người có giọng nói như thế lắm, sợ nhất là họ để giọng nói trên sân khấu lạc ra ngoài đời, những giọng nói áp đặt, không có nóng, không có lạnh, khô rang rảng. Tôi đã nhầm. Thế Đính cho biết Tuyết là cô giáo trường Mầm Non số 1 Hải Phòng.

Tôi nói ngay nhận xét của mình là tất cả các cô giáo nhà trẻ, các cô mẫu giáo, đều mặc rất đẹp, mặt rất tươi, rất xinh. Cứ như các cô chưa phải lo hoặc không phải lo gì hết, kể cả những cô đã có chồng, có con.

Tuyết nói: Mấy năm trước có lần hiệu trưởng đến nhà em, thấy em, bà ta ngạc nhiên “Không ngờ cậu lại mặc quần áo xoàng xĩnh đến thế”. Ở nhà em mặc quần áo cũ, vá, nhàu nát, vì phải lên gác, xuống gác, may khâu ngoài giờ để sống. Nhưng ra khỏi nhà đến lớp là phải mặc đẹp, bởi các cháu rất thích cô mặc đẹp. (Tôi đùa thêm: Bố các cháu cũng rất thích cô mặc đẹp). Phải mặc đẹp thì mặt mới vui và các cháu mới sà đến. Các cháu cứ nhao nhao gọi: Mẹ Tuyết! Mẹ Tuyết! Anh biết thế nào không? Em chưa có chồng, chưa có con và chưa có cả người yêu nữa, nhưng khi nghe các cháu gọi thế, em sững sờ. Tiếng gọi ấy như một lời ban thưởng và một cái gì cao hơn nữa, một thứ tình cảm, tin tưởng, thiêng liêng, chuyển động hết tâm hồn em, gạn lọc, xua đuổi những ti tiện, nhỏ nhen và em cảm thấy mình yêu quý các cháu vô cùng.

Đính chen vào:

— Bây giờ cô cũng như các cháu. Cũng thích ăn cơm bằng chiếc thìa nho nhỏ, xới cơm vào bát rất ít và đôi lúc làm nũng để được động viên ăn thêm bát nữa.

— Đúng là thói quen của nghề nghiệp, nhưng các cháu phản ảnh sự trung thực nhất. Các cháu về mách mẹ: hôm nay con không muốn ăn cơm, mẹ Tuyết cứ dỗ con ăn thêm bát nữa, bây giờ mẹ có thấy bụng con căng lên không. Con chẳng vòi quà nữa đâu.

Các bà mẹ đến gửi con cứ bảo cho cháu vào lớp cô Tuyết. Nhưng làm sao nhận thêm được nữa hở anh khi lớp em đã 60 cháu rồi.

Tôi biết thêm, khi nói Tuyết cũng có uốn lưỡi, nhưng tuyệt nhiên không phải vì trau giọng, vì điệu bộ mà vì cô muốn nói thật chuẩn tiếng Việt cho các em bắt chước.

Ngồi chơi một lúc tôi xin phép về và nói là đi bộ một mình vì từ đấy sang Bộ chỉ huy quân sự thành phố cũng không xa. Đính đắt ngay xe đạp xuống cầu thang dứt khoát phải đèo tôi vì đường Hải Phòng quanh co. Tôi bảo chẳng khó gì, quen đi theo góc phương vị rồi. Thực ra tôi không muốn đôi bạn ấy xa nhau dù chỉ là vài chục phút. Rất may, một đồng chí ở phòng kế hoạch đến bàn công việc với Đính, tôi bắt tay Đính, hẹn một ngày trước khi rời Hải Phòng sẽ đến chơi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2022, 08:48:25 pm »


Vừa ra tới ngõ, đang tính đi hướng nào thì nghe có tiếng gọi phía sau. Tôi quay lại, nhận ra Tuyết. Tuyết hồ hởi: Em sẽ đưa anh về. Tôi khăng khăng không chịu, từ chối dứt khoát bằng cách bước xuống lòng đường cắm cúi đi. Tuyết đạp xe đuổi theo. Tôi đành phải dừng lại giải thích: Ban ngày thì được, nhưng ban đêm... nghe nói đêm đêm giữa thành phố, lắm chuyện xảy ra.

— Ồ, em là người Hải Phòng, em phải làm chủ thành phố chứ anh! Hơn nữa mấy năm nay ở Hải Phòng có nhiều chuyển biến lớn, kể cả việc bảo vệ trị an. Trước kia, đúng như anh nói, đã xẩy ra bao nhiêu chuyện, nào xóm “liều” làm chuyện “liều”, xóm «thiện» làm chuyện ác. Anh đã biết chuyện tướng cướp Trần Cao Vân chưa? Em nghe các anh bên công an. cho biết là nếu nó cướp vụ nào nghèo nhất cũng lấy được hai chiếc xe đạp «đủ ăn bữa trưa» còn thì phải hàng trăm nghìn đồng trở lên. Chập tối mà nó dám cướp của ở một nhà tại Cầu Đất gần đồn công an, lấy máy nghe nhạc, nhẫn vàng và chuỗi ngọc... Nhưng cuộc sống đâu phải chỉ dành cho bọn phạm pháp và bọn vô nguyên tắc hoành hành...

Tuyểt dắt xe đạp đi bên tôi. Đường Hải Phòng quả là lắm quanh co, chốc chốc lại rẽ ngang. Ở mỗi đường rẽ ngang ấy thường gặp những tổ quân nhân, đeo băng đỏ, mũ kê-pi dưới sự chỉ huy của một thượng sĩ.

Về Hải Phòng với ý định tìm hiểu, khai thác tận cùng những suy nghĩ và hành động của người mình gặp nên tôi lắng nghe câu chuyện Tuyết kể, dù chuyện không đầu không cuối, hoặc chỉ là đôi nét chấm phá, phác thảo về những náo nhiệt, những lắng sâu những trong sáng và những làm giàu đánh thắng đầy mưu trí của Hải Phòng kể cả những thủ đoạn mà Tuyết cho là bất minh.

— Bây giờ đôi lúc em cười một mình là có thời em thích đi bộ đội đến thế. Nhất là sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Nhưng rồi mẹ em bắt vào học trường dạy mẫu giáo. Em giận mẹ đến tưởng bỏ   nhà ra đi.

— Lúc này Tuyết bảo rằng, nếu bắt bỏ nghề mẫu giáo Tuyết có thể phát điên lên được?

— Đúng thế anh ạ, tính em nó thế nào ấy!

Tôi gật gù: chính là sự say mê của tuổi trẻ và say mê có định hướng.

— Lại nói về bộ đội, cũng có cái thời em ghét vô cùng bộ quần áo xanh quân nhân ấy.

— Làm sao vậy?

— Họ gây rối trong thành phố, ồn ào ở bến xe, cướp giật ở bến phà, bến tàu.

— Đơn vị nào thế?

— Chẳng phải đơn vị nào đâu anh ạ. Đấy là số trốn ngũ, số lưu manh, côn đồ, lợi dụng mặc quần áo quân đội có quân hàm, quân hiệu để cướp giật, trấn lột... Thấy quân đội là công an ngại can thiệp. Không những ban đêm đâu, mà cả ban ngày nữa thành phố cũng không yên ổn. Nhất là đối với khách nơi khác đến thành phố. Khách cũng không phải là ít, nào tàu biển nước ngoài, các công ty vận tải đường bộ, đường sông. Quảng Ninh về, Hà Nội xuống, Thái Bình sang...

Một tổ tuần tra vừa bất chợt ló ra sau con đường rẽ ngang, Tuyết chỉ vào họ và nói:

— Chính những người lính áo xanh kia, đã phát hiện rất nhanh bọn đóng giả quân nhân, bọn đóng giả ấy rất sợ các tổ tuân tra quân đội. Họ là lực lượng thuộc tiểu đoàn C1 làm nhiệm vụ phối hợp cùng công an giữ gìn trật tự an ninh trên đường phố, khi họ về không có tờ rơi và những vụ cướp giật giảm đi trông thấy. Tất nhiên những vụ áp phe lớn, móc ngoặc vào cả cơ quan nhà nước, những vụ trốn ra nước ngoài, họ cũng phát hiện, nhưng không phải chức trách của họ giải quyết. Họ báo cáo lên cấp trên và thường xuyên hỗ trợ cho công an, chính quyền thực hành nhiệm vụ.

— Làm sao mà Tuyết biết nhiệm vụ của họ tường tận đến thế?

— Cũng từ nghề nghiệp của em thôi anh ạ.

Tôi ngạc nhiên:

— Tuyết cũng công tác bên an ninh à?

Tuyết cười:

— Mọi công việc đều có ràng buộc vào nhau, và hỗ trợ cho nhau chứ anh. Em chỉ là giáo viên mẫu giáo là hạt cát trong biển cả, nhưng không có hạt cát sẽ không có biển cả, không có thành trì cũng như lớp lớp nhà nhiều tầng.

Tôi mỉm cười liếc nhìn Tuyết: Phải chăng cô đang độc thoại một màn nào đó trên sân khấu.

Tuyết không thấy cách mỉm cười của tôi nên giọng vẫn rành rọt:

— Lý giải cụ thể sự gắn liền giữa hạt cát và biển cả so với công việc của em làm là như thế này — Bắt đầu từ các cháu lớp mẫu giáo. Một hôm các cháu đến gặp em nói: «Cô ơi, ở gần nhà cháu có chốt bộ đội». Em mới hỏi «sao lại gọi là chốt bộ đội. À hay là số bộ đội hư hỏng bị bắt giam trong nhà, rồi các chú khác chốt cửa lại, đứng gác bên ngoài». Các cháu cãi: «Không phải thế đâu cô ơi». Rồi các cháu hoa hoa tay «Các chú ấy vui lắm. Cho cháu ngồi lên lưng lên cổ. Các chú ấy yêu các cháu lắm, yêu như cô yêu, và các chú còn nói thêm, mai các cháu đi học nói với cô giáo là các chú ở «chốt bộ đội» gửi lời thăm». Thì ra, bộ đội đã cử một tiểu đoàn về đóng quân trong thành phố, chia nhiều tổ, chốt ở những tụ điểm để diệt bọn cướp giật, lưu manh, đảm bảo an ninh trật tự trong thành phố.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2022, 08:56:58 pm »


*

*         *

Phó tiểu đoàn trưởng, đại úy Nguyễn Mạnh Hùng kể cho tôi nghe về công việc của một phân đội thuộc tiểu đoàn được lệnh đến bảo vệ nhà máy xi măng. Có lần ở đây hiện tượng tiêu cực và lấy cắp hết sức nặng nề. Riêng 6 tháng đầu năm 1984 nhà máy đã mất 60 tấn xi măng và năm vạn chiếc vỏ bao. Xung quanh nhà máy là một vòng vây tiêu thụ và lấy cắp xi măng. Chúng gồm các loại trộm cắp lưu manh lang thang từ nơi khác đến thăm dò thấy chỗ béo bở là bám vào. Chúng mang những tên kép bộc lộ trắng trợn bản chất như Kảnh khỉ, Quang cớm, Đào đen... Hàng ngày chúng ngang nhiên vào thẳng nhà máy thành dây chuyền vác xi măng ra ném xuống chiếc thuyền không người lái để sát bờ sông; khi đã có xi măng một bọn từ bên kia bờ kéo dây cho thuyền sang. Có đêm nhà máy mất 26 bao xi măng loại bao dứa đựng đầy xi măng từ 80 đến 90 ki-lô-gam. Chúng còn mang cả đao, búa vào đục sắt thép, và lấy cắp than. Ban ngày chúng cho trẻ em vào nhà máy la cà xin chỗ này ba cân, chỗ kia năm cân, mang ra đóng vào các bao đã lấy cắp được. Chúng mua chuộc số bảo vệ, nếu không mua chuộc được thì đe dọa, và gây rối, đánh đập. Ngoài ra còn một số công nhân hư hỏng, xin ra ngoài ăn quà uống nước, mỗi lần ra là đựng xi măng vào ăng gô, túi xách, có người còn lẩn vào bụng làm đàn bà chửa. Mỗi ngày ba đến bốn lần đi ra, gặp ngay bọn tiêu thụ tuồn xi măng cho chúng.

Tiểu đoàn đã cử phó đại đội trưởng trung úy Bùi Trọng Tâm chỉ huy một phân đội đến công tác bảo vệ nhà máy. Mới đầu anh em khoanh vùng lại, ngăn chặn những bàn tay từ phía ngoài thò vào nhà máy, trong sáu tháng đã bắt được 200 vụ lấy cắp xi măng từ 10 ki-lô-gam đến ba bốn trăm ki-lô-gam. Khi bị bắt chúng đưa tiền mua chuộc. Các đồng chí Tuyền, Chi, Hường không những không tha mà còn khép chúng thêm tội hối lộ, tên Đào đen quay ra đe dọa: «Được rồi, hãy nhớ lấy mặt nhau!». Hường bảo: «Đúng rồi, mời vào đây để nhìn mặt nhau rõ hơn!». Hôm sau nữa, một tên vào lấy cắp xi măng, kéo đồng bọn dùng vũ khí hành hung gây sự, tên ấy đã bị tổ tuần tra bắn chết. Từ đó, chúng gờm và xoay sang ăn cắp xi măng bằng cách tinh vi hơn là nhờ sự tiếp tay của số công nhân tiêu cực trong nhà máy. Phải kết hợp với nhà máy, với công an cũng như chính quyền địa phương, kiểm tra lại hộ khẩu những người làm ăn bất minh, truy tận gốc, truy những ổ tiêu thụ, dọn sạch vành đai bên ngoài, thì bên trong có đưa xi măng ra cũng không còn nơi tiêu thụ. Mất sáu tháng phân đội 2 của tiểu đoàn mới dọn sạch được vành đai bên ngoài lập hồ sơ những tên như Kảnh khỉ, Quang cớm…, giao cho công an. Từ chỗ vài chục phần trăm lực lượng bảo vệ bị bọn lưu manh côn đồ khống chế, mất tác dụng, nay đã trở lại làm việc nghiêm chỉnh, đúng quy cách. Phó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đưa cho tôi xem lá thư của Giám đốc nhà máy gửi tiểu đoàn, sau khi tiểu đoàn đã hỗ trợ cho nhà máy hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất quý một năm 1985, đảm bảo cho nhà máy không còn hiện tượng tiêu cực, lấy cắp xi măng nữa, tự làm chủ được mình về mặt bảo vệ trị an. Lá thư có đoạn đánh giá thành tích:

— Tiểu đoàn đã giải tỏa được các tụ điểm trộm cắp trong và ngoài nhà máy, đã loại trừ được bọn tiêu cực, kể cả bọn lưu manh côn đồ dùng vũ khí hành hung. Đã tạo thuận lợi cho nhà máy khôi phục lực lượng bảo vệ, đẩy mạnh phong trào sản xuất. Công lao của cán bộ và chiến sĩ phân đội 2 rất lớn. Nhà máy rất biết ơn sự quan tâm của Bộ chỉ huy quân sự thành phố và các đồng chí lãnh đạo tiểu đoàn C1, cụ thể là các chiến sĩ trinh sát, không quản ngày đêm mưa gió, rét buốt, lăn lộn với hiện trường, đưa lại sự trong sáng cho nhà máy. Giám đốc: Tạ Hữu Bân.

Tôi chép lại một cắch hết sức tóm tắt về trách nhiệm của tiểu đoàn C1 đối với nhà máy xi măng. Không có thời gian đi sâu để gợi thêm những chi tiết về kỹ thuật chiến thuật của các phân đội trinh sát đầy mưu trí, bởi vì chỉ lướt qua những vụ việc trong ngày trong tháng mà mỗi tổ tuần tra ghi lại hết sức tóm tắt cũng đã đầy hấp dẫn «Tổ Cầu Đất kết hợp với công an bắt vụ chiếu phim con heo, thu một máy, mười cuộn phim chiếu tại nhà 60, gác 2 Trần Nhật Duật. Tổ kiểm soát quân sự Trại Chuối do thượng sĩ Nguyễn Văn Lập chỉ huy, bám sát mục tiêu, bắt năm bao vải va-li-de gồm 285m, không có hóa đơn chứng từ của thị H. là nhân viên ngoại thương, móc ngoặc tuồn hàng ra ngoài». «Tổ Đặng Đình Bắc bắt quả tang một xe chở xăng máy bay đến bán cho chị T. ở xí nghiệp nước đá Việt Hoa...» Thấy tôi dừng lại hơi lâu trước trang ghi chép về vụ việc này Nguyễn Mạnh Hùng giải thích: khi tổ tuần tra ập tới, họ đã xả bán được 900 lít. Trên xe có một thiếu úy lái xe, một nhân viên xăng dầu và một trợ lý tham mưu. Tôi tỏ thái độ căm giận hết mức với những người lấy cắp quá đáng vào những nơi hết sức nghiêm cấm của quân đội này. Nhưng Hùng lại căm giận theo một hướng khác: Những người đi trên xe có nhiệm vụ theo dõi lúc nạp xăng vào máy bay, họ là những cán bộ kỹ thuật đảm bảo an toàn cho máy bay. Vậy mà họ dám xả xăng bán dọc đường. Chiếc téc chở 7.200 lít, họ xả mất 900 lít, tội ấy cũng nghiêm trọng, nhưng nghiêm trọng hơn là số xăng còn lại sẽ mất phẩm chất, vì theo quy định nạp xăng vào máy bay là nạp từ téc sang, khi téc đang được niêm cất, để không khí ngoài vào là xăng không dùng cho máy bay nữa, nếu cứ nạp liều sẽ bị hủy cả chiếc máy bay.

Xem những trang ghi chép này, quả là đau đầu quá và tôi đặt câu hỏi: Nếu như không có các lực lượng an ninh thì trật tự trên đường phố, trật tự trong xã hội sẽ ra sao? Phải cám ơn họ, phải khen thưởng họ, phải săn sóc họ, những người chiến sĩ quân hàm thấp nhất, áo vải, dày vải, với chiếc cặp và khẩu súng đi suốt đêm sang ngày, suốt ngày sang đêm, kết hợp với các lực lượng khác đảm bảo hạnh phúc cho nhân dân.

Lật sang trang lại với những ghi chép: «Ở chốt Thượng Lý, quận Hồng Bàng trung úy Phạm Văn Bảo cùng hai chiến sĩ đã triển khai bắt hai tên giả danh bộ đội dùng một dao phay, một dao găm, trấn lấy tiền và quần áo của công ty xuất khẩu Gia Lai Kom Tum». «Chốt Bến Bính đã thu về cho trung đoàn 240 bốn mươi nghìn đồng bị mắt cắp». «Nguyễn Văn Thoan đã bắt một chiếc tàu vận tải đường sông ghé bến bán 1116 kg gạo». «Bùi Xuân Sắc thuộc đại đội 2 bắt một quân nhân chuyên nghiệp đã ra quân vẫn đeo quân hàm thiếu úy, buôn bán hàng trái phép trị giá 20.000 đồng. Khi bị bắt anh ta đưa 1.600 đồng hối lộ. Sắc kiên quyết bắt giữ».

Tôi đang đọc tiếp thì đại úy tiểu đoàn trưởng Đỗ Văn Nghị và đại úy phó tiểu đoàn trưởng chính trị Trần Văn Liên bí thư đảng ủy tiểu đoàn, vừa đi xuống các cơ sở về.

Nghị rất ít nói, và nếu nói thì bao giờ cũng rất chính xác bằng cách mở sổ tay, trong đó ghi đủ ngày giờ, nơi xẩy ra vụ việc. Còn Liên,   nếu có khoảng hở, giữa câu chuyện là anh giới thiệu ngay đảng bộ tiểu đoàn anh là đảng bộ vững mạnh, và anh nói tiếp về công tác đảng, công tác đoàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12501



« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2022, 08:57:48 pm »


Nguyễn Mạnh Hùng liến thoắng, nói vanh vách: ít bữa nữa anh về là không gặp tôi. Đáng ra hôm nay tôi đi bổ sung cho biên giới phía Bắc nhưng rồi chẳng hiểu làm sao trên tạm hoãn. Anh Liên bị thương, gãy chân ở miền Đông Nam Bộ. Địch lấy được giấy tờ thế nào ấy, chúng cứ ra rả trên cái đài tâm lý chiến, «gửi miền Bắc thân yêu» Trần Văn Liên quê ở Chí Linh đã chết ngày... Nó thông báo cụ thể quá, rồi có người báo lại, thành ra gia đình tin, làm mâm cúng. Cái mục tâm lý chiến ghê gớm thật... Nhà con một nên bà mẹ cũng chẳng muốn xây dựng cơ ngơi làm gì nữa, làm thêm một chái, đòn, cột bằng cổ tay, ở cho qua ngày đoạn tháng. Kết thúc chiến tranh anh về lại mải lo công việc ở quận Ngô Quyền, sau đó chuyển qua đây lo trị an bảo vệ. Nhà của đời sống còn khó khăn lắm, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lo cho chút ít, rồi sẽ lo thêm. Nhưng vẫn chưa đâu vào đâu cả.

Còn anh Nghị, chị ấy làm việc ở nhà máy thảm len, đi xe đạp tới đó chỉ mất mười lăm phút, nhưng chui vào nhà mất năm phút, vì phải luồn lách bởi vì người ta triển khai mọi thứ ra hè phố và lòng đường. Mười ngày nửa tháng anh ấy mới tạt qua nhà được một tý. Công việc bận ghê gớm mà thời gian thì cứ trôi đi vùn vụt.

Tôi hỏi:

— Đối với người lính chốt giữa thành phố cần phải có những yêu cầu gì?

Đỗ Văn Nghị cho biết:

— Chúng tôi duy trì rất nghiêm túc điều lệnh và tư thế tác phong. Nếu một chiến sĩ kiểm soát mà không mặc quần áo gọn gàng, nói năng không lễ độ thì còn uốn nắn được ai nữa. Giáo dục cho anh em hiểu biết về pháp luật và chức trách của kiểm soát quân sự, phải làm nổi lên hai mặt là duy trì kỷ luật quân đội và giúp đỡ các quân nhân trên đường công tác qua khu vực mình hoàn thành nhiệm vụ.

Về chuyên môn chúng tôi dạy cho đơn vị học công tác tham mưu gồm binh địa, chiến thuật, điều tra vị trí bắt tù binh, bám địch tạm dừng, cải trang trinh sát. Kết hợp với các bài học khác như: Điều tra con người, vụ việc, nắm tin tức. Hàng năm có huấn luyện theo chương trình đặc công như leo trèo trong thành phố, đánh bộc phá, cách dùng lượng nổ, luồn sâu lót sát võ thuật. Trong binh địa đi sâu vào vẽ bản đồ, đắp bản đồ, đọc bản đồ, đi góc phương vị... Phải hiểu biết về địch, tính chất thâm độc của bọn phản động Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan... Người chiến sĩ chốt giữa thành phố, tầm suy nghĩ và sự hiểu biết phải bằng một cán bộ sơ cấp.

Ngoài ra, chiến sĩ phải tự thu lượm được kinh nghiệm trong cuộc sống tạo được cách nhìn con người qua bề nổi cũng như bề sâu. Anh em đã tổng kết là số chở hàng lậu bao giờ tư thế tác phong cũng đàng hoàng, tóc cẳt ngắn, quần áo nghiêm chỉnh. Nhưng điều không thể tránh được và phía mình phải có một người đứng hướng khác quan sát mới phát hiện được, đó là mắt la mày lét... số cắt bọc, cướp giật thường hay mặc quần áo ga-ba-đin, hoặc áo bay, mũ giày đầy đủ, xe đẹp và tốt... Bọn giả danh không thể biết hết những vấn đề hiện hành của quân đội, hỏi một chi tiết nhỏ về công tác phí, hoặc tiền lương của cấp nào đó sẽ lúng túng ngay... Bắt được quả tang đồ ăn cắp, chúng sẽ trả lời không chính xác. Nếu cả tổ thì tìm ra mâu thuẫn riêng từng đứa rồi động viên chính trị, tình cảm, nhưng có tên mình phải rất rắn.

Đỗ Văn Nghị vừa gập sách lại, phó tiểu đoàn trưởng chính trị Trần Văn Liên đã tiếp ngay:

— Chúng tôi nêu cao khẩu hiệu: kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Chiến sĩ đơn vị chúng tôi phải hơn chiến sĩ đơn vị khác một cái đầu. Muốn chống tiêu cực bên ngoài trước hết phải chống tiêu cực trong đơn vị trong bản thân từng người đã.

— Tôi nghe nói tiểu đoàn các đồng chí được phép chọn chiến sĩ, và có quyền chuyển những người không đủ tiêu chuẩn đi đơn vị khác?

Vẫn Trần Văn Liên:

— Đúng thế. Chúng tôi có quyền chuyển chiến sĩ phạm kỷ luật đi đơn vị khác, nhưng anh xem: đơn vị mình có trách nhiệm giải cuyết những chuyện xấu trong xã hội mà không giải quyết được người xấu trong đơn vị hay sao. Cũng có chiến sĩ phạm kỷ luật đấy, phạm trầm trọng nữa là đằng khác như trường hợp trung sĩ Bùi Đăng T. hai lần mắc khuyết điểm về kinh tế và quan hệ nam nữ bất chính, cơ quan tham mưu cấp trên đã quyết định phạt giam 7 ngày và sau đó nếu không tiến bộ tiểu đoàn được phép chuyển T. về đơn vị cải tạo lao động. Chúng tôi nghĩ giải quyết như thế thì rất thuận lợi cho tiểu đoàn, nhưng mình lại đẩy cho đơn vị khác một người xấu ư và nhất là đối với thanh niên, phê phán hết sức nghiêm khắc, nhưng xử lý có mức độ, phải tìm cho ra những tiềm tàng năng lực của họ, tạo cho họ một sự say mê lao động, yêu công việc, đấy là cách tốt nhất để tẩy trừ những thói hư tật xấu, những tiêu pha tiền nong và la cà hàng quán. Chúng tôi thấy T. rất khá về kỹ thuật, chiến thuật, có sức khỏe và tiếp thu nhanh. Cũng vừa dịp đơn vị cần tổ chức một phân đội đi dự hội thao hàng năm ở Quân khu. Chúng tôi xin phép cấp trên được đưa T. về tiểu đoàn tự quản và giao cho T. huấn luyện anh em đi dự hội thao. Phân đội do T. phụ trách đã đứng thứ nhì trong số 11 đoàn dự ở Quân khu. Riêng T. về võ thuật đã nhất Quân khu. Vẽ sơ đồ và đi góc phương vị cũng nhất Quân khu. Riêng môn đi góc phương vị trên quy định cho người trinh sát phải tìm 5 mục tiêu với bán kính là 5 ki-lô-mét và thời gian hai tiếng rưỡi, trong thời tiết xấu, ban đêm, T. đã hoàn thành xuất sắc, tìm chính xác 5 mục tiêu mà chỉ mất một giờ bốn phút. Đấy là cách chúng tôi tạo đà cho T. Sau này cán bộ không cần phải nhắc nhở chuyện cũ mà chính T. lại nhắc đến, T. gặp cấp trên xin lỗi và đặt câu hỏi là làm sao có thời mình hư hỏng và quanh quẩn đến thế. Còn nhiều trường hợp nữa, nhưng dù trường hợp nào xảy ra, chúng tôi cũng tìm hiểu nguyên nhân cặn kẽ của sự việc, tôi, anh Hùng, hoặc anh Nghị đến tận nơi, gặp những chiến sĩ đó. Họ phạm khuyết điểm cũng là bài học cho mình, kinh nghiệm cho mình rút ra để sau này kịp thời dự kiến ngăn chặn trước những trường hợp khác. Năm nào chúng tôi cũng rút người bổ sung cho biên giới phía Bắc, cho đơn vị khác, nhưng không bao giờ chúng tôi đưa người xấu đi, mà đưa người tốt nhất của đơn vị.

— Tôi đã đọc lướt sổ ghi chép vụ việc hàng ngày của các đồng chí, thấy sự việc xảy ra đều do tổ, phân đội, phối hợp với công an, chính quyền địa phương giải quyết, có trường hợp nào cán bộ tiểu đoàn phải trực tiếp giải quyết không?

Đỗ Văn Nghị mở sổ tay chậm rãi nói:

— Lúc 21 giờ ngày 27 tháng 4 tổ kiểm soát và công an bắt được một thuyền đánh cá Hải Hậu chở 18 phuy dầu máy quân sự, họ khai là mua của tàu Hải Quân. Hai tổ đã đến làm việc với tàu Hải Quân, nhưng tàu đó không nhận, đã báo với quân pháp, nhưng quân pháp trả lời là họ không nhận tức là không có, lấy chứng cớ đâu? Được anh em báo cáo về, tôi trực tiếp xuống xem xét: Chúng tôi phân công nhau tách người trên tàu ra để hỏi chuyện. Đồng chí trưởng phòng cảnh sát giao thông làm việc với thượng úy thuyền trưởng, còn tôi và đồng chí Mấm làm việc với thiếu úy máy trưởng. Thuyền trưởng và máy trưởng chối cãi một cách quyết liệt. Tôi đã nói rõ người trên thuyền Hải Hậu khai các anh bán, nếu nhận lỗi sẽ được giảm nhẹ tội, nếu khăng khăng không nhận chúng tôi sẽ báo về Bộ tư lệnh Hải Quân, sẽ báo với Bộ Tổng Tham mưu. Tôi khơi động lòng tốt, trách nhiệm của cán bộ và chiến sĩ, thái độ trước lầm lỡ mắc phải... Các khe hở được lộ dần ra, những khớp vênh nhau. Tôi tiếp tục bám vào đó nêu lý lẽ đấu tranh... Máy trưởng nhận đầu tiên. Máy trưởng nhận là thuyền trưởng nhận. Họ phải tự giác giao nộp một bì tải đựng tiền. Lúc ấy trời cũng vừa sáng... Còn nhiều việc nghiêm trọng khác nữa, cán bộ tiểu đoàn đã trực tiếp giải quyết, không có thời gian kể lại, anh cứ xem trong sổ ghi chép, cần chỗ nào chúng tôi sẽ nói chi tiết.

— Từ Bộ chỉ huy quân sự thành tôi được nghe khen các anh là một đơn vị khá, từ một người dân bất ngờ gặp giữa thành phố ở đêm hôm nọ khi tôi mới đến Hải Phòng cũng nghe họ khen các anh, nhưng các anh còn có những băn khoăn gì, những kiến nghị gì không?

Nguyễn Mạnh Hùng:

— Mặt tốt như anh đã nghe, mặt thắc mắc thì còn nhiều. Có cái chúng tôi tự thắc mắc rồi tự giải quyết, có cái phải chờ đợi ở trên.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM