Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 10:51:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 5574 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #70 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:43:55 am »

*
*      *


    Căn cứ vào Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ chấm dứt hoạt động trong thời hạn 60 ngày. Nhưng gần đến những ngày kết thúc thì có dư luận của Mỹ, của báo chí Sài Gòn lúc ấy rằng Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ kéo dài thêm thời hạn hoạt động. Chưa hiểu đây là âm mưu gì. Phải chăng để kéo dài thêm sự có mặt công khai của Phái đoàn Mỹ? Để ngụy cố bám vào chủ Mỹ nhờ sự che chở? Để giữ phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại hòng giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ như vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích? Hay để hạ thấp vai trò Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam? Nhưng ta kiên quyết chuẩn bị cho đoàn quân sự Mỹ trở về Mỹ, đoàn anh Hòa trở về Hà Nội. Còn đoàn của tôi, trong khi chuyển thành Ban Liên hợp quân sự hai bên làm việc thì Trung ương đã quyết định là anh Hoàng Anh Tuấn - Thiếu tướng, sẽ là Trưởng đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên tôi sẽ rút, nhưng chuyện rút đi của tôi trở thành vấn đề khó. Tôi đi Hà Nội? Không có lý do gì. Tôi đi Lộc Ninh? Mỹ - ngụy sẽ làm khó dễ, không cung cấp phương tiện hoặc có âm mưu đen tối nào đó... Ý đồ của Mỹ - ngụy lúc ấy chúng tôi biết rõ là ít nhất cũng giữ tôi lại Tân Sơn Nhất. Để cho một cán bộ có cỡ - theo ý chúng - của Mặt trận Giải phóng như tôi trở về chiến trường là “thả hổ về rừng”. Giữ một người thế này trong tay chúng làm con tin, ắt sẽ có ích đấy.

   Từ lâu chúng ta thừa biết là mọi việc do chủ Mỹ định đoạt, ngụy chỉ là tên tôi tớ thừa hành. 60 ngày qua càng cho phép tôi khẳng định như vậy. Trong việc này cũng như bao nhiêu việc đã qua nếu Mỹ ưng thuận thì mọi việc sẽ êm xuôi. Phải làm cho Mỹ ưng thuận đưa tôi đi Hà Nội.

   Tối 29/3/1973 tôi mời Woodward - Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ đến gặp tôi tại trụ sở của phái đoàn ta trong trại Đavít. Đúng giờ, cả Woodward, cả Wickham - Chuẩn tướng, Phó Trưởng đoàn Hoa Kỳ và tên phiên dịch Sovado - Thiếu tá mũ nồi xanh, đã từng là cố vấn cho trường đào tạo bình định của ngụy quyền ở Vũng Tàu, đều đến.

   Tôi báo cho Woodward biết rằng do liên lạc của chúng tôi có khó khăn nên tôi vừa nhận được tin chậm là còn một tù binh Mỹ mà lực lượng của chúng tôi đang giữ ở tỉnh Trà Vinh. Để thực hiện thiện chí của chúng tôi thi hành đúng đắn Hiệp định Paris, chúng tôi xin trao trả cho các ngài. Ngay từ ngày mai hai bên sẽ cử cán bộ lo việc giao và nhận ngay người tù binh cuối cùng này. Về cá nhân, tôi nghĩ rằng đây là món quà thân thiện của tôi đối với thiếu tướng để ghi nhớ 60 ngày cùng làm việc với nhau trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên (ý tôi muốn nói nhân dịp này Woodward thế nào cũng được khen thưởng thăng cấp).

   Woodward mừng rỡ ra mặt, cám ơn tôi rối rít và để tỏ lòng biết ơn, y tỏ vẻ thân mật hỏi thăm tôi về sức khỏe, hỏi tôi có dự kiến riêng gì sắp tới không?

   Thật là một câu hỏi đúng chỗ và đúng lúc, tôi chỉ mong có thế. Tôi liền nói dự kiến riêng của tôi là sẽ đi Hà Nội một chuyến và nhân tiện thăm luôn Lào.

   Hẳn Woodward và Wickham tưởng tôi có ý định giúp giải quyết vấn đề tù binh của Mỹ và Thiệu ở Lào, nhưng không tiện và không dám hỏi. Woodward tỏ vẻ rất sốt sắng hỏi luôn “Trung tướng định bao giờ thì đi?”.

   - Tôi định sáng mai đi nếu thiếu tướng sẵn lòng lo giúp phương tiện.

   - Trung tướng sẽ có ngay phương tiện. Tôi sẽ sắp xếp một chuyến C130 đi Hà Nội sáng mai vì trung tướng.

   Tôi nói lời cám ơn và nhắc lại là sáng mai một sĩ quan ta sẽ gặp sĩ quan Hoa Kỳ, sắp xếp việc trả và nhận tù binh ở Trà Vinh.

   Y lại cám ơn và hỏi tôi C130 ngày mai đi có phải chờ tôi trở về không? Nếu không thì tôi sẽ trở về thế nào? (Vì phái đoàn Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động và trở về Mỹ ngày 31/3. Nếu sau ngày đó thì phải nhờ phương tiện của ngụy).

   Tôi mỉm cười lấp lửng, có thể tôi vòng qua Paris để trở về Sài Gòn, luôn tiện được biết thêm một thủ đô nổi tiếng của châu Âu (hẳn Woodward lại tưởng tôi cần gặp phái đoàn ta ở Paris đây).

   Woodward rất vui, khen là một dự kiến hay của tôi và từ giã ra về, không quên khẳng định lại là sáng mai sẽ có máy bay.

   Buổi sáng ngày 30/3/1973, sĩ quan ngụy đã đưa đoàn xe du lịch đen đến đón tôi tận nhà và đưa tôi ra tận cầu thang máy bay một cách hết sức cung kính. Đưa tôi ra sân bay đi Hà Nội có Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng một số anh em trong hai phái đoàn ta. Có các đồng chí trong hai phái đoàn Hungary và Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát đình chiến. Lại còn có cả vợ chồng thiếu tướng Woodward, trưởng phái đoàn Mỹ. Tôi bắt tay từ giã mọi người một cách thân mật, những cái siết tay rung cảm và quyến luyến, hết sức cảm động ngầm biểu dương một thắng lợi và những cái siết tay thông cảm ngầm biết ơn lẫn nhau. Woodward chúc tôi đi bình yên, gặp nhiều may mắn và nói rằng sẽ cho máy bay ra Hà Nội đón tôi trở về, điều mà tôi không yêu cầu. Tôi chúc vợ chồng Woodward sống hạnh phúc và bước lên máy bay vẫy chào mọi người. Thế là trên chiếc C130 mà Mỹ có nhã ý dành cho tôi ngồi ở buồng lái, tôi cùng đồng chí Thượng tá Nguyễn Quang Minh - cán bộ nghiên cứu tổng hợp tình hình của Ban Liên hợp, Bác sĩ Lê Hoài Liễm, Dũng - phiên dịch, Hoa - cán bộ bảo vệ và một số đồng chí khác từ Sài Gòn ra Hà Nội, chấm dứt 60 ngày hoạt động rất sôi nổi và căng thẳng trong lòng quân thù.

    Ngồi trên máy bay, lần đầu tiên bay dọc theo chiều dài đất nước, nối liền Sài Gòn và Hà Nội, lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây rồi, non sông một dải 4.000 năm, tạo lập bằng xương máu, mồ hôi của bao thế hệ, xưa, nay. Làng mạc xanh tươi, núi rừng trùng điệp, bờ biển dài với những bãi cát trắng phau, thềm lục địa bao la xanh biếc, thật là muôn hình muôn vẻ. Ánh nắng chan hòa của mặt trời tháng ba rực rỡ đã tô thêm lên cảnh vật những màu sắc lung linh kỳ diệu. Đẹp vô cùng, Tổ quốc của ta. Đẹp vô cùng lòng dũng cảm, trí thông minh sáng tạo và sức lao động bền bỉ, đời này qua đời khác của triệu triệu con người Việt Nam để có được giang sơn gấm vóc ngày nay. Tôi thầm cảm ơn vô hạn đối với tổ tiên Lạc Hồng và bất giác tôi nhớ đến Bác Hồ, nhớ lời Bác nói với bộ đội ta năm nào dưới mái Đền Hùng, trên sườn núi Nghĩa:
    “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Lời nói của Bác đã khắc sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Kẻ thù nào cũng sẽ bị đánh tan tành, sẽ bị đuổi sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Bọn Lê Chiêu Thống xưa, bè lũ Nguyễn Văn Thiệu nay, sẽ là bia xấu muôn đời trong sử sách. Tổ quốc ta nhất định độc lập, tự do và thống nhất bất cứ bằng phương pháp nào.

    Máy bay đã bay vào đồng bằng sông Hồng. Kia rồi! Hà Nội - Thủ đô yêu dấu, trái tim của Tổ quốc. Tôi đã sống nhiều ngày ở Hà Nội, đã làm việc ở đây, đã đôi ba lần đi xa rồi lại trở về. Nhưng lần trở về này sao khác xa các lần trước, nó hồi hộp, xúc động lạ thường, giống như đứa con lâu ngày đi xa vật lộn với bao khó khăn nguy hiểm của đời, nay bỗng được trở về gian nhà ấm cúng gặp người mẹ hiền da diết yêu thương. Con đây rồi, con đã về đây với mẹ dịu hiền, để rồi lại chuẩn bị lên đường cho một chuyến đi xa khác chắc là khác nhiều với chuyến đi vừa qua.

    Sau ba ngày, một máy bay C130 từ Sài Gòn ra hạ cánh ở sân bay Gia Lâm để đón tôi - đúng như Woodward đã hứa hôm nọ. Tôi phái đồng chí Thượng tá Nguyễn Quang Minh ra báo cho sĩ quan Mỹ chỉ huy máy bay biết rằng tôi chưa về được. Đồng chí Minh đã viết một thông báo nói rõ rằng Trung tướng Trần Văn Trà còn bận việc chưa về và cho phép máy bay trở lại Tân Sơn Nhất mà cũng không cần trở ra đón. Và đồng chí cũng không quên thay tôi tỏ lời cảm ơn.

    Trong niềm vui dạt dào được trở về thủ đô yêu mến, với không khí tự do thoải mái giữa bạn bè, đồng chí, đồng bào ruột thịt, tôi càng nhớ thương các đồng chí còn đang ở Tân Sơn Nhất. Vì nhiệm vụ không thể thiếu trong giai đoạn đấu tranh hiện nay, các đồng chí buộc phải sống, làm việc căng thẳng giữa vòng vây kẻ thù mà thời gian chưa biết đến bao giờ. Rồi đây những gì sẽ đến với các đồng chí trong lúc kẻ thù của ta vô cùng ngoan cố và thâm độc? Tôi tự nhủ lòng, anh em vùng giải phóng phải làm hết sức mình, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí trong ấy giành thắng lợi cho cách mạng. Nhất định các đồng chí không bị cô lập, đã có chúng tôi, đã có nhân dân ta, ngay tại Sài Gòn. Một ngày nào đó chúng ta lại sẽ gặp nhau đón mừng chiến thắng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #71 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2023, 02:48:48 pm »

CHƯƠNG II
Chỉ có con đường bạo lực cách mạng



    Ngay sau khi ra tới Hà Nội, tôi đã được gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, báo cáo về công việc của Ban Liên hợp quân sự bốn bên; những vấn đề đã đạt và những vấn đề chưa đạt được; những gì tôi đã rút ra kết luận sau 60 ngày mặt giáp mặt với Mỹ - ngụy; những nhận định của tôi về tình hình... Tôi đã nghe các đồng chí nhận xét, đánh giá tốt về công tác của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, về âm mưu địch và những gì ta sẽ làm tiếp. Sau đó tôi được phép nghỉ vài hôm rồi tiến hành chuẩn bị và tham gia hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng bàn về tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam Việt Nam.

     Các anh trong Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền, anh Phạm Hùng, Mười Cúc 1, Hai Hậu 2, Mười Khang, Sáu Dân 3, đi theo đường Trường Sơn cũng lần lượt ra tới Hà Nội. Chúng tôi họp riêng phần chiến trường B2 để thống nhất đánh giá tình hình, nhận định sự diễn biến thực tế vừa qua và dự kiến sắp tới. Cũng đã trao đổi kinh nghiệm với các anh Năm Công 4, Chu Huy Mân ở chiến trường Khu 5 và anh Hoàng Minh Thảo ở B3 ra dự hội nghị.

     Hạ tuần tháng 4/1973 họp Bộ Chính trị Trung ương Đảng có đủ đại biểu các chiến trường ở miền Nam tham gia. Đấy là một cuộc họp hội nghị vô cùng quan trọng. Sau khi các bên đã ký kết Hiệp định Paris, tức là ta đã giành được một thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, buộc quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi miền Nam Việt Nam, và đặc biệt là sau 60 ngày thi hành Hiệp định ta đã có thêm được một số thực tế diễn biến ở chiến trường, cuộc hội nghị này nhằm đánh giá lại tình hình, đánh giá tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, vạch ra đường đi nước bước của cách mạng miền Nam trong giai đoạn chiến lược mới. Đó là điều mong mỏi của tất cả mọi người, cán bộ cũng như chiến sĩ, nhân dân.

    Cho đến lúc ấy, thực ra là trong hàng ngũ cán bộ các cấp, ở các chiến trường cũng như ở Trung ương, chưa phải đã nhất trí với nhau về giá trị của Hiệp định Paris, về tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, và đặc biệt là về cách thi hành Hiệp định như thế nào, về cách đối phó với kẻ địch đang ngày càng vi phạm các điều khoản của Hiệp định. Ngay đến diễn biến ở mỗi chiến trường cũng khác nhau vì ở mỗi chiến trường điều kiện về ta và về địch hoàn toàn không giống nhau, giá trị chiến lược của mỗi chiến trường đối với toàn bộ cuộc chiến tranh không giống nhau, cấp lãnh đạo ở chiến trường đó suy nghĩ nhận thức vấn đề và hành động cũng khác nhau. Và đó cũng là một thực tế không thể khác được. Cho nên căn cứ thực tế diễn ra ở một chiến trường nào đó để đánh giá và chủ trương cho chung sẽ không tránh khỏi sai lầm nguy hiểm nếu không phải là một chiến trường có nhiều cái chung, có tính tiêu biểu cho toàn cục, có giá trị chiến lược quan trọng đối với toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong lúc đang diễn biến chiến tranh, không đánh giá đúng vai trò của từng chiến trường sẽ dẫn đến sai lầm trong tổ chức bố trí lực lượng các mặt, trong chủ trương về chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, và tất nhiên ảnh hưởng đến thắng lợi hay thất bại của chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược giải phóng đất nước của ta không phải không có trường hợp sai lầm. Nhưng nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt, dân chủ và tập trung của Đảng ta mà ta kịp thời sửa chữa sai lầm và giành thắng lợi. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Mỗi thành bại của cách mạng trong từng giai đoạn đều là thành bại của ý nghĩ và hành động của hàng triệu con người mà trước tiên là của tập thể lãnh đạo. Chớ có bao giờ, bại là do anh mà thành là do tôi. Ở mỗi giai đoạn của cách mạng, mỗi khúc quanh của lịch sử, chủ trương và hành động đúng cũng đều là kết quả của tư duy, của nhận thức tập thể, của bao nhiêu đầu óc cộng lại, từ đầu óc của người lãnh đạo cao nhất tới đầu óc của người chiến sĩ, người dân bình thường vì yêu nước yêu dân mà xông pha vào thực tế cụ thể sinh động ở chiến trường. Không một người nào luôn là đúng, cũng không một người nào luôn là sai, vì tất cả đều là con người. Cái cao quý nhất, sáng suốt nhất là nhận ra được cái sai và kiên quyết kịp thời sửa chữa. Ngay cả tập thể nữa không phải lúc nào cũng đúng hết. Nhưng chắc chắn tập thể ít sai lầm hơn là cá nhân chuyên quyền. Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, của dân tộc ta đã tổng kết và nêu lên truyền thống của Đảng, của dân tộc bằng một câu rất gọn nhưng rất thâm thúy:

    “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

    Đoàn kết đây là đoàn kết thực sự, qua đấu tranh để đoàn kết, không phải chỉ là đoàn kết trong hành động mà trong mọi lĩnh vực từ hướng suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng, ý chí. Và cũng chính vì thấm nhuần truyền thống ấy mà Người thành con người hết sức giản dị, hết sức khiêm tốn. Người là tập trung trí tuệ của mọi người, ý nghĩ của Người trở thành ý nghĩ của mọi người. Đạo đức Hồ Chí Minh tỏa sáng non sông, chiếu rọi từng tấm lòng Việt Nam. Người không chỉ thấy rõ mình mà thấy rõ cả mọi người, công minh, chính trực, lòng thương mênh mông.

    Dân tộc ta cũng đã đúc kết truyền thống của mình trong quá trình dựng nước và giữ nước bằng câu châm ngôn:

                                      "Một cây làm chẳng nên non,
                                    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
.

    Dân tộc Việt Nam là như vậy, Hồ Chí Minh là như vậy!

    Trong thời kỳ này tôi còn nhớ nhiều câu hỏi của nhiều đồng chí cán bộ ở các chiến trường nêu lên.

    “Vì sao Hiệp định đã ký rồi mà ngụy quân, ngụy quyền không rã nhiều”?

    Hay nhận định:

    “Hiện nay Mỹ cút nhưng ngụy không nhào mà lại mạnh hơn lên”, hoặc:

    “Vừa qua là quá trình Mỹ thua nhưng cũng là quá trình ngụy quyền tồn tại và mạnh lên, cả về chính quyền, về quân đội và về kinh tế...”.

    Có một số triệu chứng bề ngoài cộng với những âm mưu đen tối và ngoan cố, những kế hoạch chủ quan cao độ của Mỹ - ngụy, đã làm cho các đồng chí ấy không hiểu được thực chất của tình hình.

    Ngay cả Hiệp định Paris có hiệu lực, ngụy đã xua quân lấn chiếm một số vùng quan trọng của ta như Cửa Việt (Trị Thiên), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), đường 4 (Mỹ Tho), đường 2 (Bà Rịa), vùng Bảy Núi (Long Xuyên)... Không những chúng đã lấn chiếm nhiều vùng ta mới mở ra trước ngày 28/01 mà còn chiếm thêm một số vùng ta đã làm chủ từ trước. Trong lúc đó chúng tiến hành ào ạt nhiều cuộc hành quân càn quét và cảnh sát trong các vùng trước nay đang tranh chấp giữa ta và địch, các vùng mà chúng đang kìm kẹp, tiến hành bình định, lấp các lõm căn cứ du kích của ta, phá cho được thế xen kẽ, da beo, hoàn chỉnh vùng của chúng. Hầu hết ở các chiến trường, chúng đều đóng thêm đồn bót ở nơi mới lấn chiếm và ken dày thêm nơi chúng kìm kẹp, dọc đường giao thông chiến lược, quanh đô thị lớn. Riêng ở bốn tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Tường, Bến Tre, từ tháng 01 đến tháng 4/1973 chúng đóng thêm 287 đồn trong 129 ấp thuộc 24 xã. Cũng trong thời gian đó, Mỹ đã ra sức chở vũ khí, phương tiện chiến tranh từ Mỹ, Nhật, Philíppin qua củng cố và phát triển quân đội ngụy. Chúng trang bị thêm các loại vũ khí hiện đại cho quân ngụy như xe tăng M48, pháo 175 ly “vua chiến trường” của Mỹ, phi cơ F5E... Ngụy đã dùng mọi biện pháp bắt lính đại quy mô. Đổ đồng mỗi tháng chúng bắt 15.000 thanh niên. Nhờ đó đã bổ sung được đủ và nhanh cho quân chủ lực của chúng và số còn lại, số dự trữ để bổ sung khá lớn, được huấn luyện tại các trung tâm huấn luyện tân binh mà lúc ấy không nơi nào còn đủ chỗ chứa. Quân bảo an và phòng vệ dân sự cũng tăng lên nhiều. Lập các liên đoàn bảo an để cơ động chiến đấu tại địa phương thay cho chủ lực. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1973, số tiểu đoàn bảo an toàn Miền của chúng đã từ 189 lên 337. Ở các đô thị thì phát triển mạnh cảnh sát. Thành lập nhiều tiểu đoàn cảnh sát dã chiến, đặc biệt là ở Sài Gòn. Kế hoạch của Mỹ - ngụy là liên tục phát triển quân đội ngụy thành một đội quân mạnh 1.100.000 tên, hiện đại hóa, trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa..., nhất là tăng cường các binh chủng kỹ thuật. Không quân sẽ lên đến 1.500 - 1.800 phi cơ các loại. Cơ giới sẽ có 31 - 35 thiết đoàn...

    Đi đôi củng cố phát triển ngụy quân, chúng tận lực củng cố ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở. Tung cán bộ bình định về xã ấp, đưa sĩ quan quân đội về lập các phân chi khu ở xã - công cụ đàn áp phátxít chủ yếu - ra sức kìm kẹp nhân dân chặt chẽ hơn như: củng cố hộ liên gia, phát triển “đoàn ngũ hóa quần chúng”... Chúng phát triển do thám gián điệp khắp thôn ấp, tung ra vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta. Để hậu thuẫn cho ngụy quyền Thiệu để sẵn sàng yểm trợ quân đội tay sai ở Đông Dương, chủ yếu là ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đã để ở Đông Nam Á một lực lượng quân sự cơ động gồm bốn hàng không mẫu hạm, 735 máy bay chiến thuật, 173 máy bay chiến lược B-52.

    Tất cả những việc nêu trên đây, Mỹ - ngụy đã tiến hành một cách mạnh mẽ ngay từ khi có Hiệp định. Có thể nói có Hiệp định rồi, chúng lại tích cực đánh phá nhiều hơn, kìm dân chặt hơn, gây cho ta không ít khó khăn ở tất cả các địa phương.




------------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục.
2. Đồng chí Trần Nam Trung.
3. Đồng chí Võ Văn Kiệt.
4. Đồng chí Võ Chí Công.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #72 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2023, 02:50:48 pm »

    Trong lúc đó, về phía ta, do qua một thời gian dài hoạt động liên tục từ tháng 4/1972 đến nay, nên cán bộ chiến sĩ mỏi mệt, quân số tiêu hao chưa kịp bổ sung, đơn vị nào cũng xốc xếch, thiếu người cầm súng, lương thực, đạn dược kém sút, vì vậy mà rất khó đối phó với các cuộc tấn công của địch. Một số nơi buộc phải lùi để địch chiếm mất đất, mất dân. Thêm vào đó, một số cán bộ, một ít địa phương, với tinh thần chấp hành chỉ thị của trên là đấu tranh thi hành triệt để Hiệp định Paris, sợ đánh trả địch thì vi phạm Hiệp định, chấp hành chủ trương công tác binh địch vận vô hiệu hóa quân ngụy một cách hữu khuynh, nguy hiểm, cụ thể hóa ra thành 5 cấm: cấm tấn công địch, cấm đánh quân địch càn quét lấn chiếm, cấm bao vây đồn, cấm pháo kích đồn ngụy và cấm xây dựng xã chiến đấu. Tưởng như vậy để ổn định tình hình, tránh gây căng thẳng để đi vào hòa giải hòa hợp dân tộc. Một số nơi rút các đơn vị ở phía trước về phía sau để chấn chỉnh, củng cố; cho rằng, không rút về sau thì đơn vị sẽ bị tiêu diệt. Thực tế là khi rút đơn vị vũ trang ta về, thì địch lại lấn lướt phá cơ sở quần chúng, diệt cơ sở Đảng ta, xóa trạng thái da beo ở đây.

    Giữa bối cảnh như vậy, nhìn vào hiện tượng rối bời lúc đầu ấy, một số cán bộ từ Trung ương đến địa phương nghĩ rằng sau Hiệp định, ta yếu đi nhiều, còn địch thì mạnh lên. Địch thu nhiều thắng lợi mới còn ta thì bị thiệt hại mất mát thêm. Từ đó kết luận rằng, hiện nay địch mạnh hơn ta, tương quan lực lượng trên chiến trường có lợi cho địch, bất lợi cho ta, nguy hiểm cho cách mạng. Trên cơ sở nhận định đó mà có một số chủ trương, hành động sai lầm. Tôi sẽ có dịp trở lại vấn đề cụ thể này.

    Hội nghị Chính trị Trung ương Đảng lần này đã giải đáp một cách đầy đủ tất cả băn khoăn của cán bộ, của các chiến trường. Hội nghị đã phân tích một cách khoa học đúng đắn tương quan lực lượng ta địch, đánh giá một cách sâu sắc tình hình, đề ra chủ trương sáng suốt đưa cuộc cách mạng miền Nam đi lên giành thắng lợi. Kết quả của hội nghị này đã được Trung ương Đảng thảo luận nhất trí và thành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng để đi đến kết quả nhất trí đó, Hội nghị Bộ Chính trị đã trải qua một cuộc thảo luận khá sôi nổi, có lúc rất găng. Một sự cọ xát giữa nhiều ý kiến khác nhau, giữa nhiều nhận thức về thực tế diễn biến trên các chiến trường... Được dự cuộc hội nghị này, tôi thấm thía biết bao về tinh thần trách nhiệm cao của từng đồng chí dự họp, tinh thần thẳng thắn phản ánh thực tế tình hình chiến trường, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ vì chân lý và tinh thần yêu nước, đoàn kết, khách quan. Đó là cách làm việc dân chủ và tập trung của Đảng ta, bí quyết của mọi chủ trương đúng đắn, của mọi thành công.

    Vấn đề thảo luận sôi nổi nhất, ngay từ đầu là vấn đề ta mạnh hay địch mạnh. Nhận xét về mạnh yếu không phải là chuyện dễ dàng. Nói chung chung mà không đi vào cụ thể thì không thể xác minh đó là mạnh, yếu. Đi vào cụ thể mà không phải cái cụ thể chung nhất thì nói yếu mạnh không hẳn là đúng mà có khi ngược lại. Lại còn cái mạnh, cái yếu ở nơi nào, thời điểm nào, là nhất thời hay cơ bản và khả năng vận động chuyển hóa của sự vật, của cái yếu và cái mạnh ấy. Và cũng phải hiểu thế nào là sức mạnh. Ví dụ sau Hiệp định một tiểu đoàn chủ lực ngụy được bổ sung nhanh lên đến 400 - 500 tên, lương thực, đạn dược đầy đủ, trong lúc đó tiểu đoàn chủ lực của ta chưa được bổ sung, cao lắm là được 200 quân, đạn dược thiếu, lương thực kém. Tổng quân số ngụy sau khi quân Mỹ và chư hầu rút, có từ 70 vạn đến một triệu mốt, còn ta tại chiến trường đạt tỷ lệ 1/3 so với địch là cao rồi. Nếu lấy cái cụ thể đó mà kết luận rằng, ngụy mạnh ta yếu thì không thể đúng được. Ngoài số lượng vật chất ấy còn phải tính đến rất nhiều yếu tố khác cộng lại, như sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ, chất chiến đấu về kỹ thuật, chiến thuật của đơn vị, nghệ thuật chỉ huy của cán bộ, thế bố trí của đơn vị, nhiệm vụ của nó, trong kế hoạch chiến dịch và chiến lược, trong tấn công hay phòng ngự, ngày hôm nay hay ngày mai... Đó là chưa nói đến vấn đề rộng lớn hơn nhiều là yếu tố chính trị, mục đích cuộc chiến đấu, yếu tố nhân dân... mà không một quân đội nào thoát ra ngoài được. Cuộc chiến tranh giải phóng, chính nghĩa của ta mà bao nhiêu nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ là tiến hành bằng cả hai lực lượng quân sự và chính trị. Ta tấn công địch bằng cả lực lượng quân sự và cả lực lượng chính trị quần chúng. Nói mạnh yếu không thể chỉ nhìn khía cạnh quân sự thôi mà phải nhìn mọi mặt, cả khía cạnh chính trị đôi bên nữa.

    Hàng chục năm trong chiến tranh, có biết bao lần ta phải đánh giá tương quan lực lượng ta địch. Năm 1959 là thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng miền Nam, ngụy quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp nơi, đàn áp phátxít đẫm máu. Chỉ có một quân đội của Diệm tung hoành trên chiến trường như một võ sĩ diễu võ dương oai trên võ đài, không có đối thủ. Thế mà Nghị quyết Trung ương 15 đã tạo ra một phong trào Đồng khởi với sức mạnh vũ bão, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, làm cho Mỹ hoảng hốt phải mở cuộc chiến tranh đặc biệt để cứu bè lũ Diệm khỏi sụp đổ. Lúc này, nếu không có cái nhìn của cách mạng, biện chứng thì không thể nào thấy sức mạnh của ta đang còn tiềm tàng trong dân, mà chỉ thấy sức mạnh cụ thể của địch. Năm 1965, số dân đi với cách mạng trong các vùng đã khá đông, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cũng không thể nhiều hơn dân bị địch kìm kẹp (nhưng đừng ai tưởng rằng số dân địch kìm kẹp là của địch). Lực lượng vũ trang ta thì du kích tương đối mạnh, nhưng chủ lực mới xây dựng một số ít trung đoàn. B2 lúc ấy mới có 2 trung đoàn chiến đấu được. Còn địch ngoài bảo an, dân vệ chúng có hàng chục sư đoàn trang bị kỹ thuật mạnh và hàng vạn cố vấn Mỹ, lại có các đơn vị trực thăng, phi cơ chiến đấu, tàu hải quân Mỹ yểm trợ và tham gia trực tiếp chiến đấu. Thế mà chúng ta đã mở chiến dịch Bình Giã, tiêu diệt gọn nhiều tiểu đoàn mạnh của địch và các chi đoàn thiết giáp, hạ nhiều máy bay, mở ra một thời kỳ mới trong chiến tranh. Sau các trận đánh sân bay Biên Hòa, chiến dịch Bình Giã rồi các trận thắng Ba Gia, Pleiku, Mỹ - ngụy đã thấy rõ nguy cơ ngụy quân bị tiêu diệt, ngụy quyền sụp đổ. Vì vậy mà Mỹ phải ồ ạt đưa quân Mỹ vào để cứu nguy, chữa cháy, chuyển chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, theo đúng chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ để làm tròn vai trò sen đầm quốc tế. Trước khi quân Mỹ vào, so sánh tương quan lực lượng ta địch, nếu cứ nhìn số lượng cụ thể, vật chất kỹ thuật đơn thuần, thì ai dám bảo rằng ta mạnh, có khả năng tiêu diệt ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền? Rồi khi quân Mỹ ào ạt vào một lúc khoảng 20 vạn quân, trang bị hiện đại, dựa vào sức mạnh của hỏa lực áp đảo và cơ động nhanh, tiến hành phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, ta nhận định rằng Mỹ - ngụy không mạnh và bị động, và ta vẫn nắm vững chiến lược tấn công, ta mở chiến dịch tấn công Bàu Bàng - Dầu Tiếng và giành chủ động chiến trường, thu nhiều thắng lợi. Năm 1968, khi quân Mỹ lên tới gần nửa triệu quân với các vũ khí hiện đại đủ loại, trừ bom nguyên tử, lại mua được xương máu của một số quân chư hầu tay sai ngoài quân đội Thiệu, thế mà ta thấy rõ được chỗ yếu của địch, thấy được sức mạnh của ta, phát huy sức mạnh ấy cao độ tiến hành cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, có một không hai trong lịch sử chiến tranh xưa nay. Đòn Mậu Thân không những đánh địch cùng một lúc vào mọi trung tâm đô thị, các cơ quan đầu não chiến tranh xâm lược Mỹ ở Sài Gòn - thủ đô ngụy, mà còn tiêu diệt được nhiều sinh lực quan trọng của Mỹ - ngụy. Đòn chiến lược này đã thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đi vào hòa đàm Paris, chuyển qua chiến lược “phi Mỹ hóa chiến tranh” rồi chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Như vậy ta đã dập tan từ đó chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ. Tên sen đầm quốc tế đã phải run sợ với vai trò tự đặt ra cho nó, tiêu tan mộng ảo “sức mạnh quân sự tuyệt đối Hoa Kỳ”. Nhưng mặt khác trong Tết Mậu Thân, ta không đánh giá đúng về tương quan lực lượng ta địch cụ thể lúc ấy, không thấy hết khả năng còn lớn của địch và điều kiện còn hạn chế của ta, đề ra yêu cầu cao quá sức thực tế ta có. Nghĩa là ta không dựa vào sự tính toán khoa học, cân nhắc sâu sắc mọi yếu tố mà có phần ảo tưởng dựa vào sự mong muốn chủ quan. Chính vì vậy, mặc dầu là một chủ trương tài tình, độc đáo, đúng thời cơ, việc tổ chức thực hành giỏi, táo bạo, hợp đồng tuyệt diệu trên toàn chiến trường, mọi người hành động vô cùng dũng cảm, xả thân, giành thắng lợi hết sức to lớn, tạo ra một bước ngoặt chiến lược có ý nghĩa ở Việt Nam, Đông Dương, nhưng chúng ta đã phải chịu một hy sinh thiệt hại lớn lao về sức người, sức của, đặc biệt là cán bộ các cấp, làm cho sức ta yếu xuống rõ rệt. Sau đó không những ta không giữ được tất cả các thành tựu đã đạt được mà còn chịu muôn vàn khó khăn tiếp theo trong những năm 1969 - 1970 để giữ cho cách mạng đứng vững trước cơn sóng gió. Đành rằng con đường cách mạng không bao giờ là con đường suôn sẻ đi lên mãi mãi, thắng lợi nào mà không chịu sự hy sinh, nhưng trong trường hợp Tết Mậu Thân nếu ta cân nhắc chu đáo, phù hợp với tương quan lực lượng đôi bên, đề ra yêu cầu xác đáng thì thắng lợi ta còn to lớn hơn nhiều, tiết kiệm được nhiều xương máu của cán bộ, chiến sĩ, của nhân dân và sự tiến triển sau đó của cách mạng chắc chắn là khác nhiều. Năm 1972, sau một thời gian nỗ lực vượt bao khó khăn hàn gắn những tổn thất to lớn vừa qua, phát triển thế và lực với một tinh thần cách mạng tuyệt vời của chiến sĩ và nhân dân, bộ đội ta đã tham gia giành những thắng lợi ở Campuchia, Lào, tuy vậy chủ lực ta vẫn chưa về hoàn toàn được đất miền Nam. Trong tình hình như vậy, ta đã xác định đúng thế và lực của đôi bên, mở các chiến dịch tấn công, giành nhiều thắng lợi, phá tan nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của địch ở Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, mở ra nhiều vùng giải phóng liên hoàn ở Đông Hà, Đắk Tô, Tân Cảnh, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bắc Tây Ninh, rồi phối hợp với chiến thắng lớn “Điện Biên Phủ trên không” ở miền Bắc, thực hiện được quyết tâm của ta là đánh tan ý đồ ảo tưởng thương lượng trên thế mạnh của Mỹ, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris có lợi cho ta.

   Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tình hình, đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đừng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình, đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận đánh giá.

   Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy. Mỹ - ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B-52 oanh tạc tập trung Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như “nắn nót” khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào Hiệp định, chịu một số điều kiện không lợi cho chúng. Ta cũng cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một Hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là Hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết Hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã giành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh?

    Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà Hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Cái hay ở chỗ là điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của Hiệp định tức là có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước Hiệp định ta phải đánh với cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân, không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B-52. Khi Hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. Quân ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian huấn luyện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói hết đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương, thì sau Hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chính xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau Hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta, sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. Thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình.

    Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới... Như vậy miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phát huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất nhiệm vụ hậu phương lớn của cách mạng miền Nam. Thế và lực của miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mình là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song, ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. Lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. Lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận của ta còn nhiều kém cỏi... Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin.

    Vì không nhận thức như vậy nên lúc ấy có sự lo ngại lực lượng đứng sau của ta bị tiêu diệt, ngại vùng tự do của ta bị chiếm, bị mất, nên có một số chủ trương cụ thể vội vã và sai lầm mà Hội nghị Bộ Chính trị, Nghị quyết 21 (10/1973) đã chấn chỉnh, nếu không sẽ đẻ ra bao tai họa. Đó là chủ trương sai lầm gấp rút ổn định tình hình bằng cách bỏ vùng tranh chấp chủ động chuyển thành hai vùng: vùng ta và vùng địch; là phải điều chỉnh lại, bố trí lại lực lượng, rút lực lượng của ta từ vùng địch về vùng ta để củng cố chấn chỉnh lại; là phải nhanh chóng tiến hành các việc ấy, hoàn thành trong một thời hạn ngắn nhất; là phải dứt khoát phân định vùng để có phương châm đấu tranh phù hợp, không được nhập nhằng.

    Rõ ràng ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu rất mong được như vậy. Chúng rất sợ hình thái xen kẽ da beo trên chiến trường mà nơi nào cũng có lực lượng của ta, ngay cả trong vùng đô thị, thủ đô của chúng. Chúng đánh giá được hiệu năng hoạt động, chiến đấu của mỗi một đảng viên, mỗi chiến sĩ biệt động, du kích của ta... Chúng cũng đánh giá được một đơn vị vũ trang nhỏ của ta đứng ở vùng chúng kìm kẹp, ở vùng lõm du kích. Mỗi một người đó, mỗi đơn vị đó là một họng súng kề lên thái dương địch, là một chỗ dựa tinh thần của nhân dân, là một cột trụ của các tổ chức quần chúng bí mật tại chỗ. Mỗi hành động của họ là một nguồn tuyên truyền cổ vũ cho lòng yêu nước, cho cách mạng, chống đàn áp bóc lột, bất công. Họ không nói gì nhiều đâu mà họ hành động. Hình ảnh của họ là ánh sáng trong vùng đen tối, ánh sáng ấy ban đầu tuy nhỏ nhưng ngày càng tỏa sáng rộng ra xung quanh mà không thể nào tắt đi được. Mỗi đảng viên và chiến sĩ đó, mỗi đơn vị nhỏ đó lại có chỗ dựa của họ là các đơn vị lớn hơn của ta. Đó là một hệ thống không thể mất đi của mắt xích nào. Đó là trận đồ bát quái của chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân của ta, làm cho quân địch nghẹt thở, nơm nớp lo sợ ngày đêm, thấy chỗ nào cũng phải phòng ngự, phải có quân mạnh mới yên tâm. Mỹ chẳng phải đã đánh giá là để đối phó với một người của ta chúng phải có 5 rồi sau tăng lên 10 - 20 tên đó sao. Thế mà ta tình nguyện “chủ động” rút lui các lực lượng ta ở vùng địch kiểm soát, ở vùng tranh chấp về phía sau để củng cố, tự mình xóa đi thế cài răng lược rất lợi hại của cách mạng đã từng làm cho địch run sợ. Có phải như thế là ta đã giúp địch một tay để làm được cái việc vô cùng quan trọng mà chúng phải đánh phá ác liệt và bình định bao nhiêu năm vẫn không làm được? Nếu lập luận rằng đây là tạm thời trong một thời gian để củng cố lực lượng ta thôi, khi ta mạnh rồi thì trở vào và tác dụng sẽ lớn hơn nhiều... Đó là tưởng tượng của những người không có thực tế. Thực tế ở chiến trường B2 của ta là khi đã rút đi, bỏ cơ sở nào đó, dù là chủ động, thì không cần một thời gian lâu đâu mà trong vài ba ngày thôi, địch đã lấp lại vùng đó, kìm dân, càn quét, đóng đồn. Khi ta muốn đưa lực lượng trở lại mở vùng, mở lõm, tổ chức quần chúng của ta thì không khác nào như làm lại hoàn toàn từ đầu, còn khó hơn nhiều là công tác ở vùng mà trước ta chưa có cơ sở gì, lại phải đổ bao nhiêu máu của đồng chí, đồng bào ta. Các đồng chí đã từng hoạt động ở địch hậu, ở vùng tranh chấp, hẳn thấm thía nhiều với kinh nghiệm này. Mỗi một đồng chí ta, mỗi một đơn vị bám trụ được một cơ sở nào đó, tạo được một lõm căn cứ chính trị, căn cứ du kích nào đó là vô cùng quý giá trong một cuộc đấu tranh sống còn như của ta với địch vừa rồi. Mỗi lần mất đi một cơ sở, một lõm căn cứ như vậy là một lo nghĩ, một đau lòng mà ta phải tìm mọi cách khôi phục. Ở đây tôi muốn nhắc lại tấm gương anh dũng vô song của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 320, năm 1969 - 1970 nhận nhiệm vụ để hoạt động ở tỉnh Long An, vùng Đức Huệ, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ, Châu Thành, Tân An. Thời kỳ ấy mọi người chúng ta đều không thể quên - sau Tết Mậu Thân, Mỹ tăng thêm quân vào Việt Nam, tăng thêm vũ khí đạn dược đủ loại, đạt tới số quân cao nhất trong chiến tranh, điên cuồng phản kích lại ta. Mỹ - ngụy đã liên tục đánh phá càn quét, bình định, vô cùng ác liệt. Nhiều nơi nhân dân ta bị tàn sát, bị gom vào ấp chiến lược, nhiều cơ sở bị mất, nhiều đồng chí hy sinh. Đặc biệt là các vùng ven giáp đô thị, các vùng đông dân có vị trí chiến lược quan trọng. Long An thuộc vùng như vậy. Đó là vùng bao bọc Sài Gòn từ hướng tây bắc cho đến hướng tây nam, vùng đông dân phì nhiêu, cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, nối đồng bằng với thành phố Sài Gòn, nối vùng Đồng Tháp Mười của ta với căn cứ cách mạng Bắc Tây Ninh. Long An còn là một tỉnh mà phong trào cách mạng đã có truyền thống từ lâu đời, chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân rất yêu nước và kiên cường mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tặng 8 chữ vàng: “Trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc”. Chính vì vậy mà Mỹ - ngụy tập trung đánh phá ở đây, có lúc lấy đây làm thí điểm bình định, nhưng vẫn thất bại cay đắng.

    Ngoài lực lượng đủ loại của quân ngụy, Mỹ còn dùng một phần của Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” và Lữ 3 Sư đoàn 9 Mỹ cùng hoạt động và kèm cặp ngụy ở vùng này. Tôi còn nhớ thời kỳ ấy các đồng chí ở Long An đã nói với chúng tôi như sau: “Quả thiệt địch đã xuống thang chiến tranh, nhưng chân thang chúng lại đặt ở tỉnh Long An!”. Đây là nấc thang cuối cùng nên chúng càng xuống thang thì quân của chúng càng dày đặc ở đây, càng đánh phá trút bom đạn ác liệt! Thật là một hình dung bất hủ, mới nghe ai cũng phì cười, nhưng nó đã tả đúng sự diễn biến lúc ấy. Nhất định ta không để cho địch thành công ở đây, nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào chung. Bộ Tư lệnh Miền đã thảo luận nhiều, cân nhắc mọi mặt và quyết định tăng cường lực lượng cho Long An, đưa Trung đoàn 320 về đây cùng với địa phương chống địch giữ vững phong trào, giữ vững cơ sở và các vùng căn cứ du kích của ta. Trung đoàn 320 là một đơn vị có nhiều thành tích, đã có nhiều thử thách trong chiến đấu, trong chịu đựng gian khổ ác liệt. Là một trung đoàn chủ lực độc lập, lâu nay thường hoạt động tập trung và quen thạo chiến trường rừng núi, nay được phái về một vùng đồng bằng đông dân, địa hình trống trải, nhiều sông rạch chia cắt, phải chiến đấu linh hoạt với nhiều hình thức từng đại đội, tiểu đoàn riêng lẻ và rất nhiều khi phải đánh phân tán, cỡ trung đội, tiểu đội. Không những phải tác chiến tiêu diệt địch mà còn phải biết vận động tổ chức quần chúng, binh địch vận, trừ gian diệt ác, tổ chức và hướng dẫn, phối hợp du kích, bộ đội huyện hoạt động. Phải chuyển một đơn vị chủ lực tập trung về hoạt động phân tán như thế này, có thể nói hầu như không còn là một đơn vị chủ lực nữa, là một việc bất đắc dĩ nhưng không có không được trong một hoàn cảnh nhất định và một thời điểm nhất định.

    Trong cuộc chiến tranh mà hình thức hoạt động muôn hình muôn vẻ của ta suốt hàng chục năm trường, mà chiến trường thay đổi trạng thái hàng ngày, những quyết định như thế này, không phải chỉ một lần ở một hướng nào đó, khi mà du kích và bộ đội địa phương ở hướng đó bị tiêu hao chưa củng cố kịp mà ta cần giữ vững phong trào, thì đấy là những quyết định đúng. Nhưng cũng có trường hợp dùng chủ lực không phù hợp ở vùng đồng bằng, tưởng đâu đưa chủ lực về là có thể mở toang đồng bằng ra. Kỳ thật không phải vậy (tôi nói kỹ về vấn đề này trong trường hợp khác).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2023, 02:56:07 pm »

    Ngày 18/12/1968, tôi đã thay mặt Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đến một điểm thuộc tỉnh Tây Ninh làm việc và giao nhiệm vụ cho trung đoàn ở nơi tập kết để chuẩn bị mọi mặt cho công tác mới. Ròng rã ngót chục ngày đường đi bộ, vai mang ba lô, tay chống gậy mây, quần xắn trên đầu gối, với đôi dép cao su vạn dặm, tôi cùng một tiểu đội bảo vệ được vũ trang mạnh, len lỏi qua những đường rừng quanh co, những trảng trống ngập đầy nước đọng. Rừng hoang nhiệt đới, cây to đủ loại, dây leo chằng chịt ngày trước, nay xơ xác trống trải, ngọn cây cụt, lá cháy trụi bởi bom đạn và chất độc hóa học, trông thật đau lòng. Đồng chí Hùng, cán bộ bảo vệ của tôi, người nhỏ thó nhưng chắc nịch, quê ở Bến Cát, nơi cũng có nhiều rừng, nằm trên võng mắc gần võng tôi trong khóm cây còn chưa trụi lá. Sau một ngày đi vất vả Hùng cứ trằn trọc đung đưa võng. Tôi hỏi: “Hùng, sao em không ngủ để lấy sức mai đi sớm, đường còn xa đấy”. Hùng trả lời: “Ủa, thấy anh nằm im, em tưởng anh ngủ rồi. Anh Tư ạ, em đang tiếc là rừng ta bị phá nhiều quá. Mấy chục năm mới có được một cây thế này” - Hùng chỉ cây gỗ to bị bom đào tróc gốc nằm ngay bên cạnh chúng tôi - “Quê em bây giờ cũng thành bình địa rồi anh à!”. Tôi cảm động an ủi Hùng nhưng cũng là để tự nói với mình: “Diệt hết quân thù ngày mai đất nước sẽ rạng rỡ. Dân ta có đủ tài năng và sáng tạo, lo gì! Rừng ta rồi sẽ trở lại màu xanh”.

    Đến chỗ Trung đoàn trú quân, rừng còn khá hơn một ít, lán trại dựng tạm với những cành cây nhỏ và lợp lá trung quân (loại lá cây to bằng bàn tay, đặc biệt là đốt không cháy dù đã khô, mọc đầy khắp rừng miền Nam ta). Mỗi trại vừa đủ cho một tiểu đội. Tôi và tiểu đội của tôi cũng được phân cho một cái. Đại biểu Tỉnh ủy và Tỉnh đội Long An đã có mặt sớm hơn tôi một ngày để cùng dự buổi họp làm việc và bàn kế hoạch hợp đồng với tham mưu trung đoàn. Tôi đã gặp các đồng chí Nguyễn Đức Khôi - Trung đoàn trưởng, Lê Văn Minh - Chính ủy, Hồng Hải, Trình Ngọc Chậm - Trung đoàn phó, các đồng chí thân yêu và dũng cảm này lần lượt hy sinh oanh liệt trong chiến đấu vào những năm 1969 - 1970. Tôi cũng đã gặp nhiều đồng chí cán bộ ưu tú khác trong Bộ Chỉ huy Trung đoàn, trong các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Trung đoàn và các ban chỉ huy tiểu đoàn mà ngày nay có đồng chí đã thành liệt sĩ, có đồng chí đã trưởng thành, dày dạn, tiếp tục xây đắp truyền thống vinh quang của Trung đoàn, hay được phân phối công tác khắp các nơi.

    Cuộc họp diễn ra ngay sau khi tôi tới một tiếng đồng hồ - thời gian vừa đủ cho việc triệu tập cán bộ lại. Không cần hội trường, chả có bàn ghế, anh em ngồi trên những mô đất, những thân cây gãy, giữa một khu rừng sạch sẽ, dưới tán cây lá xác xơ. Chúng tôi chỉ làm việc ban ngày. Về đêm dưới ánh sáng trăng, sao, tôi đi thăm từng lán trại, nói chuyện với chiến sĩ, cán bộ, về quê hương, gia đình, về tình hình chiến cuộc miền Nam, về Thủ đô Hà Nội cho đến cả tình hình nước Mỹ, tình hình thế giới. Thôi thì đủ chuyện, nghiêm nghị có, đùa vui có, và cả những tâm tình, những thắc mắc riêng tư... Đêm nào tôi cũng về đến lán của mình ngủ khá khuya. Thế mà có đủ thì giờ đâu - không làm sao đi khắp được các lán trại.

    Trước một bản đồ miền Đông Nam Bộ bao gồm cả tỉnh Long An, Gò Công, một phần Đồng Tháp Mười, treo trên thân cây, với que trúc vừa chặt ở bụi bên cạnh, tôi nghiêm trang truyền đạt mệnh lệnh trực tiếp cho Trung đoàn. Tiếp theo đó tôi giải thích rõ về địa hình, về tình hình ta và địch ở các nơi mà đơn vị sẽ hoạt động. Cán bộ của trung đoàn chưa ai hiểu biết về vùng này. Riêng tôi nhờ hoạt động từ hồi kháng chiến chống Pháp tới nay, tôi đã từng lội bộ khắp nơi này nên biết rõ về con người và địa vật để truyền đạt cặn kẽ bước đầu cho anh em. Tôi đã chỉ thị cụ thể về nhiệm vụ, phương châm, phương thức tác chiến, về những hình thức chiến thuật địch đã và sẽ dùng ở từng nơi trong tỉnh, về chiến thuật và kỹ thuật mà ta cần áp dụng để đánh thắng. Tôi đã nói về phương pháp vận động quần chúng, về công tác tổ chức du kích và giúp đỡ bộ đội địa phương, về việc kết hợp giữa các đơn vị của Trung đoàn với xã và huyện sở tại, giữa Trung đoàn và tỉnh đội. Cuối cùng, tôi đã chỉ thị về công tác Đảng và công tác chính trị, về sinh hoạt tinh thần và vật chất của cán bộ chiến sĩ trong mỗi trường hợp hoạt động từng đơn vị lớn, nhỏ, từng tổ lẻ rải rác.

    Sau đó, anh em có hai ngày thảo luận về mọi mặt và nêu những gì còn thắc mắc chưa rõ để tôi giải đáp cuối cùng.

    Những ngày làm việc khẩn trương và nghiêm túc, những tình cảm thân thiết chan hòa ở Trung đoàn 320 không thể nào quên. Anh em từ cán bộ đến chiến sĩ đều rất phấn khởi được nhận nhiệm vụ, vui vẻ bàn bạc và cố hình dung những trận chiến đấu sắp tới, những gì gian khổ đang chờ đợi.

    Nói sao hết những tháng ngày vô cùng khó khăn mà cán bộ và chiến sĩ của toàn Trung đoàn đã đồng cam cộng khổ với cán bộ địa phương, với du kích và nhân dân, một bước không đi, một ly không rời, mặc bom đạn tập trung ác liệt mà anh em chỉ có những gốc dừa nước mỏng manh làm cộng sự. Có ai ghi lại những sinh hoạt kỳ lạ của anh em, ngày ngày dầm mình dưới bùn lấy nước đọng của bãi lá, bắn trực thăng, phi cơ, đánh càn quét, “nhảy dò”   của Lữ 3 Sư đoàn 9 Mỹ, đêm đêm lại cùng nhân dân bàn mưu tính kế đánh địch, mua tải lương thực đạn dược trong các ấp chiến lược. Làm sao quên được những đêm hành quân qua sông Vàm Cỏ, căng thẳng, lo âu. Một đại đội từ huyện này qua huyện bên cạnh phải mất 5, 7 đêm liền, rồi lại qua đường 4 của địch căng dày đồn bót, dây thép gai, bãi mìn... Thế mà từ tháng này qua tháng nọ phải cõng thương binh về phía sau, đưa vũ khí đạn dược và tân binh lên bổ sung tại chỗ trên đoạn đường dài của vùng xen kẽ gần 100 cây số với khẩu hiệu “kiên trì, bám trụ, chủ động tấn công”, “sống chiến đấu ở đây mà chết cũng ở đây, vì thành công của cách mạng” (ngày nay nhân dân vùng Cần Đước, Tân Trụ, Đức Huệ, Châu Thành... hằng năm vào những ngày quét mộ sắp tết, các má, các bà con đã đắp lên nấm mộ vô danh của chiến sĩ Trung đoàn 320 những nắm đất tưởng lệ nhớ thương, nghĩa tình!). Chính vì vậy mà Trung đoàn đã cùng địa phương giữ vững được cơ sở cách mạng, các căn cứ của huyện, xã, các lõm du kích qua nổi thời kỳ khó khăn nhất. Mùa xuân 1975, Trung đoàn nằm trong đội hình của Sư đoàn 8 thuộc Quân khu 8 cùng các lực lượng khác tham gia tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn, Sư đoàn 7 ngụy và kết hợp với nổi dậy của nhân dân, giải phóng vùng Tiền Giang. Với gương chiến đấu oanh liệt của mình, Trung đoàn cũng như các đơn vị và địa phương khắp các chiến trường đã góp cho B2 những kinh nghiệm quý báu. Qua những sự việc điển hình ở chiến trường như vậy mà các đồng chí trong Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền đã không đồng ý rút lực lượng phía trước về phía sau mà lệnh phải củng cố chấn chỉnh tại chỗ, giữ vững thế xen kẽ ba vùng và đã tích cực báo cáo ý kiến này với Trung ương.

    Lại còn vấn đề hai vùng hay ba vùng. Trong suốt cuộc chiến tranh một mất một còn giữa ta và địch, sự đấu tranh ác liệt căng thẳng đã diễn ra trên toàn chiến trường và từ đó đã hình thành ba vùng:

    - Vùng ta mạnh, lực lượng vũ trang lớn của ta đứng chân, nhân dân ở đây tham gia mọi hoạt động trong các tổ chức quần chúng, tham gia đánh địch bằng mọi cách, chính trị, binh vận và quân sự.

    - Vùng địch mạnh, chúng kiểm soát bằng quân sự và cảnh sát, đàn áp bóc lột nặng nề. Ở đó, ta tổ chức quần chúng bí mật, có du kích, bộ đội biệt động và đặc công. Ta có những lõm chính trị mà nhân dân bí mật cất giấu cán bộ và giúp cách mạng bằng nhiều biện pháp che mắt địch, lồng trong công khai hợp pháp. Những lõm căn cứ du kích, cất giấu vũ khí lương thực, có du kích, có khi có bộ đội địa phương và đơn vị mũi nhọn của chủ lực đứng chân hoạt động. Tất nhiên có các chi bộ Đảng lãnh đạo tại chỗ - nhân tố trung tâm của phong trào.

    - Giữa hai vùng ta và vùng địch ấy có một vùng ta gọi là vùng tranh chấp, rộng hẹp tùy nơi. Đây là một vùng mà sức mạnh đôi bên tương xứng, đang tranh giành nhau quyết liệt, luôn luôn xáo động, biến chuyển có khi từng ngày, từng giờ. Ở đây quần chúng nhân dân phần lớn là đi với cách mạng, các loại lực lượng và tổ chức cách mạng đều có. Bộ đội địa phương huyện, tỉnh thường hoạt động ở đây, đôi khi có đơn vị chủ lực của khu hay của trên thọc về đây đánh địch và hỗ trợ cho địa phương. Địch thường hành quân đánh phá, càn quét, dùng phi pháo oanh tạc, gom dân về vùng chúng. Có thể nói, cuộc đấu tranh ở đây bằng mọi hình thức của cả đôi bên diễn ra hàng giờ, cả ngày và đêm. Có nơi ban ngày do địch ban đêm do ta kiểm soát. Bên này cố đẩy lùi bên kia để biến dần thành vùng mình kiểm soát. Do vậy, vùng tranh chấp thường thay đổi liên tục giống như một vùng đất đai toàn cát, nằm giữa hai chiều gió. Nếu gió từ bên này thổi mạnh hơn thì cát đổ xô về phía kia, lấn vào phía kia, hoặc ngược lại. Khi nào còn hai phía, cách mạng và phản cách mạng và hai phía ấy còn đấu tranh chống nhau cố giành đất, giành dân về mình thì còn có vùng tranh chấp. Nó sẽ chỉ mất đi khi không còn có đấu tranh giữa hai bên nữa, nghĩa là một bên chịu khuất phục và bên kia toàn thắng.

    Hiệp định Paris không phải chấm dứt đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng và cũng không chấm dứt đấu tranh được ngay cả đấu tranh vũ trang mà nó quy định vì địch vi phạm, lấn chiếm như nói trên kia với ý đồ là chỉ còn một chính quyền ngụy, một quân đội ngụy. Thế mà chủ trương tự ta nên phân định dứt khoát thành hai vùng thôi, vùng địch và vùng ta, để có phương châm đấu tranh thích hợp cho mỗi vùng, để ổn định ngay tình hình, để ta có thể củng cố xây dựng lại lực lượng vũ trang của ta đã yếu rồi, xây dựng vùng kinh tế của ta, xây dựng chính quyền của ta, thì thật là không phù hợp chút nào. Tôi còn nhớ trong cuộc họp các đồng chí trong Trung ương Cục chuẩn bị tham gia Hội nghị Bộ Chính trị, các đồng chí đều khẳng định là căn cứ vào thực tế chiến trường B2 thì bất cứ tình hình nào, thời kỳ nào cũng phải giữ đấu tranh ở cả ba vùng. Trừ phi ta thủ tiêu đấu tranh thì mới mất đi vùng tranh chấp. Thực tế không phải mất đi mà vùng ta lần lượt biến thành vùng tranh chấp, vùng tranh chấp sẽ biến thành vùng địch, cho tới khi không còn cả vùng ta lẫn vùng tranh chấp mà chỉ còn độc nhất vùng địch kiểm soát. Các đồng chí còn phân tích rằng, thực tế không bao giờ có tình hình ổn định trên chiến trường vì cả ta và địch không bên nào thủ tiêu đấu tranh cả, cho dù không còn chiến đấu vũ trang thì vẫn còn đấu tranh chính trị, kinh tế.

    Trong lúc đang họp Bộ Chính trị mở rộng thì đồng chí Trần Hữu Dực được Trung ương phái vào chiến trường Trị Thiên nghiên cứu tình hình thực tế đã về và báo cáo tại hội nghị rằng Trị Thiên đã phân vùng xong, từ đường xe lửa trở về biển là vùng địch, từ đường xe lửa lên biên giới với Lào là vùng ta. Đã rút bộ đội về vùng ta củng cố. Tình hình hiện nay đã ổn định, anh em đều phấn khởi...

    Chúng tôi đã trình bày quan điểm của mình cho rằng làm như vậy là nguy hiểm. Sự ổn định chẳng qua là tạm thời. Khi địch có được một bước chấn chỉnh sẽ đánh lấn lên tây đường xe lửa và nếu chúng ta chống lại thì sẽ xuất hiện ra vùng tranh chấp trở lại. Nhưng lần này vùng tranh chấp sẽ nằm ở tây đường xe lửa thôi. Vô hình trung ta đã tự nguyện đưa thêm đất thêm dân cho địch và giúp chúng phá được thế xen kẽ, xóa được trạng thái da beo, hoàn chỉnh vùng của chúng - một vùng gồm đất đai phì nhiêu, đường sá thuận lợi, nhân dân đông đúc, bao gồm hầu hết các thị trấn, thị xã, đô thị - và triển vọng tình hình sắp tới thế nào hẳn ai cũng đoán được... Phân vùng theo cách như vậy đối với địch là lý tưởng. Ngụy quyền Thiệu, cũng như các hãng nghiên cứu chiến lược Mỹ đã từng nghiên cứu ba phương án phân vùng để làm cơ sở đấu tranh ở bàn hội nghị Paris:

    1. Phân vùng bằng cách cắt ngang miền Nam Việt Nam theo vĩ tuyến, phía bắc vĩ tuyến ấy là vùng “Việt cộng” (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), phía nam là vùng ngụy quyền Thiệu.

    2. Chia dọc theo chiều dài miền Nam Việt Nam, vùng trên núi dọc theo biên giới Lào, Campuchia, ít dân, nghèo về kinh tế, đường sá giao thông không thuận tiện là vùng “Việt cộng”, vùng dọc theo biển, giàu có đông dân, thuận lợi mọi mặt là vùng ngụy quyền Thiệu.

    3. Ngừng bắn tại chỗ, ai ở đâu đứng đó và thành vùng kiểm soát xen kẽ lẫn nhau.

    Trong ba phương án ấy ngụy sợ nhất là phương án 3, vùng xen kẽ da beo, vì chúng cho như vậy sẽ không thể ngừng bắn, nguy hiểm cho chúng, vì rất nhiều khả năng nhân dân sẽ nổi dậy chống và tiêu diệt chúng. Vùng chúng không hoàn chỉnh sẽ rất khó xây dựng kinh tế, khó cai trị hữu hiệu,... Chúng thích nhất là chia dọc theo phương án 2. Vì chia như vậy hoàn toàn có lợi cho chúng. Chúng nghĩ không bao lâu với sự giúp đỡ và viện trợ của Mỹ, chúng sẽ giàu mạnh, nắm nhiều dân và sẽ đi đến tiêu diệt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và độc chiếm miền Nam Việt Nam.

    Ta đã đấu tranh trên bàn hội nghị, nhưng chính là đổ máu nhiều ở chiến trường mới buộc địch phải bất đắc dĩ nhận ngừng bắn tại chỗ. Bây giờ ta lại tự dưng chia theo dọc ư?

    Nghị quyết 21 đã xác định rõ: “Thế và lực của cách mạng miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ 1954 đến nay” và “thắng lợi mới của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia đã dẫn đến sự thay đổi trong so sánh lực lượng trên bán đảo Đông Dương có lợi hơn bao giờ hết cho cách mạng miền Nam”.

    Thực tế tình hình diễn biến trên chiến trường càng ngày càng rõ sự xác định này rất chính xác, lực lượng cách mạng đã mạnh hơn hẳn lực lượng phản cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

    Sau này, trong Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng vào tháng 12/1974 để bàn kế hoạch chiến lược 1975 - 1976, nghĩa là gần hai năm sau khi thực tế đã rõ, anh Lê Đức Thọ đã phát biểu đại ý: Từ Hiệp định tới nay nói chung là ta đánh giá địch cao, ta thấp. Thực tế trên chiến trường chỉ rõ: Khu 5 khi đánh thì sợ địch đánh phía sau, khi trên ra lệnh kiên quyết đánh thì giành thắng lợi. Trị Thiên cũng ngại địch. Đồng bằng sông Cửu Long, một tháng 12 thôi ta gỡ trên 500 đồn bót địch đóng trái phép. Mới một tháng mà đạt chỉ tiêu 70% sáu tháng mùa khô. Bây giờ qua thực tiễn rõ ràng ta mạnh hơn địch. Thế mà trước đây khi bàn để ra Nghị quyết 21, vẫn cãi nhau ta mạnh hay địch mạnh.

    Nghị quyết 21 còn xác định: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tấn công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên”. Nghị quyết đã đề ra phương châm đấu tranh cho từng vùng: “Vùng giải phóng... phải xây dựng mạnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế và phải giữ vững bằng mọi cách”; “vùng tranh chấp... phải giữ vững cả thế và lực của ta, và từng bước chuyển lên...” và “vùng địch kiểm soát cần lãnh đạo quần chúng đấu tranh”.

    Sự xác định chiến lược và đề ra nhiệm vụ như thế đã dẹp đi những tư tưởng (nhưng chưa hẳn đã đập tan) còn tin nơi Mỹ - ngụy có thể thi hành Hiệp định, tưởng có thể có hòa bình, có ổn định. Nó cũng làm bớt đi tư tưởng sợ địch mạnh. Cũng trong cuộc họp Bộ Chính trị này đã xác định ta phải đánh trả một cách kiên quyết kẻ địch vi phạm Hiệp định. Nghị quyết 21 đã nêu: “Hiện nay, phương hướng chủ động tích cực, có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng của cả nước là luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình và chính nghĩa, đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris để thắng địch”. Rõ ràng Đảng ta đã nhận định nhất quán từ đầu, Hiệp định Paris là một thắng lợi của ta, ta phải đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh, ta có chính nghĩa ta nhất định thắng. Ta đã ký và ta tôn trọng chữ ký của ta. Ta cũng bắt chúng phải tôn trọng chữ ký của chúng. Không cho phép Mỹ - ngụy trắng trợn phá hoại Hiệp định. Để giữ thành quả của cách mạng, ta phải trừng trị kẻ địch vi phạm Hiệp định tiến hành lấn chiếm và bình định. Không phải ta bị động đánh trả nơi nào địch thấy có lợi cho chúng để vi phạm tấn công ta. Ta phải chủ động đánh trả chúng thật đau, đánh ngay vào cả những nơi xuất phát tấn công của chúng, vào nơi bất lợi của chúng. Trên tinh thần đó vào tháng 9/1973 chúng ta đã tuyên bố công khai trên đài truyền thanh của ta để cảnh báo trước kẻ địch và để thế giới hiểu rõ hành động chính đáng của ta.

    Chúng ta mong rằng với sự cảnh cáo này, Mỹ - ngụy sẽ tỉnh ngộ lại để tránh cho ta buộc lòng phải hành động nổ súng thật. Những điều kiện để đi vào thi hành Hiệp định vẫn còn đó, cánh cửa vẫn còn mở cả ở Paris cả ở Tân Sơn Nhất. Nhưng Thiệu có lẽ tưởng chúng nó mạnh thật, tưởng quan thầy Mỹ của chúng vẫn là chỗ dựa vững vàng. Vì thế Thiệu càng đẩy mạnh chiến tranh, bất chấp Hiệp định, bất chấp những lời cảnh cáo, mong ngự trị mãi mãi miền Nam Việt Nam.

    Hãy nghe một người Mỹ, Weldon A. Brown kể trong quyển sách “Chiếc trực thăng cuối cùng” của ông ta:

    “... Thiệu vẫn nghĩ là được Mỹ viện trợ và với những lời cam kết bí mật của Nixon, ông ta chẳng có gì phải lo ngại cả. Lời cam kết vẫn có giá trị và đã được tăng cường qua việc Mỹ đã cung cấp thêm cho ông ta các máy bay phản lực chiến đấu và các vũ khí rất hiện đại, thậm chí năm 1975 khi Quốc hội Mỹ cấm không được tiếp tục giúp đỡ về mặt chiến đấu, Thiệu vẫn cảm thấy ung dung vì đã có lời cam kết của Nixon. Chương trình viện trợ, và những lời hứa của chúng ta đã làm cho Thiệu cảm thấy an toàn một cách giả tạo và do đó đã dẫn tới kết quả là Thiệu đã từ chối mọi nỗ lực hòa giải hoặc thương lượng với đối phương và đã làm cho Thiệu coi thường Hiệp định Paris. Trong năm đầu sau khi ký Hiệp định, Thiệu đã tiến hành các cuộc tấn công nhỏ, đẩy quân cộng sản ra khỏi một số khu vực thuộc châu thổ sông Cửu Long và dọc theo bờ biển, thiết lập các tiền đồn ở đó, và tái định cư những người tị nạn vào các khu vực mới chiếm lại được và thậm chí còn cho quân đột kích vào cả Campuchia nữa”.

    Thiệu không muốn cho quá trình chính trị thành công để làm suy yếu chính quyền của ông ta, dù bất cứ dưới hình thức nào - Anthony Lewis đã viết như sau:

    “Thiệu cấm mọi người không được đi từ vùng này sang vùng khác, biến những người tù chính trị thành các tù thường phạm để tiếp tục giam giữ họ và cấm hoàn toàn các đảng phái không được hoạt động trừ đảng của ông ta. Thiệu không chỉ từ chối không chịu thực hiện các điều khoản của Hiệp định Paris mà còn coi việc tuyên truyền cho Hiệp định ở Nam Việt Nam là một tội lỗi, và vào lúc cuộc ngừng bắn sắp được thực hiện thì Thiệu đã phát động các cuộc hành quân gây hấn. Thiệu cần chúng ta ngấm ngầm ủng hộ các hoạt động vi phạm Hiệp định ấy của ông ta và hình như Thiệu đã được chúng ta ủng hộ như vậy. Ngay trước khi có cuộc hưu chiến Washington đã nhanh chóng chuyên chở cho Thiệu một đợt vũ khí mới trị giá một tỷ đôla. Có tin là đầu tháng 02/1975, Thiệu đã nói với một nhà báo người Mỹ rằng kể từ khi ký Hiệp định Paris, Hoa Kỳ chưa bao giờ gây sức ép buộc ông ta phải có những nhượng bộ chính trị với phía cộng sản cả, tức là thực hiện các điều khoản gìn giữ hòa bình”.

    “Shipler đã viết rằng Đại sứ Martin và Mỹ đã chẳng làm gì để can ngăn những hành động liều lĩnh này và chẳng làm gì để thuyết phục Thiệu thực hiện Hiệp định Paris”.

    Như vậy là đã rõ, kẻ đã vi phạm Hiệp định, cố tình đẩy mạnh chiến tranh là ai. Và nhất thiết kẻ vi phạm ấy phải bị trừng trị.




-------------------------------------------------------------------
1. “Nhảy dò” là danh từ địa phương đặt cho một loại chiến thuật phổ biến của quân Mỹ ở Long An lúc ấy. Đó là dùng từng toán quân nhỏ đổ bộ đột kích từ vài chiếc trực thăng đang bay thấp và chậm, bất ngờ bắn phá bừa bãi và dữ dội một vài điểm nghi có quân ta, có căn cứ của cán bộ địa phương, nơi tập trung của nhân dân để làm công tác cách mạng. Sau đó lập tức nhảy lên trực thăng nhanh chóng trốn thoát.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #74 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2023, 04:46:23 pm »

CHƯƠNG III
Trừng trị kẻ vi phạm Hiệp định



    Sau cuộc họp Bộ Chính trị, chúng tôi họp với Quân ủy Trung ương để bàn cụ thể việc chấp hành Nghị quyết Bộ Chính trị. Ngày 01/6/1973, Đoàn B2 đã họp bàn nội dung điện chỉ đạo trước về chiến trường theo tinh thần hội nghị và sắp xếp việc đi về. Tôi còn phải làm việc cụ thể với Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, các bộ tư lệnh binh chủng để các đồng chí hiểu rõ thực tế của chiến trường, nghe ý kiến đóng góp chỉ đạo về chuyên môn của các đồng chí, nhận những sự chi viện có giá trị của các đồng chí về kế hoạch, về vật chất, kỹ thuật. Và tôi hối hả chuẩn bị lên đường.

    Được trở lại với rừng xanh, với chiến trường khói lửa, với các đơn vị chiến đấu của mình sau một thời gian xa cách, lòng tôi nôn nao vui sướng. Cái vui sướng hồn nhiên này đã làm tôi phát hiện một cảm giác đã có trong tôi từ bao giờ: tôi đã xem căn cứ là nhà, chiến trường là quê hương, cán bộ và chiến sĩ trong cơ quan và đơn vị chiến đấu là thân thuộc. Khi nhận nhiệm vụ rời khỏi chiến trường ra Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, tưởng như không còn trở lại, lòng tôi bồi hồi luyến tiếc như bùi ngùi từ biệt quê hương. Giờ đây sắp trở lại căn cứ và chiến trường, tôi khấp khởi mừng vui khác nào như sắp trở về làng cũ thân thương. Có phải chăng hàng chục năm quen sống ở chiến trường, trời rộng đất dài, cảnh vật thay đổi, chim rừng, cá nước, đã làm cho tâm hồn tôi chỉ rung động với rừng xanh. Hay tôi đã tâm niệm suốt đời mình vì độc lập tự do nên nguyện cầm súng chiến đấu cho đến ngày đạt mục đích mà cuộc đời đã gắn bó với chiến trường. Không hoàn toàn là như vậy. Mãi cho đến ngày cầm bút viết những dòng này tôi càng thấy rõ thêm lý do luyến tiếc cuộc đời và xã hội chiến sĩ trong bao năm trường khói lửa. Đẹp làm sao, cao quý làm sao, tình bạn chiến đấu thiêng liêng vì mục đích chung giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Trong những ngày gian khổ thiếu ăn thiếu uống, ta đã chia nhau từng khúc củ mài, củ chụp, từng lá bép, trái gùi, và sớt cho nhau từng ngụm nước suối lấy từ bên kia dốc núi 1. Trên đường Trường Sơn năm nào, sau hàng tháng trời mang nặng, trèo đèo vượt suối đến kiệt sức, ta nhường nhau muỗng đường, tí muối hay biếu nhau viên ký ninh cuối cùng để cố dìu nhau về tới đích. Mỗi một mạng sống quý giá biết ngần nào, Tổ quốc đang cần từng tay súng. Nhưng ta cũng coi mạng sống nhẹ như lông hồng. Anh sẵn sàng hy sinh, lao vào quân địch, không chút đắn đo để cứu sống đồng chí mình. Nghe tin anh thắng trận, làm tốt hơn tôi, tôi phấn khởi cố học hỏi noi theo. Nghe tin tôi bại trận, anh lo nghĩ tìm phương giúp đỡ. Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Cuộc sống ở “rừng xanh” là như thế đó. Cuộc sống giữa những người bạn chiến đấu trong cả hai cuộc chiến tranh, trong các căn cứ Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, rừng U Minh là như thế đó. Tình thương đồng chí, đồng đội, khu rừng, dòng suối, mênh mông không bờ bến. Đó là tình thương học được của Bác Hồ, tình thương mênh mông của Bác đối với đất nước và con người lao động, chiến đấu. Tình thương đó vượt cả không gian, vượt cả thời gian, ở đây, ở kia, trước sau như một.

    Ai đã từng sống những đoạn đời như vậy mà lại không nâng niu luyến tiếc. Đúng rồi, không phải chiến trường hay rừng xanh quyến rũ tôi mà là lòng người, đạo đời làm tôi quyến luyến.

    Suốt dọc đường Trường Sơn, lần này bom đạn địch giảm hơn trước nhiều. Mọi hoạt động tươi vui hẳn lên, phấn chấn hẳn lên. Hết binh trạm này đến binh trạm nọ, từ đoàn này đến đoàn khác, mỗi người một việc, năng suất cao hơn trước gấp bội. Anh em vui mừng khi gặp đoàn từ Hà Nội vào Nam, mọi người đều muốn biết có gì mới về chủ trương đường lối? Bộ Chính trị đã có Nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới chưa? Cán bộ phụ trách các đoàn, các trạm rỉ tai tôi hỏi: B2 định làm ăn thế nào? Triển vọng ra sao? Và hứa sẽ làm hết sức mình để chi viện cho chiến trường. Tôi rất cảm động. Các đồng chí đã tận lực chi viện, đảm bảo cho các chiến trường, nhưng chính đây cũng là chiến trường rồi, các đồng chí không những chi viện cho tiền tuyến mà còn chiến đấu anh dũng trong bom đạn ác liệt có thua gì ở tiền tuyến. Thật là một tinh thần cao cả chỉ nghĩ cho các đồng chí mình, vì các đồng chí mình, vì toàn thắng của cách mạng. Khắp nơi trên đất nước này trong chiến tranh đều như vậy đó. Triệu người như một, nghe và tin theo Đảng, đã sống, công tác, chiến đấu, hy sinh tất cả vì chiến thắng, vì thành công của cách mạng miền Nam, vì thống nhất Tổ quốc.

    Tất nhiên, không tránh khỏi một bộ phận nào đó lạc hậu, “tụt tạt” 2 phạm kỷ luật, có số nào đó sợ chết, trốn tránh không dám vào chiến trường, nhưng đó là một tỷ lệ quá nhỏ hầu như không đáng kể.

    Trên đường đi vất vả và hiểm nghèo tôi đã mơ về chiến thắng. Chiến thắng rồi ta sẽ có một dải non sông từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, từ biên giới đến hải đảo, bầu trời bao la, biển rộng bao la. Ta sẽ có 40, 50 triệu con người Việt Nam sống theo kiểu mới. Ta sẽ xây dựng một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa hệt như xã hội và con người mà lòng người, đạo đời đã quyến luyến tôi. Phải quét sạch những thói hư tật xấu của con người mà lối sống đua chen vì cá nhân ích kỷ trong xã hội phồn vinh giả tạo, xã hội hưởng thụ của thực dân kiểu mới Mỹ để lại. Phải không còn những thói đen bạc, chạy theo ham muốn cá nhân thấp hèn, đi đến chồng phụ vợ, con bỏ cha, bạn bè thay đổi tùy sự cần thiết nhất thời của mình. Xã hội mới phải là một xã hội không còn bóc lột, không còn áp bức, bất công, mọi người đều có điều kiện phát huy tài năng của mình tham gia xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho tất cả mọi người. Con người mới phải là con người gương mẫu có đức độ, có tài năng.

    Đức biểu hiện ở ý chí và hành động, phục vụ nhân dân, Tổ quốc bất cứ bằng hình thức nào, vì nghĩa lớn sẵn sàng hy sinh quyền lợi của riêng mình; dám nhìn thẳng vào sự thật cay đắng; dám bảo vệ công bằng và chân lý dù hoàn cảnh nào.

    Đức biểu hiện ở đạo xử thế giữa người và người, giữa chung và riêng, trong gia đình, ngoài xã hội. Mọi người thương yêu kính phục lẫn nhau, trung thực, chân thành, thủy chung. Không có gì giống với kiểu người trước mặt tươi cười vồn vã, sau lưng tìm cách đâm nhau, “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”. Phải là đạo đức Việt Nam, đạo đức cộng sản, cả hai kết lại thành đạo đức Hồ Chí Minh.

    Tài biểu hiện ở kết quả cụ thể của công việc, của nhiệm vụ hoàn thành, không phải qua lời nói ba hoa, phô trương bề ngoài. Nói không đi đôi với làm thì nói không có giá trị gì, lý luận không chứng minh bằng thực tế thì chỉ là lý luận suông. Mỗi cá nhân phải là tấm gương trong học tập, công tác, chiến đấu, sản xuất, cách sống, sống trong một gia đình gương mẫu, hòa thuận, trong một xã hội trật tự nhịp nhàng. Mình không gương mẫu nói không ai nghe, gia đình không hòa hợp gương mẫu thì nói gì xây dựng xã hội trật tự, công minh. Tôi nghĩ xã hội của ta sau này nhất định phải là một xã hội trong sáng bao gồm những con người trong sáng.

   Tôi còn mơ về một con đường. Tôi đã trao đổi hào hứng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Đoàn 559 ngay ở Sở Chỉ huy Đoàn lúc ấy. Chúng tôi bàn: Cách mạng thành công rồi, nước nhà thống nhất rồi, ta sẽ xây dựng Đường 559 này, con đường Trường Sơn Đông, con “đường mòn Hồ Chí Minh” nổi tiếng, thành một đường Hồ Chí Minh hiện đại thực sự. Đó là một xa lộ chạy dài Nam Bắc dọc dải Trường Sơn, dựa vào nền cũ của Đường 559 cải tiến lại, rộng thênh thang, đúng tiêu chuẩn. Từng chặng, xây lên những tượng đài kỷ niệm ghi thành tích chiến công của mỗi đoạn đường, của những anh hùng liệt sĩ, để con cháu ta mãi mãi về sau biết rõ về con đường xương sống của Tổ quốc xuyên suốt đất nước, con đường thống nhất ngay từ dạo ấy. Trong xương sống ấy đã chảy đi dòng tủy sống từ Hà Nội thủ đô, từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cho miền Nam sống còn chiến thắng. Và sau này nếu có khả năng nữa ta lại xây một đường xe lửa song song. Xa lộ Hồ Chí Minh, đường xe lửa Hồ Chí Minh, thực sự sẽ là những con đường xương sống điều hòa cho cả một đất nước đang phát triển lớn mạnh. Mọi ước mơ sẽ trở thành sự thật, ngày nay ta xả thân chiến đấu cho thành công, con cháu ta sẽ tiếp xây dựng cho nước nhà giàu mạnh cho đời sống văn minh, hạnh phúc của nhân dân.





-----------------------------------------------------------------
1. Củ mài, củ chụp là loại củ mọc nhiều ở rừng miền Đông Nam Bộ. Đồng bào thiểu số xem đó là loại lương thực bổ sung quý giá. Lá bép là loại lá rừng ở Khu 6, ở Tây Nguyên, có thể ăn thay cơm được trong một số ngày hành quân mà hết lương thực.

2. Có nghĩa là sợ chết tụt lại phía sau hay tạt qua đơn vị khác ít nguy hiểm hơn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #75 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2023, 04:50:57 pm »

    Vào cuối tháng 6, dòng sông Sékong nước đã nhiều và chảy mạnh. Hai chiếc thuyền máy vững chắc của Đoàn 471 (thuộc Bộ Tư lệnh Đoàn 559) đã đưa chúng tôi xuôi về Nam, vượt bao thác ghềnh hiểm trở. Mỗi lần qua thác ngồi trên thuyền nghe rợn cả người. Một chiến sĩ ngồi cầm vững cần lái phía sau, mắt đăm đăm nhìn về trước. Một người khác đứng oai phong đằng mũi hai tay cầm một sào dài, sẵn sàng chống lách con thuyền tránh các tảng đá nguy hiểm nhô lên giữa dòng hay ngầm dưới mặt nước. Trong khi đó, con thuyền cứ lao nhanh theo dòng sông chảy xiết, nhiều lúc tưởng sắp va đập vào đá tan tành. Bỏ xe xuống thuyền rồi lại rời thuyền lên bộ, những cuộc đón đưa thân mật tận tình, những buổi giã từ quyến luyến. Làm sao nhớ hết được những con người dọc mọi nẻo đường chinh chiến. Họ là cán bộ hay chiến sĩ, là gái hay trai, hầu như ai cũng giống như ai: một vẻ mặt bình tĩnh trước mọi gian nguy, một nụ cười rạng rỡ nặng tình ruột thịt, một tấm lòng thương nước, một ý chí sắt son. Gặp là thân ngay, đi là nhớ tiếc.

   Vừa lên bờ tôi gặp ngay đồng chí Cửu 1, Phó phòng Bảo vệ Miền, cùng một số anh em đưa mấy xe con “Commăngca” đón chúng tôi về căn cứ. Cửu là cán bộ chuyên tổ chức những chuyến công tác, đi chiến dịch cho chúng tôi, có rất nhiều kinh nghiệm đảm bảo an toàn và nhanh chóng. Tôi ôm chầm đồng chí và lần lượt bắt tay mọi người thật chắc. Đồng chí nhìn ngắm tôi một hồi rồi nói:

    - Trông anh hơi gầy đi nhưng vẫn chắc chắn. Nghe tin anh trở về, ai nấy đều mừng. Tôi tưởng không còn có dịp tổ chức cho anh đi công tác và chiến đấu nữa chứ!

    - Bộ anh tưởng tôi ở luôn trong Sài Gòn sao? Thực tình thì tôi cũng muốn như vậy, ở trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, rồi hai bên và có thể cả trong Hội đồng Hòa hợp và Hòa giải dân tộc, nếu được. Nhưng địch không muốn thế. Chúng không muốn hòa bình, chỉ muốn chiến tranh, nên tôi lại phải trở về với rừng xanh, với các anh thôi.

    Đoàn xe chúng tôi về đến nhà vào xế chiều. Nửa năm trời bao nhiêu sự việc đã diễn qua, thế mà cảnh vật đất trời ở đây hầu như chưa có gì thay đổi lắm.

    Đồng chí Tám Hòa tức Nguyễn Xuân Ôn - Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Miền, cùng các đồng chí Lê Văn Xúp, cán bộ bảo vệ, giúp việc tôi từ những ngày tôi mới trở về Nam, các cô Xuân, Thu, Hương ở Tổ Quân y, Liên, Tâm ở Tổ Cấp dưỡng đều chạy ùa ra tận cổng đón chào rối rít.

    Vào sân nhà tôi đưa mắt nhìn khắp lượt. Vườn xanh mướt, nào rau tươi, cây ăn trái, chuối, bưởi, mận, hồng, đào xum xuê. Đồng chí Chín Dũng già, người chiến sĩ Tiểu đoàn 309 cũ hồi kháng chiến chống Pháp, nay chăm chỉ làm vườn, vui vẻ khoe với tôi thành tích và nhận xét:

    - Lâu nay địch có bớt thả bom bắn phá chỗ này nên cây cối mới nẩy chồi tươi tốt. Ước gì hòa bình được thực hiện thì khắp khu rừng bị phá trụi này sẽ thành những vườn cây ăn trái, những liếp rau cải xanh um. Tôi sẽ có dịp về Mỹ Tho - Cẩm Sơn quê tôi an dưỡng tuổi già. Chín Dũng quay qua giới thiệu tiếp: Đây nữa cậu Tài, cô Thảo, Tổ Văn thư cũng sẽ chuẩn bị cho hai người làm lễ cưới để anh em uống cốc rượu chúc mừng hòa hợp trong hòa bình.

    Trong lúc Thảo và Tài bẽn lẽn cố giấu cái mỉm cười sung sướng thì Kiên Chiến -Phó Chánh Văn phòng, cùng các thanh niên Điệp, Cách, Lưu, Tổ Công vụ cười to tán thưởng. Mỗi người một câu tíu tít hỏi thăm tôi đủ chuyện. Tôi không kịp trả lời cho một ai đầy đủ. Thật là cảm động, y như trong một gia đình. Tôi vội vàng nhờ đồng chí “Năm thuốc độc” (tức Nguyễn Văn Hoành) - thơ ký của tôi, lấy quà Hà Nội từ trên xe, phân phát cho từng người. Anh em gọi đồng chí như vậy vì đồng chí tên Năm, là cán bộ binh chủng hóa học, để phân biệt với đồng chí “Năm thuốc đỏ” - bác sĩ quân y cùng cơ quan. Quà không có gì quý giá, thuốc lá “Thủ đô” cho nam và kim, chỉ, kẹp tóc cho nữ, chỉ quý là ở tấm lòng.

    Như sực nhớ ra một điều thú vị, anh Tám Hòa kéo tay tôi hỏi:

    - À, anh có biết rằng ngụy ra kiến nghị công khai đòi anh trở lại Sài Gòn không? Nực cười quá, chúng nói Hà Nội đã “quản thúc” anh, Hà Nội phải trả anh về với chúng (!).

    - Chẳng qua là trò tâm lý chiến.

    - Anh Hai Khiết 2 trong Ban Liên hợp quân sự điện báo cáo rằng anh đã đi Hà Nội rồi và lúc biết chắc anh đi luôn, chúng lồng lộn lên. Chúng uy hiếp Phái đoàn ta. Chúng hăm: nếu Trung tướng Trần Văn Trà không trở lại, chúng sẽ cho xe đến xúc cả Phái đoàn. Biết đâu chúng làm thật, vì bọn ngụy trước nay có từ một hành vi thấp hèn nào. Vì vậy, anh em ta trong đó cũng phải có phương án sẵn sàng chiến đấu tự bảo vệ đấy. Tình hình căng thẳng kéo dài hàng tháng. Thương anh em quá anh ạ.

    - Chúng ta sẽ đấu tranh buộc chúng phải thi hành đúng Hiệp định Paris thôi. Chúng không dám làm gì anh em ta đâu. Vì chúng ta mạnh cả về pháp lý, cả về chính trị, quân sự.

    Nghỉ ngơi được vài hôm thì Trung ương Cục họp bàn ngay việc phổ biến Nghị quyết 21 và tổ chức thực hiện. Nhằm mục đích đó, cuộc hội nghị cán bộ quân chính toàn Miền (B2) mở ra dưới một rừng le đẹp mắt của khu căn cứ, tập họp rộng rãi cán bộ lãnh đạo các tỉnh, các khu, các đoàn thể và các trung đoàn, sư đoàn lực lượng vũ trang. Cuộc thảo luận rất sôi nổi hào hứng. Các đồng chí đã đem về đây những thực tế ở các địa phương, các đơn vị, những cái hay và cả những cái dở của ta vừa qua, soi rọi và lý luận, với nghị quyết, phê phán cái đúng, cái sai. Những vấn đề thời sự tập trung của tình hình, không tránh được lôi ra phân tích, vẫn là vấn đề địch mạnh hay ta mạnh, hai vùng hay ba vùng, củng cố tại chỗ hay rút về sau, đánh trả thế nào... Có khác chăng là ở đây cuộc thảo luận đã đi vào rất cụ thể, đi vào từng chi tiết, khía cạnh để về thực hiện đúng, tránh lệch lạc tả hữu khuynh. Đặc biệt, các đồng chí đã kháo với nhau nhiều về chủ trương binh vận ngay sau khi có Hiệp định: Nào là hiện nay phải lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, binh vận là chiến lược. Phải dùng nhiều thủ đoạn binh vận của quần chúng làm tê liệt các cuộc hành quân của địch, vô hiệu hóa đồn bót chúng, đó là tấn công rồi. Ta có lực lượng quân sự mạnh nhưng tránh dùng, vì dùng quân sự rắc rối lắm, mất tin nhau, găng nhau. Ta phải dám làm việc hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù. Từ những quan điểm phiến diện này chỉ căn cứ vào suy nghĩ và mong muốn chủ quan của ta mà không đếm xỉa đến thực tế âm mưu và hành động của địch, làm cho bên dưới càng đẻ ra tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, hữu khuynh, thủ tiêu chiến đấu. Có cán bộ còn phê phán cấp dưới: “Các anh đánh nhau hàng chục năm rồi chưa đủ sao, nay còn muốn đánh nữa. Bây giờ phải “xanh vỏ đỏ lòng” đẩy mạnh binh vận, biến người của địch thành người của ta... Ta vẫn có quân, có súng đạn, Mỹ - Thiệu tổ chức Mỹ - Thiệu nuôi, có đủ lực lượng mà khỏi phải lo về hậu cần rắc rối, lôi thôi và vân vân...”. Cấp dưới không dám trả lời nhưng trong thâm tâm anh em muốn hỏi lại: “Thưa đồng chí, chúng tôi muốn đất nước hòa bình, nhân dân hết chết chóc. Nhưng địch hành quân càn quét lấn chiếm, chĩa súng bắn chúng tôi, âm mưu xóa sạch thành tựu cách mạng vừa qua thì chúng tôi phải làm gì? Có phải chúng tôi đứng thẳng người, giơ nắm tay lên trời hô khẩu hiệu “Hòa bình muôn năm”? Không! Thật tình chúng tôi không muốn cái trò ngây thơ đau xót hồi những năm 1954-1959 diễn lại. Trong tim mình còn nhức nhối cái tang của không ít đồng chí đã ngã xuống lúc ấy trong tay còn cầm súng mà không dám bắn, cái tang của nhiều phong trào địa phương bị dìm trong máu”. Vì sợ bị phê bình là làm sai chủ trương (binh vận), ở Mỹ Tho du kích phải tổ chức đánh lén (lén đối với cấp trên) đồn bót địch đóng trái phép vào căn cứ mình. Ở Mỏ Cày, Bến Tre, trước tình hình địch lấn chiếm mà lực lượng vũ trang không được đánh trả phải lùi mãi, anh em than thở: “Chỉ còn nước chui xuống sàn mà ở”. Cuối cùng phải tự động đánh trả mới khôi phục lại được vùng căn cứ của huyện.

    Sau hội nghị cán bộ quân chính, chúng tôi họp với các đồng chí quân sự bàn cụ thể kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974, mùa khô đầu tiên thực sự sau Hiệp định. Nội dung kế hoạch là xác định lại thái độ rõ ràng của ta tôn trọng Hiệp định, bảo vệ Hiệp định và vì vậy phải trừng trị kẻ vi phạm. Ta cố làm đúng như đã tuyên bố, kiên quyết và chủ động trừng trị, trừng trị ngay từ nơi xuất phát tấn công vi phạm của địch. Muốn như vậy ta phải mạnh, mạnh về chính trị, pháp lý, mạnh cả về quân sự, không phải chỉ mạnh về lực lượng mà còn mạnh về cách bố trí các loại lực lượng ở cả các vùng theo một thế chiến lược vững vàng sẵn sàng cho mọi tình huống. Phải củng cố chấn chỉnh các lực lượng vũ trang, củng cố tại chỗ, phải phát triển thế và lực của cách mạng ở cả ba vùng, vùng ta, vùng địch, vùng tranh chấp. Tất cả các địa phương phải dùng mọi hình thức chính trị thuyết phục, binh vận, ép rút, tiêu diệt tất cả các đồn bót vị trí đóng trái phép bất cứ ở vùng nào sau ngày 28/01/1973. Phải bảo đảm cho nhân dân các quyền tự do dân chủ, tự do đi lại làm ăn, tự do phá bỏ ấp chiến lược, trở về làng cũ nếu họ muốn. Phải tiêu diệt lực lượng nào đi hành quân đánh phá, càn quét, cướp bóc nhân dân, cản trở công việc làm ăn sinh sống của nhân dân. Tất cả hành động này là hợp pháp, ta đã báo cho đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự hai bên biết để các đồng chí phối hợp đấu tranh ở bàn hội nghị.

    Kiểm điểm lại tình hình từ khi có Hiệp định cho đến bây giờ, chiến trường B2 đã có nhiều thay đổi: Từ tháng 01 đến tháng 4/1973 trên tất cả các quân khu, các tỉnh, địch dùng các thứ quân đánh phá lấn chiếm các vùng của ta, ra sức bình định, gom dân, bắt lính, phá địa hình, đặc biệt quanh Sài Gòn dùng xe ủi đất san bằng, phá nhà cửa vườn tược nhân dân, dùng quân lính, tội phạm chặt phá cây cối, đốn sạch dừa nước, đóng thêm đồn bót, tung gián điệp “Phượng hoàng” phát hiện, bắt, giết những người yêu nước mà chúng gọi là hạ tầng cơ sở Việt cộng. Từ tháng 5/1973 trở đi, do sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền, của các cấp lãnh đạo địa phương, ta đánh trả lại quyết liệt nên địch chững lại rồi bị đẩy lùi từng bước. Đồn bót đóng trái phép bị diệt, đầu hàng, rút chạy, lính địch rã và đào ngũ mỗi ngày một nhiều, các đơn vị chủ lực, bảo an địch bị đòn đau đã bộc lộ các điểm suy yếu và ngày càng bị thua thiệt trên tất cả các vùng.




------------------------------------------------------------------
1. Thượng tá Huỳnh Văn Cửu.
2. Bùi Thanh Khiết - Đại tá Phó Trưởng phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #76 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2023, 04:53:44 pm »

    Tình hình diễn biến về phía ta và địch theo hai chiều ngược nhau ngày càng rõ. Về ta, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân thấy Mỹ thua, ngụy suy yếu, ta thắng lợi, thế ta lên, tinh thần phấn khởi tin tưởng và tích cực tham gia mọi công tác chống địch. Về địch, sĩ quan và binh lính các loại lực lượng đều nhận thấy sự thật là Mỹ đã thất bại, đã tỏ ra ngán chiến tranh, sợ chiến tranh tiếp tục, mong muốn hòa bình. Trên đôn đốc hành quân thì làm lấy lệ, có khi không làm nhưng báo cáo láo (xảy ra từ cấp chiến đoàn và cấp tiểu đoàn). Có binh lính đã chống lệnh, đào rã ngũ ngày càng nhiều. Các lực lượng kìm kẹp dân cũng tiêu cực, nới lỏng kìm. Nhờ đó nhân dân đấu tranh bung ra làm ăn ngày càng xa nơi ở, lần lượt trở về làng cũ, về vùng giải phóng của ta. Trong lúc đó bọn Mỹ, ngụy bên trên vẫn rất ngoan cố và chủ quan, đặt hết kế hoạch này đến kế hoạch nọ và ra lệnh cho dưới thi hành. Thiệu đã chỉ thị cho đến cấp tiểu khu (tỉnh):

    “1) Lấn đất giành dân giữ vững vùng đã kiểm soát, giữ vững an ninh, không được để mất một xã, ấp nào (chỉ tiêu là kiểm soát cho được 11.000 trong tổng số 13.000 ấp trong toàn miền Nam và đến tháng 02/1974 phải đạt 65% số ấp loại A tức loại kìm chặt).

    2) Chiếm giữ và bảo vệ tất cả các trục giao thông chiến lược.

    3) Tiêu diệt lực lượng vũ trang và lực lượng tiếp vận đối phương ở tất cả các vùng, nhất là từ biên giới vào.

    4) Cô lập, bao vây kinh tế, phá hoại, làm mất ổn định vùng căn cứ và vùng giải phóng của đối phương.

    5) Tăng cường do thám, gián điệp, biệt kích trinh sát đường không để nắm tình hình, điều tra mục tiêu, chuẩn bị sẵn kế hoạch chờ thời cơ chiếm lại các vùng như trước ngày 29/3/1972”.

    Chúng cũng chỉ thị cụ thể cho từng vùng:

    “1) Vùng kiểm soát, các đô thị: diệt mầm mống, ngăn ngừa nổi dậy bằng tuần tiễu, phục kích, hành quân, cảnh sát, diệt cơ sở Việt cộng, kìm chặt dân, đẩy mạnh   chiến tranh tâm lý, tổ chức dân chúng, củng cố chính quyền, bình thường hóa đời sống dân, tạo điều kiện phục hồi phát triển kinh tế.

    2) Vùng củng cố (tức vùng tranh chấp), gồm các ấp loại C, D: đẩy lùi, ngăn chặn, diệt lực lượng chính trị quân sự Việt cộng; lập lại và củng cố chính quyền, nâng cao mức độ an ninh, nới rộng vùng kiểm soát, mở rộng vùng an toàn, dùng chính trị, kinh tế mua chuộc dân, nhưng biện pháp quân sự là chủ yếu. Các lực lượng quân sự lãnh thổ sẽ dẫn đầu tập trung đánh phá vào vùng này.

    3) Vùng tảo thanh Việt cộng (tức vùng giải phóng và căn cứ của ta): tập trung đánh phá hành lang vận chuyển bao vây kinh tế, trinh sát, tình báo, tùy tình hình dùng không quân và pháo đánh phá kho tàng và vận chuyển, lôi kéo dân, duy trì chính quyền lưu vong, gây bất ổn định; duy trì hoạt động quân sự và sẵn sàng kế hoạch chiếm lại”.

    Về kế hoạch bình định, chúng nêu: Cần mở nhiều chiến dịch bình định trong từng tiểu khu, quân khu và toàn quốc, nâng mật độ hành quân đơn vị nhỏ; đóng thêm nhiều đồn bót; ủi phá địa hình vùng tranh chấp và giải phóng của ta. Chỉ tiêu năm 1973 của chúng là phá 12.000ha. Vùng nào kiểm soát được thì di dân, lập ấp khẩn hoang lấn vào vùng giải phóng của ta. Kế hoạch 1973 của chúng là di dân 10 vạn, lập 20 ấp ở các tỉnh Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy, Lâm Đồng, Kiến Phong, Ninh Thuận, Đắk Lắk. Kinh phí dùng là 50 tỷ tiền ngụy miền Nam.

    Địch đã nêu thành mục tiêu quốc gia: Chiếm và bảo vệ tối đa lãnh thổ. Tranh thủ nắm dân đặc biệt là nông dân. Củng cố thực lực quân sự, chính trị. Trọng tâm của địch là Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật. Ngày 06/3/1973, Thiệu họp với các tư lệnh quân khu và các tỉnh trưởng đã nói: “Tôi đặt sự đấu tranh mất còn của miền Nam vào các vị chỉ huy cao cấp ở 2 vùng này” (Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật).

    Như vậy là ngụy quyền Thiệu không những không đếm xỉa gì đến Hiệp định Paris mà còn lợi dụng Hiệp định, lợi dụng lòng ngay thật của đối phương tin ở hòa bình, ổn định, hòa hợp dân tộc để tranh thủ củng cố và phát triển lực lượng của chúng, tăng cường đánh phá lấn chiếm, đi đến thủ tiêu hoàn toàn quân giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nếu như ta mất cảnh giác, hữu khuynh lùi bước, thì lực lượng ngụy ngày càng mạnh, thế chúng càng lên và chưa biết tình hình sẽ đi đến đâu. Rõ ràng từ cuối tháng 4 trở đi, khi ta phản ứng lại, đánh trả lại thì địch bộc lộ chỗ yếu kém của chúng, bị chặn và tháo lùi lại. Từ khi có Hội nghị Bộ Chính trị, theo tinh thần thảo luận, Trung ương Cục đã chỉ đạo đối phó kiên quyết hơn, thì tình hình trên chiến trường diễn biến ngày càng thuận lợi cho ta.

    Ngay trong thời kỳ từ tháng 1 đến tháng 4 ở các chiến trường khác ta bị lấn mất đất, mất dân nhiều, nhưng riêng ở Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ) là nơi địch tập trung quân đông nhất lúc ấy, xem đây là trọng tâm đánh phá lấn chiếm, đặc biệt là vùng Chương Thiện, khu vực giữa bốn tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, ta vẫn giữ vững các vùng của ta. Sở dĩ được như vậy vì Khu ủy Khu 9 lúc ấy do đồng chí Sáu Dân 1 làm Bí thư đã thống nhất với Bộ Tư lệnh Quân khu do đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, nhận định rằng kẻ địch không bao giờ chịu thi hành Hiệp định đâu, chiến tranh vẫn là chiến tranh, mọi mặt hoạt động vẫn như cũ không có gì thay đổi cả. Do đó, các trung đoàn chủ lực của Quân khu vẫn ở nguyên tại chỗ, cùng với lực lượng địa phương và du kích hoạt động như bình thường, kiên quyết tấn công, đánh trả quyết liệt, tiêu diệt hàng tiểu đoàn địch (Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy và Tiểu đoàn 86 biệt động quân). Điều này rõ ràng không chứng tỏ là lực lượng ta yếu đi và lực lượng địch mạnh lên sau khi có Hiệp định như một số đồng chí đã tưởng tượng.

    Qua hoạt động đó, Quân khu 9 đã giải phóng một vùng dài 20 cây số dọc kênh Nước Đục, phía nam Chương Thiện, và một số vùng khác nữa. Số dân mới giải phóng lúc ấy lên đến 60 vạn, trong 11 xã, 153 ấp, không kể số dân vùng tranh chấp trở về vùng ta sản xuất. Cùng lúc ấy, Khu 9 đã diệt tất cả các đồn bót lấn chiếm trái phép của địch, và rồi một số đồn bót khác của địch đã có từ trước cũng hoảng hốt rút chạy. Hành động dũng cảm và kết quả cụ thể rực rỡ của Quân khu 9 lúc ấy nổi bật, độc đáo, so với tất cả các quân khu khác, đã được Bộ Chính trị biểu dương và nêu gương cho các chiến trường khác. Nhưng éo le thay, hành động cụ thể ấy lại ngược hẳn với một loạt chủ trương lúc ấy, khi mới có Hiệp định, là gấp rút ổn định tình hình, phân thành 2 vùng ta, địch ngay, rút lực lượng vũ trang về phía sau để củng cố, không dùng quân sự rắc rối mà đấu tranh chính trị, binh vận là chính. Dùng binh vận, dùng quần chúng làm tê liệt các cuộc hành quân địch, làm vô hiệu hóa đồn bót địch, đó là tấn công rồi - như đã nói ở đoạn trên. Đặc biệt hành động của các lực lượng vũ trang Quân khu 9 xuất phát từ chỗ cho rằng, địch đã cố phá Hiệp định, cứ tiếp tục chiến tranh như không có Hiệp định. Do vậy ta cứ hoạt động như cũ, không có gì thay đổi. Đó là một nhận thức không đúng hẳn về Hiệp định Paris, về giai đoạn chiến lược mới. Nhưng nó lại đúng ở chỗ đánh giá sự ngoan cố lật lọng của địch, giống như hồi Hiệp định Giơnevơ, kiên quyết giữ thành quả cách mạng đã đạt được; đúng với thực tế tình hình mà không có ảo tưởng viển vông. “May” mà đây là một chiến trường xa, phổ biến chủ trương của trên thường rất chậm và uốn nắn sai lầm cũng thường không kịp thời. Ở đây nói lên một điểm: Thực tế là vô cùng quý báu, dù thực tế của sai lầm hay đúng đắn, nó là cơ sở cho lý luận, cho chủ trương, đường lối. Mọi lý luận, mọi chủ trương, đường lối không dựa trên thực tế sẽ sai lầm.

    Địch tính toán trong kế hoạch dài hạn của chúng:

    “- Từ tháng 2 đến tháng 8/1973, ra sức lấn chiếm và kiểm soát tuyệt đại bộ phận lãnh thổ Nam phần Việt Nam.

    - Từ tháng 9/1973 đến 02/1974 ra sức củng cố những cái đã giành được, phòng thủ vững chắc.

    - Sau đó vào năm 1974 hay quá lắm là năm 1975 sẽ có giải pháp chính trị, tổng tuyển cử để hợp pháp hóa, chỉ còn một chính quyền (tức chính quyền của Thiệu). Một quân đội mạnh (tức quân đội Việt Nam Cộng hòa) - Chiến tranh tàn lụi - Việt cộng chỉ còn như một đảng đối lập đấu tranh chính trị đơn thuần không hơn không kém.

    Nếu không như vậy thì sẽ dùng chiến tranh lớn thanh toán hoàn toàn Việt cộng vào năm 1976 và 1977”.

    Về kinh tế, tương xứng với kế hoạch chính trị quân sự đó, chúng cũng vạch ra kế hoạch dài hạn 8 năm 1973-1980 đã ban hành ngày 20/5/1973, kế hoạch chia làm 3 thời kỳ:

    “1973-1974, phục hồi tái thiết.

    1975 - 1976, phát triển củng cố.

    1977 - 1980, tự lực, giảm viện trợ”.

    Tham vọng, kế hoạch và hành động của kẻ địch nhất quán từ đầu là như vậy.





-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Võ Văn Kiệt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #77 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2023, 04:56:44 pm »

    Trên cơ sở tình hình thực tế, diễn biến trên chiến trường cho đến lúc ấy vào giữa mùa mưa, biết được mưu đồ và hành động của địch như vậy, chúng tôi nghiên cứu chấp hành Nghị quyết Trung ương 21, cụ thể hóa thành Nghị quyết 12 Trung ương Cục mà làm kế hoạch hoạt động mùa khô 1973-1974 của chiến trường B2. Sau khi trình bày và được sự chấp thuận của Trung ương Cục, tôi đã duyệt lại kế hoạch này lần cuối cùng và hạ quyết tâm vào tháng 9/1973 để kịp cho tham mưu và các chiến trường triển khai thực hiện chu đáo và báo cáo ra Quân ủy Trung ương.

    Chiến trường chính được xác định lúc ấy là đồng bằng sông Cửu Long. Ở đây địch chọn làm trọng tâm bình định, lấn đất giành dân, vét người vét của. Ta phải chặn bàn tay tội ác của địch lại, kiên quyết trừng trị chúng. Phải lấy lại và giữ vững vùng giải phóng của ta đã có từ trước ngày 28/01/1973. Muốn đạt mục tiêu ấy ta phải hoạt động phối hợp các chiến trường chặt chẽ, không cho phép địch hòa hoãn nơi chúng yếu, thất thế, để tập trung quân đánh nơi chúng có ưu thế, nơi có ý nghĩa chiến lược cho chúng. Chúng tôi đã quyết định tăng cường lực lượng, cả người và vũ khí cho Quân khu 8, 9, chiến trường đồng bằng, để hai quân khu làm tròn được nhiệm vụ của chiến trường chính trong giai đoạn này. Lúc này có một vấn đề đặt ra, trong hàng ngũ cán bộ quân sự, cũng như cán bộ dân, Đảng là tăng cường lực lượng cho đồng bằng bằng cách gì?

    - Đã xác định đồng bằng là chiến trường chính thì ta phải tập trung ba thứ quân của ta mạnh ở đây để đánh bại địch. Như vậy chủ lực cũng tập trung nhiều ở đây.

    - Đối với trước mắt cũng như về lâu dài, có nên cứ dàn quân của cả hai bên đánh nhau ở miền Đông này như từ trước đến giờ theo kiểu chọi trâu không? Hay ta chọn một hướng bất ngờ khác, ý nói hướng đồng bằng sông Cửu Long, để tập trung quân ở đây mà đánh?

    Những ý kiến này là muốn bố trí lại lực lượng, đưa chủ lực Miền về tăng cường cho nông thôn đồng bằng. Cho rằng giải phóng được đồng bằng đông dân nhiều của là giải quyết được chiến tranh. Thực ra đây không phải là quan điểm mới mà nó đã có từ lâu và dai dẳng mãi cho đến ngày nay, cho rằng phải giải phóng nông thôn rồi mới giải phóng thành thị được. Nó trái ngược với đường lối chiến lược của cuộc chiến tranh chống Mỹ của Đảng ta. Đó là chiến lược tấn công, tấn công trên cả ba vùng chiến lược: nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị. Tấn công cả bằng lực lượng quân sự, cả bằng lực lượng chính trị quần chúng, luôn kết hợp tấn công và nổi dậy. Vì vậy mà vị trí của đô thị rất quan trọng. Trong chiến lược tấn công này, đòn chủ lực rất quyết định mà chủ lực của binh khí kỹ thuật ngày càng tăng của ta không thể tập trung đánh lớn ở đồng bằng trống trải, đầy dẫy sông rạch, sình lầy. Ở đó, kẻ địch lại kìm giữ chặt các đường giao thông được bảo vệ bằng hệ thống đồn bót có công sự vững chắc, địch lại có các hạm đội trên sông và làm chủ hoàn toàn bầu trời. Đưa chủ lực lớn về đồng bằng trong tình thế như vậy là ta tự làm tê liệt mình, sa ngay vào thế yếu, thế bị động, sai về chiến lược, bất lợi về chiến dịch và chiến thuật, còn địch sẽ phát huy được thế mạnh của chúng gấp bội. Qua nhiều kinh nghiệm chúng tôi đã nhất trí với nhau là trong điều kiện của ta đối đầu với Mỹ - ngụy, chủ lực ta ở đồng bằng sông Cửu Long tốt nhất là tập trung đến trung đoàn với binh khí kỹ thuật nhẹ. Nếu tổ chức sư đoàn thì là sư đoàn nhẹ, việc chỉ huy và chiến thuật không thể giống như ở chiến trường rừng núi. Trong lúc đó, ta phải ra sức phát triển lực lượng du kích rộng rãi, lực lượng đặc công tinh nhuệ nhiều, bộ đội địa phương mạnh, để tiến hành một cuộc chiến tranh du kích thần kỳ, liên tục, sôi nổi; một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng kết hợp ba thứ quân một cách linh hoạt trên mọi địa hình, mọi vùng, mọi thời tiết bằng ba mũi giáp công, bằng những chiến dịch tổng hợp, bằng cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng. Ta hoàn toàn có điều kiện làm như vậy, ta có nhân dân cách mạng đông đảo, ta có ưu thế, có kinh nghiệm. Mỗi chiến trường khác nhau về điều kiện các mặt, về nhiệm vụ, mục tiêu, về khả năng, phải có cách tổ chức và bố trí lực lượng phù hợp, không thể rập khuôn, càng không thể theo ý muốn chủ quan của mình được.

    Bộ Chỉ huy Miền luôn xác định rằng chiến trường miền Đông Nam Bộ bao gồm Sài Gòn là chiến trường chủ yếu của B2, là chiến trường quyết chiến chiến lược, quyết định cuộc chiến tranh. Ở đó, ta có khả năng phát huy vai trò to lớn của chủ lực. Địa hình thuận lợi cho tập trung và triển khai chủ lực lớn, triển khai mọi binh khí, kỹ thuật, là nơi ta có khả năng tổ chức bố trí và dự trữ hậu cần, cơ sở đảm bảo vật chất kỹ thuật cho một quân đội lớn, cho những chiến dịch lớn. Chiến trường này có vị trí chiến lược quan trọng, ta có thể uy hiếp địch, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự, diệt sinh lực lớn địch kết hợp đòn tấn công sấm sét với đòn nổi dậy vũ bão đập tan đầu não chiến tranh Mỹ - ngụy và cuối cùng quật ngã địch ở đây.

    Chiến trường đồng bằng giữ một vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, vì cả ta và địch đều dựa vào kho người kho của ở đây để xây dựng và phát triển lực lượng cả quân sự, chính trị và kinh tế, thay đổi tương quan đôi bên. Có lúc nào đó ta đưa lên thành chiến trường chính cũng là với ý nghĩa đó, nhưng chỉ là từng thời gian trong quá trình cuộc chiến, như mùa khô này và mùa mưa 1974, hay trước đây nữa vào những năm 1962-1963, tuy nhiên nó không phải là chiến trường quyết định cuối cùng cuộc chiến tranh. Vì vậy, mà từ lâu B2 bố trí thế chiến lược, bố trí lực lượng là căn cứ vào vai trò và vị trí của chiến trường, trong một kế hoạch chiến lược tấn công của một cuộc chiến tranh cách mạng thực sự. Nhất thiết không thể làm yếu khối chủ lực miền Đông mà ngược lại, ngày càng phải tăng cường mạnh lên. Tôi còn nhớ vào năm 1965-1966, khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, một số đồng chí phụ trách thành phố Sài Gòn đã hỏi trực tiếp tôi: Mỹ đưa quân lớn và các loại vũ khí mạnh vào, chuyển thành “Chiến tranh cục bộ”, vậy ta có nên thay đổi đường lối chiến lược không? Có nên phân tán chủ lực để tiến hành chiến tranh du kích trường kỳ để thắng địch không? Tôi đã trả lời dứt khoát rằng không. Tôi đã trình bày thế bị động chữa cháy của Mỹ, quân nhiều nhưng không mạnh và ta vẫn tấn công, chủ lực ta không những không phân tán đánh du kích mà sẽ còn tổ chức thêm nhiều sư đoàn - lúc ấy chỉ mới tổ chức một sư đoàn ở B2 - rồi lên quân đoàn nữa. Hoàn toàn không có vấn đề thay đổi đường lối chiến lược, không có vấn đề trường kỳ du kích mà thắng địch được. Thế nhưng, tư tưởng này vẫn không dứt hẳn mà còn đấu tranh kéo dài. Đến ngày nay đã qua một chặng đường dài, Mỹ đã phải cút, ngụy đang hung hăng nhưng là cái hung hăng giãy chết thì vai trò chủ lực miền Đông càng vô cùng quan trọng. Chúng tôi đã ra sức củng cố mạnh chủ lực miền Đông và quyết định tăng cường lực lượng cho đồng bằng với nhiều cách khác nhau: Tích cực bổ sung nhiều và nhanh quân số, vũ khí đạn dược, phương tiện để đẩy mạnh phát triển cả ba thứ quân tại chỗ; giao nhiệm vụ cho các sư đoàn chủ lực Miền gấp rút tổ chức và huấn luyện một số đại đội, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật, để đưa xuống cho quân khu; giao hẳn cho Quân khu 9 Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn chủ lực số 1 của Miền đang hoạt động vùng Bảy Núi - Hà Tiên; tăng cường chỉ đạo sát về kế hoạch, phương thức; chỉ đạo kế hoạch phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa các chiến trường, của cả chủ lực, để không cho địch tập trung đánh phá đồng bằng theo ý chúng.

   Mùa khô này, B2 cũng đã triển khai công tác bảo vệ, củng cố và mở rộng các hành lang giao thông vận tải nối liền từ căn cứ của Miền ở miền Đông với căn cứ Đồng Tháp Mười và xuống tận rừng U Minh bằng ba hướng:

   - Hướng dọc biên giới với Campuchia qua Bảy Núi, Hà Tiên, Rạch Giá, rừng U Minh.

   - Hướng Mỹ Tho qua Bến Tre, Vĩnh Trà, Cà Mau.

   - Hướng đường thủy theo sông Tiền và sông Hậu.

   Đồng thời củng cố nối liền miền Đông với hậu phương lớn qua đường Trường Sơn 559. Được Tổng cục Hậu cần đồng ý và giúp đỡ tích cực, Cục Hậu cần Miền đã cùng hậu cần của các quân khu khẩn trương xây dựng lực lượng, dự trữ vật chất cho Miền và cho các quân khu ngay từ đầu mùa khô này để luôn chủ động với tình thế đang phát triển mạnh.

   Số lượng vũ khí khí tài Bộ Tổng Tham mưu cấp cho B2 trong năm 1973 đang được tiếp thu và vận chuyển tốt. Nhưng muốn tranh thủ vận tải và dự trữ sẵn cho năm 1974 sớm, chủ động, thì chưa có kế hoạch phản hồi của trên; chờ có quyết định thì lỡ thời cơ vận chuyển và chậm, có khi gặp trở ngại bất ngờ, kế hoạch dự trữ có thể bị phá. Tôi đã suy nghĩ vấn đề này từ lúc còn đang dự cuộc họp của Bộ Chính trị mở rộng trong tháng 5 ở Hà Nội, nhưng không tìm được cách giải quyết. Tôi đã đến gặp riêng đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần lúc ấy để trao đổi. Đồng chí Thiện là một người thẳng thắn và nhiệt tình, nhiệt tình với bạn bè đồng chí, nhiệt tình với công việc chung. Vóc dáng cao lớn, anh là một con người dám nghĩ dám làm, có tấm lòng cởi mở, tốt bụng dễ cho người ta gần gũi và đặc biệt là vui tính. Cái vui tính kèm theo một ít “cái tục” dân gian mà cán bộ quân sự miền Bắc cũng như miền Nam, cán bộ cách mạng cũ cùng hoạt động trước nay, nam cũng như nữ, đến chiến sĩ ai cũng biết tiếng và có cảm tình. Sau khi tôi trình bày vấn đề, thú thật sự lo lắng của mình chưa có cách nào giải quyết, anh cười xòa nói:

    - Có khó khăn gì đâu, một chuyện dễ quá như vậy mà một người tướng ở chiến trường không nghĩ ra sao?

    Tôi ngạc nhiên im lặng nhìn anh dò hỏi. Chần chừ một lúc với vẻ mặt rất thản nhiên anh mới chậm rãi:

    - Cứ để tôi làm Tổng tham mưu trưởng một tiếng đồng hồ thôi, tôi sẽ ký ngay cho B2 thêm vài nghìn tấn vũ khí và ký cho luôn các quân khu khác nữa.

    Tôi bật cười biết anh lại đùa. Tôi đùa lại:

    - Nếu tôi có quyền lực vô biên, tôi sẽ cho anh làm “thiên tử” trong 24 tiếng đồng hồ để anh thực hiện mọi ý nguyện mà anh có và cưới một nàng cung nữ đẹp tuyệt trần làm vợ, y như chàng Hassan vậy. Nhưng tôi không chịu trách nhiệm nếu anh lại cũng giống như Hassan bị bắt vào nhà thương điên và nhận mỗi ngày 50 roi gân bò đâu đấy! 1
 
    Chúng tôi lại cười với nhau vui vẻ.

    Nhưng rồi anh hiến kế:

    - “Nếu anh đồng ý, tôi sẽ lệnh xuất kho cho anh mượn trước 2.000 tấn vũ khí các loại nằm trong tổng số phân phối của B2 năm 1974”.

    Tôi rất đỗi vui mừng. Thế là chúng tôi thỏa thuận với nhau vấn đề vay mượn. Và anh không quên nhấn mạnh:

    - “Sau tôi sẽ trừ vào số được cấp đấy, anh liệu bảo anh em giữ gìn cẩn thận kẻo thiếu rồi đòi nữa thì vào tù cả đám đấy!”

    Sau đó còn vấn đề tải. Tôi tin chắc trước rằng anh em có trách nhiệm vận chuyển sẽ sẵn sàng nhận thêm những công việc cực nhọc này. Và sự thật đã đúng như vậy.




-----------------------------------------------------------------
1. Chuyện anh chàng say ngủ trong sách Nghìn lẻ một đêm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #78 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2023, 04:59:58 pm »

    Đây còn là một mùa khô mà đôi bên đều ra sức giành đất, giành dân. Địch nêu mục tiêu giành kiểm soát các vùng như trước 29/3/1972. Chúng xem Hiệp định Paris như không có. Còn mục tiêu của ta thì giành lại tất cả các vùng như trước 28/01/1973 - Hoàn toàn phù hợp với pháp lý Hiệp định Paris. Trọng tâm kế hoạch Quân khu 9 là trừng trị quân địch lấn chiếm vùng căn cứ U Minh của ta và giành lại các vùng đông dân ở Gò Quao, Giồng Riềng thuộc Rạch Giá, ở Vĩnh Long, Trà Vinh, một vùng có tầm chiến lược quan trọng nằm giữa sông Tiền và sông Hậu. Trọng tâm kế hoạch Quân khu 8 là trừng trị bọn lấn chiếm trung tâm căn cứ Đồng Tháp Mười của ta và giành lại vùng đông dân Cái Bè, Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho, nằm hai bên đường 4 chiến lược, xương sống của đồng bằng cũng như các vùng thuộc tỉnh Bến Tre liên hoàn với Vĩnh Long, Trà Vinh của Quân khu 9. Còn một nội dung nữa của hoạt động mùa khô này của cả đôi bên là giành của. Ngày 24/8/1973 Thiệu đã triệu tập ở Cần Thơ cái gọi là Hội nghị lúa gạo. Chỉ tiêu của chúng đề ra trong mùa khô này là phải cướp cho được một triệu tấn lúa. Ngày 29/9/1973, tướng ngụy Vĩnh Nghi - Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật chỉ thị cho 16 tỉnh trưởng đồng bằng là đến cuối năm 1973 phải cướp và nộp lên trên 40 vạn tấn gạo (tương đương 1 triệu tấn lúa). Ta phải kết hợp trừng trị địch với phá cho được kế hoạch cướp lúa này, bảo vệ tài sản cho dân và giành dự trữ cho ta. Không phải chỉ Quân khu 8 và 9 làm nhiệm vụ này mà cả Quân khu 7 (miền Đông) và Quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ) cũng phải kết hợp đánh trả và giành vụ mùa để có dự trữ lúa gạo tại chỗ.

    Chủ lực Miền trong mùa khô này cũng có nhiệm vụ khá nặng nề. Ngoài việc tranh thủ thời gian ra sức xây dựng, củng cố tổ chức, đặc biệt là binh chủng, tăng cường huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật, nâng trình độ tác chiến tập trung của binh chủng hợp thành, còn phải phân ra tác chiến, hỗ trợ các địa phương. Hai Sư đoàn 9 và 7 được bố trí đứng vững ở tuyến trung gian phòng thủ Sài Gòn của địch thuộc hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương, phối hợp tác chiến giúp hai tỉnh này trong các nhiệm vụ mùa khô của tỉnh. Nhiệm vụ chủ yếu của hai sư đoàn là uy hiếp tuyến trung gian và tuyến trong cùng (vùng ven Sài Gòn) của địch phòng thủ Sài Gòn, kìm chân các sư đoàn 5, 25, 18, các liên đoàn biệt động của Quân đoàn 3 ngụy, không cho rút đi chi viện cho đồng bằng hay tấn công nơi khác, không cho chúng hoàn chỉnh thế phòng ngự vững chắc thủ đô của chúng.

    Cần nói thêm về âm mưu và hành động của địch ở khu vực Sài Gòn trong ý đồ chiến lược chung của chúng từ sau khi có Hiệp định. Trước năm 1972, Sài Gòn được địch phòng thủ bằng 3 tuyến vững chắc: tuyến ven đô, tuyến giữa và tuyến ngoài cùng. Với chiến dịch Nguyễn Huệ của ta và đợt hoạt động quân sự mùa khô 1972 trong toàn Miền, ta đã đập tan tuyến phòng thủ ngoài cùng, chọc thủng từng đoạn tuyến phòng thủ giữa, chỉ còn lại tuyến ven đô là nguyên vẹn. Như vậy là thế trận phòng ngự Sài Gòn khá mỏng manh, không đáng tin cậy. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ngụy quyền Sài Gòn, một mặt ra sức càn quét lấn chiếm các vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta, mặt khác củng cố và hoàn chỉnh các vùng kiểm soát của chúng, đặc biệt là hết sức chú ý việc củng cố phòng ngự vững chắc thủ đô Sài Gòn - trung tâm đầu não của chúng. Chúng đã mở liên tục các cuộc hành quân lớn nhỏ nhằm diệt cơ sở chính trị, du kích của ta ở ven đô, chúng dùng xe ủi đất san bằng vườn tược nhà cửa của nhân dân như vùng Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Dầu Một...; dùng lao công đào binh của chúng chặt phá cây cối vùng Lái Thiêu, Thủ Đức, các rừng dừa nước ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc. Chúng đóng thêm đồn bót, đặt thêm chướng ngại, gài mìn, đào hào chống tăng riêng hướng Biên Hòa để củng cố thêm tuyến phòng thủ trong cùng sát nội đô. Nơi nào không kiểm soát được, như các căn cứ du kích của ta đã có từ lâu, xung quanh thành phố Sài Gòn, gồm Bưng sáu xã ở Thủ Đức, khu Rừng Sác Duyên Hải, An Sơn, Lái Thiêu, Tân Mỹ, Bình Lý, Hóc Môn, ba xã Nam Bến Cát mà chúng đã phải gọi là “tam giác sắt”, Vườn Thơm, Bà Vụ, Tam Tân, Bình Chánh, vùng Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè... thì chúng liên tục dùng phi cơ ném bom và pháo bắn ngày đêm, hủy diệt, tạo thành vùng trắng, cố xóa các khu căn cứ ấy của ta. Kế hoạch trong mùa khô 1973-1974 của ngụy là chiếm cho được 60 lõm căn cứ giải phóng của ta ở miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là quanh Sài Gòn. Chúng mưu mô hàn lại tuyến phòng thủ giữa bằng cách chiếm lại đường 2 ở Bà Rịa, vùng Đất Cuốc bắc Tân Uyên, vùng Dầu Tiếng, Long Nguyên, Thủ Dầu Một và vùng Bời Lời - Tây Ninh, Hố Bò - An Nhơn Tây, Củ Chi. Chúng đã mở cuộc hành quân lớn cỡ sư đoàn đánh vào vùng Long Nguyên, Dầu Tiếng, vùng giải phóng của ta đang làm gián đoạn tuyến phòng thủ giữa của chúng về phía bắc, nhưng bị ta đánh bại, tiêu diệt hàng tiểu đoàn quân ngụy, khiến chúng không thực hiện được ý đồ. Nhưng củng cố thế phòng ngự Sài Gòn là vấn đề sống còn nên chúng vẫn không bỏ kế hoạch lấn chiếm các vùng ta để xây dựng các tuyến phòng thủ của chúng.

    Kế hoạch của ta không những là giữ vững các vùng giải phóng, chặn đứng bọn lấn chiếm, tiêu diệt bọn càn quét mà còn phá không cho chúng hoàn thành thế phòng ngự vững chắc Sài Gòn theo kế hoạch dự kiến co cụm chiến lược, buộc lực lượng Quân đoàn 3 ngụy phải luôn bị động phòng ngự ở một thế trận không vững chắc và lúc nào cũng lo ngại tuyến phòng thủ Sài Gòn bị chọc thủng. Không những thế mà lực lượng dự bị chiến lược rất ít của chúng cũng không thể rút đi khỏi Sài Gòn để chi viện cho các chiến trường khác. Điều này tạo thêm mâu thuẫn gay gắt cho quân ngụy trong việc thực hiện đường lối chiến lược ngu xuẩn của Thiệu là phải dàn quân giữ tất cả, không để mất một xã ấp nào, buộc chúng luôn bị động về chiến lược, chiến dịch, không có cách nào thoát ra khỏi tình thế hoàn toàn bất lợi đó.

    Sư đoàn chủ lực số 5 của Miền trực tiếp hỗ trợ cho đồng bằng bằng cách phản công quân địch lấn chiếm vùng Kiến Tường giáp biên giới Campuchia và củng cố mở rộng hành lang nối liền miền Đông và đồng bằng qua hướng tây tỉnh Tây Ninh. Trong lúc đó, một bộ phận nhỏ chủ lực cùng đặc công trừng trị địch ở khu vực Bù Bông, Tuy Đức thuộc tỉnh Quảng Đức kết hợp bảo đảm hành lang nối liền với đường Trường Sơn 559, đồng thời cũng là hỗ trợ cho quân dân Quân khu 6 đang bị địch lấn chiếm ở vùng Bình Thuận, Bình Tuy.

    Bù Bông là một cứ điểm của địch với biên giới Campuchia. Quân địch đóng ở đây thường xuyên càn quét bắn phá các làng xã xung quanh, đột kích vào hành lang vận tải và dùng pháo khống chế suốt ngày đêm gây trở ngại không ít cho việc tiếp thu hàng hóa của ta. Để thực hiện việc trừng trị ngay từ điểm xuất phát vi phạm của địch và cũng là mở màn mùa khô 1973-1974, ta đã dùng Trung đoàn 429 - một trung đoàn đặc công mạnh được tăng cường bộ phận bộ binh, tiêu diệt cứ điểm này ngày 04/11/1973. Tiếp theo đó, ta mở rộng giải phóng vùng xung quanh, ngã ba Tuy Đức, bảo đảm hành lang vận tải của ta thông suốt và an toàn. Đúng như ý định của ta, ngụy phải điều Sư đoàn 22 thuộc Quân đoàn 2 của chúng cùng với ba chiến đoàn bảo an, một trung đoàn thiết giáp đang lấn chiếm ở vùng ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận lên đối phó, hòng cắt đứt hành lang vận tải của ta. Ta đánh trả lại quyết liệt, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giữ vững các vùng giải phóng và tạo điều kiện cho lực lượng Quân khu 6 của ta chống lại địch có kết quả ở phía tây Phan Thiết. Cũng để thực hiện lời cảnh cáo trừng trị địch ngay từ điểm xuất phát, từ ngày 05 đến ngày 06/11/1973, ta đã dùng pháo thuộc Đoàn đặc công 113, bắn vào sân bay Biên Hòa, diệt một số phi cơ và cơ sở địch ở sân bay. Từ lâu nay, phi cơ địch đã từ đây bay đi thả bom và bắn phá các vùng giải phóng của ta như Lộc Ninh, Bù Đốp, Lò Gò, Kà Tum và dùng sân bay Rang Rang nằm giữa khu căn cứ của ta (chiến khu A) làm nơi tập ném bom. Ở những nơi đó, ta cũng đã bắn hạ tại chỗ 30 máy bay địch từ tháng 10 cho đến tháng 12/1973. Bắt đầu từ tháng 11/1973, mỗi lần địch dùng phi cơ oanh tạc bắn phá vùng giải phóng của ta là ta bắn pháo hoặc dùng đặc công đánh vào các sân bay của địch. Không những thế ta còn đánh trả đau hơn bằng cách hủy diệt các kho nhiên liệu của địch bất cứ chúng đặt ở đâu. Ngày 02/12/1973, kho xăng Nhà Bè - nơi dự trữ nhiên liệu lớn nhất của địch ở miền Nam đã bị đặc công ta thuộc Đoàn 10 đột nhập cho nổ hàng loạt kho chứa, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, khói lửa bốc cao hàng trăm mét làm rực sáng cả một góc trời thành phố Sài Gòn. Đây là một chiến công vang dội của Đoàn 10 đặc công để chứng tỏ cho địch biết rằng ta nói được và làm được, chúng hãy liệu hồn. Thật ra trận đánh này không dễ dàng. Khu kho này nằm ven Sài Gòn, được bao bọc bằng một hệ thống chằng chịt sông rạch sình lầy, từ trước đã bị đánh nhiều lần nên địch đề phòng rất cẩn thận. Chúng đã tăng cường lực lượng, thay đổi cách bố phòng, căng dày chướng ngại, mìn, sử dụng hàng chục chó bécgiê, cả radar phát hiện... Trước trận đánh tôi đã trực tiếp kiểm tra kế hoạch, mọi chi tiết đã chuẩn bị. Bảy Ước 1 - Chính ủy Đoàn 10, đã báo cáo: “Đội được phân công đánh, có hơn mười anh em cán bộ và chiến sĩ, đã vào nghiên cứu tận bên trong khu kho, đã đi đến từng bồn nhiên liệu. Chúng tôi đảm bảo trận này chắc thắng”.

    Truyền thống đặc công là mò đến tận nơi, đánh là phải được. Anh em Đoàn 10 đã thực hiện đúng cam kết quyết tâm.

    Bước vào mùa khô này như vậy là ta và địch đều hoạt động sôi nổi trên toàn chiến trường B2. Ta đã hợp đồng khá chặt chẽ giữa các quân khu, giữa địa phương và chủ lực, căng kéo và kìm địch khắp nơi, thu nhiều thắng lợi. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, địch đã phải thay đổi vùng trọng tâm hoạt động của chúng. Từ sau Hiệp định đến hết mùa mưa năm 1973, địch lấy vùng Hậu Giang Quân khu 9 của ta, tập trung cả Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9, một số biệt động quân và bảo an, giang thuyền, để tiến hành lấn chiếm. Bị đánh trả quyết liệt, địch không thực hiện nổi mục tiêu đã định mà còn bị thiệt hại nặng. Tuy chúng có đóng thêm một số đồn bót ở một số nơi như Bảy Núi, Hà Tiên, Sông Trẹm ở rừng U Minh, nhưng nhiều nơi khác ta lại giải phóng rộng, kế hoạch lấn chiếm vùng giữa bốn tỉnh bị thất bại hoàn toàn. Bước vào mùa khô, chúng đành phải rút bớt giang thuyền từ Cần Thơ về Cát Lái miền Đông, điều Sư đoàn 9 lên Kiến Tường, một số tiểu đoàn biệt động về Quân đoàn 3, chỉ để lại vùng Hậu Giang Sư đoàn 21 đã bị suy yếu cùng một số tiểu đoàn biệt động và lực lượng bảo an. Chúng tập trung quân hoạt động vùng Tiền Giang thuộc Quân khu 8 của ta, chủ yếu là lấn chiếm Đồng Tháp Mười và vùng giáp biên giới với Campuchia, đánh chặn hành lang vận tải của ta cho đồng bằng sông Cửu Long và đối phó với Sư đoàn 5 của ta. Tập trung quân về đây, chúng cũng có ý định giữ vững vùng Tây Nam Sài Gòn, vùng tiếp giáp rất quan trọng của Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, làm cho Sài Gòn không bị cô lập, cho ngụy quyền có một cơ sở vững cả về xã hội, chính trị, quân sự, kinh tế. Như vậy là thể hiện rõ ý đồ của Mỹ - Thiệu gắn chặt Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật (Nam Bộ cũ) trong một thế chiến lược tồn vong của cả miền Nam Việt Nam của chúng. Củng cố mạnh mọi mặt Vùng 3, 4 chiến thuật để từ đó tiến tới có thể tấn công đánh quỵ đối phương, khi cần thì về co cụm phòng ngự ở đó mà tồn tại. Nhưng tính toán thì như vậy mà thực hiện thì nửa vời, thiếu dũng khí, bằng một chiến lược tham lam và mù quáng: “Bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ cho được tất cả không để mất một xã, ấp nào vào tay “Việt cộng””. Thông thường là như vậy, những kẻ thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu dũng cảm táo bạo, hay nghĩ một đằng mà làm một nẻo, vừa làm vừa run đi đến mụ mẫm ngay trong suy nghĩ của mình.

    Bắt đầu từ mùa khô 1973-1974, toàn bộ ý định chiến lược của Bộ Chỉ huy B2 có thể tóm tắt gọn là: Áp chặt Sài Gòn, kẹp cổ kẻ địch, bắt chúng phải bị động phòng ngự thủ đô - trung tâm đầu não - để ta chủ động trừng trị chúng vi phạm Hiệp định có hiệu quả; mở rộng phía sau và các vùng đông dân, mở hành lang thông suốt, dự trữ vật chất kỹ thuật; tạo thế tạo lực, thay đổi tương quan lực lượng mọi mặt có lợi cho ta. Ta bố trí các sư đoàn 9 và 7, các lực lượng đặc công, biệt động (tôi sẽ nói ở dưới) quanh và sát Sài Gòn ngay trong nội đô cùng với lực lượng địa phương, du kích, lực lượng quần chúng nhân dân, đấu tranh và trừng trị địch là để vây hãm Sài Gòn không cho địch tự do cựa quậy. Ta bố trí Sư đoàn 5 cùng đặc công ở Kiến Tường là để thu hút địch về phía này không cho chúng tập trung đánh phá vùng Hậu Giang đông dân nhiều của. Ta mở hành lang Bù Bông, Tuy Đức, nối thông với Đường 559, hành lang phía tây Tây Ninh nối thông miền Đông và đồng bằng sông Cửu Long và các đường khác nữa để vận tải tích trữ hậu cần cho các chiến trường ở thời điểm chiến lược quan trọng này.

    Ta mở rộng các vùng phía sau để các căn cứ và vùng giải phóng ta liên hoàn hỗ trợ lẫn nhau, thành thế vững chắc, trong lúc đó ở phía trước, ta tích cực phát triển lực lượng du kích, bộ đội địa phương và quần chúng có tổ chức.

    Rút kinh nghiệm về cách đánh của ta vào Sài Gòn và cách đối phó của địch hồi Tết Mậu Thân, chúng tôi nghiên cứu sẵn sàng một kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy nếu nó xảy ra. Bởi vì như trên tôi đã nói, Mỹ - ngụy ngoan cố phá Hiệp định Paris, không chịu ngừng bắn và hành quân đánh ta với quy mô ngày càng lớn thì tất nhiên chiến tranh vẫn tiếp tục và phát triển, và chỉ có thể chấm dứt bằng một bên thắng. Trong thương lượng bằng con đường ngoại giao, căn cứ vào sức lực của nhau, hai bên cần có sự nhân nhượng hiểu biết. Nhưng trong chiến tranh, do dự không sẵn sàng là chết. Địch cũng đã dự kiến tiêu diệt ta hoàn toàn vào năm 1976 và 1977. Ta phải chuẩn bị sẵn cho một cuộc tổng tấn công và nổi dậy giành toàn thắng về ta. Năm 1968, ta đã căn cứ vào tình hình và địa hình, các mục tiêu chủ chốt trong nội đô địch mà vạch ra 5 mũi tấn công và bố trí lực lượng mọi mặt của ta theo 5 mũi ấy. Ta đã dùng cách hợp đồng tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng cách mạng cộng với biệt động và đặc công, tiếp theo đó là lực lượng chủ lực. Một cuộc tập dượt thực tế và quy mô Tết Mậu Thân đã thu được thắng lợi lớn. Nhưng chưa dứt điểm vì tình thế và tương quan chưa cho phép thôi. Ngày nay các mục tiêu địch không thay đổi nhiều, cái thay đổi cơ bản là tình thế và tương quan lực lượng đôi bên. Dự đoán tình hình, dự kiến về chiến lược bao giờ cũng phải sớm, có sớm thì mới kịp thời triển khai trước một số việc cụ thể của kế hoạch chiến lược có thể, mà những sự việc triển khai đó đòi hỏi thời gian, không thể đợi đến lúc quá rõ, sinh ra hấp tấp, không kịp chuẩn bị, thậm chí để lỡ mất thời cơ. Năm 1972, vì thiếu dự kiến không chuẩn bị trước nên khi ta thắng ở Quảng Trị, địch hầu như bỏ ngỏ Huế mà ta không tận dụng được thời cơ thuận lợi ấy. Tất nhiên ngoài thiếu dự kiến, thiếu chuẩn bị trước còn có thiếu nhạy bén linh hoạt và táo bạo lợi dụng thời cơ lúc ấy. Người chỉ đạo chỉ huy về chiến lược đòi hỏi phải suy rộng nghĩ sâu; bằng công việc của mình mà tạo điều kiện chắc thắng cho dưới; bằng năng động tính của mình mà thúc đẩy và dẫn dắt tình hình theo chiều hướng giành thắng lợi về ta; bằng quả cảm, kịp thời hành động khi có thời cơ xuất hiện.





------------------------------------------------------------------
1. Thượng tá Lê Bá Ước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #79 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 08:44:13 am »

    Ngay từ tháng 9/1973, Bộ Tham mưu Miền đã cùng lực lượng tình báo chiến lược của B2 bố trí từ trước ngay trong các cơ quan đầu não của ngụy cũng như của Mỹ, kiểm tra lại các mục tiêu địch mà ta phải xử trí và luôn luôn nắm tình hình hàng ngày, nắm các kế hoạch và mệnh lệnh của địch. Cần nói rõ là trong chiến tranh, chiến trường B2 bao gồm các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị rộng rãi trong đó có Thủ đô Sài Gòn của địch, là một chiến trường hoàn chỉnh, cũng là một chiến trường bao gồm lực lượng địch đông nhất, có nhiều mục tiêu chiến lược và chiến dịch quan trọng nhất, mọi diễn biến ở đây đều ảnh hưởng đến toàn bộ nên cấp trên cho phép Bộ Chỉ huy Miền (B2) được tổ chức và chỉ đạo bộ phận tình báo chiến lược quan trọng thiết thân nhất cho mình, đồng thời phục vụ cho trên. Bộ phận tình báo này đã giúp chúng tôi nắm được nhiều kế hoạch, âm mưu của Mỹ -ngụy, đã lấy được của địch một số nguyên bản có giá trị nên chúng tôi đã kịp thời phán đoán tình hình và đối phó có kết quả. Các tình báo viên của ta, trừ một số bị hư hỏng không tránh khỏi, với bản chất cách mạng trung kiên, có nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng và nhiều đồng chí lập được công trạng, nhiều người đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang. Căn cứ vào kế hoạch dự kiến tổ chức và bố trí lực lượng của Bộ Tham mưu Miền đã được duyệt, tôi đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Ba Trần, rút Đoàn 367 - đoàn đặc công và biệt động của ta đặc biệt phụ trách ở chiến trường Phnôm Pênh (Campuchia) để giúp bạn từ trước mà nay không cần giữ nhiều - để kiện toàn cho Sài Gòn. Ta đã tổ chức bố trí hoàn chỉnh theo mục tiêu và theo hướng các đoàn biệt động và đặc công ta từ nội đô ra vùng ven. Ở B2 lúc đó chấn chỉnh tổ chức thành một bộ chỉ huy binh chủng đặc công gọi là Đoàn 27 do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ, tự Phong, làm Tư lệnh, trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền. Sĩ là một cán bộ có sức khỏe, lực lưỡng, trực tính, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chân lý mà không sợ nguy hại cho riêng mình, một đức tính đáng quý, nhất là lúc xã hội có những hiện tượng không lành mạnh. Bản thân Sĩ là một cán bộ đặc công trưởng thành trong chiến đấu, bình tĩnh, kiên quyết, nói ít làm nhiều, đã làm là quyết tâm làm cho được. Đến ngày 30/11/1973, tôi kiểm tra Đoàn 27 thì đoàn đã có trên 6.000 cán bộ và chiến sĩ đã được rèn luyện và chiến đấu. Trừ cơ quan và các cơ sở ra, đoàn gồm các lực lượng trực tiếp chiến đấu đã được bố trí ở các địa bàn vùng ven: Bắc Sài Gòn có đoàn đặc công 115 và 119; đông Sài Gòn có Đoàn 116 ở Long Thành, Đoàn 10 ở Rừng Sác; tây Sài Gòn có Đoàn 117; phụ trách Biên Hòa có Đoàn 113. Đang thành lập thêm đoàn phía nam Sài Gòn. Đoàn 27 còn trực tiếp nắm trung đoàn đặc công tập trung đã từng lập nhiều chiến công, đó là Trung đoàn 429. Về biệt động nội thành thì tổ chức thành Đoàn 316 do đồng chí Nguyễn Thanh Tùng (Thượng tá Mười Cơ) chỉ huy, tổ chức thành nhiều Z, mỗi Z phụ trách một số mục tiêu quan trọng. Đặc công và biệt động được bố trí theo hướng và mục tiêu nhất định, có nhiệm vụ liên tục củng cố tổ chức, huấn luyện kỹ năng chiến đấu, điều tra nắm chắc các mục tiêu được phân công tiêu diệt, hoàn chỉnh phương án tác chiến và rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trên thực tế địa hình cũng như mục tiêu của mình phụ trách. Anh em còn phải thâm nhập quần chúng, hiểu rõ nhân dân vùng mình hoạt động, gây dựng cơ sở chính trị làm chỗ dựa cho mình. Ngày 15/12/1973, đồng chí Đạo - Chính ủy Bộ Tư lệnh binh chủng đặc công của Bộ Tổng Tư lệnh vào kiểm tra tình hình đặc công B2 đã phát biểu: “Đặc công B2 được phát triển, trưởng thành đã tham gia chiến đấu và chiến dịch có kết quả tốt, hiện nay đã được xác định nhiệm vụ và xây dựng bố trí theo thế chiến lược mới. Một mặt nhờ sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền rõ, có ý đồ chiến lược sớm, có phương châm phương thức cụ thể, mặt khác anh em đã có truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu từ lâu”. Đồng chí cũng đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc tổ chức và huấn luyện cho đặc công B2.

    Trong mùa khô 1973-1974 này còn một vấn đề không kém phần gay cấn cho chúng tôi, đó là giữ vững vùng giải phóng Lộc Ninh, căn cứ của Miền. Lâu nay địch thường xuyên uy hiếp đánh phá vùng này bằng không quân, quyết không để cho vùng căn cứ của ta được ổn định, bất chấp cái giá nhiều phi cơ bị lực lượng phòng không của ta hạ tại chỗ. Quân đoàn 3 ngụy đã có kế hoạch dùng lực lượng mạnh đánh chiếm Lộc Ninh, chỉ còn chờ thời cơ và lệnh của chỉ huy tối cao của chúng và cả quan thầy Mỹ. Biết thế, ta cũng phải sẵn sàng kế hoạch ngăn chặn, đánh bại chúng để giữ vững vùng căn cứ của ta. Vấn đề đặt ra là ta dùng lực lượng nào, bao nhiêu và đánh cách nào: phòng ngự, phản công, tấn công, đánh nhỏ hay đánh lớn? Lúc nào thì địch có thể đánh? Ta bố trí sẵn lực lượng chờ giáng cho chúng một đòn sấm sét chăng? Thế thì, đợi trong bao lâu? Ta có kẹt lực lượng có hạn của ta trong thế bị động không? Một loạt vấn đề cần phải suy nghĩ thật kỹ để có quyết tâm đúng trong tình hình mà chiến trường đang sôi động.

    Quân ủy Trung ương đã điện cho chúng tôi nêu rõ Lộc Ninh có tầm quan trọng không những về quân sự mà còn có ý nghĩa lớn về chính trị trong tình hình hiện nay. Vì vậy địch luôn có âm mưu đánh chiếm. Bằng bất cứ giá nào ta phải giữ cho được, không được để mất, cần điều ngay một sư đoàn chủ lực về, có kế hoạch sẵn sàng phản công, tiêu diệt quân lấn chiếm.

    Chấp hành lệnh của Quân ủy Trung ương, chúng tôi lập tức triệu tập cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần nghiên cứu kế hoạch giữ Lộc Ninh. Cuộc thảo luận khá sôi nổi. Mọi người đều nhận thức được tầm quan trọng phải giữ vững căn cứ này như Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ, nó còn là danh dự, là uy tín của Quân giải phóng chúng ta.

    Chúng tôi đã nhận định tình hình tổng quát của B2, của toàn Miền, kiểm điểm lực lượng của địch và phán đoán cách đánh của chúng. Địch có thể dùng lực lượng nào, quy mô cuộc tấn công, các điểm xuất phát và mọi khả năng khác của chúng? Chúng tôi biết rằng, muốn đánh chiếm Lộc Ninh địch sẽ dùng chủ yếu là lực lượng Quân đoàn 3 trong đó nòng cốt là Sư đoàn 5 ngụy được tăng cường một bộ phận của Sư đoàn 25, Sư đoàn 18, một số biệt động quân, Liên đoàn 81 dù, lực lượng tổng dự bị của chúng lúc đó. Chắc chắn chúng sẽ dùng Lai Khê, căn cứ của Sư đoàn 5 ngụy làm điểm xuất phát và hướng chính là đường 13, qua Bình Long, một thị xã đã bị tàn phá nặng nề. Nhưng các sư đoàn 5, 15, 18 còn phải lo phòng thủ phía Sài Gòn, lo hoàn chỉnh các tuyến phòng ngự mà hiện nay đang bị rách nát. Đặc biệt là Sư đoàn 5 ngụy phụ trách phòng thủ phía bắc Sài Gòn là hướng rất quan trọng, đối diện với lực lượng lớn, với vùng giải phóng của ta, càng khó mà tự do hành động. Chúng cũng thừa biết rằng đánh chiếm Lộc Ninh không phải là chuyện dễ dàng cho chúng, và không thể chỉ dùng 1, 2 sư đoàn mà đủ. Kinh nghiệm những đụng độ từ nhiều năm nay ở chiến trường miền Đông Nam Bộ này, ngay khi còn quân Mỹ ở đây, nào Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”, sư đoàn hiện đại nhất là Sư đoàn kỵ binh số 1... mà quân ngụy đã từng đi theo điếu đóm, vậy mà cũng không tránh khỏi bị nếm mùi thất bại. Điều thêm lực lượng ở các vùng chiến thuật 1, 2, 4 về ư? Rất khó và không nhiều, vì để thực hiện cái kiểu chiến lược “không để mất một ấp xã nào”, vì còn phải lấn chiếm và làm chủ hoàn toàn miền Nam Việt Nam như tham vọng của chúng thì còn lấy đâu ra quân mà tập trung vào một điểm. Như vậy muốn đánh Lộc Ninh, chúng phải có kế hoạch chu đáo, tính toán rất kỹ, dùng nhiều lực lượng và chỉ huy phải giỏi - một điều mà bản thân chúng còn hoài nghi. Thế thì về phần ta nên như thế nào? Chúng tôi đã đi đến quyết tâm là bằng kế hoạch hoàn toàn chủ động buộc địch phải lo phòng giữ Sài Gòn, trói chân buộc tay chúng lại, không cho chúng tự do rút lực lượng đi xa Sài Gòn lên tấn công Lộc Ninh. Như vậy ta sẽ không rút bất cứ sư đoàn nào về giữ Lộc Ninh mà ngược lại ép sát Sài Gòn, sẵn sàng thọc vào tim chúng nếu chúng phiêu lưu đi đánh người. Còn ở Lộc Ninh chúng tôi tổ chức một mặt trận bao gồm du kích địa phương, du kích cơ quan, kết hợp với các lực lượng phòng không, cơ giới của Miền đang đứng tại đây và một trung đoàn chủ lực vừa mới kiện toàn (Trung đoàn 201), để làm nòng cốt. Lực lượng này sẽ là “thiên la địa võng” tiêu hao, ngăn chặn chúng khắp nơi nào chúng đến, ngay từ rìa căn cứ. Trong lúc đó các sư đoàn chủ lực của ta, nếu cần, sẽ ung dung tập trung về nơi tập kết đã định sẵn và giáng đòn sấm sét tiêu diệt tập đoàn quân ngụy nào mà ta chọn. Đó là kinh nghiệm quý báu của chiến dịch phản công lại chiến dịch “Junction City” của Mỹ ở Bắc Tây Ninh năm 1967 - Westmoreland đã bị đòn đau trong chiến dịch này và tiếp theo đòn Mậu Thân choáng váng, đành phải ôm hận tiêu tan quân nghiệp của mình mà đã có thời được mệnh danh là “vị tướng tài giỏi nhất của Mỹ”. Như vậy là chúng tôi đã chấp hành lệnh của Trung ương một cách sáng tạo, hoàn toàn phù hợp với tình hình B2 lúc đó. Chúng tôi đã ép địch, buộc chúng phải phòng ngự Sài Gòn và đã giáng cho địch một đòn chí tử, cuối cùng chấm dứt mọi âm mưu củng cố hoàn chỉnh vững chắc tuyến phòng ngự Sài Gòn và âm mưu tập trung lực lượng đánh chiếm Lộc Ninh.

    Đó là vào tháng 5/1974, khi mà Quân đoàn 3 ngụy lăm le đánh chiếm An Nhơn Tây để nối liền qua Bến Cát theo đường 7 ngang từ Thái Mỹ - Gò Nổi (Trảng Bàng) - tỉnh lộ 15 An Nhơn Tây qua Rạch Bắp - Bến Cát. Dự kiến kế hoạch của chúng là lấy đồn Rạch Bắp làm thành một đầu cầu kiên cố trên bờ phía đông sông Sài Gòn, nối với một đồn sẽ đóng trên tỉnh lộ 15 An Nhơn Tây làm đầu cầu bên bờ tây sông Sài Gòn nối ra đường 7, Gò Nổi, Trảng Bàng. Như vậy chúng sẽ tạo được một tuyến giữa, có lùi một ít so với cũ, nhưng hoàn chỉnh thành một tuyến phòng ngự liên tiếp phía bắc Sài Gòn một cách vững chắc. Hoàn chỉnh kế hoạch này, lực lượng Quân đoàn 3 sẽ tương đối rảnh, có điều kiện tập trung đánh chiếm Lộc Ninh hay một nơi nào khác. Để thực hiện kế hoạch, trong tháng 3 - 4, chúng đã tăng cường một số tiểu đoàn biệt động quân, các chi đoàn thiết giáp cho Sư đoàn 25 từ Đồng Dù đánh lên Trung Lập theo đường 2 Củ Chi, Trảng Bàng và Gò Nổi trên đường 7, đóng đồn bót lấn dần ra vùng giải phóng của ta, đi đôi với phát quang địa hình. Chúng dùng lực lượng đồn trú ở Jinet và Rạch Bắp đánh lên phía bắc về hướng Bưng Còng để phối hợp hỗ trợ cho nhau. Nắm được kế hoạch của địch, ta kiên quyết đánh trả chống lại lấn chiếm và phá âm mưu hoàn chỉnh tuyến phòng ngự theo đường 7 ngang đông tây sông Sài Gòn.

    Ở phía tây sông Sài Gòn, trung đoàn chủ lực độc lập 16 trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền cùng với tiểu đoàn quyết thắng của Quân khu Sài Gòn, lực lượng địa phương và du kích Củ Chi đánh trả quyết liệt Sư đoàn 25 ngụy, giữ vững vùng giải phóng An Nhơn Tây, phía đông sông Sài Gòn. Vào giữa tháng 5, Sư đoàn 9 của ta đang đứng ở Long Nguyên Bến Cát, đã trừng trị đích đáng lực lượng địch ở Jinet, tiêu diệt đồn này, làm cho đồn Rạch Bắp bị cô lập, địch hoảng hốt rút chạy. Ta giải phóng đoạn đường 7, phía đông sông, từ Rạch Bắp đến Kiến Điền và uy hiếp trực tiếp Bến Cát. Trong lúc đó, Sư đoàn 7 phối hợp với Sư đoàn 9 đã đánh thiệt hại nặng căn cứ Phước Hòa trên đường 16 đi Tân Uyên, diệt một số sinh lực và thiết giáp địch, bức rút một số đồn bót lấn chiếm trái phép. Như vậy là địch không thực hiện được kế hoạch của chúng, không lấn chiếm nổi An Nhơn Tây để thông ra sát sông Sài Gòn về phía tây. Còn bên phía đông sông, ta lại mở ra một đoạn dài 10km đẩy lùi địch xa sông thêm và nối liền căn cứ Long Nguyên của ta từ bắc lộ 7 với căn cứ An Thành, tức 3 xã phía nam đường 7 của huyện Bến Cát, khu tam giác sắt nổi tiếng. Cửa ngõ phía bắc Sài Gòn không khép kín được mà lại bị mở rộng ra, tuyến phòng ngự không liên hoàn lại tiếp tục bị chọc thủng. Địch đã lồng lộn phản ứng lại sự kiện này. Chúng đã tập trung về đây phần lớn lực lượng toàn Quân đoàn 3, tất cả Lữ 3 thiết giáp, số lớn phi cơ và pháo binh chi viện, thực hiện liên tục kế hoạch tấn công phản kích hàng tháng trời nhưng đều bị đánh bại. Địch tập trung được như vậy một phần cũng do sự hoạt động kém của Sư đoàn 7 của ta ở hướng Phước Hòa, Tân Uyên, không đủ sức thu hút phân tán địch, để đỡ nhẹ cho Sư đoàn 9. Nhưng vùng ta đã giải phóng ở đây vẫn được giữ vững. Thế là từ tháng 5 đến tháng 6, chỉ một Sư đoàn 9 của ta đã đối đầu có hiệu lực với lực lượng gần như toàn bộ Quân đoàn 3 địch một cách vô cùng quyết liệt, anh dũng, mưu trí. Ta đã đứng vững ở đây, giữ vững vùng giải phóng, gây thiệt hại nặng nề cho địch, không cho phép địch xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc Sài Gòn, tạo cho ta một lợi thế chiến lược lớn. Khu vực này đến mùa Xuân 1975, chỉ 9 tháng sau đó, được mở rộng thêm về phía sau, đã trở thành tuyến xuất phát tấn công của một mũi quan trọng của ta trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sư đoàn 9 của ta có bị tiêu hao vì phải tác chiến dai dẳng gần hai tháng với lực lượng địch đông hơn gấp 3 lần, nhưng giá trị chiến dịch, chiến lược đạt được của những trận đánh này cũng như ý nghĩa chính trị của nó tác động vào tinh thần quân ngụy và tâm lý nhân dân Sài Gòn là rất lớn. Frank Snepp - một chuyên gia của CIA thường trú ở Việt Nam, giữ trách nhiệm nghiên cứu, phân tích về chiến lược và thảo các bản “đánh giá tại trận” của ngành CIA nhằm phục vụ việc vạch ra đường lối của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và của cả Washington, đã viết về chiến cuộc mùa hè năm 1974 có liên quan đến trận đánh này như sau: “Tuy quân Bắc Việt Nam mới đánh thăm dò vào hướng bắc và đông bắc của Sài Gòn và vừa rồi cũng bị trừng trị lại, nhưng Sư đoàn 5 và 18 quân Nam Việt Nam cũng bị thương vong nặng, nhất là ở vùng “Tam giác sắt” và hiện nay thì kiệt sức và không thể chiến đấu được nữa” 1. Lúc đó có một số ý kiến chỉ trích chiến trận này, cho rằng không cần thiết chịu sự tiêu hao như vậy, rằng chọn hướng này mà đánh là sai. Thực sự đó là vì không hiểu hết ý nghĩa phá thế phòng thủ co cụm Sài Gòn của địch trong một giai đoạn chiến lược cuối cùng, ý nghĩa bắt địch bị động phòng ngự, cột chặt tay chân địch, để ta tự do hành động trên chiến trường chủ chốt ở thời kỳ quyết định này. Trong chiến tranh, làm được như vậy là cả một cuộc đấu tranh kiên cường, đòi hỏi nghị lực, mưu trí và dũng cảm. Nhất là lúc mà tương quan lực lượng đôi bên chưa phải đã chênh lệch nhiều; ta phải mạnh mới làm được. Còn khi sức mạnh ta đã áp đảo đối phương trong một tình hình đã rõ như ban ngày thì nói làm gì. Và đây là một sự bắt mạch quan trọng để hiểu địch hơn nữa về nhiều mặt thực tế tại chiến trường có tầm chiến lược này, sức lực và khả năng địch đến đâu, hành động chúng thế nào.

    Sự đánh giá về trận đánh khác nhau biểu lộ sự đánh giá về thời kỳ chiến lược, cũng như về tác dụng từng khu vực chiến trường khác nhau mà thôi. Nhưng người tư lệnh chiến trường buộc phải hiểu một cách cụ thể thực tế thế và lực của ta và địch; phải biết tìm mọi cách đẩy địch vào thế bất lợi và giành cho ta thế có lợi; phải sớm đánh giá từng thời kỳ chiến lược một cách đúng đắn và biết phải làm gì để sớm chuẩn bị cho trận quyết chiến thành công của chiến trường mình, nhất là chiến trường ấy có vai trò kết thúc cuộc chiến tranh. Về chiến lược không giống như chiến thuật, chờ đến giờ chót để mở đột phá khẩu.




-------------------------------------------------------------------
1. Trích sách Khoảng cách thời gian vừa phải (Dencent Interval) của Frank Snepp, do Nhà xuất bản Random House xuất bản tháng 11/1977.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM