Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 10:12:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 5573 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #60 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 04:32:28 pm »

*
*      *


    Cuộc Đồng khởi ở miền Tây Nam Bộ cũng quyết liệt và rộng rãi không kém. Nơi đây là vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Thời Pháp thuộc, ruộng và lúa tập trung phần lớn vào bọn đại địa chủ, cường hào, từ đó sinh ra một tầng lớp cố nông đông đảo bị áp bức bóc lột đủ điều, bị đói rách cực nhọc trên một vùng phì nhiêu sung túc không những nhiều lúa, trái cây nhiều mà còn đầy tôm cá trên sông dưới biển. Vì thế nông dân đã đi với cách mạng từ sớm, luôn gắn bó với cách mạng và thấy rõ chỉ có cách mạng mới biến đổi được kiếp sống trâu ngựa của mình. Trong chín năm chống Pháp, chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng đã đem lại đời sống khấm khá cho dân cày. Ngày nay Mỹ - Diệm không có cách nào xuyên tạc được cách mạng, hay có được cũng chỉ là tạm thời trong một hoàn cảnh nhất định. Khi có dịp và được lãnh đạo đúng, nông dân nổi dậy mạnh mẽ trở thành đội quân chủ lực của cách mạng trong một nước nông nghiệp như nước ta. Nơi đây có rừng U Minh rộng lớn, là căn cứ kháng chiến nổi tiếng thời chín năm đánh Pháp mà các cơ quan của Xứ ủy Nam Bộ đã trú đóng nhiều ngày. Rừng U Minh đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trong các thời kỳ 1945-1946. Lúc đầu cách mạng gặp khó khăn mặc dù một số cán bộ chủ trương “xuyên đông” nghĩa là rút lực lượng vũ trang về phía đông theo đường biển ra Trung Bộ (Trung Bộ lúc ấy giặc Pháp chưa đến). Một số cán bộ trung kiên và đơn vị vũ trang còn lại không chịu đi, bám trụ lại, đã rút về đây, rồi lại từ đây bung về các tỉnh phát động chiến tranh du kích ngày càng thắng lợi. Cũng như ở Đồng Tháp Mười, rừng U Minh chưa bao giờ vắng bóng lực lượng vũ trang từ sau ngày bộ đội ta tập kết ra miền Bắc, với dạng quân canh chống cướp, lực lượng giáo phái chống Mỹ - Diệm, đến các tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, tiểu đoàn Ngô Văn Sở... Trong những ngày khủng bố ác liệt của Mỹ - Diệm, nhân dân nhiều xã chủ yếu là các gia đình cán bộ và có người đi tập kết, không chịu khuất phục ngụy quyền phản động và tránh sự tàn sát đẫm máu, đã kéo dài về đây lập ra những “làng rừng” bất hợp pháp, tự vũ trang để tự vệ, sống đùm bọc lẫn nhau và tự hào như những vùng đất xã hội chủ nghĩa đầu tiên tại miền Nam khói lửa.

    Chính ở miền Tây, nơi có khu tập kết 200 ngày Cà Mau, ta có thời gian chuẩn bị nhiều mặt, có sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ngay từ đầu nên phong trào quần chúng đấu tranh chính trị rất mạnh mẽ và liên tục. Những năm 1955-1956 hầu hết các xã đều có tổ chức lực lượng thanh niên tự vệ, xã nào cũng có cỡ trung đội, đại đội trang bị dao, gậy, đặc biệt mạnh là xã Biển Bạch. Nhờ lực lượng này, ta đã bảo toàn được lực lượng Đảng, lực lượng quần chúng cách mạng. Cũng ở miền Tây công tác binh vận phát triển mạnh nhất trong toàn miền. Thời ấy, hầu như đồn bót nào cũng có người của ta. Mãi từ cuối năm 1956 trở đi địch mới triển khai càn quét đánh phá mạnh, gây thiệt hại phần nào cho ta nhưng chưa bao giờ làm núng thế được phong trào. Hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt ác ôn, đánh địch càn quét xảy ra lúc mạnh, lúc yếu, nhưng chưa bao giờ im cho đến lúc đồng khởi.

    Tiêu biểu của phong trào Đồng khởi ở miền Tây là tỉnh An Xuyên, thuộc Minh Hải ngày nay. Cách thức tiến hành ở đây gần giống như ở Kiến Phong, tiến công và nổi dậy, vì có lực lượng vũ trang tương đối mạnh. Ngay từ giữa năm 1959 phong trào đã phát triển rầm rộ, với kinh nghiệm phong phú của hai xã Khánh Bình Đông và Khánh Bình Tây. Một bộ phận tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng đã về đây làm nòng cốt phát động quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, tranh thủ bọn dân vệ, giải tán tổ chức bảo vệ hương thôn của địch, giải phóng hai xã. Phổ biến kinh nghiệm này cho toàn tỉnh và theo tinh thần Nghị quyết 15 vừa nắm được, Tỉnh ủy kêu gọi nhân dân trong tỉnh nổi dậy phá tề trừ gian, làm chủ xóm làng.

    Đồn Năm Căn, đồn Chà Là hưởng ứng với cách mạng, làm nội ứng kết hợp với tấn công của ta từ ngoài, diệt chỉ huy, phá đồn kéo cả đơn vị mang toàn bộ vũ khí về với nhân dân. Tháng 11/1959, Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng tiêu diệt đồn quận lỵ Sông Đốc, thu toàn bộ vũ khí, phối hợp cùng với nhân dân phá tan các khu trù mật ở đây, hàng chục ngàn dân kéo về làng cũ. Tháng 12/1959, Tiểu đoàn Ngô Văn Sở đánh chi khu Đầm Dơi. Du kích các xã bao vây, tấn công khu Bình Hưng, các tề ấp, tề xã ra thú tội với đồng bào, hệ thống kìm kẹp ở các cơ sở bị quét gần hết. Tháng 01/1960 trong lúc tỉnh tổ chức phổ biến Nghị quyết 15 của Trung ương cho cán bộ thì quần chúng đã tự vũ trang gậy gộc, dao, súng giả, nổi dậy diệt ác, diệt tề, phá rã kìm kẹp của địch. Đồn Tân Bức bị du kích và nhân dân bao vây dùng trống, mõ, súng giả, ập tới suốt một tuần lễ uy hiếp tinh thần và kêu gọi địch quay về với cách mạng. Cuối cùng toàn bộ quân địch ra đầu hàng, nộp vũ khí. Một đại đội thuộc Tiểu đoàn Ngô Văn Sở từ đất liền vượt biển ra Hòn Khoai, tiêu diệt gọn một trung đội địch. Hòn Khoai được giải phóng lần thứ hai (lần thứ nhất vào năm 1940 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, ở đây một số đồng chí dưới sự lãnh đạo của đồng chí Phan Ngọc Hiển đã khởi nghĩa giành chính quyền thành công) 1.

    Phong trào Đồng khởi của tỉnh cũng như cả miền Tây lan rộng suốt năm 1960, khí thế quần chúng lên rất cao. Nhiều vùng nông thôn ta đã quét sạch tề, ác. Một số đồn bót bị diệt, một số đồn nhỏ rút chạy hoặc ra hàng. Nhân dân làm chủ nhiều vùng rộng lớn. Các đoàn thể quần chúng được tổ chức và hoạt động sôi nổi. Lực lượng vũ trang nhờ thu nhiều súng đạn trong tác chiến, binh vận, thanh niên tấp nập đầu quân đã phát triển nhanh trong khu, ở tất cả các tỉnh. Tình thế cách mạng đã mau chóng chuyển biến với những phương thức hoạt động sôi nổi mới: Khởi nghĩa vũ trang, tiến công cả về chính trị, quân sự, binh vận và làm chủ nhiều vùng với nhiều mức độ khác nhau.

    Nếu ở miền Trung Nam Bộ có căn cứ cũ Đồng Tháp Mười, miền Tây có rừng U Minh là những chỗ dựa vững chắc để các lực lượng vũ trang tồn tại suốt thời kỳ, dưới nhiều hình thức, từ phân tán dần lên tập trung thì miền Đông, thế núi rừng liên hoàn rộng rãi, bao trùm phần phía bắc các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai và nối tiếp dãy Trường Sơn hùng vĩ, giúp ta làm chủ các căn cứ Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, Hắc Dịch... mà địch chưa bao giờ kiểm soát được. Chính tại những căn cứ này mà các đồng chí Ba Thu, Quốc Đăng, Lê Thanh đã hướng dẫn các đơn vị Bình Xuyên do Bảy Môn chỉ huy thoát khỏi cuộc truy diệt của lực lượng Diệm ở Rừng Sác. Theo chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ lúc ấy, cán bộ ta đã nuôi dưỡng giúp đỡ cho các lực lượng này cùng với lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo ly khai tồn tại, giác ngộ lòng yêu nước yêu dân, trở thành lực lượng vũ trang cách mạng chống Mỹ -Diệm những năm 1955-1956 tại Chiến khu C - Bắc Tây Ninh - đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên được thành lập lấy tên là C500 do đồng chí Lê Thanh chỉ huy. Tiếp theo là các tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa... đều có đơn vị vũ trang của mình.

    Để nuôi cán bộ bất hợp pháp và lực lượng vũ trang các đồng chí đã phát rẫy tỉa lúa, bắp, trồng khoai mì, nơi có điều kiện thì làm ruộng nước như ở các căn cứ Bắc Tây Ninh. Nhiều nơi, nhất là phía bắc Biên Hòa, Sông Bé, các đơn vị đã thay nhau đi đào củ mài, củ chụp, củ nần để thế gạo. Một người phải đào để nuôi thêm hai người. Có trường huấn luyện quân sự đã sống bằng củ nần, củ chụp ở rừng hàng nhiều tháng để đào tạo nhiều lớp cán bộ cho lực lượng vũ trang. Sự xây dựng bộ đội cách mạng và đảm bảo hậu cần lúc đầu từ hai bàn tay trắng, từ lao động cực nhọc và ý chí bền bỉ là như vậy đó. Nhưng nếu không có những bước rèn gan luyện chí của những đồng chí ít ỏi lúc đầu ấy thì có đâu cơ sở cho lực lượng lớn mạnh ngày sau. Năm 1957, khi đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến từ miền Tây được điều về miền Đông thì hình thành Ban Quân sự của Xứ, đồng chí Xuyến làm trưởng và đồng chí Lâm Quốc Đăng làm phó. Nhiều đội vũ trang tuyên truyền đã thâm nhập các vùng dân cư để hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng. Có những đội tiến sâu lên phía bắc, vận động bà con dân tộc M’nông, Cờ Ho, Chơ Ro làm chủ núi rừng trong lúc những đơn vị khác thâm nhập các huyện Bến Cát, Tân Uyên, Củ Chi, Trảng Bàng... về sát đô thành. Cũng như mọi nơi khác, để ngăn ngừa bọn gian ác hoành hành, nhiều cuộc tự động diệt trừ ác ôn có chọn lọc vẫn xảy ra. Từ năm 1957, các trận đánh vang dội của lực lượng vũ trang chống bọn càn quét, phá rừng, lấn căn cứ đã chặt bớt bàn tay độc ác của kẻ địch như trận Minh Thạnh, Biên Hòa, Dầu Tiếng, Bến Củi... Cho đến năm 1959, học tập Nghị quyết Trung ương 15, miền Đông quyết định mở trận đánh Tua Hai để lấy vũ khí phát triển vũ trang và phát động quần chúng nổi lên làm chủ. Thật sự, tình hình lúc ấy trong Sư đoàn 13 quân ngụy đóng ở thành Nguyễn Thái Học mà anh em ta gọi là Tua Hai (tức tháp canh số 2) của Pháp trước đây tính từ thị xã Tây Ninh, cách thị xã 7km trên quốc lộ 22, đang thúc bách ta phải đánh.

    Trong đơn vị ngụy này, ta đã đưa nhiều thanh niên yêu nước của ta vào đó từ lâu, đã thành lập một chi bộ Đảng và có số quần chúng cảm tình đông đảo. Thế rồi địch cũng đánh hơi được, nên ra sức truy quét gạn lọc. Địch đã phát hiện bắt tù hàng trăm quần chúng tốt và một số đồng chí ta. Chúng đang có kế hoạch phân tán lính đi các nơi để xáo trộn, điều chỉ huy mới đến thay đổi và tiếp tục bắt bớ những người chúng mới phát hiện. Đã đến lúc phải giải quyết không trì hoãn được nữa: Hoặc rút các đồng chí ta ra, hoặc tiêu diệt kẻ địch. Chi bộ Đảng bên trong cả quyết có khả năng nội công ngoại kích thành công và đề nghị tiến công diệt địch. Cũng phù hợp với ý muốn của lãnh đạo là đã đến lúc cần có một số súng đạn để xây dựng lực lượng vũ trang và cần có thối động để phát động quần chúng nổi dậy. Thế là quyết tâm tấn công căn cứ địch được hình thành. Địch ở đây có quân số đủ hai trung đoàn của Sư đoàn 13 nhưng một trung đoàn là lính mới tuyển còn đang huấn luyện, có một đại đội pháo và một đại đội thiết giáp. Thành Nguyễn Thái Học tương đối kiên cố, có tường cao và nhiều tháp canh, rộng mỗi bề tới 600m, là một cứ điểm lớn nhất của vùng này, có đông quân số và trang bị mạnh, án ngữ vùng rừng bắc Tây Ninh, bảo vệ hướng tây bắc của Sài Gòn. Thường xuyên trong căn cứ có một tiểu đoàn trực chiến được trang bị đầy đủ, và một đại đội thám báo, súng ống đạn dược chất đầy ba kho lớn. Các đơn vị khác được nhận súng ban ngày nhưng ban đêm thu lại cất vào kho. Vào lúc ấy có một căn cứ lớn của một đơn vị địch mạnh như thế này là vững chắc, bất khả xâm phạm, địch rất tin tưởng. Còn ta, Ban Quân sự Xứ ủy đã phân tích tình hình dựa vào tinh thần chủ quan khinh địch của quân ngụy mà đa số là lính mới, kém tinh thần, dựa vào khả năng kỳ tập và chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang ta, mặc dù số lượng còn ít, tin vào bản lĩnh của cán bộ chỉ huy đã được rèn luyện, đã hạ quyết tâm đánh bất ngờ, kết hợp đặc công với xung kích, tận dụng cơ sở nội tuyến để đảm bảo thành công. Đánh được trận này không những ta sẽ thu được nhiều súng đạn cho việc phát triển lực lượng mà quan trọng hơn nữa, sẽ là một đòn thối động lớn làm khiếp vía quân địch và gây tin tưởng cho quần chúng nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp, trừ gian làm chủ xóm làng. Đó là sự kết hợp tốt giữa quân sự, chính trị và binh vận, là ngòi pháo cho phong trào của miền Đông...

    Trận đánh nổ ra vào đêm 25 rạng ngày 26/01/1960 (nhằm ngày 27 Tết âm lịch) do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban Quân sự của Xứ ủy trực tiếp chỉ huy, Chỉ huy phó là đồng chí Lê Thanh. Đồng chí Tư Nguyện 2 được giao nhiệm vụ huy động dân công để bảo đảm cho trận đánh. Lực lượng quân sự gồm cả của trên và của địa phương. Trận đánh giữ bí mật, bất ngờ và có nhiều thuận lợi. Sắp đến Tết âm lịch, một số sĩ quan và binh lính được nghỉ phép và một số đông tự động về nhà ăn tết, số khác chuẩn bị đón giao thừa, có nhiều sơ hở về phía địch. Tuy vậy không phải tất cả đều êm xuôi. Sắp tới giờ hành động, lực lượng tấn công đã được bố trí xong theo kế hoạch. Đặc công do đồng chí Vinh - Đại đội trưởng đã ém được bên trong gần sát với mục tiêu chỉ định. Mọi người chỉ còn chờ lệnh nổ súng từ sở chỉ huy. Bất ngờ vào lúc đó một đoàn xe chở binh sĩ ngụy từ hướng Tây Ninh lên theo đường 22, một số chạy vào cứ điểm, một số khác chạy thẳng lên phía bắc, đèn pha chiếu sáng, tiếng động cơ náo động cả một vùng. Phải chăng kế hoạch đã bị lộ, có kẻ phản bội báo trước cho địch tăng viện và đối phó kịp thời? Cán bộ và chiến sĩ ta cố giấu mình thêm kín và nín thở tránh từng tiếng động nhỏ, đầu óc căng thẳng, suy nghĩ cách chống trả nếu địch ra tay trước.

    Trận đánh cơ hồ bất thành và có nguy cơ thất bại nặng. Toàn mặt trận chờ lệnh xử trí của chỉ huy, mỗi phút giây dài bằng ngày tháng. Nhưng sở chỉ huy đã nhận được tin tình báo của ta từ trong lòng địch, có chậm nhưng vừa kịp đến giờ chót. Đó là địch triển khai một cuộc càn quét cuối năm, trước khi nghỉ tết. Lực lượng vào đồn chỉ là bọn lính của đồn đi liên hoan trở về, bọn lên phía bắc là tiểu đoàn từ xa đến cắm trại để mai triển khai càn quét. Tuy có bất ngờ nhưng chỉ huy trận đánh đã nhận định tình huống không ảnh hưởng lớn đến kế hoạch, ra lệnh nổ súng. Đúng giờ quy định, mìn nổ dữ dội ngay trung tâm chỉ huy địch, tên chỉ huy phó căn cứ chết (chỉ huy trưởng vắng mặt) và hệ thống thông tin bị hủy diệt. Tức thì hàng loạt mìn, và súng nổ liên hồi, nổ cùng khắp tại các đơn vị ngụy hầu như cùng một lúc. Không có chỉ huy như rắn mất đầu, lại bị đánh bất ngờ hết sức dữ dội ngay từ trong ruột và tiếng xung phong vang dậy từ ngoài vào, các đơn vị quân địch rối loạn, mất tinh thần, mạnh ai nấy chạy tán loạn. Một vài căn nhà bốc cháy, ngọn lửa theo gió lên cao, soi sáng khắp căn cứ. Một số sĩ quan và binh lính địch thấy lực lượng ta tiến công không nhiều, áo quần lếch thếch lại có phụ nữ, biết không phải là quân chính quy từ miền Bắc vào như chúng tưởng lúc đầu mà rõ ràng là du kích. Hoàn hồn, chúng tập hợp lại tổ chức phản kích. Nhưng chiến sĩ ta đã kịp thời bố trí ba khẩu đại liên mới lấy từ kho địch ra, nhả đạn dồn dập vào quân địch mới vừa tập hợp. Lớp chết, lớp bỏ chạy. Trận đánh kết thúc gọn ghẽ, thắng lợi vượt xa dự kiến. Hàng trăm địch bị giết, ta bắt sống 500 tên, giải thích giáo dục rồi thả ngay tại chỗ, số khác chạy tản mát. Số súng thu được trên 2.000 và rất nhiều đạn, lựu đạn... Tất cả đều mới tinh, chất thứ tự trong kho. Thương vong của ta không đáng kể. Kết quả về vật chất của trận đánh đã lớn, kết quả về tinh thần còn lớn hơn nhiều. Chiến thắng thành một tiếng vang bay xa làm nức lòng người, động viên nhân dân miền Đông nổi dậy đồng khởi diệt địch rửa hờn, làm chủ làng xóm. Tiếng vang còn đi xa hơn nữa, xuống đến miền Trung, miền Tây Nam Bộ, động viên thêm phấn khởi, đẩy mạnh thêm phong trào cách mạng. Càng đi xa, chiến thắng càng được người kể nhân lên gấp bội, thêm chút thần kỳ vào, vẽ thành một kiểu chiến thuật kỳ diệu xuất quỷ nhập thần, được chỉ huy tài tình và tô đậm thêm ý nghĩa. Thông thường như vậy, cái gì hợp với lòng mong đợi của dân, đúng với chính nghĩa sẽ được tán tụng hết lời và phát huy hiệu quả tích cực. Về phía địch thật là một đòn thất bại khủng khiếp. Chúng có bao giờ nghĩ rằng trong thời kỳ ấy một căn cứ của một sư đoàn chính quy, lớn rộng và kiên cố, được trang bị rất mạnh lại bị san bằng không đầy một tiếng đồng hồ. Phải là quân chính quy Bắc Việt vào mới đánh nổi và tài tình như vậy. Họ đã đánh được căn cứ Nguyễn Thái Học thì thị xã Tây Ninh nào có sá gì. Càng suy luận càng hoảng sợ, tên tỉnh trưởng Tây Ninh và bọn cầm đầu ngụy quyền có nợ máu khác dắt vợ bồng con chạy về Sài Gòn lánh nạn. Binh lính ngụy nhân đó đào ngũ hàng loạt. Các chị các bà trong “đội quân tóc dài” từ khắp nơi trong tỉnh, từ các tỉnh lân cận kéo đến đòi chồng, đòi con, khóc kể thảm thiết, chửi bới cho đã cơn giận, làm địch càng hoang mang, bối rối và quần chúng càng phấn khởi.





-----------------------------------------------------------------
1. Trong vụ giành chính quyền ở Hòn Khoai năm 1940, khi thực dân Pháp trở lại khủng bố tàn sát đẫm máu, đã bắt và xử tử hình đồng chí Phan Ngọc Hiển và 9 đồng chí khác. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã đổi tên quận Đầm Dơi là quận Ngọc Hiển để tưởng nhớ một đồng chí trung kiên cách mạng.
2. Đồng chí Đỗ Văn Muống, nay là Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cao su.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #61 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 04:37:06 pm »

    Được ảnh hưởng sớm nhất và mạnh mẽ là tỉnh sở tại Tây Ninh. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tây Ninh viết: “Tiếng súng Tua Hai đã đẩy mạnh khí thế cách mạng khắp tỉnh. Thắng lợi Tua Hai đã đưa cách mạng trong tỉnh chuyển sang thế tiến công mạnh mẽ, rộng khắp liên tục”, “khắp nơi quần chúng đã nôn nóng, cũng muốn cho xã mình vũ trang khởi nghĩa, tiêu diệt bót để phong trào lên kịp với các nơi khác...”. Ngay trong đêm Tua Hai bị diệt, đồn Vịnh ở xã Hải Đước sợ hãi rút chạy. Sau đó lực lượng vũ trang ít ỏi đã cùng đồng bào nổi dậy vây đồn bót diệt địch. Chỉ trong một thời gian ngắn tiếp theo, tại huyện Châu Thành đã có 11 xã trong tổng số 15 xã hoàn toàn giải phóng. Căn cứ bắc Tây Ninh (Khu C) đã quét sạch địch và mở rộng về phía nam đến sát thị xã. Phía căn cứ Dương Minh Châu cũ cũng được giải phóng thông đến tận Cầu Khởi, suối Ông Hùng... Trên 100 bộ máy tề ấp bị phá rã, nhân dân làm chủ hai phần ba tỉnh. Cuộc Đồng khởi trong tỉnh đạt kết quả lớn lao, bằng sự kết hợp giữa lực lượng vũ trang còn nhỏ bé, rất ít súng thật, khá nhiều súng giả bằng cây chuối, cây mì và ống lói, với lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng nổi dậy, kết hợp chính trị, quân sự và binh vận. Điển hình là ở xã Thanh Điền mà các đồng chí Tây Ninh đã kể: “Ở Thanh Điền, ngay trong tết chiến thắng, nhân dân đã rầm rộ xuống đường, kết hợp ba mũi tấn công, ào ạt đấu tranh trừng trị bọn ác ôn. Ngày mùng 7 Tết, các đồng chí đã tổ chức chiếm bót Hàng Đường và bót Nhà Vuông Cháy. Như vậy, địch chỉ còn kiểm soát vùng quanh bót Ôcôren, tức là vùng tiếp giáp thị xã, cách trung tâm thị xã chừng 1km đường chim bay. Được sự lãnh đạo của trên, xã ủy chủ trương phát huy chiến thắng, đẩy mạnh phong trào quần chúng kết hợp với vũ trang chống địch giữ đất, giành dân. Sau đó nhân một cuộc địch càn, các đồng chí Thanh Điền đã tổ chức một trận “đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị” đánh thẳng vào bót Ôcôren. Với lý do là để chạy càn, bà con đánh xe bò, dắt trâu, gồng gánh đồ đạc và dẫn trẻ em “tản cư ngược” ra bót. Giữa lúc bọn lính đồn nhốn nháo, hoang mang chưa có biện pháp đối phó với hơn 5.000 bà con đang khóc lóc, chửi rủa, đòi chúng phải mở cửa cho đồng bào ẩn náu vì “cộng sản về đông lắm, sẽ có đánh nhau to” thì du kích phối hợp nổ súng tiến công. Bọn lính tức thì bỏ bót tháo chạy. Du kích tràn vào làm chủ tình hình. Và để chặn viện, yểm trợ cho lực lượng vũ trang, bà con liền kéo thẳng vô thị xã. Đến cống Ba Miệng, gặp năm xe bọc thép chạy ra, bà con cản đường lại:

     - Chạy về đi thôi! Cộng sản về đông lắm. Họ đã chiếm bót Ôcôren rồi, còn đút đầu ra chịu chết hay sao?

     Quả nhiên bọn cơ giới bị trúng kế, quay đầu cút thẳng. Bà con thừa thắng kéo vô chợ, họp míttinh tố cáo bọn đi càn, gây mất an ninh trật tự cho thị xã mấy ngày đêm...”.

     Sự mưu trí và lòng dũng cảm của quần chúng cách mạng là như vậy đó. Một cử chỉ, một lời nói có sức mạnh, có hiệu lực của một đội quân thiện chiến, của một loại vũ khí lợi hại, có khả năng làm thất bại một âm mưu độc ác. Chính sức mạnh ấy đã cuốn trôi đồn bót giặc, đập tan tề xã, tề ấp ngụy quyền trong đồng khởi ở Bến Tre, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Ở miền Đông, ngoài Tây Ninh, các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, nhân dân cũng đồng loạt nổi dậy, kết hợp lực lượng vũ trang mới xây dựng, giải phóng các vùng nông thôn nối liền với các căn cứ kháng chiến cũ, thành những khu vực làm chủ rộng rãi của cách mạng bao quanh Sài Gòn từ tây bắc qua bắc và đông bắc, từ Đồng Tháp Mười ở Đức Huệ, Long An xuống đến bờ Biển Đông ở Xuyên Mộc, Bà Rịa.

    Sau Tua Hai trong tháng Giêng, đồn An Bình, đồn Nước Vàng (thuộc tỉnh Phước Thành) bị tiêu diệt, nhân dân làm chủ vùng ven căn cứ Chiến khu Đ, các trạm kiểm lâm của ngụy chuyên phá rừng trên các đường 13, 14, trên các sông Đồng Nai, Sài Gòn bị giải tán, phong trào công nhân cao su đấu tranh đòi quyền lợi và làm chủ lên cao ở các đồn điền Lộc Ninh, Xa Cát, Bình Sơn, Bình Ba, Dầu Giây, An Lộc... Tháng 02/1960 đồn Tân Long (Thủ Dầu Một) bị san bằng. Nhân dân các thị xã Bến Cát, Châu Thành, Tân Uyên, Vĩnh Cửu (Biên Hòa) nổi lên làm chủ nhiều vùng nông thôn. Ở Bến Cát các ban tề đều rã hết. Ở Châu Thành, 11 trong tổng số 17 ban tề xã bị quét sạch. Ở Bà Rịa, chỉ một đêm ba đồn giặc ở sở Bình Ba bị diệt. Tại Long Điền, Đất Đỏ, các hội đồng hương chính đều rã và đầu hàng nhân dân. Tháng 3, quân địch ở đồn điền Phú Riềng bị tiêu diệt, Bù Đăng trên quốc lộ 14 được giải phóng. Nhân dân các dân tộc thiểu số đốt bỏ khu dinh điền trở về làng cũ trong vùng căn cứ làm rẫy sinh sống nuôi cách mạng. Miền Đông Nam Bộ, nơi nhiều khó khăn gian khổ, bị địch đánh phá càn quét liên miên, bao vây phong tỏa ráo riết, giờ đây làm chủ núi rừng, mở rộng làm chủ nông thôn ra sát thành thị, hình thành thế bao vây lại địch, đẩy địch về phía Sài Gòn.

    Phong trào Đồng khởi ở Nam Bộ kéo dài suốt nửa năm đầu 1960 với khí thế tiến công liên tục, giành nhiều thắng lợi. Tháng 7/1960, Xứ ủy họp hội nghị đánh giá tình hình, kiểm điểm thắng lợi, rút kinh nghiệm để chỉ đạo tiếp phong trào. Đặc biệt Xứ ủy đã đề cao kinh nghiệm đồng khởi của Bến Tre. Trước đó Khu ủy Khu 8 cũng đã công nhận phương thức đồng khởi của Bến Tre là mẫu mực và phát động các tỉnh trong khu noi theo. Để tiếp tục tiến công địch, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân khắp nông thôn, đánh quỵ địch từ cơ sở làng ấp là khâu yếu nhất của địch lúc ấy, Xứ ủy chủ trương tiến hành một đợt Đồng khởi thống nhất trong toàn xứ, lấy ngày 23/9/1960, ngày kỷ niệm Nam Bộ vùng lên đánh thực dân Pháp hồi năm 1945 làm ngày mở đầu cho toàn đợt. Thế là miền Đông đến miền Trung, miền Tây Nam Bộ, từ rừng núi đến đồng bằng sông Cửu Long lại dấy lên một phong trào nhân dân nổi dậy dùng chính trị, quân sự, binh vận, diệt đồn bót giặc, phá rã tề xã, tề ấp, giải phóng nông thôn. Các khu dinh điền, khu trù mật còn lại trong đợt này cũng bị phá gần hết. Nhân dân kéo về quê cũ, dựng nhà, làm ruộng, thực hiện quyền làm chủ, đấu tranh cho quyền dân sinh dân chủ. Suốt năm 1960 cao trào cách mạng của nhân dân Nam Bộ đã dồn dập và liên tục, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp đàn áp khủng bố mà Mỹ - Diệm đã dày công xây dựng trong 5 năm trời. Hàng loạt đồn bót của bảo an ngụy cắm sâu trong các làng mạc bị san bằng. Nhiều đơn vị quân ngụy bị diệt và rã. Lực lượng tề điệp, dân vệ khống chế nhân dân lâu nay, lớp trốn, lớp đền tội, không còn hiệu lực ngay trong các vùng sát thị trấn, thị xã. Đến cuối năm đã có trên 100 xã trong tổng số trên 1.000 xã được hoàn toàn giải phóng, có đến trên 800 xã nhân dân làm chủ một phần, đứng lên lập chính quyền cách mạng tự quản. Trước thắng lợi to lớn của cách mạng, trước khí thế tiến công của nhân dân và chính sách binh địch vận đúng đắn của ta, nhiều sĩ quan và binh lính ngụy nhận ra được lẽ phải, thấy rõ nỗi nhục làm tay sai cho giặc cướp nước và giết hại đồng bào, đã bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Số khác còn trong đơn vị ngụy cũng bớt hung hăng, không bắn giết bừa bãi nhân dân trong các cuộc càn, còn giúp dân giấu tài sản, và đôi khi trừ khử ác ôn, hay đứng về phía nhân dân trong các cuộc đấu tranh chống khủng bố, đòi dân sinh dân chủ. Càng ngày binh lính ngụy đào rã ngũ càng tăng. Trong năm 1960, ở đồng bằng sông Cửu Long có tới 11.500 binh sĩ trong các đơn vị ngụy bỏ ngũ về nhà hoặc theo cách mạng. Đã có hiện tượng đào ngũ tập thể như lực lượng bảo an đóng ở khu trù mật Cái Tàu (Cà Mau) nổ súng bắn chết chỉ huy mang súng trở về với nhân dân. Hãng tin AFP ngày 09/4/1960 nhận định rằng chính quyền Diệm không những bị nhân dân chống lại, mà còn đang đứng trước một sự đe dọa nghiêm trọng hơn. Đó là việc một phần quân đội không yêu mến chính quyền đó nữa. Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã phải cấp báo cho Kennedy: “Một thời kỳ hết sức nghiêm trọng đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam Cộng hòa hiện đã ở ngay trước mắt. Trong thời gian sáu tháng qua (cuối năm 1960) tình hình an ninh ở trong nước vẫn tiếp tục trở nên ngày càng xấu đi và nay đã lên tới một mức nghiêm trọng. Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía nam và tây nam Sài Gòn cũng như một số vùng ở phía bắc đã nằm dưới quyền kiểm soát của cộng sản”.

    Ngụy quyền Diệm càng bị tan rã từ cơ sở thì càng bị cô lập và suy yếu. Từ đó đẻ ra tình trạng mâu thuẫn và phân hóa ngày càng gay gắt trong ngụy quân, ngụy quyền. Hốt hoảng, Diệm ra tay khủng bố thanh trừng nội bộ. Hắn gạt bỏ 73 trong số 123 dân biểu quốc hội kỳ 1, trong đó có ba nghị sĩ người Thượng. Ở Sài Gòn một nhóm 18 người gọi là “nhóm Caravelle”, vì họ thường gặp nhau ở nhà hàng Caravelle, đứng đầu là một cựu bộ trưởng kinh tế của Diệm, ngày 25/4/1960 đã gửi thư vạch tội Diệm là nhà chính trị độc tài, hà lạm, lạm quyền, và cảnh cáo rằng: “sự thật khả dĩ bùng nổ thành những làn sóng mênh mông của sự căm ghét và thù hận không thể chặn đứng được của một dân tộc đã đau đớn một cách khủng khiếp, đứng lên đập phá những xiềng xích đã trói buộc họ và quét sạch những người ngu tối và đào tận rễ sự bất công đã bao vây áp chế họ”.

    Tình trạng mâu thuẫn phân hóa trong hàng ngũ địch phát triển cao độ dẫn đến cuộc đảo chính Diệm ngày 11/11/1960. Cầm đầu cuộc đảo chính là Phan Quang Đán, lãnh tụ một phái thân Mỹ nhưng đối lập với Diệm, Đại tá Nguyễn Chánh Thi chỉ huy lữ đoàn dù, một sĩ quan thân tín bậc nhất của Diệm, và Trung tá Vương Văn Đông - một sĩ quan trong lữ đoàn dù. Tham gia cuộc đảo chính có bốn tiểu đoàn và một số lực lượng thiết giáp, cảnh sát và vài đơn vị hải quân đóng ở Sài Gòn. Cuộc đảo chính thất bại vì phe đảo chính lừng chừng, không triệt để, chẳng qua là cốt giành ăn chia ghế và cũng do Mỹ muốn kết thúc ngay, sợ cộng sản khai thác tình hình.

    Thắng phe đảo chính, Diệm ra tay trả thù, quyết trừng trị những kẻ “phiến loạn”. Chúng đập phá trụ sở và nhà in của các nhà báo đã đăng tải thông báo của phe đảo chính. Chúng bắt bớ hàng loạt. Theo tin UPI tháng 12/1960 thì ba ngày sau đảo chính số người bị bắt lên tới ba vạn, một loạt tướng, tá, úy bị bắt, thuyên chuyển... Song “ông Diệm có thể thanh trừng hàng loạt trong quân đội, nhưng điều đó không cứu vãn nổi chế độ ông Diệm về lâu dài”, đó là nhận định của Thời báo Ấn Độ.

    Phong trào Đồng khởi đã làm cho chế độ Diệm, bề ngoài tưởng như vững chắc ổn định, đi đến suy sụp rối loạn như vậy. Trong lúc đó về phía cách mạng tình thế đang vươn lên ngày càng mạnh, càng thắng. Lực lượng Đảng lãnh đạo trải qua một thời kỳ bị thiệt hại nặng nề được phục hồi mau chóng. Hầu hết làng xã đều có chi bộ, hệ thống nối liền Xứ ủy đến cơ sở với kinh nghiệm đấu tranh và chất lượng lãnh đạo được nâng cao. Quần chúng phấn khởi nô nức gia nhập các đoàn thể cách mạng, công đoàn, thanh niên, phụ nữ, nông hội... khiến cho việc lãnh đạo nhân dân đấu tranh càng chặt chẽ vững vàng. Các lực lượng vũ trang các cấp được tổ chức, phát triển, được huấn luyện, trang bị và tôi luyện trong chiến đấu cũng như các đại đội địa phương và các thôn ấp đều có dân quân du kích. Công tác vận động binh lính và ngụy quyền của nhân dân, của cán bộ càng phát triển và trở thành một phương thức tiến công có hiệu quả của cách mạng. Từ phong trào đấu tranh cách mạng thực tế của quần chúng nhân dân và cán bộ địa phương, từ cuộc đấu tranh sống còn bền bỉ anh dũng tận cơ sở với sức sáng tạo kỳ lạ của quần chúng cách mạng, Xứ ủy đã đúc kết kinh nghiệm và nêu lên thành phương châm đấu tranh cách mạng “hai chân ba mũi”, sau được Trung ương chấp nhận và chỉ đạo các chiến trường, được áp dụng cho suốt các thời kỳ chiến tranh cách mạng, đưa lại toàn thắng vinh quang. Hai chân, chân chính trị kết hợp với chân quân sự để đi cho vững trong suốt các chặng đường gay go gian khổ, ba mũi, mũi tiến công chính trị, mũi tiến công vũ trang và mũi tiến công binh vận cùng giáp công trong từng trận đánh, ở từng cơ sở, trong từng cuộc đấu tranh và trong các chiến dịch đã đem lại hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Chỉ một năm đồng khởi, phong trào cách mạng tiến triển như vũ bão. Lực lượng Đảng, lực lượng quần chúng, chính trị và vũ trang đều tăng lên gấp bội, mạnh mẽ khác hẳn với những năm trước đây, nhất là từ năm 1957 đến năm 1959 khi mà địch tha hồ tự do bắn giết đã gây thiệt hại lớn cho phong trào. Rõ ràng một khi đã có đường lối lãnh đạo đúng đắn, thực hiện cương quyết bằng phương pháp cách mạng phù hợp với tình hình thực tế, bởi những cán bộ được rèn luyện trong đấu tranh gian khổ, chỉ một mục đích duy nhất vì quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân bởi một lực lượng quần chúng được giác ngộ quyền lợi, đồng lòng xông lên phía trước vì ích nước lợi nhà thì thành công thật to lớn. Phong trào Đồng khởi có giá trị lớn lao khó lường hết. Nó cứu vãn một nguy cơ trông thấy của cách mạng nước ta và mở đầu trang sử vẻ vang thắng lợi của chiến tranh chống Mỹ xâm lược. Đồng chí Lê Duẩn đã nhận định: “Rõ ràng trong tình hình đen tối của miền Nam từ tháng 7/1954 đến cuối năm 1959, chúng ta không kịp thời phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa từng phần và tiến hành chiến tranh cách mạng thì lực lượng cách mạng ở miền Nam có thể tan rã, phong trào yêu nước có nguy cơ bị đè bẹp không sao gượng dậy nổi và Mỹ - Diệm có thể mang lục quân đánh ra miền Bắc như lúc bấy giờ chúng đã mưu tính và ra sức chuẩn bị”.

    Nhân dân ta thật cách mạng. Không phải đến năm 1960 mới nổi dậy. Suốt trong những năm qua, trước sự đàn áp dã man không thể tưởng tượng nổi của Mỹ -Diệm, đã từng có những cuộc nổi dậy của quần chúng không chịu sống quỳ ở từng con người, từng cơ sở, ở từng thôn, từng xã cho đến từng huyện ở khắp các vùng trong toàn miền Nam. Chỉ có các cuộc nổi dậy ấy còn cục bộ ở từng địa phương do nhân dân quá căm phẫn trước sự đàn áp của địch, được cán bộ ở đấy tự động lãnh đạo mà chưa phải “đồng khởi”, chưa phải nổi dậy đồng loạt rộng rãi trong một thời gian dồn dập. Nhưng các cuộc nổi dậy ấy không kém phần anh hùng và nhiều nơi đã đứng vững trước sự phản ứng quyết liệt của kẻ địch. Tiêu biểu cho các cuộc khởi nghĩa cục bộ đó có những cuộc diễn ra trong toàn một huyện là cuộc khởi nghĩa của huyện Trà Bồng - một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi tháng 8/1959. Chỉ trong vòng bốn ngày, tất cả đồn bót bảo an dân vệ, tất cả hệ thống ngụy quyền trong 16 xã trong huyện bị tiêu diệt bị đập tan. Chính quyền cách mạng tự quản của nhân dân được thiết lập và đứng vững mãi về sau. Trà Bồng, Quảng Ngãi là lá cờ đầu khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh du kích của toàn tỉnh, của miền núi Khu 5 và cả toàn Khu 5. Trước đó nữa, vào tháng 01/1959, cũng một huyện miền núi đã nổi dậy liên tục đánh đổ ngụy quyền, đánh bọn phản kích suốt cả năm để rồi nhân dân hoàn toàn làm chủ trong năm 1960 nhập cuộc với phong trào Đồng khởi toàn Miền - đó là huyện Bác Ái thuộc tỉnh Ninh Thuận nay thuộc tỉnh Thuận Hải. Bác Ái là một vùng núi cao rừng rậm, hang động hiểm trở lại nằm ở một vị trí chiến lược quan trọng, sát về phía bắc với đường 11 và đường xe lửa răng cưa từ Tua Chàm đi Đà Lạt, phía đông bắc liền với sân bay Thành Sơn - một sân bay lớn của địch, phía đông là đường 1 và đường xe lửa Bắc - Nam cùng song song theo đường bờ Biển Đông. Trên 10.000 dân cư phần lớn là dân tộc Raglai kiên cường bất khuất mà tiêu biểu là anh hùng Pi Năng Tắc, đã biến Bác Ái thành một căn cứ kháng chiến vững chắc suốt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Từ tháng 01 đến tháng 4, nhân dân đã nổi dậy, phá tan khu tập trung Bà Rau, Tầm Ngân, kéo về làm chủ núi rừng làng rẫy. Cả 12 xã trong huyện nhất quyết chống địch đến cùng, rào làng, lấp đường, đào hầm chông, cài cạm bẫy, tổ chức canh gác, bố phòng cẩn thận. Suốt tháng 9/1959, toàn dân đánh thắng oanh liệt cuộc càn lớn trả đũa của địch bằng đấu tranh chính trị của người già, bằng vũ khí thô sơ của thanh niên và bằng sự bất hợp tác của phụ nữ, trẻ thơ với địch, leo lên núi cao, lánh vào hang động. Cho đến tháng Giêng năm 1960, cùng với phong trào Đồng khởi toàn Miền, Bác Ái đã quét sạch tề, điệp, giữ vững quyền làm chủ và đến tháng 8 năm ấy khi lực lượng vũ trang diệt dồn bót địch còn lại thì huyện đã được hoàn toàn giải phóng.

    Đồng khởi năm 1960 trở thành cái mốc lịch sử oanh liệt đầu tiên trên con đường dài 21 năm đánh Mỹ, nó mở đầu thời kỳ cách mạng tiến công, chỉ có tiến công và tiến công liên tục của một phong trào quần chúng rộng rãi dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng nhằm đánh bại âm mưu nô dịch của Mỹ và đánh đổ ngụy quyền cam tâm làm tay sai ngoại bang, chia hai đất nước. Phong trào Đồng khởi đã huy động toàn dân đấu tranh cả chính trị và quân sự tuy chưa đều và mạnh trong các đô thị, đã củng cố và phát triển tổ chức Đảng lãnh đạo, tổ chức các đoàn thể cách mạng cũng như các lực lượng vũ trang cách mạng ngày một lớn mạnh. Đó là những điều kiện hết sức cơ bản để tiến lên đối đầu vững vàng và thắng lợi vẻ vang trước cuộc chiến tranh xâm lược thực sự của đế quốc Mỹ vào những năm tiếp theo. Nó làm cho đế quốc Mỹ không còn núp giấu được bộ mặt xâm lược đằng sau bọn Diệm mang chiêu bài “quốc gia dân tộc”, mà lộ rõ ra là một chiến tranh thực sự của Mỹ với chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” chống các dân tộc Việt Nam, Đông Dương rất xa nước Mỹ, chỉ vì họ muốn sống tự do theo kiểu cách của mình. Đúng, nhà sử học Mỹ Russel F. Weigleg đã nói đúng: “Việt Nam là cuộc chiến tranh đầu tiên trong đó Mỹ tìm cách áp đặt một hệ tư tưởng lên một dân tộc khác” 1. Phải chặn đế quốc Mỹ lại không cho chúng tiếp tục đi theo con đường này. Phải để cho các dân tộc có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình và sống trong hòa bình và hữu nghị.

    Phong trào Đồng khởi năm 1960 là bước nhảy vọt quan trọng đầu tiên của cách mạng miền Nam, là một sáng tạo lớn lao về hình thức đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, biểu hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, kiên cường, bất khuất trước bạo tàn và áp lực. Đồng khởi năm 1960 đi vào lịch sử không chỉ nằm trong phạm vi hình thức đấu tranh, phương thức cách mạng mà còn là khởi đầu cho một đường lối sáng tạo độc đáo của cách mạng Việt Nam: Khởi nghĩa vũ trang kết hợp với chiến tranh cách mạng. Đó là sự vận dụng tài tình những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng vào điều kiện cụ thể ở miền Nam Việt Nam chống lại chiến tranh xâm lược và “thập tự chinh” chống cộng của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Duẩn viết: “Các cuộc nổi dậy bằng sức mạnh chính trị là chính, kết hợp với sức mạnh vũ trang của quần chúng ở một số vùng rừng núi Khu 5 và đồng bằng Nam Bộ vào cuối năm 1959 đầu năm 1960, giành chính quyền ở thôn xã là các cuộc khởi nghĩa cục bộ, là cao trào khởi nghĩa lớn đầu tiên”   và “kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng miền Nam trong đó khởi nghĩa từng phần ở nông thôn là bước mở đầu. Trong các bước tiếp theo những cuộc khởi nghĩa của quần chúng luôn luôn tiếp diễn, ngày càng mạnh mẽ, gắn chặt với chiến tranh cách mạng”.




------------------------------------------------------------------
1. Trong cuộc họp tháng 01/1983 của các viện sĩ, nhà sử học và phân tích quân sự tại trung tâm quốc tế Wood Wilson để đánh giá điều mà một diễn giả gọi là: “Một cuộc chiến tranh lớn nhất, tốn kém nhất, nhưng lại ít thành công nhất trong lịch sử nước Mỹ” (Nhưng sao lại ít thành công? Đúng ra là thất bại nhục nhã - T.G).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #62 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 04:39:42 pm »

CHƯƠNG VI
Mặt trận Dân tộc giải phóng



    Phong trào Đồng khởi năm 1960 trên toàn miền Nam của quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng chủ yếu là ở nông thôn đã lật đổ trong nhiều vùng rộng lớn ngụy quyền cơ sở, lập nên chính quyền cách mạng tự quản của nhân dân, là một bước ngoặt quan trọng của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Đó là bước ngoặt từ thế thủ để bảo tồn lực lượng, đấu tranh chính trị hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ - một Hiệp định quốc tế mà ta đã ký và triệt để tôn trọng, chuyển qua tiến công liên tục ngày càng mạnh bằng cả bạo lực chính trị và vũ trang vào ngụy quyền phản động phátxít chống nhân dân, làm tay sai cho đế quốc xâm lược, phản bội Hiệp định chia đôi đất nước. Đó là bước ngoặt từ chỗ cách mạng chưa có chính quyền - chỉ có một ngụy quyền phản động chống nhân dân, không có lực lượng vũ trang (mới có một đơn vị nhỏ từng nơi trang bị thô sơ, núp dưới những danh nghĩa khác nhau, mang ý nghĩa tự vệ) - chỉ có quân đội Mỹ - Diệm trang bị mạnh và tổ chức hàng sư đoàn, cả binh quân chủng, để tiến hành “chiến tranh một phía” và không có cả tổ chức các đoàn thể quần chúng cách mạng để huy động lực lượng, giáo dục và chỉ đạo đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình (các đoàn thể cách mạng đã chủ trương tự giải tán hồi năm 1954-1955), đi đến chỗ có tất cả, chính quyền tự quản, quân đội giải phóng và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông hội, trí thức, văn nghệ giải phóng...

    Giả sử đôi bên đều tôn trọng chữ ký của mình, thành tâm thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ thì tháng 7/1956 đã có tổng tuyển cử toàn quốc theo ý nguyện của dân và đi đến thành lập một chính phủ thống nhất cho cả nước Việt Nam tự do và độc lập, thì làm gì có phong trào Đồng khởi năm 1960. Tình hình diễn biến hình như đơn giản nhưng vô cùng phức tạp theo con đường đấu tranh chính trị hòa bình và hòa bình thống nhất đất nước. Đó là con đường ngắn nhất và có lợi nhất vào thời kỳ đó cho nhân dân ta, cho đất nước ta. Nó tránh được bao chết chóc đau thương, bao tàn phá đình trệ. Chính vì vậy mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân kiên quyết đấu tranh để đi theo con đường đó suốt nhiều năm trời. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cố làm mọi cách để giữ hòa bình, tránh chiến tranh vì nhận thức rõ chiến tranh dù với mục đích nào vẫn là một bi kịch của nhân loại mà những người lương thiện trên quả đất này không ai muốn. Nhưng khốn thay cuộc “thập chinh chống cộng” của những nhà lãnh đạo nước Mỹ thời ấy đã được định ra từ cuối những năm 1940 nên không có hòa bình, không có tổng tuyển cử dân chủ, không có Việt Nam thống nhất, chỉ có cái “cộng hòa Việt Nam” chống cộng, hầu như là một bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Con đường phát triển hòa bình đã bị phá ngay từ đầu và vì vậy mới có đàn áp tàn khốc, những năm lửa và máu, của một bên là chiến tranh tạo ra cuộc “Đồng khởi” của nhân dân Việt Nam quyết tự mình định đoạt vận mệnh của mình.

    Khi đã có đường lối lãnh đạo đúng đắn rồi thì phương pháp đấu tranh cách mạng để đạt mục tiêu đề ra là khâu trọng yếu. Từ bao nhiêu năm quần chúng đã không còn chịu nổi sự đàn áp phátxít của Mỹ - ngụy, đã sẵn sàng dùng mọi biện pháp chống trả lại, khi biết có chủ trương đúng đắn chỉ có con đường bạo lực cách mạng đánh đổ ngụy quyền mới có thể sống còn, liền đồng loạt đứng lên làm chủ xóm làng. Phong trào mạnh phải có tổ chức mạnh và phù hợp. Muốn đấu tranh vũ trang phải tổ chức ra lực lượng vũ trang, có chỉ huy và tham mưu của nó. Muốn đấu tranh chính trị mạnh phải có lực lượng với những tổ chức đoàn thể và ban chấp hành của nó như hội lao động giải phóng, các hội thanh niên, phụ nữ, nông hội, trí thức, học sinh, sinh viên... Phải đoàn kết tất cả các đoàn thể yêu nước lại thành một mặt trận thống nhất thì sức mạnh của các đoàn thể mới được nhân lên gấp bội. Tình thế cách mạng, phong trào quần chúng, yêu cầu của nhiệm vụ cứu nước, cứu dân đòi hỏi phải có một mặt trận thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh dân tộc, đoàn kết tất cả mọi người yêu nước, mọi tầng lớp nhân dân, mọi đoàn thể cách mạng, mọi tôn giáo, đảng phái hoạt động dưới một ngọn cờ duy nhất, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân trước họa xâm lăng và bạo tàn phátxít. Phong trào Đồng khởi thắng lợi trên toàn miền Nam càng đặt ra vấn đề cấp bách là phải có một mặt trận như vậy để tập hợp lực lượng rộng rãi, nhân sức mạnh lên gấp nhiều lần nữa để đạp phăng mọi trở ngại tiến thẳng đến đích đã định.

    Cuối năm 1960, một sự kiện lịch sử tất yếu đã diễn ra: ngày 20/12, Đại hội đại biểu các tầng lớp xã hội, các tổ chức quần chúng cách mạng, các thân sĩ yêu nước đã mở ra ở vùng giải phóng bắc Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ, vùng căn cứ cũ Dương Minh Châu. Trong rừng cây to um tùm xanh tốt, vẻ ngoài trầm mặc, bên trong đã diễn ra cảnh tưng bừng nhộn nhịp của những người cách mạng hăng say từ các vùng nông thôn đã làm chủ, từ các thành thị kể cả Sài Gòn đổ về, thảo luận, phân tích tình hình, đề ra nhiệm vụ, sách lược đấu tranh cứu dân, cứu nước. Đại hội đã hoàn toàn nhất trí và tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ dân chủ, thân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đây là một chủ trương rất đúng với tình hình thực tế đang diễn biến ở Việt Nam và thế giới, chống lại nạn phátxít tàn bạo, chống ách nô dịch thực dân giành độc lập dân tộc và làm phá sản chiêu bài “chống cộng” của đế quốc Mỹ. Nó phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới là tự do, dân chủ, đời sống, hòa bình và thống nhất đất nước.

    Hàng triệu trái tim nhân dân Việt Nam một lòng hướng về Bác Hồ, Đảng kính yêu cùng với truyền thống bất khuất từ ngàn xưa của tổ tiên, mọi người đã đoàn kết lại cùng hành động cho nghĩa lớn: giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Bản tuyên ngôn của Mặt trận ra đời theo hướng đó và được phát hành rộng rãi ngay sau đó đã ảnh hưởng vang dội trong và ngoài nước, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, được thế giới hoan nghênh, đã đưa lại cho cách mạng một sức mạnh mới và làm kẻ thù phải run sợ. Bản tuyên ngôn đã phân tích sắc bén tình hình trong nước và thế giới từ Cách mạng Tháng Tám đến năm 1960, đã lên án đanh thép đế quốc Mỹ mang dã tâm thay thực dân Pháp, biến miền Nam Việt Nam ta thành thuộc địa trá hình và căn cứ quân sự, đã lên án chế độ tay sai Ngô Đình Diệm cam tâm phục vụ quân xâm lược, đàn áp khủng bố phátxít nhân dân, chia cắt lâu dài đất nước ta. Tuyên ngôn đã khẳng định mục tiêu chủ yếu của phong trào cách mạng nhân dân là “phải chấm dứt chế độ thống trị độc tài tàn bạo, phải độc lập dân chủ, phải cơm no áo ấm, phải hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

    Căn cứ vào tình hình thực tế của nước nhà và quyền lợi thiết yếu của các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã vạch ra chương trình hành động 10 điểm cụ thể, rõ ràng và phù hợp nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Mười điểm đó là:

    1. Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ.

    2. Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ, ban bố quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn, tự do đi lại và các quyền tự do dân chủ khác. Toàn xá chính trị phạm, giải tán các trại tập trung, khu trù mật và dinh điền, bãi bỏ luật phátxít 10/59 và các luật phản dân chủ.

    3. Bãi bỏ độc quyền kinh tế của đế quốc Mỹ và của bọn tay sai, bảo vệ nội hóa, khuyến khích công thương nghiệp trong nước, mở mang nông nghiệp, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Giải quyết công ăn việc làm cho những người thất nghiệp, tăng lương cho công nhân, binh lính và viên chức. Bãi bỏ phạt vạ vô lý, thi hành chính sách thuế khóa công bằng và hợp lý. Giúp đỡ cho đồng bào di cư muốn về xứ sở, giải quyết công ăn việc làm cho những người muốn ở lại.

    4. Thực hiện giảm tô, đảm bảo nguyên canh, chia lại công điền, tiến tới cải cách điền địa.

    5. Bài trừ văn hóa nô dịch đồi bại kiểu Mỹ, xây dựng một nền văn hóa và giáo dục dân tộc và tiến bộ. Xóa bỏ nạn mù chữ, mở mang trường học, cải cách chế độ học tập và thi cử.

    6. Bãi bỏ chế độ cố vấn quân sự Mỹ, xóa bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài ở Việt Nam, xây dựng một quân đội dân tộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

    7. Thực hiện nam nữ bình quyền, đảm bảo bình đẳng giữa các dân tộc và thực hiện quyền tự trị của các dân tộc thiểu số. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngoại kiều sinh sống ở Việt Nam. Bảo vệ chăm sóc quyền lợi của kiều bào ở hải ngoại.

    8. Thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

    9. Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền. Tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

    10. Chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới.

    Chương trình đó bao gồm mọi phương diện của đời sống: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, nội trị, ngoại giao. Nó trả lời mọi yêu cầu của xã hội Nam Việt Nam lúc bấy giờ là độc lập dân tộc, tự do dân chủ, hòa bình trung lập tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. Nhờ đó mà Mặt trận đã trở thành trung tâm đoàn kết tập hợp được đông đảo những người Việt Nam yêu nước, tiến bộ dưới lá cờ của mình, lá cờ nửa trên đỏ thắm nửa dưới xanh da trời với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa. Từ đây cương lĩnh cách mạng đúng đắn là lá cờ tiêu biểu của Mặt trận đã có mặt khắp nông thôn, thành thị, đã thức tỉnh hàng triệu người dân lao động bị áp bức bóc lộc, bị khủng bố tàn bạo đứng lên làm cách mạng và điều đó báo trước sự thắng lợi vẻ vang của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

    Chương trình 10 điểm của Mặt trận thể hiện đầy đủ và rõ ràng nhất ý chí sắt đá của những người cách mạng Việt Nam là giành tự do và độc lập, dân chủ, hòa bình, không thừa nhận bất cứ một sự đô hộ trá hình nào của đế quốc, một sự cai trị tàn bạo nào của một chế độ độc tài và tay sai. Nó đấu tranh cho quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân, tăng lương cho công nhân, viên chức, cả binh lính nữa (tất cả binh lính của một quân đội bảo vệ Tổ quốc và nhân dân); ruộng đất cho dân cày, nhưng trước hết là giảm tô và nguyên canh đã rồi sẽ tiến lên; tư sản công, thương nghiệp được kinh doanh làm lợi cho nền kinh tế nước nhà, hàng nội hóa được bảo vệ; trí thức được chú ý, mở mang trường học, mọi người biết chữ, một nền văn hóa tiến bộ; các dân tộc đa số và thiểu số có quyền bình đẳng, chăm sóc các kiều bào ngoài nước và ngoại kiều trong nước,... Như vậy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng chủ trương một miền Nam Việt Nam độc lập tự do, quản lý bởi một chính quyền liên minh dân tộc và dân chủ, có chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, quan hệ với tất cả các nước tôn trọng chủ quyền của mình không phân biệt chế độ xã hội. Đối với miền Bắc, đặt quan hệ bình thường rồi sẽ tiến lên hòa bình thống nhất về sau. Mục tiêu cách mạng thật khiêm tốn sau bao năm đấu tranh vô cùng quyết liệt, xương máu chất chồng. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa đường lối của Đại hội III Đảng Lao động Việt Nam họp tại Hà Nội tháng 9/1960. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản đó, trước mắt phải: Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.

    Đường lối của Đảng, chương trình của Mặt trận đưa ra vào lúc này là hoàn toàn phù hợp với tình hình, là hợp tình, hợp lý, đúng mức. Chương trình 10 điểm của Mặt trận công khai trình bày trước nhân dân cả nước ta nhằm đạt đến một nhận thức và quan điểm thống nhất về mục tiêu cách mạng và phương hướng hành động trong một giai đoạn nhất định. Mọi người dân yêu nước, yêu hòa bình và tự do dân chủ đều có thể tập hợp lại, đoàn kết lại trong một mặt trận - Mặt trận Dân tộc Giải phóng - để chung lưng đấu cật đấu tranh cho một yêu cầu sống còn chung lúc ấy: độc lập, tự do. Trước yêu cầu đó, những người Việt Nam không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, xu hướng chính trị... hãy đứng lên cùng hành động.

    Chương trình Mặt trận được công khai trình bày trước nhân dân thế giới, trước bạn bè xa gần như một mục đích tối thiểu của một phong trào cách mạng, một yêu cầu chính đáng của một dân tộc chỉ muốn sống hòa bình, tự do trên mảnh đất của mình, một nguyện vọng tha thiết muốn làm bạn với tất cả mọi người trên quả đất này, không phân biệt màu da hay chế độ, miễn là biết tôn trọng lẫn nhau.

   Chương trình 10 điểm còn công khai tuyên bố trước kẻ địch của mình, những nhà lãnh đạo nước Mỹ cách xa Việt Nam nửa vòng quả đất, rằng thực sự chúng tôi chỉ muốn hòa bình sinh sống trên quê hương thiêng liêng của mình. Không phải vô cớ mà chúng tôi muốn có một chính phủ liên hiệp dân chủ, trung lập ở miền Nam và bước đầu đặt quan hệ bình thường với miền Bắc trong lúc người dân chúng tôi ở cả hai miền thiết tha mong muốn một nước Việt Nam thống nhất, độc lập. Những chủ trương như vậy nói lên một sự cân nhắc, đo lường hết sức cẩn thận. Chúng tôi hiểu rất rõ là chúng tôi phải đương đầu với ai? Đó là Mỹ, một nước đứng đầu và giàu mạnh nhất của phe đế quốc, có nhiều đôla và rất nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại, có quân đội nhà nghề lớn mạnh. Chúng tôi cũng hiểu rất rõ những nhà lãnh đạo nước Mỹ rất sợ cách mạng, rất sợ chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng chủ nghĩa tư bản nên tự vỗ ngực đứng ra làm tên sen đầm quốc tế, sẵn sàng đem vũ khí khua khắp hoàn cầu. Nhưng dân Mỹ, một bộ phận rộng lớn, có tinh thần dân chủ tiến bộ, chưa hẳn đã đồng quan điểm với chính phủ họ đi áp bức các dân tộc khác.

   Chúng tôi còn hiểu rõ nước Việt Nam là một nước nhỏ, nghèo lại bị chiến tranh tàn phá hàng chục năm rồi. Chúng tôi cần hòa bình để xây dựng lại quê hương, hàn gắn vết thương chiến tranh, đảm bảo đời sống cho nhân dân. Một nửa nước, miền Bắc vừa giành độc lập, cần phải có hòa bình, cần phải bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng bước đầu ấy để xây dựng kinh tế, văn hóa... đi lên chủ nghĩa xã hội, làm chỗ dựa cho cả nước. Miền Nam cần phải được giải phóng, hoàn toàn có khả năng giải phóng bằng cách đẩy lùi và thắng đế quốc từng bước để đi đến toàn thắng. Không giải phóng miền Nam thì khó mà giữ vững hòa bình và bảo vệ miền Bắc vững chắc và miền Bắc không được bảo vệ, không có hòa bình thì miền Nam sẽ gặp khó khăn, khó đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Hiểu rõ mình, hiểu rõ địch, đưa ra một giải pháp đúng mức đối với nhân dân ta, đối với địch, đối với nhân dân thế giới trong một giai đoạn phù hợp. Đó là ý nghĩa chương trình 10 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nếu những nhà lãnh đạo nước Mỹ không bị hoảng loạn trước chủ nghĩa cộng sản, không bị sai lệch về thuyết đôminô vô nghĩa, không bị mê hoặc về huyền thoại sức mạnh vô địch Hoa Kỳ, hiểu truyền thống Việt Nam hơn nữa qua chiến tích đánh bại Mông - Nguyên xưa và đế quốc Pháp mới đây thì hẳn phải nhận chủ trương, chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là phù hợp và chắc hẳn đã có hòa bình, còn đủ thì giờ thực hiện Hiệp định Giơnevơ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #63 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 04:40:58 pm »

    Chương trình và tuyên ngôn của Mặt trận đã được đón nhận một cách nồng nhiệt ở khắp nơi miền Nam Việt Nam, đã gây nên một không khí nhộn nhịp phấn khởi trong đồng bào khắp chốn. Suốt tuần lễ đầu tháng Giêng năm 1961 thành phố Sài Gòn - Gia Định tràn ngập hàng triệu tờ truyền đơn in chương trình và cờ Mặt trận. Các xí nghiệp, trường học, trại lính, công sở, rạp hát, chợ búa, đâu đâu nhân dân cũng đọc, bàn tán xôn xao về Mặt trận. Đặc biệt ngày 02/01/1961, khắp nội ngoại thành đồng bào bãi thị, xe ngừng chạy, thuyền ngừng chèo, tiệm đóng cửa, họp míttinh hoan nghênh Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra đời. Trên bầu trời lơ lửng hàng trăm quả bóng mang cờ Mặt trận. Năm 1961 là năm mà lần lượt hết tỉnh này đến tỉnh khác khắp miền Nam Việt Nam, rồi đến quận, đến xã, đều lập xong các Ủy ban Mặt trận tỉnh, quận, xã. Những lễ ra mắt Ủy ban là những cuộc míttinh chính trị, là những cuộc vận động cách mạng rầm rộ, là những cuộc đấu tranh hăng say, biểu dương lực lượng, làm nức lòng mọi người dân yêu nước.

    Tỉnh Mỹ Tho, trong dịp lễ ra mắt Mặt trận tỉnh, có đến 70.000 người dự míttinh và biểu tình.

    Tỉnh Sa Đéc, chỉ trong đêm 05/01/1961, có 17 cuộc míttinh chào mừng Mặt trận, có cuộc đông 5.000 người. Nhiều cuộc biểu tình đánh mõ, đánh trống, đốt pháo, thả hàng trăm bè mang biểu ngữ và cắm cờ Mặt trận trôi trên sông rạch có nhiều ghe thuyền qua lại.

    Tỉnh Bến Tre mở đại hội đại biểu các tầng lớp quần chúng để thành lập Mặt trận tỉnh. Cuộc lễ ra mắt có đến 10.000 người gồm đủ đại biểu nông thôn, thành thị, các tôn giáo, các gia đình binh sĩ về dự. Có cả máy điện, loa phóng thanh do công nhân thị xã gửi về ủng hộ. Nơi làm lễ chỉ cách thị trấn Ba Tri không đầy 5km. Trong ánh đèn điện, lá cờ xanh, đỏ, vàng sao rực rỡ phấp phới bay làm xúc động mọi tấm lòng.

    Ở Tây Ninh ngày 21/12/1960, một cuộc mít tính lớn hoan nghênh Mặt trận, bao gồm 2.000 đồng bào tín đồ Cao Đài, binh sĩ và cựu sĩ quan ngụy. Họ hứa sẵn sàng đứng trong hàng ngũ Mặt trận.

    Ngày 19/3/1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định được thành lập và làm lễ ra mắt trước hàng chục nghìn người tại xã Phú Mỹ Hưng thuộc huyện Củ Chi.

    Ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, những cuộc míttinh chào mừng Mặt trận thường kết hợp với nổi dậy của quần chúng phá khu tập trung, chống khủng bố đàn áp.

    Ở Trung Bộ, khắp các tỉnh từ Trị - Thiên vào đến Khánh Hòa, Bình Thuận, đâu đâu cũng nổ ra những cuộc míttinh lớn nhỏ nhiệt liệt hoan nghênh Mặt trận, hoan nghênh bản tuyên bố và chương trình 10 điểm.

    Như vậy Mặt trận các cấp ra đời từ cuối năm 1960 đến cuối năm 1961 là dịp tập hợp các lực lượng, mở rộng phong trào, củng cố, mở rộng các tổ chức quần chúng và đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, phong trào phát triển cả bề rộng, cả chiều sâu. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời không những được chào mừng và nhiệt liệt hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân trong nước ta mà cả Việt kiều ở nước ngoài. Tại Pháp, Việt kiều ra kiến nghị trong đó nhận xét: “Máy bay và đại bác của Mỹ - Diệm không khuất phục nổi nguyện vọng giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước của đồng bào ta. Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra đời phản ánh sự lớn mạnh của phong trào yêu nước chống Mỹ -Diệm ở miền Nam”. Tại Campuchia, kiều bào viết nhiều thư cho báo trung lập, tỏ ý hoan nghênh Mặt trận...

    Sự ra đời của Mặt trận còn gây được tiếng vang lớn ở các nước trên thế giới. Tại nhiều nước, báo chí đã giới thiệu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, giới thiệu cờ, tuyên ngôn, chương trình của Mặt trận. Ở Pháp, báo Le Monde ngày 21/12/1961 trong khi giới thiệu tuyên ngôn của Mặt trận bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, đã nhấn mạnh tội ác của Diệm. Báo Lao động tân văn ở Triều Tiên ngày 19/02/1961 viết: “Việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chứng tỏ rằng sự nghiệp đấu tranh cho sự tự do dân chủ và giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam Việt Nam đã lớn mạnh và phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu”. Báo Ai Cập ngày 11/02/1961 đã đăng toàn văn bản tuyên ngôn và chương trình 10 điểm của Mặt trận.

    Ngày 16/02/1962, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam họp Đại hội lần thứ I. Đại hội đã bầu ra Ủy ban Trung ương chính thức do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Các phó chủ tịch có Giáo sư Phùng Văn Cung, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, cụ I Bích A Lê Ô và nhà sư Sơn Vọng.

    Bản tuyên ngôn của Đại hội đề ngày 03/3/1962 đã nêu rõ: “Nhiệm vụ chung của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là đoàn kết toàn dân kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, chống tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện dân tộc độc lập, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

    Từ đó, đường lối đúng đắn của Mặt trận ngày càng thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân và biến thành hành động chống Mỹ, cứu nước của hàng triệu quần chúng. Chiến tranh du kích phát triển rộng rãi và mạnh mẽ khắp nơi. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng. Lực lượng cách mạng, cả chính trị và vũ trang ngày càng hùng hậu.

    Mặt trận ra đời còn mang lại cho phong trào cách mạng một danh nghĩa công khai, khẳng định tính chất chính nghĩa của phong trào qua chương trình hành động 10 điểm được nhân dân trong nước hưởng ứng và nhân dân thế giới ủng hộ. Một loạt nước trên thế giới đã công nhận Mặt trận và đồng ý để Mặt trận đặt phái đoàn đại biểu thường trực tại thủ đô nước ấy. Ở Pháp và Thụy Điển thì lập một phòng thông tin của Mặt trận. Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh với sao vàng năm cánh không những được giương lên khắp miền Nam mà còn phấp phới bay khắp năm châu và để rồi được treo trên dinh lũy cuối cùng của Mỹ - ngụy ở Sài Gòn song song với lá cờ sao vàng ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam của Tổ quốc. Suốt 15 năm khói lửa chiến tranh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ lịch sử của một thời kỳ trọng đại của đất nước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #64 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:16:44 am »

KẾT THÚC CUỘC CHIẾN TRANH 30 NĂM



      ... Mỗi sự nghiệp của một con người đều là sự nghiệp của tất cả. Anh có làm được việc gì thì đó là nhờ nhân dân giúp rập mà nên. Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây. Khi về thành chớ bao giờ quên bưng biền rừng núi. Nhờ dân mà anh đã hoàn thành nhiệm vụ, nay làm nhiệm vụ trước hết phải vì dân. Nhờ bạn bè mà anh xây thành sự nghiệp. Nay có sự nghiệp chớ nên quên lãng bạn bè. Đức Việt Nam là tình là nghĩa, là đạo xử thế thủy chung giữa con người với con người. Mắt ta phải trong mà lòng ta phải sáng, đó là quý nhất của một đời người...






CHƯƠNG I
Mặt trận mới


 
    Hàng loạt bom B-52 nổ dữ dội và liên hồi làm rung chuyển các nhà hầm trong Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền. Ngay sau đó loa phóng thanh treo trên các cành cây vang lên tiếng báo cáo của trực ban canh gác khu vực:

    “Chín chiếc B-52 chia làm ba tốp thả ba loạt bom ngang qua khu A, giữa B1   và B2 1. Tất cả đều an toàn”.

    Chúng tôi tiếp tục buổi giao ban. Một cán bộ tham mưu lại vào báo cáo: “Điện Bộ Tổng Tư lệnh cho biết Hiệp định Paris đã được ký kết!”.
    Bất giác tôi mỉm cười nghĩ về cái phút giao thời kỳ quặc giữa chiến tranh và hòa bình này - nếu quả thật có hòa bình. Thì ra Mỹ đã tận dụng từng giây cuối cùng của cuộc chiến tranh dài hàng chục năm, với những con quạ sắt B-52, gửi bản “thông điệp hòa giải” đầy ý nghĩa (!).

    Dẫu sao thì tin Hiệp định hòa bình Paris được ký kết cũng làm mọi người thở phào nhẹ nhõm. Nét hân hoan lộ rõ trên từng khuôn mặt của người chỉ huy. Những khuôn mặt dày dạn rám nắng, trông ai cũng gầy mà khỏe. Đây phải chăng là phần thưởng quý giá cho gần mười tháng nỗ lực chiến đấu liên tục trên toàn chiến trường nhằm mục đích buộc địch phải ký cho được một Hiệp định đình chiến, kết thúc một giai đoạn chiến lược.

    Chưa bao giờ có đợt hoạt động quân sự kéo dài và ngày càng gắng sức đến oải cả gân cốt như thời gian vừa rồi. Các quân khu, đơn vị đều báo cáo về Bộ Chỉ huy Miền những thắng lợi đã đạt được, các vị trí mà quân ta đang giành giật từng giờ với địch, nhưng đồng thời cũng không ngớt báo cáo những khó khăn, thiếu quân số, lương thực, đạn dược và đặc biệt là nói lên sự thấm mệt của cán bộ và chiến sĩ. Tư lệnh Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ) đã điện đề nghị thẳng thừng với Bộ Tư lệnh Miền cho lệnh kết thúc ngay chiến cuộc để chấn chỉnh lực lượng. Bộ đội không còn sức để đánh nữa! Nhưng kẻ địch của ta vô cùng ngoan cố. Chúng đã bị thua đau trên chiến trường, đã bị đuối lý trên bàn hội nghị, đã buộc phải chấp nhận ký kết vào tháng 10, rồi lại tráo trở lật lọng. Thế thì ta phải làm gì? Kết thúc hoạt động, nghỉ, mục tiêu chưa hoàn thành ư? Không! Phải tiếp tục đánh. Ta đánh cho chúng phải hiểu ra ý chí của con người cách mạng là thế nào.

    Cái khó quyết định là ở những giờ phút như thế này. Ngừng lại, sự việc sẽ đi theo một hướng. Ráng lên chút nữa, giành thêm ít thắng lợi nữa, sẽ tạo ra một chất lượng mới, sự việc tất yếu sẽ theo một hướng khác. Ta đã làm như vậy. Đã ráng lên một chút, đã giành thêm một ít thắng lợi ở miền Nam trong tình trạng tưởng như kiệt sức, tưởng như không còn gạo, đạn để tiếp tục đánh. Ta đã vững vàng, thông minh và hiên ngang đánh trả, tiêu diệt hàng loạt B-52 và các loại máy bay khác, 12 ngày đêm ròng rã ở Hà Nội, Hải Phòng, tưởng như sự việc kỳ diệu diễn ra trong truyện thần thoại của con Hồng cháu Lạc xa xưa. Và rõ ràng, ta đã tạo được chất lượng mới: Kẻ địch, tên đế quốc đầu sỏ, nham hiểm và tàn bạo nhất của thời đại đã phải cúi đầu khuất phục. Chúng đã phải ký kết một Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

"Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn”
.

    Thưa Bác, chỉ thị ấy của Bác năm nào, thể hiện chủ trương tài tình của Đảng, nay chúng con đã hoàn thành được một phần quyết định. Mỹ cút ắt ngụy sẽ phải nhào và Bắc - Nam nhất định sẽ sum họp. Chúng con nguyện làm hết sức mình để hoàn thành nhanh nhất ước mong của Bác.

    Đó là ý nghĩ đầu tiên đến với chúng tôi khi biết chắc Hiệp định Paris đã ký kết.

    Bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh đã tạo ra rồi. Một chặng đường dài gay go đã vượt. Xốc lại hành trang, gom thêm sức lực, để bước nốt quãng đường còn lại, có lẽ không kém phần phức tạp khó khăn. Nhưng ta đã nhìn thấy rõ ánh sáng hồng ở chân trời.




----------------------------------------------------------------
1. Bộ Tư lệnh Miền.
2. Bộ Tham mưu Miền.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #65 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:25:53 am »

*
*      *


    Một ngày đầu tuần tháng Giêng năm 1973, trong Sở Chỉ huy Miền, tại gian nhà hầm giữa khu rừng căn cứ, không khí nhộn nhịp sôi nổi. Chúng tôi đang theo dõi tình hình chiến trường, đơn vị, nhưng trọng tâm là khẩn trương bàn kế hoạch và biện pháp thi hành Hiệp định Paris một cách nghiêm túc, có hiệu quả. Còn bao nhiêu việc phải làm: nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng; cảnh giác với kẻ địch mà chúng tôi đã hiểu biết tường tận từ lâu... Bỗng một cán bộ tham mưu vào trao cho đồng chí Năm Ngà 1 - Quyền Tham mưu trưởng Miền lúc ấy, một bức điện hỏa tốc. Đồng chí Năm Ngà nhẩm đọc lướt nhanh qua bức điện rồi với vẻ mặt nghiêm nghị, không phân tích được là vui mừng hay lo lắng, trao cho tôi. Nội dung điện: Trung ương chỉ định tôi làm Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở Sài Gòn. Ô! Thật là đột ngột. Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã xếp đặt từ trước thành phần của Đoàn và đã được Trung ương đồng ý rồi cơ mà, nay bỗng nhiên có sự thay đổi Trưởng đoàn vào giờ chót. Và chỉ còn vài ba hôm nữa tôi phải có mặt ở Sài Gòn!

    Trong đời chiến sĩ suốt mấy chục năm, tôi đã thường gặp biết bao nhiêu sự việc bất ngờ, trên chiến trường, trong công việc, ở từng con người, của bạn cũng như của thù, nhưng lần này, bất ngờ đến với tôi đầy thú vị và cũng đầy lo lắng. Lo lắng vì công việc quá mới đối với tôi, và gấp quá, phải khăn gói lên đường ngay trong lúc tôi chưa kịp có thời giờ hình dung được công việc, nói gì đến chuẩn bị mọi thứ cho mặt trận đấu tranh mới, hoàn toàn không giống như trên chiến trường. Tuy vậy, trường hợp đột ngột trong công tác mà cấp trên giao cho tôi như vậy không phải là lần thứ nhất. Tôi đã quen rồi. Tin ở lãnh đạo của trên, tin ở các đồng chí cộng sự, tin ở mình, tôi vẫn bình tĩnh nhận lãnh trách nhiệm. Thực ra trong trường hợp này phần thú vị dành cho tôi nhiều hơn. Sài Gòn thân yêu của tôi! Đã lâu lắm rồi từ hồi mồ ma thực dân Pháp, tôi đã sống, hoạt động cách mạng sôi nổi, đã thắng lợi và cũng đã từng nếm mùi thất bại ở đây, đã chiến đấu và đã phải xa thành phố mấy chục năm nay, giờ đây trở về trong sự theo dõi của đồng bào, đồng chí và trong vòng vây dày đặc của kẻ địch. Những đường phố, chợ búa, nhà máy, những xóm lao động nghèo, quen thân xưa kia, giờ đây chắc chắn đã nhiều thay đổi, nhưng có còn giữ chăng những kỷ niệm của những con người Sài Gòn, như tôi, quyết tâm ra đi để rồi quyết tâm trở về trong một ngày nắng ấm. Đã một lần rồi, tôi đã cố trở về nhưng chưa đạt và lần này nữa, chưa phải là lần trở về hoàn tất, nhưng vẫn đầy thú vị như trong một giấc mơ đẹp. Trong một phút bao nhiêu hình ảnh tưởng tượng về Sài Gòn, xưa có, nay có, diễn qua đầu tôi như một cuốn phim. Thấy tôi ngồi im, đồng chí Mười Khang 2 nhắc:

    - Thế nào? Nhận nhiệm vụ ấy chứ? Chúc mừng nhé!

    Thế là đồng chí đến bắt tay và ôm hôn tôi, căn phòng tức thì vang lên mỗi người một câu chúc mừng, gửi gắm, rộn rã tiếng cười vui, không còn là không khí buổi họp công tác nữa.

    Tôi trao đổi vài câu với anh Mười Khang rồi xin phép đi chuẩn bị cho cuộc hành trình vào Sài Gòn. Mọi việc ở nhà anh Mười Khang đảm trách.

    Về đến nhà riêng của mình, nhìn xung quanh cảnh vật quen thuộc từ bao năm, tôi bỗng chốc xúc động với sự tạm biệt. Một cơn gió nhẹ lọt vào, phảng phất hương vị ngọt ngào của muôn loài hoa lá rừng cây. Trên cánh đồng ruộng hẹp trải dài trước nhà, dọc theo thung lũng, từng đàn chim nhỏ vội vã lượm nốt những hạt lúa còn rơi rớt của vụ mùa sản xuất tự túc vừa qua. Dòng suối róc rách men theo đồng ruộng, len lỏi dưới những rặng cây xơ xác vì bom đạn, mới nhú một ít mầm non mơn mởn. Mọi cảnh vật hôm nay dường như cũng đang có một tâm hồn dào dạt, tươi vui, quyến luyến. Không biết tôi còn ngồi trầm ngâm như vậy mấy phút nữa nếu như không có các anh Chín Vinh 3 và Hai Lê 4 - Phó Chính ủy và Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Miền bước vào, kéo tôi về với thực tại.

    - “... Anh cần gì nữa, anh đã bằng lòng với tổ chức và thành phần Ban Liên hợp của anh chưa? - Anh Chín Vinh hỏi.

    Tôi đồng ý giữ nguyên tất cả những gì đã được sắp xếp và chỉ yêu cầu cho tôi thêm đồng chí Tư Bốn 5. Đồng chí là một cán bộ tình báo, anh hùng quân đội, đã ở trong Sài Gòn hơn ba năm và mới ra căn cứ mấy tháng nay sau khi đã có triệu chứng bị lộ. Đồng chí rất thạo Sài Gòn, rành từng đường phố, biết nhiều nhân vật thuộc các giới đô thành. Ngoài giúp tôi một số việc đồng chí sẽ là người lái xe của tôi nếu địch đồng ý để ta tự lo người lái.

    Anh Hai Lê lại nhắc:

    - Trung ương còn hỏi anh lấy tên gì điện ngay ra để kịp báo qua Paris, phái đoàn ta cần chuyển cho Mỹ - ngụy.

    Từ lâu tôi cũng như mọi người, có dùng tên thật bao giờ đâu mà thường dùng bí danh và thỉnh thoảng lại thay đổi nhằm gây khó khăn phần nào cho sự theo dõi của địch, giữ bí mật cho hoạt động của ta. Mỗi giai đoạn dùng một cái tên cho một công tác nào đó là chuyện thông thường của chúng tôi trong chiến tranh. Giờ đây, trước một nhiệm vụ mới, tôi xuất hiện mặt đối mặt với đối phương, tất nhiên phải lấy một cái tên nào đó. Hầu như không suy nghĩ, tôi lấy ngay tên “Nguyễn Việt Châu” - tên của người em ruột vô cùng thân thiết đã hy sinh năm 1969 trong lúc đang chủ trì cuộc họp Đảng ủy thị xã Cần Thơ. Hai anh em chúng tôi đã cùng sống ở Sài Gòn, cùng tham gia khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, cùng đi kháng chiến từ Sài Gòn thân yêu, nay tôi trở về thành phố này tự nhiên nhớ đến người em yêu quý, người đồng chí chết sống có nhau, được mang cái tên không lúc nào quên này thì sung sướng biết mấy. Nhưng rồi một hôm trong bữa ăn bình thường của Bộ Tư lệnh Miền có mặt cả anh Bảy Cường 6 tôi mới sực nhớ ra rằng tôi về Sài Gòn không như một người xa lạ mà lại mang một cái tên khác thì thực là bất tiện. Vì nhân dân Sài Gòn hẳn nhiều người chưa thể quên những đứa con đã ra đi kháng chiến từ những năm nào và từ ấy đã gửi gắm vào đó niềm tin và hy vọng. Và kẻ địch không ít người đã từng biết tôi ví như Trần Thiện Khiêm - Thủ tướng ngụy quyền, Lâm Văn Phát - Thiếu tướng ngụy quân và một số tướng khác. Sau khi tốt nghiệp trường quân sự Đà Lạt của Pháp, họ đã ra Đồng Tháp Mười xin đi kháng chiến năm 1947. Là Tư lệnh Quân khu 8 lúc ấy tôi đã thu nhận cho họ đi học và tập sự ở trường quân chính quân khu. Nhưng rồi không chịu được gian khổ, không có tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, nên họ lại trốn về đầu hàng Pháp trở lại, tiếp tục phục vụ chủ Pháp rồi chủ Mỹ cho đến nay. Ngay bọn Mỹ có lẽ chúng đã có hàng chục tấm ảnh của tôi. Như vậy tốt nhất dùng tên từ trước mà bạn, thù ai cũng đã biết. Các anh ở Trung ương Cục và Quân ủy Miền đều đồng ý. Thế là lại đề nghị Trung ương chấp thuận và điện qua Paris để thông báo cho đối phương: Trưởng đoàn đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là Trung tướng Trần Văn Trà.

    Chỉ còn một ít thời gian, tôi vội phác qua kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho công tác mới, kiểm tra lại tổ chức của Đoàn, bàn kỹ với anh Ba Trần 7 về nhiệm vụ, về người, về tài liệu, phương tiện, đặc biệt về thông tin liên lạc, dự kiến các tình huống, quyết định các biện pháp và giao anh Ba Trần - phó đoàn thay tôi điều khiển mọi công việc thực hiện.

    Anh Ba Trần quê Hóc Môn sống từ nhỏ ở Sài Gòn, đã đi kháng chiến từ những ngày đầu chống Pháp năm 1945, là Tham mưu phó Miền, đặc biệt phụ trách tổ chức và điều khiển đoàn tình báo chiến lược. Anh thạo Sài Gòn, hiểu biết nhiều về địch, tôi tin ở khả năng của anh và nghĩ có lẽ địch cũng sẽ nể nang anh do dáng người khỏe, trắng, mập, có bề thế và chững chạc.

    Còn tôi thì họp với Bộ Tư lệnh Miền có các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần... dự, bàn sâu cụ thể về mọi biện pháp phối hợp đấu tranh giữa bàn hội nghị và trên chiến trường. Tôi nhấn mạnh nếu trên bàn hội nghị bốn bên ở Sài Gòn, kẻ địch phải kiêng nể chúng tôi, chúng tôi có giành được thắng lợi nào trong việc triển khai thực hiện Hiệp định, thì đó chủ yếu là do sức mạnh của bộ đội ta trên chiến trường, do uy thế của các anh bên ngoài này là chính. Chúng tôi hứa sẽ xứng đáng là những người đại diện của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam anh hùng ngay giữa thủ đô của địch và cũng là giữa lòng đồng bào thân yêu của ta.





-----------------------------------------------------------------
1. Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu.
2. Đại tướng Hoàng Văn Thái, lúc ấy là Trung tướng.
3. Thiếu tướng Trần Độ.
4. Thiếu tướng Lê Văn Tưởng.
5. Thượng tá Nguyễn Hữu Trí.
6. Đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Bộ Tư lệnh Miền.
7. Thiếu tướng Trần Văn Danh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #66 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:29:12 am »

    28/01/1973 là ngày mà chúng tôi phải có mặt tại Sài Gòn. Đã hẹn giờ cho Mỹ đưa trực thăng đến đón chúng tôi ở Thiện Ngôn, một địa điểm nằm về phía bắc Tây Ninh, ngay trên quốc lộ 22. Thiện Ngôn trước kia có một lõm dân cư nhỏ sống nghề rừng. Trong chiến tranh, Mỹ đã đuổi hết dân và xây dựng ở đây thành cứ điểm cho một chiến đoàn Mỹ đóng, có sân bay, kho tàng, bãi tập để từ đây đánh phá càn quét chung quanh. Đầu năm 1972 - lúc này quân ngụy đã thay thế cho Mỹ, Thiện Ngôn là hướng thứ yếu của chiến dịch “Nguyễn Huệ” 1. Trong chiến dịch, ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm này. Cho nên Thiện Ngôn lúc ấy chỉ là một bãi chiến trường cũ, hoang vắng, cây cối cháy trụi, mặt đất, mặt đường loang lổ hố bom đạn, xác tăng, thiết giáp, pháo, xe vận tải Mỹ ngổn ngang đây đó. Chỉ còn lại đường băng sân bay là tạm sử dụng được cho trực thăng. Sau khi báo cho địch ngày giờ đón, chúng tôi phái một tổ trinh sát tới tại Thiện Ngôn, dựa vào hầm hố cũ sửa sang lại thành công sự vững chắc, ở đây chờ địch, trước, trong và sau giờ hẹn. Anh em tổ này thường xuyên cứ 15 phút điện cho chúng tôi biết mọi tình hình diễn biến tại đây. Trong lúc đó một đoàn cán bộ, với đủ phương tiện, thực sự chuẩn bị điểm xuất phát của Đoàn ở sân bay Lộc Ninh. Và toàn Đoàn chúng tôi ung dung tổ chức ăn tết Quý Sửu trước. Chúng tôi biết rằng đến Sài Gòn là phải khẩn trương bắt tay vào việc nên mặc dù còn 4, 5 ngày mới tới Tết âm lịch, chúng tôi tranh thủ lúc còn “ở nhà”, vùng tự do giải phóng của ta, cùng nhau hưởng một cái tết dân tộc đậm đà tình nghĩa người đi kẻ ở. Ăn tết trước! Âu cũng chỉ là lặp lại một sự việc đã diễn ra đôi lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc ta. Quang Trung - Nguyễn Huệ đã khao quân ăn tết trước, Tết Kỷ Dậu (1789), tại địa điểm tập kết quân ở Tam Điệp để rồi tiến về Thăng Long, đại phá quân Mãn Thanh làm nên chiến công hiển hách Đống Đa và chấm dứt vĩnh viễn ngay từ đó sự đô hộ của kẻ thù phương Bắc trên đất nước ta. Mùa xuân năm 1968 toàn miền Nam cũng đã ăn tết trước, Tết Mậu Thân, để rồi xông lên tiến hành cuộc Tổng tấn công và nổi dậy, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm kinh hoàng Nhà Trắng, làm mất vía Lầu Năm Góc và buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán với ta ở Paris, và rồi kết thúc hội nghị dài dằng dặc vào mùa xuân này. Mùa xuân này, Xuân Quý Sửu, chúng tôi lại ăn tết trước để vào tận giữa sào huyệt của quân thù đòi chúng thi hành đúng đắn Hiệp định và xem chúng còn giở trò gì, chúng thực sự muốn gì.

    Giữa căn nhà hầm của Bộ Tư lệnh Miền, bữa cơm Tết đậm đà hương vị. Không có gì thịnh soạn lắm nhưng cũng có bánh tét và cả bánh chưng, có thịt heo tự túc lại có thịt heo rừng, có dưa hấu và có rượu mùi, có sản phẩm tại địa phương lại có cả quà từ Hà Nội. Các anh bên Trung ương Cục, Mặt trận, Chính phủ, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Miền, đại diện các cơ quan đoàn thể và cả phóng viên Báo Quân giải phóng... đã đều dự cùng các thành viên trong đoàn chúng tôi. Thật là thân tình và ấm cúng. Niềm vui tỏa trên nét mặt mọi người. Niềm vui tràn trên từng ly rượu. Chúng tôi chúc nhau thắng lợi, hẹn ngày gặp lại rực rỡ hơn hôm nay, chúc thành công cả trên bàn hội nghị, cả trên bãi chiến trường. Vào giữa bữa cơm Tết, câu chuyện đang râm ran thì chúng tôi nhận được bức điện từ Thiện Ngôn: “Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ đến đón Đoàn mà có 2 phi cơ địch bay lượn vài vòng, thả một số loạt bom quanh sân bay. Mảnh bom cùng mảnh xác tăng, thiết giáp bay tung tóe ngay quanh hầm chúng tôi. Sau đó yên tĩnh”. Mọi người lại rót rượu và cùng nâng cốc chúc sức khỏe của chúng tôi trong Đoàn, chúc mừng sự khôn ngoan và cảnh giác của chúng ta, chúc mừng sốt dẻo một trận thắng đầu tiên của Đoàn trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ - ngụy. Câu chuyện trong bữa cơm càng thêm giòn giã, chuyển qua bàn luận về sự kiện Thiện Ngôn vừa rồi, về khả năng lật lọng của Mỹ - ngụy đối với Hiệp định Paris, sự phức tạp trong nhiệm vụ của chúng tôi, cũng như trong công tác ở chiến trường. Mặc dù vậy, ở mọi người hôm ấy đều nung nấu một niềm tin mãnh liệt, niềm tin tất thắng, bất cứ trong tình huống nào. Ở mọi cặp mắt ánh lên sức sống rực rỡ của mùa xuân. Ngoài trời, những dòng nắng ấm xuyên qua kẽ lá sáng tỏ cả khu rừng, không khí khô ráo, mát mẻ dễ chịu. Khắp nơi, dọc theo mọi nẻo đường, men dài các trảng, màu trắng phơi phới của hoa ngành ngạnh, xen lẫn màu vàng óng ả của mai rừng. Vùng căn cứ năm nay xuân về cũng sớm, cảnh vật như cũng đua nhau hưởng ứng niềm vui thắng lợi.

    Lộc Ninh, một thị trấn đông dân và sung túc trong vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ, nằm cách Sài Gòn 10km ngay trên trục quốc lộ 13, chạy lên Campuchia rồi Lào. Quá về mạn bắc là quốc lộ 14 cũ đi lên Buôn Ma Thuột - Tây Nguyên và về mạn nam là đường 17, nối với vùng căn cứ Bắc Tây Ninh của ta. Từ khi được giải phóng, tháng 4/1972, Lộc Ninh trở thành một vị trí quân sự quan trọng làm lo lắng cho quân địch phòng thủ ở Sài Gòn và là một trung tâm chính trị của vùng giải phóng B2. Lộc Ninh là vùng đất đỏ phì nhiêu thích hợp với cỏ cây miền nhiệt đới, với rừng cao su bạt ngàn từ thời thực dân Pháp để lại, sum suê những vườn cây ăn trái nào sầu riêng, chôm chôm, xoài, vú sữa... với hàng trăm mẫu tiêu và cà phê có giá trị. Lộc Ninh trước đây vốn là một huyện lỵ thuộc tỉnh Bình Long, một cứ điểm kiên cố nằm trong hệ thống phòng thủ ngoài cùng cho Sài Gòn do Quân đoàn 3 ngụy phụ trách. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ của ta, đây là hướng chính, là điểm then chốt nhất cần phải thanh toán trên vòng đai phòng ngự tuyến ngoài của địch. Nơi đây không những ta đã tiêu diệt cứ điểm kiên cố cấp chiến đoàn của địch mà còn diệt nhiều trung đoàn xe tăng, thiết giáp, nhiều chiến đoàn sừng sỏ của Quân đoàn 3 ngụy, bắt sống nhiều tù binh, nhiều sĩ quan trong đó có tên Đại tá Vĩnh mà sau này vì nhân đạo, vì thiện chí ta đã trả lại cho Mỹ - ngụy. Chính vì vậy mà Lộc Ninh trở thành biểu tượng chiến thắng của ta, nỗi nhục thất bại của địch. Ta muốn đối phương đưa trực thăng ra tận đây đón phái đoàn ta để chúng luôn nhớ đến đòn khủng khiếp ấy và từ địa điểm vinh quang này, Đoàn ta hiên ngang đi vào thủ đô ngụy.

    Ngay sau khi chúng đã phản trắc bằng cách ném bom vào điểm hẹn Thiện Ngôn, ta liền kịch liệt phản đối chúng và hẹn lại ngày đón ta ở Lộc Ninh này. Một lần đánh hụt nhục nhã, hẳn một lần chúng phải tỉnh ngộ với ngón cao tay của đối phương. Ta mong chúng không còn dám dở trò dơ bẩn nào nữa, tuy ta vẫn có đủ biện pháp để đề phòng, bởi ta đã rõ bản chất kẻ địch không bao giờ thay đổi. Sau khi ném bom Thiện Ngôn nhằm diệt Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đã bị phản đối, chúng lại cho quân càn quét đánh phá ném bom các điểm hẹn đón các đoàn đại biểu ta ở các Ban Liên hợp quân sự khu vực Pleiku, Mỹ Tho, Cần Thơ, ở các tổ liên hợp quân sự địa phương Phú Bài, Đà Lạt, Kon Tum, Tân An, Vị Thanh. Chúng luôn luôn lợi dụng từng trường hợp nhỏ, bất chấp lẽ phải, bất chấp các điều khoản của Hiệp định, giở mọi mưu mô thủ đoạn hòng tiêu diệt chúng ta, từng người, từng thôn xóm, nếu có thể. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại kịch liệt phản đối chúng ngay trong các kỳ họp 4 bên ở Sài Gòn và chúng lại xin lỗi, đổ cho bọn bảo an địa phương, hứa sẽ sửa trị. Chúng tôi thừa biết là chúng hứa suông cho qua chuyện. Những sự việc ban đầu đó buộc chúng tôi phải suy nghĩ rằng Mỹ - ngụy đã có kế hoạch phá Hiệp định Paris từ việc nhỏ đến việc lớn.

    Phải chăng lịch sử lại diễn lại: Pháp đã bị thua nặng phải ký Hiệp định Giơnevơ 1954 để rồi cùng Mỹ ra sức phá bỏ không thi hành Hiệp định; ngày nay Mỹ - ngụy bị đòn nặng phải ký Hiệp định Paris rồi lại giở trò phá bỏ Hiệp định lần này nữa? Dẫu sao thì chúng ta là những người đã có kinh nghiệm. Chúng ta đánh, và thương lượng, để có được một Hiệp định có lợi cho cách mạng. Chúng ta sẽ ra sức đấu tranh để thi hành mọi điều khoản của Hiệp định. Vì độc lập tự do của dân tộc, chúng ta sẵn sàng hy sinh chiến đấu đến cùng, đồng thời chúng ta cũng đưa ra bàn tay hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu vớt những người đã lầm đường lạc lối. Nhưng, với kinh nghiệm xương máu đã qua, chúng ta không khờ khạo để tin rằng kẻ địch của ta sẽ thành thật thi hành Hiệp định, do đó chúng ta không hề ngạc nhiên về những lật lọng này. Và chúng ta đã có sẵn hai kế hoạch cho hai tình huống có thể diễn biến: một là do ta đấu tranh có kết quả, do áp lực của nhân dân ta và nhân dân thế giới, kẻ địch buộc phải thi hành đúng Hiệp định Paris; hai là chúng lại phá bỏ Hiệp định. Tùy ở kẻ địch, ta nỗ lực cho tình huống một, nhưng ta cũng sẵn sàng đối phó với tình huống hai.

    Ngày 01/02/1973, đúng giờ hẹn, một đoàn trực thăng Mỹ, do một trung tá Mỹ chỉ huy, có sĩ quan ngụy đi theo, bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định, lượn một vòng trên vùng trời Lộc Ninh rồi lần lượt hạ cánh theo đội hình hàng dọc thứ tự từ đầu bắc sân bay. Trong khi bay trên trời hẳn chúng đã nhìn rõ sân bay, phố xá, nhưng quan trọng hơn, chúng còn nhìn rõ hàng loạt các trận địa phòng không và xe tăng, bố trí nhiều vòng xa xa quanh thị trấn, sẵn sàng tư thế đối phó với những trò phản trắc, nếu có. Hôm ấy thị trấn Lộc Ninh quả như một ngày hội lớn. Cờ cách mạng tung bay khắp nơi. Đặc biệt, tại sân bay tỏa ra một không khí trang nghiêm và trật tự. Đông đảo đồng bào các giới, cán bộ, bộ đội ăn mặc chỉnh tề, vẻ mặt hân hoan từ mọi nẻo trẩy về, sắp thành đội ngũ. Một rừng cờ đỏ sao vàng xen lẫn với cờ nửa xanh nửa đỏ và bao nhiêu là biểu ngữ, khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của Hiệp định Paris về Việt Nam, đòi nghiêm chỉnh và triệt để thi hành Hiệp định, hoan hô phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam... Một cuộc míttinh chớp nhoáng diễn ra, sôi nổi, khí thế, ngay bên cạnh đoàn trực thăng Mỹ im lìm nằm đợi. Nhiều đại biểu thay mặt các giới, các đoàn thể đứng lên phát biểu ngắn gọn nhưng đều có nội dung hoan nghênh Hiệp định, đòi thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hòa bình và hòa hợp dân tộc, chúc mừng Phái đoàn ta và gửi gắm lòng tin tất thắng vào sự đấu tranh của Phái đoàn. Tôi đã thay mặt Đoàn tỏ lời cảm ơn cán bộ, chiến sĩ đồng bào đã tiễn đưa thân tình trọng thể, ghi nhớ điều dặn dò gửi gắm vào Đoàn, hứa xứng đáng với niềm tin ấy. Các sĩ quan và tổ lái người Mỹ cố tỏ ra văn minh, đứng lặng lẽ nhìn, nhưng các sĩ quan ngụy thì bối rối tức bực ngồi lì trong trực thăng mà không dám ra ngoài.

    Cuộc míttinh kết thúc, theo lịch của Tư lệnh căn cứ sân bay Lộc Ninh, đoàn trực thăng Mỹ nổ máy khởi động. Tôi quay nhìn khắp lượt đồng chí, đồng bào, trùm lên cảnh vật Lộc Ninh cái nhìn trìu mến rồi lần lượt bắt tay mọi người. Tôi ôm hôn các đồng chí Văn Phác - Cục phó Cục Chính trị Miền đã cùng tôi tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ cũng ngay tại Lộc Ninh này năm trước, đồng chí Lê Thế Thưởng - phụ trách tuyên huấn của Miền, người đã có lần cùng tôi đi suốt dọc đường Trường Sơn. Đồng chí Thưởng hẹn: “Tôi sẽ gửi tặng anh tấm ảnh tự tay tôi chụp về quang cảnh nhân dân tin yêu tiễn anh và phái đoàn ta vào Sài Gòn hôm nay”. Đoàn chúng tôi vẫy chào đồng bào, đồng chí rồi hàng hai nghiêm trang lần lượt lên trực thăng trước sự quyến luyến của mọi người, trước rừng cờ hoa rung chào tiễn biệt. Viên thiếu tá Mỹ chỉ huy chiếc trực thăng của tôi tỏ ra rất lễ phép, cẩn thận kiểm tra chiếc ghế ngồi của tôi rồi bước xuống đứng nghiêm chào, mời tôi lên, đỡ tôi ngồi vào chỗ thoải mái, gài nịt an toàn cho tôi, xong lui về ngồi vào vị trí của y. Đoàn trực thăng bốc lên thứ tự theo đội hình, quanh một vòng trên bầu trời sân bay, nghiêng nghiêng chào rồi thẳng về Sài Gòn dọc theo quốc lộ 13. Không phải chỉ đoàn người đông đảo ở sân bay vẫy chào đoàn trực thăng chúng tôi mà hầu như tất cả mọi người, những người đang đi trên đường, đứng ở sân nhà, phố xá, đang làm trong ruộng lúa, rẫy khoai quanh Lộc Ninh đều ngừng việc đứng lên vẫy chào vui vẻ. Một cảnh tượng hết sức cảm động, hết sức hòa bình ngay ở khu vực còn đầy rẫy vết tích của chiến tranh tàn phá. Những người Mỹ ngồi trên trực thăng này, cả bọn ngụy nữa, họ nghĩ gì trước cảnh tượng đó, trái ngược với cảnh mới cách đây mấy ngày thôi, cũng những chiếc trực thăng này, vốn đã gây ra biết bao chết chóc chia ly cho bao gia đình, bay đến đâu, dưới cánh nó cũng đều vắng vẻ, mặt đất không một bóng người! Bất giác viên thiếu tá Mỹ, quay lại phía tôi, vừa tươi cười, vừa kính cẩn nói: “Các ông đã thắng cuộc”.

    Đàn trực thăng bay dọc theo đường 13, qua Bình Long, Tầu Ồ, Chơn Thành, Bàu Bàng, Bến Cát... tất cả những nơi này đều là chiến trường của rất nhiều trận đánh ác liệt giữa ta và quân Mỹ, quân ngụy, trong nhiều năm, là nơi còn ghi dấu của bao chiến công oanh liệt của những chiến sĩ miền Đông gian lao anh dũng. Nhìn xuống rừng cây, trước kia um tùm cây to, cây nhỏ chằng chịt chen nhau, mà nay xơ xác hoang tàn. Mặt đất chi chít những hố bom. Nhiều vệt dài tàn phá của bom B-52 rải thảm, nằm liền nhau, vắt chéo lên nhau, rừng tan nát. Hèn chi mà từ trên nhìn xuống bọn Mỹ tưởng chừng là nơi nào B-52 chúng đi qua là trên mặt đất ở đó không còn sinh vật nào sống sót, rồi huênh hoang rằng B-52 là thần chiến tranh khủng khiếp. Đây rồi, ta đang bay qua sông Sài Gòn, kia cầu Bình Lợi nằm giữa hai hàng lưới thép dày, sâu tận đáy sông. Và, An Phú Đông, rồi Tân Sơn Nhất. Đàn trực thăng hạ cánh xuống phần sân bay quân sự. Đoàn chúng tôi nói lời cảm ơn với tổ lái và bắt tay tạm biệt. Mọi người gọn gàng trong bộ quân phục chỉnh tề, không có quân hàm của Quân Giải phóng, đứng thành hàng một cách trật tự trên sân bay. Các sĩ quan xách cặp, đeo súng ngắn. Các chiến sĩ đầu đội mũ tai bèo, vai đeo ba lô và khoác súng AK. Nhưng mọi người đều thống nhất mang dưới chân mình đôi dép cao su nổi tiếng. Không biết Mỹ - ngụy có hiểu được cái dụng ý này của chúng tôi không, nhưng các nhà báo trong nước và ngoài nước đông đảo có mặt ở sân bay hôm ấy thì rất tinh. Họ quay phim, chụp ảnh lia lịa. Tôi mỉm cười thú vị khi thấy họ chú ý quay nhiều, chụp nhiều những đôi dép cao su. Họ đã nói: “... và những đôi dép cao su giản dị, hiên ngang, họ đặt chân xuống Tân Sơn Nhất. Họ đi vào thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng hòa lần này cũng vẫn bằng những đôi dép cao su từ Mậu Thân 1968..." (UPI 1-2-73). Đúng, các nhà báo nói đúng sự thật. Những đôi dép cao su đã từng in dấu vết hiên ngang trên đường phố Sài Gòn, ở nhiều mục tiêu quan trọng và cả ở sân bay Tân Sơn Nhất này nữa, cũng như trên khắp các thị trấn, thị xã, thành phố toàn miền Nam hồi Tết Mậu Thân để có được khung cảnh ngày nay - những đôi dép cao su vào Sài Gòn lần này bằng bước đi đầy thiện chí - để rồi một ngày nào đó chắc chắn cũng những đôi dép cao su sẽ trở về Sài Gòn một lần nữa trong ngày giải phóng Sài Gòn. Tôi nhìn từ đầu hàng đến cuối hàng các cán bộ và chiến sĩ của tôi trong đoàn mà nghe lòng vui sướng và tự hào. Những ánh mắt sáng, những nụ cười tươi, họ đứng với dáng đứng thẳng và chững chạc uy nghi, tất cả biểu lộ một lòng tự tin của kẻ chiến thắng. Họ là những cán bộ và chiến sĩ từ khắp chiến trường với nhiều cương vị khác nhau, bộ phận khác nhau và lứa tuổi cũng khác nhau. Có người có mặt từ cuộc kháng chiến chống Pháp, có người bắt đầu từ chiếc mõ tre trong đêm Đồng khởi. Có người đứng lên cầm súng từ Tết Mậu Thân ngay tại đất Sài Gòn này, cũng có người mới vừa tròn tuổi quân, nhưng đã từng góp phần vào chiến thắng Lộc Ninh, đường 13 bất diệt. Họ đứng đó giản dị bình thường, thản nhiên trước ống kính của các nhà báo cũng như trước ánh mắt soi mói có, tò mò có, ngạc nhiên có, của quân Mỹ - ngụy lăng xăng đông đảo rảo quanh. Từ trong đám đông, xuất hiện những bộ quân phục, quân hàm của quân đội Hungary và Ba Lan đến gần chúng tôi. Thì ra các đồng chí người Hungary và Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát cũng ra sân bay đón chúng tôi với nhã ý là sẵn sàng giúp đỡ khi Đoàn cần. Tôi đã thân mật chào các đồng chí, tỏ lòng cảm ơn nồng nhiệt. Sau khi làm vài thủ tục đơn giản xong, chúng tôi lên xe, một đoàn xe du lịch đen của Mỹ hiệu Ford có, hiệu Chevrolet có, đi về trụ sở của Đoàn mà Mỹ - ngụy đã tự sắp xếp: “Trại Đavít" - ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất.




----------------------------------------------------------------
1. Chiến dịch tấn công của ta năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #67 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:34:24 am »

    Trại Đavít - một trại của lính Mỹ trước đây nay đã được sửa sang lại, bao gồm nhiều nhà trệt tạm thời bằng gỗ và lợp tôn, xây dựng thành từng hàng thẳng, giữa có những đường đi rộng, thỉnh thoảng mới được một vài cây có bóng mát. Nắng chói chang, nóng dữ dội, đặc biệt là vào buổi trưa. Ban ngày oi bức như vậy lại thêm tiếng gầm rú của đủ loại máy bay và trực thăng, tiếng ồn ào tạp nham từ mọi hướng làm cho ai nấy đâm ra bực bội, khó chịu, còn đâu trí óc thảnh thơi suy nghĩ làm việc và nghỉ ngơi. May mà khí hậu tự nhiên ở đây từ mặt trời lặn về đêm là mát dịu trở lại, nhưng vẫn không dứt được tiếng ồn chát chúa liên tục. Thật rõ là một trại lính. Hoàn toàn phù hợp với người lính đang trong cuộc chiến tranh, hãy còn quá xa với các tiêu chuẩn tối thiểu cho những phái đoàn ngoại giao. Đúng là bọn chúng chơi khăm chúng ta đây. Có lẽ chúng cũng mất nhiều công phu để tìm ra một trụ sở khá “thích hợp” cho cả hai phái đoàn ở chung: Phái đoàn quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Phái đoàn chúng tôi.

    Xe vừa vào khỏi cổng trại thì anh Lê Quang Hòa, anh Lưu Văn Lợi, anh Hồ Quang Hòa, anh Bùi Tín và đông quá, toàn là quen biết, hầu như tất cả phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ùa ra vây chặt đoàn xe. Chúng tôi vừa xuống xe, anh Hòa tặng tôi một bó hoa lay ơn còn tươi mát của Thủ đô Hà Nội rồi mọi người chạy đến ôm hôn nhau, tiếng cười tiếng vỗ vai đôm đốp. Thật là cảm động, thật là tình thân ruột thịt của những đứa con cùng một mẹ - bà mẹ Tổ quốc đã quằn quại đau thương trong bao năm khói lửa của chiến tranh. Thật là gần gũi, thật là vui mừng khi những người bạn chiến đấu cùng sống chết với nhau ở chiến trường trước một kẻ thù tàn ác nay lại gặp nhau ngay trong lòng địch xung quanh dày đặc quân thù, vì mục đích cao cả: đấu tranh cho hòa bình, hòa hợp dân tộc.

    Tôi quay qua ôm hôn anh Đoàn Huyên - Phó Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã vào Sài Gòn trước để họp các phiên họp cấp Phó Trưởng đoàn, bàn các thủ tục làm việc. Rồi anh Dương Đình Thảo - đoàn viên của phái đoàn chúng tôi cũng vừa kịp đến Sài Gòn qua đường Paris, đã sốt dẻo chuyển cho tôi thơ và những lời thăm hỏi chúc mừng nồng nhiệt của chị Nguyễn Thị Bình, của phái đoàn ta và kiều bào ở Paris.

    Trại chia làm hai: một bên dành cho phái đoàn anh Hòa, một bên dành cho chúng tôi. Nhưng Mỹ - ngụy đã có nhã ý chuẩn bị cho hai Trưởng đoàn một cái nhà tương đối tươm tất, làm theo kiểu nhà sinh đôi, mỗi bên một người ở, có đủ phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ, phòng tắm rửa và vệ sinh. Các phòng cửa nẻo kín đáo, có đủ máy điều hòa không khí, đèn sáng, máy điện thoại và các tiện nghi khá tốt. Chúng tôi hiểu rõ “lòng tốt” của họ. Vì vậy mỗi người chúng tôi đã dọn một căn phòng khác để ở và làm việc trong dãy nhà chung với anh em. Còn nhà ấy đóng cửa lại và giao cho một số chuyên viên kiểm tra. Sau một thời gian lục lọi, tôi không biết mất bao nhiêu ngày, anh em cho chúng tôi xem một vài máy nhỏ tìm được, một số micrô rất bé gắn giấu trong nẹp bàn của phòng làm việc và phòng khách. Chúng tôi cười với nhau, không hiểu đây là công trình của Mỹ hay ngụy hay là trò chơi tinh nghịch của những tay thợ mộc kiêm chuyên viên điện tử. Còn nhiều những chuyện như thế này nữa, nào phá rối các làn sóng điện thông tin của ta liên lạc với vùng căn cứ, nào ghi trộm các điện của ta đánh đi... Nhưng thôi, nói làm gì, âu cũng là chuyện thông thường của Mỹ ở thời đại điện tử này, những chuyện ấy thấm gì với chuyện Watergate sau này ở Washington. Quan trọng là ta đã biết, đã đề phòng từ những chuyện nhỏ nhặt nhất. Đó chẳng qua là sự tiếp tục của một cuộc chiến tranh chưa chấm dứt mà kẻ địch đã dùng mọi thứ có thể dùng, từ những vũ khí hiện đại giết được nhiều người cùng một lúc đến những máy móc điện tử tinh vi nhất, những rađa, tia lade trong các máy nhìn trộm, nghe trộm, từ hàng rào McNamara đến trại Đavít này. Báo Sao và vạch (Stars and Stripes) của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương ra ngày 15/3/1973 đã công nhận “Mỹ vừa kết thúc ba cuộc chiến tranh lớn nhất trong thế kỷ này. Đây (chỉ chiến tranh xâm lược Việt Nam) là cuộc chiến tranh lớn nhất về tổng số bom đạn sử dụng, lớn nhất về sự tàn phá và cũng lớn nhất về sử dụng khoa học kỹ thuật trong chiến tranh!”.

     Đó là việc lạm dụng kỹ thuật hiện đại của Mỹ vào mục đích xâm lược, giết người, lừa đảo. Còn bọn ngụy thì kỹ thuật không có mà trí thông minh cũng không, nên đã được chủ Mỹ phân công, và chúng cố sáng tạo thêm, chuyên giở ra những trò hèn mọn nhỏ nhặt hằng ngày, gây khó dễ cho các phái đoàn ta, như hạn chế việc cung cấp thức ăn đồ dùng của chủ thầu vào trại Đavít, cấm các nhà báo, đặc biệt là cấm nhân dân tiếp xúc chuyện trò với các Phái đoàn ta, tìm cách cản trở việc đi lại của ta nhất là ngang qua phố xá Sài Gòn, gây trễ nải, làm hư xe, quân cảnh hộ tống đến chậm... rồi dùng trực thăng, xe tăng uy hiếp, mưu dùng tiền, gái mua chuộc. Đối với các đoàn đại biểu ta ở các khu vực, các tổ địa phương thì chúng đối xử càng tệ hại hơn nhiều. Bố trí chỗ ở tồi tệ, kém vệ sinh, chật chội, nóng nực, thiếu mọi phương tiện, ví dụ như đoàn khu vực Mỹ Tho, chúng bố trí vào một nhà nhốt gà vừa mới chuyển trong căn cứ Đồng Tâm, mùi hôi thối còn đang nồng nặc. Chúng cung cấp thực phẩm mất phẩm chất, có trường hợp như ở Huế, những đồ hộp quá hạn lâu đã hóa dòi. Trên bàn hội nghị bốn bên ở Sài Gòn chúng tôi luôn kịch liệt phản đối cách đối xử của chúng, đòi cử tổ điều tra và giải quyết thì Mỹ đổ thừa do ngụy. Woodward - Thiếu tướng, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả bộ: “Thật đáng tiếc, phía Hoa Kỳ không hay biết gì những sơ suất này. Phía Việt Nam Cộng hòa đảm nhận công việc ấy, họ báo cho chúng tôi rằng mọi việc đã hoàn tất”. Những lần như vậy, phía ngụy cúi gầm mặt im thin thít hoặc đổ cho cấp dưới, bọn địa phương, bọn thừa hành không được tốt, rồi cũng đồng ý cử tổ đi kiểm tra, họ hứa sẽ sửa sang lại nhà cửa, thêm thiết bị nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó.

     Không những thế chúng còn tổ chức những bọn lưu manh, côn đồ phối hợp với quân cảnh và cảnh sát của chúng, hành hung các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ta trong các ban, tổ liên hợp quân sự đi làm nhiệm vụ, như ném đá, ném đồ bẩn, thậm chí còn dùng gậy sắt, dao, búa đánh anh em ta bị thương như đồng chí Thiếu tá Lê Thành Nhơn và 2 đồng chí đại úy khác ở tổ Buôn Ma Thuột, 6 đồng chí ta ở Huế. Đồng chí Trần Hớn Ngọ bị đánh vào đầu bất tỉnh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi khi đang cùng tổ điều tra của Ban liên hợp làm việc. Tất cả các sĩ quan và chiến sĩ của ta trong các ban và tổ liên hợp đều là những người đã lập nhiều thành tích trong chiến tranh, trên nhiều chiến trường vừa qua, đã chiến đấu rất dũng cảm, như những mãnh hổ trong các trận đánh, giờ đây trên mặt trận đấu tranh mới này trong vùng địch kiểm soát, luôn tin tưởng ở chính nghĩa, ở tất thắng của cách mạng, đã rất bình tĩnh, vững vàng, không nao núng trước mọi hành vi xấu xa, uy hiếp hay mua chuộc nào. Chúng ta tự hào biết bao về họ, biết ơn biết bao đối với những anh “bộ đội Cụ Hồ” rất bình thường nhưng uy vũ không khuất phục, tiền tài không lóa mắt.

    Mỹ - ngụy giở những trò đê tiện ấy với mục đích gì? Hẳn không phải để tạo ra một không khí tốt lành để cùng cộng tác thi hành đúng đắn Hiệp định, hẳn không phải tạo ra một không khí hòa hợp và hòa giải dân tộc sau bao năm hận thù vì chiến tranh tan nhà, nát cửa. Làm sao mà con người có lý trí đứng trước những hành vi ấy của Mỹ - ngụy mà vẫn tin rằng chúng thực tình muốn chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình. Rõ ràng chúng trắng trợn không che giấu bộ mặt nham hiểm rắp tâm phá bỏ Hiệp định.

    Vấn đề quan trọng nhất của Hiệp định và cũng là vấn đề đầu tiên phải thi hành là ngừng bắn. Điều 2, 3 của Hiệp định và Nghị định thư về ngừng bắn quy định rất rõ ràng cụ thể về chấm dứt hoàn toàn chiến sự, các lực lượng ở nguyên vị trí,... Nhưng từ 28/01/1973 là ngày ngừng bắn có hiệu lực đến nay (mãi đến ngày 30/4/1975), mỉa mai thay, chưa hề có ngày nào ngừng tiếng súng trên bất cứ chiến trường nào ở toàn miền Nam Việt Nam.

    Ngay đúng giờ ngừng bắn có hiệu lực, ngụy quyền Thiệu đã cho cả chiến đoàn có xe tăng dẫn đầu, hành quân lấn chiếm Cửa Việt của ta. Ở đây ta đã kiên quyết đánh trả, tiêu diệt quân địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Và như vậy là ở bàn hội nghị bốn bên ta có thế mạnh tố cáo chúng vi phạm Hiệp định. Ngô Du - Trung tướng Trưởng đoàn ngụy cãi liều: chúng tôi hoàn toàn chiếm Cửa Việt hồi 07 giờ 58 phút sáng 28/01 (chẳng là đúng 08 giờ sáng 28/01 là ngừng bắn có hiệu lực mà). Tôi đập lại: “Cửa Việt đã được chúng tôi giải phóng từ tháng 5/1972 cơ mà. Chúng tôi có mọi chứng cớ hiển nhiên về vụ lấn chiếm trái phép này của quân đội các ngài sau giờ ngừng bắn. Nhưng tôi xin thông báo với Trung tướng tin sốt dẻo rằng nhờ cảnh giác cao, quân giải phóng chúng tôi đã tiêu diệt quân lấn chiếm và làm thất bại cuộc phiêu lưu này, sau khi cố dùng loa kêu gọi họ hãy lùi lại, chớ có vi phạm Hiệp định, nhưng không có kết quả. Đây là bài học cho những ai không muốn tôn trọng Hiệp định, không tôn trọng chữ ký của mình”. Chúng sạm mặt lại, cay đắng.

     Để chặn đứng việc các máy bay địch bay ngang qua vùng ta kiểm soát, ta đòi bàn ngay Điều 3 Nghị định thư về ngừng bắn: “Các ban liên hợp quân sự sẽ thỏa thuận về các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc di chuyển của các máy bay vận tải quân sự, các loại xe vận tải quân sự và tàu thuyền vận tải quân sự của bên này phải đi qua vùng do các bên kia kiểm soát”. Cả phái đoàn Mỹ và ngụy đều lờ đi như không cần thiết. Nhưng rồi trong phiên họp ngày 16/02 phía Mỹ giở trò báo tin khẩn cấp: một C-47 bị bắn rơi ở nam An Lộc, 2 nhân viên phi hành Mỹ bị thương nặng. Tiếp các phiên tới, Mỹ đều phản đối ta và đòi cử tổ điều tra. Ta đồng ý điều tra nhưng nhấn mạnh rằng trong khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chưa có thỏa thuận về hành lang, độ cao v.v... của máy bay khi bay qua vùng quân giải phóng kiểm soát thì không ai chịu trách nhiệm về sự an toàn của nó cả. Rốt cuộc Mỹ cũng phải im đi cho xong chuyện. Rõ ràng vừa dựa vào pháp lý Hiệp định vừa kiên quyết đối phó với các vụ vi phạm, ta buộc Mỹ - ngụy phải kiêng nể. Nhưng nơi nào ta yếu và sơ suất trên chiến trường thì dù địch vi phạm mười mươi đấy, chúng vẫn cãi cù nhầy và bất cần sự phản đối của ta. Ví như vụ ngụy lấn chiếm Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi. Vùng Sa Huỳnh ta đã giải phóng năm 1972 trong đó có một đoạn quốc lộ 1 tương đối dài. Sau khi ngừng bắn có hiệu lực, ngụy mở hành quân hàng sư đoàn lấn chiếm nối lại giao thông của chúng trên đường 1. Ta kịch liệt vạch trần sự vi phạm, đòi cử tổ đi điều tra, nhưng rồi Mỹ - ngụy ì ra, xem như việc đã rồi. Cả những làng ấp dọc đường 4 Mỹ Tho trước 28/01 do ta kiểm soát nhưng sau 28/01 địch liên tiếp hành quân và đóng đồn bót sâu vào vùng ta. Ở đây vì lực lượng ta còn sơ hở, ngỡ ngàng, sợ nổ súng đánh trả thì vi phạm Hiệp định, nên địch mới lấn chiếm được và nói ngược nói ngạo trên bàn hội nghị là vùng của chúng. Vấn đề ngừng bắn là vấn đề cốt tử của Hiệp định, thế mà ngụy quyền Thiệu không cần đếm xỉa đến, ngang nhiên phá hoại Hiệp định từ gốc. Kế hoạch “Lý Thường Kiệt” năm 1973 của chúng đề ra 5 biện pháp chiến lược lớn là:

    - Lấn chiếm và bình định làm biện pháp trung tâm.

    - Xây dựng quân đội mạnh, chính quyền mạnh làm trụ cột. 5 năm trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa và hiện đại hóa quân lực Việt Nam Cộng hòa.

    - Phá Hiệp định Paris về Việt Nam những điểm nào không có lợi cho Việt Nam Cộng hòa (ngụy).

    - Phục hồi kinh tế 1973-1974 - trong kế hoạch dài hạn 1973-1978 nhất là công nghiệp, đi đôi bao vây phong tỏa kinh tế đối phương.

    - Duy trì lực lượng răn đe bằng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á.

    Chúng còn ra sức thực hiện cái gọi là chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “chiến dịch cắm cờ”, dùng cả bộ binh, cả trực thăng để cắm cờ. Chúng đã chuẩn bị 1,6 triệu cờ ba que ngụy cho việc này.

    Thông cáo của Ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh Việt Nam ra ngày 06/4/1973 sơ kết rằng: “Trong thời gian 2 tháng từ 28/01 đến 28/3/1973 chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Paris hơn 7 vạn lần, bao gồm 19.770 cuộc hành quân lấn chiếm, 23.542 vụ bắn đại bác, 3.375 vụ ném bom, bắn phá bằng máy bay vào vùng giải phóng và 21.075 cuộc hành quân cảnh sát trong vùng do họ kiểm soát”.

    Theo tài liệu địch thì cho đến tháng 10/1973 chúng đã đóng thêm 1.180 đồn bót trên toàn miền Nam, kiểm soát thêm được 7.253 ấp so với trước ngày 28/01/1973 1.

    Rõ ràng Mỹ - ngụy, mặc dù đã ký kết Hiệp định, vẫn thản nhiên hành động theo kế hoạch từ trước của chúng, ra sức bình định lấn chiếm, xây dựng quân đội mạnh lên để thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho chúng hòng độc chiếm miền Nam Việt Nam. Trong một phiên họp 2 trưởng đoàn miền Nam tháng 3/1973, Dư Quốc Đống - Trung tướng, Trưởng đoàn ngụy, thay thế Ngô Du, khi bị dồn về thế bí đã nói toạc chân tướng: “Tôi không tán thành Hiệp định Paris vì nó chỉ có lợi cho các ngài”. Tôi đã nghiêm nghị phê phán: “Như vậy là đã rõ, Trung tướng Dư Quốc Đống, người đại diện của bên Việt Nam Cộng hòa để thi hành Hiệp định mà không tán thành, chống lại Hiệp định, thì các ngài vi phạm, phá bỏ Hiệp định là tất nhiên, là rõ ràng”. Hắn đã hoảng hốt vội lúng túng bào chữa: “Cá nhân tôi không tán thành... nhưng... vì... đã có Hiệp định chúng tôi phải thi hành, không có phá...”.

    Ai cũng biết, trước khi Hiệp định Paris được ký kết, Hoa Kỳ đã gấp rút chở vũ khí, phương tiện chiến tranh qua miền Nam Việt Nam củng cố lại quân ngụy, bù đắp số bọn ngụy đã bị tổn thất nặng trong năm 1972 và ra sức lập một kho dự trữ đầy đủ để quân ngụy vẫn mạnh khi Mỹ rút đi. Kissinger đã từng tuyên bố trong các cuộc họp báo ở Mỹ rằng: “Mỹ rút, Việt Nam Cộng hòa phải mạnh”. Công việc này vẫn tiếp tục với nhịp độ cao sau khi Hiệp định có hiệu lực. Tất cả những số liệu này nhiều tài liệu đã ghi rõ, báo chí thế giới cũng đã nói đến nhiều, thống kê đầy đủ, thiết tưởng tôi không cần phải lục ghi lại ở đây.

    Không những thế, quân Mỹ và chư hầu Mỹ buộc phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định, thì chúng lại chuyển cho quân đội Thiệu các trang bị tối tân, các kho dự trữ hậu cần, các căn cứ của chúng.

    Điều 5 và 6 Hiệp định đã quy định trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Hiệp định ký sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác, cũng như việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và nước ngoài khác. Nghị định thư ngừng bắn cũng nói ở Điều 8 là “Hoa Kỳ và các nước ngoài khác nói trong điều 5 của Hiệp định sẽ mang đi với họ mọi vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của họ...”.

    Để bảo đảm việc thi hành đúng đắn các điều khoản nói trên, điều 3 đã nêu rõ là bắt đầu từ khi ngừng bắn các lực lượng của Hoa Kỳ sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi kế hoạch rút quân và Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ quy định thể thức.

    Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ phối hợp, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các điều 3, 5, 6... ấy. Đặc biệt là Ủy ban Quốc tế phải kiểm soát và giám sát việc thi hành các điều đã nói ở trên.

    Trong các phiên họp Trưởng đoàn bốn bên ở Tân Sơn Nhất, chúng tôi luôn yêu cầu phía Hoa Kỳ cho biết kế hoạch rút quân và phá các căn cứ quân sự để phái các tổ liên hợp đi theo dõi và kiểm tra. Hôm nào cũng vậy, Woodward - Thiếu tướng, Trưởng đoàn Hoa Kỳ ậm ừ rồi đưa ra vấn đề khác. Nhưng một hôm ông ta làm ra vẻ trịnh trọng thông báo: “Kết quả việc nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, về phía Hoa Kỳ... đã tháo gỡ thủy lôi, mìn...”. Y nói vanh vách về số liệu, thời gian, không gian... rồi tới việc rút quân: “Đã rút ra khỏi Nam Việt Nam 8.000 có cả quân đồng minh”. Tôi lập tức phản đối: “Chúng tôi không thể chấp nhận sự thông báo hời hợt của phía Hoa Kỳ như vậy. Không ai có thể tin con số 8.000 hay bất cứ một số nào khác mà Thiếu tướng Woodward đưa ra, mà lại không nghĩ rằng đó có thể là bịa đặt. Tôi cho rằng bất cứ một cuộc rút quân nào của Hoa Kỳ hay quân một nước ngoài nào khác đều cần phải thông báo trước để có sự theo dõi và kiểm tra tại chỗ của Ban Liên hợp quân sự bốn bên cũng như sự kiểm soát và giám sát của Ủy ban Quốc tế như đã quy định. Không như vậy thì không con số nào có giá trị. Tôi phải ghi nhận rằng cho đến ngày nay chưa có một người lính Hoa Kỳ hay quân một nước nào khác đã rút khỏi miền Nam Việt Nam”.




------------------------------------------------------------------
1. Tài liệu thu được của địch sau ngày giải phóng hiện giữ tại Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc phòng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #68 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:39:37 am »

    Sau đó nhiều ngày, vào ngày 16/02/1973, Mỹ gửi công hàm cho ta chính thức chịu để cho tổ liên hợp quân sự bốn bên đến các địa điểm quan sát việc rút quân Mỹ và Nam Triều Tiên và được chụp ảnh. Thế là họ phải nhượng bộ. Qua các cuộc giám sát đó, rõ ràng quân Mỹ cũng như Nam Triều Tiên, khi bước chân vào Việt Nam họ đã được vũ trang đến tận răng, nhưng khi rút ra thì không mang súng ống gì cả mà toàn những chăn màn, đồ dùng và lủ khủ những vật kỷ niệm như voi sành, voi sứ, đồ đá Ngũ Hành Sơn... Anh em ta chất vấn thì họ trả lời: “Vũ khí trang bị đã chở bằng tàu thủy”. Đấy, lý lẽ bịp bợm như vậy đó.

    Việc này đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975, Mỹ mới bàng hoàng, bực bội là sao tìm mọi cách gian lận để lại trang bị nhiều cho quân ngụy mà thua vẫn hoàn thua, nên trong cơn tức giận mới nói toạc ra sự thật: “Với khối lượng khổng lồ các trang thiết bị và vật liệu để lại khi các lực lượng chúng ta rút về cộng với số lượng tiếp tế thêm về sau nhẽ ra quân lực Việt Nam Cộng hòa phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải” 1.

    Còn việc phá hủy các căn cứ quân sự?

    Woodward - Thiếu tướng Hoa Kỳ nghiêm trang báo: “Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng ở miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ nào của chúng tôi cả. Tất cả đã chuyển cho Việt Nam Cộng hòa từ trước khi ký Hiệp định. Hiện nay quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của Việt Nam Cộng hòa”.

    Thật là một sự lừa bịp trắng trợn hết chỗ nói.

    Một khi đế quốc đã có kế hoạch rồi, có mục tiêu rồi thì chúng hành động theo cách của kẻ xâm lược nói láo trơ trẽn bất kể người nghe là ai.

    Đáng lý thì Ủy ban Quốc tế có đủ khả năng phát hiện ra những vấn đề gian lận này, có quyền có những kết luận xác đáng lên án sự vi phạm Hiệp định của Mỹ -ngụy nhằm ngăn chặn việc phá hoại Hiệp định, tiếp tục chiến tranh. Ủy ban Quốc tế có 4 nước tham gia: Hungary, Ba Lan, Inđônêxia, Canađa. Về sau khi Canađa rút lui thì Iran thay thế và làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

    Cần nói thẳng ra rằng Canađa hầu như là của Mỹ, che chở cho Mỹ trong Ủy ban Quốc tế, cãi bừa, lấp liếm và cần thì phủ quyết. Trưởng đoàn Canađa là Đại sứ Gauvin, bề ngoài có vẻ lịch thiệp, nhưng nghe nói là một con người có tính độc đoán, trịch thượng, lấn lướt, coi thường người khác. Một hôm Gauvin ngỏ ý muốn đến thăm xã giao phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chúng tôi rất sẵn sàng, xem đây là một dịp khá tốt để nói chuyện thẳng thắn với vị đại biểu Ủy ban Quốc tế này. Tôi đã tiếp y ở phòng khách được chuẩn bị khá tươm tất theo điều kiện cho phép trong trại Đavít. Tôi đã ra tận xe để đón đại sứ vào và mời ngồi cùng tôi trên chiếc divan, vị trí trang trọng nhất trong phòng khách. Cùng đi với y có phụ tá về chính trị của đoàn Canađa và một phiên dịch. Phía ta có anh Võ Đông Giang - Ủy viên của đoàn và một số anh em khác. Ta dùng phiên dịch chính trong cuộc họp tiếp khách này là phiên dịch của ta, đồng chí Dũng, người đã dịch cho tôi trong tất cả các phiên họp trưởng đoàn bốn bên. Dũng là một thanh niên cừ khôi, nói tiếng Anh lưu loát, giọng khỏe, biết nhấn mạnh những đoạn cần thiết.

    Sau những thăm hỏi, chuyện trò có tính chất xã giao, Gauvin nói về vai trò, thành tích của Ủy ban Quốc tế nhất là giai đoạn Gauvin làm Chủ tịch, về vấn đề ngừng bắn, trao trả người các bên, về quân Mỹ và chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam... Tất cả đều có ý nói lên sự đắc lực của Ủy ban Quốc tế, sự khách quan công bằng và đặc biệt hàm ý trách ta vi phạm ở chiến trường nhiều nên đến nay vẫn chưa ngừng tiếng súng, có giọng đổ lỗi và hăm dọa. Tôi đã rất bình tĩnh và lễ độ ngồi nghe, vừa kiên trì nghe vừa cố hiểu hết ý nghĩa của từng lời nói. Ý hẳn đại sứ thấy nói đã dài và đủ nên dừng lại, nhìn tôi dò hỏi. Tôi thong thả mời khách ăn một vài món trái cây, mời hút thuốc. Rồi tôi bắt đầu nói:

    - “Thưa ngài, Đại sứ Gauvin, ngài nói rất đúng về vai trò rất quan trọng và tính khách quan rất cần thiết của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát việc thi hành Hiệp định. Tôi thú thật với ngài rằng chúng tôi rất đau xót khi thấy tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi khi đã có Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên đất nước mà chiến tranh tàn phá hàng mấy chục năm nay liên tục. Trên thế giới này tôi tin rằng không có dân tộc nào thấm thía mong đợi hòa bình như dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã biết chiến đấu và biết chịu đựng để tìm cho ra chân lý. Nhưng thưa ngài đại sứ, mọi việc đều có nguyên nhân của nó. Tôi xin phép ngài dở lại một vài trang lịch sử đã qua. Dân tộc chúng tôi đã giành được độc lập năm 1945. Thực dân Pháp lại xâm lược trở lại. Chúng tôi phải chiến đấu 9 năm trời mà thắng lợi nổi bật là trận Điện Biên Phủ, mới ký kết được Hiệp định Giơnevơ. Thời kỳ ấy cũng có Ủy ban Quốc tế Kiểm soát, trong đó có đại biểu Canađa, chắc ngài biết rõ?”. Gauvin gật gật đầu đồng tình. Tôi tiếp: “Nhưng Nixon lúc đó là Phó Tổng thống Mỹ tuyên bố với báo chí rằng: “Dù cho Pháp ký kết đình chiến ở Đông Dương, Hoa Kỳ cũng sẽ hành động một mình nếu điều ấy là cần thiết và sẽ gửi quân đội của mình sang vùng đó của thế giới”. Đó là lời thuật của Thời báo New York (New York Times) và Hoa Kỳ đã làm như vậy thật”.

    Gauvin làm một động tác khoát tay ngăn phiên dịch lại và nói một câu dài. Tôi nói với Dũng: “Đồng chí hãy tiếp dịch những lời tôi nói, bao giờ tôi nói hết, ngừng lại thì mới được nghe và dịch lời của ông ta”. Dũng lại dõng dạc dịch tiếp lời tôi.

    - “Tôi xin cung cấp một số liệu để ngài đại sứ biết: Từ năm 1955 đến năm 1960 có trên 800 chuyến tàu biển của Mỹ chở vũ khí và phương tiện chiến tranh các loại vào các cảng của Việt Nam đặc biệt là cảng Đà Nẵng, và cũng trong thời gian ấy số tiền viện trợ của chính quyền Ngô Đình Diệm là 1 tỷ 600 triệu đôla. Cả thế giới đều biết việc này. Đó là sự vi phạm trắng trợn Hiệp định Giơnevơ. Nhưng Ủy ban Quốc tế lúc đó, hoặc làm ngơ, hoặc che giấu hoặc bị áp lực nào đó nên không ngăn chặn hành vi phi pháp ấy. Vì vậy mà tiếng súng vẫn nổ ra và chiến tranh lại tiếp tục trên đất nước Việt Nam chúng tôi. Canađa là thành viên quan trọng trong Ủy ban Quốc tế lúc ấy tất nhiên không thể chối cãi về trách nhiệm lớn lao của mình”.

    Gauvin lại cố cắt ngang, nói một câu dài và định nói mãi nếu như tôi không bảo Dũng cứ dịch lời của tôi và dịch to hơn tiếng của Gauvin.

    Quả Dũng là một thanh niên cừ khôi, Dũng đã nói át cả tiếng của Gauvin, buộc Gauvin phải ngừng nói chịu ngồi nghe, vừa tỏ vẻ ngạc nhiên. Có lẽ Gauvin chưa hề gặp trường hợp không lấn lướt được và bị khép vào khuôn phép như thế này. Tôi tiếp: “Đến ngày nay, sự việc lại diễn lại: trước và sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ đã chở cả bằng tàu biển, cả bằng máy bay, vũ khí và trang bị qua cho quân đội Việt Nam Cộng hòa để phá Hiệp định, tiến hành lấn chiếm và bình định. Không những thế, quân Mỹ và quân các nước khác rút về nước nhưng lại chuyển vũ khí, phương tiện, kho tàng, căn cứ lại cho quân đội chính quyền Thiệu, một sự vi phạm Hiệp định Paris quá trắng trợn”.

    Đến đây, Gauvin như không còn chịu đựng được nữa, y giẫy nẩy lên, khoát tay lia lịa, ấp úng một vài lời... Tôi phải trấn tĩnh y: “Xin đại sứ hãy bình tĩnh, tôi chỉ xin nói vài lời nữa thôi, rồi sẽ nhường lời cho đại sứ”. Rồi tôi tiếp:

    - “Lần này, nếu chúng ta, Ủy ban Quốc tế và Ban Liên hợp quân sự bốn bên không hợp tác chặt chẽ với nhau, nỗ lực cùng nhau hành động một cách khách quan, đắc lực, ngăn chặn mọi vi phạm như vậy thì tôi nghĩ rằng tiếng súng vẫn nổ là điều không lấy gì làm ngạc nhiên và nguyên nhân từ đâu cũng đã rõ. Trách nhiệm của chúng ta trước lịch sử quá nặng nề, chúng ta đã không đáp ứng được nguyện vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam, của cả nhân dân Canađa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Và chính phủ Canađa, hai lần tham gia Ủy ban Quốc tế về hai Hiệp định sẽ nghĩ thế nào về vai trò của mình? Tôi xin nhường lời cho đại sứ”.

    Lần này thì Gauvin không còn tỏ sự hăm hở muốn nói như trước, thái độ hòa nhã nhỏ nhẹ:

    “Thưa ngài, Trung tướng Trần Văn Trà, thú thật với ngài là tôi không hiểu gì về Hiệp định Giơnevơ cả..., hồi ấy... tôi không được biết... những việc ấy..., tôi không theo dõi...”, rồi đại sứ chuyển qua nói chuyện về thời tiết khí hậu ở Sài Gòn, về các loại trái cây ở Việt Nam.
    Tôi vui vẻ mời khách uống bia và nước ngọt.

    Mọi người cố có thái độ thân thiện hiểu biết.

    Gauvin lại nói, nhắc lại bữa tiệc lớn y tổ chức chiêu đãi ở Sài Gòn nhân dịp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Canađa - Sharp đi công cán qua đây. Hôm ấy có đủ nhân vật “tai to, mặt lớn” của ngụy quyền Sài Gòn, có cả Đại sứ Mỹ Bunker và mời các bên trong Ủy ban Quốc tế cũng như trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, chúng tôi đều có đến dự.

    - Ngài Trung tướng Trần Văn Trà, quả thật ngài là ngôi sao sáng trong bữa tiệc hôm ấy, là ngôi sao sáng trên bầu trời Sài Gòn hôm ấy.

    - Thưa đại sứ, đó là ngôi sao sáng, ngôi sao chính nghĩa của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mà tôi được hân hạnh là người đại diện đấy!

    - Không, không, tôi muốn nói tới vai trò cá nhân nổi bật của Trung tướng cơ.

    Y  lại cố tránh né đề cao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam của ta mặc dù đó là uy tín thật sự không thể chối cãi đã có từ lâu, không phải chỉ ở Sài Gòn này mà còn cả ở Paris và trên thế giới. Để chống lại, cả Mỹ và ngụy quyền Thiệu đã đề ra thành nguyên tắc: Ở miền Nam Việt Nam chỉ có một chính phủ duy nhất mãi mãi về sau này đó là chính phủ Việt Nam Cộng hòa của Thiệu...

    Y  lại nói tiếp:

    - Trung tướng là một chiến sĩ vĩ đại.

    Lần này thì tôi lúng túng thực. Vì, dù tôi đã hiểu rõ “thiện chí” của y rồi nhưng tôi không ngờ y lại tâng bốc tôi đến thế. May thay, tôi sực nhớ lại sự đánh giá người chiến sĩ của chúng ta của hãng thông tấn Mỹ UPI năm 1964:

    “Du kích Việt cộng là nhân vật thần thoại. Họ là một kẻ thù đáng sợ, một kẻ địch mà người ta đáng kính nể”.

    Và Báo Tin tức Mỹ thế giới (U.S. New & World Report) năm 1965:

    “Du kích Việt cộng là tài tình nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại”.

    Tôi mỉm cười thong thả:

    - Xin đa tạ lời khen của Đại sứ. Quả thật, vì lòng yêu nước, yêu nhân dân, vì “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà người chiến sĩ giải phóng chúng tôi đã xả thân chiến đấu và chiến thắng, được báo chí và các hãng thông tấn Mỹ cũng như quốc tế đánh giá là những nhân vật thần thoại..., là tài tình nhất, vĩ đại nhất... Tôi thật sự hãnh diện được là đại diện cho họ ngay ở Sài Gòn này để đấu tranh thi hành đúng đắn Hiệp định mà họ phải đổ bao nhiêu máu mới giành được.

    Thế rồi Đại sứ Gauvin cáo từ ra về. Trước sân, Gauvin đã đề nghị chúng tôi chụp chung một tấm ảnh kỷ niệm cuộc gặp gỡ này. Gauvin đã đưa máy ảnh riêng của y mang theo cho nhiếp ảnh viên chúng tôi giùm vào đấy vài kiểu.




-----------------------------------------------------------------
1. Chương 10 phần kết quyển sách Chiếc trực thăng cuối cùng của Weldon A.Brown.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #69 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2023, 09:41:38 am »

*
*      *


    - 60 ngày ở Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên là những ngày nặng nề và căng thẳng. Hai phái đoàn quân sự chúng ta đã làm hết sức mình để đấu tranh thi hành Hiệp định nhưng kết quả có mức độ. Các đồng chí trong Đoàn Hungary và Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế, với tinh thần quốc tế và lòng nhiệt tình anh em đã hợp đồng chặt chẽ với chúng tôi cùng đấu tranh, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau.

    - Đồng chí Thiếu tướng “Xuýt” - Phó Trưởng đoàn Hungary trong Ủy ban Quốc tế, người to lớn chắc nịch trong bộ quân phục Hungary gọn và đẹp, ngay trong buổi đầu gặp gỡ làm việc đã nói với tôi giọng chân thành: “Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Hungary gửi chúng tôi đến Việt Nam vì nền hòa bình và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, vì hòa bình của thế giới. Chúng tôi xem sự thành công của cách mạng Việt Nam là của chính bản thân mình và vì vậy sẵn sàng hy sinh vì nó. Đó là nguyên tắc chỉ dẫn mọi hành động của chúng tôi - Chúng tôi không sợ chết và tất nhiên không sợ cực nhọc”.

    Cám ơn biết mấy những lời nói chí tình của một sứ giả của giai cấp công nhân từ một đất nước xa xôi đến với chúng ta trong những ngày còn gian khổ, trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả!

    Qua thời gian 60 ngày ấy thử kiểm lại những gì đã thực hiện và không thực hiện được. Do Mỹ - ngụy đã có mục tiêu, có kế hoạch sẵn nên vấn đề chủ chốt là việc ngừng bắn không thực hiện được. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Hãy nghe Thiệu nói chuyện với sĩ quan ngụy ở Thủ Đức:

    “Việt Nam Cộng hòa sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi:
    Quân đội Việt Nam Cộng hòa không còn ủng hộ tôi.
    Khi quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ để lo việc phòng thủ.
    Khi quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn đủ sức bảo vệ các khu quan trọng tại miền Nam Việt Nam”.

    Rõ ràng tên tay sai trung thành của Mỹ tưởng nó chiến thắng, ngoan cố phá hoại ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh dù có hay không có Hiệp định (!).

    Mỹ và chư hầu đã rút quân. Các quân đội tay sai Mỹ bán mình cho đế quốc tham gia giết hại nhân dân ta như quân đội Úc và Niu Dilân, quân đội Thái Lan và Nam Triều Tiên đã cút sạch khỏi đất nước ta. Sáng 15/3/1973, USARV - Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã làm lễ cuốn cờ, chuồn. Chiều, MACVI - Bộ Chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam, thực tế là Bộ Tư lệnh tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân đội Mỹ, quân các nước chư hầu và quân đội Thiệu, bộ máy chiến tranh xâm lược đồ sộ của Mỹ ở Việt Nam, có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là “Lầu Năm Góc phương Đông” cũng hạ cờ, cuốn gói.

    Tình cờ hay có sự gợi ý khéo léo nào đó mà ngày hôm sau, hai phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chúng ta đã phóng xe thọc thẳng vào sân của “Lầu Năm Góc phương Đông” này. Hai phái đoàn xuống xe tiến thẳng vào phòng khách giữa hai hàng quân cảnh Mỹ đứng nghiêm chào, để dự bữa tiệc của Thiếu tướng Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ chiêu đãi. Chúng tôi đã cười vui, uống rượu Mỹ, nói chuyện thời tiết thanh bình Việt Nam ngay ở “Lầu Năm Góc phương Đông”.

    Thế là quân Mỹ cũng đã cút. Nhưng chúng đã để lại như nói ở trên đủ thứ vũ khí, căn cứ quân sự và cả sĩ quan đội lốt dân sự để chống đỡ cho chế độ tay sai Thiệu.

    Về phần trao trả theo Hiệp định, chúng ta đã đòi lại được những người của ta bị chúng bắt giữ trong chiến tranh. Đồng chí Thiếu tá Nguyễn Ngọc Dung - thành viên phái đoàn quân sự của chúng ta, đặc biệt phụ trách vấn đề trao trả tù binh. Đồng chí rất tích cực xông xáo, đã đi khắp các nhà tù của ngụy từ Biên Hòa đến Côn Đảo, Phú Quốc. Là thành viên nữ độc nhất trong cả bốn phái đoàn quân sự, nói thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh, xinh đẹp, lịch thiệp, đấu tranh kiên quyết đã làm cho Mỹ - ngụy phải kính nể, và chúng tôi cũng hãnh diện. Đồng chí đã tranh thủ phổ biến các điều khoản của Hiệp định nói về trao trả tù binh cho anh em ta còn bị giam, đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, đòi trả toàn bộ những người còn bị bắt giữ... Chúng không trả đủ, không thành thật nhưng ta cũng đã giải thoát được một số không ít những cán bộ và chiến sĩ ta, những người đã chiến đấu anh dũng và sa cơ lọt vào tay chúng, chịu đựng sự hành hạ dã man của chúng.
    Chúng ta cũng đã trả tất cả tù binh Mỹ - ngụy mà ta giữ.

    Nhưng điều quan trọng nữa là qua 60 ngày, mặt đối mặt với kẻ địch ta đã hiểu chúng thêm. Mỹ chỉ cốt lấy lại được tù binh để làm quà cho nhân dân Mỹ, đưa quân Mỹ về nước vì nhân dân Mỹ đòi, còn thì vẫn thi hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” để Mỹ tiếp tục ở lại Việt Nam. Ngụy thì giữ đúng phương châm “4 không” của Thiệu: không nhượng đất cho “cộng sản”, không trung lập, không liên hiệp với “cộng sản”, không nói chuyện với “cộng sản”. Tuy rằng ngụy buộc lòng phải ngồi vào bàn với ta trong Hội nghị hai bên ở Paris, trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, rồi hai bên ở Tân Sơn Nhất, nhưng thực sự chúng vẫn giữ nguyên tắc  “bốn không” của chúng, không nói chuyện nghiêm túc mà cãi chày, cãi cối, nói bừa, nói ẩu, đồng ý hôm nay để xóa sạch ngày mai. Ngay vấn đề nhỏ nhất và đầu tiên là màu cờ và dấu hiệu của Ban Liên hợp quân sự bốn bên mà chúng cũng lật lọng, không thi hành điều đã thỏa thuận trong phiên họp cấp phó trưởng đoàn ngày 31/01/1973. Đó là quy định cờ, băng tay, dấu hiệu trên xe tàu, máy bay của Ban Liên hợp quân sự đều là màu da cam. Trong một phiên họp cấp trưởng đoàn chúng đề nghị ta bàn lại, lấy màu khác. Ta gạt đi. Vì việc gì đã thỏa thuận rồi thì làm, không cù nhầy. Giữa chừng phiên họp, giờ giải lao, Phan Hòa Hiệp - Chuẩn tướng, Phó đoàn ngụy đến ngồi bên tôi tỉ tê: “Trung tướng không biết tôi chứ tôi biết Trung tướng nhiều”. Tôi hỏi lại: “Biết lúc nào?”. Hiệp nói: “Tôi là lính của Đệ tam Sư đoàn đây (hồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945), tiếc rằng các anh lớn hồi ấy xích mích với nhau, nếu không thì có lẽ bây giờ tôi cũng vẫn còn đi kháng chiến, dưới quyền của Trung ương...”. Y cười hề hề để chấm dứt câu nói của mình. Thì ra thế. Các “anh lớn” mà Hiệp nói đây tức gồm có tôi, lúc đầu kháng chiến chống Pháp tôi là chỉ huy đơn vị gọi tên là Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa hoạt động quanh Sài Gòn; Nguyễn Hòa Hiệp - Tư lệnh Đệ tam Sư đoàn, Lý Huê Vinh - Tư lệnh Đệ tứ Sư đoàn... Đệ tứ Sư đoàn tan rã ngay từ khi Pháp đánh trở lại năm 1945. Đệ tam Sư đoàn tan rã và đầu hàng Pháp sau một thời gian. Tôi đã tiến hành tước vũ khí của một số đơn vị cướp bóc phá hại nhân dân của 2 sư đoàn này tại Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Hóc Môn (Gia Định) và tại Mỹ Tho, Đức Hòa (Long An). Người ta nói Phan Hòa Hiệp thực tế không phải là họ Phan mà là phiên âm “Francois” thành “Phan Hòa” vì y tên là Francois Hiệp, lai Pháp, cha người Pháp, mẹ người Việt. Nói lại câu chuyện này y cốt xuống nước với tôi, tự coi là em út và nhân đó năn nỉ “anh lớn” đồng ý sửa lại màu cờ:

    - “Thưa Trung tướng, màu da cam gần với màu đỏ, trông nó dữ quá”.

    Y đã xuống nước làm em út thì tôi cũng lên giọng “anh lớn”.

    - “Sao lại dữ, màu đó là màu huy hoàng xán lạn của tương lai, có gì phải sợ. Chuẩn tướng nên biết rằng màu da cam thông dụng trên quốc tế rồi, rất dễ nhìn thấy, dù rất xa. Màu đó thích hợp nhất mà đẹp nữa. Vả lại cái gì đã nhất trí rồi thì thi hành đừng trở tới, trở lui nữa, mất thì giờ. Ta còn nhiều việc phải làm” - Y còn lẽo đẽo theo năn nỉ nhiều lần nhưng tôi kiên quyết gạt đi. Tuy vậy, ngụy vẫn không thi hành. Đấy, còn khối chuyện như chuyện màu da cam vậy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM