Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Bảy, 2024, 05:07:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 8519 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #90 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2023, 07:57:56 am »

    Có vấn đề đợi anh Hai Nhã về nêu trong điện là như sau:

    Anh Hai Nhã kể lại:

    “Vào tháng 11/1974, sau khi ra Bệnh viện 108 ở Hà Nội, tôi chuẩn bị đi an dưỡng ở bờ biển Sầm Sơn. Anh Lê Ngọc Hiền đến gặp tôi, hỏi thăm sức khỏe và nói Bộ đang cần người có trình độ và tin cẩn để mang mệnh lệnh về B2 và báo cáo một số tình hình về kế hoạch năm 1975. Liệu anh có đủ sức khỏe để về không? Tôi rất vui mừng được về ngay chiến trường tham gia chiến đấu nên báo là bảo đảm đủ sức để nhận nhiệm vụ quan trọng này. Anh Hiền nhận lời và báo tôi, tối mai đến gặp anh Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng. Y hẹn tôi đến thì anh Tấn nói: “Cần anh về B2 ngay, mang chỉ thị về kế hoạch 1975 và ý định của Quân ủy Trung ương. Trong kia các anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà sắp ra. Nhưng có điện cho các anh không ra nữa. Vì đã có anh về báo cáo quyết tâm của ngoài này. Kế hoạch năm 1975 không chủ trương đánh lớn mà giữ vũ khí đạn dược, giữ lực lượng, lo huấn luyện để chờ thời cơ 1976...”. Anh Tấn và anh Hiền nói cụ thể các ý kiến để tôi ghi nhớ về báo cáo lại. Và bảo tôi, sáng mai đến gặp anh Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng để nhận nhiệm vụ và chỉ thị.

    Sáng ngày sau tôi đến gặp anh Dũng tại “Nhà Con rồng”, tức là nơi làm việc lúc ấy của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong nội thành Hà Nội. Sau khi hỏi về sức khỏe của tôi, anh hỏi tôi đã nắm rõ nhiệm vụ chưa? Tôi báo cáo rằng anh Tấn và anh Hiền đã phổ biến cụ thể rồi. Tôi đã nắm được. Anh bảo tôi nói lại toàn bộ xem có hiểu rõ không. Tôi lại báo cáo lại từ đầu chí cuối, mấy nội dung chủ yếu là:

    “Tôi sẽ về ngay mang chỉ thị của Bộ về cho B2, anh Hùng và anh Trà khỏi ra nữa.

    Năm 1975 không đánh lớn, chỉ lo phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở miền Đông, chủ lực không đánh lớn. B2 định đánh Đồng Xoài, Phước Long, nhưng Bộ không đồng ý mà chỉ đánh nhỏ, giải quyết một số điểm nhỏ trên đường 14 thôi. Năm nay đánh nhỏ là để tích lũy lực lượng chờ thời cơ. Không sử dụng xe tăng, pháo lớn nếu không được Bộ Tổng Tham mưu duyệt từng trường hợp”.

    Anh Dũng nói: “Anh hiểu như vậy là đúng rồi! Phải giữ lực lượng chờ thời cơ. Năm nay chỉ đánh ở đồng bằng, phá bình định. Đạn dược nhất là pháo lớn ta còn kém lắm. Không nên đánh lớn rồi khi có thời cơ không có lực lượng mà đánh. Anh phải hiểu rằng cán bộ tham mưu như các anh phải có trách nhiệm đề đạt ý kiến với tư lệnh, chớ không phải chỉ có tư lệnh chịu trách nhiệm đâu. Như vậy là anh đã quán triệt được ý kiến cấp trên rồi. Nhưng tôi sẽ viết điện y như nội dung này để anh Ba ký gửi về trước trong ấy”.

    Tôi đã mang cả bức điện ấy của anh Ba (tức Điện số 491 nói trong điện của anh Sáu Nam gửi ra Bộ, đoạn trên đây) về và giao lại cho anh Sáu Nam và Hai Lê 1”.

    Sự việc xảy ra là anh Phạm Hùng và tôi chưa nhận được điện báo, nên đã lên đường đúng ngày đã định và trên đường đi, may thay (!) lại không gặp anh Hai Nhã. Vì nếu gặp có lẽ chúng tôi phải phân vân đôi chút giữa đi tiếp với trở về rồi. Tuy vậy ngay từ tháng 10, chúng tôi đã đề nghị được họp với Bộ Chính trị và toàn bộ chiến trường miền Nam thì bây giờ dù có gặp anh Hai Nhã, truyền đạt lại ý kiến Quân ủy Trung ương như vậy và bảo đừng ra, chắc chúng tôi cũng sẽ xin ra, để trực tiếp báo cáo về nhận thức đánh giá tình hình từ thực tế chiến trường của Trung ương Cục và Quân ủy Miền, cũng như đề đạt chủ trương hoạt động năm 1975, nhằm thực hiện kế hoạch hai năm 1975-1976. Việc cấp dưới báo cáo chính xác trung thực và kịp thời tình hình, việc đề đạt ý kiến một cách dũng cảm và có trách nhiệm lên cấp trên là vô cùng quan trọng, cũng như cấp trên cần có mọi biện pháp để thu thập ý kiến của dưới, lắng nghe dư luận từ mọi phía, nghiêm chỉnh và khách quan phân tách xem xét để có kết luận đúng, là bảo đảm cho mọi thành công. Đó là cách làm việc thực sự dân chủ và tập trung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ trước đến nay. Chúng tôi thấy có trách nhiệm phải ra và phải phản ánh đúng tình hình.

    Để các anh ở nhà yên tâm chỉ đạo hoạt động, chúng tôi gửi một điện về Trung ương Cục và Thường vụ Quân ủy Miền do cả anh Phạm Hùng và tôi cùng ký, có đoạn:

    “Sau khi sơ bộ trao đổi ý kiến với một số anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, thì về nhận định đánh giá tình hình chung về phương hướng chủ trương sắp tới rất nhất trí. Nhưng đi vào cụ thể còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục bàn, nhất là về kế hoạch mùa khô của ta...

    Chúng tôi sẽ đề nghị giữ nguyên kế hoạch cũ của ta về chủ lực Miền...”.

    Và sau khi biết B2 đã hoạt động theo kế hoạch điều chỉnh, tôi điện về hướng dẫn (Điện số 567/ZK):

    “...Sau Bù Đăng, Bù Na, cố gắng diệt Đồng Xoài, nó có tác dụng cả chiến dịch, chiến lược, tuy là điểm không lớn. Có thể dùng Sư đoàn 7 đánh Đồng Xoài..”

    Ngày 20/12/1974, anh Sáu Nam điện báo cáo:

    “...Trên đường 14, ta giải phóng hoàn toàn đoạn từ cầu 11 gần Đồng Xoài, đến khỏi Bù Đăng giáp ranh giới chi khu Kiến Đức... Ở Bù Đăng, Vĩnh Thiện, Bù Na, ta thu được 4 pháo và 7.000 đạn pháo, trên 3.000 súng các loại, bắt trên 300 tù binh, sẽ tiếp tục truy tìm thêm... ”.

    Và điện ngày 27/12/1974:

    “...Để khỏi lỡ thời cơ chiến dịch giành thắng lợi lớn khi có đủ điều kiện, chúng tôi đã cho sẵn sàng một đại đội xe tăng làm lực lượng dự bị. Ngày 26, tiêu diệt cụm cứ điểm Đồng Xoài không dùng xe tăng”.

    Ngay sau đó chúng tôi nhận được điện của anh Hoàng Cầm - Chỉ huy trưởng mặt trận Phước Long như sau:

    “Đoàn 301 2 gửi R 3 đồng điện Bộ Tổng Tham mưu.

    Tấn công chi khu Đồng Xoài lúc 5 giờ 35 phút ngày 26/12. Đến 8 giờ 30 phút ta làm chủ hoàn toàn chi khu Đồng Xoài”.

    Như vậy là đường 14 thuộc phạm vi B2 phụ trách đã hoàn toàn được giải phóng. Căn cứ phía sau và hành lang của ta đã mở rộng. Mặc dù kế hoạch tấn công của ta thay đi đổi lại, lực lượng ta điều động tới lui, ta phải đánh dần từng bước, từ nhỏ đến lớn một cách chậm chạp ngoài ý muốn nhưng quân địch vẫn không có khả năng phản ứng, không điều động được một lực lượng bộ binh nào chi viện, phải để mất cả ba chi khu: Bù Đăng, Đồng Xoài, và trước đó là Chi khu Bù Đốp bị tiểu đoàn địa phương Tỉnh đội Phước Long của ta tiêu diệt. Chúng chỉ dùng được không quân bắn phá và ném bom, không có hiệu quả gì. Quân địch còn lại ở Phước Long hoang mang dao động mạnh. Trước tình hình thuận lợi như vậy, chúng tôi đã tranh thủ xin ý kiến của anh Ba và các anh trong Quân ủy Trung ương cho phép chúng tôi giải phóng luôn tỉnh Phước Long theo như kế hoạch cũ của chúng tôi dự kiến phát triển khi có thuận lợi. Tôi đã trình bày khả năng của bộ đội ta có thể hoàn thành nhiệm vụ này và chắc chắn địch không có khả năng tăng cường lực lượng mạnh cho Phước Long nếu bị đánh. Tôi đã trình bày giá trị có tính chất chiến dịch và chiến lược của việc giải phóng được tỉnh Phước Long. Sau khi cân nhắc, các anh đồng ý. Tôi mừng quá, nhưng để đảm bảo chắc thắng, tôi đã xin anh Ba cho phép được sử dụng 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo 130 ly. Tôi hứa sẽ chỉ đạo ở nhà đảm bảo thành công. Anh đồng ý. Tỉnh Phước Long là một tỉnh miền núi, địa thế hiểm trở. Về phía bắc và phía đông tỉnh lỵ có nhiều núi cao, lại bao bọc bởi con sông Bé sâu và chảy xiết. Phía tây và nam đất đai bằng phẳng hơn, nhưng ngay sát cửa ngõ phía nam lại có núi Bà Rá cao nhất ở vùng đó, 735 thước so với mặt biển, và có nhiều hang hốc, đá to và cây xanh. Từ lâu địch đã thiết lập trên đỉnh núi này một trạm chuyển tiếp truyền tin vô tuyến và 1 đài quan sát với khí tài quang học điện tử có thể kiểm soát một vùng rộng. Khi cần thiết, địch có thể dùng cả trung đoàn dựa vào địa hình phức tạp và khống chế của núi này mà phòng ngự vững chắc cho tỉnh lỵ Phước Long. Vì địa thế hiểm trở của Bà Rá và của tỉnh Phước Long, nên thời Pháp thuộc trước kia, bọn thực dân Pháp đã dùng khu vực núi Bà Rá này làm nơi tập trung quản chế các nhà hoạt động chính trị yêu nước. Nhiều cán bộ, đảng viên của ta đã từng bị giữ nhiều năm tại đây, sống tách biệt với xã hội, cực khổ và ốm đau vì bệnh sốt rét hoành hành, trong số đó có cả phụ nữ như các chị Hai Sóc Bà Điểm, Nguyễn Thị Lựu, Nguyễn Thị Định 4, chị Hai Bé An Giang, Hai Minh Hậu Giang và nhiều chị khác. Quá về phía tây núi Bà Rá, cách 5km là thị trấn, huyện lỵ Phước Bình tương đối sầm uất. Đây là một ngã tư đường xe hơi đi Bù Đốp, tới Đồng Xoài, vào tỉnh lỵ và xuống đường 14 tại ngã ba Liễu Đức. Ở đây còn có một sân bay cấp 2 tương đối tốt, căn cứ không quân của tỉnh, vừa dùng cho tỉnh Phước Long, vừa là chỗ dựa cho không quân hoạt động cả vùng núi rừng này.

    Với địa hình thiên nhiên của một tỉnh miền núi và cách bố phòng tổ chức của địch như vậy, muốn tấn công giải phóng tỉnh Phước Long bằng lực lượng có hạn của ta, không thể có quyết tâm nào hay hơn là trước nhất phải chiếm Đồng Xoài để cô lập toàn bộ quân địch còn lại trong tỉnh. Phải triệt hạ cho được trạm truyền tin, đài quan sát tại điểm tựa Bà Rá cũng như ngã tư đường và sân bay Phước Bình. Được như vậy rồi mới có thể thọc vào tỉnh lỵ diệt quân địch bố trí phòng ngự dựa vào núi, sông, hồ, ao hiểm trở và kiến trúc phức tạp ở đây.

    Chúng tôi đã điện về Bộ Tư lệnh B2 chỉ đạo việc phát triển thắng lợi của Đồng Xoài, nhanh chóng chiếm cho được núi Bà Rá và sân bay Phước Bình và giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Tôi không quên điện cho biết được dùng 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo 130 ly. Điện tôi tự viết và ký tên nhờ Bộ Tổng Tham mưu cho chuyển. Nhưng chiều hôm đó trong lúc tôi đang ngồi trước bản đồ, nghiên cứu cách bố trí địch trong tỉnh Phước Long, hình dung xem địch có thể phản ứng lại sự tấn công của ta thế nào thì đồng chí Lê Ngọc Hiền đến. Đồng chí đưa ra bức điện tôi viết và nói chưa cho điện đi vì trong điện tôi đã cho được sử dụng xe tăng và pháo lớn, điều mà các anh trên đã dặn là không được sử dụng. Tôi hơi bực mình vì sợ trễ như điện hôm trước (bảo thực hiện kế hoạch cũ mùa khô như dự định). Để tỏ sự không hài lòng, tôi nói với đồng chí Hiền rằng là tư lệnh chiến trường không lẽ tôi không có quyền điện chỉ huy các lực lượng của tôi sao? Không lẽ điện của tôi lại bị kiểm duyệt và bắt buộc phải sửa đổi ngoài ý muốn của tôi. Việc sử dụng vũ khí lớn tôi đã xin phép rồi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí cho điện đi và đồng chí sẽ chịu trách nhiệm nếu điện của tôi bị chậm trễ, lỡ thời cơ.

    Thế là mọi việc để giải phóng tỉnh Phước Long đã được giải quyết ổn thỏa. Trên dưới đều nhất trí. Sau này trong lúc bàn bạc tổng kết chiến tranh, một số anh em không hiểu tình hình cho rằng giải phóng tỉnh Phước Long theo cách đánh bóc vỏ từ ngoài vào trong, lần lượt từ Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài, Phước Bình, Bà Rá rồi tỉnh lỵ, đánh từ nhỏ trước rồi đến đánh lớn sau. Khác với một cách đánh khác là dùng lực lượng mạnh thọc ngay vào trung tâm vào tim địch rồi từ đó đánh bung ra như một bông hoa nở. Diễn tả cũng hay. Nhưng đó là suy luận mà không phải đúng như thực tế. Từ đó mà rút ra bài học không có giá trị. Quân sự là một khoa học. Không thể hiểu theo lối suy diễn viển vông xa rời thực tế. Nếu nói tấn công vào một tỉnh lỵ thì có hàng trăm cách đánh cho hàng trăm tỉnh lỵ, mỗi tỉnh lỵ có cách đánh khác nhau, không phải chỉ có 2 cách như vậy. Chọn một cách đánh nào đó hoàn toàn không do suy nghĩ chủ quan của người này người nọ, mà phải dựa vào một loạt các yếu tố cụ thể: Tỉnh lỵ đó nằm ở đâu trong hệ thống phòng thủ của địch, có vị trí chiến dịch chiến lược thế nào? Muốn giải phóng tỉnh lỵ ấy thì phải đánh những mục tiêu chủ chốt nào? Các mục tiêu ấy được phân bố ra sao trên thực địa, được phòng ngự bằng công sự, lực lượng thế nào, địa hình địa vật của tỉnh lỵ? Quân địch sẽ cố thủ ở đâu, tiếp viện từ đây bằng phương tiện gì, và quy mô, khả năng lực lượng ta về mọi mặt, bàn đạp triển khai, đường tiếp cận... Chỉ nói gọn như vậy thôi cũng thấy rằng, muốn chọn một cách đánh phải căn cứ vào thực tế không gian và thời gian, vào ta và vào địch, không thể ngồi suy nghĩ một cách đánh có sẵn nào đó, rồi đem úp vào một tỉnh lỵ, sửa đổi cho vuông, tròn khía cạnh là được. Cái giỏi của người chỉ huy là nắm sát thực tế, phân tích chính xác địch, ta, địa hình, các mục tiêu quan trọng, thời cơ tạo ra hay đã có sẵn mà hạ quyết tâm hoàn toàn phù hợp, sáng tạo, đưa đến thắng lợi. Đó là chưa nói đến vấn đề diễn biến, có những yếu tố bất ngờ xảy ra từng phút, từng giây cần phải xử trí. Nhiều khi trận đánh thực tế đi đến kết thúc không giống gì với kế hoạch quyết tâm ban đầu. Có khi kế hoạch rất hay đấy nhưng người chỉ huy trực tiếp đơn vị tấn công xử trí sai một tình huống diễn biến phức tạp nào đó, hay xử trí đúng một trường hợp bất lợi nào đó thì kết thúc trận đánh cũng rất khác nhau. Tổng kết phải tìm cho ra sự thật lịch sử khách quan, phân tích chính xác mới rút ra được những bài học có giá trị.


*
*      *


    Như vậy là trước khi họp hội nghị Bộ Chính trị, đoàn chúng tôi, đại diện cho B2, đã tranh thủ báo cáo thảo luận và được các anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chấp thuận kế hoạch mùa khô mà B2 đã vạch ra trên cơ sở nhất trí đánh giá tình hình thực tế ta địch. Các anh đã cho phép đánh Đồng Xoài, đánh Phước Long. Ngày 22/11, anh Hùng đã gửi về Thường vụ Trung ương Cục bức điện trong đó có một số nội dung:

    “... 1) Những ý kiến của anh Hai Nhã đưa về là lúc chúng tôi ra chưa đến nơi. Nay sau khi làm việc thì kế hoạch năm 1975 như Trung ương Cục đã dự kiến và đã chuẩn bị từ sau hội nghị 6 tháng đầu năm 1974 là rất đúng. Các anh cần đôn đốc và theo dõi chỉ đạo thật sát việc thực hiện kế hoạch ấy, nhất là trong đợt mùa khô này. Chúng tôi và các anh ngoài này rất mừng về kết quả bước đầu của đợt 1 mùa khô. Tùy tình hình phát triển mà các anh xem xét kỹ và có sự điều chỉnh cho hợp lý và kịp thời, nhưng căn bản toàn bộ kế hoạch năm 1975 như ta đã dự tính là được. Nếu hoàn thành được kế hoạch năm 1975 và nhất là mùa khô này thì đó là việc rất có ý nghĩa đối với năm bản lề. Trong bước 2 của đợt mùa khô sẽ có sự phối hợp với các chiến trường, đó là sự thuận lợi tốt nhất cho ta hoàn thành tốt kế hoạch mùa khô của ta mà thôi, chứ không phải có sự thay đổi gì lớn đâu...”.

    Và ngày 29/12/1974 anh Hùng và tôi cùng ký một điện gửi cho Quân ủy Miền, đồng điện Thường vụ Trung ương Cục như sau:

    “... 1) Tình hình đầu mùa khô ở chiến trường ta, các địa phương và đơn vị đều có nỗ lực giành thắng lợi, kết quả khá cao tuy còn một số nơi chưa đều. Chúng tôi rất mừng và tin rằng chúng ta có nhiều triển vọng đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch nếu các cấp nắm chắc tình hình, không chủ quan thỏa mãn, sẵn sàng vượt khó khăn để ngày càng giành thắng lợi lớn hơn. Được như vậy thì ta sẽ có cơ sở vững vàng cho những bước sắp tới theo đúng ý định chiến lược. Các anh ngoài này rất mừng và đang ra sức chỉ đạo mọi mặt tiến hành cho tốt...

     ... 2).

     ... Do quyết tâm giành thắng lợi lớn hơn của năm nay tạo điều kiện sắp tới nên các anh có điều chỉnh kế hoạch chi viện. Đã đồng ý cho ta năm 1975 đúng như ta xin, tức 27.000 tấn chứ không phải 11.000 tấn như đã thông báo trước đây. Chúng tôi đang trao đổi đôn đốc vận tải. Như vậy, các anh nên nghiên cứu sử dụng sao cho thật hợp lý và tiết kiệm, chú ý tăng thêm cả cho các khu và hướng dẫn sử dụng cho tốt, đi đôi với hết sức tiết kiệm...”.

     Trong thời gian trước cuộc họp Bộ Chính trị, tôi có thì giờ và điều kiện gặp thăm một số anh em cán bộ quen biết công tác ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu. Do nhiệm vụ, các đồng chí vẫn theo dõi hàng ngày tình hình chiến sự, luôn biết tin tức về tôi, nhưng được gặp nhau hàn huyên là một dịp hiếm có. Chúng tôi kể cho nhau nghe hết chuyện thủ đô lại đến chuyện chiến trường, và cố nhiên không thể tách rời công việc. Một ít cán bộ có trách nhiệm cho biết về kế hoạch đánh Đức Lập mở hành lang của Bộ Tổng Tham mưu: Bộ sẽ dùng vào đây 3 sư đoàn quân chủ lực của B3 và của Bộ, được một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo 130 ly chi viện. Chắc chắn hành lang chiến lược sẽ mở thông, việc chi viện cho chiến trường B2 của anh sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. B3 và đồng chí Vũ Lăng đang đi nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị mọi mặt. Tôi hỏi: Đức Lập chỉ là chi khu cô lập cùng một số điểm nhỏ trên đường 14, thì cần gì đến 2 sư đoàn và từng ấy xe tăng và pháo lớn?

     Trả lời: không phải chỉ có tiêu diệt Đức Lập và một ít điểm nhỏ ở đây thôi mà còn kéo địch đến để tiêu diệt sinh lực, có thể là sinh lực lớn đấy. Ta chủ động chọn chiến trường kéo địch đến để tiêu diệt lớn, đi đôi mở hành lang.

     Tôi đã trao đổi với các đồng chí ấy rằng, theo tôi biết thì địa hình ở đây hiểm trở chật hẹp, con đường 14 độc đạo chạy giữa những hàng núi tương đối cao và có cây cối rậm rạp thì địch dại gì mà đến đó để ta tiêu diệt. Có chăng là địch sẽ dùng chủ yếu không quân đánh phá thả bom vào đội hình quân ta thôi. Vả lại trong thời điểm này, địch biết rõ ràng lực lượng của chúng cần cho những mục tiêu quan trọng hơn nhiều so với Đức Lập xa xôi hẻo lánh. Đức Lập tuy cần cho ta về hành lang chiến lược nhưng chưa phải đã đụng chạm nhiều gì đến kế hoạch phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của địch. Nếu ta đã điều động được đến đó lực lượng mạnh như vậy sao không đánh thẳng ngay vào Buôn Ma Thuột là ta chiếm được một mục tiêu có giá trị chiến dịch chiến lược quan trọng, rung động toàn Tây Nguyên và tự khắc hành lang của ta được mở rộng vững chắc. Với lực lượng ấy ta đủ sức đánh Buôn Ma Thuột vì ở đây địch có nhiều sơ hở, chỉ xem như một hậu cứ của các sư đoàn, trung đoàn. Tuy là tỉnh lớn, nhưng địa hình thuận lợi, phòng thủ yếu, lực lượng ít và nhất là địch không nghĩ rằng ta lại điều động được lực lượng lớn đến đây và chủ trương đánh Buôn Ma Thuột như vậy. Vả lại nó hoàn toàn phù hợp với giai đoạn chiến lược hiện nay của chiến tranh là ta phải tấn công lớn tiêu diệt địch và giải phóng vùng, tạo thời cơ lớn chớ không phải là thời kỳ mở hành lang nữa.

    Các đồng chí nói rằng:

    Chuyện ấy thì còn phải bàn, nhưng nếu đến lúc đánh lớn mở chiến dịch Tây Nguyên thì không phải chỉ lực lượng như vậy. Bộ Tổng Tham mưu đang dự thảo kế hoạch này. Chúng ta sẽ tập trung lực lượng lớn, ưu thế áp đảo, mở đầu đánh thẳng vào Kon Tum, tiêu diệt địch và giải phóng tỉnh này. Tiếp đó ta đánh ngay vào chỉ huy sở của Quân đoàn 2 ngụy ở Pleiku. Ta sẽ diệt cả hai sư đoàn 22 và 23 và các lực lượng ngụy ở đây, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Mở đầu đánh vào Kon Tum, ta có mọi điều kiện thuận lợi, sát vùng căn cứ giải phóng rộng của ta, hệ thống đường sá, kho tàng của 559 sẵn và đủ sức phục vụ chiến dịch, ta có nhiều điều kiện tập trung lực lượng lớn và triển khai dễ dàng mọi binh khí kỹ thuật.

    Tôi đã cười và nói vui: Thật các anh là những lính nhà vua. Các anh đã đánh và luôn nghĩ đánh theo kiểu dồi dào lực lượng và súng đạn, khác xa với chúng tôi là những lính nhà nghèo ở chiến trường xa và khó khăn, tính từng viên đạn một, vừa thèm thuồng nhìn các anh. Hèn nào mà anh Lê Ngọc Hiền báo cáo hôm trước ở Bộ Tổng Tham mưu rằng năm 1972 toàn miền Nam tiêu thụ hết 22 vạn viên đạn cỡ lớn mà riêng Quảng Trị đã ngốn mất 15 vạn rồi. Theo tôi đánh Kon Tum và Pleiku là đánh vào nơi địch cứng nhất. Chúng đã chuẩn bị phòng thủ từ lâu. Là đánh vỗ đầu địch. Lâu nay địch luôn phán đoán ta sẽ đánh vào Kon Tum trước nên dồn lực lượng và mọi sự chú ý vào đây, tuy ta có điều kiện tập trung lực lượng lớn và chuẩn bị mọi mặt thuận lợi, nhưng địch đã đề phòng, ta không phải dễ dàng trong tấn công. Còn đánh vào Buôn Ma Thuột là đánh đòn bất ngờ hoàn toàn đối với địch, đánh vào phía sau không được phòng bị của địch. Chúng sẽ bị tiêu diệt và tan vỡ mau chóng, ta không cần phải sử dụng lực lượng nhiều. Hậu phương bị chiếm thì quân địch phòng thủ phía trước sẽ hoang mang dao động. Buôn Ma Thuột là một vị trí chiến lược quan trọng, vì ở đây có sân bay “Hòa bình” lớn, có đường chiến lược số 21 nối với Ninh Hòa, Nha Trang dựa lưng với Gia Nghĩa, Đà Lạt. Buôn Ma Thuột mất thì toàn bộ Quân đoàn 2 ngụy ở Tây Nguyên chỉ còn dựa được vào đường 19 xuyên qua đèo núi hiểm trở, dễ bị cắt đứt và sân bay Pleiku độc nhất còn lại để trông nhờ sự tiếp tế và chi viện. Các đường khác như đường 5, đường 7 đều là đường núi, cầu nhiều và rất yếu, lưu thông không đảm bảo, nhất là cơ giới. Còn nếu đối phương phong tỏa nữa, điều này chắc chắn xảy ra, thì hàng chục vạn con người và binh khí kỹ thuật bị lâm nguy không phương cứu vãn. Tôi ví đánh chiếm Buôn Ma Thuột đối với các tỉnh Tây Nguyên còn lại giống như đốn một cây gỗ lớn từ gốc, toàn bộ tán lá và thân cây phải đổ. Đánh như vậy mới là đòn hiểm về chiến dịch chiến lược, đảm bảo chắc thắng và thắng to.

    Tôi đã đem toàn bộ câu chuyện này báo cáo lại và trao đổi kỹ với anh Hùng và anh Hai Văn. Tôi cho đây là quyết tâm lớn có tính chất chiến lược trong giai đoạn chiến tranh này, không thể không suy nghĩ. Các anh đều nhất trí là nên bỏ Đức Lập mà đánh ngay vào Buôn Ma Thuột. Chúng tôi đã đề nghị anh Hùng tìm cách trao đổi với các đồng chí trong Bộ Chính trị.




-------------------------------------------------------------------
1. Sáu Nam là anh Lê Đức Anh - Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền. Hai Lê là anh Lê Văn Tưởng - Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Miền.
2. Tiền phương Bộ Tư lệnh Miền.
3. Mật danh Bộ Tư lệnh Miền.
4. Thiếu tướng Nguyễn Thị Định - nguyên Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, mà cán bộ và chiến sĩ Quân giải phóng thường gọi là “Chị Ba” một cách trìu mến. Thời kỳ Đồng khởi năm 1960, đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Hiện nay là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #91 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2023, 08:19:44 am »

*
*      *


    Ngày 18/12/1974, cuộc họp liên tịch Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương có đại diện các chiến trường miền Nam tham gia. Cuộc họp bắt đầu trong không khí chiến thắng dội lại của chiến trường B2. Đến ngày ấy toàn B2 đã vào đợt 1 mùa khô và đã giành nhiều thắng lợi. Ở đồng bằng sông Cửu Long, kế hoạch bình định của địch đã bị phá bể từng mảnh lớn. Ta đã giải phóng nhiều xã, ấp, mở rộng vùng nông thôn Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Kè, Duyên Hải thuộc Trà Vinh và Mỏ Cày, Giồng Trôm thuộc Bến Tre. Ta đã giải phóng chi khu Hưng Long ở vùng Hậu Giang và quận lỵ hành chính Tuyên Nhơn ở vùng Tiền Giang. Đây là lần đầu tiên ở đồng bằng ta tiêu diệt được chi khu quận lỵ và chiếm giữ luôn. Ta đã đánh tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn khác của Sư đoàn 21 ngụy đến phản ứng ở Hưng Long. Ta đã làm chủ từng bộ phận sông Ông Đốc, Cái Tàu, Bảy Háp ở Cà Mau, kênh Xà No ở Cần Thơ, sông Cổ Cò và vùng huyện Mỹ Tú ở Sóc Trăng, tuyến Vàm Cỏ Tây ở Kiến Tường... Ở miền Đông, ta đã giải phóng đoạn đường 14 bắc Đồng Xoài, diệt cao điểm Lồ Ồ - núi Giám, giải phóng một số xã, bao vây cô lập các huyện lỵ Hoài Đức, Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy, vây hãm điểm núi Bà Đen và diệt một số đồn bót địch thuộc tỉnh Tây Ninh. Ở vùng ven, lực lượng của Thành đội Sài Gòn cùng đặc công đẩy mạnh diệt địch, gỡ đồn, mở lõm ở các vùng Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bình Chánh, nam Thủ Đức, Long Thành, Nhơn Trạch, và tập kích, khống chế sân bay Biên Hòa. Mới nửa tháng đầu mùa khô ở B2, thành tích diệt địch, giải phóng vùng, nhân dân đứng lên làm chủ đã đạt kết quả cao, báo hiệu những chiến thắng vang dội của ta sắp tới và sự suy sụp rõ ràng của ngụy. Những thực tế ở chiến trường ấy nói nhiều hơn bất cứ báo cáo và lý luận hay ho nào.

    Hội nghị tập trung bàn về kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976 hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ mà Bộ Chính trị đề ra từ trong mùa mưa. Trung ương Cục và Quân ủy Miền (B2) chúng tôi cũng đã bàn bạc từ hội nghị thường lệ kiểm điểm tình hình 6 tháng đầu năm 1974. Thật là những dự kiến lớn của lãnh đạo tối cao và sự suy nghĩ của cấp dưới, của chiến trường tiêu biểu đã trùng hợp nhau. Lý luận và thực tế đã khớp với nhau. Nhưng quá trình diễn biến cụ thể, các bước đi, các biện pháp thực hiện còn phải thảo luận nhiều mới nhất trí hoàn toàn được. Tất nhiên là như vậy. Vì nếu mọi người đều thống nhất ý kiến một cách dễ dàng hoặc không có ý kiến khác nhau nhiều thì chứng tỏ một sự nghèo nàn đáng thương hại về trí tuệ và sự suy nghĩ.

    Mở đầu hội nghị, đại biểu các chiến trường B2, Khu 5 báo cáo tình hình địch, ta, thực tế của chiến trường mình, phương hướng và khả năng hoạt động sắp tới, những đề đạt và yêu cầu. Về B2, chúng tôi đã báo cáo gọn tình hình diễn ra từ Nghị quyết Trung ương 21, trong mùa khô, rồi mùa mưa 1974. Những kết quả cụ thể ở đồng bằng, ở Khu 8, 7 và ngay ở Sài Gòn. Tôi đã báo cáo rõ mục đích phá sự củng cố tuyến phòng ngự trước mắt và thế co cụm tương lai của ngụy ở Sài Gòn bằng hoạt động ở đường 7 - Bến Cát, giải phóng Rạch Bắp; đã báo cáo việc xây dựng lực lượng chính trị, quân sự, cho tới hôm nay và đặc biệt là việc tổ chức và bố trí thế trận ở vùng ven và nội đô Sài Gòn, hình thành thế bao vây chặt thủ đô của ngụy. Chúng tôi đã báo cáo nhận định và đánh giá tình hình của Trung ương Cục vừa qua, những vấn đề mới đã xuất hiện, ta mạnh và đi lên, địch đang yếu và đi xuống. Chúng tôi đã báo cáo phương hướng và kế hoạch của B2 trong năm 1975 nhất là mùa khô 1975, phải đánh mạnh thắng to cả miền Nam để kết thúc chiến tranh thắng lợi năm 1976. Sau cùng chúng tôi không quên đề nghị được tăng thêm vật chất vũ khí, tăng thêm lực lượng cho B2, như Trung ương Cục đã nhất trí, trước mắt là một sư đoàn chủ lực ngay vào đầu mùa khô này nhằm kiện toàn Quân đoàn 4. Chúng tôi đã đề nghị cần có kế hoạch hoạt động nhịp nhàng toàn chiến trường miền Nam, và Bộ Tổng Tư lệnh cần có quy định một lực lượng dự bị chiến lược mạnh để kịp thời phát triển thắng lợi quyết định khi thời cơ đến ở chiến trường chủ yếu. Chúng tôi báo cáo rằng vì chiến trường miền Đông Nam Bộ, bao gồm Sài Gòn là chiến trường tiêu diệt sinh lực lớn của địch và kết thúc chiến tranh, cho nên lực lượng dự bị chiến lược chắc sẽ sử dụng ở đây, phải được bố trí ngay từ nay ở Tây Nguyên thì mới hành động kịp khi cần đến. Chúng tôi đã nhấn mạnh là kế hoạch hoạt động năm 1975 là dựa trên cơ sở kết quả đạt được trong năm 1974, dựa trên tình hình đã diễn biến hết sức thuận lợi cho ta mà tinh thần là phải nhanh chóng liên tục phát triển, đẩy địch vào thế nguy khốn. Không thể dừng lại, để mất thời cơ.

    Sau khi các chiến trường báo cáo, đồng chí Lê Ngọc Hiền thay mặt Bộ Tổng Tham mưu trình bày dự kiến của Bộ về kế hoạch hoạt động của năm 1975. Kế hoạch xây dựng trên cơ sở nhận định, địch đang phải bị động phòng ngự, giữ chỗ nào được thì cố giữ. Chúng đã suy yếu về tổ chức và tinh thần. Ta đang thắng, nhưng cũng còn những khuyết, nhược điểm. Kế hoạch đề ra một loạt các chỉ tiêu cho các chiến trường về giải phóng vùng và giành dân, về tiêu diệt và làm tan rã địch, đánh tụt quân số chúng xuống mà không để chúng bổ sung được, về tiêu diệt dự trữ vật chất kỹ thuật của địch... Kế hoạch dự kiến về xây dựng lực lượng ta trong năm, về mở các hành lang thông suốt, về dự trữ vật chất, hậu cần ở các hướng. Năm 1975, ta phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị thật tốt để đảm bảo đánh lớn, tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng lợi trong năm 1976.

    Đồng chí đã báo cáo cụ thể về lực lượng quân sự của ta hiện nay ở các chiến trường và ở Trung ương. Số lượng binh khí kỹ thuật và đạn dược đang có ở các nơi và số dự trữ. Dự kiến phân chia việc sử dụng các loại ở các chiến trường trong hai năm. Riêng về số lượng đạn cỡ lớn, đồng chí báo cáo: Số lượng còn lại phía trước và phía sau tổng cộng là... (100%) sẽ sử dụng... (hơn 10%) trong năm 1975,... (45%) trong năm 1976, còn lại dự trữ... (gần 45%).

    Như vậy là bước vào thảo luận, hội nghị đã có đủ tình hình của chiến trường, đã có các dự kiến về hai năm và kế hoạch cụ thể năm 1975 của Bộ Tổng Tham mưu và của các chiến trường. Hội nghị đã thảo luận với một không khí hào hứng và phấn khởi. Không biết từng đồng chí đã nghĩ gì, nhưng riêng tôi thật là xúc động khó tả. Hội nghị này sẽ quyết định kết thúc 30 năm chiến tranh của đất nước. Có dân tộc nào trên con đường đấu tranh gay go dài dằng dặc, bị buộc phải cầm súng và chịu đựng, chết chóc và tàn phá ghê gớm suốt 30 năm trời như dân tộc Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng và thống nhất Tổ quốc này của chúng ta, đã có nhiều trường hợp cả 3 thế hệ ông, cha, cháu, đều xông ra tiền tuyến, có khi cùng chung trong một đơn vị. Đã có nhiều trường hợp, trong một trận càn của giặc, toàn bộ gia đình hay một tập thể các gia đình cùng hy sinh vì bom đạn thù. Và trên đất nước này, cho đến nay, hầu như không có một gia đình nào từ Hoàng Liên Sơn, Cao Lạng đến mũi Cà Mau, Phú Quốc, Côn Đảo, không bị mất đi ít nhất một người thân yêu. Trăm nghìn hy sinh, vô vàn khổ cực để mong có ngày nay, ngày quyết định một tương lai huy hoàng. Trách nhiệm nặng nề làm sao. Mỗi suy nghĩ, mỗi lời phát biểu trong hội nghị như có mang theo sức mạnh của 4.000 năm lịch sử, của hàng vạn gánh đau thương, của hàng triệu cặp mắt theo dõi của người dân Việt Nam, của người dân đang bị áp bức trên toàn thế giới, của bạn bè bốn biển năm châu. Nhiều đồng chí đã phát biểu sôi nổi, có đồng chí phát biểu nhiều lần.

    Tất cả xoay quanh nhận định đánh giá tình hình trong nước, ngoài nước. Ta đánh mạnh, ngụy sẽ ứng phó thế nào? Mỹ sẽ hành động ra sao? Có dám can thiệp trở lại không hay có những âm mưu thủ đoạn nào khác? Phương pháp cách mạng của ta thế nào là đúng nhất? Các bước đi trong hai năm, nên bước thế nào cho kịp và cho vững? Năm 1975 nên thế nào và rồi năm 1976? Hai năm trong chiến tranh ác liệt có phải đâu là ngắn, nhưng hai năm cuối cùng của trên 30 năm khổ cực thì sao thấy nó nhanh quá, sắp đến nơi rồi. Khi kết luận hội nghị, anh Ba đã nói: “Chuẩn bị hai năm tuy ngắn đấy nhưng có khi cũng là dài đấy”. Và khi phát biểu anh Phạm Văn Đồng nói: “Lúc nào là thời điểm sụp đổ của ngụy? Không phải chờ đến 1976 đâu. Có thể nhanh, không phải dần dần đâu”. Và anh Giáp cũng như nhiều anh khác nhấn mạnh: “Hạ quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976 là đúng. Nhưng kế hoạch cần đề phòng tình huống sớm hơn, trong năm 1975 và cả tình huống kéo dài qua năm 1977. Như vậy mới chủ động vững vàng”.

    Anh Đồng đi đi lại lại, suy nghĩ rồi dừng lại phát biểu, mặt lúc nào cũng hồng hào, tiếng nói rắn rỏi. Anh nói: “Đánh giá địch ta cần khẳng định một số vấn đề, đừng nghĩ theo lối cũ lỗi thời. Ta đang ở giai đoạn mới. Mỹ rút quân do quy định của Hiệp định Paris, nó cho đây là một thắng lợi sau khi bị nhiều thất bại, không lối thoát. Ngày nay, nó đem quân can thiệp trở lại là một chuyện không thể có. Có chăng là dùng không, hải quân chi viện, nhưng việc ấy không quyết định được vấn đề thắng bại”. Rồi anh vừa cười to vừa nói: “Nói chơi cho vui nhưng cũng đúng sự thật là cho kẹo Mỹ cũng không vào”. Mọi người cùng cười vui vẻ. Anh lại tiếp: “Về ta, quan trọng nhất là một cao trào cách mạng miền Nam xảy ra. Rất mới, cả quân sự và chính trị. Bạo lực quân sự đến mức cao nhất đi đôi bạo lực chính trị. Cả Khu 8, Khu 9 báo cáo như vậy rất tốt. Tình hình diễn biến sẽ vượt bậc nhanh”. Anh Trường Chinh đứng lên, mang kính, nhìn vào tập giấy cầm trên tay đã chuẩn bị sẵn, phát biểu một cách trịnh trọng. Anh thường như vậy. Lúc nào cũng cẩn thận như không để một sơ hở nhỏ nào. Trong các bài viết chú ý từng chữ một, từng dấu phẩy. Khi phát biểu lúc nào cũng có phần mở đầu, phần chính, đủ cả, rồi phần kết thúc. Tôi không làm biên bản mà chỉ ghi ở đây vài ý thôi. Anh nói: “Địch bị ba sức ép: tấn công quân sự của ta, đấu tranh chính trị của quần chúng và khó khăn về kinh tế tài chính. Vì vậy, địch bị suy yếu nhanh chóng. Quân địch không gỡ được mâu thuẫn giữa giữ đất giữ dân và cơ động tác chiến. Nhưng nay nó còn đứng được vì chưa bị tiêu diệt nặng, còn lấy được người, Mỹ còn viện trợ lớn, còn giữ các đường chiến lược quan trọng. Còn ta thì mạnh lên về mọi mặt. Ta giành được quyền chủ động trên chiến trường. Năm 1974, ta đã đạt được kế hoạch. Nếu Phước Long ta diệt được nữa thì chứng tỏ hùng hồn là ta mạnh lên nhiều. Địch có xu hướng co cụm phòng ngự. Ta khó ngăn nó co cụm vào các thành phố lớn. Ta khó đánh nổi địch co cụm lớn có công sự kiên cố và đánh vào thành phố rất phức tạp. Mỹ có vào không? Thực sự nó còn hai vạn rưỡi cố vấn quân sự đội lốt dân sự. Nếu nó thấy lâm nguy nó sẽ can thiệp. Nhưng can thiệp bằng bộ binh thì khó, mà bằng không, hải quân thì cũng phải cân nhắc và có mức độ. Ta phải tạo điều kiện thực hiện đòn tiêu diệt chiến lược. Cũng không hạn chế chỉ một đòn tiêu diệt chiến lược...”.

     Lúc này tin chiến thắng của chiến trường B2 ngày nào cũng có. Phấn khởi nhất là tin ở Trà Vinh, một tỉnh đồng bằng và cũng là hướng chủ yếu của đầu mùa khô, ta đã diệt nhiều địch, gỡ nhiều đồn bót, giải phóng nhiều xã, nhiều dân. Mọi người trong hội nghị, nhất là đại biểu B2, cố nhiên, rất đỗi vui mừng. Thực tiễn của chiến trường đã dẫn chứng cho nhiều lập luận đánh giá tình hình, giống như các chiến sĩ và nhân dân ở chiến trường xa cũng tham gia trực tiếp thảo luận ở hội nghị vậy. Anh Lê Đức Thọ khi phát biểu đã dẫn chứng: “Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 12 đã gỡ trên 500 vị trí, mới một tháng đạt 70% kế hoạch 6 tháng mùa khô..”, như tôi đã kể ở đoạn trước. Còn ở miền Đông Nam Bộ, phía đông ta đã chiếm toàn huyện Tánh Linh... và một số xã huyện Hoài Đức của tỉnh Bình Tuy. Tại Tây Ninh ta vây ép căn cứ núi Bà Đen và diệt gọn một tiểu đoàn của Trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 25 ngụy. Tại tỉnh Phước Long, ta đã chiếm sân bay và chi khu Phước Bình, núi Bà Rá và đang tấn công vào thị xã. Ai nấy trong hội nghị đều mong chờ kết quả của trận đánh Phước Long. Bỗng một hôm, trong lúc đang họp, một đồng chí trong Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu đưa đến và đọc một bức điện từ chiến trường báo cáo rằng “vì địch đã tăng viện được Lữ 81 biệt kích dù vào thị xã, chúng đã cố thủ, nên chúng tôi tạm cho dãn bộ đội ra chấn chỉnh để nghiên cứu đánh lại”. Tôi sửng sốt, không tin. Tôi ngồi gần như đối diện với anh Ba, khi nghe đọc xong, anh ngó thẳng vào tôi có vẻ hỏi tại sao vậy. Trước đây, khi xin được đánh Phước Long và được sử dụng một ít pháo lớn và xe tăng, tôi đã khẳng định với anh rằng ta đánh chắc thắng, và địch không thể tăng viện được. Nay nếu đánh không nổi tỉnh lỵ Phước Long thì mọi việc đánh giá khác của tôi sẽ khó mà tin được là đúng. Trình độ tác chiến của quân chủ lực ta ở miền Đông rõ ràng sẽ chứng tỏ còn thấp kém. Kết quả thực tế trên chiến trường là thước đo chính xác nhất trình độ, khả năng lãnh đạo và chỉ huy của cán bộ, hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng sự việc không phải như vậy, tôi vẫn tin ở khả năng của bộ đội và cán bộ B2, vẫn tin rằng chắc chắn Phước Long sẽ được giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #92 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2023, 08:25:29 am »

    Lòng tin của tôi là có căn cứ. Tôi đã sống với các đơn vị chủ lực B2 từ những ngày đầu tiên mới xây dựng từng tiểu đoàn, trung đoàn cách đây hơn chục năm trời. Tôi đã đem hết tâm lực của mình góp một phần nhỏ cùng anh em chăm chút từng cán bộ, từng cây súng, ngày đêm lo rèn luyện, chiến đấu, từ thời kỳ này đến thời kỳ khác cho đến nay. Tôi đã có mặt với anh em gần như trong tất cả các chiến dịch quan trọng của B2. Tôi hiểu họ như hiểu mình và tin họ như tin mình. Tôi rất tiếc không có mặt để chia sẻ gian truân cùng anh em trong trận đánh Phước Long có tầm chiến lược này. Nhưng tôi luôn nghĩ rằng, có hay không có tôi, họ đã là họ, những đơn vị chủ lực kiên cường và quyết thắng.

    Còn cán bộ chỉ huy? Đơn vị thế nào thì cán bộ thế ấy. Đó là những người được rèn luyện và lớn lên qua hàng trăm trận lớn nhỏ và phần lớn đã trải qua hai thời kỳ kháng chiến. Tôi đã từng giao cho họ những nhiệm vụ rất nặng nề, ra cho họ những mệnh lệnh hết sức nghiêm ngặt, đã cùng họ trải qua những giờ phút gian nan nguy hiểm cũng như những ngày thắng trận vẻ vang. Tôi dựa vào họ mà suy nghĩ và hành động. Mỗi cán bộ cấp dưới của tôi ngã xuống là một phần cơ thể và linh hồn tôi bị tổn thương. Cho đến khi nhắm mắt cuối đời, trong tôi không thể xóa nhòa hình ảnh của đồng chí Trần Đình Xu - người chỉ huy bình tĩnh và vững vàng trong mọi tình huống, đã hy sinh anh dũng trong lúc đang là Tư lệnh khu Sài Gòn năm 1969. Hay đồng chí Nguyễn Thế Truyện - một tư lệnh sư đoàn dũng cảm vô song, đã vào tận thủ đô ngụy trong Tết Mậu Thân 1968 và đã hy sinh trên vùng ven ác liệt ngày nào. Đồng chí Nguyễn Văn Nhỏ (Hai Nhỏ) người Tân An, con một lão du kích kiên cường của Nam Kỳ Khởi nghĩa năm 1940. Đồng chí coi thường mọi gian khổ hiểm nguy. Năm 1968, đồng chí đã đặt sở chỉ huy của mình ngay trên đường 1 gần Bà Quẹo, đã chỉ huy cánh quân đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất từ phía tây. Đồng chí đã hy sinh anh dũng năm 1969 khi đang là Phó Tư lệnh Quân khu 8. Và còn biết bao đồng chí như vậy nữa. Còn bây giờ, người chỉ huy trực tiếp trận Phước Long là đồng chí Hoàng Cầm - người Tư lệnh Sư đoàn đầu tiên của B2 khi mới thành lập Sư đoàn thứ 1, cho đến nay là Tư lệnh Quân đoàn. Trải qua thời gian dài chiến đấu, đồng chí đã cùng đơn vị của mình hoàn thành mọi nhiệm vụ khó khăn được giao. Còn người thay tôi ở Bộ Tư lệnh Miền lúc ấy, đồng chí Lê Đức Anh, người mà trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ đã nhiều lần làm tham mưu trưởng cho tôi, năm 1973 là Tư lệnh Quân khu 9, đã kiên quyết đánh trả quân địch, giành thắng lợi vẻ vang. Các đồng chí khác đang ở chiến trường cũng đều là những cán bộ kiên cường đã qua nhiều thử thách. Tôi đánh giá được khả năng và nhược điểm của họ để mà gửi gắm lòng tin của mình.

    Tôi biết rằng lần đầu tiên đánh giải phóng hoàn toàn một tỉnh, tấn công vào một tỉnh lỵ có địa hình phức tạp, có công sự phòng ngự kiên cố, không thể dễ dàng, có những giờ phút gay go, có giành đi giật lại. Nhưng kết quả cuối cùng anh em sẽ chiến thắng. Nghĩ như vậy, tôi đã bình tĩnh trình bày với các anh ở hội nghị rằng khi ta đã chiếm được Phước Bình và núi Bà Rá rồi thì địch không thể nào cố thủ trong thị xã lâu được và chắc chắn địch không thể đưa quân đông lên đây nổi. Tôi vẫn tin rằng quân ta sẽ diệt Phước Long trong vài ngày nữa thôi. Tôi liền điện về hỏi sự thật diễn biến của trận đánh, báo phải tăng thêm lực lượng dứt điểm cho được thị xã. Hôm sau, chúng tôi nhận được điện của Bộ Tư lệnh B2 rằng không có vấn đề dãn bộ đội ra, đó chỉ là báo cáo sai lầm của một cán bộ tiền phương. Đang tăng thêm Trung đoàn độc lập 16 và Trung đoàn 2 của Sư đoàn 9 để tiêu diệt quân địch ở thị xã. Tôi yên tâm. Trước ngày kết luận hội nghị của anh Ba, chúng tôi nhận điện báo cáo của B2: “...Chiều ngày 06/01/1975, quân ta đã quét sạch các cụm đề kháng mà chúng khôi phục lại trong ngày 5 bằng 250 biệt kích dù mới tăng cường đến... Chủ trương của chúng tôi là tiếp tục truy diệt cho sạch tàn quân, giữ vững thị xã và toàn bộ tỉnh Phước Long. Nếu địch tiến hành phản kích thì tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch gồm cả bọn đổ bộ đường không và bọn đi đường bộ, tạo điều kiện cho ta thực hành tấn công vào các hướng rất nguy hiểm cho địch, hạn chế đến mức tối đa thương vong của ta, bảo vệ tính mệnh tài sản của nhân dân”. Và điện báo cáo của Bộ Tham mưu B2: “...Bắt đầu rạng sáng 03/01 mở đợt công kích toàn diện vào tiểu khu, thị xã Phước Long và đến 15 giờ 30 ngày 06/01, ta đã tiêu diệt bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long...”. Tôi thở phào nhẹ nhõm, trút sạch tất cả những lo lắng, nặng nề trong mấy ngày qua.

    Tin dứt điểm thị xã Phước Long đến trong lúc đang họp. Mọi người đều vui vẻ, đứng dậy đi bắt tay nhau mừng chiến thắng. Không phải chỉ bắt tay riêng đại biểu B2. Điều đó nói lên rằng chiến thắng này có ý nghĩa chung, không riêng gì cho chiến trường B2. Đó là một dấu mốc về khả năng tác chiến của quân đội ta, về sự suy yếu của quân đội địch, về một trang sách mới vừa mở ra, một giai đoạn mới đã bắt đầu... Không ai nói thẳng ý nghĩ của mình ra, nhưng nét mặt và cử chỉ nói nhiều hơn lời và có vẻ như nhất trí cả. Mấy phút trôi qua, rồi ai nấy đều về chỗ của mình. Và anh Ba nói: “Lần đầu tiên ở miền Nam, một tỉnh hoàn toàn được giải phóng. Tỉnh đó lại ở gần Sài Gòn và mở rộng vùng căn cứ quan trọng của ta ở miền Đông. Thực tế này nói rõ hơn hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy và nhất là của Mỹ”. Tất cả đều tỏ đồng tình tán thưởng lời nói đó. Tất cả các cán bộ và chiến sĩ đã tham gia các trận đánh ở Phước Long, nhất là các đồng chí đã ngã xuống tại đây, có hiểu chăng giá trị của chiến công mình đã lập nên. Các đồng chí có biết rằng chính các đồng chí đã cùng các chiến sĩ và đồng bào đồng bằng sông Cửu Long vào đợt 1 mùa khô, chứ không phải đoàn đại biểu B2 chúng tôi, đã báo cáo cụ thể nhất, rành rẽ nhất tình hình ta, địch thực tế trên chiến trường ở giai đoạn chiến lược hiện tại của cuộc chiến tranh cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta - cơ quan lãnh đạo cách mạng tối cao và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Tôi có viết điện về hoan nghênh chiến thắng này nhưng không thể viết hết được tình hình trong cuộc họp và sự xúc động của riêng tôi.

    Còn kẻ địch của ta thì nhận định thế nào về sự kiện Phước Long? Tài liệu Sự sụp đổ của Nam Việt Nam của Mỹ (sách dẫn trên) đã viết: “Cuộc tường thuật sau đây cố gắng vạch ra sự sụp đổ cơ cấu “tuyến phòng thủ cứng rắn” này, bắt đầu bằng sự thất thủ tỉnh lỵ Phước Long ngày 06/01/1975. Theo quan điểm của nhiều người trả lời thì sự thất thủ thị trấn đó đánh dấu việc Nam Việt Nam bắt đầu tan rã...”.

    Bửu Viên xem sự thất thủ tỉnh lỵ này có ý nghĩa quan trọng:

    “Để thử thách quyết tâm của quân lực Việt Nam Cộng hòa và đặc biệt là để thăm dò phản ứng của chính phủ Hoa Kỳ, quả thật cộng sản đã chọn một mục tiêu dễ dàng. Sự thất thủ Phước Long có một ý nghĩa to lớn. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam cả một tỉnh đã lọt vào tay cộng quân...”.

    Còn ngay sau khi Phước Long bị mất, Mỹ - ngụy ở Sài Gòn đã nghĩ và làm những gì, tâm trạng tướng tá ngụy ra sao? Dương Hảo, trong sách Một chương bi thảm do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ta phát hành năm 1980, đã viết:

    “...Sau này, kể lại hậu quả thất bại Phước Long, Phạm Bá Hoa - Đại tá Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận ngụy nói:

    ...Những ngày chiến sự ở Phước Long sôi động là những ngày căng thẳng của tất cả sĩ quan ở Bộ Tổng Tham mưu (quân ngụy), nhất là khi Phước Long thất thủ. Có thể nói, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng. Không khí lo ngại bao trùm, ưu tư đè nặng mọi người. Ưu tư không phải vì chiến sự sôi động ngay cửa ngõ Sài Gòn, mà cũng chẳng phải vì mất Phước Long với tổn thất lớn 6.000 - 7.000 quân bị tiêu diệt, tan rã.

    Cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của quân lực cộng hòa. Chỉ mới bị đánh một điểm mà đã không còn lực lượng đối phó, hỏi bị đánh mạnh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước Long là sự kiện nói lên khá rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã thực hiện 6 năm qua. Trước đây, quân đội cộng hòa qua được nhiều hiểm nghèo là nhờ vào cứu viện của Hoa Kỳ. Họ đã cung cấp đủ mọi trang bị bù đắp tổn thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mạnh mẽ, thậm chí cả xung lực mới đủ sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả một tỉnh mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng đã chính thức gửi công hàm, rồi tướng Khuyến đã điện đàm trực tiếp với Smith (Trưởng cơ quan DAO) - Tất cả đều là con số không.

    Tình hình đó đã dồn ép chúng tôi đến hoang mang, bi quan cực độ. Có thể nói Phước Long là một đòn thử sức đôi bên và kết quả đã quá rõ ràng...”.

    Cuộc họp vẫn tiếp tục. Anh Lê Thanh Nghị vẫn như thói quen của anh, phát biểu nhè nhẹ, chậm rãi, xung quanh ai tỏ thái độ gì cũng mặc, cứ nói cho hết ý mình. Sau khi phân tách tình hình, nói về kế hoạch, nhấn mạnh: Đưa thêm lực lượng vào B2 là đúng và càng sớm càng tốt. Dự bị chiến lược chung và cho từng chiến trường quan trọng là phải có. Nhưng dự bị chung một quân đoàn thì làm sao cơ động được vào chiến trường chủ yếu cho kịp thời nếu để tận ngoài xa. Anh Lê Đức Thọ thì nhấn mạnh: Phải chú ý đầy đủ cả ba quả đấm phối hợp nhau. Phải đánh mạnh, thắng to năm 1975 thì mới có điều kiện hơn cho năm 1976. Anh Văn Tiến Dũng trình bày: Triển khai lực lượng sớm không thể kịp. Phải chuẩn bị nhiều vấn đề: xây dựng bổ sung lực lượng, huấn luyện tác chiến, rồi vật chất hậu cần, đường sá... Tăng cường lực lượng cho B2 cũng phải chờ đánh Tây Nguyên xong mới được, không thể lấy sư đoàn nào khác; phải tháng 5/1975, Sư đoàn 316 mới vào tới miền Đông. Nghe vậy anh Ba nhìn chúng tôi nói: “Ta đánh theo cách của ta là phải chính trị, quân sự, chiến lược tổng hợp ba quả đấm, khác đó là không thắng được. Có khó khăn chung, thôi chậm vài ba tháng, cũng phải như vậy để không phá kế hoạch Tây Nguyên”. Tôi im lặng nhưng bụng bảo dạ: thôi ta lại đánh theo lối dân gian ta thường nói là “liệu cơm mà gắp mắm”, tức là có bao nhiêu lực lượng thì có cách sử dụng bấy nhiêu cho phù hợp nhất. Nhưng nhất định cũng sẽ phải giành thắng lợi to lớn mới được.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #93 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2023, 08:28:31 am »

    Ngày 08/01/1975, anh Ba kết luận hội nghị. Tôi chỉ lược ghi ý chính: “Hội nghị có Khu 5, Nam Bộ dự và rất phấn khởi vì có sự nhất trí rất cao, quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976 mà Bộ Chính trị đã đề ra, đã suy nghĩ nhiều, bàn bạc nhiều lần, nay càng nhất trí với cả chỉ huy chiến trường.

    - Năm 1959-1960 thì phong trào quần chúng rất mạnh nhưng lực lượng quân sự ta chưa có gì.

    - Khi đánh Mỹ thì quân sự mạnh nhưng quần chúng bị địch dùng mọi biện pháp dã man đè xuống.

    - Bây giờ thì cả quân sự, chính trị ta mạnh cùng lên nên mới thành sức mạnh tổng hợp...

    Vì vậy cần nắm vững hơn nữa quy luật của chiến tranh cách mạng và phong trào cách mạng quần chúng. Hai mà một, một mà hai...

    Hiện nay ta đã giữ chủ động trên chiến trường giành dân và giành quyền làm chủ. Ta đã tạo ra một thế chiến lược có thể liên hoàn từ Trị Thiên đến Nam Bộ, tới đồng bằng sông Cửu Long. Ta đã xây dựng được những quả đấm chủ lực rất mạnh và cơ động. Ta đã tạo được quả đấm ở đồng bằng như Khu 9, Khu 8 và đang phát triển. Ta đã tạo được một bàn đạp áp đảo xung quanh Sài Gòn, đó là một chiến lược lớn lắm. Đô thị đã bắt đầu có phong trào quần chúng. Những điều đó chứng tỏ chúng ta mạnh. Trên thế mạnh đó, ta chuẩn bị cho quyết tâm hai năm...

    Ngụy đang xuống dốc về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế do ta tấn công và cả bản thân nó nữa...

    Còn Mỹ thì thế nào? Mỹ đã thất bại nhiều, thất bại cả về chiến lược toàn cầu. Vì vào Việt Nam, Mỹ đã yếu đi, rất nguy hiểm. Nay trở vào nữa thì sẽ trụt xuống không còn gì cả, sẽ mất tất cả. Tuy thế, ta vẫn phải đề phòng. Có thể Mỹ sẽ dùng không quân, hải quân có mức độ. Nếu ta đánh không mạnh, không nhanh mà kéo dài, thì Mỹ sẽ vào mức độ nào đó để cứu vãn cho ngụy không thất bại hoàn toàn.

    Nhưng một điều cần khẳng định là dù Mỹ có vào như thế nào đi nữa ta vẫn quyết tâm đánh, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc. Lý do đơn giản là vì ta không muốn bị nô dịch, mất nước. Ta muốn tự do độc lập và thống nhất...

    Phương châm phương pháp cách mạng của ta là:

    Tấn công nổi dậy, nổi dậy tấn công, ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, tiêu diệt làm chủ, làm chủ tiêu diệt, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

    Năm 1975 phải thế nào?

    - Phải thắng mạnh ở đồng bằng Nam Bộ dính liền với chủ lực miền Đông, tạo liên hoàn từ miền Đông đến đồng bằng sông Cửu Long. Giành nông thôn nhiều hơn, giải phóng nhân dân nhiều hơn. Vây ép Sài Gòn hơn, diệt chủ lực ngụy bảo vệ Sài Gòn để tạo sức ép Sài Gòn mạnh hơn. Làm sao cho từng địa phương mạnh hơn, hoàn thành nhiệm vụ và để đủ sức lợi dụng thời cơ. Phải có cú mạnh ở Tây Nguyên, nhưng có khả năng thì đánh Buôn Ma Thuột. Khu 5, chú ý vùng Bình Định, Đà Nẵng, Trị Thiên - Huế.

    Phải diệt chi khu quận lỵ rồi diệt tiểu khu thị xã. Phải diệt từng trung đoàn, sư đoàn chủ lực của ngụy.

    Năm 1975 làm được như vậy thì mới rõ năm 1976, cho nên năm 1976 là kết quả của 1975.

    Ta còn có khó khăn nhưng khó khăn mấy cũng quyết vượt để đi lên hoàn thành nhiệm vụ. Vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới chúng ta phải giành toàn thắng. Ta có trách nhiệm với nhân dân ta, ta còn có trách nhiệm với nhân dân cả thế giới”.

    Khi kết luận hội nghị, nói về đánh Buôn Ma Thuột anh Ba chưa nói tiếng nói cuối cùng, tôi hiểu có lẽ anh dành quyết tâm ấy cho Quân ủy Trung ương. Trước đó tôi đã có dịp trình bày với anh Ba rằng để giải phóng toàn tỉnh Phước Long với địa hình phức tạp và địch đã chú ý phòng ngự, B2 đã dùng tất cả có 2 sư đoàn kết hợp với lực lượng địa phương tại chỗ. Hai sư đoàn đó không đầy đủ, ghép các trung đoàn lẻ lại, không phải là những đơn vị mạnh và có rất ít pháo lớn và xe tăng chi viện, ta lại đánh kéo dài, lần lượt, không còn bất ngờ. Thế thì đánh Buôn Ma Thuột, ta có ba sư đoàn và xe tăng pháo lớn mạnh, nhất định ta chắc thắng. Xong hội nghị tôi hết sức phấn khởi và tin tưởng. Chỉ còn chờ và mong được biết Quân ủy Trung ương có hạ quyết tâm đánh Buôn Ma Thuột hay không để có cơ sở làm kế hoạch đợt hai mùa khô cho B2. Vì đánh hay không đánh Buôn Ma Thuột sẽ ảnh hưởng khác nhau đến toàn chiến trường miền Nam. Tôi tin rằng, nếu đánh Buôn Ma Thuột thì tốc độ chiến tranh sẽ nhanh lên nhiều. Vì vậy mà kế hoạch của B2 phải phù hợp nếu không thì không kịp với thời cơ. Tôi quyết định tìm cách biết rõ vấn đề này trước khi lên đường về chiến trường.

    Ngày 15/01/1975, Đoàn chúng tôi còn gặp anh Ba để anh có chỉ thị cuối cùng. Lần này anh đi vào những vấn đề rất cụ thể, về cách đánh, về diệt đơn vị địch, phá dự trữ của chúng. Về bố trí lực lượng của ta vùng Sài Gòn, biệt động, đặc công phải mạnh. Anh vẫn nhấn mạnh lực lượng tổng hợp, chiến lược tổng hợp. Anh nói về quả đấm chủ lực phải thế nào, quả đấm đồng bằng thế nào, và đặc biệt nói nhiều về đô thị. Anh nói ở đô thị phải hết sức chú trọng phong trào quần chúng, phải thành cao trào. Mũi nhọn là lực lượng phụ nữ, thanh niên, học sinh, sinh viên, là lực lượng công đoàn. Lãnh đạo, chỉ đạo chính trị ở Sài Gòn phải sắc bén lắm mới được vì chính trị thay đổi rất nhanh, từng ngày, từng giờ, phải kiên quyết và sắc sảo như V.I. Lênin đã làm.

    Giành được chính quyền đã khó nhưng giữ được chính quyền còn khó gấp trăm, cho nên ngay từ giờ phải suy nghĩ lo tổ chức ngay. Phải quyết tâm và tin tưởng thắng lợi to năm 1975.

    Ngày 20/01/1975, chúng tôi còn gặp anh Lê Đức Thọ để anh dặn dò thêm một số việc. Anh nói: “Kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo từ trước đến nay vẫn là đánh giá cho hết địch ta”. Và anh cho biết đã quyết tâm đánh Buôn Ma Thuột rồi. Anh kể: “Tôi đã đến cuộc họp Thường trực Quân ủy Trung ương, đã truyền đạt quyết tâm của Bộ Chính trị là đánh Buôn Ma Thuột. Chỉ chấp hành lệnh không thảo luận gì nữa cả.

    Trong quyển Đại thắng mùa xuân, Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng viết: “Cuộc họp vừa bắt đầu thì đồng chí Lê Đức Thọ bất ngờ mở cửa vào và ngồi họp với chúng tôi. Sau chúng tôi hiểu rằng, Bộ Chính trị chưa thật yên tâm vì thấy ý định đánh Buôn Ma Thuột chưa thể hiện rõ ràng trong kế hoạch tác chiến, cho nên đã cử đồng chí Lê Đức Thọ đến tham gia ý kiến với chúng tôi là nhất quyết phải đánh Buôn Ma Thuột. Đồng chí Lê Đức Thọ nói rất sôi nổi: “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Buôn Ma Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được Buôn Ma Thuột là thế nào?””.

    Chúng tôi rất vui mừng về quyết tâm trên và từ đó trở đi, lúc nào tôi cũng suy nghĩ hình dung về sự diễn biến có thể của toàn chiến trường miền Nam và kế hoạch hoạt động của B2 thế nào cho ăn khớp, ở đồng bằng, ở miền Đông, ở Sài Gòn. Chắc chắn là phải chạy, không thể thư thả được. Tôi nhớ lại câu nói không thể quên của anh Ba trong thời kỳ khẩn trương của chiến tranh là: “Phải vừa chạy vừa sắp hàng, không phải đợi sắp hàng xong mới chạy”.

    Ngày 24/01/1975, đoàn chúng tôi lên đường về B2 với tâm trạng rộn ràng náo nức. Đầu óc tôi không bao giờ dứt suy nghĩ về các mục tiêu phải đánh, về sử dụng lực lượng thế nào. Nhiệm vụ rất nặng nề đang chờ đợi. Phải đi nhanh, về gấp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #94 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2023, 08:39:09 am »

*
*      *


    Kết quả hoạt động đợt 1 mùa khô 1974-1975 của toàn chiến trường B2 thật là rực rỡ, thắng to, vượt mọi chỉ tiêu đề ra. Sự lo lắng của tôi trước đây rằng, trong đợt này chỉ riêng B2 hoạt động có thể sẽ gặp nhiều khó khăn do địch tập trung đối phó, giờ đây không xảy ra vì rõ ràng địch rất lúng túng, bị động, suy yếu nghiêm trọng. Mặc dù địch cũng đã tập trung sử dụng không quân của cả Quân khu 2 và 4 để đối phó ta ở Quân khu 3, riêng ở Phước Long và Bình Tuy, có ngày đến trên 100 lần chiếc phi cơ chiến đấu, có lúc sử dụng đến 160 trực thăng, nhưng không giải quyết được gì ở chiến trường. Về bộ binh chúng đã điều Liên đoàn 4 biệt động quân từ Kon Tum về Long Bình, sau đó thay đổi bằng Liên đoàn 8 biệt động quân từ Dục Đức vào, điều Lữ đoàn 4 dù rồi Lữ đoàn 2 dù từ Đà Nẵng về căn cứ Hoàng Hoa Thám 1, Lữ đoàn 4 thủy quân lục chiến từ Trị Thiên về căn cứ Sóng Thần 2, nhưng không phải để phản công mà là để lo tăng cường phòng ngự hướng bắc và đông bắc thủ đô Sài Gòn của chúng. Kết quả cụ thể riêng một đợt từ tháng 12/1974 đến tháng 02/1975 đã hơn hẳn bất cứ đợt hoạt động nào từ trước đến nay. Ta giải phóng hoàn toàn 1 tỉnh, 4 huyện, 72 xã, 489 ấp, và giải phóng cơ bản 52 xã khác. Số dân mới giải phóng là 584.800 người. Đã tiêu diệt 22 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng 25 tiểu đoàn ngụy, diệt 1.548 đồn bót trong đó có 1 tiểu khu, 8 chi khu, 3 yếu khu, 88 phân chi khu. Đã phá hủy 108 máy bay, 110 tàu, 494 xe các loại và diệt 56.315 tên địch, thu 12.122 súng, 786 máy vô tuyến điện, 118 xe và 2 máy bay.

    Mặc dù những con số ấy rất có ý nghĩa, nó vẫn chưa nói được hết giá trị thắng lợi của đợt 1 mùa khô 1974-1975 của chiến trường B2. Thắng lợi ấy không phải chỉ là kết quả của 1 đợt mà nó là sự phát triển hoàn toàn phù hợp từ thắng lợi mùa khô năm 1974 và liên tục cả mùa mưa. Trung ương Cục và Quân ủy Miền phán đoán trước được thắng lợi này khi đã nhận thức được sự chuyển biến tình hình diễn ra trên chiến trường giữa ta và địch khi kết thúc mùa khô năm 1974, từ đó thúc đẩy tình hình qua hoạt động tiếp tục mùa mưa và đến đầu mùa khô này. Quân và dân B2 đã hiểu được địch, đã biết được mình, để nỗ lực tấn công và nổi dậy không mệt mỏi từ mùa khô năm trước đến mùa khô này, càng đánh càng mạnh, càng mạnh về lực thì càng lên về thế. Trong lúc đó, ngụy đã bắt đầu suy sụp từ mùa khô 1974, bị đánh liên tục từ đấy đến nay, càng bị suy sụp nặng, không còn cách gì gượng lại được. Thực tế đã chứng minh, nhận định đánh giá tình hình của Trung ương Cục là chính xác và từ đó có chủ trương chính xác.

    Lần đầu tiên trong hàng chục năm chiến tranh, một tỉnh (Phước Long) hoàn toàn được giải phóng mà tỉnh đó lại là ải địa đầu của Quân khu 3 địch, là một quân khu mạnh vào bậc nhất nhì, có nhiệm vụ bảo vệ thủ đô, trung tâm đầu não chiến tranh của Mỹ - ngụy. Sự kiện ấy diễn ra trong lúc ngụy còn trong tay một lực lượng trên một triệu quân về thực tế và được trang bị mạnh bằng vũ khí, phương tiện Mỹ, được Mỹ xây dựng, huấn luyện và chỉ huy để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Thế mà Mỹ - ngụy không hề điều được một đơn vị quân chủ lực nào để phản ứng đối phó bảo vệ cho cửa ngõ vào Sài Gòn. Và cả Mỹ nữa, cũng đành đứng mà nhìn ngụy, đứa con mang nặng đẻ đau cả hàng chục năm trời, bước vào ngưỡng cửa của thời kỳ bại vong nguy hiểm. Phước Long giải phóng khác nào như thanh gươm đang kề sát vào cổ Sài Gòn, mà ngụy quyền Sài Gòn giống như một tên ngoan cố keo kiệt quá cỡ, thà chết chứ không chịu để mất một tấc đất nào, có bao nhiêu quân đều rải ra phòng giữ khắp hang cùng ngõ hẻm, rút cục ở đâu bị đánh thì ở đó chịu chết, còn đâu quân mà cứu viện. Thôi thì đành dở trò cười “Ba ngày toàn quốc để tang” cho Phước Long! Đây chính thực là để tang cho cái chế độ buôn dân bán nước của ngụy Thiệu, cái chế độ đã bắt đầu thời kỳ diệt vong từ Phước Long vậy.

    Cũng trong đợt 1 mùa khô này, một sự kiện nổi bật khác nữa làm cho Mỹ -ngụy run sợ, đó là đòn tấn công và nổi dậy của quân dân ta ở đồng bằng sông Cửu Long đã nói lên khả năng xã giải phóng xã, quận giải phóng quận, tỉnh giải phóng tỉnh là thực tế, là một chủ trương đúng đắn. Chỉ trên 2 tháng, ta đã tiêu diệt 15 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 34.400 tên, phá tan 168 đồn bót trong đó có 2 chi khu quận lỵ, 2 yếu khu, 11 căn cứ, 65 phân chi khu. Bằng tấn công của lực lượng vũ trang, ba thứ quân, kết hợp với cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân, ta đã giải phóng hoàn toàn 51 xã, 414 ấp, giải phóng cơ bản 49 xã khác. Số dân giải phóng là 48.900 người. Đặc biệt khu vực giành thắng lợi lớn, phong trào cách mạng lên mạnh là Trà Vinh, Vĩnh Long, trọng điểm số 1 của Quân khu 9, vùng ruột quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long. Nếu tướng Mỹ Garvin có theo dõi sát tình hình chiến sự, hẳn đã tỉnh ngộ ra rằng cái phương án co cụm chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long của y đã bị phá sản từ lúc chưa kịp thực hiện.

    Ngay ở Sài Gòn và vùng ven là nơi địch hết sức chú trọng củng cố phòng ngự, chống nổi dậy, là nơi mà càng thua, địch càng điều thêm lực lượng về đây để giữ mạng sống cho chúng, phong trào cách mạng cũng sôi nổi trong đợt này và ta cũng giành được thắng lợi đáng kể. Trong thời gian đó ở vùng ven, ta đã giải phóng hoàn toàn 3 xã, 37 ấp, 17.000 dân và giải phóng cơ bản 4 xã nữa. Địch phải co lại trong đồn bót và nhiều nơi ban đêm chúng không dám ngủ trong đồn, không tin được vào công sự và vũ khí của chúng. Kìm kẹp của ngụy quyền bị lỏng, nhân dân đi lại làm ăn tự do hơn, thậm chí dân trong nội thành đã ra vùng ven để liên hệ với cách mạng, nhận nhiệm vụ của cách mạng. Đây là một tình hình gần giống như hồi Tết Mậu Thân. Hoạt động ở đây không có chủ lực, không có xe tăng, pháo lớn. Ta chỉ có các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương, du kích, nhưng các đơn vị nhỏ tinh nhuệ đó đã phát huy tác dụng vì biết kết hợp chặt chẽ với nhân dân đang khát vọng tự do hòa bình, đứng lên, nổi dậy, làm chủ.

    Trong đợt một mùa khô này ta còn giải phóng được vùng Tánh Linh, Hoài Đức, thuộc tỉnh Bình Tuy để làm bàn đạp sau này cắt đứt lộ 1 và là nơi xuất phát của mũi tấn công vào Biên Hòa và vào Sài Gòn từ hướng Đông. Cũng như ta đã làm chủ một khu vực tương đối rộng dọc tuyến Vàm Cỏ Tây để tạo điều kiện cho lực lượng ta tiến vào cắt đứt đường 4 khi cần thiết, bao vây cô lập Sài Gòn với đồng bằng.

    Ta cũng đã bắt đầu khống chế sân bay Biên Hòa có kết quả mà kẻ địch không có cách nào đối phó. Đặc biệt là trên hướng Bắc Sài Gòn có tầm chiến lược lớn lao, ta đã bịt tai bịt mắt kẻ địch với kết quả chiếm lĩnh cả 2 trung tâm viễn thám và chuyển tiếp truyền tin quan trọng, đó chính là 2 pháo đài của địch, là núi Bà Rá và núi Bà Đen, 2 cao điểm đột xuất.

    Thắng lợi đợt một mùa khô năm 1974-1975 đã giúp chúng ta hiểu rõ kẻ địch của ta hơn, sức lực và khả năng hành động của chúng đến đâu, đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu rõ được ta, khả năng thực tế, biện pháp cách mạng phải tiến hành và chỗ ta đang đi là chỗ nào trên đoạn chót của con đường trường chinh trên một vạn ngày khói lửa.




-----------------------------------------------------------------
1. Cạnh sân bay Tân Sơn Nhất Sài Gòn.
2. Ở vùng ven Sài Gòn.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #95 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2023, 04:30:16 pm »

CHƯƠNG VI
Nghìn năm có một: Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân



    Một dân tộc đã biết đứng lên cầm vũ khí tiến hành cuộc chiến tranh một mất một còn để tự giải phóng cho mình khỏi ách nô lệ thì dân tộc đó cũng biết phải kết thúc cuộc chiến tranh thế nào cho có lợi nhất. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hy sinh chiến đấu kiên cường và cũng đã ký kết Hiệp định Paris, mong chấm dứt chiến tranh trong không khí hòa hợp và hòa giải dân tộc và kết thúc sự can thiệp của Mỹ trong danh dự. Nhưng kẻ thù của chúng ta lại nghĩ khác. Chúng xoay vào một âm mưu thâm độc nhằm đưa cuộc chiến tranh đi đến “tàn lụi” để chúng nắm phần thắng hoàn toàn. Nhưng ở đời, mưu sâu thì họa càng sâu. Mỹ đã đánh giá được sức chiến đấu và lòng dũng cảm của chúng ta, nhưng Mỹ chưa hiểu hết được sự khôn khéo và trí thông minh của con người Việt Nam: tưởng có thể lừa dối được chúng ta. Nếu pháp lý Hiệp định không chấm dứt được chiến tranh thì chỉ còn một phương pháp độc nhất là phải dùng bạo lực cách mạng vậy. Nhân dân ta rất cần hòa bình nhưng là hòa bình thực sự gắn liền với tự do, độc lập dân tộc và phù hợp với lương tri loài người. Với tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân ta và nhân dân thế giới, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra nghị quyết hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước và đi đến thống nhất nước nhà trong hai năm 1975-1976. Chấp hành nghị quyết ấy, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm cụ thể: đánh Buôn Ma Thuột giải phóng Tây Nguyên, tạo ra thời cơ thuận lợi cho giai đoạn cuối cùng kết thúc cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài 30 năm.

    Đã qua trọn hai năm từ khi có Hiệp định Paris, thế mà tiếng súng chưa hề dứt bất cứ ở nơi nào khắp các chiến trường. Máu người Việt Nam vẫn tiếp tục đổ, chỉ có người Mỹ và chư hầu thì rút về nước một cách an toàn vì chúng ta thi hành Hiệp định, còn Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” mà không phải “Hòa bình hóa Việt Nam”. Con số “hai năm” lại có sự trùng hợp. Hiệp định Giơnevơ quy định hai năm tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, nhưng Mỹ -Diệm đã xé toạc Hiệp định khi vừa ký ráo mực: Hai năm qua đi mà trên cả miền Nam lúc ấy cũng không ngớt tiếng súng của quân đội Diệm bắn, giết những người yêu nước trong các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”. Nhưng có điều khác nhau căn bản của hai năm hồi ấy và hai năm ngày nay. Đó là sau Hiệp định Giơnevơ toàn thể quân đội ta đã phải tập kết hết ra miền Bắc, chỉ còn độc nhất quân đội Diệm ở miền Nam, tự do nổ súng vào những người tay không. Còn sau Hiệp định Paris, quân đội ta vẫn đứng đây, xen kẽ với quân đội Thiệu trên cả các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị. Chúng không thể tự do hành động vi phạm Hiệp định mà không bị trừng trị. Mỗi một mưu đồ đen tối của chúng đều không lọt qua được con mắt cảnh giác của nhân dân ta, của lực lượng vũ trang giải phóng của ta. Suốt mùa khô 1973-1974, rồi mùa mưa, rồi lại mùa khô 1974-1975, hết sự kiện vi phạm này đến sự kiện vi phạm khác, từ đòn trừng trị này đến đòn trừng trị khác, ngày nay thế và lực đôi bên đã thay đổi: ta mạnh hơn hẳn địch. Tỉnh Phước Long giải phóng như một cái mốc sáng màu da cam nên cả ta và địch đều nhìn quá rõ. Nhưng nhìn rõ rồi thì phải làm gì chứ. Đến lúc đó thực sự còn đủ thì giờ để nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định chấm dứt chiến tranh - riêng tôi nghĩ như vậy. Cả hai phái đoàn ngoại giao của ta vẫn kiên trì “bám trụ”, một ở Paris lộng lẫy và một ở Tân Sơn Nhất, “một tô giới xã hội chủ nghĩa giữa thủ đô Sài Gòn” như các nhà báo phương Tây đã gọi. Nhưng thời gian đã trôi qua, hết ngày này sang ngày khác, tiếng súng ở Buôn Ma Thuột phải nổ. Và thế là hết, xe đã mở hết tốc lực từ trên dốc cao lao xuống rồi thì còn làm sao mà cản lại được.

    Tôi hình dung trận đánh Buôn Ma Thuột là như vậy: xe đã nổ máy rồi. Về hiệu quả cũng có thể vì nó như một ngòi pháo làm nổ tan xác “quả pháo ngụy quân ngụy quyền” đã suy yếu nghiêm trọng nhưng lại vẫn hết sức chủ quan ngoan cố một cách lạ lùng.

    Từ lúc biết Bộ Chính trị đã ra lệnh đánh Buôn Ma Thuột, tôi tin tưởng chắc chắn rằng trận đánh này sẽ giành thắng lợi rực rỡ, vì rằng lực lượng ta dùng vào trận này có ưu thế gấp nhiều lần quân địch tại chỗ cả về số lượng cũng như chất lượng. Ta lại đánh một đòn bất ngờ sấm sét vào phía sau không được phòng bị, quân ngụy ở đây phần lớn là quân ở hậu cứ của sư đoàn và trung đoàn. Địch đã tập trung quân lực và sự chú ý mọi mặt ở phía trước, hướng Pleiku và Kon Tum. Quan điểm bố trí phòng ngự này của địch xuất phát từ dự đoán hướng tấn công chủ yếu của ta vào Kon Tum - đã có từ trước và vẫn giữ cho đến tận ngày mất Buôn Ma Thuột. Và như trên kia tôi đã ví như cây bị đốn từ gốc, Buôn Ma Thuột bị mất thì toàn bộ Tây Nguyên không có cách nào giữ được. Thiệu không ra lệnh rút bỏ ngay 2 tỉnh Pleiku và Kon Tum, mong lấy quân về giữ các tỉnh ven biển thì không lâu đâu, hai tỉnh ấy cũng sẽ bị mất thôi. Sau này khi thất thủ Tây Nguyên, rồi tan vỡ cả ở ven biển và thất bại hoàn toàn, Mỹ vội vã che giấu nguyên do chính về thất bại đau đớn của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, ở Đông Dương đã từng làm suy yếu và rối loạn cả nước Mỹ, bằng cách đổ lỗi cho Thiệu là tự ý rút bỏ Tây Nguyên mà không chờ xin ý kiến Mỹ. Một số nhà báo phương Tây phụ họa theo luận điệu tuyên truyền này của Mỹ, thậm chí một số cán bộ của ta cũng tưởng như vậy thật, vì không hiểu rõ ý nghĩa chiến dịch và chiến lược của đòn tấn công Buôn Ma Thuột. Sự thất bại thảm hại của Mỹ - ngụy nằm ngay trong mục đích phi nghĩa phản tiến bộ, chống lại lương tri loài người, của cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và thể hiện bằng đường lối chiến lược bị động phòng ngự, giữ dân, kìm dân, đóng đồn giữ đất khắp mọi nơi. Khi tỉnh ngộ, muốn co lực lượng về cụm ở vùng chiến lược quan trọng, có dồi dào nhân, vật lực, vùng Nam Bộ cũ, thì đã quá muộn rồi. Đối phương đã tính trước nước cờ, không để cho Mỹ - ngụy tự do co và cụm nữa, bị chia cắt và bị đánh tơi bời, nổi dậy khắp nơi cùng trong một thời gian, làm tan rã toàn bộ một đội quân cả triệu người của ngụy.

    Đồng chí Lê Duẩn trước đây đã gợi lên câu hỏi về chiến lược mà tôi đã thuật ở đoạn trên: “Đánh tiêu diệt toàn bộ hay tan rã toàn bộ”. Nói đánh tiêu diệt toàn bộ không có nghĩa là tiêu diệt đến tên lính địch, đến đơn vị địch cuối cùng, mà là phải có một hay nhiều đòn liên tiếp tiêu diệt cho được tập đoàn lực lượng chủ yếu của địch thì mới làm cho địch hết khả năng đề kháng và ta thắng lợi hoàn toàn. Nói đánh cho tan rã toàn bộ không có nghĩa là không có đòn thối động nào đó làm cho quân địch suy sụp nhanh không còn ý chí và khả năng chống cự hay phản kích mà đi đến tan rã hoàn toàn, thất bại hoàn toàn - mặc dù còn đông quân và nhiều vũ khí trang bị. Đòn thối động nói đây không nhất thiết là phải tiêu diệt cho được tập đoàn chủ yếu quân địch mà là tiêu diệt một bộ phận địch nào đó, chiếm lĩnh một số địa phương có tầm chiến lược nào đó, tạo ra một tình hình quyết định làm địch mất hết tinh thần, ý chí chiến đấu, hỗn loạn, khi bị tấn công và nổi dậy liên tiếp sẽ tan rã từng mảng rồi toàn bộ. Tùy theo mỗi cuộc chiến tranh cụ thể, tùy theo giai đoạn chiến lược cụ thể mà chọn chủ trương và phương pháp. Đây có thể nói là một nghệ thuật trong điều khiển chiến tranh. Nghệ thuật ấy biểu hiện cụ thể ngay trong cách tổ chức phân chia chiến trường, tổ chức bố trí và sử dụng lực lượng tổng hợp, cách đánh hợp đồng các loại lực lượng, các địa phương trong từng thời gian nhất định. Đó là nghệ thuật tạo ra và phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả nước cộng với sức mạnh của thời đại. Đó là nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo tổng tấn công và nổi dậy trong một cuộc chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang mà Đảng ta đã tiến hành. Khi hiểu các bí quyết này thì sẽ thấy rằng sự thất bại của Mỹ và ngụy không phải là ngẫu nhiên hay kỳ lạ gì cả. Số phận của chúng đã được định đoạt do một thế trận chiến lược đã được bố trí vững chắc và từng bước đưa chúng đi vào con đường dẫn tới cái huyệt đã đào sẵn. Hoàn toàn không phải do một quyết định sai lầm nhất thời nào đó của Thiệu trong chiến dịch Tây Nguyên hay trong bất cứ một chiến dịch trước đó hay tiếp theo nào. Cả Mỹ và Thiệu cùng gây ra chiến tranh, cùng chủ quan ngoan cố, sai lầm cả về chính trị và chiến lược và cùng bị vùi dập trong hố thất bại, không thể đổ thừa cho nhau. Còn về phía ta, sự sáng suốt và đúng đắn trong mục tiêu cách mạng, trong đường lối chiến lược, trong phương pháp đấu tranh cách mạng, trong cách kết thúc một cuộc chiến tranh của Đảng ta đã đưa dân tộc lên con đường vinh quang đại thắng.

    Khi suy nghĩ về trận đánh Buôn Ma Thuột, về chiến dịch Tây Nguyên, về diễn biến của tình hình toàn miền Nam sau Tây Nguyên, đặc biệt là diễn biến có thể của chiến trường B2, tôi vừa phấn khởi vừa rất sốt ruột. Tôi hiểu rằng tình hình sẽ diễn biến rất nhanh chóng, chiến trường sẽ ảnh hưởng sâu rộng, thời cơ sẽ vô cùng quý giá, đòi hỏi những hành động táo bạo và kịp thời. Thế mà chúng tôi có ít thời gian quá, vỏn vẹn một tháng trời sau khi từ Hà Nội về đến căn cứ, để phổ biến nghị quyết Bộ Chính trị và triển khai mọi mặt công tác cho kịp nổ súng vào ngày “N” phối hợp toàn miền, theo lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh.

    Về đến nhà ngày 02 thì ngày 03/02/1975 tôi làm việc với tham mưu, hậu cần, chính trị Miền, với Quân đoàn 4, nắm tình hình địch và ta ở các quân khu, soát xét lại kế hoạch đợt 2 mùa khô của B2 để chuẩn bị các cuộc họp của Trung ương Cục và của Quân ủy Miền. May thay kế hoạch mùa khô của B2 về cơ bản là đúng hướng. Trong cuộc hội nghị của Trung ương Cục từ ngày 13 đến ngày 16/02/1975, nhiều vấn đề cụ thể đã được thảo luận và đặt ra để giải quyết. Trong khi thông qua kế hoạch đợt 2 mùa khô của toàn B2, các đồng chí trong Trung ương Cục đều lo lắng đến mũi vây ép và tấn công phía nam Sài Gòn. Các đồng chí nhấn mạnh đến việc sớm đẩy mạnh hoạt động của ta vùng Chợ Gạo, Gò Công và nam Long An vì ở đó phong trào ta chưa mạnh, chưa đảm bảo cho lực lượng vũ trang ta tiến lên áp sát Quận 4, 7 và 8 Sài Gòn. Một lo lắng nữa là lực lượng vũ trang, đặc biệt là chủ lực tại chiến trường, một chiến trường chủ yếu trong giờ phút này còn quá yếu. Việc ta xin Trung ương thêm lực lượng chưa vào kịp thời, dự bị chiến lược còn để quá xa. Ngoài kế hoạch quân sự, hội nghị nhấn mạnh phải làm ngay các kế hoạch nổi dậy của quần chúng, đảm bảo sử dụng được lực lượng tổng hợp của nhân dân cùng lực lượng vũ trang, tổ chức việc chỉ huy thống nhất bao gồm cả các đồng chí trong cấp ủy Đảng, quân sự, chính quyền, thanh niên, phụ nữ, nông hội và binh vận ở từng xã, từng huyện, từng tỉnh, nhất là ở Khu 8 và Khu 9 vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây thực sự là kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy, phải đảm bảo xã tự giải phóng xã, huyện tự giải phóng huyện và tỉnh tự giải phóng tỉnh. Hội nghị cũng bàn cụ thể vấn đề tổ chức là làm việc của các ban quân quản khi có thị xã được giải phóng. Rút kinh nghiệm những việc đã xuất hiện mà ta phải giải quyết ở thị xã Phước Long khi mới giải phóng như vấn đề tổ chức bảo đảm an toàn và chăm lo đời sống của nhân dân, đảm bảo sinh hoạt, sản xuất bình thường, trừng trị bọn gián điệp và phá hoại... để chỉ đạo cho các địa phương kịp thời. Cuối cùng là hội nghị bàn biện pháp phổ biến quán triệt nghị quyết Bộ Chính trị mà không làm lộ bí mật. Giữ được bí mật quân sự, bí mật quốc gia bất cứ ở giai đoạn nào cũng là đảm bảo cho thành công. Không bàn kỹ biện pháp giữ bí mật, chưa làm đã lộ, mới dự kiến mà ai cũng biết là một trong những lý do của thất bại không thể tha thứ. Đây là vấn đề khó khăn. Các cấp các ngành phải thông suốt nhiệm vụ của mình, được động viên phấn khởi để nỗ lực giành thắng lợi lớn nhất, đi vào thực hiện kế hoạch một cách tốt nhất mà không làm cho địch hiểu biết và sẵn sàng đối phó lại. Anh Bảy Cường đã kết luận một cách dứt khoát: Phải đảm bảo làm thực sự mà không nói hay nói rất ít. Chống lại lối ba hoa một tấc đến trời, chưa làm đã nói tung ra, nói mười làm chỉ một. Phải kiên quyết:

    - Không nói gì về hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ.

    - Không nói gì về kế hoạch 2 năm 1975-1976.

    - Không nói gì về tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

    - Không nói gì về nghị quyết mới, xem như chỉ có Nghị quyết 21, nghị quyết mà địch đã nắm và đến nay chúng chỉ biết tới đó. Chỉ phổ biến công tác từng bước chặt chẽ nhưng kịp thời.

    Trên tinh thần và nội dung hội nghị Trung ương Cục này mà chúng tôi tiến hành cuộc hội nghị Quân ủy Miền vào cuối tháng Hai để triển khai toàn bộ công tác quân sự.

    Trước khi bước vào đợt hai mùa khô, đầu tháng 3 theo quy định chung của Bộ Tổng Tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi. Cái đau xót nhất của Mỹ - ngụy là công việc bình định mà chúng đã bỏ ra bao nhiêu công sức và tiền của, đến nay đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất lại là ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi đông dân và giàu có mà chúng mong làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hành quân tái chiếm và giải tỏa trong tháng Giêng ở biên giới Kiến Tường, Chợ Gạo - Mỹ Tho, Thầy Phó - Trà Vinh, Thới Bình - Cà Mau, khu vực Rạch Giá đi Hà Tiên mà không có kết quả, còn bị thiệt hại, ở đồng bằng địch phải chuyển qua chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào trước sau dịp Tết Âm lịch (khoảng 10/02/1975). Ở miền Đông Nam Bộ chúng định tập trung quân, cố đánh chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “chiến dịch 271” nhưng không thành vì bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực lượng đủ sức. Chúng xoay qua nỗ lực chiếm lại núi Bà Đen - một vị trí thiết yếu cho chúng không những đối với công cuộc phòng thủ cả miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn mà còn để bảo vệ cho Campuchia - Phnôm Pênh (Lonnol) nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Giêng, Quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của Bộ Tổng Tham mưu tham dự đã sử dụng lực lượng của tiểu khu Tây Ninh và Sư đoàn 25 với sự yểm trợ cao của pháo binh (đổ đồng trên 6.000 quả/ngày) và phi cơ (84 chiếc/ngày) đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29 trực thăng đổ quân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng đều bị đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều phi cơ và trực thăng... Rốt cục địch đành nhận thất bại lui về phòng thủ Tây Ninh.

    Thắng lợi rất có ý nghĩa của trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. Đó là Tiểu đoàn trinh sát 47 trực thuộc Bộ Tham mưu Miền được tăng cường 2 đại đội đặc công của Trung đoàn 429, một đơn vị súng máy cao xạ và một đơn vị cối, tất cả chỉ trên 300 cán bộ và chiến sĩ. Hiểu rõ giá trị của trận đánh, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ định đồng chí Ba Trần - Tham mưu phó Miền trực tiếp chỉ đạo, các đồng chí Sơn Bích và Chín Lộc - Trưởng và Chính trị viên phòng 2, phải thông qua phương án tác chiến và các đồng chí Huỳnh Long - Phó phòng 2, đồng chí Hải - Trưởng trinh sát trực tiếp chỉ huy trận đánh. Đêm 03/12/1974, đơn vị tấn công vị trí từ 3 hướng. Hướng tây nam là mũi chính do đồng chí Tộ làm mũi trưởng, đồng chí Thăng làm mũi phó và 5 chiến sĩ đã thọc thẳng vào trung tâm cứ điểm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Nhưng quân địch được phi cơ và trực thăng chi viện đã phản kích và giữ được vị trí. Toàn tổ đã hy sinh anh dũng. Được hướng dẫn của trên, đơn vị chuyển qua bao vây đánh lấn, chặt đứt mọi nguồn tiếp tế, không cho một trực thăng nào đổ bộ được. Quân địch nguy khốn buộc phải rút chạy vào cuối tháng 12 nhưng bị diệt và bắt sống gần hết. Vì là một cứ điểm quan trọng được trang bị hiện đại để quan sát từ xa khắp vùng rộng lớn và chuyển tiếp truyền tin cho cả 2 chiến trường Việt Nam và Campuchia nên cả Bộ Tổng Tham mưu và Quân đoàn 3 ngụy quyết tâm chiếm lại cho kỳ được, bằng những trận đánh vô cùng ác liệt. Nhưng đơn vị trinh sát, đặc công nhỏ của ta đã thắng một lực lượng binh chủng hợp thành lớn của địch, lớn hơn ta gấp cả hàng chục lần. Sự thắng lợi ở đây là của cả thế và lực, của sự khôn khéo và trí thông minh, lòng dũng cảm và kỹ năng chiến đấu, của ý chí và quyết tâm, của sự chịu đựng khó khăn gian khổ và sự hy sinh quên mình vì nghĩa lớn của dân, của nước. Phải chăng trên ý nghĩa này, trận đánh là một hình ảnh thu nhỏ của toàn bộ cuộc chiến tranh giải phóng của ta chống lại đế quốc Mỹ: ít đã thắng nhiều, nhỏ đã thắng lớn, tài trí và nghĩa nhân đã thắng vũ phu và cường bạo, chính đã thắng tà. Trận đánh càng có giá trị vì nó diễn ra vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, bịt tai mắt của địch cho ta chuẩn bị tấn công vào sào huyệt cuối cùng của chúng.

    Trong thời kỳ đó, tình báo ta báo cáo rằng địch đã phát hiện ý định của ta vào cao điểm mùa khô năm 1975 từ Tết Ất Mão cho đến tháng 6/1975: Ta chủ yếu là đánh phá công cuộc bình định của chúng mà trọng điểm là đồng bằng sông Cửu Long, tiêu diệt và làm suy yếu quân ngụy, buộc Thiệu từ chức, thực hiện giải pháp chính trị thành lập Chính phủ liên hiệp. Hoặc có thể tổng tấn công, đánh chiếm một số thành phố Quảng Trị, Kon Tum, Tây Ninh, Long Khánh, Kiến Tường, Chương Thiện. Ngày 18/02/1975 tại Phủ Tổng thống, Bộ Quốc phòng ngụy đã thuyết trình về tình hình quân sự và dự đoán:

    - Tại Quân khu 1 ta sẽ tấn công và bức rút các quận ly cận sơn làm ung thúi đồng bằng, pháo kích phi trường Đà Nẵng, lấn chiếm thị xã Huế.

    - Tại Quân khu 2 ta sẽ chốt chặn phong tỏa lâu ngày các lộ 1, 19, 14, 21, cô lập và tấn công các tỉnh Kon Tum, Pleiku.

    - Tại Quân khu 3 ta sẽ tấn công chiếm thị xã Tây Ninh, bức rút Chơn Thành, Phú Giáo, Tri Tâm và cô lập Sài Gòn bằng chốt chặn các đường 1, 4, 20, 15.

    Rồi kết luận:

    Ta sẽ phát động chiến dịch Xuân Hè tháng 3/1975 nhằm thực hiện kế hoạch mấu chốt trong năm 1975 là đánh phá mạnh mẽ kế hoạch bình định, giành đất, giành dân, tiêu hao tiềm năng quân sự của chúng. Quân khu 2 là trọng điểm. Các quân khu khác là phối hợp. Hiện nay sự chuẩn bị của “cộng sản” đã gần hoàn tất.

    Khắp các chiến trường chúng tăng cường công tác phòng thủ, tung trinh sát thăm dò và theo dõi các lực lượng của ta. Chúng khẩn trương khôi phục các đơn vị vừa qua bị thiệt hại nặng và bị tiêu diệt. Địch liên tục báo động cho các cấp là ta sẽ tấn công vào dịp Tết Âm lịch rồi sau đó thông báo là ngày 14/02/1975 mở đầu, rồi lại thông báo là ngày 20/02/1975... Chúng đặc biệt chú trọng hướng Chương Thiện ở miền Tây, Kiến Tường ở miền Trung, Tây Ninh, Hậu Nghĩa và Long Khánh ở miền Đông Nam Bộ. Phần lớn lực lượng của Sư đoàn 25 tập trung lên khu vực thị xã Tây Ninh. Sư đoàn 18 điều hết qua phía đông Sài Gòn quanh Xuân Lộc. Dùng quân dù và biệt động tích cực sục sạo vùng ven phía bắc Sài Gòn.

    Nói chung vào cuối tháng 02, đầu tháng 3 quân địch đã biết chắc ta sẽ mở đợt tấn công cao điểm mùa khô, chúng đã có kế hoạch dự phòng sẵn sàng đối phó lại. Nhưng chúng vẫn không rõ quy mô và phương thức tấn công, không biết thời gian nào bắt đầu, đoán sai hướng chủ yếu tấn công của ta. Trong lúc đó tinh thần sĩ quan và binh lính của chúng tiếp tục hoang mang suy yếu, rất căng thẳng, không tin tưởng có khả năng đối phó lại ta. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền lủng củng. Thiệu, Khiêm mâu thuẫn nhau, Kỳ lăm le chờ thời cơ đảo chính, lên nắm quyền. Mỹ phải tìm mọi biện pháp để giúp Thiệu, tránh xáo trộn nguy hiểm về chính trị. Martin -Đại sứ Mỹ và Polgar - trùm CIA Mỹ ở Sài Gòn hoạt động ráo riết, lo lắng và kịp thời chặn tay Kỳ, khuyên Khiêm, trấn áp phe phái đối lập, bảo vệ Thiệu, che chở cho chế độ Thiệu ngay ở Mỹ, đối đầu cả với dư luận nhân dân Mỹ, với Quốc hội Mỹ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #96 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2023, 04:31:45 pm »

    Tại Sài Gòn phong trào đấu tranh của quần chúng cũng ngày càng lên mạnh, đòi cứu đói, chống sa thải công nhân, đồng bào “lánh cư” đòi cấp phát gạo, phong trào phụ nữ đòi quyền sống cũng đấu tranh sôi nổi, các nhà báo chống việc đóng cửa 5 tờ báo đối lập và bắt hàng chục ký giả. Đã có những cuộc biểu tình, những cuộc tuyệt thực đòi thả tù chính trị, đòi Thiệu từ chức và lập một chính phủ thi hành Hiệp định Paris.

    Sau khi mất Phước Long, mất cứ điểm núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh bị uy hiếp và nhiều tin đồn ta sẽ giải phóng tỉnh Tây Ninh để làm thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tình hình ở thị xã này rất xáo trộn. Một bộ phận nhân dân lo sợ chiến trận diễn ra sẽ bị chết chóc nên đã lánh nạn về vùng nông thôn, vùng cách mạng làm chủ và cả về Sài Gòn. Dân sống gần các cứ điểm quân sự ngụy đã dãn xa để khỏi bị vạ lây. Các nhà lãnh đạo của đạo Cao Đài, biết rõ quân ngụy không còn bảo vệ họ nổi mà có cơ tòa thánh bị tàn phá nên đã ra tuyên bố “trung lập”, vận động ngụy quyền rút lực lượng ngụy quân, cả phòng vệ dân sự ra khỏi “thánh địa” mà lâu nay chúng dựa vào đấy chống lại quân giải phóng.

    Ở An Giang, đạo Hòa Hảo cũng lập lực lượng vũ trang riêng biệt để tự bảo vệ và để thực hiện ý đồ chính trị riêng khi Thiệu sụp đổ. Ngày 30/01/1975, Thiệu đã ra sắc lệnh giải tán Tổng đoàn bảo an của Hòa Hảo, không chịu để “một quân đội trong một quân đội”. Vì vậy đã nổ ra cuộc xung đột giữa lực lượng vũ trang Hòa Hảo và cảnh sát của Thiệu ở Sa Đéc, Kiến Phong, Long Xuyên. Cuộc đàn áp đẫm máu của Thiệu đã làm nhiều người bị thương vong, hàng trăm bảo an Hòa Hảo bị bắt trong đó có cả những người cầm đầu.    

    Như vậy là bước vào đợt 2 mùa khô 1974-1975, trên toàn miền Nam mà đặc biệt là trực tiếp ở chiến trường B2, ngụy Thiệu đang đứng trước một tình hình hết sức rối rắm cả về quân sự, kinh tế, chính trị và xã hội. Trên cơ sở kế hoạch đợt 2 mùa khô đã được Trung ương Cục thông qua, Bộ Tư lệnh Miền đã giao nhiệm vụ và thông qua kế hoạch của Quân đoàn 4, các sư đoàn, và các quân khu. Đồng chí Tám Phương tức Thiếu tướng Lê Quốc Sản, Tư lệnh Quân khu 8, đã trực tiếp nhận nhiệm vụ. Đồng chí rất phấn khởi và tin tưởng có thể thực hiện đúng kế hoạch vừa tự giải phóng các tỉnh trong quân khu mình bằng tấn công và nổi dậy, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng mà Miền giao để đảm bảo thành công trên toàn chiến trường. Đó là dùng lực lượng của mình tham gia tấn công dứt điểm Sài Gòn từ phía nam mà mục tiêu chủ yếu là Tổng nha Cảnh sát ngụy và làm chủ, cắt đứt đường 4 chiến lược để thực hành bao vây thủ đô ngụy hướng tây nam. Đồng chí đã phát biểu với Bộ Tư lệnh Miền:

    Quân và dân Quân khu 8 hết sức vinh dự được tham gia chiến dịch lịch sử, tiêu diệt hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy là Sài Gòn. Bao nhiêu năm chiến tranh mới có được giờ phút vinh quang này. Thay mặt lực lượng vũ trang Quân khu 8, tôi xin hứa thực hiện đúng kế hoạch đã thông qua, giành thắng lợi lớn nhất, xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên.

    Còn Quân khu 9, mặc dù xa và đi lại rất khó khăn, đồng chí Năm Hải tức Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng - Tư lệnh Quân khu, cũng về Miền trực tiếp nhận mệnh lệnh, bằng chuyến đi công khai mạo hiểm, nhưng tổ chức rất chu đáo và kịp thời. Đồng chí hứa sẽ chọn Trung đoàn 1 là trung đoàn mạnh nhất của Quân khu đang cùng Trung đoàn 3 của tỉnh và lực lượng quân dân tại chỗ giải phóng vùng chiến lược quan trọng là Vĩnh Bình - Trà Vinh, cắt đường 4, đường sông Măng Thít và sẵn sàng nếu có lệnh lên tham gia cùng lực lượng Quân khu 8 đánh vào Sài Gòn từ phía nam. Việc khống chế sân bay Lộ Tẻ mặc dù có khó khăn, đồng chí hứa đảm bảo nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ để đóng góp vào thắng lợi chung. Trong khi đó, đồng chí Sáu Hát tức Đại tá Nguyễn Trọng Xuyên, Tư lệnh Quân khu 6 rất lo lắng với nhiệm vụ nặng nề giải phóng từ tỉnh Bình Tuy đến Di Linh, Đà Lạt và các tỉnh ven biển thuộc quân khu mình. Sở dĩ như vậy vì ở quân khu này là nơi ta có rất nhiều khó khăn về mọi mặt. Lực lượng quần chúng có tổ chức chưa đủ mạnh và lực lượng vũ trang thì bộ đội địa phương còn nhỏ bé, du kích không nhiều, lực lượng chủ lực chỉ vỏn vẹn một trung đoàn 812. Sự cân nhắc thận trọng sức lực của mình trước nhiệm vụ lớn lao như vậy hoàn toàn phù hợp với tinh thần trách nhiệm của một cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Thay mặt Bộ Tư lệnh Miền, tôi đã phân tích tình hình chung trên toàn chiến trường, các yếu tố thuận lợi trong giai đoạn chiến lược này sẽ tạo ra sức mạnh rất lớn cho quân khu hoàn thành nhiệm vụ. Với sự phối hợp của các lực lượng bạn, quân và dân trong quân khu, Trung đoàn 812 chủ lực, sẽ đóng góp xứng đáng chiến công của mình, sẽ giành thắng lợi to lớn như các chiến trường khác. Đồng chí yên tâm, hứa cố gắng tối đa, nhưng tôi cảm thấy ở đồng chí vẫn còn nhiều lo lắng. Mặc dù vậy, tôi biết rằng đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ vì tin ở trên, tin ở sự nỗ lực chung của toàn chiến trường trong giai đoạn quan trọng này.

    Quân khu 7 do đồng chí Đại tá Lê Văn Ngọc - Quyền Tư lệnh - thay cho Tư lệnh Quân khu là Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa (tức Hồng Lâm) đang dưỡng bệnh - và đồng chí Đặng Ngọc Sĩ - Phó Tư lệnh Quân khu kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 6 có mặt ở Miền để nhận nhiệm vụ. Các đồng chí trình bày về sự yếu kém của sư đoàn thiếu của mình, yêu cầu Miền bổ sung gấp về quân số và trang bị, nhưng hứa chắc vượt mọi khó khăn để thực hiện đúng kế hoạch. Nhiệm vụ quan trọng nhất của Quân khu là phối hợp với Trung đoàn 812 của Quân khu 6 nhanh chóng quét sạch địch ở khu vực Tánh Linh, Võ Đắc thuộc tỉnh Bình Tuy để thành bàn đạp thuận lợi cho Quân đoàn 4 tấn công Xuân Lộc và Biên Hòa, Sài Gòn, cắt đứt cho được đường 1 từ Xuân Lộc đến Rừng Lá để cô lập Sài Gòn với ven biển miền Trung, đường 15 Sài Gòn - Vũng Tàu và tham gia tấn công địch với Quân đoàn 4.

    Về Quân đoàn 4, tới lúc này cũng vẫn chỉ gồm có hai sư đoàn 7 và 9, các binh chủng vẫn rất yếu. Ban đầu theo yêu cầu của B2, Bộ Tổng Tham mưu dự định điều Sư đoàn 968 từ Tây Nguyên vào để kịp củng cố Quân đoàn. Sau đổi lại, thay bằng Sư đoàn 316. Nhưng, đều không được. Cuối cùng đã quyết định lấy Sư đoàn 341, đang xây dựng và đứng ở vùng Quân khu 4 của ta, hành quân cấp tốc vào. Ngày 11/02/1975, tôi đã điện ra Bộ Tổng Tư lệnh đề nghị điều gấp sư đoàn vào. Điện viết: “Đề nghị cho đơn vị anh Trân (tức Sư trưởng Sư đoàn 341) vào sớm. Đầu tháng 3 cố gắng vào được một nửa thì mới kịp”. Chúng tôi phải điều động sẵn một số cán bộ đã quen thạo chiến trường và đã dày dạn chiến đấu để khi đơn vị vào đến là tăng cường ngay và huấn luyện cấp tốc về chiến thuật (Sư đoàn chưa thực tế chiến đấu nhiều). Chúng tôi cũng sẵn sàng một đơn vị trinh sát kỹ thuật gồm chiến sĩ quen thạo và các máy móc thiết bị nhẹ nhàng cần thiết cho công tác để giao cho tham mưu sư đoàn sử dụng. Nói chung Quân đoàn 4 vẫn còn thiếu cả bộ binh và binh chủng theo biên chế. Thế mà kế hoạch hoạt động của Quân đoàn do Bộ Tư lệnh Miền chỉ thị lại chia làm 2 hướng, hướng Bình Long, Bình Dương, Tây Ninh và hướng đường 20, Long Khánh, Biên Hòa. Mỗi hướng như vậy phải do một sư đoàn trong Quân đoàn kết hợp với lực lượng Quân khu 7 và lực lượng các tỉnh tại chỗ cùng hoạt động. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã trình bày nguyện vọng và ý kiến của mình là được tập trung toàn quân đoàn về một hướng để có đủ sức mạnh chiến đấu hơn, để thực hiện được đòn tiêu diệt tạo thối động chung cho chiến trường. Chúng tôi ở Bộ Tư lệnh Miền đã suy nghĩ nhiều, cân nhắc nhiều mặt về vấn đề này. Thành lập quân đoàn, mục đích chính là để sử dụng tập trung và có sức mạnh đánh tiêu diệt, vừa giành thắng lợi lớn, vừa rèn luyện cho đơn vị trưởng thành, chúng tôi hoàn toàn thông cảm với những lo lắng và suy nghĩ của Quân đoàn. Nhưng tiếc rằng chúng ta đang ở thời kỳ mà sự diễn biến trên chiến trường sẽ rất nhanh chóng. Trận đánh Buôn Ma Thuột chắc chắn sẽ gây một thối động mạnh trên toàn miền Nam và buộc địch ở chiến trường miền Đông Nam Bộ có thủ đô Sài Gòn đầu não này phải gấp rút đi vào phòng ngự thật vững chắc. Đây cũng là nơi mà địch sẽ phản ứng nhanh và mạnh với sự cố gắng tối đa để đảm bảo sống còn. Ta muốn thắng địch không phải chỉ biết tập trung nhiều và mạnh mà chủ yếu là có những biện pháp, những thủ đoạn phân tán quân địch, lừa địch, làm cho chúng không phán đoán nổi ý định của ta, để ta đánh những trận bất ngờ, chắc thắng. Sự thành lập quân đoàn của ta đã là chậm rồi. Lực lượng xin thêm để đủ bố trí ở các hướng theo một thế chiến lược chiến dịch dự kiến cho mọi tình huống xảy ra kể cả tình huống đột biến về quân sự, chính trị, đến nay chưa có. Như vậy, với lực lượng hiện có trong tay, ta phải biết bố trí và sử dụng thế nào cho có lợi nhất, giành thắng lợi lớn nhất và kịp thời nhất. Chiến trường B2 có trách nhiệm lớn lao là đảm bảo trận đánh quyết định cuối cùng vào Sài Gòn đúng lúc và thành công chắc chắn. Muốn vậy phải sớm tạo đủ điều kiện thuận lợi cho triển khai lực lượng mọi mặt, phải áp sát vây chặt Sài Gòn, phải mở các bàn đạp xuất phát tấn công ở các hướng, phải sẵn sàng cho mọi tình huống, phải hành động được ngay khi thời cơ xuất hiện, khi có lệnh. Nếu ta đã phải dự kiến kế hoạch tấn công và nổi dậy vào Sài Gòn từ trong mùa mưa 1974 để vạch kế hoạch mùa khô thì nay lại càng phải sẵn sàng cho việc tiến hành cuộc tấn công và nổi dậy ấy. Mặc dù quân đoàn còn thiếu nhưng với những sư đoàn thiện chiến và quen thạo chiến trường cùng những cán bộ dày dạn, là lực lượng chủ chốt nhất có trong tay Bộ Tư lệnh Miền, cho nên việc sử dụng nó phải được cân nhắc hết sức kĩ lưỡng, phải thật phù hợp với chiến dịch và cả chiến lược, phù hợp với thời kỳ hết sức quan trọng hiện nay. Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ vào thời điểm này, ta muốn tập trung về một hướng cho mạnh thì địch cũng sẽ tập trung vào một hướng mà đối phó quyết liệt. Ta phải giữ quyền chủ động linh hoạt không để bị kẹt vào thế giằng co kèm cứng nhau giữa ta và địch. Ta muốn có đòn tiêu diệt sinh lực có kết quả thì phải đánh vào điểm then chốt, kéo được địch để diệt mà giờ đây địch lại sẽ sống chết giữ cho được những nơi then chốt ấy. Vì vậy mà quyết tâm của Miền là sử dụng Quân đoàn ở 2 hướng nhằm mở rộng bàn đạp ở cả các hướng bắc, tây bắc và đông Sài Gòn, mở và diệt địch bất ngờ ở những nơi rất có lợi cho ta mà chưa phải đụng chạm vào nơi thiết yếu của địch, đồng thời lại triển khai được lực lượng của ta cho cuộc tấn công khi cần thiết cấp bách. Lực lượng ta ít mà thành mạnh, đánh thắng được liên tục.

    Một hướng quan trọng khác của chiến trường B2 là diệt địch mở rộng phía tây tỉnh Tây Ninh, vùng Bến Cầu - Quéo Ba nhằm tạo bàn đạp cho hướng tấn công phía tây vào Sài Gòn cũng như cho mũi bao vây Sài Gòn từ tây nam chia cắt với đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, Bộ Tư lệnh Miền đã sử dụng ở đây Sư đoàn 5 và Sư đoàn 3. Sau này để đảm bảo thành công đối với hướng tây (hướng có nhiều khó khăn nhưng rất quan trọng) Bộ Tư lệnh Miền đã quyết định thành lập Đoàn 232, tương đương với quân đoàn để chỉ huy thống nhất cả 2 sư đoàn và lực lượng địa phương tại chỗ, các binh chủng phối thuộc. Đồng chí Năm Ngà (Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu) - một con người cần cù và dũng cảm, xem trọng nghĩa tình, đã có nhiều kinh nghiệm về chỉ huy chiến đấu của chủ lực từ cuộc kháng chiến chống Pháp ở cực Nam Trung Bộ, đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở Bình Tuy đợt 1 mùa khô, từng công tác tham mưu nhiều năm ở Miền, nay được chỉ định làm Tư lệnh Đoàn. Chính ủy là đồng chí Tám Trần, tức Thiếu tướng Trần Văn Phác, các tư lệnh phó: đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Nghiêm và đồng chí Thiếu tướng Bùi Thanh Vân (tức Út Liêm).

    Đối với đặc công và biệt động nội thành để chỉ huy thống nhất chặt chẽ theo hướng, Bộ Tư lệnh Miền đã quyết định lập các bộ chỉ huy các cánh. Cánh Bắc Sài Gòn do các đồng chí Mười Cơ (Nguyễn Thanh Tùng) và Nguyễn Văn Tăng - anh hùng quân đội; cánh Tây Nam do đồng chí Nguyễn Văn Mây và Nguyễn Văn Hát; cánh Đông do đồng chí Tống Viết Dương và đồng chí Lê Bá Ước chỉ huy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #97 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2023, 04:35:17 pm »

*
*     *


    Ngày N nổ súng mở đầu đợt 2 mùa khô 1974-1975, hay thực sự là mở đầu cuộc tổng tấn công và nổi dậy trên toàn Miền, theo quy định của Bộ Tổng Tư lệnh, “Đêm 9 rạng ngày 10/3/1975”. Ngày đó đã đến. Phối hợp với chiến trường chung, trên toàn B2, từ núi rừng Khu 6 đến đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven đô thị; từ quân chủ lực đến địa phương, dân quân du kích đều nhất tề xông lên nô nức diệt địch. Cả B2 đồng loạt nổi dậy và tiến công! Trừ một vài khu vực gặp khó khăn lúc đầu, tốc độ tấn công chậm, thắng lợi có hạn chế như ở vùng Hậu Giang của Quân khu 9, ở tỉnh Bến Tre thuộc Quân khu 8, còn các chiến trường khác đều thuận lợi, thực hiện đúng như kế hoạch đã dự kiến. Thắng lợi giòn giã.

    Ở khu vực thành phố Sài Gòn, lực lượng của thành đội và đặc công, theo lối đánh tuyệt đối bí mật, bất ngờ, đảm bảo thắng lợi của mình mà không hại gì đến chiến trường chung, đã được phép nổ súng từ đêm 08 rạng 09/3. Hàng loạt đồn bót địch, ở các hướng cần mở cho triển khai lực lượng và hành động sắp tới của đặc công và biệt động, lần lượt bị diệt. Lực lượng phòng vệ dân sự vừa bị tấn công mất tinh thần, vừa được nhân dân giáo dục vận động đã tan rã nhiều trong thời gian này: Sức kèm của địch ở nhiều vùng sát nội thành bị lỏng. Những thắng lợi nổi bật là một số đồn bót địch ở Hóc Môn, trên đường 8 và vùng sông Rạch Tra, là nơi địch rất chú trọng phòng ngự cho phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất và Sài Gòn cũng bị diệt. Ở Bình Chánh, chỉ huy sở Tiểu đoàn 86 biệt động quân đóng ở Tân Túc bị đánh thiệt hại nặng. Ở Thủ Đức kho hóa chất Sicona của địch bị phá khoảng 40%. Kho xăng Vũng Bèo bị cháy. Và ngày 20/3/1975 Tiểu đoàn Quyết Thắng phối hợp với bộ đội địa phương và du kích đã đánh diệt một đoàn xe vận tải 51 chiếc chở đạn có hộ tống ở Củ Chi, trên đường 1, tiêu diệt và gây thiệt hại nặng cho 4 đại đội địch đến tiếp cứu...

    Ở đồng bằng sông Cửu Long, Sư đoàn 4 của Quân khu 9 cùng lực lượng địa phương và du kích đã giải phóng Kinh Xáng, Ô Môn, Thị Đội, vào sát Thới Lai, kinh xáng Xà No, diệt và bức rút nhiều đồn bót, giải phóng một số xã. Tại Vĩnh Trà, hai trung đoàn 1 và 3 phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ tiến hành bao vây yếu khu Thầy Phó, quét các đồn bót trên lộ Vĩnh Xuân, diệt 2 tiểu đoàn địch đến ứng cứu, buộc địch ở yếu khu này rút chạy, đánh thiệt hại các chi khu Cái Nhum, Cái Vồn, từng lúc cắt đường 4 và căn bản làm chủ tuyến sông Măng Thít. Tại Long An, ngay từ ngày 09/3/1975, Tiểu đoàn 1 của tỉnh đã tiêu diệt 1 tiểu đoàn bảo an ở huyện Bến Lức. Sư đoàn 8 của Quân khu 8 bước vào đợt ngày 11/3/1975 đã diệt gọn căn cứ Ngã Sáu, một điểm quan trọng ở khu vực Cái Bè (ven Đồng Tháp Mười) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Địch dùng Trung đoàn 10 của Sư đoàn 7 ngụy phản kích quyết liệt để chiếm lại ngày 14/3/1975, bị ta diệt 2 tiểu đoàn và tiểu đoàn thứ ba bị diệt nốt khi ta đánh chiếm căn cứ lần thứ hai. Nhiều đồn bót khác ở hai huyện Cái Bè và Cai Lậy cũng bị diệt và rút chạy. Trong lúc đó Sư đoàn 3 và Sư đoàn 5, từ ngày 11 đến ngày 14/3/1975 đã tiêu diệt địch giải phóng hoàn toàn vùng Bến Cầu, Mộc Bài, An Thạnh, Trà Cao, và đến ngày 20/3/1975 dứt điểm Quéo Ba thuộc huyện Đức Huệ, mở thông hành lang phía tây tỉnh Tây Ninh xuống tới Đồng Tháp Mười, làm chủ một vùng rộng bờ tây sông Vàm Cỏ Đông nằm dài trên hai tỉnh Tây Ninh và Long An, đúng như kế hoạch đã vạch ra. Đây là vùng Mỏ Vẹt nổi tiếng mà trước kia Mỹ rất sợ, cho đó là bàn đạp lợi hại của “Việt cộng” uy hiếp Sài Gòn từ phía tây, chúng đã từng hành quân đánh phá nhiều lần, có lúc rải bom và đặt mìn dày đặc cố biến nơi đây thành khu tử địa. Đặc biệt là năm 1970, quân Mỹ và ngụy đã vượt qua vùng này đánh sâu vào Campuchia, bắt đầu thời kỳ mở rộng chiến tranh Việt Nam thành chiến tranh Đông Dương. Ngày nay vùng Mỏ Vẹt ấy, qua chiến trận này đã được quét sạch quân địch và mở rộng về phía đông giáp sông Vàm Cỏ Đông và về phía nam gần đến sông Vàm Cỏ Tây, trở thành vùng bàn đạp của ta vững chắc gấp nhiều lần so với trước. Mới mùa khô năm 1974 đây thôi, Quéo Ba vừa bị uy hiếp, Quân đoàn 3 ngụy đã tức tốc phái đến 6 chiến đoàn đặc nhiệm càn quét và bảo vệ trong một thời gian. Thế mà nay, thế tàn và lực tận, ngụy đành nhìn bàn đạp đối phương tiến sát vào phía tây Sài Gòn một cách nguy hiểm hơn trước gấp bội.

    Như vậy là vào đợt 2 chưa đầy 1 tháng, quân và dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã đạt được những thành tích cao, tiếp tục phá bình định, giành dân giành quyền làm chủ sôi nổi và có kết quả. Còn ở miền Đông Nam Bộ, trên bờ tây sông Sài Gòn, ngày 11/3/1975, Trung đoàn 16 tiêu diệt điểm suối Ông Hùng thì ngày 12 Sư đoàn 9 đánh chiếm chi khu Tri Tâm, đến ngày 13 giải phóng toàn bộ quận Dầu Tiếng bên bờ đông sông Sài Gòn, và khu vực Bến Củi ở phía tây sông. Ngày 17/3/1975 điểm Cầu Khởi bị diệt, ta làm chủ một đoạn đường 26 chạy dọc theo cánh đồng tỉnh Tây Ninh. Thế là hai bên bờ sông Sài Gòn ta đã giải phóng một vùng rộng lớn tạo bàn đạp cho hướng tấn công vào Sài Gòn từ tây bắc. Địch đã dùng Lữ 3 kỵ binh cùng một lực lượng của Sư đoàn 25 phản kích ở lộ 2 suối Ông Hùng. Đây là thời cơ tốt để ta tiêu diệt một lực lượng thiết giáp quan trọng của Quân đoàn 3, nhưng do khuyết điểm trong công tác chuẩn bị và tác chiến, ta chỉ gây thiệt hại nặng cho địch và buộc địch lui về phòng ngự từ Bầu Đồn về phía nam. Lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh lúc này đã phối hợp rất đẹp bằng cách đánh thẳng vào lộ 22, cắt đứt lộ này từng nơi và từng thời gian, buộc Sư đoàn 25 ngụy phải ra sức giữ đường để đảm bảo cho Tây Ninh không bị cô lập. Về hướng đông, Sư đoàn 6 Quân khu 7 từ 15 đến 18/3/1975 đã mở rộng giải phóng lộ 2 Xuân Lộc đi Bà Rịa, giải phóng hoàn toàn lộ 3 từ Hoài Đức đi Gia Ray, ngày 20/3/1975 chiếm ngã ba Ông Đồn, Suối Cát và đến 28/3/1975 đã làm chủ một đoạn dài 50km trên quốc lộ 1 từ Suối Cát đến Rừng Lá, cắt đứt con đường huyết mạch nối liền ven biển miền Trung với Biên Hòa - Sài Gòn. Trung đoàn 812 của Quân khu 6 đã tiêu diệt xong Võ Đắc, giải phóng toàn bộ một vùng rộng của tỉnh Bình Tuy, 2 huyện Hoài Đức và Tánh Linh, tạo một bàn đạp tốt cho Quân đoàn 4 sau này tấn công Xuân Lộc và Biên Hòa. Sau đó Trung đoàn theo đúng kế hoạch đã hành quân nhanh chóng lên phối hợp với Sư đoàn 7 trên lộ 20 đi Đà Lạt. Ngày 15/3/1975, Sư đoàn 7 nổ súng tấn công, ngày 18 đã chiếm xong quận lỵ Định Quán, một cứ điểm kiên cố dựa lưng vào núi đá chồng, án ngữ con đường 20 quan trọng. Sau khi diệt xong Định Quán, Sư đoàn đã đánh chiếm yếu khu Đa Oai và cùng lực lượng tại chỗ quét sạch địch mở rộng làm chủ đường 20 và đến ngày 28/3/1975 hành quân cơ giới tấn công trong hành tiến chớp nhoáng giải phóng thị xã Lâm Đồng, chỉ trong 2 tiếng đồng hồ. Như vậy là ta đã hoàn thành việc mở rộng và nối liền căn cứ quan trọng của ta hoàn chỉnh vững chắc từ Đồng Tháp Mười phía tây Sài Gòn chạy qua tây và bắc tỉnh Tây Ninh đến Phước Long, chiến khu A Bắc Biên Hòa và đến Bình Tuy Bà Rịa giáp Biển Đông: Sài Gòn thực tế đã bị bao vây từ tây qua bắc và đông bắc. Trung đoàn 812 được một bộ phận của Sư đoàn 7 chi viện, tận dụng thời cơ, tiến chiếm thị trấn Di Linh. Thế là toàn bộ tỉnh Lâm Đồng đã được giải phóng. Đây là một thắng lợi lớn trên chiến trường miền Đông Nam Bộ trong thời điểm này. Nó làm cho thế ta rất mạnh từ bắc qua đông Sài Gòn và làm thất bại mưu đồ co cụm phòng ngự của địch.

    Trong quyển sách Khoảng cách thời gian vừa phải ở phần II - Chung cuộc, tác giả Frank Snepp đã viết: “Ngày hôm sau, lực lượng cộng sản đã mở một mặt trận mới ở phần phía nam vùng này (Vùng 2 chiến thuật ngụy) và tiến về thị xã Lâm Đồng cách Sài Gòn 3 tiếng đi ôtô mà không hề gặp phải sự kháng cự nào (đúng ra là sự kháng cự bị đè bẹp nhanh chóng). Chính lúc này Thiệu và tướng tá của mình lại một lần nữa bàn cãi và cân nhắc khả năng thành lập một tuyến phòng thủ ngay phía bắc thành phố (Sài Gòn) chạy từ Tây Ninh tới Nha Trang. Trước khi màn đêm buông xuống, Polgar (trùm CIA Mỹ ở Việt Nam) đã đích thân đến dinh tổng thống báo cho Thiệu và tướng tá của ông ta biết rằng kế hoạch của họ đã bị đánh phủ đầu. Bởi vì tỉnh Lâm Đồng, cái xương sống của tuyến phòng ngự, đã bị rơi vào tay quân Bắc Việt Nam”.

    Mất tỉnh Lâm Đồng, mất đường 20 thì thị xã Đà Lạt và toàn tỉnh Tuyên Đức (theo tên đặt của chính quyền ngụy) bị cô lập. Con đường 11 nối thông Đà Lạt đến Phan Rang ven biển là con đường độc đạo, đèo cao dốc đứng và quanh co rất nguy hiểm, không thể cứu sống cho thành phố này. Giải phóng Đà Lạt thuộc trách nhiệm của B2, nhưng lực lượng của B2 đã ít và phải lo áp sát Sài Gòn nên không thể lên giải phóng tỉnh Tuyên Đức. Khi ấy toàn bộ Tây Nguyên đã được giải phóng, lực lượng của ta ở đây mạnh có thể xuống chiếm Đà Lạt và tiến luôn về miền Đông Nam Bộ rất thuận lợi và kịp thời. Vì vậy tôi đã điện đến anh Văn Tiến Dũng, lúc này đang chỉ huy các lực lượng ở chiến trường Tây Nguyên, bức điện nội dung như sau: “Đề nghị anh cho lực lượng xuống giải phóng Đà Lạt, lực lượng chúng tôi phải đi về phía trước, hướng Sài Gòn, nên không thể lên đây được”. Anh Dũng đã trả lời đồng ý. Nhưng quân địch rất hoang mang sợ hãi và bị lực lượng vũ trang của ta tại chỗ uy hiếp, đã rút chạy khỏi Đà Lạt. Một bộ phận của Trung đoàn 812 cùng lực lượng địa phương tiến vào chiếm Đà Lạt ngày 04/4/1975 và truy kích địch giải phóng luôn đường 11 sát đến sân bay Thành Sơn. Toàn tỉnh Tuyên Đức có thành phố Đà Lạt quan trọng đã được giải phóng.

    Về phía bắc Sài Gòn, sau khi Dầu Tiếng được giải phóng, thị xã An Lộc của tỉnh Bình Long (tên đặt của ngụy quyền) bị bao vây chặt. Ở đây, ta dùng các lực lượng chiết ra từ các cơ quan của Bộ Tư lệnh Miền kết hợp với bộ đội địa phương và du kích uy hiếp tấn công địch từ ngày mở đầu đợt 2 mùa khô. Ngày 23/3/1975 quân địch rút chạy về Chơn Thành, một huyện lỵ quá về phía nam trên đường 13. Lúc này Sư đoàn 341 Trung ương cho đã vào đến một bộ phận. Ta dùng 1 trung đoàn của Sư đoàn này cùng một lực lượng của Sư đoàn 9 truy kích và tấn công luôn Chơn Thành. Đêm 31/3/1975, sau khi bị thiệt hại nặng, tàn quân địch chạy thoát khỏi Chơn Thành. Toàn tỉnh Bình Long được giải phóng. Căn cứ chủ yếu của ta trải rộng hoàn chỉnh về sát Sài Gòn, nơi mà những căn cứ của Sư đoàn 5 địch là Lai Khê, Phú Lợi, của Sư đoàn 25 ngụy là Đồng Dù trở thành tiền tiêu bảo vệ Sài Gòn từ hướng Bắc đến Tây Bắc. Thế mà đến lúc này địch vẫn mù quáng ra sức giữ Tây Ninh, một thị xã đã trở thành xa xôi cô lập về phía sau, chỉ vì sợ xuất hiện một thủ đô của Chính phủ cách mạng.

    Chiến trường B2 trong tháng 3 đã giành thắng lợi lớn nhờ tích cực phối hợp với chiến trường chính Tây Nguyên, tận dụng được sự thối động của trận đánh Buôn Ma Thuột và tiếp sau đó. Sự hành động nhịp nhàng của toàn miền Nam trong cuộc tấn công và nổi dậy đồng loạt mạnh mẽ là kết quả bước suy sụp và tan rã nhanh chóng của ngụy quân ngụy quyền. Từ Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã theo dõi thật sát tình hình chung, tình hình cụ thể của từng chiến trường, thông báo kịp thời mọi diễn biến cho từng nơi, chỉ đạo và uốn nắn hoạt động đúng lúc cho mọi hướng. Có thể nói, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo và thực tế chỉ huy hợp đồng tất cả các chiến trường, điều khiển hành động tất cả các cánh quân.

    Ngày 11/3/1975, ta đã dứt điểm về cơ bản thị xã Buôn Ma Thuột. Từ Sở Tổng Chỉ huy nhận được báo cáo thắng lợi này, đồng chí Lê Duẩn đã nêu: “Trước đây ta dự kiến 2 năm, nay có Phước Long, Buôn Ma Thuột ta có thể đẩy mạnh hơn, đây có phải là mở đầu cuộc tổng tấn công và nổi dậy không?”. “Sự nhạy bén trước tình hình như vậy luôn là chìa khóa cho những bước đi kịp thời. Sự thông báo chiến thắng đã là một cổ vũ lớn rồi, nhưng lúc nào Trung ương cũng thúc đẩy các chiến trường vươn lên đánh mạnh, giành thắng to. Ngày 12/3/1975, trong một bức điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi cho đồng chí Văn Tiến Dũng ở Tây Nguyên có đoạn:

    “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương dự kiến là nếu địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ khác bị mất, đường 19 bị cắt thì lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Pleiku và cũng có thể chúng buộc phải rút lui chiến lược bỏ Tây Nguyên. Do đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cần hình thành ngay việc bao vây Pleiku, triệt hạ cả đường bộ lẫn đường không của địch, chuẩn bị tốt việc tiêu diệt địch trong cả 2 tình huống”.

    Rõ ràng ta đã dự đoán chính xác sớm những hành động của địch. Mãi đến ngày 14/3/1975, trước tình hình khốn quẫn Thiệu mới họp với tướng tá của y ở Cam Ranh quyết định rút bỏ Tây Nguyên. Ngày 15 chúng bí mật thực hiện kế hoạch một cách vật vã hỗn độn thì ngày 16 từ Hà Nội đã thông báo là sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 2 ngụy và lãnh sự Mỹ từ Pleiku đã chuyển về Nha Trang. Và từ ngày 18 đến ngày 24/3 quân địch rút chạy đã hoàn toàn bị diệt và rã. Tây Nguyên được giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #98 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2023, 04:38:03 pm »

    Toàn B2 vui mừng phấn khởi, được thúc giục hành động do các tin chiến thắng của các chiến trường khác thông báo kịp thời. Phối hợp với toàn Miền, quân dân Trị Thiên cũng vùng lên tấn công và nổi dậy mạnh mẽ và ngày 19/3/1975 đã giải phóng Quảng Trị. Quân khu 1 ngụy rúng động rục rịch rút chạy khỏi Huế thì ngày 18/3/1975, Bộ Tổng Tư lệnh đã ra lệnh Quân khu Trị Thiên cắt đứt đường 1, Nam Huế, không cho Sư đoàn 1 rút về Đà Nẵng. Quân ngụy rối loạn. Chỉ còn con đường thoát chết độc nhất là chạy ra cửa biển Thuận An để rồi bị Quân đoàn 1 và lực lượng Quân khu Trị Thiên tiêu diệt ở đây vào ngày 25/3/1975. Cố đô Huế được giải phóng lần thứ 2 (lần thứ nhất là Tết Mậu Thân năm 1968) và vĩnh viễn. Cũng như vậy đối với Đà Nẵng, ngày 18/3/1975, Bộ Tổng Tư lệnh đã ra lệnh cho Khu 5 phải khẩn trương và táo bạo tấn công, cắt đứt đường 1 phía nam Đà Nẵng nhằm bao vây tiêu diệt không cho quân địch co cụm về Đà Nẵng và chạy về Nam. Trước tình hình thuận lợi, chấp hành lệnh của trên, Sư đoàn 2 Quân khu cùng lực lượng địa phương đã kiên quyết tấn công diệt địch, giải phóng Tam Kỳ, Tuần Dưỡng, Chu Lai. Quân và dân Quảng Ngãi kết hợp tấn công và nổi dậy cũng đã tự mình giải phóng toàn bộ tỉnh nhà. Như vậy là một vùng rộng lớn và đường 1 ở phía nam Đà Nẵng đã được giải phóng. Quân địch ở Đà Nẵng đã bị bao vây chỉ còn hướng chạy ra biển, bị Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu 5 tiêu diệt và tan rã vào ngày 29/3/1975 trong một cảnh tượng vô cùng bi đát không kém gì ở Tây Nguyên và ở Huế. Tất cả những tin này chúng ta đều biết sớm trừ tin hiếm có trong lịch sử chiến tranh: tên tướng giỏi nhất của ngụy lao xuống Biển Đông bơi ra tàu để thoát chết. Frank Snepp kể lại (trong sách đã dẫn):

    “Sáng 29/3/1975, tướng Ngô Quang Trưởng, một viên tướng có tiếng là chỉ huy giỏi nhất trong quân đội Nam Việt Nam đã phải vùng vẫy trên những lớp sóng cũng chẳng hiền từ gì cho cam để ra khỏi Đà Nẵng. Ông ta cũng vào loại bơi kém, nên một người phụ tá đã phải giúp ông ta khi ông ta bơi tới một chiếc thuyền tuần tiễu của Việt Nam Cộng hòa đã chờ sẵn. Suốt hai ngày sau đó ông ta ở lại trên tàu ngắm nhìn những bọn tàn quân của một quân đội đáng tự hào một thời của mình đang đột phá và cướp bóc thành phố lớn thứ 2 ở miền Nam. Có lẽ sau này một vài chiến hữu của ông ta sẽ chỉ trích ông, buộc cho ông cái tội nhút nhát không dám ở lại để rồi cùng chết với quyền chỉ huy của mình. Trong số hai triệu người tị nạn vẫn đang ở Đà Nẵng, ắt hẳn có 100.000 là binh lính chạy trốn từ các sư đoàn 1, 2 và 3 và sư đoàn thủy quân lục chiến nổi tiếng, tất cả đều không khác gì những con chuột mắc bẫy. Giờ thì họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì từ phản bội, ăn cắp, giết hại lẫn nhau để mong tìm được một phương kế chạy trốn cho bản thân và gia đình họ”.

    Sự nhận định tình hình một cách nhạy bén, phán đoán chính xác và kịp thời, chỉ đạo linh hoạt, chỉ huy kiên quyết và tài tình của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã phá hỏng mọi kế hoạch chiến lược và chiến dịch của Mỹ - ngụy. Chúng muốn rút lui, bảo toàn thực lực để co cụm về Quân khu 3 và 4, một chiến trường có đủ nhân vật lực để vơ vét và có thể chi viện của Mỹ, nhưng không cách nào thực hiện nổi. Chúng đã bị chặn các ngả đường, đã bị bao vây chia cắt về chiến dịch và chiến lược. Ta đã dùng cách đốn cây từ gốc nên “chuột đã mắc bẫy” cả ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và cả về phía nam. Cách tổ chức và bố trí lực lượng của ta: Cơ động từng khu vực, sẵn tại chỗ kết hợp với lực lượng địa phương và dân quân rộng rãi trên khắp các chiến trường của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng là vô cùng lợi hại. Kẻ địch ở đâu cũng bị đánh, bị bao vây rất kịp thời, thần tốc, không chạy đi đâu thoát, không cụm vào đâu được. Cách sử dụng lực lượng tổng hợp, cả lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của nhân dân trong một cuộc tổng tấn công và nổi dậy đều khắp là một sức mạnh vô địch đánh ngã kẻ thù trong lúc chúng còn trong tay cả triệu quân và trang bị đầy đủ, có quan thầy đứng phía sau làm cột trụ.

    Trong khi ở phía bắc như vậy thì ở chiến trường B2, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng kịp thời thông báo tình hình, chỉ đạo cụ thể thúc đẩy mạnh dạn tấn công địch, nhất thiết không cho địch co cụm bất cứ đâu. Chúng ta đã chấp hành nghiêm chỉnh và đã giành thắng lợi lớn trong tình hình cụ thể của chiến trường và tương quan ta địch. Chuyên gia CIA Mỹ đã nhận xét: “Quá về phía nam ở Quân đoàn 3, quân chính phủ cũng tiếp tục xuống dốc, có lẽ không nổi bật bằng, nhưng hậu quả cũng như nhau: mất đất và mất sự linh hoạt về chiến thuật. Khoảng ngày 20/3/1975, hai sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa bị cầm chân vào việc bảo vệ Tây Ninh và vùng Tây Bắc của khu vực này. Một số chỉ huy của chính phủ muốn rút lui hoặc là đưa thêm một sư đoàn từ vùng châu thổ đến làm dự trữ lưu động. Nhưng Thiệu không đồng ý cả hai cách. Thiệu cho rằng, bỏ Tây Ninh thì sẽ làm mất tinh thần quân đội và thường dân ở các vùng khác và rút lực lượng ở vùng Châu Thổ đến thì có nghĩa là bỏ những vùng rộng lớn cho địch bởi vì cả ba sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa ở đó đã bị căng ra đến mức giới hạn rồi.

    Nếu ở đây chỉ là một ván cờ thì Thiệu đã thua rồi. Thiệu đã bị chiếu tướng trên tất cả các mặt trận” (Frank Snepp trong sách đã dẫn).

    Trước tình hình chung toàn miền Nam diễn biến hết sức nhanh chóng, nhanh chóng hơn ta dự kiến nhiều, tạo những điều kiện rất thuận lợi để các chiến trường giành thắng lợi lớn nhất. Chúng tôi trong Quân ủy Miền cũng như trong Trung ương Cục làm việc rất khẩn trương, ngày đêm theo dõi chặt các khu, các đơn vị, tin chiến thắng tới tấp gửi về, điện chỉ đạo đánh đi không ngớt. Nhưng vẫn cảm thấy mình còn chậm, lực lượng vũ trang không đủ sức khai thác hết tình hình. Anh Bảy Cường đã gửi đi mấy điện xin Bộ Chính trị thêm gấp lực lượng. Ngày 23/3/1975, tôi nhận được Điện số 81/TK của anh Dũng, nội dung cho biết tình hình chung, phác họa sự phát triển tấn công sau khi giải phóng xong Tây Nguyên là theo đường 19, đường 7 và đường 21 nhằm diệt Sư đoàn 22, giải phóng Bình Định, Phú Yên rồi tiếp là Khánh Hòa, Diên Khánh. Điện viết: “Trước mắt chưa có lực lượng đưa vào trong anh. Khi đã đưa vào là lúc cả thời cơ làm trận quyết chiến cuối cùng. Muốn vậy phải chuẩn bị chiến trường sẵn”. Cuối điện, anh bảo suy nghĩ sẵn về trận cuối cùng để ra chỗ anh, gặp và bàn với anh Sáu (anh Lê Đức Thọ).

    Đọc xong điện tâm trạng tôi không vui lắm. Một là chưa thể có thêm lực lượng. Hai là biết rằng các sư đoàn ở Tây Nguyên phát triển tấn công về hướng đông ra biển. Điều này tôi nghĩ rằng không giống như khi bàn trong Hội nghị Bộ Chính trị tháng Giêng năm 1975. Hồi đó tôi còn nhớ anh Ba đã kết luận: sau khi giải phóng Tây Nguyên rồi thì lực lượng ở đây nhanh chóng phát triển xuống phía nam. Vừa nói anh vừa xòe cả bàn tay quét sát trên bản đồ từ Tây Nguyên xuống đến Sài Gòn. Tôi không quên được hình ảnh này đã làm tôi xúc động lúc đó, vì nó phù hợp với sự suy nghĩ của tôi. Tôi nghĩ rằng nếu cả Quân đoàn 3 xuống ngay miền Đông Nam Bộ thì ta có thể đánh vào Sài Gòn sớm hơn, đúng thời cơ hơn, quân địch ở miền Trung không thể co về kịp. Vả lại ven biển đã có Quân đoàn 2 cùng lực lượng của Quân khu 5 đủ sức tiêu diệt địch. Nhưng ngày hôm sau tôi nhận được bản sao bức điện của anh Sáu Mạnh (anh Lê Đức Thọ) gửi anh Bảy Cường, Điện số 71 ngày 23/3/1975:

    “Đã điều anh Trân (ám chỉ Sư đoàn 341) vào. Cán bộ (ám chỉ Sư đoàn) như anh ấy là loại khá, có năng lực. Sắp tới dự định điều thêm cho anh độ 3 cán bộ (tức 3 sư đoàn) có năng lực như vậy. Không kể một số cán bộ để hỗ trợ cho những cán bộ này (tức các binh chủng phối thuộc cho các sư đoàn điều vào). Số cán bộ này sẽ điều ngay ở chỗ tôi đến. Chuẩn bị sẵn để vào là dùng được ngay”.

    Tôi mừng quá nhưng vẫn băn khoăn vì đường xa các đơn vị sẽ vào chậm.

    Ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị họp và đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa (mùa mưa bắt đầu từ tháng 5).

    Đến ngày 29/3/1975, anh Ba đã điện cho anh Bảy Cường (Điện số 928/KT) có đoạn:

    “Trước những thắng lợi to lớn và dồn dập của ta, những thất bại hết sức nặng nề và không lường trước của địch, bọn Mỹ - ngụy đang đứng trước nguy cơ sụp đổ nhanh chóng cả về quân sự và chính trị, tinh thần.

    Tôi rất đồng ý với các anh là lúc này cần hành động hết sức kịp thời, kiên quyết và táo bạo. Trên thực tế trận Sài Gòn hiện nay đã bắt đầu.

    Trong khi xúc tiến gấp rút thực hiện sớm quyết tâm chiến lược đã định, tôi muốn nhấn mạnh một điều cấp thiết là nên mạnh bạo tăng thêm lực lượng thực hiện ngay nhiệm vụ chia cắt và bao vây chiến lược, cắt Tây Sài Gòn phía Mỹ Tho -Tân An”.

    Ngày 30/3/1975 anh Văn (Võ Nguyên Giáp) cũng đã điện cho tôi:

    “Chúng tôi đã điện cho anh Tuấn (Văn Tiến Dũng) đưa lực lượng vào càng sớm càng tốt, hết sức tranh thủ thời gian. Các đơn vị binh khí kỹ thuật mới cũng đang trên đường đi vào để tăng thêm cho B2. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một quân đoàn để lên đường sớm vào Nam B3 để làm dự bị”.

    Được điện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã họp bàn kế hoạch thực hiện. Nghị quyết 15/TWC ra trong dịp đó đã nhận định đánh giá tình hình: “Cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam không những đã bước vào thời kỳ phát triển nhảy vọt, mà thời cơ chiến lược để tiến hành cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam thực hiện thống nhất nước nhà”.

    Về nhiệm vụ, nghị quyết viết: “Nhiệm vụ trực tiếp khẩn cấp của toàn Đảng bộ ta là: Động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung cao nhất mọi sức mạnh tinh thần và lực lượng của mình, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp ba mũi giáp công, ba thứ quân, ba vùng, vùng lên tổng công kích tổng khởi nghĩa, nhanh chóng đánh sập toàn bộ ngụy quân ngụy quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân với khí thế tấn công quyết liệt, thần tốc, táo bạo và quyết giành toàn thắng, giải phóng xã mình, huyện mình, tỉnh mình và toàn miền Nam”. Nghị quyết thúc giục các cấp: “Phải tranh thủ thời gian vì thời gian lúc này là sức mạnh... Phải thật tập trung từng giờ, từng ngày, từng tháng từ đầu tháng này...”.

    Trong hội nghị của Trung ương Cục này, chúng tôi bàn nhiều về tình hình cụ thể có thể diễn biến ở B2. Nếu chúng ta giành thắng lợi thêm ở các chiến trường thì ở Sài Gòn cũng có thể hỗn loạn. Trong trường hợp đó, ta không thể không có kế hoạch nắm thời cơ mà hành động. Điện anh Ba cho Trung ương Cục khẳng định là tình hình sẽ diễn biến rất nhanh, cần đẩy mạnh đánh địch hơn nữa, áp sát Sài Gòn hơn nữa. Thắng lợi của ta thêm một bước có thể gây ra biến động ở Sài Gòn. Hiện nay thời gian là sức mạnh. Nghiên cứu kỹ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, cân nhắc kỹ tình hình, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chúng tôi vạch một kế hoạch tấn công Sài Gòn với lực lượng bản thân hiện có, được Trung ương Cục nhất trí và báo cáo ra Trung ương. Kế hoạch 5 hướng tấn công vào nội đô, những đơn vị địch cần phải diệt, các mục tiêu phải đánh chiếm đều đã có dự kiến sẵn, vấn đề là bố trí và sử dụng lực lượng thế nào, các mục tiêu trong nội thành và lực lượng đặc công biệt động tấn công từ bên trong đã bố trí và giao nhiệm vụ rồi. Bây giờ là lực lượng từ ngoài đánh vào.

    Kế hoạch chúng tôi dự kiến hướng đông sẽ do Quân đoàn 4 chỉ huy gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, và Sư đoàn 6 đảm nhận; hướng tây bắc do Sư đoàn 9, Trung đoàn 16, 271B; hướng tây do Đoàn 232 gồm Sư đoàn 5 và 3. Còn hướng nam do Trung đoàn 88 và 24 của Quân khu 8. Riêng hướng bắc bố trí Trung đoàn Gia Định, nếu có lực lượng ngoài vào thêm sẽ tăng cường hướng này, nếu không có thì thay vào đó lực lượng đặc công biệt động mạnh. Các lực lượng các hướng như vậy cũng đã được phân chia sẵn sàng, chúng tôi theo dõi kỹ tình hình diễn biến để xác định lúc nào tốt nhất cho việc thực hiện trận tấn công này. Trước mắt cần tiêu diệt thêm sinh lực địch bảo vệ Sài Gòn và cắt đứt đường 4, sông Lòng Tàu và khống chế các sân bay, đặc biệt là sân bay Biên Hòa. Phải bao vây Sài Gòn chặt hơn, không cho địch co cụm vào giờ chót, nhất là chia cắt giữa Quân đoàn 3 và 4 ngụy, phân tán và kèm chân địch ở các nơi. Trung ương Cục đồng ý với Quân ủy Miền là tấn công ngay Xuân Lộc, tiêu diệt Sư đoàn 18 và Lữ kỵ binh ngụy là lực lượng mạnh của Quân đoàn 3, áp sát Biên Hòa. Ra lệnh cho Đoàn 232 chuẩn bị chiếm Mộc Hóa, giành con đường độc nhất là đường dọc kênh 12 để có thể đưa Sư đoàn 1 và binh khí kỹ thuật xuống cắt đường 4, kết hợp với Sư đoàn 8 của Quân khu 8 diệt Sư đoàn 7 và 9 ngụy. Thực hiện tốt bước này, trên toàn chiến trường ta thắng lớn, ngụy quân ngụy quyền dao động rối loạn, không tổ chức phòng ngự Sài Gòn có hiệu lực, hoặc xảy ra biến động chính trị quân sự trong nội bộ ngụy hay giữa ngụy và Mỹ, thì lập tức nắm thời cơ, ta phát động cuộc tấn công và nổi dậy kết hợp công kích quân sự với khởi nghĩa của quần chúng, kết hợp trong đánh ra ngoài đánh vào nhằm chủ yếu 5 mục tiêu quan trọng nhất là sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và Dinh Độc lập, giải phóng toàn B2.

    Ngày 31/3 tôi cùng đồng chí Thượng tá Nguyễn Quang Minh, cán bộ tác chiến Bộ Tham mưu Miền và một số đồng chí khác đến chỉ huy sở của Quân khu 7 để giao nhiệm vụ cho Quân khu và Quân đoàn 4. Trước khi đi, tôi đã điện triệu tập cán bộ và hẹn cuối ngày 01/4/1975 có mặt. Tháng 3/1975 trời nắng ráo, đường băng qua khu A chỉ là đường đất nhưng không có gì trở ngại. Xe commăngca của chúng tôi được ngụy trang khéo léo, xuyên nhanh qua từng cánh rừng. Đúng giữa tiết xuân, có cây đâm chồi nảy lộc. Hoa xuân đua nở khắp nơi, ven đường hoa mua tím xen lẫn mai vàng, và cả lá xanh, lá trắng. Cũng đúng giữa mùa chiến đấu, tiếng bom, tiếng pháo đua nhau nổ ran mọi phía, hướng quanh Sài Gòn. Thật là cảnh vừa đẹp vừa hùng, cảm kích lòng người. Tôi xúc động nhớ đến những mùa xuân chiến thắng của ông cha xa xưa và của chúng ta ngày nay. Việt Nam vẫn là Việt Nam. Tôi ghi vội vào trang nhật ký:

          Mai vàng rực nẻo hành quân,
          Gió ngàn nổ rộn súng xuân vây thành.
          Xưa, nay, vẫn núi sông mình,
          Rạng tài Nguyễn Huệ, thắm tình Ngọc Hân
.

    Xe chạy cả ngày và chạy thâu đêm. Chỉ huy sở quân khu đặt trên bờ sông Đồng Nai thuộc khu vực Vĩnh An. Rừng ở đây cũng bị bom đạn và chất độc hóa học tàn phá, nhưng nhờ cây to nhiều nên vẫn còn xen kẽ từng lõm kín đáo. Tôi tới nơi thì đêm đã về khuya. Địa điểm khá bất ngờ đối với địch nên tạm gọi là tương đối an toàn. Nhưng cả ngày lẫn đêm, pháo ở hướng hóc Bà Thức và Cây Gáo vẫn nổ xung quanh không ngớt. Lúc dồn dập, lúc cầm canh. Các đồng chí được triệu tập đã có mặt đông đủ. Đồng chí Năm Chữ tức Nguyễn Như Ý - Bí thư Khu ủy, người nhỏ, gầy nhưng ý chí kiên cường, đã từng bị Pháp bắt với tôi vào bót mật thám Catinat và cùng bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn năm 1944-1945. Đồng chí gặp tôi mừng rỡ, nhắc: “Tình hình phấn khởi quá, tôi nóng ruột mong về thăm Sài Gòn sớm, thăm xóm nghèo ở Tân Định, nơi ta đặt cơ quan bí mật và cũng bị mật thám Pháp vây bắt ở đó, qua trào Mỹ - ngụy đã có gì thay đổi...”. Các đồng chí Sáu Trung - Thường vụ Khu ủy, Dương Cự Tẩm - Chính ủy Quân khu, Lê Văn Ngọc - Quyền Tư lệnh, Đặng Ngọc Sĩ - Phó Tư lệnh Quân khu kiêm Sư trưởng Sư đoàn 6 đều lộ vẻ vui mừng phấn chấn. Các đồng chí Quân đoàn 4, đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh, Bùi Cát Vũ - Phó Tư lệnh, đồng chí Trân - Sư trưởng Sư đoàn 341, giờ đây đã đổi tên thành Sư đoàn 1, đã đến đây từ chiều. Mặc dù đã khuya, chúng tôi vẫn ngồi nói chuyện với nhau, quên cả ngủ, quên cả nhọc nhằn. Sáng sớm hôm sau chúng tôi họp. Tôi thông báo về tình hình chung, tình hình từng chiến trường trên toàn Miền, về nhận định đánh giá của Bộ Chính trị, của Trung ương Cục, về chỉ đạo cụ thể của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Tôi báo cáo những điểm cần thiết về kế hoạch tấn công vào Sài Gòn của Quân ủy Miền đã được Trung ương Cục duyệt để các đồng chí nắm được nhiệm vụ chung. Cuối cùng là tuyên bố quyết định của Bộ Tư lệnh Miền tấn công Xuân Lộc, diệt Sư đoàn 18 và Lữ kỵ binh 3 và giao nhiệm vụ.

    Chúng tôi đã thảo luận kỹ về kế hoạch cụ thể của trận đánh, khả năng diễn biến thuận lợi và không thuận lợi, các biện pháp cần thiết. Các đồng chí đều nêu lên rằng, hiện nay địch đã có chủ ý phòng ngự rồi nên đánh chắc chắn là gay go. Nếu sau khi diệt xong Định Quán, ta đánh ngay Xuân Lộc mà không đánh lên Lâm Đồng thì chắc là ngoạn mục. Tôi đã bênh vực cho quyết tâm giải phóng Lâm Đồng trước với những lý do:

    - Ta chỉ làm chủ một đoạn đường 20 từ Định Quán lên tới Phương Lâm thì hành lang trước mắt cũng như lâu dài cho Quân đoàn 4 nối với hậu phương Khu A là không vững chắc. Hiện nay đã khó khăn về đạn dược, nếu đánh to hơn thì hành lang càng phải bảo đảm. Ta làm chủ đường 20 không những có được một trục đường tiến tới uy hiếp phía trước vào Biên Hòa và Sài Gòn mà còn gây khó khăn không nhỏ cho Đà Lạt từ phía nam. Nếu không mở rộng ngay địch có thể liều chết phản kích chiếm lại để có thể co cụm chiến lược vững vàng cho khu vực Sài Gòn và toàn miền Đông của chúng.

    - Xuân Lộc là một cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng thủ Sài Gòn, đồng ý là nay địch đã đề phòng hơn trước kia nhưng không phải trước kia địch lơi lỏng vì chúng đã điều toàn bộ Sư đoàn 18 và Lữ 3 kỵ binh về hướng này từ tháng 2.

    Mọi người đều nhất trí rằng đánh Xuân Lộc phải xem là đánh vào một điểm chốt hết sức quan trọng của địch, cần phải dự kiến chúng ra sức cố thủ và sẽ tăng cường chi viện mạnh, trận đánh sẽ rất ác liệt. Mọi người bàn cãi rất kỹ về chiến thuật và kỹ thuật, xin thêm đạn pháo và phương tiện đảm bảo kỹ thuật cho xe tăng. Trong lúc đang họp chúng tôi đã nghe tin ta giải phóng xong Quy Nhơn, Tuy Hòa, càng làm cho mọi người náo nức lập công. Tình hình tiến triển quá nhanh. Vì vậy, trước định đến quá ngày 10/4/1975 sẽ nổ súng, để chuẩn bị thêm mọi mặt cho chu đáo, sau đó đến nhất trí lấy ngày 09/4/1975 làm ngày “N”.

    Tôi cũng đã tranh thủ bàn với các đồng chí trong Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu chuẩn bị trước và cách thức tổ chức, làm việc của các ban quân quản các thị xã Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Biên Hòa.

    Trước khi trở về tôi đã ra lệnh cho Đoàn 75 tức Bộ Tư lệnh Pháo binh của Miền bố trí ngay trận địa cố định pháo tầm xa 130 ly tại Hiếu Liêm, ngã ba sông Bé và sông Đồng Nai, để khống chế có hiệu quả sân bay Biên Hòa và chi viện cho Quân đoàn 4 tấn công. Lâu nay đánh phá sân bay Biên Hòa là do pháo phản lực và cối của Đoàn đặc công 113 phụ trách. Nay có điều kiện tốt nên tăng thêm trận địa pháo 130 ly nữa thì số phận sân bay này xem như đã quyết định. Đoàn 75 pháo của Miền quả có duyên với sân bay Biên Hòa. Trận đánh đầu tiên bằng pháo vào đây, tháng 12/1964, lúc đó Đoàn 75 mới có súng không giật 57 ly, 75 ly và cối các loại, đã kết hợp với đặc công dồn dập nhả đạn diệt hàng loạt máy bay Mỹ, trong đó có trên 20 chiếc loại ném bom B-57 mới vừa ở Hoa Kỳ qua. Trận đánh do đồng chí Lương Văn Nho chỉ huy pháo và đồng chí Hai Cà tức Đại tá Trần Công An chỉ huy đặc công phụ trách. Lần đầu tiên không quân Mỹ bị đòn đau quá làm cho Maxwell Taylor, lúc đó là Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, tức tốc đến sân bay, đứng nhìn một cách ngao ngán những con đại bàng Hoa Kỳ gẫy cổ, nát cánh nằm ngổn ngang thành những đống sắt vụn. Mười hai năm đã qua, một chặng đường trưởng thành từ trong chiến tranh vô cùng ác liệt quý giá biết ngần nào. Qua chặng đường đó cán bộ pháo binh được rèn luyện, đơn vị được phát triển, có anh có em vui vầy, pháo và khí tài được cấp trên trang bị thêm và đặc biệt là đã lấy pháo địch sử dụng rất có hiệu quả, từ DKZ, 106,7 ly đến lựu pháo 105 ly, 155 ly. Cho đến ngày nay, Đoàn có trong tay pháo 130 ly có uy lực mạnh, có tầm xa và rất chính xác, đã đóng góp chiến công của mình trong tất cả các chiến dịch ở B2 và bây giờ có nhiệm vụ làm tê liệt một trong các sân bay lớn vào giai đoạn quyết định này. Các đồng chí đã từng phụ trách pháo của Miền, Đoàn 75 dày chiến công, từ đồng chí Nguyễn Văn Kiên lúc đầu, đến các đồng chí Lương Văn Nho, Đào Sơn Tây, Bùi Cát Vũ, rồi các đồng chí Sơn Tiêu, Nguyễn Tám, đồng chí Sô, đồng chí Lai..., đáng tự hào với công sức góp phần xây dựng các đơn vị và sử dụng đầy sáng tạo pháo của ta, cả pháo lấy được của địch, từ nhỏ chí lớn, đánh hợp đồng cũng như đánh độc lập, đánh công sự cũng như đánh ngoài trời, đánh không quân địch ở sân bay và diệt tàu thủy địch chạy trên sông, bằng mọi cách, trong mọi tình huống.

    Làm việc xong tôi tức tốc trở về chỉ huy sở Miền. Khi ngang qua sân bay Rang Rang giữa lòng căn cứ khu A của ta, tôi đã quan sát vết tích tội ác của không quân ngụy gọi là tập ném bom, phá hoại ở đây liên tục từ sau Hiệp định Paris. Nhưng đường băng lên xuống của máy bay vẫn còn nguyên, máy bay nhỏ của ta khi cần có thể sử dụng, chứng tỏ sự kém cỏi của phi công ngụy. Vừa đi khỏi sân bay, xe qua ngầm sông Mã Đà thì hai phi cơ chiến đấu của địch đến lượn vòng: chúng đã phát hiện đoàn xe nhỏ của ta di động qua ngầm. Xe vượt nhanh lên phía trước, rẽ vào rừng. Tôi núp vào một hầm đào sẵn bên bờ sông xem máy bay địch bổ nhào trút bom xung quanh. Cùng lúc ấy súng máy cao xạ ta nổ giòn giã quyện lấy máy bay địch. Một chiếc bị thương xịt khói và chuồn thẳng. Đoàn lại lên đường an toàn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #99 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2023, 04:45:37 pm »

    Về đến nhà đã một giờ sáng 04/4/1975, tôi được biết đoàn anh Văn Tiến Dũng đã đến đây từ chiều hôm trước và đã bố trí xong nơi ở và làm việc. Tôi mừng quá, thế là đồng chí Tổng Tham mưu trưởng với toàn bộ sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng Tư lệnh - mật danh là Đoàn A.75 - đã có mặt tại chỗ. Thật là kịp thời cho trận quyết chiến chiến lược vào hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy. Như thường lệ, đi công tác về bất cứ giờ nào, thư ký của tôi đem đến những bản tin gấp, những điện khẩn từ chiến trường, của các đơn vị và của Trung ương. Tôi chú ý ngay bức điện dài của anh Ba đến ngày 01/4/1975:

         “Bộ Chính trị đã họp ngày 31/3/1975 nghe Quân ủy háo cáo tình hình phát triển của cuộc tổng tấn công của ta trong 3 tuần qua, đặc hiệt trong thời gian gần đây.

         1. Nhất trí nhận định:

         Tiếp theo thắng lợi lớn của ta ở Khu 9 và miền Đông Nam Bộ giải phóng tỉnh Phước Long với thắng lợi to lớn trên chiến trường Tây Nguyên, cuộc tổng tấn công chiến lược của ta thực tế đã hắt đầu và trong một thời gian rất ngắn đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn.

         ... 2. Cách mạng nước ta hiện đang phát triển sôi nổi nhất, với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Do vậy Bộ Chính trị quyết định nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo hạo, hất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng Tư không thể để chậm. Chắc thắng và hất ngờ hiện nay chủ yếu là ở khâu tranh thủ thời gian, tấn công địch vào lúc chúng đã hoang mang suy sụp, tập trung lực lượng hơn nữa vào nhiều mục tiêu chủ yếu trong từng lúc trên từng hướng.

         ... 3. Muốn thực hiện phương châm chiến lược theo hướng nói trên cho kịp yêu cầu về thời gian thì ngay hây giờ cần có kế hoạch hành động táo hạo với lực lượng sẵn có trên chiến trường miền Đông.

         ... Quân ủy Trung ương đã chủ trương nhanh chóng chuyển lực lượng Quân đoàn 3 và các binh khí kỹ thuật từ B3 xuống, đồng thời ra lệnh điều quân đoàn dự bị vào.

         ... Để tranh thủ thời gian cao độ không nên chờ đợi lực lượng đến nơi thật đầy đủ, cũng tránh những việc điều động không hợp lý ảnh hưởng đến thời gian hành động”
.

         Và một điện dài của Quân ủy Trung ương do anh Văn ký, có những đoạn:

         “.. Bất ngờ hiện nay chủ yếu là khâu thời gian. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng thần tốc, mặt khác sử dụng lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi tập trung lực lượng đông đủ mới làm ăn. Chính theo ý nghĩa đó mà Bộ Chính trị đã khẳng định từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược ở Sài Gòn đã bắt đầu.

         Hướng phía đông, gồm những sư đoàn hiện nay đã có tại chỗ (không nên điều động xáo trộn làm mất thời gian), tăng thêm lực lượng cần thiết, nhất là binh khí kỹ thuật, trước hết là diệt Sư đoàn 18, đánh chiếm Xuân Lộc, áp sát sân bay Biên Hòa càng sớm càng tốt...

         Tốt nhất là cho bộ đội địa phương bao vây Mộc Hóa, còn toàn bộ chủ lực Miền ở đây cùng chủ lực Khu 8 thì tập trung tiến ngay xuống cắt lộ 4 giữa Bến Lức - Tân An - Mỹ Tho...”.


     Tôi đi nằm trong một trạng thái suy nghĩ không dứt. Ba mươi năm rồi có bao nhiêu đêm dài thao thức, nhưng có đêm nào lại giống đêm nào. Tôi nhẩm tính lực lượng của địch bố trí vòng trong vòng ngoài để bảo vệ Sài Gòn và lực lượng của ta ở từng hướng chiến dịch. Tôi nhắm mắt mường tượng lại những con đường tiến vào nội ô Sài Gòn, các sông rạch, những cánh đồng, nơi có địa hình cao ráo hay lầy lội. Đánh Xuân Lộc thì nhất trí rồi. Còn bỏ Mộc Hóa tiến về đường 4 thì binh khí kỹ thuật làm sao đi được? Và hình dung sự phản ứng của địch khi ta tấn công khu vực Sài Gòn, một thành phố lớn, phức tạp về nhiều mặt, là hang ổ cuối cùng của giặc, bị bao vây không còn lối nào để thoát, buộc địch phải cố thủ đến hết hi vọng sống còn, mới đầu hàng hay tan rã. Và đó cũng là thành phố thân yêu của ta, nhân dân ta đông đúc cần phải bảo vệ, phố xá, công trình kiến trúc, tài sản của xã hội không thể để địch phá hoại. Miền Đông Nam Bộ bao quanh thành phố là một vùng địa hình trung bình phần lớn là cao ráo, nhiều đường sá, rộng cả chiều dọc lẫn chiều ngang, không giống như Tây Nguyên cô lập trên núi cao hay ven biển miền Trung dài mà hẹp dễ bị cắt, bị chia, dễ gây cho địch hỗn loạn và tan vỡ. Lực lượng vũ trang bản thân của B2 hiện có, trước tình hình địch đang suy sụp, có thể kết hợp với nổi dậy của quần chúng, đánh thắng và giải phóng Sài Gòn nhưng không đủ sức đánh nhanh mạnh giữ cho thành phố nguyên vẹn.

    Trong những lúc suy nghĩ căng thẳng, gặp khó khăn chưa giải đáp được, tôi thường nhớ đến Bác Hồ và tự nhiên tôi nhẩm một đoạn dịch bài thơ chữ Hán “Học đánh cờ” của Bác:

    “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,
    Kiên quyết không ngừng thế tấn công;
    Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
    Gặp thời, một tốt cũng thành công”.


    Phải rồi, tôi tự nhủ, lực lượng ta ít nhưng thời cơ đã đến, gặp thời thì một tốt cũng thành công, không ngừng thế tiến công khi địch đã rối. Tôi mỉm cười một mình sung sướng và chợp mắt lúc nào không hay. Khi tỉnh giấc, trời vừa sáng, tôi qua gặp ngay anh Dũng. Anh ấy cũng đã thức dậy rồi. Chúng tôi ôm nhau mừng rỡ. Tôi hỏi:

    - Lần đầu tiên vào Nam Bộ, anh thấy thế nào?

    - Cảm động và sung sướng, tả sao cho hết. Anh trả lời.

    Rồi câu chuyện xoay quanh các chiến thắng ở các chiến trường và chúng tôi bàn cách làm việc sắp tới.

    Rời anh, tôi đi thăm và bắt tay khắp lượt các đồng chí trong “Tiền phương”. Các đồng chí Lê Ngọc Hiển, Lê Quang Vũ đã từng là Phó Tham mưu trưởng Miền một thời gian trước đây, quen mặt và biết người rồi, đồng chí Doãn Tuế - Tư lệnh pháo binh của Bộ Tổng Tư lệnh vào đây lần thứ hai, còn nhiều đồng chí tư lệnh các binh chủng, cán bộ tham mưu, tác chiến, lần đầu vào B2, cảnh lạ nhưng người quen, mừng vui và thích thú. Thế là thời cơ đã sẵn, đội ngũ được tăng cường, khi lực lượng chủ lực tập trung đầy đủ thì phần thắng rõ ràng đã nắm chắc trong tay, thật là nghìn năm có một.

    Ngay hôm nay chúng tôi tổ chức làm việc giữa hai bộ phận các cơ quan của Miền và Đoàn A.75, tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu, chính trị, hậu cần B2 báo cáo cho các đồng chí cơ quan tiền phương Bộ đầy đủ và cụ thể tình hình chiến trường đặc biệt là khu vực Sài Gòn, từ hình thái và giá trị các mục tiêu quan trọng của địch, lực lượng và các bố trí phòng ngự của chúng, địa hình địa vật các vùng đến các lực lượng lớn, nhỏ của ta bên trong và bên ngoài thành phố, những tâm lý, cách sống và khả năng hành động của con người Nam Bộ và Sài Gòn, các kế hoạch đã vạch ra và thế trận đã hình thành. Công việc báo cáo phải xong trong một thời gian ngắn nhất. Từ giờ phút này chúng ta phải chạy đua với thời gian mà!

    Chiều ngày 07/4/1975, đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện của Bộ Chính trị, một mạch từ Hà Nội vào thẳng B2, đã đến căn cứ Bộ Tư lệnh Miền lúc ấy nằm về phía tây thị trấn Lộc Ninh, sau này trở thành chỉ huy sở cơ bản của chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Sáng ngày 09/4/1975, trong cuộc họp có đủ mặt các đồng chí trong Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh B2, cán bộ chủ chốt trong các cơ quan Miền và đoàn A.75, đồng chí Thọ đã phổ biến nghị quyết mới nhất của Bộ Chính trị. Nghị quyết đã nhận định và đánh giá tình hình toàn chiến trường có hệ thống từ Nghị quyết 21 đến nay, các diễn biến nổi bật của từng chiến trường, tình hình nước Mỹ và của thế giới bên ngoài có liên quan và quyết tâm giải phóng miền Nam trước khi mùa mưa bắt đầu. Đồng chí nói: “Tình hình biến chuyển hết sức nhanh chóng, thời cơ là vô cùng thuận lợi, vì vậy kế hoạch 2 năm 1975-1976 của ta có thể và phải được thực hiện trong vòng mấy tháng. Bộ Chính trị chỉ thị: “Lúc này thời gian là sức mạnh. Phải hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

    Sau đó, Hội nghị đã quyết định về cách làm việc và phân công rành mạch giữa các bộ phận:

    Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền vẫn chịu trách nhiệm như cũ, chỉ đạo và chỉ huy cuộc tổng tấn công và nổi dậy trong toàn B2, đặc biệt là chỉ đạo sát cuộc nổi dậy của quần chúng ở Sài Gòn.

    Chiến dịch tiến công thành phố Sài Gòn mà sau này Bộ Chính trị đặt tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” theo nguyện vọng chung, do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh. Bộ Tư lệnh Miền trong lúc đó vẫn đảm nhận trách nhiệm B2 của mình. Có vài đồng chí tham gia vào chỉ huy chiến dịch, như đồng chí Phạm Hùng với cương vị là Chính ủy, tôi và đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh.

    Các cơ quan của Miền, tham mưu, chính trị, hậu cần đều phải làm 2 chức năng: một vẫn là những cơ quan giúp Bộ Tư lệnh Miền chỉ huy toàn B2 như từ trước, hai là thành cơ quan của Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh được tăng cường các cán bộ và cơ sở của Đoàn A.75 vào. Bộ Tham mưu Miền phải chọn sẵn những cán bộ am hiểu tình hình và địa hình, địa phương, có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu của chủ lực nhiều năm ở B2, trực tiếp giúp đỡ các quân đoàn của Bộ sẽ vào tham gia chiến dịch còn bỡ ngỡ nhiều trong một hoàn cảnh hết sức khẩn trương: vừa hành quân đến, có khi chưa đủ đã phải triển khai và chiến đấu ngay. Đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần cùng vào một lúc với đồng chí Dũng, đi thẳng đến cơ quan của Cục Hậu cần Miền, nhập thân vào với anh em, cùng lo đảm bảo mọi mặt vật chất kỹ thuật cho chiến dịch.

    Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Phó Bí thư Trung ương Cục, đặc biệt phụ trách công tác nổi dậy của quần chúng nhất là ở thành phố Sài Gòn. Đồng chí Võ Văn Kiệt - Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục thì chỉ đạo việc tiếp quản các cơ sở ở Sài Gòn cũng như điều khiển kế hoạch và tổ chức quân quản thành phố. Với cương vị là đại diện Bộ Chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ tham gia ý kiến vào mọi mặt công tác của Trung ương Cục cũng như của chỉ huy chiến dịch.

    Rừng Lộc Ninh đã nổi tiếng, giờ đây càng đi vào lịch sử, tưng bừng nhộn nhịp suốt cả ngày, đêm. Dưới tàng cây lá còn lại của nó xen thêm vào những lưới ngụy trang khéo léo, cán bộ, chiến sĩ, xe gắn máy đi lại từ nhà này qua lán trại nọ không lúc nào ngừng. Ban đêm ánh đèn điện được che chụp cẩn thận chiếu rọi từng khuôn mặt rạng rỡ, từng bản đồ chứa đựng bao bí mật, từng thiết bị máy móc nhiều loại, cũ có, mới có..., làm tăng thêm vẻ huyền bí mà hiện đại, khẩn trương mà nghiêm ngặt của khu rừng thiêng vừa là Chỉ huy sở Miền, vừa là của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Từ cành cây này qua cành cây nọ, dây điện thoại tỏa đi khắp phía. Và thoát lên trên vòm trời là những tín hiệu vô hình của những mật điện đi, về mọi nẻo. Đồng chí Xuân Đào 1 phụ trách thông tin của Miền, vẫn thường than phiền tình trạng thiếu thốn kinh niên máy móc phương tiện, thiếu dây cáp lẫn dây trần, nhưng vẫn luôn tự hào về đội ngũ cán bộ và chiến sĩ của mình đã từng dũng cảm và xoay xở mọi cách, bảo đảm cho chỉ huy thông suốt của Miền đối với tất cả các quân khu, đơn vị và trong mọi chiến dịch của chủ lực B2 từ trước đến nay. Giờ đây Xuân Đào hả hê vui sướng được thông tin của Bộ tăng cường giúp đỡ mọi cần thiết trong thời kỳ mà công việc nhân lên gấp hai gấp ba này.

    Căn cứ vào nghị quyết và chỉ thị của Bộ Chính trị, Hội nghị cũng đã nhận định rằng tình hình chiến trường vẫn tiếp tục diễn biến nhanh chóng. Cần có dự kiến đến lúc nào đó, có thể có những đột biến ngay ở Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Vì vậy, để chủ động trong mọi tình huống, ta phải có kế hoạch hành động lập tức khi thời cơ đến với lực lượng hiện có mà không đợi các quân đoàn của Bộ vào đến nơi. Trường hợp không có đột biến, thì sẽ đợi cho lực lượng chủ lực ta được tập trung đầy đủ có ưu thế áp đảo quân địch để đánh đòn sầm sét bất ngờ, chắc thắng, loại trừ mọi sự chống cự dai dẳng, mọi đổ nát và phá hoại, đảm bảo an toàn cao cho một thành phố lớn nhất và đông dân cư nhất của ta. Hội nghị đã nhất trí thông qua phương án tấn công Sài Gòn bằng lực lượng hiện có của B2 mà Trung ương Cục đã thông qua, đang bắt đầu thực hiện và chúng tôi đã trình bày cặn kẽ.




--------------------------------------------------------------------
1. Đại tá Nguyễn Xuân Đào hiện là Trưởng Phòng Thông tin Quân khu 7.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM