Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Bảy, 2024, 06:21:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 8639 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #130 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2023, 11:12:11 am »

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #131 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2023, 02:50:34 pm »

TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH


    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, xuất phát từ: Vì quyền lợi con người, cốt giải phóng con người, phát triển tiềm năng con người làm chủ vạn vật, vì hạnh phúc con người; kết tinh từ thực tiễn đấu tranh của con người để thoát khỏi mọi ràng buộc, áp bức của thiên nhiên và của con người; hàm chứa tinh túy của triết học phương Đông, văn hóa phương Tây, truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam và khoa học hiện đại của thế giới.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành từ rất sớm, luôn luôn phát triển trong quá trình áp dụng vào thực tế, trong cả cuộc đời hoạt động của Người; đã chỉ đạo dân tộc Việt Nam đấu tranh thoát ách nô lệ gần một thế kỷ bằng chiến lược khởi nghĩa vũ trang; nước nhỏ, người ít đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc to và mạnh là Pháp và Mỹ, giữ vững nền độc lập, tự do và phẩm giá con người.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã đóng góp cho các dân tộc bị áp bức ở thế kỷ XX kinh nghiệm đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và bước đầu đánh bại chủ nghĩa thực dân mới, đứng lên tự giải phóng.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng xây dựng nền khoa học quân sự Việt Nam hiện đại, ưu việt cả về lý luận và thực tiễn, trở thành căn bản cho học thuyết và bí quyết giữ nước từ nay và mãi mãi về sau cho dân tộc Việt Nam cũng như cho các dân tộc muốn giữ vững bờ cõi đất nước và tự do con người chống mọi thế lực ngoại xâm.


                                 
PHẦN I
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH


    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành từ những năm 1920, được phát triển về lý thuyết hàng chục năm liên tiếp và được áp dụng và phát triển trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam hơn 40 năm qua.

    1. Ảnh hưởng của giáo dục gia đình và phong trào yêu nước ở trong nước từ lúc thiếu thời

    - Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, thân sinh Nguyễn Tất Thành là nhà Nho tiến bộ. Cụ phủ nhận cái thuyết trung quân của nhà Nho và cho trung quân không phải là ái quốc. Ái quốc là yêu nước, mà nước là dân. Vậy ái quốc có nghĩa là ái dân...

    -  Khâm phục hoạt động của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và các phong trào Đông Du, vận động Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục nhưng hoàn toàn không tán thành cách làm của một người nào. Cho rằng cách làm của cụ Phan Bội Châu “e rằng đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau”, cụ Phan Chu Trinh có vẻ “xin giặc rủ lòng thương”, cụ Hoàng Hoa Thám “thực tế hơn vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp... nhưng còn nặng cốt cách phong kiến”.

    - Nguyễn Tất Thành quyết chí tự mình tìm con đường cứu nước, cứu dân. Sang phương Tây (Pháp, Anh, Mỹ...), xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao rồi trở về giúp đồng bào (1911).

    2. Sự hình thành và phát triển tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

    - Từ năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tích cực tham gia các tổ chức chính trị, xã hội nổi tiếng của nước Pháp và các nước khác, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, viết báo và ra Báo Người cùng khổ (1922) với lời ra mắt: ...Tiếng nói chính nghĩa của giai cấp vô sản và nhân dân bị áp bức các nước thuộc địa... Sứ mệnh của nó đã rõ ràng: Giải phóng con người!

    - Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô. Qua nghiên cứu chủ nghĩa Mác -Lênin, cuộc Cách mạng Tháng Mười, kinh nghiệm hoạt động của phong trào cộng sản và dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đi đến khẳng định: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, vào lực lượng của bản thân mình.

    Từ năm 1925 đến năm 1927, Nguyễn Ái Quốc hoạt động phía Nam Trung Quốc, viết tác phẩm Đường cách mệnh để huấn luyện cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Bài viết “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” nêu lên một luận điểm mới rất quan trọng: Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở những nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực... Một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang.

    - Từ năm 1940 đến năm 1945, Nguyễn Ái Quốc viết nhiều tài liệu về lý luận và chỉ đạo thực tiễn cách mạng Việt Nam chuẩn bị cho công cuộc giải phóng đất nước. Tài liệu Con đường giải phóng của Người đánh dấu một bước phát triển hoàn chỉnh lý luận về khởi nghĩa vũ trang. Người viết: Ở các nước Âu - Mỹ, khởi nghĩa bắt đầu từ tổng bãi công, thị uy rồi tiếp đến khởi nghĩa. Ở nước ta, khởi nghĩa có thể bùng lên ở một nơi rồi lan dần ra khắp nước. Lý luận trên được áp dụng thành công trong Cách mạng Tháng Tám. Người cũng đã viết một loạt tài liệu về quân sự như: Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Pháp, Kinh nghiệm du kích Nga. Sách Cách đánh du kích chia thành 13 chương bao gồm nhiều vấn đề quan trọng từ tổ chức lực lượng đến tác chiến, không những có giá trị cho các đội du kích mà cả lực lượng chính quy.

    - Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh càng được phát triển phong phú, đặc biệt là lý thuyết về chiến tranh nhân dân: Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc... Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm dùng cuốc, thuổng, gậy gộc (1946); Dùng chiến tranh trường kỳ chống lại chiến tranh chớp nhoáng của thực dân Pháp (1947); Giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Tiêu diệt sinh lực địch bồi dưỡng lực lượng ta (1959).

    - Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Muốn dựng ngôi nhà tốt, thì phải xây nền cho thật vững... Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Ở miền Nam... tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự (1961); Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đều đóng vai trò rất cơ sở và rất quyết định, nhưng đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp (1963); Chúng ta phải đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy quyền (1965); Phải chú ý đến giữ sức dân. Sức người sức của cạn kiệt thì quân nhiều cũng không đánh được (1966). Đối với đế quốc Mỹ, phải có cách chủ động đi tới chỗ nó rút ra... một tay đánh, một tay mở cho nó ra (1967); Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào (Thư chúc mừng năm mới, năm 1969).

    - Từ năm 1969, khi Người qua đời, cho đến năm 1975, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đi đến thắng lợi hoàn toàn.

    3. Nguồn gốc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

    - Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh xuất phát từ lòng thương yêu con người, quyết giải phóng con người khỏi mọi áp chế, làm cho con người hoàn toàn tự do, phát huy khả năng vô tận của mình. Con người cần giải phóng trước mắt là dân tộc Việt Nam vì “Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách độc ác trơ tráo đến thế”.

    - Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tinh hoa triết học và văn hóa lâu đời của phương Đông, từ tư tưởng đại đồng của Khổng giáo “dân vi quý, xã tắc thứ chi” đến lòng bác ái vị tha của Phật giáo; đúc kết những tinh túy của binh pháp Tôn Tử, của Khổng Minh của Trung Quốc xưa, cho đến tài dùng binh của Lý Thường Kiệt, binh pháp của Trần Hưng Đạo, kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao đánh vào lòng người của Nguyễn Trãi, tấn công chủ động thần tốc của Nguyễn Huệ... Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh cũng bắt nguồn từ nền văn hóa phương Tây, những cái hay cái đúng của lý luận Claudơvít của Phổ, của Napôlêông của Pháp, Đenxơn của Anh...

    - Nguồn gốc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin với những nguyên lý giải phóng giai cấp, dân tộc, con người; tiếp thu lý luận và kinh nghiệm khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích, chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh cách mạng, vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước nông nghiệp lạc hậu.

    Tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được thể hiện thành lý luận, đem lý luận áp dụng vào thực tế. Và qua vận dụng thực tiễn mà kiểm nghiệm, bổ sung cho lý luận ngày một hoàn chỉnh.



PHẦN II
NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH


    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn.

    Dưới đây nêu lên 7 vấn đề cơ bản nhất:

    1. Chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh cách mạng

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh thực hiện chiến tranh cách mạng chính nghĩa nhằm bảo vệ quyền sống tự do độc lập, giải phóng con người, chống mọi áp bức bóc lột. Để “giữ sinh mệnh của dân” và “làm chủ an nguy của đất nước”, “không đến nguy cơ, ta chớ chiến tranh”. Chỉ tiến hành chiến tranh khi tất cả các nỗ lực đấu tranh chính trị, ngoại giao hòa bình không còn hiệu quả, đều bị thất bại.

    Khi buộc phải tiến hành chiến tranh chính nghĩa thì “dù hy sinh tất cả” cũng quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng. “Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hòa là phe ấy thắng. Chỉ phe nào vì chính nghĩa mà chiến đấu, phe ấy mới có đủ điều kiện nhân hòa”.

    2. Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh du kích

    a. Khởi nghĩa vũ trang:

    Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền. Ở những nước nông nghiệp lạc hậu, khởi nghĩa có thể bùng lên ở một vài địa phương rồi lan dần ra khắp nước. Việt Nam 90% dân chúng là nông dân. Họ có thể nổi dậy và tiến hành đấu tranh, nhưng một mình họ thì không thể chiếm được bộ máy nhà nước và giữ được bộ máy đó. Trong thời đại hiện nay giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minh với giai cấp nông dân.

    Khởi nghĩa vũ trang chỉ có thể thành công khi lực lượng thống trị lung lay, bối rối, không đủ sức giữ địa vị của chúng như trước, khi lực lượng đông đảo của quần chúng được giác ngộ, được tổ chức, quyết hy sinh nổi dậy đấu tranh đến cùng, phải có một chính đảng cách mạng có đường lối đúng đắn, được dân chúng tin cậy lãnh đạo.

    Trong khởi nghĩa phải tấn công kiên quyết, do dự một chút là thất bại. Sau khởi nghĩa thắng lợi phải lập ngay chính phủ cách mạng của nhân dân. Nhiệm vụ của chính phủ cách mạng là: Thủ tiêu chính quyền cũ, diệt trừ các hạng phản động, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, lập quân đội cách mạng.

    b. Chiến tranh du kích:

    Du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều (Con đường giải phóng). Chiến tranh du kích đi liền với khởi nghĩa vũ trang, bảo đảm cho khởi nghĩa thành công và bảo vệ thành quả cách mạng của khởi nghĩa.

    Đấu tranh du kích không phải là những hoạt động của cá nhân hay những nhóm nhỏ dựa vào âm mưu, mà là hoạt động của các tổ chức vũ trang cách mạng, có kỷ luật chặt chẽ, dựa vào đường lối chính trị đúng đắn của đoàn thể cách mạng tiền phong và dựa vào cao trào cách mạng của quần chúng.

    Nguyên tắc tác chiến của du kích là: Bao giờ cũng giữ thế công, giữ quyền chủ động và có kế hoạch thích hợp, chu đáo, hết sức nhanh chóng.

    Thủ đoạn tác chiến của du kích là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; không sống chết giữ đất; hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh...

    Hình thức tác chiến du kích là: Tập kích, phục kích, truy kích, đánh úp, đánh lén, đánh lúc quân thù không ngờ...

    3. Chiến tranh nhân dân

    Chiến tranh nhân dân là một cuộc chiến tranh tiến hành bởi đông đảo quần chúng được giác ngộ chính trị, giác ngộ cách mạng cao, đứng lên dùng vũ khí và đủ mọi phương tiện, bằng mọi phương pháp chống kẻ thù vì mục đích chung, dưới sự lãnh đạo thống nhất của đảng cách mạng chân chính, kiên cường, có đường lối đúng đắn, được dân tin. Dân mà biết đồng tâm hiệp lực, biết đoàn kết tổ chức thì chủ nghĩa đế quốc tuy có mấy vạn máy bay, đạn pháo cũng không làm gì nổi. Có dân thì có tất cả. “Mỗi quốc dân phải là một chiến sĩ. Mỗi làng phải là một chiến hào”.

    Muốn toàn dân đánh giặc thì phải “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.

    Câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công” có giá trị vĩnh viễn cả về lý luận và thực tiễn.

    Chiến tranh nhân dân là phải chiến đấu toàn diện, “bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”.

    Toàn dân chiến đấu, chiến đấu toàn diện, tạo một thế trận của chiến tranh nhân dân vô địch với lực lượng tổng hợp bao vây và tiêu diệt bất cứ kẻ thù nào.

    4. Quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân

    Toàn dân chiến đấu, toàn diện đấu tranh trên mọi mặt trận, trong đó mặt trận quân sự là nòng cốt trong chiến tranh, vì vậy lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt của lực lượng toàn dân chiến đấu toàn diện.

    Lực lượng vũ trang nhân dân, về tổ chức cơ bản bao gồm 3 lực lượng: Dân quân du kích, đơn vị tập trung của địa phương và chủ lực cơ động chiến trường. Ngoài 3 tổ chức cơ bản trên, tuỳ theo chiến trường, điều kiện, mục tiêu và nhiệm vụ mà có những tổ chức chiến đấu thích hợp khác như đặc công, biệt động...

    a. Dân quân du kích: Là “một lực lượng rất rộng rãi, khắp cả nước... Nó là như một tấm lưới rộng mênh mông, bao trùm cả nước”. “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng tan rã”. Đội viên du kích được tuyển chọn từ các hội viên các đoàn thể quần chúng cách mạng. Du kích không thoát ly sản xuất.

    Du kích chiến đấu nhỏ lẻ. Một đội, một tổ, có khi một người cũng tổ chức được một trận đánh.

    Vũ khí của du kích vô cùng đa dạng: Từ một chiếc gậy, con dao đến khẩu súng, trái mìn, đạn pháo lép của địch được tái chế lại... Từ năm 1941, Hồ Chí Minh đã dạy cán bộ 2 nguồn tìm vũ khí: Một từ trong tay giặc, hai là ở trong dân. Nhân dân sẽ tìm mọi cách tự tạo ra vũ khí cho con em mình chiến đấu.

    Du kích rất coi trọng công tác chính trị. Không có công tác chính trị đúng, các đội du kích dễ mất tính chất cách mạng, dễ đi vào sai lầm có hại cho cách mạng (sách Công tác chính trị trong quân đội cách mạng của Hồ Chí Minh).

    b. Bộ đội địa phương: Là đơn vị chiến đấu tập trung của một địa phương như huyện, tỉnh, được tổ chức chặt chẽ hơn và trang bị mạnh hơn du kích, được huấn luyện kỹ hơn về chiến thuật, kỹ thuật.

    Bộ đội địa phương có nhiệm vụ giúp và phối hợp với du kích đánh những trận tiêu diệt nhỏ tại địa phương mình, vừa hợp đồng với bộ đội địa phương bạn hay chủ lực tác chiến lớn hơn; giúp phát triển, xây dựng và huấn luyện du kích và nhận sự giúp đỡ mọi mặt của chủ lực. Du kích là tai mắt rộng rãi cho bộ đội địa phương, bộ đội địa phương phải tạo điều kiện cho chủ lực tác chiến trong địa phương mình.

    c. Chủ lực: Là những đơn vị vũ trang tập trung và cơ động của từng chiến trường hay trong toàn quốc, thường được tổ chức từ trung đoàn trở lên sư đoàn, quân đoàn. Đó là những đơn vị chính quy, binh chủng hợp thành và hiện đại tùy điều kiện và mức độ cho phép.

    Quân đội đó số lượng là quan trọng nhưng chủ yếu là chất lượng, cốt tinh không cốt nhiều. “Phải luôn luôn phát triển các kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: trí, dũng, liêm, trung của giải phóng quân”. “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, “Mỗi người chỉ huy về quân sự cũng như về chính trị, phải làm kiểu mẫu. Phải giữ đúng đạo đức của quân nhân”.

    Trong chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (chính quy) là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân rộng mạnh, lực lượng vũ trang là nòng cốt của toàn dân đánh địch toàn diện.

    5. Hậu phương chiến tranh, hậu phương quân đội, căn cứ địa cách mạng, căn cứ du kích

    + Không một quân đội nào không có hậu phương vững chắc mà có thể chiến thắng được. Không có một hậu phương vững chắc thì không thể sinh ra quân đội nhân dân.

   Hậu phương của lực lượng vũ trang nhân dân là một hậu phương đồng nhất, toàn diện, toàn dân với ý chí cao, cùng quân đội chiến đấu, ủng hộ hết mình về tinh thần và vật chất. Quân và dân một ý chí bảo đảm thắng lợi trong chiến tranh. Và chỉ có chiến tranh chính nghĩa mới đạt yêu cầu ấy.

   Xây dựng hậu phương vững chắc là vấn đề hết sức trọng yếu của chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: Kháng chiến và kiến quốc đi đôi, kêu gọi chống giặc đói, giặc dốt và chống giặc ngoại xâm. Năm 1947, thăm tỉnh Thanh Hóa, Người đã vạch phương hướng xây dựng hậu phương:

   “Làm cho người nghèo thì đủ ăn.
   Người đủ ăn thì khá giàu.
   Người khá giàu thì giàu thêm.
   Người nào cũng biết chữ.
   Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước.
   CÁCH LÀM: Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân..".

   Xây dựng một hậu phương vững chắc, toàn diện về chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế... như vậy mới động viên được tinh thần, cung cấp sức người, sức của cho quân đội chiến đấu lâu dài, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, bảo đảm thắng lợi hoàn toàn.

   + Trong cái hậu phương rộng lớn còn phải xây dựng căn cứ địa, căn cứ du kích. Đó là: Một vùng khá rộng và hiểm trở, ở đó dân chúng được tổ chức vững vàng, quân lính đế quốc khó vào được. Du kích dùng nơi đó làm chỗ đứng chân, tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng (các căn cứ như: Việt Bắc trong chống Pháp; Tây Nguyên, Đồng Nai, Bắc Tây Ninh, Đồng Tháp, U Minh trong chống Mỹ).

   + Ngoài các căn cứ lớn còn có các căn cứ nhỏ của du kích và bộ đội địa phương, “căn cứ chính trị” ngay trong lòng địch ở nông thôn và đô thị.

   Các loại căn cứ như trên cấu thành một thế trận chiến tranh nhân dân bao trùm toàn bộ chiến trường, bao vây quân thù, xen kẽ với giặc, bảo đảm phối hợp ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược rừng núi, nông thôn và đô thị, liên tục tấn công địch ở mọi nơi, mọi lúc.

   6. Nghệ thuật quân sự, chiến lược, chiến thuật của chiến tranh nhân dân

   Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh không những nêu lên những vấn đề về lý luận và chỉ đạo về đường lối, chủ trương mà còn là nghệ thuật quân sự, chiến dịch và chiến thuật của chiến tranh nhân dân. Nước ta là một nước nhỏ, nghèo, dân số không đông, quân đội không nhiều đã thắng 2 đế quốc to, ngoài đường lối, chủ trương đúng đắn, sáng suốt còn là sự chỉ đạo thực hành chiến tranh, chiến đấu quân sự trở thành một nghệ thuật, đồng thời là một khoa học.

    Nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh có các nguyên tắc cơ bản như sau:

    a. Biết mình biết người: Là nguyên tắc đầu tiên để tiến hành chiến tranh cũng như thực hiện từng trận chiến đấu. Hồ Chủ tịch đã viết: “Trước khi khai chiến, phải biết mình, biết người, biết tình hình thiên thời, địa lợi để định kế hoạch hành động, mới có thể thắng được”. Cần phải khiêm tốn, thấy cái gì yếu kém của mình để khắc phục, thấy cái gì ưu điểm để khuếch trương lên, đánh giá đúng khả năng của mình để hành động phù hợp nhất cho từng trường hợp. Còn biết người, Hồ Chí Minh viết: “Không biết rõ tình hình bên địch mà dám khai chiến thời có khác gì đánh bạc với chiến tranh”; phải biết được khả năng tác chiến mọi mặt của địch, điểm mạnh của quân địch để hạn chế chúng, điểm yếu của địch để khoét sâu và đánh vào đó, trong điểm mạnh có chỗ nhược nào để lợi dụng.

    b. Nhân hòa, địa lợi, thiên thời là 3 nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh:

    Hồ Chí Minh viết: “Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hòa là phe ấy thắng”. Chiến tranh nhân dân chính nghĩa, toàn dân toàn diện là có đầy đủ điều kiện nhân hòa mà nhân hòa là yếu tố quyết định quan trọng nhất trong chiến tranh.

    Thiên thời như Hồ Chí Minh đã phân tích: Khí hậu của ta không thuận cho giặc, ta còn lợi dụng ngày, đêm, sớm, tối, mưa, nắng, nóng rét để đánh địch. Thiên thời còn là thời gian và thời gian là lực lượng.

    c. Về chiến lược đánh lâu dài, về chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh, giải quyết nhanh:

    Về chiến lược, ta bắt đầu từ yếu dần trở thành mạnh, từ ít dần trở thành nhiều nên phải có thời gian tích lũy quân nhu, kinh nghiệm, giành từ thắng lợi nhỏ đến thắng lợi lớn đi đến thắng lợi hoàn toàn. Hồ Chí Minh đã giải thích: “Với binh nhiều, tướng đủ, khí giới tối tân, chúng định đánh mau thắng mau. Với quân đội mới tổ chức, với vũ khí thô sơ, ta quyết kế trường kỳ kháng chiến... Địch có tàu bay, tàu bò, tàu thủy nhưng nó có chừng nên nó muốn đánh chớp nhoáng... Ta lợi hơn nó là nó không thể kéo dài được, mà ta thì có thể kéo dài”.

    Về chiến thuật, từng trận đánh phải thắng nhanh. Trong bài thơ Học đánh cờ, Hồ Chí Minh có câu: “Tấn công, thoái thủ nên thần tốc”. Trong bài Binh pháp Tôn Tử - Phương pháp tác chiến, Người nêu: “Phải vừa nhanh vừa có mưu mới quyết định được thắng lợi”.

    Để bảo đảm được thần tốc và chiến thắng phải tôn trọng một số nguyên tắc:

    - Bí mật, bất ngờ: “Ta biết rõ giặc, giặc không rõ ta. Đi nhẹ không tăm, về nặng không tiếng. Tiến nhanh như gió, thoái kín như đêm. Phục giặc không biết, đánh giặc không ngờ”.

    - Nghi binh, lừa địch: Trong chiến tranh, đôi bên đều tìm mọi cách che kín mình và tìm rõ địch. Ai khéo ngụy trang thì người đó lừa được đối phương mà giành phần thắng. Trong bài Đặt kế hoạch tác chiến (Báo Cứu quốc, ngày 07/6/1946) Hồ Chí Minh viết: “Tiến đánh chỗ địch không phòng bị hay thấy địch không để ý, mình tiến đánh một cách bất ngờ” (Chiến dịch Nguyễn Huệ bằng nhiều cách ta đã làm địch hiểu lầm hướng Xa Mát - Thiện Ngôn là hướng chính, ta tấn công hướng chính giải phóng Lộc Ninh. Tháng 3/1975, ta nghi binh ở Kon Tum, Pleiku, địch tập trung đối phó, ta tấn công giải phóng Buôn Ma Thuột, đẩy địch hoàn toàn bị động).

    d. Chiến dịch tấn công và chủ động chiến trường:

    Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân đòi hỏi áp dụng chiến lược tấn công. Tấn công để giữ thế chủ động chiến trường, chủ động cả về chiến lược và chiến thuật.

    “Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù, muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được”. “Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự, là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi...”. Tuy vậy có lúc phải ngự phòng. “Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá .

    e. Cơ động, linh hoạt, biết phân tán, biết tập trung, không giữ đất:

    Bất cứ chủ lực, địa phương hay du kích đều phải tích cực tìm địch mà đánh, chủ động tấn công quân địch. Hết sức linh hoạt trong tổ chức chiến đấu trên từng chiến trường nông thôn, rừng núi hay đô thị tùy điều kiện và hoàn cảnh mà khi phân tán, khi tập trung.

    Lực lượng nhỏ hay lớn đều phải luôn luôn cơ động, không bao giờ ở lâu một chỗ, không bao giờ đánh địch một nơi, trừ đơn vị chuyên trách mục tiêu, có như vậy mới chủ động tấn công địch. Hồ Chí Minh đã dạy: “Tài giỏi của du kích chính là xếp đặt kế hoạch ấy, thật là thiên biến vạn hóa, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng”.

    Không chiếm giữ đất đai. Trong lúc quân địch phải rải ra chiếm đóng khắp nơi và phải phòng ngự giữ mình thì lực lượng ta hoàn toàn tự do cơ động khắp rừng núi nông thôn, thành thị để chủ động tấn công địch. Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta không cố chiếm hoặc cố giữ trận địa, trừ khi nào cần và có lợi. Để tiến hành vận động chiến một cách lợi, có khi chúng ta rút lui ở một nơi nào, để làm phân tán binh lực của địch quân”, “sự chiếm đoạt một khoảng đất hay một thành thị, chưa thể quyết định được hơn thua”.

    g. Kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy:

    Trong chiến tranh nhân dân, ta đánh địch bằng lực lượng tổng hợp. Ba mũi giáp công là phương pháp tiến công nổi tiếng trong chiến tranh chống Mỹ (vũ trang, chính trị và binh vận).

    Chiến tranh chính quy do quân chủ lực tiến hành luôn luôn kết hợp với chiến tranh du kích:

    Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân; để khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích...”.

    Chiến tranh chính quy, “dùng vận động chiến linh hoạt, để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiến từng bộ phận, để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ ở đó địch sơ hở, yếu ớt...”. Chủ lực là đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt, “tiêu hao lực lượng địch là để bồi dưỡng lực lượng ta”, “làm thương tổn 10 ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn đi 1 ngón tay... đánh bại 10 sư đoàn không bằng trừ diệt 1 sư đoàn”.

    Sự vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về sự kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy được vận dụng trong suốt hai cuộc kháng chiến, nổi bật với Chiến dịch Biên giới năm 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

    7. Lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn

    Nhân nghĩa, độ lượng là tính cách đạo đức Hồ Chí Minh. Quý trọng con người chân chính, khoan dung, độ lượng với người sai quấy, với kẻ địch sa cơ.

    Chiến tranh của ta là chính nghĩa, đúng đạo lý, hợp lòng người. Cần tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân và quân đội đôi bên chiến tuyến, với nhân dân toàn thế giới để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi. Sự ủng hộ đó là sức mạnh góp phần đánh vào kẻ địch phi nghĩa. Cần vận động binh sĩ địch, thức tỉnh họ đứng về phía chân lý, không gây tội ác, không chiến đấu vì mục đích sai lầm. Binh địch vận là một mặt trận không kém phần quan trọng. Một khi ánh sáng chính nghĩa soi rọi được vào binh sĩ quân đội đối địch phi nghĩa thì quân đội ấy sẽ bị phân hóa, giảm sức chiến đấu, có lợi cho ta. Đó là đánh vào lòng người, có khi ta không đánh mà thắng.

    Thêm bạn bớt thù là phương châm hành động trong chiến tranh cũng như trong hòa bình.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một tri thức tổng hợp, một học thuyết vô giá của dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh dựa vào con người, nhằm phát huy năng lực vô biên của con người khi được giác ngộ và được giải phóng. Không phải sức mạnh của vũ khí, dù loại vũ khí gì, uy lực đến đâu, không phải sức mạnh tàn bạo của một tổ chức quân đội nào, mà là sức mạnh của con người, của cả một tập thể con người quyết định thắng bại trên chiến trường. Con người làm nên lịch sử.



PHẦN III
GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH NGÀY NAY VÀ NGÀY MAI


   1. Chiến tranh là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm của loài người khi xã hội ấy còn có bóc lột, bất công, bất bình đẳng, khi trên thế giới còn có nước này muốn lấn chiếm đất đai, bờ cõi của nước khác, dân tộc này muốn nô dịch dân tộc khác.

   Nhận thức như vậy, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh dự liệu những phương pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, đối thoại để giải quyết một cách hòa bình mọi mâu thuẫn có thể có giữa các dân tộc, cố tránh chiến tranh đi đến tiêu diệt chiến tranh. Điểm cơ bản của tư tưởng đó là lòng nhân ái, thương yêu quý trọng con người, tôn trọng quyền con người được sống tự do và hạnh phúc trên giang sơn của mình. Đồng thời, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh cũng đề cao cảnh giác trong một thế giới còn đầy rẫy mầm mống chiến tranh, dự liệu trước đường lối, phương pháp chiến tranh bảo đảm chắc thắng cho chiến tranh chính nghĩa, tự vệ khi buộc phải chiến tranh.

    Ngày nay thế giới không còn chia làm hai cực đối đầu lẫn nhau, vũ khí và chiến tranh không còn là phương tiện định đoạt vận mệnh con người mà chính con người với năng lực vô biên mới định đoạt số phận của mình (chiến tranh Việt - Mỹ 1954 - 1975, chiến tranh vùng Vịnh...). Nhân tố kinh tế, quyền lợi kinh tế của mỗi nước, mỗi khu vực đã vươn lên giữ vai trò quan trọng trong diễn biến tình hình thế giới. Nó ảnh hưởng đến quyết định chính trị, quân sự, quan hệ quốc tế. Nhu cầu về một sự ổn định về chính trị để phát triển về kinh tế, nâng cao đời sống con người là tối cần thiết.

    Nhưng thế giới còn đó hai tư tưởng, hai chế độ khác nhau: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

    - Tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ sự già cỗi, lỗi thời. Tuy nó đã lợi dụng sự phát triển thần kỳ của khoa học và kỹ thuật để nâng cao sản xuất của cải vật chất, vũ khí công nghệ tiên tiến nhưng chưa hề thỏa mãn được nhu cầu của con người cả vật chất và tinh thần. Ngược lại, nó đã đem lại không ít tai họa cho nhân loại: nghèo đói, thất nghiệp, tội ác, kỳ thị chủng tộc, đồi trụy tinh thần. Nó không hề thay đổi bản chất tham lam. Nó chỉ muốn bảo tồn quyền lợi và hưởng thụ của một thiểu số, áp bức bóc lột đại đa số bằng mọi cách, không loại trừ tiến hành chiến tranh xâm lược, nô dịch các nước, các dân tộc.

    - Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố: Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước, tiến hành đường lối đối ngoại hữu nghị và hòa bình với các dân tộc, tìm mọi cách tránh chiến tranh, giữ vững hòa bình, xây dựng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn bản sắc dân tộc. Đồng thời đề cao cảnh giác, thực hiện dựng nước đi đôi với giữ nước. Đó là đường lối đúng đắn theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

    2. Ngày nay trong một thế giới mà mầm mống chiến tranh vẫn còn, âm mưu thôn tính và bành trướng chưa hết, luôn luôn đề cao cảnh giác, “kiến quốc phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc”, bảo vệ con đường xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là vô cùng quan trọng. “Không đến nguy cơ, thì chớ chiến tranh”, nhưng khi phải chiến tranh thì nhất định phải thắng. Muốn vậy phải chuẩn bị sẵn:

    - Một chiến lược quốc phòng phù hợp.
    - Một hậu phương vững chắc.
    - Một lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân.
    - Những bảo đảm để thực hiện chiến dịch, chiến thuật, nghệ thuật quân sự theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

    Chiến lược quốc phòng phải phù hợp với tình hình trong nước và thế giới đến đầu thế kỷ XXI và phù hợp với từng thời kỳ sau đó. Xác định đúng đối tượng, kẻ thù chính và phụ trong từng thời kỳ, luôn thêm bạn, bớt thù, xác định đúng nhiệm vụ từng chiến trường mà tổ chức và bố trí lực lượng phù hợp. Phân tích chính xác các mâu thuẫn có thể gây ra xung đột, chiến trường phải tác chiến, để có sẵn kế hoạch và biện pháp chính trị, quân sự, tổng hợp, luôn giữ thế chủ động trong bất kể tình huống nào.

    Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.

    3. Trước kia có hai siêu cường, nay có nhiều siêu cường tranh nhau về kinh tế để làm bá chủ thiên hạ. Mâu thuẫn trước mắt là kinh tế, chính trị cũng có thể dẫn đến mâu thuẫn đối chọi về vũ trang, cục bộ nơi này, nơi khác. Thế giới còn có thể phức tạp hơn nhiều. Nhưng phức tạp đến đâu, tranh giành kinh tế, chính trị, chiếm đoạt bằng vũ trang hay “diễn biến hòa bình”, theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, con người vẫn giữ vai trò quyết định.

    Một khi con người được giác ngộ, đoàn kết chặt chẽ, quyết tự đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình thì không một kẻ thù nào, không một thủ đoạn kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa nào có thể thắng nổi. Đó là truyền thống của dân tộc ta, là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Vận động, giáo dục, giác ngộ nhân dân, tổ chức họ lại, đoàn kết trong một mặt trận vì quyền lợi của Tổ quốc, của dân tộc là nhiệm vụ của các đoàn thể chính trị - xã hội. Vai trò của các đoàn thể ấy là rất quan trọng trong bất cứ thời kỳ nào. “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì làm cũng không xong”. Một đảng cách mạng thực sự vững mạnh, ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, không có lợi ích nào khác, thì nhất định tập hợp và lãnh đạo được toàn dân đấu tranh giành thắng lợi.

    Một chính quyền do dân, vì dân, dựa vào dân nhất định điều hành có hiệu quả đất nước trong mọi tình huống.

    Đó là một cơ chế của một chế độ đi lên xã hội chủ nghĩa, lấy dân làm gốc, có sự lãnh đạo và điều hành chặt chẽ của một đảng, một chính quyền vì dân nhất định có thể đối đầu với bất kỳ khó khăn nào, có thể giành toàn thắng trong “diễn biến hòa bình” hay chiến tranh.

    Đó là điều cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bảo đảm giành toàn thắng bất cứ kẻ thù nào, vũ khí nào, ở thời đại nào.



CÂU HỎI:

    Phần I:

    1. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành từ bao giờ? Phát triển như thế nào trước Cách mạng Tháng Tám, trong hai cuộc kháng chiến?

    2. Nguồn gốc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh?


    Phần II:

    1. Vì sao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh lại đặt vấn đề chỉ tiến hành chiến tranh cách mạng khi tất cả các biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao hòa bình không còn hiệu quả, “không đến nguy cơ, thì chớ chiến tranh”?

    2. Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân khác nhau như thế nào? Nội dung tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về hai vấn đề trên?

    3. Phân tích sự khác nhau, đồng thời mối liên hệ hữu cơ của hậu phương chiến tranh, hậu phương quân đội, căn cứ địa và căn cứ du kích? Nêu ví dụ?


    Phần III:

    1. Vì sao ngày nay các siêu cường có đủ vũ khí giết người hàng loạt, chuẩn bị cả chiến tranh trên các vì sao, Đảng ta vẫn chủ trương thực hiện tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: Con người vẫn là yếu tố quyết định thắng lợi trong “diễn biến hòa bình” hay chiến tranh?

    2. Làm thế nào để chiến lược quốc phòng của ta phù hợp với tình hình trong nước và trên thế giới đến đầu thế kỷ XXI và phù hợp với từng thời kỳ sau đó?




---------------------------------------------------------------
Bài giảng lớp Cao học lịch sử.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #132 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2023, 02:52:16 pm »

NGHĨ VỀ ẤP BẮC



    Ấp Bắc, một thôn nhỏ, dân cư thưa thớt, nằm ven Đồng Tháp Mười, một thôn nghèo bị lùi sâu vào vùng đất bờ bắc của Tiền Giang, bỗng nhiên nổi tiếng trong mùa xuân năm 1963. Mùa xuân ấy, hàng đàn trực thăng, những “cá rô”, “cá lẹp”, “cán gáo” gầm rít, quần thảo làm vẩn đục bầu trời Ấp Bắc; từng bầy xe thiết giáp lội nước chở quân ngụy như bầy cua đồng xẻ dọc xẻ ngang ruộng vườn; những loạt bom và đại bác nổ đinh tai nhức óc, cày xới đất đai, sập nhà sập cửa. Và nữa, trên kinh (kênh) Nguyễn Tấn Thành vòng từ phía đông ra phía sau Ấp Bắc, cả đoàn tàu chiến rầm rộ tiến hành bao vây, quyết không để một Việt cộng, một người dân nào chạy thoát. Nhưng họ nào có chạy. Họ trụ lại và chuẩn bị đón chờ cuộc “hội ngộ” từ mấy ngày nay. Không phải họ mình đồng da sắt gì để mà chọi lại với bom đạn sắt thép Huê Kỳ. Họ có trái tim và trí tuệ. Nhờ trái tim trong sáng vì nước vì dân, quên mình mà đẻ ra trí thông minh sáng tạo, biết dựa vào lòng đất, lòng dân, xây nên sức mạnh tổng hợp để ít hóa ra nhiều, yếu trở thành mạnh mà thắng oanh liệt quân thù. Kể cũng lạ, kẻ bị phơi thây trên chiến địa, nhiều trực thăng tan xác, nhiều xe thiết giáp chỏng gọng, kẻ phải rút chạy lại chính là bầy quỷ dữ xâm lăng và bán nước đông đặc, được trang bị hiện đại và dồi dào, được trực thăng vận và thiết xa vận tân kỳ, hùng hùng hổ hổ lúc đầu tưởng như ăn tươi nuốt sống tất cả Việt cộng và người dân Ấp Bắc.

    Sau trận Ấp Bắc còn nhiều trận lớn hơn, ác liệt hơn và thắng to hơn, nhưng sao Ấp Bắc lại danh tiếng vang lừng hơn? Cả nước từ thành thị đến thôn quê, ai ai cũng biết đến Ấp Bắc. Cả miền Nam từ đơn vị chủ lực đến anh du kích, biệt động đều “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”. Ấp Bắc trở thành ngọn cờ đầu lúc ấy cho bộ đội, nhân dân ta tiến lên đánh ngụy, đánh Mỹ. Ấp Bắc đã đem lại niềm tin chiến thắng, lòng can đảm và mưu trí cao trong việc hạ trực thăng, chôn vùi thiết giáp Mỹ. Cái tên thôn hẻo lánh Ấp Bắc ấy được lính ngụy, lính Mỹ nhắc đến một cách sợ hãi và cũng được các nhân vật ở tận Lầu Năm Góc bên Mỹ nói đến một cách ngạc nhiên.

   Nguyên do là thế này: Sau phong trào Đồng khởi năm 1960, nhân dân ta đã làm chủ hàng nghìn làng mạc, đặc biệt là ở khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chính quyền Diệm được Mỹ xây dựng và lãnh đạo đã bị lung lay tận gốc và có nguy cơ sụp đổ. Để cứu vãn tình thế, Mỹ buộc phải tiến hành chiến tranh thực sự chống lại cách mạng, chống lại nhân dân Việt Nam. Chúng chủ trương tiến hành kiểu “Chiến tranh đặc biệt”, nghĩa là dùng xương máu thanh niên Việt Nam do ngụy quyền cung cấp cộng với vũ khí và tiền vàng của Mỹ, do Mỹ lãnh đạo và chỉ huy. Từ năm 1961, chúng đưa mạnh các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh vào miền Nam nước ta trong đó có nhiều loại trực thăng và xe thiết giáp, xe tăng. Với phương tiện hiện đại như vậy, quân lính ngụy do cố vấn Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện và chỉ huy chiến đấu, được chở bằng máy bay lên thẳng và xe bọc thép, có thể rất nhanh chóng đến bất cứ nơi nào trên chiến trường trong vòng một vài tiếng đồng hồ, bất chấp địa hình nơi đó có sông ngòi ngăn cách, có sình lầy nước đọng, hay rừng sâu núi cao, tiền tuyến, hậu phương như vậy mà khó phân biệt. Chúng đã tăng cường được cho quân đội chúng tính cơ động nhanh, sức đột phá mạnh và hỏa lực dồi dào, ưu thế hơn gấp trăm lần đối phương. Chúng có thể tiến hành bao vây mau và chặt, hủy diệt nơi nào chúng muốn và khi cần thì rút chạy cũng nhanh. Ai đã từng sống trong những ngày đầu “Chiến tranh đặc biệt” ấy, năm 1961 - 1962, không thể quên được sự tung hoành của trực thăng trên bầu trời. Có khi chỉ một chiếc trực thăng thôi mà chúng kiểm soát được cả một vùng rộng trống trải ở đồng bằng. Trực thăng đã từng hạ thấp, đứng nguyên một chỗ, kêu người nông dân đang làm ruộng đưa giấy tờ cho chúng xét, vạch áo cho chúng xem lưng để xác định có phải là Việt cộng, có mang vũ khí không. Trong những ngày ấy, bộ đội chủ lực ta mới bắt đầu hình thành, trang bị của các lực lượng ta chỉ là súng bộ binh nhẹ và còn rất ít súng có hiệu lực cao. Về chiến thuật, ta còn rất bỡ ngỡ khi phải đối phó với một lực lượng hợp thành nhiều binh chủng hiện đại như vậy của địch. Gặp những cuộc càn quét của địch có nhiều xe tăng, thiết giáp và trực thăng thì du kích và bộ đội địa phương của ta buộc phải phân tán, bắn tỉa hoặc rút tránh nơi khác, chờ cơ hội đánh phục kích hay tập kích bất ngờ. Nhưng không lẽ cứ rút tránh mãi thì làm sao diệt nhiều địch, phá được chiến thuật của chúng để giành thắng lợi, giải phóng quê hương. Nếu bất thình lình giặc tới, bộ đội ta đánh để tồn tại rồi nhanh chóng thoát khỏi trận địa đi nơi khác để cho dân chúng ở đó bị địch khủng bố và kìm kẹp thì sao? Khi đã quyết bảo vệ dân, làm chủ đất nước thì phải nghĩ ra cách đánh để thắng, bất cứ tình huống khó khăn mấy, có khi tưởng như vượt quá sức lực và trí óc của mình. Thế là các đồng chí chỉ huy Khu 2 của ta (miền Trung Nam Bộ) thời kỳ ấy đã cùng chỉ huy các tiểu đoàn (lúc ấy mới có biên chế đến tiểu đoàn) thảo luận tìm kiếm cách đánh thích hợp nhất, hay nhất. Họ hạ quyết tâm trụ lại đánh trả, bộ đội không rút, tránh đi nơi khác, nhân dân không tản cư nữa mà cùng nhau ở lại chống giặc giữ làng. Đó là Tiểu đoàn 261 của Khu 2 (sau này được đặt tên là Tiểu đoàn Gironde), Tiểu đoàn trưởng là Hai Hoàng. Họ đã bàn bạc, vận động nhân dân vùng Ấp Bắc để thống nhất ý chí, đồng tâm hiệp lực, đánh giặc bằng vũ trang, đấu tranh bằng chính trị và vận động binh lính địch không bắn đồng bào mình, theo phương châm chỉ đạo của trên: Hai chân, ba mũi - phương châm đã được đúc kết từ thực tế của quần chúng các địa phương, từ ngày Đồng khởi đến nay. Kế hoạch được hình thành. Bộ đội phác họa trận địa bố trí các lực lượng của tiểu đoàn, của bộ đội địa phương huyện, của du kích xã, ấp theo dự đoán về địch và phương án tác chiến của ta. Nhân dân cùng bộ đội đào công sự, lo nấu ăn, tiếp tế, cứu thương... Các đoàn thể tổ chức ra lực lượng sẵn sàng trực diện đấu tranh chính trị và binh vận. Họ đã gấp rút chuẩn bị và chờ đợi. Địch đã đi tới theo dự đoán. Tất cả các cánh ngụy đều bị chặn đánh kịch liệt, xe thiết giáp bị nổ tung, trực thăng đổ quân bị bắn rơi. Trong lúc bom đạn đôi bên rền trời thì một đoàn các chị và các mẹ lớn tuổi đã ra Đường 4, cách đấy 4-5km, nơi trận địa pháo địch bắn chi viện cho các cánh quân của chúng, vận động binh lính đừng bắn vào làng, vào đồng bào mình. Vừa thuyết phục, các bà vừa xông tới đỡ nòng pháo lên cao, trì kéo với lính ngụy không cho bắn... Không được chi viện bằng pháo, bộ binh mất tinh thần, bị bộ binh ta xung phong mãnh liệt, hàng ngũ chúng rối loạn, lớp bị thương vong, lớp rút chạy, cuối cùng quân dân ta làm chủ trận địa. Trận đánh kết thúc, thắng lợi vẻ vang về ta.

    Lần đầu tiên, chiến thuật tân kỳ của Huê Kỳ, trực thăng vận và thiết xa vận bị đập tan từng mảnh. Lần đầu tiên quân ngụy hiểu ra rằng những khối thép cơ động không che chở được cho chúng, máy bay lên thẳng đổ quân thẳng đứng từ trên trời xuống cũng không thể thoát chết, những bàn tay nhăn nheo và lời nói nhân từ của mẹ già cũng làm câm được thần đại bác.

    Cũng lần đầu tiên, dân và quân ta hiểu rõ bằng thực tế sức mạnh thần kỳ của quân và dân đồng tâm nhất trí, trong một trận đánh quyết liệt, ba mũi giáp công vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Kỹ thuật hiện đại, chiến thuật tân kỳ của Mỹ - ngụy đã bị quân và dân cách mạng Ấp Bắc phá tan bằng cách đánh và đấu tranh gan dạ, sáng tạo, bằng lực lượng tổng hợp của mình.

    Trận đánh Ấp Bắc, một trận đánh trả càn quét thắng lợi, trở thành một sự kiện trong “Chiến tranh đặc biệt” có ý nghĩa lớn lao, một căn cứ thực tế để giúp lãnh đạo tối cao giải đáp được câu hỏi ray rứt từ gần hai năm nay: Liệu ta có chống nổi quân đội nhà nghề đông đảo và phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ - ngụy? Liệu ta có thắng được cuộc “Chiến tranh đặc biệt” của chúng? Bây giờ thì câu trả lời dứt khoát là được. Từ đó mà khẳng định quyết tâm chiến lược: Đánh bại “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, giành thắng lợi, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trận Ấp Bắc không chỉ còn là một trận đánh ở một thôn hẻo lánh mà là phương hướng chiến thuật, phương châm tác chiến, phương thức tiến hành chiến tranh hai chân, ba mũi. Một lần nữa quần chúng hành động, sáng tạo từ cơ sở bên dưới (đại đội, tiểu đoàn và nhân dân một ấp) đã giúp cho trên xác định chủ trương lãnh đạo cuộc chiến tranh và củng cố niềm tin ở thắng lợi.

    Trận Ấp Bắc là một sự kiện của quá khứ trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ. Trong một tình huống vô cùng khó khăn, nguy hiểm của chiến tranh mà quân địch có ưu thế gấp bội về nhiều mặt như quân số, vũ khí, kỹ thuật, tiền tài... và có một quyết tâm của một “dã thú độc ác” trước con mồi béo bở, nhân dân (chiến sĩ và nhân dân trong ấp) đã sáng suốt và dũng cảm tìm ra con đường đi đến thắng lợi. Vậy thì trong một hoàn cảnh không phải nước sôi lửa bỏng như vậy, trong xây dựng hòa bình, trong sản xuất chẳng hạn, làm cho dân hiểu, bàn bạc với dân và cùng làm với dân thì chắc chắn sẽ đem lại kết quả mong muốn.

    Sự kiện Ấp Bắc còn chỉ rõ rằng, đường lối, chính sách của trên khi nào cũng dựa vào thực tế từ bên dưới mà không phải từ giáo điều sách vở nào hay từ tư duy của một cái đầu thần thánh nào. Đúng là phải từ tư duy của hàng trăm ngàn cái đầu con người và được kiểm nghiệm từ thực tế. “Lịch sử là một tấm gương sống đồng thời là một nguồn kinh nghiệm”, nhà văn nổi tiếng Xôviết A. Rưbakop đã nói đúng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #133 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2023, 02:54:57 pm »

CHIẾN THẮNG BA GIA - ĐÒN ĐÁNH BỒI LÀM PHÁ SẢN “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐỊCH



    “Chiến tranh đặc biệt” với công thức là vũ khí Mỹ cộng với máu người bản xứ đến thôn tính nước người, khâu đầu tiên trong chiến lược “Phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ, mở ra ở miền Nam năm 1961. Đầu năm 1963, chiến thắng Ấp Bắc của ta ở Mỹ Tho đã chỉ rõ nhân dân Việt Nam có thể dùng chiến tranh cách mạng chống lại chiến tranh phản cách mạng. Thực tế hành động tại chiến trường đã làm cho ta hiểu rõ địch, sức mạnh và khả năng, chỗ mạnh và chỗ yếu của nó, nhưng quan trọng hơn là làm cho ta biết ta rõ hơn để vững vàng xác định quyết tâm chiến đấu.

    Cuối năm 1964 đầu năm 1965, ta chủ động mở chiến dịch kết hợp quân sự, chính trị, kết hợp ba thứ quân mà chủ lực Quân giải phóng làm nòng cốt tấn công quân ngụy tại chiến trường Bình Giã thuộc Bà Rịa - Long Khánh, tiêu diệt và đánh thiệt hại hàng loạt tiểu đoàn ngụy trong đó có các tiểu đoàn biệt động dù và thủy quân lục chiến là lực lượng tổng trừ bị của quân ngụy. Chiến thắng Bình Giã đã chứng tỏ quân ngụy “không đủ sức đương đầu với Việt cộng” (theo Bộ Quốc phòng Mỹ) và là đòn quyết định “làm thất bại cơ bản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”” (theo Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp). Vì vậy, Mỹ phải chữa cháy, cứu ngụy quân bằng cách đưa quân viễn chinh Mỹ vào trực tiếp chiến đấu ở miền Nam Việt Nam, mở đầu là Lữ 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 08/3/1965.

    Được thế hỗ trợ của Mỹ, quân ngụy mở cuộc tấn công vào vùng Ba Gia, miền tây tỉnh Quảng Ngãi vào tháng 5/1965. Ở đây, Quân giải phóng không phải phòng ngự, chống đỡ mà là chủ động gài thế trận tấn công lại quân địch bằng chiến thuật vận động của quân chủ lực kết hợp với du kích, bộ đội địa phương tại chỗ. Cuộc chiến tranh nhân dân của ta đã tiến triển về mặt quân sự là sự kết hợp quân chủ lực với quân du kích, kết hợp với chính quy chiến... Với chiến thắng Ba Gia, trong một thời gian ngắn, ta tiêu diệt 4 tiểu đoàn quân ngụy, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn tổng trừ bị thủy quân lục chiến ngụy, giải phóng gần 200.000 dân, là một thành tích vang dội trong thời kỳ ấy. Đòn tấn công Ba Gia cùng với đòn tấn công Đồng Xoài tiêu diệt đồng thời quân địch ngoài công sự và trong công sự là những đòn đánh bồi tiếp theo trận Bình Giã, có ý nghĩa lớn cả về chiến thuật và chiến lược.

    Chiến thắng Ba Gia cho thấy sự trưởng thành nhanh chóng trong tác chiến của Quân giải phóng, sự dũng cảm và sáng tạo của cán bộ và chiến sĩ ta. Để đánh quân ngụy đông, được trang bị mạnh và được yểm trợ của không quân và pháo binh, chủ lực Quân giải phóng đã nắm vững thời cơ, bao vây chia cắt, vận động đánh tiêu diệt gọn nhanh, làm chủ chiến trường. Đó là một tiến bộ vượt bậc trong thời kỳ cuối của “Chiến tranh đặc biệt”.

    Ba đòn liên tiếp Bình Giã - Ba Gia - Đồng Xoài đã đập tan mưu kế độc ác dùng thanh niên người bản xứ sử dụng vũ khí tiêu diệt người bản xứ cho đế quốc thống trị. “Chiến tranh đặc biệt” hoàn toàn bị phá sản.

    Cũng là người Việt Nam nhưng quân lính ngụy Sài Gòn mặc dù có nhiều vũ khí mạnh, đôla nhiều vẫn khác xa Quân giải phóng về ý chí chiến đấu, về dũng trí. Đó là chính nghĩa thắng phi nghĩa.

    Bản chất đế quốc không thay đổi: Thống trị dân tộc khác bằng mọi cách, thực dân cũ hay mới, chiến tranh hay “diễn biến hòa bình”. Trước nguy cơ ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ, để thực hiện ý định, Mỹ phải vượt qua “ngưỡng cửa (cấm kỵ) bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở châu Á” bằng cách bị động đưa quân Mỹ vào tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ác liệt chưa từng thấy, khâu thứ hai trong chiến lược “Phản ứng linh hoạt”.

    Quân và dân Việt Nam đứng trước một vấn đề khó khăn, liệu ta có đủ sức đối đầu với quân viễn chinh Mỹ, một đội quân nhà nghề thiện chiến được trang bị đến tận răng, đủ loại vũ khí hiện đại nhất kể cả vũ khí giết người hàng loạt, một đội quân chưa hề bị thua bao giờ.

    Bác Hồ đã từng chỉ rõ, phải biết sức ta, biết sức người, biết chắc lợi hại của tình hình đôi bên, người tướng giỏi phải biết có thể đánh và biết không thể đánh.

    Ta phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính xác. Ta biết rõ địch bị động mà mở ra “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ tham chiến vội vàng. Quân Mỹ lạ người, lạ vật, xa quê hàng vạn dặm, không có thiên thời, địa lợi, đặc biệt là không có nhân hòa.

    Nhưng “chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn cuối cùng của chân lý”.

    Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi) cùng với các chiến thắng Núi Thành (Quảng Nam) và Bàu Bàng - Dầu Tiếng (Sông Bé) là những thực tiễn hùng hồn giúp ta có quyết định chiến lược đúng đắn. Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã có nhận định và hạ quyết tâm: “Mỹ đông, giàu nhưng không mạnh vì bị động về chiến lược, tiến hành chiến tranh phi nghĩa, có nhiều điểm yếu cơ bản, ta quyết tâm đánh Mỹ, vẫn giữ vững chiến lược tấn công của chiến tranh nhân dân”.

    Đó là ý nghĩa chiến lược của những trận đánh có tính quyết định ngay từ những ngày tháng đầu tiên của “Chiến tranh cục bộ” khi quân viễn chinh Mỹ mới chân ướt chân ráo bước vào chiến trường Việt Nam, chiến trường trên bộ ở lục địa châu Á. Từ chỗ đánh vào quân ngụy được Mỹ trang bị huấn luyện, chi viện và chỉ huy, ta phải đánh thẳng vào quân Mỹ trang bị mạnh gấp bội về nhiều mặt, đã từng chiến thắng những đội quân phátxít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các trận ban đầu thắng lợi giòn giã là vô cùng quý giá giúp ta hiểu rõ địch, hiểu rõ ta để xác định đường lối, chiến lược chiến tranh.

    Trận Núi Thành, ta dùng đặc công bất ngờ tiêu diệt 1 đại đội quân Mỹ đóng trong công sự. Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng, ta chủ động dùng một sư đoàn chủ lực Quân giải phóng tập kích tiêu diệt một chiến đoàn mạnh của quân Mỹ đang đóng cụm dã ngoại để hôm sau phối hợp quân ngụy tấn công vào vùng của ta, có máy bay chiến lược B52 lần đầu tiên phối hợp chuẩn bị chiến trường cho Mỹ - ngụy ở Việt Nam. Còn trận Vạn Tường là trận vận động chiến của một trung đoàn chủ lực Quân giải phóng cùng bộ đội địa phương, từ chỗ bị tấn công chuyển thành tấn công, từ bị động chuyển thành chủ động, trong một tình thế quân địch có nhiều ưu thế, đông hơn, trang bị mạnh, được chi viện bằng xe tăng thiết giáp, pháo binh và không quân, cả pháo binh của hải quân từ biển. Ta lại phải chiến đấu ban ngày trên một địa hình mấp mô trung bình, ven biển, không được che khuất. Trận đánh không cân sức đã diễn ra quyết liệt mà thắng lợi thuộc về Quân giải phóng, gây thiệt hại nặng cho quân Mỹ, máy bay bị hạ, bỏ nhiều xác xe tăng tại chiến trường.

    Đây là trận đánh “tìm và diệt” đầu tiên của quân Mỹ mới vừa đến Việt Nam trong khí thế hung hăng kiêu ngạo, ỷ lại hỏa lực tuyệt đối và cơ động nhanh trên mọi địa hình bằng phương tiện chiến tranh hiện đại nhất. Chúng đã huy động hàng trăm máy bay chiến đấu và trực thăng, hàng trăm xe tăng và xe thiết giáp lội nước, nhiều tàu chiến và tàu đổ bộ từ biển và đổ bộ đường không, nhanh chóng tiến hành bao vây chặt Quân giải phóng từ bốn phía. Tên tư lệnh lính thủy đánh bộ Mỹ đã huênh hoang: “Việt cộng sẽ không một ai lọt ra được”.

    Nhưng kết quả cuối cùng là trung đoàn Quân giải phóng cùng bộ đội địa phương Quảng Ngãi đã dũng cảm và mưu trí chiến đấu oanh liệt diệt và làm bị thương gần 1.000 quân Mỹ, hạ tại chỗ nhiều trực thăng và xe tăng, thiết giáp, vượt vòng vây an toàn, đánh bại cuộc tấn công “tìm và diệt” đầu tiên của quân viễn chinh Mỹ. Tờ Nữu Ước thời báo(The New York Times) lúc đó đã bình luận: “Mỹ phải trả giá rất đắt”.

    Như vậy là ngay từ những ngày đầu đi xâm lược, quân Mỹ dù đóng công sự kiên cố (Núi Thành), đóng cụm dã ngoại (Bàu Bàng) và đặc biệt là ở Vạn Tường, xua quân đi tấn công, dựa vào sức mạnh của không quân, hải quân, cơ giới và pháo binh rất đông đảo, rất hiện đại vẫn phải chuốc lấy thất bại thảm hại.

    Những chiến thắng quan trọng đó có giá trị lớn lao về mặt chiến thuật, như đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu: “Dám đánh Mỹ thì ta sẽ tìm ra cách đánh Mỹ và thắng Mỹ”. Ở đây rõ ràng là quân dân ta đã dám đánh, đặc biệt là trong trận Vạn Tường, ta từ các thế rất nguy nan đã chuyển thành thế có lợi, diệt địch, thắng lợi rất vẻ vang. Và qua những chiến thắng đó, ta đã tìm ra kinh nghiệm quý báu về cách đánh trong mọi hoàn cảnh, làm giàu thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam. Hơn thế, các chiến thắng đó là những thực tiễn hùng hồn có giá trị chiến lược lớn lao cho phép ta tin tưởng rằng Quân giải phóng có khả năng đánh thắng quân nhà nghề Mỹ chưa từng bị thua ai, khẳng định chiến tranh nhân dân của ta có thể thắng chiến tranh xâm lược đế quốc dù là chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” hay “Chiến tranh cục bộ”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #134 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2023, 03:03:45 pm »

MỘT TRẬN CHIẾN HAI CÁCH ĐÁNH, HAI NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ KHÁC NHAU
(Trận Junction City)


    Cuộc chiến tranh giải phóng, chống xâm lược Mỹ của nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu, kéo dài do Mỹ khởi xướng và leo thang qua nhiều giai đoạn. Từ giai đoạn đầu, một bên dùng bạo tàn cảnh sát và quân sự và một bên dùng đấu tranh chính trị hòa bình tới giai đoạn gọi là “Chiến tranh đặc biệt”, rồi “Chiến tranh cục bộ”, rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”, với mục đích nô dịch dân tộc Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành một bộ phận của nước Mỹ mà “ranh giới kéo dài đến vĩ tuyến 17” (lời Ngô Đình Diệm). Nó còn có mục đích cao hơn là tạo lập một bàn đạp đầu cầu vững chắc trên đất liền châu Á, khống chế bằng sức mạnh một vùng chiến lược quan trọng của thế giới: Vùng Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Đây cũng là sản phẩm của tư tưởng chống cộng “Mc Carthy” ở Mỹ thập niên 1940 mà chính quyền Mỹ tự nguyện làm tên “Sen đầm quốc tế” thực hiện “chiến lược ngăn chặn” chống lại ảnh hưởng lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Nước Việt Nam nhỏ bé, nhân dân Việt Nam nghèo nàn, lại phải đảm đương hai nhiệm vụ lịch sử trọng đại: Giành độc lập, tự do cho dân tộc mình và bảo vệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa: Quyền con người được sống theo cách mình muốn, bình đẳng, công bằng, không bóc lột và nô dịch, người với người là bạn.

    Bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải bao phen chống xâm lược, bảo toàn bờ cõi và cuộc sống tự do của dân tộc mình. Và lần nào cũng vậy Việt Nam ở vào cái thế một nước nhỏ, kém phát triển, phải đương đầu với nước lớn, giàu hơn, cái thế phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Tiêu biểu nhất trong lịch sử quá khứ là quân, dân nhà Trần vào thế kỷ XIII đã phải đánh với quân xâm lược Mông - Nguyên mạnh nhất, tàn bạo nhất, thiện chiến nhất thế giới, đã từng thắng tất cả các đội quân đương thời từ Âu sang Á và lập nên một đế quốc khổng lồ. Trải qua liên tiếp ba cuộc chiến tranh trong vòng 30 năm từ năm 1258 đến năm 1288, quân dân ta với nghệ thuật quân sự độc đáo của Trần Quốc Tuấn: “Lấy đoản binh chế trường trận”, đã 3 lần toàn thắng hết sức oanh liệt một đội kỵ binh nhà nghề, binh chủng ưu việt của thời đại ấy từ trước chưa bao giờ biết thua là gì và đông gấp 3 - 4 lần quân ta. Rồi tới thời kỳ lịch sử cận hiện đại, 1945 - 1975 nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành chiến tranh chống quân xâm lược suốt 30 năm liên tục chống lại kẻ địch càng lớn mạnh hơn mình gấp hàng chục hàng trăm lần: Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Lần này, trong thời đại mà kỹ thuật, vũ khí và phương tiện chiến tranh phát triển cao độ, tuyệt vời, hơn xa cả những phép tiên mơ ước táo bạo nhất của thời xưa, nhân dân Việt Nam lại thắng lợi vô cùng oanh liệt và vẻ vang, đánh dấu bằng trận Điện Biên Phủ vang lừng và ngày 30/4/1975 bất diệt. Nghệ thuật đánh giặc truyền thống của ông cha đã được kết hợp hết sức sáng tạo với nghệ thuật quân sự hiện đại, trên cơ sở tư tưởng cách mạng và khoa học thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và lãnh đạo. Với lòng tin sắt đá: Chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, toàn dân thực hiện chiến lược chiến tranh nhân dân, lấy con người làm gốc, vì lợi ích và phẩm giá con người, dựa vào đạo lý nhân nghĩa triệt bạo tàn, đã giành toàn thắng vẻ vang.

    Chiến tranh nhân dân cách mạng được phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tế của thời đại, có thể thắng bất cứ kẻ địch nào với loại vũ khí, phương tiện nào.

                                             
***

    Phạm vi bài này lấy việc nghiên cứu, phân tích một trận đánh lớn có tính quyết định về chiến lược trong chiến tranh để rút ra một số điểm của hai nền nghệ thuật quân sự khác nhau (không phải diễn tả trận đánh).

    Đó là trận Junction City của quân đội Mỹ vào năm 1967 nằm trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Sở dĩ chọn trận đánh này vì đây là trận đánh lớn nhất và quyết định nhất của chiến lược “tìm và diệt” của tướng Westmoreland - Tư lệnh quân đội Mỹ ở Đông Dương, một chiến lược được thực hiện suốt thời kỳ “Chiến tranh cục bộ” nghĩa là thời kỳ quân đội Mỹ tham chiến và trở thành lực lượng chủ yếu trên chiến trường. “Chiến tranh cục bộ” lại là cái lõi của toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam. Thực sự chính quyền Mỹ và bộ máy lãnh đạo chiến tranh của họ tin chắc vào thắng lợi trong chiến tranh Việt Nam nếu họ dùng chiến lược “tìm và diệt”. Tài liệu mật Lầu Năm Góc đã tiết lộ: “Tướng Westmoreland hồi tháng 7/1965 đã nói với Washington rằng, áp dụng chiến lược “tìm và diệt”, ông có thể đánh bại kẻ địch vào cuối năm 1967”. Cùng tháng ấy, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân bảo đảm với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mc Namara rằng: “Không có lý do gì chúng ta không thể thắng nếu đó là quyết tâm của chúng ta”. Đó thật là quyết tâm của cả Bộ Quốc phòng Mỹ và Nhà Trắng vì Bộ Quốc phòng và Tổng thống Johnson đều đã tán thành dùng chiến lược “tìm và diệt”, chấp thuận nhanh chóng việc tăng quân theo kế hoạch của Westmoreland, đồng thời hỗ trợ cho sự thành công của chiến lược bằng các chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam để “làm các hoạt động nổi loạn xẹp đi vì thiếu sự hỗ trợ”.

    Vậy chiến lược “tìm và diệt” là thế nào? Cũng theo tài liệu mật Lầu Năm Góc, “ý nghĩa cơ bản nêu rõ trong chiến lược “tìm và diệt” là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của kẻ địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất kỳ nơi nào trên đất nước... và giáng cho địch những đòn thật nặng nề”. Để thực hiện chiến lược ấy Westmoreland đã vạch kế hoạch gồm ba giai đoạn:

    Giai đoạn I: Lực lượng quân sự Mỹ và lực lượng quân sự của “thế giới tự do” ngăn chặn chiều hướng thua, từ hồi cuối năm 1965.

    Giai đoạn II: Mở các cuộc tấn công trong sáu tháng đầu năm 1966 ở các vùng đặc biệt ưu tiên để tiêu diệt các lực lượng địch và tổ chức lại các hoạt động xây dựng nông thôn.

    Giai đoạn III: Nếu địch còn ngoan cố thì cần một năm đến một năm rưỡi tiếp theo giai đoạn II để đánh bại và tiêu diệt các lực lượng địch còn lại và các khu căn cứ.

    Việc rút lui của lực lượng Mỹ và “thế giới tự do” bắt đầu sau giai đoạn III, khi đó Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã có đủ khả năng thiết lập và duy trì trật tự trong nước và bảo vệ biên giới của mình.

    Trận đánh Junction City nằm trong giai đoạn III của kế hoạch nhằm “đánh bại và tiêu diệt các lực lượng địch còn lại và các khu căn cứ”, kết thúc cuộc chiến tranh vào cuối năm 1967 để sau đó rút hết quân Mỹ và quân chư hầu về nước. Vì vậy, trận đánh Junction City có tính chất quyết chiến chiến lược để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh theo đúng kế hoạch của Westmoreland.

    Trận đánh là một nỗ lực tối đa của quân đội Mỹ. Westmoreland huy động sử dụng vào đây những đơn vị thiện chiến nhất có trong tay, như Sư đoàn bộ binh số 1 mệnh danh “Anh cả đỏ”, Sư đoàn bộ binh số 25 mệnh danh “Tia chớp nhiệt đới”, Sư đoàn bộ binh số 4, Sư đoàn bộ binh số 9, Lữ bộ binh 196, Lữ dù 173 cùng với Lữ A thủy quân lục chiến ngụy, và 4 tiểu đoàn biệt kích và Make-force, tất cả khoảng 30 tiểu đoàn và trên 45.000 quân. Để hợp đồng chiến đấu và chi viện cho bộ binh có các đơn vị xe tăng và thiết giáp khoảng 1.200 chiếc, 256 khẩu pháo 105 ly, 155 ly, 203 ly và “vua chiến trường” 175 ly cũng như các pháo tự hành, 10 tiểu đoàn công binh bảo đảm. Không quân hầu như không hạn chế, có khoảng gần 200 máy bay chiến đấu, 300 trực thăng các loại, 45 máy bay vận tải, nhiều máy bay trinh sát L19, RF 101, Mohawk... Không kể hàng loạt các phi vụ của máy bay chiến lược B52 dùng cho rải thảm hủy diệt và cả chi viện chiến đấu trước và trong trận đánh.

    Một lực lượng tập trung lớn như vậy được sử dụng vào một vùng địa hình bằng phẳng có rừng cây che khuất, xen kẽ nhiều trảng trống lớn nhỏ, rộng chỉ khoảng 1.500km2 nằm giữa sông Vàm Cỏ ở nhánh tây, sông Sài Gòn ở phía đông, biên giới Campuchia ở phía bắc và thị xã Tây Ninh với Liên tỉnh lộ 13 ở phía nam. Toàn bộ khu vực có nhiều đường rải đá và đất, xẻ dọc, ngang thành nhiều mảnh, thuận lợi cho cơ giới, chủ yếu là Đường 22, Đường 4, Đường liên tỉnh 13 và đường dọc theo biên giới. Phía nam khu vực có quả núi đơn độc - núi Bà Đen, cao 968m mà từ lâu Mỹ đã thiết lập trên đỉnh một trung tâm thông tin và trinh sát kỹ thuật rất mạnh, rất hiện đại.

    Toàn bộ khu vực phía bắc tỉnh Tây Ninh là khu căn cứ của ta trong suốt chiến tranh chống thực dân Pháp cũng như chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Vào thời điểm trận đánh Junction City, ở đây ta có các cơ quan của Trung ương Cục, của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Ở đây ta còn có Đài Phát thanh giải phóng và hệ thống kho tàng các loại. Sư đoàn chủ lực số 9 của ta cũng được điều về đứng chân ở đây để chờ địch. Westmoreland đặt nhiều kỳ vọng vào trận Junction City để đạt giấc mơ kết thúc chiến tranh nên đã chỉ định Trung tướng Jonathan Seaman - Tư lệnh dã chiến II của Mỹ trực tiếp chỉ huy với những mục tiêu rất lớn như:

    - Tiêu diệt cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến miền Nam của đối phương, chiếm Đài Phát thanh giải phóng, tiêu diệt Sư đoàn chủ lực số 9 của Quân giải phóng và các lực lượng khác còn lại.

    - Triệt phá toàn bộ kho tàng dự trữ hậu cần của địch và bịt chặt biên giới Campuchia.

    - Chiếm đóng khu căn cứ quan trọng của Việt cộng mà từ lâu nổi tiếng là “Đất thánh bất khả xâm phạm”.

    Mục tiêu đặt ra như vậy đã nói rõ ý nghĩa quyết định của nó, một trận đánh mang tính chiến dịch và chiến lược.

    Về phía ta, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Quân giải phóng đã đánh giá được tầm quan trọng của trận đánh này, hiểu rõ ý định của địch, quy mô lực lượng sử dụng và đặc biệt là tính chất quyết định của nó theo chiến lược của địch. Ta nhận định, kết thúc trận đánh này với thắng lợi thuộc về bên nào thì bên đó sẽ quyết định chiều hướng phát triển của cuộc chiến tranh có lợi cho mình.

    Do đó, đôi bên đều nỗ lực tối đa cả sức lực lẫn trí tuệ vào một trận đánh mà cả hai đều chuẩn bị sẵn, cả hai đều hành động kiên quyết theo kế hoạch đã định với nghệ thuật quân sự mà mình cho là ưu việt hơn địch để quyết tâm giành thắng lợi.

    Công tác chuẩn bị trận đánh của đôi bên đều rất công phu và chu đáo trong nhiều ngày:

    - Về phía Mỹ, học thuyết quân sự của quân đội Mỹ lấy cơ động và hỏa lực là những yếu tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, vì vậy phải tập trung cao độ vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, phải tạo mọi điều kiện để hỏa lực và quân đội có thể ập đến mãnh liệt và vận động nhanh nhất trên chiến trường hòng nghiền nát kẻ địch tức khắc. Nói theo ngôn từ của tướng Harkins từ năm 1962: “Hoa Kỳ chủ trương dựng lên một cỗ máy giết người có khả năng khuất phục đối phương bằng một hỏa lực kinh khủng mà nền kỹ thuật hiện đại có thể cung cấp” (Neil Sheehan: Sự lừa dối hào nhoáng - Một người Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam).

    Ngay từ những tháng cuối năm 1966, Mỹ đã khẩn trương xây dựng và mở rộng các chốt biệt kích, các căn cứ của quân đội Mỹ - ngụy bao quanh sát vùng hành quân để làm bàn đạp xuất phát gần nhất, dự trữ hậu cần và bảo đảm vật chất đầy đủ và kịp thời nhất. Đó là căn cứ Trảng Lớn cho Lữ đoàn 196, căn cứ Dầu Tiếng cho Lữ đoàn 3 Sư đoàn 4, căn cứ Quản Lợi (Bình Long) cho Lữ đoàn 2 Sư đoàn 1, các căn cứ của Sư đoàn 5 ngụy ở Hớn Quản, Chơn Thành, yếu khu biệt kích Minh Thạnh và các trại biệt kích Suối Đá, Trảng Sụp, Trại Bí, Mỏ Công. Các sân bay Trảng Lớn, Suối Đá, Dầu Tiếng, Minh Thạnh, Quản Lợi cũng được sửa chữa. Chưa kể các căn cứ xa hơn một chút nhưng vẫn rất thuận lợi cho cuộc hành quân này là căn cứ Đồng Dù ở Củ Chi, căn cứ Lai Khê trên Đường 13, căn cứ Phước Vĩnh ở Phước Thành và các sân bay nằm ở các căn cứ đó. Lại còn các sân bay lớn Tân Sơn Nhất và Biên Hòa đều có đủ điều kiện hỗ trợ cho cuộc hành quân vì chỉ cách trung tâm khu hành quân trên dưới 100km. Các con đường quan trọng chạy về khu vực Bắc Tây Ninh dùng cho hành quân và vận tải cũng được sửa chữa như Đường 19, 22, 26 từ phía Nam, đường nối liền Hớn Quản và Minh Thạnh với tả ngạn sông Sài Gòn.

    Từ tháng 12/1966, những đoàn xe vận tải liên tục đi về trên hai trục đường chính từ Sài Gòn, Long Bình theo Đường 22 lên Tây Ninh và Đường 13 lên hướng Dầu Tiếng, Hớn Quản, chở hàng chục nghìn tấn hàng gồm súng đạn, máy truyền tin, cầu dã chiến, xe ủi đất cho đến ximăng, bao cát, kẽm gai, gỗ đá, ống cống, cốt sắt, máy phát điện, tủ ướp lạnh... Ngoài ra, các loại máy bay C130, C123, mỗi ngày từ 10 - 15 chuyến, chở hàng từ Biên Hòa lên Dầu Tiếng, Trảng Lớn, Suối Đá, Minh Thạnh, Quản Lợi.

    Đó là về bảo đảm vật chất kỹ thuật, hậu cần. Còn lại công tác chuẩn bị chiến trường mọi mặt cũng không kém khẩn trương và quy mô.

    Từ ngày 01/02 đến ngày 21/02, đã có trên 30 phi vụ L19, Mohawk, RB57, RC47, RC123 quan sát và chụp ảnh địa hình, dò hướng vô tuyến điện của ta, thả máy thu tiếng động theo các tuyến đường bộ lớn nhỏ, dọc sông suối, ven biên giới và cả ở trung tâm căn cứ. Trực thăng thả các toán thám báo, biệt kích thuộc Liên đoàn 77 ngụy vào các khu vực Sóc Tâm, Suối Ngô, Kà Tum, Bổ Túc, Sóc Mới, Trảng Chiên, sóc Con Trăng, bàu Tần Ken..., nghĩa là khắp các vùng trong toàn bộ khu căn cứ và sẽ là bãi chiến trường.

    Không những thế, suốt từ tháng 9/1966 đến tháng 02/1967, Mỹ đã dùng trên 60 phi vụ C47 và C123 rải chất độc hóa học theo dọc Lộ 4, Tỉnh lộ 13, Đường 22, đường dọc biên giới, hầu hết các trục giao thông, và nơi chúng nghi ngờ có cơ quan, bộ đội ta đóng, và dọc các sông Sài Gòn, Vàm Cỏ, sông Tha La, Suối Mây.

    Máy bay còn thả bom cháy, phát quang các khu vực chúng dự định sẽ đổ bộ trực thăng hay sẽ đem quân đóng chốt làm chỗ dựa cho hành quân.

    Từ ngày 01/02 đến ngày 21/02, có 50 lần chiếc máy bay chiến lược B52 ném bom rải thảm và 90 lần chiếc phản lực oanh tạc các khu vực Bàn Cờ, Trảng Chiên, Tà Cho, Đất Đỏ, Sóc Mới, suối Nước Đục... nhằm tiêu diệt, tiêu hao trước một số mục tiêu quan trọng và cũng là chuẩn bị hỏa lực trước để giảm thương vong cho quân Mỹ lúc vào trận.

    Việc chuẩn bị sớm sủa, ào ạt, quy mô lớn về tất cả các mặt như vậy, hẳn bộ tham mưu của tướng Westmoreland muốn bảo đảm đầy đủ thuận lợi cho trận đánh chắc thắng, đồng thời cũng muốn đánh lạc hướng làm cho đối phương tưởng rằng đây là việc chuẩn bị cho toàn bộ chiến trường rộng lớn và cho cả chiến cuộc mùa khô năm 1967, còn cho một chiến dịch thì thật quá thừa thãi.

    - Về phía Quân giải phóng, từ trước cho đến cuối năm 1966, Quân giải phóng luôn giữ chủ động trên chiến trường: Đánh hay không đánh và buộc địch phải đánh đều vì ý định và kế hoạch có lợi cho mình. Trước ngưỡng cửa mùa khô 1966 - 1967, ta đã có sự chuẩn bị các mặt cho mùa hoạt động tấn công. Việc theo dõi ý đồ, kế hoạch và mỗi một hành động của địch đều không bỏ sót. Khoảng tháng 10/1966, đã có tin tình báo đáng tin cậy từ Sài Gòn về đến Bộ Tư lệnh Miền rằng địch đã thảo xong kế hoạch hành quân “tìm và diệt” mùa khô 1966 - 1967. Kế hoạch hoạch định một loạt các cuộc hành quân liên kết với nhau nhằm đạt được mục tiêu chiến lược rất quan trọng... Bộ Tham mưu Miền đã tổng hợp và phân tích mọi hành động của địch trong toàn Miền đặc biệt là ở miền Đông Nam Bộ và tăng cường theo dõi chặt chẽ địch ở các hướng. Thật không khó khăn gì để xác định rõ ý đồ và mục tiêu chủ yếu mà địch nhắm tới. Cung cách ào ạt và quy mô chuẩn bị vật chất, kỹ thuật, hậu cần, chuẩn bị chiến trường, việc vận chuyển trên các trục đường và các hoạt động ở các căn cứ hành quân của địch càng chu đáo, nhộn nhịp bao nhiêu càng sơ hở bấy nhiêu, giúp ta đánh giá đúng hướng và mục tiêu địch định đánh, quy mô và tầm mức quan trọng của trận đánh. Chính vì vậy mà ta điều chỉnh kế hoạch chuẩn bị thật sẵn sàng để chờ và tiến hành phản công lại địch một cách thành công nhất.

    Ta quyết tâm giành và giữ thế chủ động từ đầu trận đánh cho đến khi kết thúc và biến thế chủ động của địch thành bị động hoàn toàn. Ta nhất định phải thắng. Ở khu căn cứ Bắc Tây Ninh này, từ lâu cả ngụy lẫn Mỹ mới đánh được vào vùng ven phía Nam. Lần này là lần đầu tiên thử lửa, thực sự sống mái, ở toàn bộ khu căn cứ, giữa quân Mỹ có ưu thế tuyệt đối về nhiều mặt, cả số lượng cũng như phương tiện và vũ khí đi tìm diệt, với Quân giải phóng ít hơn và trang bị kém hơn nhiều lần nhưng dựa vào tinh thần quyết thắng và chiến lược tấn công cách mạng của chiến tranh nhân dân. Việc phản công của Quân giải phóng trong thế ít phải địch nhiều, yếu phải thắng mạnh, không thể dựa vào sức mạnh đơn thuần của quân số và vũ khí mà là phải có một nghệ thuật ưu việt hơn, trong đó trí tuệ con người, lòng dũng cảm và quyết tâm cao phải là cơ sở. Muốn vậy việc chuẩn bị trước nhất là phải tạo lập cho được một thế trận chiến tranh nhân dân trong toàn vùng căn cứ, phát huy cao độ khả năng bảo toàn mình và tiêu diệt nhiều địch của từng người một, từng toán nhỏ cho đến đơn vị tập trung lớn. Lấy con người trí dũng và quyết tâm cao làm trung tâm của chiến thuật và chiến dịch. Liên kết hàng nghìn trận đánh lẻ, nhỏ, vừa và lớn theo một kế hoạch phối hợp nhịp nhàng, tự giác, chủ động về địa điểm, thời gian trong toàn chiến dịch phản công, có sự chỉ huy thống nhất, chặt chẽ. Trong thế trận đó, địch tưởng bao vây ta hóa ra ta bao vây địch khắp mọi nơi, mọi lúc, địch không hề trông thấy Quân giải phóng ở đâu mặc dù có đủ cả phương tiện hiện đại nhưng đi đến đâu cũng bị đánh, ở nơi đâu cũng bị đánh, ngày hay đêm đều bị đánh. Mỗi viên đạn lớn, nhỏ của ta phải trúng đích trong lúc địch phần lớn đánh vào chỗ trống, đánh hụt, vồ hụt. Những nơi địch tới được, chúng không gặp người mà chỉ thấy truyền đơn và ápphích kêu gọi hòa bình, hữu nghị, tôn trọng cuộc sống tự do của mỗi dân tộc, hãy rút về Mỹ để cho người Việt Nam tự giải quyết với nhau... Toàn bộ khu căn cứ được tổ chức thành 13 khu vực tạm gọi là “huyện” mỗi “huyện” có một đại đội chiến đấu do các đơn vị bảo vệ cơ quan phân ra. “Huyện” lại chia ra làm nhiều “xã”, mỗi “xã” có nhiều tổ du kích do nhân dân tại chỗ và cán bộ, nhân viên các cơ quan của Trung ương Cục, Mặt trận và Bộ Tư lệnh Miền chuyển thành. Mỗi tổ du kích được trang bị súng chống tăng B40, tiểu liên AK, nhiều mìn chống tăng, chống bộ binh, mìn định hướng và nhiều lựu đạn, thủ pháo. Các đại đội chiến đấu của “huyện” cơ động trong “huyện” phối hợp với các tổ du kích “xã”, cũng được trang bị mạnh, nhiều súng chống tăng cầm tay, trung liên và cối nhẹ. Ban chỉ huy xã đội và huyện đội là những cán bộ phụ trách ban, phòng, cục, kho, xưởng, bệnh viện... bám trụ tại chỗ. Số lượng du kích như vậy có vào khoảng gần 10.000 người rải ra khắp vùng căn cứ, trang bị mạnh nhất là các mìn và các loại súng chống tăng hiện đại nhẹ và hiệu quả cao. Nhưng đặc biệt nhất là chất lượng chiến đấu tuyệt vời vì toàn là cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có trình độ, có tri thức quân sự, quyết tâm cao và bản lĩnh chiến đấu vững vàng, lại đánh địch ngay tại địa điểm cơ quan của mình, có công sự chuẩn bị chu đáo từ lâu và quen thuộc từng cụm rừng, gốc cây, gò mối. Trong quá trình chuẩn bị, ta đào được nhiều giao thông hào nối liền nhiều ụ chiến đấu, hầm tránh bom, đạn, hầm bí mật, hầm dự trữ vũ khí, lương thực, thuốc men và đều được ngụy trang kỹ. Có thể nói, mỗi “xã” là một pháo đài kiên cố mà địch không thể phát hiện, cứ tưởng như một khoảnh rừng không người yên bình, ở đó, các tổ du kích như sống bình thường ở nhà mình, rất an toàn và khỏe khoắn, chờ đánh một cách mưu trí và bất ngờ một kẻ địch như bị mù, từ xa đến, lạ lùng và mệt nhọc.

   Kế “dĩ dật đãi lao” (lấy nhàn chống nhọc) của ông cha ta ngày xưa hẳn cũng như vậy. Nhiều chiếc xe tăng đang đi bất thình lình bị nổ, cháy; nhiều toán quân đang tiến bị mìn, súng chống tăng tiêu diệt mà không nhìn thấy một kẻ địch nào. Khắp rừng là như vậy, cái chết từ đâu đến không hay biết, khiến cho quân Mỹ mỗi ngày hay mỗi giờ đều gặp bất ngờ, số chết không kịp hiểu, số sống sót mất dần tinh thần. Một cuộc chiến kỳ lạ như hoang đường mà đối phương xuất quỷ nhập thần, Mỹ đi đâu cũng bị đánh, bị chết, về đóng quân nghỉ đêm, cũng bị đánh, chúng lúc nào cũng căng thẳng lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên. Xây dựng được một thế trận chiến tranh nhân dân như vậy tại nơi rừng cây bị băm nát vì bom B52 và chất độc hóa học, với những chiến sĩ dày dạn xen lẫn trong cây rừng, lán trại từ nhiều năm, không phải chỉ lý luận là đủ mà còn phải được trui rèn qua thực tế lửa đạn và kinh nghiệm đúc kết, đặc biệt là với đầu óc hết sức sáng tạo, sáng tạo của từng chỉ huy, của từng chiến sĩ. Ý định và kế hoạch chuẩn bị chu đáo như vậy nhưng thực tế diễn biến chiến đấu còn sáng tạo và phong phú hơn rất nhiều.

    Phối hợp với mặt trận du kích lúc đó, Sư đoàn 9 chủ lực được tăng cường Trung đoàn 16 và các đơn vị pháo binh, đặc công, thanh niên xung phong bảo đảm, chia ra đóng quân từng trung đoàn ở những nơi tránh gặp địch nhưng luôn ở tư thế sẵn sàng tập trung đánh lớn như “những quả đấm thôi sơn”, theo kế hoạch của sư đoàn và của chỉ huy chiến dịch. Sư đoàn và trung đoàn trong lúc nghỉ ngơi, chờ lệnh, lại phái các trinh sát, một ít đơn vị nhỏ bám theo các cánh quân địch để luôn nắm chắc tình hình địch, đánh tỉa, nhỏ, kiểu du kích, cũng để hiểu rõ cách thức hành động của địch và nơi đóng quân của chúng về đêm. Chủ lực của ta rất ung dung chờ thời cơ ra tay, thời cơ thường là vào những ngày cuối một đợt chiến dịch của địch khi quân Mỹ đã qua nhiều ngày hành quân mệt mỏi, căng thẳng, bị tiêu hao nhiều bởi du kích. Chiến dịch Junction City chia làm 2 đợt: Đợt I từ ngày 22/02 đến ngày 15/3/1967 và đợt II từ ngày 18/3 đến ngày 15/4/1967. Những trận đánh của chủ lực ta gồm có trận tập kích ở Đồng Pan đêm 10/3 khi quân Mỹ hành quân cả ngày về đóng quân ở đó, trận Đồng Rùm đêm 20/3 và trận Ba Vũng đêm 31/3. Còn một số trận nhỏ hơn cấp tiểu đoàn tăng cường. Thực ra số trận đánh tập trung của chủ lực ta chưa nhiều, quyết tâm của đơn vị chưa thực cao và đánh diệt chưa gọn, nhưng trong lúc quân địch hung hăng đi tìm diệt mà không được lại bị du kích đánh, tiêu hao nặng nề, mệt mỏi, thì nay lại bị kẻ địch lớn tìm diệt, mỗi trận chết và bị thương hàng trăm người và nhiều xe cộ, pháo binh bị phá hủy khiến cho quân Mỹ càng hoang mang lo sợ, tinh thần xuống trông thấy.

    Chiến dịch Junction City diễn biến đúng như ta đã dự liệu. Ta càng nắm chắc tình hình, sau khi theo dõi một số trận đánh liên tiếp trước đó của quân đội Mỹ, có mục đích diệt và dồn đối phương về phía Bắc Tây Ninh để “cất vó”, diệt gọn và cũng để thăm dò và rút kinh nghiệm. Như trận “Atteleboro” dùng trên 20 tiểu đoàn Mỹ - ngụy, chủ yếu là Mỹ, cùng 10 tiểu đoàn pháo và 400 xe tăng, thiết giáp, có cả đổ bộ trực thăng đánh vào căn cứ Dương Minh Châu, phía đông nam căn cứ Bắc Tây Ninh, từ ngày 02/11/1966 đến ngày 26/11/1966, bị thất bại thảm hại. Toàn bộ Lữ 196 Mỹ bị thiệt hại nặng, bị loại khỏi vòng chiến đấu và tướng chỉ huy lữ De Chaussures bị cách chức ngay tại trận. Tiếp theo là cuộc hành quân “Big Spring” từ ngày 01/02 đến ngày 16/02/1967, đánh vào Chiến khu Đ của ta ở Tân Uyên. Cuộc hành quân “Túc Sơn” đánh vào chiến khu Long Nguyên, phía đông sông Sài Gòn, từ ngày 14/02 đến ngày 18/02.

    Cuộc hành quân “Gardsen” của Lữ 1 Sư đoàn 25 Mỹ đánh vào vùng căn cứ phía tây Đường 22 và sát biên giới Campuchia từ ngày 02/02 cho đến ngày 21/02/1967. Cuộc hành quân này có mục đích quét dọn trước khu vực phía tây vùng căn cứ sát sông Vàm Cỏ, diệt và dồn đối phương còn lại về khu trung tâm, đồng thời khi kết thúc trận này, ngày 21/02, toàn bộ Lữ 1 Sư đoàn 25 tập trung đóng chốt từ Lò Gò - Tà Xia đến Cần Đăng, nhằm triển khai sẵn lực lượng trên suốt Đường 22 tới sát biên giới, hình thành bức tường bao vây sẵn phía tây cho trận chính thức Junction City mở màn vào ngày 22/02.

   Ngày 22/02, từ sáng sớm địch chuẩn bị hỏa lực ác liệt trên chiến trường bằng 200 lượt chiếc máy bay ném bom và B52 chiến lược rồi lập tức máy bay C130 chở Lữ dù 173 nhảy xuống Séslo - Katum, điểm quan trọng gần sát biên giới và đầu Đường 4. Tiếp theo là 250 lần chiếc trực thăng chở Lữ 1 và Lữ 2 Sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” đổ bộ xuống Sóc Mới - Rùm Đuôn - An Khắc. Vậy là tuyến biên giới với Campuchia bị bịt chặt, chúng quyết không để một người nào lọt lưới vượt qua đường biên giới. Trong lúc đó, Lữ đoàn 2 Sư đoàn 25 cùng với toàn bộ Trung đoàn tăng thiết giáp số 11 của Mỹ theo Đường 4 từ Tây Ninh đến lên Đồng Pan, Katum hình thành bức tường phía đông. Khu trung tâm căn cứ của ta mà Mỹ được biết là gồm toàn bộ đầu não Trung ương Cục, Mặt trận Giải phóng, Bộ Tư lệnh Miền và Sư đoàn 9 chủ lực ở đây, đã bị bao vây chặt chẽ bốn mặt, không một lối thoát nhỏ. Đã đến lúc có thể “cất vó” diệt và bắt trọn đối phương. Từ Đường 22 cũng như từ Đường 4 cả hai bên sườn tây và đông, hàng nghìn xe tăng thiết giáp Mỹ có bộ binh ngồi trên xe, chia thành nhiều mũi thọc vào rừng, băm nát từng khu vực nhỏ. Nhưng quân Mỹ không hề gặp Quân giải phóng ở đâu cả. Trong lúc đang hành quân chưa tới đích, từng xe tăng đã bị súng chống tăng diệt, từng toán binh sĩ bị mìn tan xác, nhiều mũi đột phá phải đối phó liên tục với kẻ địch vô hình. Không những thế, Lữ dù 173 mở đầu trận đánh bằng một cuộc nhảy dù ngoạn mục mà lúc ấy báo chí đã đánh giá là “một cuộc nhảy dù lớn nhất và lần đầu tiền ở miền Nam Việt Nam”, được đối phương “đón tiếp” cũng không kém ngoạn mục. Chiến sĩ du kích và bộ đội địa phương của ta sẵn sàng trong công sự chiến đấu, ngay nơi quân Mỹ nhảy dù xuống, đã điềm tĩnh dùng liên thanh các cỡ và mìn định hướng đón tiếp quân của Lữ 173 ngay từ trên không. Hàng loạt dù bị thủng rách, hàng trăm lính dù chết, bị thương khi chân chưa chạm đất. Nhiều thây chết và cả lính còn sống mắc trên cành cây. Một số máy bay bị bắn rơi. Ngay trong ngày đầu, chủ lực ta chưa ra quân, mới chỉ có du kích và bộ đội địa phương tác chiến, quân Mỹ đã thiệt hại đến 30 xe tăng và thiết giáp, trên 20 máy bay các loại bị bắn rơi và gần 400 quân Mỹ chết và bị thương. Thật là quá bất ngờ cả với quân và tướng Mỹ khi bước chân vào căn cứ Việt cộng, ngay từ những phút ban đầu. Họ đã quen đánh giá quá mức hiệu quả hủy diệt của các loại hỏa lực khi đã tập trung cao độ vào mục tiêu cũng như đánh giá quá mức vào độ “trí khôn” và mức chính xác của các phương tiện trinh sát hay điều khiển hiện đại. Không, chúng ta khẳng định rằng, không có gì có thể thay thế và bằng được con người. Rằng trí tuệ và năng lực hành động của con người có thể chiến thắng tất cả, từ thiên nhiên đến máy móc siêu việt mà con người đã tạo ra. Học thuyết quân sự, nghệ thuật quân sự của Mỹ dựa vào máy móc, phương tiện vũ khí, cả vũ khí hạt nhân, làm cơ sở cho chiến lược, chiến thuật còn Quân giải phóng thì dựa vào con người, vào trí tuệ, sáng tạo, năng lực hành động và quyết tâm của con người làm trung tâm của chiến lược chiến thuật. Cách mạng là phát huy đến vô tận sức mạnh của con người làm chủ trên mọi phương diện. Bom hạt nhân không thể hủy diệt toàn bộ nhân loại và một khi nhân loại còn một bộ phận thì bộ phận loài người ấy sẽ chiến thắng tội ác và tất cả những kẻ gây ra tội ác.

    Cũng chính vì vậy, nghệ thuật quân sự Việt Nam không phải nhằm hủy diệt mạng sống con người làm đích chiến thắng theo kiểu “đếm xác” ghi công, trải thảm, hủy diệt, ủi trắng làng mạc, đốt sạch, giết sạch, đày ải dân làng vào ấp chiến lược... theo kiểu quân đội Mỹ - ngụy; mà ngược lại, lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn, quý trọng từng con người, thuyết phục hơn tiêu diệt, chọn hòa hơn chiến, nếu có thể, để đạt mục tiêu.

    Cuộc hành quân Junction City diễn ra được chục ngày thì Bộ Chỉ huy quân Mỹ đã thất vọng nặng nề. Chính giới truyền thông của Mỹ, ngày 03/3 phải thú nhận: Hành quân thất bại, tốn kém 25 triệu đôla, quân số hao hụt quá mức dự định, bệnh tật nhiều (từ 5% lên 12% rồi đến 16%), tinh thần binh lính quá căng thẳng, chủ lực đối phương tránh né, chỉ để lại một bộ phận đánh du kích còn lại bộ phận luồn ra phía sau; các căn cứ đều bỏ trống. Chính lúc này, Sư đoàn 9 chủ lực xuất hiện, thực hiện những trận đánh vừa, diệt nhiều lính Mỹ và phá nhiều pháo, thiết giáp ngay trong các cụm đóng quân hoặc phục kích trên đường hành quân. Đêm 06/3 pháo kích nặng nề cụm quân ở Tà Xua và ở truông Bình Linh. Ngày 09/3 chặn đánh cánh quân ở Lovia. Đêm 10/3, tập kích cụm Đồng Pan và Bàu Cỏ.

    Sau khi công nhận “Sư 1 bộ binh, Lữ dù 173 và Trung đoàn tăng và thiết giáp số 11 bị đánh dữ dội và thiệt hại nặng nề”, ngày 15/3, quân Mỹ bắt đầu rút lui khỏi căn cứ để kết thúc đợt I, chỉ để lại các cụm ở Đồng Pan, Bàu Cỏ trên Đường 4 giữ sườn phía tây cho đợt II, chuyển về phía đông căn cứ sát sông Sài Gòn.

    Ngay ở đợt I này, Mỹ đã thất bại thấy rõ, như hãng tin Pháp AFP đã đưa tin: “Cuộc hành quân Junction City được coi là một trong những hy vọng lớn của Mỹ trong giai đoạn trước mắt, cuộc hành quân có nhiều tham vọng nhất trong cuộc chiến tranh, nhưng kết quả thật đáng buồn; không thấy dấu vết nhà lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Giải phóng đâu cả... Đài Phát thanh Mặt trận Dân tộc Giải phóng vẫn tiếp tục hoạt động, mặc dù một trong những mục tiêu của cuộc hành quân này là làm cho nó câm đi... Bộ Chỉ huy Mỹ đang chuẩn bị thú nhận cuộc mạo hiểm lớn này là thất bại”. Mặc dù thế, Bộ Chỉ huy quân Mỹ điên đầu, cay cú vẫn cố dốc sức thực hiện đợt II. Chúng lại vận chuyển rầm rộ trên Đường 13, Đường 22, mỗi ngày có đến 200-300 chuyến xe tải nặng và cả các loại phi cơ C123, C130 chở vũ khí bom đạn bổ sung lên các căn cứ Quản Lợi, Minh Thạnh, Dầu Tiếng, Tây Ninh trong những ngày 15 - 18/3. Phi cơ chiến đấu và B52 lại rải bom không hạn chế vào các trục lộ, ven sông Sài Gòn, dọc biên giới với Campuchia và khắp nơi nghi ngờ trong căn cứ phía đông. Tuy vậy, cuộc hành quân đợt II còn tệ hại hơn đợt I vì lần này Sư 9 chủ lực Quân giải phóng đã đánh nhiều trận lớn hơn, quân du kích ở khắp vùng địch đã rút lại phát động phong trào “săn cơ giới” với các đội trang bị mìn và súng chống tăng mạnh, lùng sục đón đầu và đuổi theo quân Mỹ khắp rừng từ ngày 01/4, nhiều cánh quân Mỹ phải co cụm phòng ngự để khỏi bị diệt, cuộc tấn công chủ động bị phản công đã phải cố thủ bị động. Và cũng từ ngày 01/4, từng cánh quân Mỹ đã bắt đầu rút lui. Đến ngày 13/4 thì toàn bộ quân Mỹ đều rút chạy khỏi khu căn cứ.

    Giai đoạn truy kích và chặn đánh quân địch rút lui bằng đường bộ của Quân giải phóng bắt đầu sôi nổi, nhưng hiệu quả không nhiều vì Mỹ ra sức nghi binh và rút nhanh.

    Trong cả hai đợt đánh vào căn cứ, quân Mỹ còn bị đánh ở phía sau như các căn cứ Quản Lợi, Đồng Dù, Suối Đá và chỉ huy sở cuộc hành quân ở Dầu Tiếng đều bị pháo kích, các xe vận chuyển trên Đường 22 và Đường 13 bị đánh mìn, phục kích và đặc biệt là ngày 19/3 khi Lữ 1 Sư đoàn 9 Mỹ vừa tập kết ở Bàu Bàng trên Đường 13 thì bị tập kích mãnh liệt, bị thiệt hại nặng trước khi hành quân. Một trung đoàn chủ lực của Sư đoàn 9 Quân giải phóng đã cùng lực lượng địa phương của các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn theo lệnh của Bộ Chỉ huy Miền phối hợp chiến đấu sau lưng địch.

    Cuộc hành quân “tìm và diệt” Junction City quan trọng nhất đã bị thất bại nặng nề. Tất cả các mục tiêu đề ra đều không đạt: Lãnh đạo và chỉ huy Quân giải phóng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng vẫn ung dung điều khiển cuộc chiến như bình thường, Đài Phát thanh Giải phóng vẫn loan báo những tin tức thắng trận không hề đứt đoạn, các kho tàng vật tư trong căn cứ không bị suy suyển vì bom B52 hay xe tăng Mỹ, chủ lực Quân giải phóng đã không bị “gãy xương sống” mà còn có dịp lập thêm nhiều chiến công oanh liệt. Đặc biệt là quân du kích gồm cả nhân dân và cán bộ nhân viên các cơ quan quân sự và dân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng (bao gồm cả các bác sĩ, y tá, văn công, điện ảnh...) đã chứng tỏ kỹ năng chiến đấu không kém năng lực chuyên môn thường ngày của mình. Căn cứ Bắc Tây Ninh vẫn là “đất thánh” bất khả xâm phạm.

    Quân Mỹ là người đi tìm diệt trở thành bị tìm diệt, bị săn lùng. Mức thiệt hại cao, cả về người và vũ khí phương tiện. Có trên 10 nghìn quân chết và bị thương, 992 xe các loại trong đó có 775 xe tăng và thiết giáp tan xác, 160 máy bay bị rơi và hủy diệt ở mặt đất (có 144 trực thăng), 112 khẩu pháo từ cỡ 105 ly trở lên bị hủy. Thế là Mỹ mất đi qua cuộc hành quân gần 1/3 quân số, 2/3 xe tăng và thiết giáp, gần 1/2 trực thăng và pháo binh. Đặc biệt trong thành tích diệt giặc của Quân giải phóng trong toàn bộ trận Junction City này thì cỡ 1/2 các loại bị diệt, trừ pháo, là thành tích của du kích và bộ đội địa phương.

    Quân Mỹ dựa vào việc sử dụng tập trung cao độ hỏa lực vào những mục tiêu đã nắm chắc bằng phương tiện hiện đại, tưởng có thể tiêu diệt về cơ bản kẻ địch trên chiến trường, bộ binh Mỹ khi tiến vào chỉ là để kiểm nhận kết quả và “lượm” những kẻ hiếm hoi còn sống sót hay bị thương và bắt sống kẻ địch đã mất tinh thần. Sự thật trong trận Junction City đã không diễn ra như vậy mà bộ binh cơ giới Mỹ đi đến đâu cũng gặp du kích tấn công, bị chủ lực Quân giải phóng đánh diệt. Chính tướng Westmoreland đã phải than thở sau một số ngày hành quân rằng: “Chẳng thấy bóng du kích ở đâu cả nhưng bất cứ ở đâu quân Mỹ cũng đều bị quân du kích chặn đánh...”. Con người có kỹ năng, có quyết tâm, có trí tuệ, hoàn toàn biết tạo các biện pháp cần thiết để bảo toàn mình và chờ diệt địch. Con người quyết định chớ không phải vũ khí.

    Quân Mỹ dựa vào sức cơ động nhanh trên mọi địa hình, mọi thời tiết bằng máy bay và trực thăng các loại, bằng cơ giới tối tân. Trong trận Junction City, chỉ một thời gian rất ngắn, quân Mỹ đã có mặt, bao vây chặt chẽ toàn bộ khu vực chiến trường đã định và dùng xe tăng, thiết giáp đột phá thọc sâu nhanh chóng vào mục tiêu. Nhưng chiến trường không chiến tuyến tưởng như trống rỗng không người, rồi phút chốc bất ngờ ở đâu cũng có đối phương nổ súng. Như vậy phải chăng Quân giải phóng cơ động bằng chân lại nhanh hơn quân Mỹ, có mặt khắp nơi khi nào muốn đánh, cả từng người cho đến từng đơn vị trung đoàn, sư đoàn. Và quân Mỹ cũng không hề thấy địch trước và sau trận đánh. Thế trận chiến tranh nhân dân của quân cách mạng là như vậy đó.

    Cả đôi bên đều coi trọng công tác chuẩn bị chu đáo trận đánh theo kế hoạch của mình, mà việc đầu tiên là phải hiểu địch hiểu ta. Cách đây trên 2.000 năm, Tôn Tử đã nói: “Biết mình biết địch, trăm trận không thua” (tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất bại). Quân giải phóng đã hiểu rõ địch, cách sống, cách đánh của chúng, chỗ mạnh của chúng để kiềm chế, chỗ yếu của chúng để lợi dụng; còn hiểu rõ ý định mục tiêu và hành động của chúng, các loại vũ khí chúng sẽ sử dụng, binh pháp mà chúng sẽ thực hành. Quân giải phóng cũng biết rõ mình ít mà yếu, không đương nổi với sức mạnh của địch, mà phải tổng hợp dùng sức, trí, thời, thế như Bác Hồ đã dạy: “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Trong trận Junction City, “xe” của Mỹ lạc nước nên không có tác dụng, mà “tốt” của Quân giải phóng gặp thời rõ ràng phát huy hiệu quả, “thời” thuận lợi đó là thế trận chiến tranh nhân dân bày sẵn, để địch lạc vào một “mê hồn trận” không biết đâu mà lần, không thấy địch đâu mà đánh, mất cả sức và mất cả hồn, bị động và bất ngờ.

    Trận Junction City là một trận tiêu biểu của cuộc chiến tranh Việt Nam. Những gì đã diễn ra trong chiến dịch này cũng đã diễn ra gần như trong chiến lược của chiến tranh. Kết quả, ít đã thắng nhiều, yếu đã thắng mạnh, chính nghĩa thắng phi nghĩa. Cuộc đấu sức và đấu trí có tính thời đại của chiến tranh Việt Nam vẫn còn nguyên trong trí nhớ mọi người, và còn nguyên giá trị thực tế lâu dài.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #135 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 08:09:25 am »

TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY NĂM 1968



    1968 -1988 - Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt của quân và nhân dân ta trên toàn miền Nam Mậu Thân năm 1968 đến nay đã vừa tròn 20 năm.

    20 năm, phải chăng thời gian đã chín muồi cho việc đánh giá lại đầy đủ ý nghĩa thắng lợi, những thành công và cả những mặt thất bại, thiếu sót về nghệ thuật chỉ đạo và thực hành chiến tranh trong cuộc tập kích chiến lược vang dội này.

    Nhân dịp kỷ niệm 20 năm cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân, tôi xin được phép tái hiện lại toàn bộ diễn biến cuộc chiến đấu sôi sục và anh dũng của quân và dân ta ở chiến trường B2, trong đó có Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm của toàn miền Nam với lòng mong mỏi từ thực tiễn sinh động của chiến trường đóng góp một phần nào vào việc nghiên cứu, làm phong phú thêm kho tàng lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Bối cảnh lịch sử dẫn đến cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968

    Cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, những thành công và thất bại của nó.

    Để đánh giá đúng thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của nó, cần phải điểm lại bối cảnh lịch sử dẫn đến cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968.

    Giữa năm 1965, những chiến thắng vang dội của quân và dân ta ở Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài... báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Tổng thống Johnson và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đã phải quyết định đưa quân viễn chinh Mỹ và huy động quân chư hầu nhảy vào miền Nam Việt Nam.

    Với việc nhanh chóng làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường, đế quốc Mỹ đã có tham vọng rất lớn, không những cứu nguy cho ngụy mà còn có ảo tưởng trong vòng từ 2 đến 3 năm sẽ tiêu diệt chủ lực và du kích ta, giành thắng lợi quyết định với kế hoạch gồm 3 giai đoạn:

    - Giai đoạn 1: Từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1965, ngăn chặn tiến công của ta, triển khai lực lượng quân Mỹ trên toàn chiến trường miền Nam.

    - Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 9/1966, sẽ tấn công lớn giành thế chủ động, phá chiến tranh du kích, diệt chủ lực ta, bình định miền Nam.

    - Giai đoạn 3: Từ tháng 9/1966 đến giữa hoặc cuối năm 1967, hoàn thành tiêu diệt chủ lực ta và các căn cứ kháng chiến, bắt đầu giao cho quân ngụy tiếp tục bình định miền Nam, quân Mỹ rút về nước.

    Thực tiễn chiến trường đã diễn ra hoàn toàn ngược lại tham vọng của Mỹ. Chúng đã đụng phải ý chí sắt thép, sức mạnh vô địch của toàn quân, toàn dân ta. Đúng như lời kêu gọi và cũng là dự đoán tài tình của Bác Hồ ngày 20/7/1965: “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. Đế quốc Mỹ đã phải chịu hết thất bại này đến thất bại khác, thất bại sau đau hơn thất bại trước.

    Từ giữa năm 1965 đến giữa năm 1967, Mỹ - ngụy đã tiến hành 2 cuộc phản công chiến lược.

    Cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất 1965 - 1966 được triển khai bằng kế hoạch “5 mũi tên” trên 5 hướng hòng “buộc Việt cộng từ người đi săn trở thành người bị săn”, đẩy ta từ thế chủ động vào thế bị động về chiến lược.

    Ở miền Đông Nam Bộ, ngay từ khi quân Mỹ mới nhảy vào đã tổ chức hàng loạt cuộc hành quân đánh phá các căn cứ quan trọng của ta như Dương Minh Châu, Bời Lời, Củ Chi, Long Nguyên, Chiến khu Đ, Xuyên Mộc, Hắc Dịch... hòng triệt phá nơi đứng chân của cơ quan đầu não và chủ lực ta, làm lá chắn hỗ trợ cho quân ngụy bình định.

    Quân ta không quay về “đánh du kích” như chúng mong tưởng mà lại tiếp tục chiến lược tấn công. Với phong trào thi đua sôi nổi lan rộng khắp nơi, nổi lên những chiến thắng vang dội ở Bàu Bàng, Đất Cuốc, Dầu Tiếng, Plây Me, Núi Thành, Chu Lai, Đà Nẵng..., quân và dân ta đã làm cho cả quân Mỹ và quân ngụy bị tổn thất nặng nề.

    Ngày 05/5/1966, đế quốc Mỹ phải kết thúc cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất. Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Cabot Lodge phải báo cáo về Mỹ “cuộc phản công không làm hao tổn được Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển, hậu phương không ổn định, quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh chóng, lực lượng Mỹ tăng cường bổ sung không kịp, khả năng tiếp viện hạn chế, quân chính quy Việt cộng cơ động...”.

    Tuy đã bị thất bại nặng nề, nhưng đế quốc Mỹ lại mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai 1966 - 1967 với tham vọng còn rất lớn. Chúng thay chiến lược “tìm diệt” bằng chiến lược “hai gọng kìm” là “tìm diệt” và “bình định”, tăng quân Mỹ từ 20 vạn lên 48 vạn với ý đồ giành thắng lợi quyết định, làm chuyển biến cục diện chiến trường vào giữa hoặc cuối năm 1967 hoặc buộc ta phải thương lượng theo điều kiện của Mỹ. Trọng điểm phản công là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.

    Ở miền Đông Nam Bộ, địch đã tiến hành hàng loạt cuộc hành quân với quy mô lớn hơn nhiều so với mùa khô lần thứ nhất. Chúng tập trung chủ yếu quân Mỹ đánh phá hướng bắc Sài Gòn và Tây Ninh nhằm triệt phá các cơ quan đầu não của hai quân khu miền Đông và Sài Gòn, tiêu diệt một bộ phận chủ lực cơ động của ta, kết hợp quân ngụy bình định, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn, như: Từ ngày 14/9 đến ngày 20/9/1966 đánh Dương Minh Châu; ngày 08/01/1967 hành quân Xêđaphôn đánh vùng “Tam giác sắt”; ngày 01/02/1967 hành quân “Cái bẫy” đánh Chiến khu Đ; từ ngày 02 đến ngày 12/02/1967 hành quân “Gác Đơn” đánh vào vùng Lò Gò, Cần Đăng (Tây Ninh); từ ngày 14 đến ngày 18/02/1967 hành quân “Tức Sơn” đánh hai bờ sông Sài Gòn và đông Dầu Tiếng. Tất cả các cuộc hành quân trên vừa để triệt phá căn cứ cấp khu, đồng thời cũng để chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn nhất vào căn cứ Bắc Tây Ninh mang tên Junction City. Trong cuộc hành quân này địch đã sử dụng 45.000 quân chủ yếu là quân Mỹ, 1.200 xe tăng và thiết giáp, hơn 500 máy bay các loại, 250 khẩu pháo cối hạng nặng. Westmoreland - Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã ra thông báo công khai trước cuộc hành quân nêu rõ mục tiêu cuộc hành quân là để diệt cơ quan lãnh đạo miền Nam, phá Đài Phát thanh và diệt Sư đoàn 9 của ta.

    Có thể nói đây là cuộc hành quân quy mô lớn nhất và cũng là thất bại nặng nề nhất trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam, đúng như báo chí phương Tây đã bình luận: “quy mô voi, kết quả chuột”. Hơn một vạn quân Mỹ, gần 1.000 cơ giới, hàng trăm máy bay, hàng trăm khẩu pháo bị loại ra ngoài vòng chiến đấu.

    Trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của địch, ở Tây Nguyên và ven biển miền Trung, quân và dân ta cũng thắng lớn, gây cho địch tổn thất nặng nề. Trên mặt trận bình định, ta đã phá rã gần 3.000 ấp chiến lược, địch chỉ còn kiểm soát 20% tổng số ấp ở miền Nam. Phong trào đấu tranh ở các đô thị lớn phát triển mạnh, lôi cuốn hàng triệu quần chúng xuống đường đòi lật đổ chế độ tay sai Mỹ. Ở hậu phương lớn, quân và dân ta đã bắn rơi hơn 1.000 máy bay, bắt gần 700 giặc lái. Ở Mỹ, phong trào chống chiến tranh xâm lược lên cao chưa từng thấy, lan rộng ở 50 thành phố lớn.

    Dean Rusk - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ phải thú nhận: “Năm 1967 là năm đau khổ và khốc liệt đối với Mỹ trong chiến tranh Việt Nam”.

    Như vậy, đến giữa năm 1967, sau ba năm tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, tổng số quân Mỹ đưa vào miền Nam lên đến 48 vạn tên gồm đến 9 sư đoàn, 3 lữ đoàn, đem ra thi thố hầu như toàn bộ mọi thứ vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, trừ bom nguyên tử, đế quốc Mỹ chẳng những không hề tiêu diệt được chủ lực và du kích ta, không giành lại được thế chủ động trên chiến trường mà ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự, bị động và thất bại cả về quân sự, chính trị, ở cả miền Nam, nước Mỹ và trên thế giới.

    Tình thế trên đây rõ ràng đã đẩy đế quốc đứng trước ngã ba đường: Tiếp tục chiến tranh để rồi chuốc thêm thất bại nặng nề, chua cay hơn hoặc phải chịu rút quân Mỹ về nước và ngồi lại thương lượng với ta.

    Tình thế đó đã dẫn đến cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #136 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 08:14:38 am »

Quyết tâm chiến lược của Đảng: dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định


    Vấn đề tổng công kích và tổng khởi nghĩa đã được Đảng ta xác định từ trước. Trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 12/1963, đã nêu rõ: “Phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang không phải chỉ áp dụng tạm thời mà phải áp dụng lâu dài. Quá trình thực hiện phương châm ấy cũng là quá trình tích cực chuẩn bị để tiến tới bước quyết định đánh đổ toàn bộ nền thống trị của địch ở miền Nam bằng tổng công kích kết hợp với tổng khởi nghĩa... Tổng công kích về quân sự và tổng khởi nghĩa là điểm tiến tới tất yếu của phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự”.

    Năm 1964, khi Ban Quân sự R được đổi thành Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa đồng loạt trên ba vùng chiến lược ở miền Nam đã được triển khai. Ở Sài Gòn - Gia Định, trọng điểm của cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa đã được chuẩn bị cụ thể về tổ chức và lực lượng. Lúc đó, Bộ Tư lệnh Miền đã xác định 5 mục tiêu chủ yếu trong nội thành Sài Gòn phải chiếm ngay từ đầu, trên cơ sở đó chuẩn bị 5 hướng tiến công và lực lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trên. Ngoài các đơn vị đặc công, biệt động đã được xây dựng từ trước, năm 1964 đã tổ chức các tiểu đoàn mũi nhọn, đến năm 1965 đưa về đứng chân trên 5 hướng ở các bàn đạp ven đô.

    Khi địch bắt đầu chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”, miền Nam vẫn kiên trì giữ lực lượng biệt động, đặc công trong nội đô và các tiểu đoàn mũi nhọn ở 5 hướng ven đô, nhưng qua năm 1966, được lệnh tạm thời ngưng chuẩn bị cho tổng công kích và tổng khởi nghĩa để tập trung đánh Mỹ.

    Ngay sau khi đánh bại cuộc hành quân Junction City buộc quân Mỹ phải rút chạy khỏi căn cứ Bắc Tây Ninh, tại đây tháng 5/1967, Trung ương Cục đã tiến hành Hội nghị lần thứ năm. Hội nghị đánh giá ta đã đẩy cuộc “Chiến tranh cục bộ” ở mức độ khá cao của Mỹ đến chỗ sa lầy bế tắc nghiêm trọng; đề ra nhiệm vụ trước mắt là khẩn trương tranh thủ thời gian tạo mọi điều kiện, thời cơ giành thắng lợi liên tục toàn diện và ngày càng lớn, tiến lên thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa, thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương.

    Tuy nhiên, đây cũng chỉ nêu phương hướng phấn đấu, quyết tâm cụ thể về tổng công kích, tổng khởi nghĩa phải đến tháng 10/1967 mới được Bộ Chính trị quyết định.

    Ngày 20/10/1967, tại căn cứ Bắc Tây Ninh, đồng chí Phạm Hùng từ Hà Nội vào, chủ trì Hội nghị Trung ương Cục và trực tiếp phổ biến quyết tâm chiến lược mới của Bộ Chính trị 1, trong đó có những điểm như:

    - Sự thất bại trước mắt của đế quốc Mỹ ở miền Nam đã rõ ràng và sự thất bại hoàn toàn của chúng không thể cứu vãn được. Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn, đế quốc đang trong tình thế lưỡng nan về chiến lược, rõ ràng so với mục đích chính trị, quân sự nhất định của chúng ở miền Nam thì những cố gắng chiến tranh lớn của Mỹ (cùng với những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã lên tới đỉnh cao.

    - Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, đạt tới những mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra (tiêu diệt, làm tan rã tuyệt đại bộ phận ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền các cấp và giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, trên cơ sở đó đập tan ý chí xâm lược, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh ở miền Bắc).

    - Tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược... Cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau... Đặc biệt, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh.

    - Dự đoán 3 khả năng, phải nỗ lực giành thắng lợi cao nhất theo khả năng 1, đè bẹp được ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng, đi đến kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta.

    Từ ngày 20 đến ngày 25/10/1967, hội nghị đã đi sâu quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị, nhất trí cao về quyết tâm chiến lược, thời gian thời cơ, phương châm nguyên tắc, về nhiệm vụ của chiến trường trọng điểm. Hội nghị cũng đã nhấn mạnh đến những mặt khó khăn, nhược điểm, khuyết điểm cần phải nỗ lực khắc phục như đấu tranh chính trị và binh vận còn yếu, chưa phát huy hết khả năng của ba thứ quân, nhận thức tư tưởng chưa chuyển biến nhanh... Hội nghị đã quyết định tổ chức, bố trí lại chiến trường và lực lượng ở chiến trường, đặc biệt là ở trọng điểm.

    Từ ngày 20/10/1967 đến ngày Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt 31/01/1968, thời gian chuẩn bị chỉ có hơn 3 tháng. Tuy điều kiện chuẩn bị thật khẩn trương nhưng từ Trung ương Cục, Quân ủy Miền cho đến từng địa phương, đơn vị đã khắc phục mọi khó khăn, tiến hành chuẩn bị theo từng bước rất khẩn trương. Riêng Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã có nhiều cuộc họp. Từ ngày 20 đến ngày 25/10/1967 là cuộc họp đầu tiên. Ngày 10/11/1967, đồng chí Lê Đức Anh từ Hà Nội về báo cáo lại ý kiến chỉ đạo bổ sung của Bộ Chính trị. Từ ngày 16 đến ngày 23/10/1967, bàn và quyết định cụ thể về nhiệm vụ, kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa ở trọng điểm. Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã xác định: Phấn đấu dứt điểm chiến trường trọng điểm có tính chất quyết định cho chiến trường cả nước, góp phần giành thắng lợi cách mạng miền Nam. Trong hành động phải quán triệt nội công ngoại kích phối hợp chặt chẽ, kết hợp chặt giữa thành thị và nông thôn... Về phương châm sách lược, Trung ương Cục cũng đã nêu rõ: Tất cả các nhiệm vụ, kế hoạch các mặt quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao, chính quyền... là một kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa, do đó mỗi cấp phải có kế hoạch toàn diện của mình, càng chu đáo, cụ thể càng đảm bảo. Về kế hoạch trọng điểm, phải tập trung giải quyết cho được các mục tiêu:

    - Sân bay Tân Sơn Nhất.

    - Bộ Tổng Tham mưu.

    - Tổng nha Cảnh sát.

    - Bộ Tư lệnh Hải quân.

    - Dinh Độc Lập.

    - Đài Phát thanh.

    - Tòa đô chánh.

    - Nhà lao Chí Hòa.

    - Tòa Đại sứ Mỹ.

    Kế hoạch tấn công và nổi dậy ở trọng điểm được xác định các bước và thời gian như: Bước thứ nhất, trong vài ngày đánh chiếm cho được các mục tiêu then chốt trong nội thành Sài Gòn, hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Bước tiếp theo, có thể kéo dài từ 3 đến 5 tháng, sẽ liên tục đánh địch phản kích, giữ cho được các mục tiêu và địa bàn đã chiếm được, xây dựng chính quyền thực hành cho được khả năng 1 mà Bộ Chính trị đã nêu lên.

    Để thực hành kế hoạch Tổng tấn công và Tổng khởi nghĩa trên, Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định được giải thể. Trọng điểm và vùng chung quanh được tổ chức thành 5 phân khu ở 5 hướng: Phân khu 1 ở bắc Sài Gòn, phân khu 2 ở tây bắc, phân khu 3 ở nam và tây nam, phân khu 4 ở đông nam và phân khu 5 ở đông và đông bắc Sài Gòn. Phân khu 6 bao trùm lên các quận nội thành thuộc 5 phân khu. Mỗi phân khu đều có lực lượng đặc công, các tiểu đoàn mũi nhọn và quân địa phương. Ở nội đô, lực lượng đặc công biệt động trước đây (F.100) được tổ chức lại thành 3 cụm phụ trách đánh chiếm 5 mục tiêu chủ yếu.

    Đối với các đơn vị chủ lực của Miền, lúc đầu chưa sử dụng tấn công vào nội đô mà có nhiệm vụ đánh những trận thôi động trước và sau ngày N nhằm căng kéo, kiềm chế quân Mỹ, chặn đánh các cuộc phản kích của Mỹ và ngụy từ ngoài vào nội đô. Như Sư đoàn 9 (thiếu) đứng chân ở tây bắc Sài Gòn, đánh và kiềm chế địch ở Củ Chi, Tân Thạnh Tây, Hóc Môn nhằm chủ yếu vào Sư đoàn 25 Mỹ. Sư đoàn 7 đứng hướng bắc Sài Gòn có nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận Sư đoàn 1 Mỹ, Sư 5 ngụy ở Bến Cát, Phú Giáo, chặn Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, không cho chúng tiến về Sài Gòn. Sư đoàn 5 ở hướng đông Sài Gòn cùng 1 trung đoàn pháo đánh chiếm và làm tê liệt sân bay Biên Hòa, kho Long Bình, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy, Bộ Tư lệnh dã chiến 2 Mỹ. Trung đoàn 88 thọc sâu xuống Trung An, Bình Mỹ...

    Để bảo đảm về mặt hậu cần, ở miền Đông và Sài Gòn - Gia Định, ngoài hậu cần của các phân khu, Miền đã tổ chức lại thành 5 đoàn hậu cần ở 5 hướng từ tuyến sau ra tuyến trước, xuống tận vùng ven. Trong nội đô, trong quá trình chuẩn bị từ năm 1963, đã xây dựng tích trữ được nhiều kho vũ khí bí mật ở sát các mục tiêu chiến lược quan trọng như Dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô, Đài Phát thanh, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, mỗi nơi có từ 50 đến 150kg thuốc nổ, 5 AK, súng ngắn đến hàng chục khẩu.

    Ngày 25/01/1968, Trung ương Cục họp kiểm điểm lần cuối công tác chuẩn bị trên chiến trường B2, đặc biệt ở trọng điểm Sài Gòn - Gia Định. Đồng chí Nguyễn Văn Linh truyền đạt thêm ý kiến Bộ Chính trị, nội dung chủ yếu có những điểm:

    - Địch chưa quỵ ngay đâu nên phải kiên trì. Quá trình đó lực lượng ta sẽ nhảy vọt, địch sẽ đi xuống nhanh.

    - Yêu cầu đối với quân Mỹ vừa diệt vừa bắt tù binh, đối với ngụy vừa diệt vừa làm tan rã cho nên cần đẩy mạnh binh địch vận.





------------------------------------------------------------------
1. Theo Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.579-580 thì: “Tháng 10/1967, Trung ương cử Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh (Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam) vào gặp Trung ương Cục miền Nam để phổ biến chủ trương tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Ngày 25/10/1967, Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết về tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2) (nghị quyết mang mật danh Nghị quyết Quang Trung)” (B.T).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #137 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 08:20:24 am »

Thực hành tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt


    Trên toàn miền Nam, trong đó có khu vực trọng điểm, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968 chia làm 3 đợt: Mỗi chiến trường do điều kiện riêng có xê dịch ngày bắt đầu và ngày kết thúc.

    - Đợt I: Tết Mậu Thân từ ngày 31/01/1968 đến ngày 25/02/1968.

    - Đợt II: Từ ngày 05/5/1968 đến ngày 18/6/1968.

    - Đợt III: Từ ngày 17/8/1968 đến 23/9/1968.

    Đợt I: Tết Mậu Thân

    Khu 5 và Tây Nguyên tiến hành trước một ngày, đêm 29 rạng ngày 30/01/1968 do nhầm lẫn về ngày mồng Một Tết giữa ta và ngụy có chênh nhau hay vì một lý do nào khác. Do đó, địch tuy chưa rõ ý đồ chiến lược của ta nhưng trên các chiến trường, chúng đã có hành động tăng cường bố phòng chuẩn bị đối phó. Tuy vậy, đêm 30 rạng ngày 31/01/1968, quân và dân ta trên toàn miền Nam đã tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt trên cả ba vùng chiến lược, đưa chiến tranh vào tận các hang ổ đầu não của Mỹ - ngụy ở 6 thành phố, 44 thị xã và hàng trăm quận lỵ (Tổng thống Mỹ Johnson phải thừa nhận rằng, 36 trong 44 tỉnh lỵ, 5 trong 6 thành phố lớn nhất và khoảng 1/4 trong tổng số 242 quận lỵ đã bị tấn công).

    Ở khu vực trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, rạng sáng ngày 31/01/1968, những mục tiêu chủ yếu trong nội đô, các chiến sĩ đặc công biệt động đã bất ngờ tấn công, chiếm giữ nhiều giờ như Đài Phát thanh, Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, cổng 5 và 4 Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Các tiểu đoàn mũi nhọn và trung đoàn độc lập đã làm chủ trại Phù Đổng, xưởng quân cụ, Trường huấn luyện Quang Trung.

    Quần chúng đã nổi dậy ở nhiều nơi như Quận 7, Quận 8, ngã ba Hàng Xanh, ngã năm Bình Hòa, chợ Trần Quốc Toản, trường đua Phú Thọ, khu vực Gò Vấp, Cầu Tre, Phú Lâm...

    Phối hợp tấn công với khu vực trọng điểm, các đơn vị chủ lực đã đánh địch, kiềm chế chúng ở ngoại vi như Sư đoàn 5 tấn công sân bay Biên Hòa, Bộ Tư lệnh dã chiến 2 Mỹ, làm chủ khu vực ngã ba Tam Hiệp (Biên Hòa); Sư đoàn 7 tấn công Sở Chỉ huy Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 ngụy ở Bến Cát, diệt một tiểu đoàn Mỹ tại Phú Giáo, tiêu hao và kiềm chế Lữ 1 Sư đoàn 25 Mỹ, tấn công khu vực Thủ Đức... Ở miền Đông, lực lượng vũ trang và quần chúng diệt chi khu Phú Khương (Tây Ninh), chiếm thị xã Long Khánh, gần hết thị xã Bà Rịa, diệt chi khu Tân Phong, yếu khu Túc Trưng, thị trấn Long Đất (Biên Hòa, Bà Rịa), đột nhập thị xã Phước Bình (Phước Long)... Ở đồng bằng sông Cửu Long, ở miền Trung Nam Bộ, rạng sáng ngày 31/01/1968, 6 thị xã, 21 thị trấn đã đồng loạt tấn công và nổi dậy, chiếm 3 thị xã Mỹ Tho, Bến Tre và An Giang, một số mục tiêu ở thị xã khác, đánh chiếm nhiều thị trấn và vị trí quân sự quan trọng của địch.

    Ở miền Tây Nam Bộ, ta dứt điểm 2 thị xã Trà Vinh và Cà Mau, chiếm một số mục tiêu trong 4 thị xã khác.

    Trên các chiến trường Trị Thiên - Huế, Khu 5 và Tây Nguyên, quân dân ta tiếp tục tấn công và nổi dậy. Đặc biệt, quân và dân Trị Thiên tuy tấn công và nổi dậy cùng ngày với trọng điểm nhưng đã làm chủ hoàn toàn thành phố Huế và chiếm giữ 25 ngày đêm, có tác động cổ vũ lớn đối với toàn quốc, đặc biệt đối với chiến trường trọng điểm.

    Ở trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, tuy không đánh chiếm được dài ngày các mục tiêu quy định, nhưng các đơn vị đặc công, biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn và địa phương đã nêu cao tinh thần chiến đấu “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, anh dũng đánh lui các đợt phản kích điên cuồng, liên tục của địch, bám giữ các địa bàn ngay trong thành phố, phát động quần chúng nổi dậy, làm tròn xuất sắc nhiệm vụ của mình. Tiêu biểu như Đội biệt động số 11 tấn công Tòa đại sứ Mỹ đã chiếm được tầng 1, liên tục đánh quân Mỹ từ trực thăng trên cao đánh xuống kết hợp bộ binh từ dưới đánh lên. Cán bộ, chiến sĩ Đội 11 đã diệt nhiều tên xâm lược Mỹ, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người chiến sĩ cuối cùng. Đội 5 biệt động tấn công vào Dinh Độc Lập, số lượng ít lại bị thương vong ngay từ đầu, 3 đồng chí vẫn tiếp tục xông vào mục tiêu, trụ lại ngay ngoài mục tiêu liên tục đánh bọn địch phản kích ngày một đông có cả xe bọc thép yểm trợ. Đội 3 biệt động đã anh dũng, mưu trí chiếm được Đài Phát thanh, thu được vũ khí nhưng không tiến hành phát thanh được như ý định vì thiếu nhân viên kỹ thuật. Đội 4 biệt động dù đã bị lộ vẫn ôm bộc phá lao vào Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng.

    Trong ngày 31/01/1968, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Quyết Thắng đã đánh chiếm toàn bộ trại thiết giáp Phù Đổng, một phần trại pháo binh Cổ Loa, phá hủy nhiều pháo, phát triển tiến công các căn cứ 60 và 80 của quân ngụy, làm chủ nhiều ngày ở khu vực ngã năm Bình Hòa, ngã ba Cây Thị, bẻ gãy nhiều đợt phản kích của chiến đoàn thủy quân lục chiến ngụy ở khu vực này.

    Tiểu đoàn 2 Gò Môn được tăng cường Tiểu đoàn 4 đặc công đánh quyết liệt và lọt vào trong các cổng 4, 5 Bộ Tổng Tham mưu ngụy, chiếm nhiều cao ốc trên đường Võ Di Nguy bên ngoài Bộ Tổng Tham mưu ngụy, đánh lui nhiều đợt phản kích của bọn lính dù và thủy quân lục chiến ngụy.

    Lực lượng của Phân khu 2 đánh chiếm 2 đồn tây bắc sân bay Tân Sơn Nhất, vượt bãi trống tiến vào gần đến khu vực để máy bay nhưng do địch lợi dụng địa hình trống trải phản kích quyết liệt nên quân ta phải lui ra bám trụ chiến đấu. Ở khu vực cầu Tham Lương, hãng dệt Vinatexco, Tiểu đoàn 6 Bình Tân chiếm trại cảnh sát cạnh trường đua Phú Thọ, trường nữ quân nhân ngụy, phát triển chiếm các khu vực Nguyễn Tri Phương, Triệu Đà, Nguyễn Kim, Nguyễn Lâm làm cho quân địch ở đây chạy tán loạn. Ở cư xá Lữ Gia, đường Lê Đại Hành, Nguyễn Văn Thoại, chợ Thiếc, cuộc chiến đấu giữa ta và địch đã diễn ra ác liệt.

    Lực lượng của Phân khu 3 đánh chiếm khu vực nhà máy Hội Đồng, cầu số 3, hệ thống kho gạo Bình Đông, giữ vững trong 4 ngày liền, một bộ phận thọc lên bắc cầu Nhị Thiên Đường, tấn công khu vực Phú Định, Lò Gốm, hãng rượu Bình Tây, đánh địch ở đường Hậu Giang, Tháp Mười, tiến qua đường Dương Công Trừng, lên chợ Thiếc bắt liên lạc với lực lượng Phân khu 2 và cánh Hoa vận phát động quần chúng diệt ác, làm chủ khu vực giáp ranh các quận 5, 6, 10, 11.

    Ở hướng đông và đông bắc, Tiểu đoàn 5 Dĩ An bí mật thọc sâu đánh chiếm khu cảnh sát Hàng Xanh, làm chủ khu vực này, phục kích tiêu diệt 1 tiểu đoàn biệt động ngụy đến tiếp viện.

    Trên toàn chiến trường miền Nam, sau khi quân ta rút khỏi Huế, ta đã kết thúc đợt I Tết Mậu Thân năm 1968. Tuy chưa đạt được mục tiêu đã đề ra nhưng ta đã giành được thắng lợi rất lớn có ý nghĩa quan trọng về chiến lược.

    Trong 3 năm tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch “tìm diệt” tức là dùng quân Mỹ đánh vào các căn cứ để tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của ta để “đánh gãy xương sống của Việt cộng” như chúng thường huênh hoang nhưng chúng không thực hiện được tiêu diệt căn cứ, chủ lực ta, ngược lại ta lại đưa chiến tranh vào tận toàn bộ những hang ổ đầu não của địch, tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ - ngụy (theo thống kê lúc đó, trong vòng một tháng rưỡi trên toàn miền Nam, ta đã loại ra ngoài vòng chiến 1/3 quân ngụy, 1/5 lực lượng chiến đấu của Mỹ - ngụy, 1/3 tổng số máy bay, 1/3 tổng số cơ giới, 1/3 tổng số đồn bót). Địch phải tập trung lực lượng của cả ngụy và của Mỹ về đối phó ở các đô thị làm cho ngụy quyền ở xã, ấp và một số quận, huyện bị lỏng rã. Ta đã giải phóng thêm 1 triệu 30 vạn dân.

    Ở chiến trường B2 và trọng điểm, ta cũng đã giành được thắng lợi to lớn. Ta đã tấn công được hầu hết các mục tiêu chủ yếu trong nội thành Sài Gòn, chiếm giữ và đánh phản kích dài ngày nhiều khu vực trong nội đô gây tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới.

    Tháng 3/1968, Trung ương Cục đã họp Hội nghị lần thứ sáu đánh giá về đợt I Tết Mậu Thân:

    - Ta đã giành được thắng lợi to lớn và toàn diện chưa từng có, gây cho địch tổn thất nặng nề hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây (riêng B2 đã loại ra ngoài vòng chiến đấu 75.000 tên, làm tan rã 20.000 tên; diệt, bức hàng, bứt rút 7 chi khu, 400 đồn tua; giải phóng 1/2 triệu dân, phát triển 10.000 du kích, tuyển được hàng ngàn tân binh).

    - Thắng lợi vừa qua đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm thay đổi nhanh chóng sự so sánh lực lượng giữa ta và địch.

    - Nhưng chưa giành được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất mà Bộ Chính trị đã đề ra.

    - Chúng ta còn có những khuyết điểm và nhược điểm như chưa diệt gọn ngay từ đầu nhiều sinh lực địch và bọn đầu sỏ phản động, lực lượng vũ trang chưa thực hiện đầy đủ vai trò đòn xeo. Về chính trị, lực lượng quần chúng có tổ chức nhưng chưa được rộng và mạnh, lãnh đạo thiếu chặt chẽ và chưa phát động quần chúng lên đến mức bạo lực khởi nghĩa vũ trang để kết hợp với tấn công quân sự.

    Đợt II: từ ngày 05/5/1968 đến ngày 18/6/1968

    Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương, tiếp tục Tổng tấn công và tổng khởi nghĩa, đặc biệt là duy trì đánh chiếm các thành phố và thị xã, thị trấn, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ sáu đề ra chủ trương: “...duy trì và đẩy mạnh các mặt hoạt động trên địa bàn đô thị, làm chủ các đường giao thông chiến lược, giải phóng và làm chủ toàn bộ nông thôn, đồng bằng, miền núi..., giành thắng lợi liên tiếp và vững chắc tiến lên giành thắng lợi lớn hơn, chỉ đạo liên tục chiến đấu, đồng thời tiến hành chuẩn bị về mọi mặt cho đợt tấn công trong những tháng mùa mưa để tiến lên giành thắng lợi quyết định”.

    Về kế hoạch đợt II, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã xác định sử dụng một bộ phận chủ lực cùng với các tiểu đoàn mũi nhọn tiến công từ 5 hướng vào nội thành phối hợp với biệt động thành phát động quần chúng khởi nghĩa giành quyền làm chủ. Sử dụng chủ lực và các binh chủng đánh địch ở vùng ven là chủ yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ - ngụy, hỗ trợ cho lực lượng tấn công vào nội thành.

    Trước khi ta tiến hành đợt II, từ ngày 11/3/1968 đến ngày 07/4/1968, địch đã mở cuộc hành quân “quyết thắng” huy động 30.000 quân gồm 16 tiểu đoàn Mỹ, 34 tiểu đoàn ngụy nhằm củng cố thế phòng thủ của chúng ở Sài Gòn - Gia Định. Phần lớn lực lượng của Sư đoàn 25 Mỹ đã về đứng ở vùng ven nhằm hỗ trợ cho quân ngụy cố thủ thủ đô của chúng. Do đó, đợt II không còn thế bất ngờ và địch đã tập trung số lượng lớn cả quân ngụy và quân Mỹ đối phó ở trọng điểm.

    Đêm 4 rạng sáng ngày 05/5/1968, ta đồng loạt tấn công trên toàn chiến trường.

    Ở trọng điểm Sài Gòn - Gia Định:

    - Pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, nhà tên đại sứ và Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Tân cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân, Tổng nha Cảnh sát, Biệt khu thủ đô ngụy. Biệt động thành đánh chiếm Đài vô tuyến truyền hình, cầu Phan Than Giản.

    - Trung đoàn 6 của Phân khu 2, Trung đoàn 2 của Sư đoàn 9 thọc sâu vào Cầu Tre, trường đua Phú Thọ, Bà Hạt, ngã tư Bảy Hiền, Vườn Lài, Trần Quốc Toản, Sư Vạn Hạnh phối hợp với các đội vũ trang tuyên truyền đánh chiếm Tòa hành chánh Quận 5, liên tục đánh địch phản kích, bị thương vong lớn, sau 7 ngày trụ lại phải rút ra.

    - Các đơn vị Phân khu 1 đánh địch ở Cây Xoài, Xóm Mới, tiến xuống Gò Vấp gặp địch án ngữ dày đặc không vào được mục tiêu quy định.

    - Các tiểu đoàn mũi nhọn Phân khu 3 thọc vào chiếm các quận 7, 8 và một phần Quận 4, chiếm cầu Chữ Y và cầu Tân Thuận.

    - Các tiểu đoàn mũi nhọn Phân khu 4 đánh chiếm cầu Bình Lợi, Cầu Sơn, Bình Hòa, phá hư cầu Xa Lộ Sài Gòn.

    Từ ngày 25/5/1968, ta tiếp tục tấn công vào Sài Gòn - Gia Định (cao điểm 2). Lần này lực lượng phát triển nhanh như:

    - Đánh chiếm khu vực Gò Vấp (Cây Thị, Cây Quéo, cầu Băng Ky, khu mộ Lê Văn Duyệt, ngã năm Chuồng Chó), liên tục đánh phản kích trong 18 ngày đêm, diệt 2.000 tên địch.

    - Đánh chiếm khu vực Phú Lâm, Quận 6, một phần Quận 5 (các đường Nguyễn Trãi, Đồng Khánh, Khổng Tử, Tổng Đốc Phương, Nguyễn Văn Thoại, chợ An Đông).

    Ở vùng ven và chung quanh Sài Gòn, một bộ phận Sư đoàn 5 kết hợp quân địa phương diệt nhiều địch ở Trảng Bàng, Củ Chi. Một trung đoàn của Sư 7 diệt 1 tiểu đoàn ngụy ở Phú Văn, 1 trung đoàn khác diệt 1 tiểu đoàn Úc ở Bình Cơ, đại đội Mỹ ở Biên Hòa. Ở Biên Hòa, ta diệt 2 yếu khu Túc Trưng và Cẩm Mỹ, đột nhập đánh địch trong thị xã Bà Rịa và Long Khánh.

    Ở đồng bằng sông Cửu Long, ta đã tấn công các thị xã Tân An, Chương Thiện, Vĩnh Long, thị trấn Long Mỹ...

    Cuối đợt II, đồng chí Lê Trọng Tấn sau khi ra báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về phổ biến nhận định của Trung ương về cuộc Tổng công kích và tổng khởi nghĩa đến cuối tháng 4/1968: Địch thua toàn diện cả về quân sự, chính trị và kinh tế. Ta đưa chiến tranh vào thành thị, hậu phương của địch, đánh vào trung tâm thần kinh của địch, ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, kinh tế. Kiểm soát ở nông thôn của địch bị co lại. Kế hoạch năm 1968 của chúng bị phá sản từ đầu (theo kế hoạch AB145 của địch, trong năm 1968 - 1969 địch sẽ tiến hành phản công lần thứ ba, ưu tiên chiến trường miền Đông Nam Bộ nhằm tiêu diệt các sư đoàn chủ lực 5, 7, 9 của ta và các căn cứ quan trọng, nới rộng an ninh vùng Sài Gòn - Gia Định, tăng gấp 2 lần xây dựng nông thôn). Ta ở thế tấn công liên tục, lực ta mạnh lên. Sự phối hợp chiến trường đánh nhỏ nhưng rất hiểm. Thời cơ lúc này rất tốt trên cả 3 vùng. Tuy nhiên ta còn khuyết nhược điểm là quân sự chưa làm đòn bẩy mạnh, chính trị nổi dậy chưa đạt...

    Hội nghị Trung ương Cục lần thứ bảy đã đánh giá mặt thắng lợi, mặt mạnh như Trung ương đã nhận định, riêng mặt yếu trong đợt II nhấn mạnh về quân sự tác chiến ở trọng điểm nổi bật nhưng ở diện không đạt yêu cầu. Khởi nghĩa quần chúng còn ì ạch, binh vận còn quá yếu. Việc xây dựng lực lượng chính trị vũ trang và củng cố hậu phương còn kém.

    Đợt III: từ ngày 17/8/1968 đến ngày 23/9/1968

    Sau 5 tháng tiến công và nổi dậy từ ngày 31/01/1968 đến ngày 16/6/1968, chấp hành chủ trương chiến lược mới của Trung ương, chiến trường B2 đã có những cố gắng rất lớn và đã giành được những thắng lợi to lớn, tuy nhiên vẫn còn nhiều khuyết nhược điểm. Quân ủy Miền đã đánh giá từng chiến trường trong phạm vi B2. Riêng khu vực trọng điểm Sài Gòn - Gia Định trong đợt đầu đã có những trận vang dội ở ngay trong nội thành, tiếp đó đã mở rộng và duy trì hoạt động trong một thời gian dài trong nhiều quận, đã chiến đấu quyết liệt ở ven thành phố và nói chung đã giữ vững các bàn đạp của ta. Trận Sài Gòn - Chợ Lớn đã và đang diễn ra thành một trận tấn công và bao vây lớn trong thời gian dài “thủ đô” của ngụy quyền. Nhưng tấn công quân sự vẫn chưa đạt yêu cầu, tổ chức và lãnh đạo nhân dân nổi dậy thì còn yếu.

    Trước khi tiến hành đợt III, tháng 8/1968, Bộ Chính trị họp đề ra chủ trương chiến lược và nhiệm vụ trước mắt “...tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh thế tiến công toàn diện bằng quân sự và chính trị, bằng ba mũi giáp công, kết hợp với tiến công ngoại giao, làm cho địch thua to hơn nữa trên tất cả các mặt, đạt cho được những mục tiêu chiến lược đã đề ra, giành thắng lợi quyết định về ta, đồng thời tạo mọi điều kiện và luôn luôn sẵn sàng về mọi mặt để đánh thắng địch nếu chúng kéo dài hoặc mở rộng chiến tranh”.

    Để thực hiện chủ trương chiến lược và nhiệm vụ do Bộ Chính trị đã đề ra, đồng thời cũng xuất phát từ thực tiễn tình hình ở chiến trường B2, đặc biệt là ở trọng điểm, Trung ương Cục và Quân ủy Miền chủ trương chuyển hướng tiến công. Ở miền Đông Nam Bộ và trọng điểm sử dụng lực lượng Miền kết hợp với lực lượng địa phương mở chiến dịch tiến công địch trên địa bàn Tây Ninh - Bình Long, đánh mạnh vào tuyến ngoài của hệ thống phòng thủ của Mỹ - ngụy ở vùng chiến thuật 3, nhằm:

    - Tiêu diệt một bộ phận sinh lực cơ động của Mỹ - ngụy trực tiếp bảo vệ Sài Gòn, làm tê liệt một thành phần quan trọng trong hệ thống phòng thủ Sài Gòn gồm 2 sư đoàn Mỹ bảo vệ vòng ngoài và lực lượng tổng trừ bị ngụy ở vùng ven.

    - Đẩy mạnh diệt ác phá kìm mở rộng vùng ở nông thôn.

    - Thu hút lực lượng và phi pháo địch ra ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quân sự, chính trị ở Sài Gòn và ngoại ô.

    - Vừa tác chiến vừa xây dựng, tìm hiểu thêm quy luật đối phó của địch, tạo cơ sở chuẩn bị cho các đợt sau.

    Hoạt động đợt III trên toàn chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhất là quân Mỹ, thu hút chủ lực địch ra xa đô thị, đánh lui một bước kế hoạch “bình định” cấp tốc của địch.

    Ở Khu 5, ta tập kích gây nhiều thiệt hại cho Sư đoàn American Mỹ, diệt và thu hút chủ lực ngụy ở đông Tam Kỳ và Quảng Ngãi, hỗ trợ đặc công và bộ đội địa phương đánh một số mục tiêu trong nội ô Đà Nẵng.

    Ở Tây Nguyên, ta tấn công địch ở Tây Nam Đắk Lắk và Tây Bắc Kon Tum, diệt 2.000 địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở quận Đức Lập.

    Ở Trị Thiên, sau khi quân Mỹ rút khỏi Khe Sanh, ta tiếp tục đánh địch trên Đường 9.

    Ở đồng bằng sông Cửu Long, ta giải phóng được nhiều vùng nông thôn, riêng miền Tây Nam Bộ đã giành quyền làm chủ 88 xã, 1.934 ấp với 1.580.000 dân... Bước vào đợt III, ta tập trung đối phó các cuộc phản kích quyết liệt và âm mưu bình định của địch.

    Ở miền Đông Nam Bộ, việc chuyển hướng tấn công đạt kết quả lớn. Trong chiến dịch Tây Ninh - Bình Long, ta đã vượt chỉ tiêu tiêu diệt đơn vị chủ lực Mỹ -ngụy (tiêu diệt 12 tiểu đoàn bộ binh cơ giới Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụy, 55 đại đội trong đó có 25 đại đội Mỹ), thu hút chủ lực và phi pháo địch ra xa Sài Gòn.

    Do thất bại trên chiến trường, chính quyền Johnson phải chủ trương “Phi Mỹ hóa chiến tranh”, ngày 01/11/1968 tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 13/11/1968, Bộ Ngoại giao Mỹ phải ra tuyên bố “Hoa Kỳ tán thành họp 2 phía: Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa (ngụy) một bên, Bắc Việt Nam với bất kỳ ai một bên”. Ngày 10/12/1968, phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng đến Pari để dự cuộc đàm phán hòa bình ở Việt Nam, một điều mà lâu nay Mỹ khăng khăng từ chối nay buộc phải chấp nhận.


Ý nghĩa thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968


    Qua 3 đợt tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt trên toàn miền Nam, đặc biệt cuộc tập kích chiến lược bất ngờ và vang dội Tết Mậu Thân, quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn và toàn diện.

    Có nhiều ý kiến lập luận khác nhau, ta có bị tổn thất nặng nhưng một điều không thể phủ nhận là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng là buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược.

    Đại hội Đảng lần thứ IV đã đánh giá rõ: “cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân nhằm một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của giặc Mỹ. Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pari”

    Về vận dụng nghệ thuật quân sự của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã phân tích: Cũng với bấy nhiêu quân, với thế trận và so sánh lực lượng khi bước vào Đông Xuân 1967 - 1968, nếu chúng ta vận dụng một chiến lược khác, chọn một hướng tiến công khác thì chắc rằng cục diện chiến tranh sẽ không thay đổi một cách đột biến...

    Bộ Chính trị đã khẳng định: “đòn tiến công trong dịp Tết thực sự là một cuộc tập kích chiến lược rất thành công trên toàn chiến trường”.

    Đảng ta đã chọn phương hướng tiến công, giữ bí mật bất ngờ về thời gian và địa điểm, táo bạo và đúng lúc phối hợp chiến lược đồng loạt giữa các chiến trường, do đó đã tạo ra một đòn giáng quyết liệt vào trung tâm đầu não của địch, giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải thú nhận là một thất bại đầu tiên nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

    Thắng lợi trên đây còn làm nổi bật sự lãnh đạo và chỉ huy của các cấp, của các lực lượng vũ trang và toàn dân ta trên khắp các chiến trường, đã tỏ rõ quyết tâm chiến đấu và ý thức tổ chức kỷ luật rất cao, triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh, đoàn kết hợp đồng và chi viện cho nhau rất chặt chẽ, quyết xông lên vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

    Khí thế tấn công của Mậu Thân năm 1968 là nguồn cổ vũ to lớn cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiếp tục vượt mọi chông gai, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

    Thực tiễn sinh động của Mậu Thân đã nêu lên những bài học quý giá về chỉ đạo chiến lược, về lãnh đạo và chỉ huy, về phương châm, nguyên tắc tiến hành chiến tranh nói chung, đặc biệt về việc vận dụng các cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam năm 1972 và năm 1975.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #138 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 02:32:08 pm »

KỶ NIỆM 20 NĂM GIẢI PHÓNG, TRẬN XUÂN LỘC ĐÁNG NHỚ TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ LỊCH SỬ


    Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mở đầu là trận đánh Buôn Ma Thuột và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã quét sạch toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, giành toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đi đến thống nhất giang san Việt Nam.

    Hai mươi năm trước, sau khi Sài Gòn được giải phóng, Thành phố hầu như còn nguyên vẹn, phố phường đầy cờ hoa, nhân dân hồ hởi reo mừng. Chúng ta không thể nào quên, để đột phá vào trung tâm sào huyệt đầu não cuối cùng của Mỹ - ngụy, chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng cùng một lúc, bộ đội ta đã phải qua những trận đánh ác liệt, tiêu diệt và đánh tan các tuyến phòng ngự kiên cố và dày đặc của địch từ những vòng ngoài.

    Bài này cốt nhắc lại trận Xuân Lộc, một trận quyết chiến ác liệt giữa ta và địch, ta đã đập tan trung tâm then chốt phòng ngự của địch bảo vệ Sài Gòn, góp phần quan trọng quyết định số phận ngụy quân, ngụy quyền và tay sai Mỹ.

    Sau những trận thắng lợi dồn dập và vang dội, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền ở 2 vùng chiến thuật 1 và 2 của địch, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên và ven biển miền Trung, cùng lúc đánh chiếm một số địa bàn quan trọng chung quanh Sài Gòn, Đảng ta hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Ngày 01/4/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã điện cho Trung ương Cục và Quân ủy Miền: “Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu”. Ngày 07/4/1975, Trung ương Cục và Quân ủy Miền thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, thông qua kế hoạch tấn công trên mặt trận Sài Gòn. Chiều hôm đó, đồng chí Lê Đức Thọ đã cấp tốc vào đến Lộc Ninh, sáng ngày 08/4/1975 đã truyền đạt nghị quyết của Bộ Chính trị về giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    Một sự trùng hợp lý thú là trong ngày 07/4/1975, khi ta thông qua kế hoạch tấn công Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đã triệu tập các tướng lĩnh chủ chốt trong chính quyền ngụy vạch kế hoạch phòng thủ Sài Gòn, quyết giữ toàn bộ Vùng chiến thuật 3 và 4 còn lại (tức toàn Nam Bộ) mà cốt lõi là “cố giữ tiền tiêu Phan Rang”, “tử thủ chốt Xuân Lộc”, để rồi phản công chiếm lại những vùng đã mất vào tháng 6/1975.

    Theo chỉ thị của Bộ Chính trị: hiện nay “thời gian là lực lượng, thời gian là sức mạnh”, không đợi các binh đoàn chủ lực của Bộ vào mà tự Bộ Tư lệnh B2 với lực lượng của mình phải tấn công ngay Sài Gòn.

    Đêm ngày 09 rạng sáng ngày 10/4/1975, B2 mở đợt tấn công đầu tiên cắt đứt Sài Gòn. Thực hiện kế hoạch với các vùng xung quanh, bao vây chặt Sài Gòn để tạo điều kiện đánh thẳng vào trung tâm theo kế hoạch 5 mũi cùng một lúc chiếm lĩnh 5 mục tiêu quan trọng nhất được quy định. Quân đoàn 4 gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 mới được bổ sung và sư đoàn của Quân khu 7 tấn công Xuân Lộc, một vị trí then chốt trong tuyến phòng ngự Sài Gòn, cắt đứt Sài Gòn với Vùng 2 chiến thuật, Sư đoàn 5 cùng lực lượng Khu 8 và Khu 9 cắt đứt từng đoạn Đường 4, cắt đứt Sài Gòn với vùng 4 chiến thuật, Đoàn 10 đặc công khóa sông Lòng Tàu, cùng quân địa phương cắt Lộ 15, cắt đứt đường thông ra Biển Đông.

    Tại Xuân Lộc, lúc đầu địch bố trí Sư đoàn 18, một trung đoàn xe tăng thiết giáp, một lữ đoàn biệt động và lực lượng bảo an tại chỗ. Trong ngày đầu, các đơn vị Quân đoàn 4 dũng mãnh chọc thủng các tuyến phòng ngự của địch, phát triển nhanh vào trung tâm thị xã. Sáng ngày 10/4/1975, quân ta đã chiếm được nhiều mục tiêu như ty cảnh sát, khu cố vấn Mỹ, khu tình báo CIA, khu biệt động, nhà ga xe lửa... và cờ ta đã phấp phới bay trên Dinh tỉnh trưởng.

    Địch quyết giữ cho được Xuân Lộc. Tướng Đảo - Sư trưởng Sư đoàn 18, hò hét liên tục “tử thủ Long Khánh” (Xuân Lộc). Đại tá Phúc - Tỉnh trưởng, đòi bắt kẻ nào tháo chạy và tuyên bố cho phép mọi người có thể bắn y khi y tháo chạy. Bộ Tổng Tham mưu ngụy liên tục điều quân tiếp viện đến Xuân Lộc. Chỉ trong vòng 3 ngày, chúng đã điều về đây thêm 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến thuộc lực lượng tổng trừ bị, một liên đoàn biệt động quân, một trung đoàn của Sư đoàn 5 ở Tây Ninh sang, 8 tiểu đoàn pháo binh và 2 trung đoàn xe tăng thiết giáp. Như vậy, ngụy đã tập trung vào mặt trận Xuân Lộc tới 50% chủ lực, 60% pháo, gần hết xe tăng, thiếp giáp của Vùng chiến thuật 3. Quân đoàn 3 ngụy, quân đoàn chủ yếu bảo vệ Sài Gòn, và 1 sư đoàn lực lượng tổng trừ bị, sử dụng cả bom CBU (loại sát thương hàng loạt tàn ác nhất ngoài vũ khí hạt nhân).

    Có thể nói quân ngụy đã dùng đến mọi sức mạnh có thể tổng hợp được, dùng mọi thứ vũ khí có thể có để cố giữ cho được Xuân Lộc. Điều đó thật dễ hiểu vì Weyand - Tham mưu trưởng lục quân Mỹ được Tổng thống Mỹ cử sang Việt Nam thị sát tình hình đã trực tiếp chỉ thị cho ngụy, phải bằng mọi giá “cố thủ Xuân Lộc” vì mất “Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Không những ngụy cố giữ cho được Xuân Lộc, điểm trung tâm then chốt cho tuyến phòng ngự chiến lược cuối cùng, mà còn mong giành được thắng lợi tâm lý chính trị lớn trong thời điểm nguy nan này. Có lúc tưởng ngụy đã giữ được Xuân Lộc, hãng UPI của Mỹ đã nêu Xuân Lộc là “nơi thí nghiệm khả năng chiến đấu quốc tế quân Nam Việt Nam”.

    Tại Sở Chỉ huy Miền, mọi người đều chăm chú theo dõi từng diễn biến của mặt trận Xuân Lộc. Các ngày 9, 10/4/1975, báo cáo từ chiến trường có nhiều khấn khởi. Nhưng đến cuối ngày 10/4/1975 lại được báo cáo tình hình thiếu đạn, thiếu quân số, có vị trí thay đổi chủ vài lần, có vị trí ta đã chiếm được phải bỏ lần lượt vì địch dùng bom Daisy cutter và CBU dội vào đội hình của ta. Các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng và Lê Đức Thọ đều rất lo lắng và đưa ý kiến rút bộ đội ra khỏi Xuân Lộc, tránh thương vong nặng. Tôi đề nghị cho tôi đến tận nơi để nắm rõ tình hình cụ thể, cùng các anh nghiên cứu cách đánh thắng lợi. Các anh đồng ý.

    Chiều ngày 11/4, từ Lộc Ninh tôi vượt sông Đồng Nai đến sở chỉ huy quân đoàn tại bờ sông La Ngà. Đã cùng nhau trải qua hàng chục năm tiến hành nhiều chiến dịch tiến công địch từ Bình Giã, Đồng Xoài, Nguyễn Huệ..., tôi và anh em trong bộ chỉ huy quân đoàn nhanh chóng tìm được phương án tác chiến tối ưu để giành thắng lợi. Ta kịp thời chuyển hướng chiến dịch theo cách chiếm Xuân Lộc mà không đánh vào Xuân Lộc. Ta dùng Sư đoàn 6 tiêu diệt Chiến đoàn 52 ngụy, chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đứt tập đoàn quân ngụy ở thị xã Xuân Lộc với hậu phương độc nhất của chúng ở Biên Hòa. Bằng cách ấy Xuân Lộc mất tác dụng là điểm then chốt của Quân đoàn 3 ngụy và cả Sài Gòn lại bị vây hãm, có nguy cơ bị tiêu diệt. Hoảng hốt, địch ra sức phản kích từ hai phía Xuân Lộc và Trảng Bom nhưng đều bị bẻ gãy và thiệt hại. Đúng như ta phán đoán, Tư lệnh Vùng 3 chiến thuật địch phải ra lệnh rút chạy khỏi Xuân Lộc ngày 18/4, một số lượng rút chạy bằng trực thăng về tăng cường phòng thủ Biên Hòa. Đêm 20 rạng sáng ngày 21/4/1975, số tàn quân còn lại bí mật tháo chạy theo Đường 2 về Bà Rịa rồi lên Long Bình phòng thủ. Frank Snepp đã kể lại trong sách Khoảng cách thời gian vừa phải: “Rạng ngày 21/4, các tuyến phòng thủ cuối cùng của Chính phủ (Thiệu) tại Xuân Lộc sụp đổ”.

    Thế là chỉ trong 10 ngày chiến đấu quyết liệt, Xuân Lộc - một khu vực phòng thủ chủ yếu và then chốt nhất, đóng vai trò quyết định trong toàn bộ chiến lược phòng thủ Sài Gòn đã bị tan rã. Thất thủ Xuân Lộc không những giáng một đòn quyết định đến chế độ Nguyễn Văn Thiệu tay sai Mỹ ở Sài Gòn mà còn làm tiêu tan tham vọng cuối cùng của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đối với miền Nam Việt Nam.

    Ngày 18/4/1975, khi bắt đầu tháo chạy khỏi Xuân Lộc, Thiệu họp tướng lĩnh thì các tướng lĩnh đã chia làm hai phe, phần lớn trong đó có đủ mặt tướng lĩnh thân tín của Thiệu đều đánh giá tình hình là tuyệt vọng. Nguyễn Văn Đoàn - Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy đã báo cáo với Thiệu: “thực tế chiến tranh đã thất bại, không còn hy vọng giữ thêm 2, 3 ngày nữa”. Cùng ngày, Tổng thống Mỹ quyết định tăng tốc độ di tản người Mỹ khỏi Việt Nam.

    Ngày 20/4/1975, Tổng thống Gerald Ford lại chỉ thị cho Martin - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, người đã nhiều năm ủng hộ Thiệu, phải thân hành đến Dinh Tổng thống ngụy ép Thiệu phải từ chức để mưu cầu thương lượng. 35 tàu chiến Mỹ, trong đó có 4 tàu sân bay và hàng trăm máy bay Mỹ đã được huy động đến Việt Nam thực hiện cuộc di tản.

    Ngày 21/4/1975, tại Dinh Tổng thống ngụy, đúng 22 giờ, trong tình trạng Sài Gòn thiết quân luật 24/24 giờ, Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn với lời lẽ thống thiết: “...Tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ. Từ phút này tôi tự đặt mình dưới quyền của tân tổng thống (Trần Văn Hương) và đồng bào”. Nhưng chỉ hôm sau Thiệu cùng gia đình và cả gia đình Trần Thiện Khiêm đã lên đường đi Đài Loan bằng chuyến phi cơ C118 đặc biệt của quân đội Hoa Kỳ. Chính quyền ngụy Sài Gòn đã mất dấu. Thiệu từ chức vào giờ chót để trút gánh nặng lại cho người khác và tháo chạy thoát lấy thân cùng của cải vơ vét được.

    Ngày 23/4/1975, Tổng thống Mỹ G. Ford đọc diễn văn tại Nhà Trắng tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”.

    Và tiếp tục sau đó, ngày 28/4/1975, khi quân ta đã bao vây chặt từ mọi phía, ngay sát nách Sài Gòn, Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy ở Biên Hòa tháo chạy về Gò Vấp, các đường bộ, đường sông và đường không đều bị cắt đứt, biệt động đã chiếm cầu Rạch Chiếc và đài rada Phú Lâm ngay trung tâm Sài Gòn, Trần Văn Hương trí mòn sức cạn không còn chống chọi nổi, buộc phải nhường chức tổng thống cho Dương Văn Minh để Minh được đầu hàng vô điều kiện Quân đội ta trong ngày 30/4/1975 lịch sử.

    20 năm qua đất nước có bao nhiêu biến đổi diệu kỳ. Xuân Lộc trong những ngày cuối cùng của chiến tranh bị tàn phá nặng nề, thị trấn không một ngôi nhà nguyên vẹn, thế mà hôm nay rừng cao su đã bạt ngàn, vườn cà phê, cây ăn trái đơm hoa kết trái đua sắc cả một vùng, thị trấn nhà cửa san sát khang trang, một cuộc sống mới đang vươn lên. Cuộc sống hòa bình, hạnh phúc hôm nay trên cơ sở của sự hy sinh cao cả của biết bao đồng bào, đồng chí.

    Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay đang chuyển mình mạnh mẽ trên cơ sở còn nguyên vẹn có sự đóng góp to lớn của biết bao chiến sĩ, đồng bào đã chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường Xuân Lộc năm xưa.

                                                                               
Tháng 4/1995
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #139 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 02:33:38 pm »

VỚI CHIẾN THẮNG GIẢI PHÓNG MỘT TỈNH ĐẦU TIÊN, QUÂN DÂN PHƯỚC LONG ĐÃ CHỈ RA THỜI CƠ VÀ KHẢ NĂNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM VIỆT NAM


    Quân và dân Phước Long đã làm nên một kỳ tích chiến lược trong chiến tranh chống Mỹ. Đúng như vậy, không có chiến thắng Phước Long thì chưa có Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam ngày 30/4/1975. Vì vậy, chiến thắng Phước Long không thể đánh giá như một chiến thắng chiến thuật hay chiến dịch mà là một chiến thắng ở tầm chiến lược. Ngày 30/4/1975 đi vào lịch sử vinh quang nhất của dân tộc ta phải chăng xuất phát từ ngày 06/01/1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Hãy ghi nhớ công ơn của những người con của dân tộc đã ngã xuống trên miền đất thiêng liêng này trong trận chiến Phước Long, những con người đã chết để có thực tế khai sáng trí tuệ của những người còn sống, để chỉ ra thời cơ đã chín và khả năng của ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thái độ và sức lực của địch trong giai đoạn này của chiến tranh.

    Ngay sau tin chiến thắng Phước Long được báo trong cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng đến các lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường đang họp tại Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư đã vui mừng nói: Thực tế này nói rõ hơn hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy và nhất là của Mỹ. Về sau đồng chí lại nói: Chiến thắng này đã mở ra tiền đề cho cách mạng miền Nam thần tốc tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    Trong chiến tranh, đặc biệt là cuộc chiến tranh chống Mỹ của ta, sức lực đôi bên rất không cân xứng. Kẻ địch của ta là một cường quốc thế giới có dư bom đạn, vũ khí hiện đại, dư tiền của và có quyết tâm của một chiến lược toàn cầu, nên tình hình diễn biến vô cùng phức tạp trong suốt quá trình của cuộc chiến. Hiểu rõ địch, nhất là những âm mưu, kế hoạch của nó, hiểu rõ ta, nhất là khả năng thực tế đến đâu, hiểu rõ tình hình đôi bên ở từng giai đoạn trên chiến trường là rất khó. Không thể căn cứ vào hiện tượng nhiều khi không thật, không thể căn cứ vào ý chí của ta. Sự việc thường diễn biến thuận hoặc nghịch lý, luôn vận động phát triển không ngừng, có lúc biểu lộ rõ nét, nhưng bao giờ cũng còn những ẩn số ngầm. Việc nắm bắt được kịp thời và chính xác thực chất của sự vật, chiều hướng phát triển của nó để có chủ trương chiến lược đúng thời cơ là yêu cầu cao nhất của lãnh đạo chỉ đạo chiến lược trong chiến tranh.

    Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, sự đánh giá tình hình giữa ta và địch có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau. Hiệp định quy định quân Mỹ rút hết khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ không những để hết vũ khí bom đạn lại cho ngụy, rút về trên nửa triệu quân tay không, mà còn chở thêm, cả bằng đường không, đường biển, trang bị vũ khí rất nhiều cho ngụy để ngụy giành thắng lợi cuối cùng trong “Việt Nam hóa chiến tranh”. Do đó có những đánh giá rằng Mỹ cút nhưng ngụy không nhào mà còn mạnh lên về mọi mặt còn ta thì yếu đi nhiều, cần sắp xếp lại thành hai vùng, rút hết quân đội ta từ vùng địch về vùng ta để củng cố nếu không sẽ bị tiêu diệt hết. Tất nhiên như vậy chiến trường sẽ phân tuyến, tự mình xóa thế xen kẽ da beo vô cùng lợi hại của chiến tranh nhân dân. May thay có Nghị quyết 21 của Trung ương chấn chỉnh và đề ra đường lối đúng đắn để ta tiếp tục giành thắng lợi. Mùa khô năm 1974, toàn bộ chiến trường B2 hoạt động đánh địch rất tích cực, đã giành nhiều thắng lợi cả ở đồng bằng và rừng núi. Qua hoạt động thực tế tại chiến trường ta đã hiểu địch và hiểu ta rõ hơn. Nhờ đó Trung ương Cục đã nhận định trong hội nghị tổng kết tháng 6: Qua mùa khô này nhân tố mới đã xuất hiện rõ: ta đang thắng lợi và phát triển đi lên, địch đang suy sụp đi xuống. Ta không được dừng lại, phải tiếp tục giành chiến thắng hơn. Mùa mưa này (1974) ta có rất nhiều thuận lợi hơn bất kỳ mùa mưa nào trước đây, hơn cả mùa khô vừa rồi. Bất chấp thời tiết khó khăn, phải đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tạo thế mới và lực mới, vật chất và tinh thần cho các quân khu, các tỉnh, cho địa phương và cho chủ lực để bước vào mùa khô 1974 - 1975 với khí thế mạnh, sung sức. Năm 1975, nhất là mùa khô 1975, ta có khả năng giành thắng lớn, làm chuyển biến tình hình, tạo ra bước ngoặt, một bước ngoặt có tính chất quyết định.

    Quả thật mùa mưa năm 1974 ta thắng lớn, lại vượt mọi khó khăn do địch và thời tiết gây ra, vận tải vũ khí và đưa quân số bổ sung được cho đồng bằng sông Cửu Long và các đơn vị để sẵn sàng cho mùa khô.

    Trên cơ sở đánh giá đúng đắn về ta và địch qua thực tế cả năm 1974 như vậy, Bộ Chỉ huy B2 đặt kế hoạch hoạt động lớn ngay vào đầu mùa khô 1974 - 1975 cho chiến trường B2. Trong kế hoạch đó, các quân khu 8 và 9 tiêu diệt địch, phá bình định, mở rộng vùng làm chủ, trọng điểm là trung tâm vùng đồng bằng: Các tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long. Còn chủ lực Miền thì đánh địch trên Đường 14 mở đầu bằng diệt chi khu Đồng Xoài, làm chủ ngã tư giao thông quan trọng này để dùng cơ giới tải đạn dược, lương thực qua phía bắc và phía đông Sài Gòn, chuẩn bị cho các mũi bắc và đông đánh vào Sài Gòn trong thời gian tới. Nếu điều kiện thuận lợi, do địch bị cô lập ở Phước Long hoang mang, ta sẽ giải phóng cả tỉnh. Trung ương Cục đã thông qua kế hoạch, một mặt báo cáo ra Trung ương, một mặt tích cực triển khai đánh địch ngay vào đầu tháng 12/1974 của đợt 1 mùa khô và chuẩn bị cho đợt 2 vào tháng 3.

    Ngoài ra, Trung ương Cục còn đề nghị có cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và lãnh đạo chỉ huy các chiến trường để nhận định đánh giá đúng tình hình và có chủ trương kịp thời.

    Nhưng Trung ương không chấp nhận kế hoạch B2, lệnh không được dùng chủ lực và binh chủng xe tăng, pháo, xe kéo trong năm 1975, để dành sức cho thời cơ quan trọng năm 1976. Năm 1975 chỉ được đánh nhỏ, chủ yếu hoạt động phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long. Chủ lực chỉ được dùng một bộ phận đánh Đức Lập, mở hành lang thông suốt vào miền Đông Nam Bộ để chuẩn bị cho các chiến dịch lớn, thời cơ lớn năm 1976.

    Chính vì vậy mà B2 phải bỏ kế hoạch đánh Đồng Xoài, dùng Sư đoàn 3 mới tổ chức cùng quân địa phương và du kích đánh nhỏ trên Đường 14 vào khu vực Bù Đăng, bắc Đồng Xoài.

    Điều này chứng tỏ các chiến trường không báo cáo được đầy đủ và kịp thời tình hình thực tế ra Trung ương hoặc báo cáo sai lệch. Không thể có dự kiến cho sắp tới, tiên tri cho tương lai trong khi thiếu những cơ sở thực tế của chiến trường được phản ánh đầy đủ.

    Cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương có sự tham gia của lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường toàn Miền từ ngày 18/12/1974 đến ngày 08/01/1975, đã bổ sung kịp thời những thiếu sót đó. Tình hình đã rõ, sự đánh giá đúng về ta và địch đã làm cơ sở vững chắc cho kế hoạch chiến lược hai năm 1975 - 1976. B2 được phép dùng chủ lực đánh và đã tiêu diệt gọn Đồng Xoài rồi giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long trong niềm vui sướng của mọi người. Quân ngụy bị rải ra giữ khắp miền Nam để thực hiện mệnh lệnh của Thiệu là không để một xã nào rơi vào tay Việt cộng. Rút cục không còn lực lượng dự bị nào phản ứng cứu nổi thất bại lớn lao này như nhận định của B2 trước khi đánh. Chúng chỉ đưa được Liên đoàn biệt kích dù 81 vỏn vẹn khoảng 200 tên lên phản kích nhưng cũng bị tiêu diệt. Thiệu đành làm trò hề “ba ngày toàn quốc để tang cho Phước Long”. Còn Mỹ thì tuy cảm thấy sự kiện Phước Long có quan hệ đến sự sụp đổ của chế độ ngụy nhưng cũng chỉ đứng ngoài hăm dọa và gây áp lực từ xa như báo động khẩn cấp Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Okinawa, dọa ném bom trở lại nếu ta tiếp tục tấn công, cho tàu sân bay Enterprise từ Philíppin vào Biển Đông Nam Việt Nam. Mặc dù chính Tổng thống Thiệu đã van nài Đại sứ Mỹ Martin xin Mỹ can thiệp, Bộ Ngoại giao cái gọi là “Cộng hòa Việt Nam” chính thức gửi công hàm, tướng Khuyên - Tổng Tham mưu trưởng quân ngụy gọi điện cầu cứu khẩn cấp với Smith - Trưởng cơ quan tình báo quân sự Mỹ (DAO), Mỹ vẫn làm ngơ. Ngày 09/01/1975, Đại sứ quán Mỹ báo cho Thiệu biết “việc yểm hộ bằng máy bay Mỹ lúc này chưa được phép”, rồi ngày 22/01/1975, Tổng thống Ford tuyên bố: “Không có hành động nào khác ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn, sẽ không can thiệp vào miền Nam Việt Nam mà không thông qua thủ tục hiến pháp và lập pháp”. Và khi bị Quốc hội Mỹ chất vấn, tàu sân bay Enterprise được lệnh rút êm về Ấn Độ Dương.

    Trong đợt 1 mùa khô, toàn B2 đã giành thắng lợi lớn. Mặc dù các chiến trường khác chỉ đánh nhỏ địch vẫn không thể tập trung cao độ đối phó vì thực sự chúng đã suy yếu nghiêm trọng. Ngoài chiến thắng Phước Long, ta đã giải phóng huyện Tánh Linh và một nửa huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Thuận, tiêu diệt và làm chủ đài quan sát và kỹ thuật thông tin ở núi Bà Đen dùng khống chế cả vùng Tây Bắc miền Đông Nam Bộ. Ở đồng bằng sông Cửu Long, ta diệt nhiều chi khu căn cứ và đồn bót địch, loại khỏi vòng chiến đấu 2 vạn tên, giải phóng gần 2 triệu dân.

    Trong cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng kết thúc vào ngày 08/01/1975, căn cứ vào tình hình phát triển mới nhất đặc biệt là chiến thắng giải phóng toàn tỉnh Phước Long, hội nghị đã kết luận: Diễn biến cơ bản của tình hình trong gần 2 năm qua rõ ràng là ta đang ở thế thắng, thế đi lên, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang ở thế thua, thế đi xuống, thế bị động và khó khăn...; Chúng suy yếu một cách toàn diện với nhịp độ ngày càng tăng. Do hoạt động của ta và do khó khăn nội tại của chúng, địch có thể trải qua những bước xuống dốc nghiêm trọng...; So sánh lực lượng địch ta trên phạm vi cả nước cũng như trên chiến trường miền Nam đã có những chuyển biến cơ bản rõ rệt có lợi cho cách mạng, ta đã mạnh hơn địch...; Khả năng đế quốc Mỹ can thiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn...; Chúng ta đã đứng trước thời cơ chiến lược lớn... chưa bao giờ ta thấy đầy đủ điều kiện về quân sự và chính trị như hiện nay, thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc...

    Trên có sở nhận định và đánh giá tình hình như vậy mà Bộ Chính trị hạ quyết tâm về kế hoạch hai năm 1975 - 1976 giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    Bộ Chính trị nhấn mạnh vấn đề thời cơ chiến lược: Cả năm 1975 là thời cơ, đòn tiến công quân sự mạnh tạo nên thời cơ, phong trào chính trị thúc đẩy thời cơ, tình hình thế giới và nội tại nước Mỹ là thời cơ; phải khẩn trương, phải đánh nhanh hơn.

    Chiến thắng Phước Long là một thực tế làm rõ tình hình giai đoạn cuối của chiến tranh, giúp ta đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên, hiểu rõ khả năng của ngụy, nhất là khả năng Mỹ có tái can thiệp vào Việt Nam hay không. Chiến thắng Phước Long đã giúp đánh giá thời cơ vô cùng quan trọng không được bỏ lỡ trong năm 1975 để kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

    Đó là một chiến trường ở tầm chiến lược.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM