Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 09:34:26 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 5572 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #50 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 09:24:16 am »

CHƯƠNG IV
Máu chảy ruột mềm


    Trong lúc cả miền Nam Việt Nam ngập chìm trong đau thương, chết chóc dưới sự cai trị tàn bạo phátxít của một chế độ chỉ biết vì quyền lợi của gia đình riêng và tệ hại hơn nữa của thực dân cướp nước, trong lúc cả xã hội miền Nam bị hỗn loạn, xáo canh xáo cư, tiếng súng chưa bao giờ chấm dứt mà ngày càng mãnh liệt trong không khí thực sự của chiến tranh, thì nhân dân miền Bắc Việt Nam sống trong hòa bình ra sức xây dựng một xã hội tiến bộ và công bằng. Mặc dù cuộc cách mạng ở miền Bắc tiến triển có lúc quyết liệt và không tránh khỏi một số sai lầm đáng tiếc như sai lầm trong cải cách ruộng đất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn và dũng cảm tự phê bình trước quốc dân và kiên quyết sửa chữa - Nhân dân miền Bắc cùng với Nhà nước dân chủ của mình luôn hòa hợp làm một trong không khí hòa bình xây dựng, thông cảm sâu sắc của tình ruột thịt đồng bào, đồng chí. Nhưng không thể nào miền Bắc điềm nhiên tọa thị trong lúc miền Nam nước sôi lửa bỏng. Bắc, Nam tuy đôi miền cách trở nhưng vẫn là một nước có hàng ngàn năm cùng chung văn hiến. Nhân dân hai miền tuy đã chia ra trăm họ nhưng vẫn là con Hồng cháu Lạc cùng chung bọc trứng mà ra, như truyền thuyết xa xưa. Chính vì thế mà mỗi sự kiện của tình hình miền Nam đều vang dội khắp miền Bắc và mỗi hành động của nhân dân miền Bắc đều có tác động đến nhân dân miền Nam.

    Suốt hai năm 1954-1956, thời quy định của Hiệp định Giơnevơ phải tiến hành tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, nhân dân cả nước cùng sôi sục đấu tranh thực hiện Hiệp định, tuy mỗi hoàn cảnh có khác nhau cả đôi miền. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt và liên tục này, bằng đủ mọi hình thức kiến nghị, míttinh, biểu tình, đình công bãi thị, báo chí, truyền đơn, công hàm... rõ ràng trên đất nước Việt Nam đã phân chia rạch ròi thành giới tuyến. Đây không phải là giới tuyến quân sự tạm thời giả tạo trên sông Bến Hải mà là giới tuyến của lòng người, bên chính, bên tà, bên người ngay đấu tranh vì độc lập tự do, thống nhất giang sơn Tổ quốc chống bên kẻ gian muốn phân chia vĩnh viễn đôi miền đất nước và dâng đất cho Hoa Kỳ đến tận vĩ tuyến 17. Rồi những năm 1957-1959, trong khói lửa của khủng bố và chiến tranh, nhân dân Việt Nam kiên cường bất khuất, mặc bom đạn và máy chém, vùng lên đấu tranh bằng mọi hình thức vì phẩm giá và quyền sống của mỗi con người, vì tồn vong của nhà, của nước. Đấu tranh chính trị hợp pháp đôi khi kết quả bị hạn chế trước sự khủng bố hung tàn của phátxít thì đồng bào không ngần ngại hỗ trợ bằng vũ trang có mức độ, bằng bất hợp pháp. Trong lúc đó nhân dân miền Bắc sôi sục căm thù Mỹ - Diệm, đau lòng xót dạ trước cảnh đồng bào ruột thịt miền Nam bị khủng bố tàn sát, cũng dấy lên những phong trào đấu tranh không mệt mỏi. Suốt mấy năm liền, bao nhiêu cuộc míttinh, biểu tình đòi tuyển cử, thống nhất, đòi thi hành Hiệp định, hòa bình dân chủ, đời sống cho đồng bào miền Nam. Từ Hà Nội, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liên tiếp từng năm, từ năm 1955, đều có công hàm cho chính quyền miền Nam đòi hiệp thương thi hành Hiệp định. Kiên trì với chủ trương hòa bình thống nhất Tổ quốc, mặc dù Mỹ - Diệm điên cuồng chống cộng, chống nhân dân, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, cuối năm 1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn gửi một công hàm cho chính quyền miền Nam, đề nghị đại biểu hai miền gặp nhau để thảo luận việc giảm quân số và giảm ngân sách quốc phòng, hai bên không tham gia khối liên minh quân sự nào và không dùng nhân viên quân sự nước ngoài trong quân đội mình, không làm thêm và không mở rộng căn cứ quân sự. Công hàm còn đề nghị hai bên thỏa thuận trao đổi hàng hóa, đình chỉ tuyên truyền chiến tranh, chia rẽ Nam - Bắc, trái lại tuyên truyền đoàn kết dân tộc, thống nhất Tổ quốc, thỏa thuận cho nhân dân hai miền đi lại bình thường, cho các tổ chức văn hóa ra vào trao đổi kinh nghiệm, cho mọi người tự do gửi thư thăm hỏi nhau. Tiếng nói chính nghĩa có lý có tình này đã vang dội khắp nơi, được sự hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp nhân dân hai miền. Những đợt đấu tranh phối hợp “tấn công hòa bình” càng làm Mỹ - Diệm bị động lúng túng và ra sức khủng bố nhân dân. Đặc biệt là sau vụ đầu độc man rợ những người yêu nước ở trại Phú Lợi thì cả nước bừng lên ngọn lửa căm hờn dữ dội. Ở miền Nam, hàng vạn dân chúng biểu tình, bãi công, bãi thị phản đối vụ đầu độc. Nhiều vùng rộng lớn đồng thời tổ chức “để tang Phú Lợi”. Riêng quận Mỏ Cày, Bến Tre, nhân dân lấy ngày 28/3/1959 làm ngày để tang chung. Các chùa chiền, thánh thất đều làm lễ cầu siêu. Mỗi gia đình công khai lập bàn thờ chiến sĩ. Từ các tỉnh ở Nam Bộ, nhân dân kéo về Phú Lợi đòi được thăm chồng, thăm con, thành những cuộc đi biểu tình đường trường tự động mà điểm tập trung là Phú Lợi.

    Ngày 20/4 từ các nơi dòng người đổ về Sài Gòn, có hàng trăm thiếu phụ mặc đồ tang mang biểu ngữ đến trước trụ sở Quốc hội Diệm và gặp Ủy ban quốc tế để tố cáo. Từng địa phương, đoàn biểu tình kéo đến trụ sở tề xã, đến dinh quận trưởng, tỉnh trưởng để chất vấn. Ngày 09/3 cả trăm người mặc áo tang vào thị xã Cà Mau, 300 người đến dinh tỉnh trưởng Cần Thơ, trên 200 người kéo vào Sóc Trăng. Trong lúc đó ở miền Bắc, liền trong hai tháng, có ba triệu lượt người xuống đường biểu tình sôi nổi chống bọn sát nhân Mỹ - Diệm. Quốc hội Việt Nam, các đoàn thể nhân dân miền Bắc đều lên tiếng tố cáo trước dư luận thế giới vụ thảm sát dã man này.

    Cơn bão lửa căm thù Mỹ - Diệm đốt xé tim gan những người miền Nam tập kết trên đất Bắc, biểu hiện ra những diễn biến phức tạp đa dạng. Từng đơn vị thường trực, từng đại đội nông binh phát động những phong trào học tập, rèn luyện, lao động, công tác để trả thù cho Phú Lợi. Làm suốt ngày chưa ngơi cơn hận, đốt đuốc làm cả ban đêm. Không những nâng hiệu suất công tác, tập luyện lên gấp bội, anh em còn tham gia giúp nhân dân địa phương gặt hái, đắp đê, chống lụt, chống bão. Chiến sĩ nông trường Lam Sơn đã phá rừng, san núi để sản xuất dưới ánh sáng bập bùng của lửa trại, giống như đoàn nghĩa quân Lê Lợi năm xưa trở về liên hoan ở vùng căn cứ phạt Minh ngày nào. Có nhiều người cắt tóc mình để chêm cán cuốc, cán rựa cho chắc, cho bền, hầu tăng năng suất để tỏ rõ ý chí quyết tâm trả thù cho đồng bào bị thảm sát ở Phú Lợi. Trong lúc đó để hưởng ứng với bộ đội miền Nam tập kết, các đoàn thể nhân dân địa phương đã đến tận thực địa thăm, tặng quà. Tình cảm đậm đà quân - dân, Nam - Bắc đã làm dịu bớt những tâm hồn đang sôi sục.

    Lại cũng có những người không vượt qua cơn thử thách của căm giận, đau thương, tự động lẻ tẻ bỏ đơn vị vượt tuyến trở về Nam chống Mỹ - Diệm. Cũng có đơn vị nghe theo những người nông nổi, tưởng đâu có thể chống lại chế độ bạo tàn bằng sự cuồng nhiệt đơn sơ như Lữ Sĩ Tân, một đại đội trưởng thuộc Đoàn 78. Tân đã thuyết phục và tập hợp được tới một đại đội toàn anh em thanh niên hăng, khỏe, mệnh danh là đại đội “tiến về Nam”. Họ bí mật mài gươm, rèn mã tấu, giấu súng, trữ gạo rang, mắm, muối và chuẩn bị khăn gói, định ngày xuất phát phạt Diệm. Trung đoàn trưởng Trần Thắng Minh, thủ trưởng Đoàn 78 biết rõ đây là việc làm thiếu kỷ luật, đã cho người giải thích. Một hôm, đồng chí tự mình kêu Tân lên giáo dục khuyên răn. Ngồi nghe nghiêm chỉnh, nhưng sau đó, y đứng nghiêm, giơ tay chào trung đoàn trưởng:

    - Thay mặt đại đội “tiến về Nam”, xin báo cáo trung đoàn trưởng, chúng tôi lên đường. Chúc đồng chí, chúc ban chỉ huy đoàn và toàn thể anh em ở lại mạnh khỏe, về sau!

    Y quay gót, bước đều, đi ra thẳng.

    Nội đêm đó, cả đại đội đã bị giữ lại, tước vũ khí và đưa về Sư đoàn 330 để tiến hành giáo dục. Trong số này về sau nhiều anh em đã tiến bộ, luyện tập tốt rồi lại đi về Nam khi được phép, có tổ chức. Có anh em lập được những chiến công rực rỡ, có người đã hy sinh dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống Mỹ oanh liệt.

    Nhưng đó chưa phải là đơn vị lớn tự động vượt tuyến về Nam. Còn có cả một nông trường gồm toàn anh em quê các ở tỉnh Nam Bộ tập kết, đã xây dựng và sản xuất có nhiều thành tích: Nông trường Tịnh Môn thuộc tỉnh Nghệ An. Việc làm ăn có nhiều hiệu quả nhanh của nông trường đã được đưa lên mặt báo. Tỉnh ủy và các cơ quan của tỉnh hết lòng ủng hộ. Một số ngành Trung ương từ Hà Nội phái cán bộ về thăm đã hoan nghênh và khuyến khích. Các đoàn thể địa phương luôn đến động viên, tặng quà, rút kinh nghiệm. Mến kiểu cách làm ăn xốc vác, nhiều thiếu nữ quanh vùng đã đến tham quan, làm quen với những chàng trai nông binh dễ thương, trung thực, rồi tìm hiểu nhau đi đến xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái. Một cuộc sống đi lên đầy triển vọng của một tập thể nhiệt tình xây dựng Tổ quốc thân yêu vì hòa bình và thống nhất. Nhưng rồi năm tháng trôi qua mà hiệp thương chẳng có, tuyển cử cũng không. Mỹ - Diệm đã coi thường ước vọng nồng cháy của cả dân tộc, dư luận chân chính của cả thế giới. Hai năm chín đợi mười chờ lặng lẽ qua đi không một tiếng dội. Chỉ có dội lại từ quê hương yêu dấu những chết chóc, đàn áp, những máu lửa, bạo tàn. Hết chịu nổi nữa rồi, Tư Đẩu - một cựu trung đoàn trưởng trong kháng chiến chống Pháp đã cùng một số lãnh đạo của nông trường bàn việc về Nam chiến đấu, cứu đồng bào. Lẽ nào ta ngồi yên đây mà nhìn cảnh quê hương bị tàn phá, cảnh chết chóc của bà con. Khi ta đi tập kết, người thân của ta, nhân dân ta, các má chiến sĩ gửi gắm theo ta biết bao hoài vọng! Đảng, Chính phủ lo việc lớn cả nước, còn hành động cụ thể cứu dân này ta phải tự động lo toan. Thế là cả nông trường nhất trí. Họ âm thầm chuẩn bị mọi thứ để toàn bộ bí mật vượt tuyến về Nam: Thức ăn khô, thuốc men, các đồ dùng gọn nhẹ cho hành quân đường rừng ngày dài. Rồi vũ khí đủ loại có thể kiếm được, đạn dược tối thiểu cho chiến đấu tự vệ dọc đường, chờ lấy vũ khí tốt của địch để trang bị cho chiến trường. Lấy của địch đánh địch là thói quen, là kinh nghiệm nhiều năm trong chống Pháp rồi. Ít sẽ hóa nhiều, nhỏ sẽ thành lớn thôi. Khi mọi việc chuẩn bị sẵn sàng thì làm lễ xuất quân, ngụy trang dưới cuộc liên hoan mừng sơ kết, những con số, những gương sáng, những con người, những sự kiện. Tất cả là sự thật, chỉ có mục đích là khác. Khách mời khá đông đủ, khách địa phương, khách của tỉnh, của Trung ương như Ban Thống nhất, Bộ Nông trường...

    Chiều hôm ấy, liên hoan kết thúc, tiễn khách ra về, muôn phần lưu luyến.

    Khuya hôm ấy, bắt đầu xuất quân, mọi người nô nức, cả nông trường lên đường.

    Thật là một đoàn quân hăng hái, im lặng tiến bước, người mạnh dìu kẻ yếu.

    Ba ngày sau địa phương mới phát hiện toàn nông trường về Nam, vượt tuyến.

    Nhưng mỗi ngày, khó khăn chồng chất. Lương thực bắt đầu cạn, người đuối sức dần bệnh tật sinh sôi, cuộc hành quân phải ngừng giữa rừng. Một cuộc họp được tổ chức và ý kiến sôi nổi: Nào là phiêu lưu mạo hiểm, nào là vô tổ chức kỷ luật, nào là thiếu kinh nghiệm hành quân đường dài, dẫn anh em đến chỗ chết trong lúc chưa nổ được phát súng vào đầu thù... Cũng có ý kiến khác hơn: Chẳng qua tất cả chúng ta vì lòng nhiệt thành với quê hương, với đồng bào, vì miền Nam, vì thống nhất. Chúng ta đã từng cầm súng chiến đấu giải phóng đất nước nay không thể để yên cho Mỹ - Diệm ngày đêm tàn sát bà con, anh em ta, tự do giày xéo xóm làng ta. Hãy cố gắng hết sức mà đi tới. Ai kiệt sức hãy nằm lại, bón cho cây rừng Tổ quốc thêm xanh, ai còn sức hãy tiến lên, về cùng đồng bào, đồng chí diệt thù cứu nước. Ý kiến thành ra phân vân... Một không khí trầm lắng kéo dài. Bỗng nhiên bầu trời tối sầm lại, mây đen phủ khắp, một trận mưa xối xả kéo dài làm nguội bớt những cái đầu nóng bỏng. Thực tế khi nào cũng có giá trị xét đoán và quyết định đúng nhất. Lương cạn, sức kiệt, đi nữa thì những người hiện còn khỏe mạnh nhất cũng sẽ ngã xuống trong một ngày nào đó. Chỉ có một con đường: Quay trở lại và nhận lỗi với cấp trên, mọi việc sẽ được giải quyết tốt nhất, cứu vãn được một việc làm xốc nổi theo cảm tính.

    Như vậy đó, tiếng dội từ miền Nam có tác động đủ mọi hướng, mỗi ngày một mạnh tới miền Bắc. Nếu như vụ Phú Lợi đã gây sôi sục căm thù, đòi hỏi phải trả thù, thì đến Luật 10/59 máy chém tung hoành đầu người vô tội rơi rụng đã giống như một cơn bão lửa nung chảy tâm can đến những người gọi là “từ bi” nhất. Cán bộ Bắc, Nam đều chung ý nghĩ: Ta phải làm gì? Miền Nam sẽ ra sao? Đồng bào của ta sẽ sống ra sao?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #51 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 11:15:07 am »

    Trước tình hình như vậy, đầu năm 1959 Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 15 (khóa II) được triệu tập do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì để bàn về cách mạng Việt Nam, cách mạng miền Nam. Cuộc họp khá đông bao gồm cán bộ chủ chốt các ngành Trung ương có liên quan, có cán bộ miền Nam tập kết, còn có cán bộ từ Khu 5 cũ, từ Tây Nguyên, từ Nam Bộ băng ngàn ra dự. Tôi xiết bao vui mừng được tham gia vào cuộc họp quan trọng này và xiết bao cảm động khi được gặp các đồng chí đại biểu từ miền Nam ra, những chiến sĩ kiên dũng đáng kính, đáng yêu 1.

    Hội nghị chăm chú và đầy xúc động theo dõi bản báo cáo súc tích tình hình miền Nam Việt Nam năm 1954. Người nào cũng thảo luận một cách sôi nổi nhiệt tình. Có ý kiến rất mạnh bạo nhưng cũng có ý kiến khá dè dặt. Thật hiếm có hội nghị nào mà suốt cả tháng trời làm việc rất khẩn trương căng thẳng, ai nấy đều biểu lộ tình cảm cách mạng dạt dào và sự nghĩ suy sâu sắc, chín chắn, đầy trách nhiệm. Hội nghị chỉ làm việc ban ngày nhưng ban đêm nhiều người không ngủ. Ngủ sao được trước đòi hỏi bức bách của tình hình: Phải hành động thế nào vì sự sống còn của miền Nam, vì bảo vệ miền Bắc đang hòa bình xây dựng, vì thống nhất Tổ quốc.

    Hội nghị nhận định: “Đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp, đặt ách thống trị thực dân (kiểu mới) ở miền Nam nước ta. Âm mưu của chúng là xâm chiếm cả nước ta làm thuộc địa và căn cứ quân sự nhằm phá hoại phong trào độc lập dân tộc và nền hòa bình dân chủ ở Đông Nam Á...

    Chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là một chế độ phản động tàn bạo và đen tối.

    Chính quyền miền Nam hiện nay là một chính quyền phản bội lợi ích dân tộc; nó đại biểu cho lợi ích của đế quốc Mỹ, của bọn phong kiến và bọn tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất ở miền Nam...

    Do bản chất phi nghĩa, thế cô lập và chỗ yếu căn bản của nó, nó thực hiện một chế độ độc tài hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại...”.

    “Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn trở sự phát triển của xã hội miền Nam, mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Vì vậy Mỹ - Diệm chẳng những là kẻ thù của nhân dân miền Nam đang bị chúng thống trị, mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân miền Bắc đã được giải phóng”.

    Hội nghị đã xem xét đánh giá tình hình miền Bắc, tình hình miền Nam, cả tình hình thế giới, thế mạnh của phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu so với phe đế quốc chủ nghĩa do Mỹ lãnh đạo, sự phức tạp diễn biến trong nội bộ từng phe và sự đấu tranh giữa các thế lực hòa bình và gây chiến trên thế giới. Hội nghị nhận định: “... Cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam”.

    “... Tiến hành ngay cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà”.

    “... Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà”.

    Như vậy là hai cuộc cách mạng ở miền Bắc và miền Nam đều song song tiến hành, có quan hệ hữu cơ với nhau, trợ lực và thúc đẩy lẫn nhau, nhằm mục đích vì hòa bình và thống nhất Tổ quốc, vì xã hội chủ nghĩa. Từ đó, miền Bắc thực sự trở thành căn cứ địa cho cách mạng cả nước. Miền Nam là tiền tuyến kiên cường chống xâm lược, miền Bắc là hậu phương vững mạnh, là chỗ dựa vật chất và tinh thần. Phải chăng sứ mệnh của dân tộc Việt Nam là đánh bại không những bọn thực dân cũ mà còn đánh bại cả bọn thực dân mới, trở thành người lính xung kích của lực lượng hòa bình và dân chủ tiến bộ, chống bọn gây chiến xâm lược và phátxít trên thế giới?

    Hội nghị xác định: “... Chừng nào còn Mỹ - Diệm ở miền Nam thì tình trạng đất nước bị chia cắt và khả năng xảy ra chiến tranh vẫn còn tồn tại. Vì vậy để thực hiện thống nhất nước nhà và giành hòa bình lâu dài ở Việt Nam, nhân dân ta không thể có con đường nào khác hơn là phải tích cực xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành đấu tranh cách mạng gian khổ ở miền Nam để bảo vệ quyền sống hằng ngày và tiến lên đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm ở miền Nam khi có điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi”.

    Đối với những nhận thức sai lầm về hòa bình, về Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị nhấn mạnh: “Hiệp nghị Giơnevơ có tác dụng hạn chế một phần âm mưu gây chiến của địch và có lợi cho công cuộc đấu tranh chính trị để thống nhất nước nhà, có lợi cho sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Chúng ta phải biết triệt để sử dụng nó. Song cần nhận rõ nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng không phải là Hiệp nghị Giơnevơ mà là lực lượng đấu tranh của quần chúng nhân dân cả nước, được sự đồng tình ủng hộ ngày càng rộng rãi của nhân dân thế giới. Những tư tưởng ỷ lại vào Hiệp nghị Giơnevơ hoặc coi thường giá trị pháp lý của Hiệp nghị Giơnevơ, đều là sai lầm”.

    Như vậy là nhân dân cả hai miền đều phải đứng lên làm cách mạng.

    Cách mạng ở miền Nam có nhiệm vụ: “... Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

    Phương hướng của cách mạng miền Nam là: “Vì chế độ miền Nam là một chế độ thực dân và nửa phong kiến cực kỳ phản động và tàn bạo, vì chính quyền miền Nam là chính quyền đế quốc và phong kiến độc tài, hiếu chiến, cho nên ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ. Chỉ có sự thắng lợi của cách mạng mới chấm dứt cảnh cùng khổ của nhân dân miền Nam, mới triệt để đánh bại mọi chính sách nô dịch, chia cắt và gây chiến của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam. Cách mạng Việt Nam ở miền Nam nói chung không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa từ trước đến nay, cho nên con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân.

    Đây là một quyết định lịch sử trọng đại, mở đầu cho trang sử vẻ vang của dân tộc ta thắng một hung thần chiến tranh của thời đại, đập tan triệt để ách nô lệ hàng trăm năm nay, giành tự do độc lập, đi lên xã hội chủ nghĩa.

    Suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã bao lần dân tộc Việt Nam ta đã có những quyết định trọng đại, dựng thành những cái mốc vinh quang trên con đường tiến lên của đất nước và dân tộc. Lần này nữa, trước nguy cơ nô dịch của một đế quốc đầu sỏ hiện đại, trước âm mưu thôn tính miền Nam, “Bắc tiến” thôn tính cả nước, làm đầu cầu chống phe xã hội chủ nghĩa, chống loài người tiến bộ, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, bằng Nghị quyết 15 đã có một quyết định trọng đại và lịch sử.

    Đây còn là một quyết định hết sức sáng suốt và dũng cảm, đầy trách nhiệm trước nhân dân ta. Trong lúc ta mới vừa giành được độc lập nửa nước, miền Bắc chưa xây dựng được bao nhiêu, dân ta còn rất nghèo, còn phải nhờ sự giúp đỡ nhiều mặt của các nước anh em mà vẫn kiên định đẩy mạnh đấu tranh cách mạng là một quyết định không dễ dàng chút nào.

    Nghị quyết 15 đề ra đường lối cơ bản cho cách mạng miền Nam, tạo ra một bước ngoặt cho tình hình miền Nam Việt Nam. Trước Nghị quyết 15, nhân dân miền Nam đã đấu tranh kiên cường liên tục, cả đấu tranh chính trị và võ trang, đã chịu nhiều tổn thất nặng nề, nhưng cốt là để giữ vững quyền sống và bảo toàn thực lực, có tính chất tự vệ. Nghị quyết 15 đã nhận định rõ tình hình, vạch rõ đường lối và phương châm phương thức mục tiêu cần đạt của cách mạng, vì vậy đã phát động một phong trào tấn công, lớn mạnh ngoài sức tưởng tượng của quần chúng cách mạng chống lại chế độ phản dân hại nước. Tuy ra chậm (như nhiều đồng chí đã nhận xét) nhưng Nghị quyết còn bắt kịp thời gian để khơi dòng tuyệt đích cho một khối nước khổng lồ bị dồn ứ quá mức từ lâu khỏi phá bờ tung tóe mất hết hiệu quả và có hại.

    Thực sự ai cũng phải công nhận sức mạnh vật chất và quân sự của Mỹ. Nhưng không phải ai cũng nhận thức được sức mạnh vật chất và quân sự dù lớn đến đâu cũng không thể quyết định mọi vấn đề của nhân loại một cách phi nghĩa. Mỹ không thể dùng sức mạnh đó để buộc loài người phải suy nghĩ, phải sống, phải hành động theo ý muốn riêng và quyền lợi ích kỉ của mình. Sức mạnh thật sự có thể chiến thắng tất cả, đối đầu có hiệu lực đối với mọi thiên tai địch họa là lòng dân giác ngộ và đoàn kết. Bác Hồ và Đảng chúng ta đã nắm vững được chân lý bất di bất dịch này mà có quyết định hoàn toàn đúng. Cái đáng nói của dũng khí Việt Nam trong quyết định này là tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ trong suy nghĩ và hành động trên cơ sở thực tế của đất nước ta, nhân dân ta với đầy đủ tinh thần trách nhiệm vì dân vì nước. Trong thời điểm đó, ngay những người bạn quý của chúng ta cũng khuyên ta không nên đánh Mỹ. Rằng Mỹ mạnh lắm, ta nhất định thua và sẽ thua không còn manh giáp. Có bạn còn phát biểu chỉ nên đấu tranh chính trị thôi và trường kỳ mai phục chờ thời cơ khi tương quan lực lượng từng bước và trên thế giới thay đổi. Chúng ta đã thành thật cảm ơn các bạn nhưng vì ta có trách nhiệm chính trước nhân dân mình nên tìm mọi cách tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của bạn bè rộng rãi trên thế giới. Chúng ta đã nghĩ, làm đúng và thắng lợi. Nhắc lại việc này, một vấn đề lịch sử, chúng ta hoàn toàn không có ý tự phụ mà cốt nêu lên bài học lớn lịch sử về độc lập tự chủ và tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân ta và nhân dân trên thế giới.

    Vấn đề sát thực tế để hiểu rõ thực tế và đề ra quyết định phù hợp là mấu chốt thành công.

    Từ năm 1956, lúc đồng chí Lê Duẩn còn là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, hoạt động bí mật trong sự đùm bọc của nhân dân, sát với tình hình diễn biến trên thực tế, đồng chí đã nhận thức được tình hình và đã thảo ra bản Đường lối cách mạng miền Nam: Trong bản dự thảo ấy đã có nhận định chính xác rằng Hiệp nghị Giơnevơ không được thi hành, không có tổng tuyển cử, thống nhất Tổ quốc, lý do là bọn đế quốc xâm lược Mỹ và bọn phong kiến tập đoàn Ngô Đình Diệm đã tìm mọi cách phá hoại, không chịu thi hành Hiệp định, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự Mỹ để gây lại chiến tranh mong cướp đoạt giang sơn Tổ quốc ta. Vì vậy mà cần thiết phải “củng cố thật vững chắc miền Bắc”, “Miền Bắc hiện nay là cơ sở thật vững mạnh của toàn quốc” và “đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam”. Nói về tình hình miền Nam, bản dự thảo viết: “Nhân dân miền Nam hiện nay không những chỉ nằm trong cái cảnh đất nước bị chia xẻ, chiến tranh hăm dọa mà hằng ngày đương bị chính sách độc tài phátxít của Mỹ - Diệm áp bức bóc lột, tù tội chém giết ghê gớm, thợ thuyền đang ở trong cảnh chết đói, công ăn việc làm không có, nạn thất nghiệp nguy ngập không có lối ra, dân cày đương bị cướp đất tăng tô tăng thuế, ruồng bố, bị bắt lính, công thương nghiệp bị phá sản,v.v, nhân dân không có một chút quyền tự do dân chủ nào, chính sách khủng bố trả thù, tù tội, chém giết tràn lan khắp thôn quê đến thành thị. Tình thế ấy nhất định thúc đẩy nhân dân miền Nam phải đứng lên đập tan chính sách độc tài, phátxít của Mỹ - Diệm để tự cứu mình. Vì vậy, mục đích cách mạng của miền Nam còn phải đánh đổ chính quyền độc tài, phátxít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc phong kiến độc tài phátxít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc”.

    Thật là một nhận thức sáng suốt và một suy nghĩ kịp thời về đường lối cách mạng cho miền Nam đúng đắn biết nhường nào. Nhưng tiếc thay từ đó nó không được khẳng định, chính thức hóa và phát triển theo đúng lôgic khách quan của thực tế diễn biến ngày càng dồn dập và rõ nét. Và cũng vì nó không được tiếp tục phát triển chấn chỉnh cho nên về phương pháp đấu tranh cách mạng đề ra trong bản dự thảo Đường lối cách mạng miền Nam là không phù hợp: “...Phát triển theo đường lối hòa bình”. “... Phong trào cách mạng tranh đấu theo đường lối hòa bình nghĩa là phong trào ấy lấy lực lượng chính trị của nhân dân làm căn bản, không phải lấy lực lượng vũ trang của nhân dân để đấu tranh với chính quyền hiện hữu để đạt mục đích cách mạng của mình”. Cho đến Nghị quyết 15 mới xác định là “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến...”.

    Trước khi rời khỏi miền Nam đi Hà Nội năm 1956, đồng chí Lê Duẩn đã họp với Xứ ủy Nam Bộ, có đại biểu các khu dự. Trong Hội nghị, có thảo luận về bản dự thảo về Đường lối cách mạng miền Nam này và tranh luận nhiều về bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang. Cuối cùng đồng chí Lê Duẩn có ý kiến:

    - Xây dựng lực lượng vũ trang ở vùng núi (miền Đông Nam Bộ).

    - Còn ở đồng bằng chỉ vũ trang các vùng căn cứ cũ Đồng Tháp Mười và U Minh thôi.

    Chính vì vậy mà năm 1957, Xứ ủy điều đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến cán bộ quân sự cao cấp nhất ở lại miền Nam từ miền Tây về miền Đông Nam Bộ để xây dựng lực lượng vũ trang.

    Nhưng sau đó không có xác định rõ chủ trương này của Trung ương (mặc dù đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất), đề cương về Đường lối cách mạng miền Nam không thành chính thức.

    Trong thời gian từ bản dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam đến Nghị quyết 15, trải qua ba năm trời máu lửa, trên thực tế cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đã diễn ra vô cùng quyết liệt bằng lực lượng chính trị quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tùy nơi tùy lúc nhiều hay ít, do không thể có cách nào khác, do tình hình khách quan đòi hỏi. Tất nhiên ta phải hiểu rằng tình hình miền Nam tự nó không thể tách rời tình hình cả nước và tình hình quốc tế. Song cách mạng luôn luôn vận động mà không một phút dừng lại, tấn công để đi lên đúng hướng, giành từng thắng lợi một dù nhỏ. Nếu nhân dân miền Nam không đấu tranh quyết liệt dưới sự lãnh đạo kiên cường và sáng tạo của đảng bộ địa phương, thì làm gì có luận chứng vững chắc cho Nghị quyết 15. Có đồng chí đã đưa ra một hình tượng rất hay là nếu giữa biển cả mịt mù sóng bão, thủy thủ không dũng cảm, chèo thuyền lướt tới, để nó đứng một chỗ thì người cầm lái làm sao mà lái đi cho đúng hướng.

    Nghị quyết 15 đã soi sáng và dẫn đường cho nhân dân cả nước làm cách mạng. Nó cũng soi sáng cho từng tấm lòng Việt Nam lâu nay đang khắc khoải chờ mong một trả lời xác đáng cho câu hỏi: Ta phải làm gì đây trước tình hình nóng bỏng? Giờ đây mỗi người đều có phương hướng tìm ra hành động đúng đắn nhất, phù hợp với trái tim và lý trí. Mặc dù nghị quyết còn giữ lâu trong vòng bí mật và chưa thành văn bản ngay, nội dung chủ yếu của nó đã được phổ biến rộng rãi và nhanh chóng cả ở miền Bắc lẫn miền Nam, được tiếp thu một cách nồng nhiệt và vô cùng phấn khởi. Khi một chủ trương đã phù hợp với thực tế, với lòng dân, đáp ứng tình hình cách mạng đi lên thì nó lại lan nhanh, thấm sâu vào lòng người với tốc độ khó mà tưởng tượng, không cần phải tuyên truyền cổ động hay ép buộc. Hơn nữa, nó chuyển thành hiện thực và với sức sáng tạo nhân lên gấp bội bằng hàng triệu trái tim và khối óc của cán bộ và quần chúng nhân dân.

    Có chủ trương rồi thì theo đó phải có sự đảm bảo cho thực hiện. Ở miền Bắc, Trung ương quyết định thành lập con đường tiếp tế chi viện dọc Trường Sơn, nối liền hậu phương và tiền tuyến vào tháng 5/1959. Con đường được lấy tên đúng theo ngày sinh của nó, Đường 559, mà sau này nó lớn lên mau chóng để đáp ứng với yêu cầu và nổi tiếng cả thế giới với cách gọi có ý nghĩa của các ký giả quốc tế: Đường mòn Hồ Chí Minh. Thực sự là con đường này không phải mới mở vào năm 1959. Nó đã là con đường mòn xuyên rừng xuyên núi của cán bộ cách mạng Khu 5 và Tây Nguyên từ những năm 1954-1955. Địch chiếm hết các đường ngang đường dọc, đường xe hơi, đường tàu, địch phong tỏa khắp nơi, khắp chốn. Nhưng cách mạng cần liên lạc giữa vùng này với vùng nọ, giữa miền núi và miền xuôi, cần thông tin và tiếp tế. Những con người cách mạng với ý chí vá trời lấp biển, chịu khổ chịu cực, biết hy sinh tất cả cho cách mạng thì có gì mà không khắc phục được, không làm được. Cán bộ Khu 5 và Tây Nguyên cần xin chủ trương của lãnh đạo, cần hạt gạo, viên thuốc ban đầu, cả khẩu súng tự vệ, nên họ phải xẻ núi, băng ngàn, tìm cho ra chân lý, chân lý của sự sống, cho hôm nay và cho ngày mai. Vì vậy mà đã hình thành con đường mòn dọc Trường Sơn nối thông với miền Bắc. Thật ra cũng chỉ từ những tỉnh gần với sông Bến Hải, từ Trị - Thiên, Quảng Nam, từ Gia Lai, Kon Tum trở ra thôi. Xa hơn nữa thì khó mong thông suốt trong hoàn cảnh lúc ấy. Nam Bộ càng không thể mong ước nối kết với miền Bắc bằng đường bộ thời kỳ gian khổ khó khăn. Vì vậy mà các tỉnh Nam Bộ lại cố mở ra con đường khác, hợp với điều kiện và khả năng hơn, bằng tàu thuyền trên sông nước: Đường mòn Hồ Chí Minh trên Biển Đông. Con đường này âm thầm hơn, bí mật hơn, ít người biết nên không danh tiếng bằng đường mòn Hồ Chí Minh dọc Trường Sơn, nhưng tác dụng chiến lược và vị trí của nó đối với cuộc kháng chiến là hết sức to lớn ngay từ những năm đầu của chiến tranh mở rộng và công khai (tôi sẽ nói về con đường chiến lược này vào tập sau - Tập 2, đúng với thời điểm của nó).





------------------------------------------------------------------
1. Ở Nam Bộ ra dự Hội nghị này có đồng chí Phan Văn Đáng và đồng chí Phạm Văn Xô, cả hai đồng chí đều ở trong Xứ ủy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #52 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 01:58:15 pm »

    Đồng chí Thượng tá Võ Bẩm 1, người Quảng Ngãi, tính xông xáo và nhiệt tình, cần cù và kiên định, tiêu biểu đức tính người dân Quảng Ngãi nói chung, đã được giao gây dựng Đường 559 ngay từ đầu.

    Trước đó, đồng chí cùng một số ít cán bộ Khu 5 cũ đã được đồng chí Trần Lương, lúc ấy là Bí thư Khu ủy Khu 5 và đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất giao nhiệm vụ tiếp tế lương thực thuốc men và một ít súng đạn tự vệ cho Khu 5 rồi. Nhưng bây giờ phải tổ chức thành đường giao thông và vận tải lớn hơn, tải nhiều hơn để đáp ứng với nhiệm vụ mới. Lúc này tôi được chỉ định thay mặt cho Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu phụ trách tổ chức con đường. Lần gặp gỡ đầu tiên với đồng chí Võ Bẩm, hỏi những công việc đã làm, khả năng mở đường, bàn kế hoạch tổ chức, tôi đã tin tưởng ngay đồng chí và phấn khởi là nhất định nhiệm vụ sẽ hoàn thành. Ngoài việc cấp quỹ và phương tiện, tôi đã ký lệnh cho đồng chí rút ngay một đơn vị khỏe nhất của Lữ đoàn 305 do đồng chí Nguyễn Minh Châu 2 làm Tư lệnh, một đơn vị gồm toàn chủ lực Khu 5, Khu 6 tập kết và được phép chọn rút bất cứ cán bộ nào, chiến sĩ nào quê ở Trung Bộ thích hợp với công tác. Sở dĩ chúng tôi chọn người địa phương Trung Bộ lúc này vì Đường 559 lúc đầu chủ yếu là cho Khu 5, chúng tôi sẽ phát huy được sự hiểu biết về dân tình, địa hình của anh em, lại kết hợp được tinh thần cách mạng với lòng yêu quê hương; khi lòng yêu quê hương phù hợp với yêu cầu của cách mạng thì trở thành một sức mạnh thần kỳ với một nhiệt tình vô bờ bến. Thực vậy, bất cứ đơn vị nào được rút người, bất cứ người nào được chọn thì từ thủ trưởng tới chiến sĩ bình thường ai nấy đều cảm thấy hãnh diện cao độ được đóng góp phần nhỏ bé của mình cho cách mạng miền Nam, cho đồng bào miền Nam, mặc dù đơn vị mình sẽ bị xộc xệch cần nỗ lực kiện toàn sau đó, mặc dù biết rằng công tác sẽ vô cùng gian khổ và nhiều nguy hiểm đến tính mạng. Ngày ấy, đường mòn đúng là con đường mòn len lỏi giữa các khu rừng núi hiểm trở phía tây, bí mật vượt sông Bến Hải, băng đường 9. Về sau đường mòn chuyển lên làng Ho, qua nước Lào anh em. Có muôn vàn khó khăn và nguy hiểm lúc ban đầu xây dựng. Có những ngày đói rét, màn trời chiếu đất, hy sinh chết chóc để mở, chỉnh lại đường, lập trạm dự trữ lương thực, tất cả gạo, đạn, thuốc men cho các đồng chí ở chiến trường đều phải gùi lên vai, ngày này qua ngày khác. Những ngày đầu anh em gùi được vài chục ký, đi gần. Nhưng thế thì ít hàng quá làm sao đủ cho đồng chí ta. Anh em trong tổ chức đường dây lúc ấy đâu có đông người. Phải nỗ lực, phải tập luyện, phải làm một người bằng ba. Ta tự giác lao động vì đồng chí, vì cách mạng. Cứ tập và làm, mỗi người đã nâng dần, gùi được 30, 40 rồi đến 60, 70 ký trên vai. Đi đường ngắn rồi đi đường dài, đi ban ngày rồi đi cả ban đêm. Cán bộ lãnh đạo phải tổ chức và chăm lo bồi dưỡng bù đắp sức lao động đã bỏ ra quá lớn của hàng trăm người. Lại phải bố trí hợp lý các cung trạm, đảm bảo việc nghỉ ngơi, thay đổi. Đường càng ngày càng dài ra, vươn tới, tổ chức có quy củ, nền nếp, kỷ luật, năng suất ngày càng cao, hàng hóa đến chiến trường ngày càng nhiều, càng quý. Những kết quả thần kỳ ấy cũng chỉ xuất phát từ những cái rất bình thường; đôi dép cao su cho ôm chân; cái quai gùi cho ôm vai, cái nạng, gậy cầm tay để chống vững qua dốc núi cheo leo, để đỡ vững gùi khi đứng nghỉ cho chắc 3...

     Chiến tranh càng phát triển thì nhu cầu càng tăng lên. Con đường mòn đi chân phải thay bằng đường xe đạp thồ, mỗi xe phải thồ hàng trăm ký. Lại phải phát, sửa lại đường, san dốc đứng, tổ chức lại trạm tiếp sức, tập lại cách thồ cho năng suất cao... cho đến khi đường thồ lại chuyển thành đường xe hơi vận tải, một đường rồi nhiều đường, đường dọc lại có đường ngang... Tất cả đều phải đi lên theo sự phát triển của chiến tranh, của nhu cầu giành thắng lợi. Con đường mòn năm xưa đã trở thành hệ thống đường xe hơi, tàu thuyền dọc sông, đường dây thông tin, đường ống xăng dầu... Đó là quy luật phát triển, quy luật của sống còn, làm khác đi là trái quy luật, không đảm bảo thành công.

    Lịch sử phát triển của con đường Trường Sơn có khác gì câu chuyện thần thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh mà em bé Việt Nam nào lại chẳng biết. Một cuộc đấu tranh để sống còn, để giành lấy hạnh phúc cho mình. Nước càng dâng lớn bao nhiêu thì núi càng vượt lên cao bấy nhiêu. Từ con đường mòn trở thành hệ thống đường xe hơi vận tải khi chiến tranh phát triển leo thang là vậy đó. Với sức bền dẻo dai, với trí thông minh và sáng tạo, với chí khí đạp lên đầu kẻ thù mà thắng, đường mòn Hồ Chí Minh là biểu hiện sức sống vĩ đại của dân tộc.

    Khi Đường 559 triển khai được vài tháng, ta thấy chưa thỏa mãn được nhu cầu, nên phải nghĩ tận dụng cho được Biển Đông. Rẻo đất Trung Bộ dài và hẹp. Hướng tây khống chế bởi dãy núi Trường Sơn hiểm trở, hướng đông đồng bằng đông dân hẹp chạy dài theo bờ biển. Các tỉnh Nam Bộ thì nhiều tỉnh có những dải rừng và sông rạch ăn thông sát biển, nhiều nơi có cả đảo gần, đảo xa rất thuận lợi. Để chi viện đắc lực cho miền Nam, trước mắt là cho Khu 5, Đường 759 - tuyến vận tải trên biển lại được tổ chức cũng do đồng chí Võ Bẩm và Đoàn 559 phụ trách. Dùng thuyền gỗ nhỏ, chạy bằng buồm không xa bờ, ghé đổ lên cho từng tỉnh. Cách vận tải này nguy hiểm nhiều vì vừa phải đối phó với địch vừa phải đương đầu với “sóng Biển Đông, giông Nam Hải”, nhưng nếu thành công thì tác dụng sẽ lớn hơn nhiều so với đường bộ. Tiểu đoàn 603 mang tên ngụy trang “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” được giao nhiệm vụ, đã tích cực chuẩn bị mọi mặt với sự giúp đỡ hết sức của địa phương Quảng Bình. Đầu năm 1960, chiếc thuyền “đánh cá” đầu tiên đã rời bến mang theo 10 tấn vũ khí cho chiến trường Khu 5. Chuyến đi không thành. Sóng to gió lớn đã nhận chìm thuyền, cán bộ thủy thủ dạt vào bờ và sa vào tay giặc. Thế là Đoàn 759 phải tạm ngừng công việc để nghiên cứu kỹ lưỡng hơn cũng để giải tỏa sự nghi ngờ có thể có của địch. Tất cả hãy tập trung vào lo Đường 559 đã. Về sau đường mòn trên Biển Đông đã được tổ chức lại khi điều kiện cho phép và con đường ấy đóng góp lớn cho chiến trường B2.


*
*      *


     Đó là việc lo lắng đảm bảo về vật chất, kỹ thuật. Còn biết bao nhiêu phần chi viện khác trong đó có vấn đề cán bộ các ngành mà cái mới là cán bộ quân sự cho chiến đấu vũ trang theo tinh thần của Nghị quyết 15. Các đồng chí đang có mặt ở miền Nam lúc ấy, tuy có cán bộ đã chiến đấu nhiều năm nhưng đã có ai học được cơ bản, được nghiên cứu có hệ thống về khoa học quân sự đâu. Ta không thể chỉ bằng lòng với kinh nghiệm thực tế. Cần phải tiếp sức, đó là sự lo nghĩ phải kịp thời. Việc chỉ đạo, việc xây dựng thực lực, mọi đảm bảo phải vượt qua tốc độ của chiến tranh, một cuộc chiến hiện đại của một đế quốc đầu sỏ.

    Đây là nói cán bộ xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ huy chiến đấu. Còn cán bộ khác như cán bộ vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở quần chúng thì ngay từ năm 1954 trở đi đã lần lượt vào Tây Nguyên, Khu 5. Ta cần xây dựng vùng Tây Nguyên thành một vùng căn cứ lãnh đạo của toàn miền Nam. Vì vậy những cán bộ tập kết của Khu 5 được lựa chọn, bồi dưỡng huấn luyện năm bước công tác cách mạng, phương pháp tổ chức quần chúng... đặc biệt là vận động người Thượng, chủ của núi rừng Tây Nguyên. Phải biết nhiều thứ tiếng dân tộc ít người, phải hiểu phong tục tập quán người địa phương và đặc biệt là tâm tư nguyện vọng của họ, để hướng họ đi theo cách mạng, đi làm cách mạng. Nhưng bây giờ tình hình đòi hỏi cao hơn, cách mạng miền Nam đã có đường lối rõ ràng trong Nghị quyết, đã dùng phương pháp đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Cán bộ phải đáp ứng với yêu cầu của đường lối cách mạng và phương hướng đấu tranh cách mạng.





-------------------------------------------------------------------
1. Thiếu tướng Võ Bẩm, đã nghỉ hưu.
2. Sau là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 7.
3. Chiến sĩ khi mang gùi nặng trên vai đi được một đoạn đường thì phải nghỉ từ 10 đến 15 phút rồi tiếp tục đi. Khi nghỉ không thể ngồi vì mất thì giờ và bất tiện khi ngồi, khi đứng lên đi, nên phải đứng mà nghỉ. Vì vậy, phải dùng một cái gậy có nạng, khi đứng nghỉ, thì chống đỡ gùi (bồng, ba lô) để vai được nghỉ và chân đỡ nặng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #53 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:04:46 pm »

    Một tối mùa hè năm 1959. Khí hậu nóng bức ở Hà Nội làm cho con người uể oải. Tôi ngồi ở hành lang nhà ở để hứng từng cơn gió nhẹ từ sông Hồng tạt vào, và lơ đãng dò tìm một vài bản nhạc nhẹ với cái máy thu thanh nhỏ. Nhưng tôi bỗng chú ý đến tin một trận đánh vừa xảy ra ở miền Nam, vùng ven Đồng Tháp Mười, thuộc tỉnh Long Xuyên. Đó là tin đài BBC của Anh. Đài loan báo: Trận đánh diễn ra giữa quân Chính phủ (Diệm) và quân Việt cộng. Mỗi bên có cỡ một trung đội. Súng nổ giòn trong vòng hai tiếng đồng hồ. Sau đó hai bên đều rút lui không có thương vong. Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ: Sao lại bắn nhau kéo dài đến hai tiếng đồng hồ mà không ai việc gì là thế nào? Có tin được là đài BBC thu lượm chính xác về trận đánh không? Nếu đúng như thế có phải do nguyên nhân về kỹ thuật: Súng cũ, nòng rộng, bắn không chính xác? Điều này chắc không đúng về phía quân Diệm vì Mỹ đã trang bị cho súng mới, nhưng có thể đúng về phía quân du kích. Súng đành rồi nhưng còn kỹ thuật bắn, phải chăng đôi bên đều không được huấn luyện tốt về bắn súng? Hay là do tinh thần, phát hiện nhau, hoảng sợ nằm bắn vãi đạn rồi rút? Điều này thì có thể đúng về phía quân Diệm nhưng không thể có về phía quân cách mạng. Hay là về chiến thuật: Bên nào tấn công, bên nào phòng ngự? Tấn công thì theo kiểu nào? Phục kích, tao ngộ? Thật là khó hiểu. Nhưng dù sao thì vấn đề đặt ra là anh em ta nhất định là rất cần được huấn luyện tốt về kỹ thuật, chiến thuật để đỡ xương máu và chắc thắng trong từng trận đánh. Đã là chiến tranh thì không thể đùa cợt được. Không thể cứ tưởng tượng, nói dài dòng rồi đâu lại vào đấy, rồi lại bỏ qua, lại tưởng tượng, lại nói. Không! Kết quả cụ thể sống chết sẽ ngay sau trận đánh. Hay dở sờ sờ ra đấy, không thể dở mà cứ nói hay được. Không huấn luyện tốt thì chắc chắn là không chiến đấu được tốt. Những suy nghĩ này không buông tha tôi trong giấc ngủ chập chờn đêm ấy. Ngày hôm sau tôi đi tìm gặp anh Nguyễn Văn Vịnh, người bạn chiến đấu cùng chiến trường Nam Bộ trong chín năm chống Pháp, đang là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng để trao đổi và chia sẻ nỗi lo lắng của tôi. Chúng tôi đã nhất trí với nhau rằng: Việc huấn luyện tốt cho anh em đang chiến đấu ở miền Nam là tối cần thiết và cấp bách. Cán bộ quân sự miền Nam tập kết ra Bắc đã được huấn luyện cơ bản và có hệ thống, nhiều người đã qua các khóa lục quân có chất lượng và cả các lớp bồi dưỡng đào tạo cao hơn. Anh em ấy đang rất cần cho cách mạng miền Nam không những để huấn luyện tại chiến trường mà cả cho chiến đấu nữa. Mỹ - Diệm đã công khai xé bỏ Hiệp định Giơnevơ, đã chà đạp lên pháp lý quốc tế. Ta tập kết ra miền Bắc là thi hành Hiệp định, nay Hiệp định không còn giá trị nữa thì anh em miền Nam tập kết trở về quê hương chiến đấu chống chiến tranh xâm lược và hợp lý, là nhiệm vụ của công dân, là phù hợp với lòng mong mỏi của anh em và của nhân dân. Đây cũng là việc làm cần thiết thực thi Nghị quyết 15 của Trung ương. Chúng tôi bàn nhau cùng đến gặp anh Ba 1 trình bày cặn kẽ những điều suy nghĩ như trên và xin anh cho chọn người đưa về Nam cho kịp thời.

    Tôi và anh Vịnh đến gặp anh Ba ở nhà riêng chiều hôm ấy. Chúng tôi đã cố hết sức trình bày cặn kẽ mọi sự việc và đề ra yêu cầu, xin 100 cán bộ trẻ, tập kết, đã qua các khóa lục quân để về đợt đầu. Nghe xong anh đứng bật dậy, kéo chúng tôi rời khỏi phòng khách đến phòng làm việc của anh, ở đấy có bản đồ Việt Nam lớn treo ở tường. Anh bảo tôi chỉ chỗ diễn ra trận đánh mà đài BBC đã loan tin. Miền Nam Việt Nam nằm vào phần cuối bản đồ. Chúng tôi ngồi xổm dưới sàn gỗ để nhìn rõ vùng ven Đồng Tháp Mười, nơi xảy ra trận đánh. Anh Ba suy nghĩ trầm ngâm một lúc rồi lắc đầu. Tôi bàng hoàng. Anh nói: Khó làm, việc này Bộ Chính trị chưa có ý kiến, không thể được. Tôi và anh Vịnh ỉu xìu, ngược hẳn lúc ra đi và khi hăng hái trình bày lúc mới đến. Chúng tôi nhìn nhau: Làm sao bây giờ? Chúng tôi lại ra sức trình bày lý lẽ, sự cần thiết của miền Nam và sự mong đợi của anh em tập kết. Anh Ba vẫn trong trạng thái suy tư, hình như anh vẫn tiếp tục dòng suy nghĩ trong lúc chúng tôi cứ nói, cứ nài. Đột nhiên anh ngắt lời tôi, hỏi: Một trăm thì nhiều quá, ít hơn có được không? Tôi mừng rỡ nói ngay, thôi anh cho đợt đầu 50 cũng được. Anh vẫn lắc đầu, vẫn cho là nhiều. Rồi anh nói: việc này chưa đưa ra bàn ở Bộ Chính trị mà có bàn thì có lẽ cũng chưa được chấp thuận đâu. Nếu số ít thôi thì tôi có thể quyết định và cá nhân chịu trách nhiệm rồi sẽ báo cáo với Bộ Chính trị sau. Thôi cứ bằng lòng chọn đợt này 25 đồng chí vậy. Anh cầm cánh tay tôi lay lay mạnh và tươi cười: được nhé, nhé, nhé? Tôi vâng và thực tình hết sức mừng rỡ. Thế là thành công rồi. Ít nhưng là mở đầu. Cái mở đầu khi nào cũng hết sức khó khăn nhưng lại vô cùng quan trọng. Đầu xuôi đuôi lọt mà. Chúng tôi phấn khởi từ giã anh ra về. Anh bắt tay, còn dặn: Phải giữ hết sức bí mật đấy nhé, chỉ một ít người biết việc này thôi, càng ít người biết càng tốt. Ai được chọn về người ấy biết, không được nói với bạn bè, không được từ giã. Các anh chịu trách nhiệm đấy.

    Thế là ngay ngày hôm sau, chúng tôi triển khai lựa chọn người, trước nhất cho chiến trường xa, chiến trường Nam Bộ, tổ chức địa điểm tập trung, vạch kế hoạch chương trình huấn luyện, học tập và chuẩn bị mọi trang bị cần thiết cho từng người. Trong thời gian này mọi công việc lo cho miền Nam phải tuyệt đối giữ bí mật cho nên không thể giao cho các cơ quan có sẵn, ngại nhiều người biết dù là cơ quan quan trọng như Bộ Tổng Tham mưu. Vì vậy chúng tôi tổ chức riêng một bộ phận chuyên trách, “phòng nghiên cứu của Bộ Quốc phòng” đặt trụ sở tại nhà 83 Lý Nam Đế, do đồng chí Nguyễn Quang Minh (tức Minh B) một cán bộ tập kết làm Trưởng phòng. Nhà này đã nổi tiếng mà về sau tất cả cán bộ đi B (tức là đi công tác tại chiến trường miền Nam) đều biết. Khi chiến tranh đã phát triển thì công tác chi viện cho miền Nam không như lúc đầu, chỉ giữ bí mật về nội dung. Hai mươi lăm đồng chí được chọn đợt đầu tiên cho Nam Bộ là những đồng chí đã có thành tích chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Nam Bộ có đủ tiêu chuẩn sức khỏe, trình độ, những đảng viên trung thành tuyệt đối với cách mạng và đã qua các lớp đào tạo cơ bản về quân sự, chính trị. Tuy vậy trong lúc tình hình còn nhiều khó khăn gian khổ, đường đi chưa được tổ chức thông suốt, mọi việc đều coi như mở đầu khai phá, đòi hỏi quyết tâm cao và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn nên chúng tôi đặt nguyên tắc tự nguyện là chính. Mỗi đồng chí đều được để hoàn toàn tự quyết định việc đi hay ở. Sự lựa chọn không mảy may sai lầm. Tất cả đều đã được quá trình thực tế gian nguy trên đường hành quân, trong chiến tranh ác liệt kiểm nghiệm. Đồng chí Trưởng đoàn Tư Chương (tức Tăng Thiên Kim) sau khi về miền Nam đã qua các cương vị tham mưu của Ban Quân sự Xứ từ lúc bắt đầu hình thành; Trung đoàn trưởng trung đoàn chủ lực đầu tiên của B2, tức Trung đoàn 761 của Sư đoàn 9 về sau, rồi Tham mưu trưởng Quân khu 8, phụ trách trường lục quân của Bộ và nay là Đại tá hưu trí ở tỉnh Đồng Nai. Đồng chí Phó đoàn là Đặng Ngọc Sĩ, sau này là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Đặc công của B2 và nay là Đại tá phụ trách trường đào tạo hạ sĩ quan Quân khu 7. Một phó đoàn khác, đồng chí Nhơn (tức Vũ) đã bị địch bắt rồi được trao trả tù binh năm 1973, vẫn giữ vững khí tiết cách mạng và nay là Chỉ huy phó Sư đoàn huấn luyện tân binh Quân khu 9. Còn phó đoàn nữa là đồng chí Phong Ba (tức Ba Nghiêm) đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu ở Quân khu 9. Những đồng chí khác, một số đã hy sinh và số còn lại đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang được giao, trong hàng chục năm chiến tranh cho đến ngày nay như đồng chí Ba Kính hiện nay là Tỉnh ủy viên tỉnh Sông Bé kiêm Bí thư huyện Phước Long. Nhiều đồng chí còn đang làm việc, có đồng chí đã về nghỉ hưu.

    Đoàn được tập trung vào tháng 6/1959, còn có thêm ba đồng chí bác sĩ là Đức, Dũng, Thanh. Tuy đã được đào tạo cơ bản, các đồng chí cũng được huấn luyện học tập thêm về chính trị, về bắn các loại súng, chiến thuật, thông tin, chụp ảnh và lái tất cả các loại xe hai bánh và bốn bánh, kể cả xe tăng và thiết giáp. Tập hành quân mang nặng, leo núi, không thể ra thao trường vì phải giữ bí mật, nên dồn đá gạch vào ba lô mang đi lên đi xuống thang gác trong nhà nhiều lần trong ngày, mỗi ngày mỗi tăng thêm trọng lượng trên vai.

    Trong lúc đang rèn luyện, chuẩn bị mọi mặt thì chúng tôi tổ chức đoàn đi trước xoi đường vào Nam Bộ vì lúc ấy đường chưa thông. Đồng thời Trung ương cũng điện cho Xứ ủy Nam Bộ cho cán bộ và đơn vị mở đường từ trong ra để hai đầu cùng tiến đến gặp nhau, bớt kéo dài thời gian chờ đợi.

    Tuy vậy, năm tháng đã trôi qua, chương trình huấn luyện phong phú đã mãn, công việc chuẩn bị xong xuôi mà đoàn xoi đường vẫn chưa bắt liên lạc được với đoàn đi đón. Chúng tôi phải quyết định cho B500 (bí danh của đoàn cán bộ quân sự đầu tiên vào Nam) cứ lên đường theo vết chân đoàn đi mở đường trước rồi bằng vô tuyến điện chúng tôi sẽ điều khiển cho các đoàn liên lạc với nhau. Đúng ngày 25/12/1959, B500 xuất phát từ gò Đống Đa lịch sử. Lúc này Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chấp thuận đề nghị của đồng chí Bí thư thứ nhất, cho đoàn 25 cán bộ quân sự tập kết về Nam. Trước khi lên đường, đồng chí Phạm Hùng mời cả đoàn đến nhà riêng ăn bữa cơm gia đình chia tay, có món canh chua nấu cá lóc truyền thống Nam Bộ. Bác đã đến chia vui, Bác hỏi: Chú nào trưởng đoàn? Tư Chương đứng lên: Thưa Bác, cháu Tăng Thiên Kim, cán bộ trung đoàn. Trìu mến nhìn từng người, nhìn Tư Chương, Bác dặn: Hãy chọn đường nào an toàn nhất mà đi. Ý Bác muốn nói, dù xa, dù lâu, dù khó nhưng cũng phải đi tới nơi về tới chốn. Sau đó anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) chiêu đãi đoàn tại Câu lạc bộ quân nhân. Vinh dự biết bao những con người mở cửa đột phá, đột phá vào chiến trường khói lửa đành rồi, nhưng quan trọng hơn là đột phá quyết định chi viện miền Nam bằng cái vốn quý: Cán bộ chiến đấu. Các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng là những đứa con tin yêu của Đảng. Sau các đồng chí có hàng ngàn, hàng vạn con người xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, có cả những quân đoàn đạp lên xác thù vào thêm sức cho quân dân miền Nam về giải phóng Sài Gòn, tiếng tăm vang dội mà ai cũng biết. Nhưng ít người biết được sự việc âm thầm cực nhọc mà cao cả của 25 anh em về chuyến đầu này cũng như những anh em khai phá mở đường.

    Đồng chí Tư Chương kể lại: Đoàn chúng tôi vượt làng Ho rồi qua sông Bến Hải. Đoạn sông chỗ này nước chỉ đến ống quyển, nhỏ như một con suối. Đôi bờ rậm rạp, cây cối xanh um. Cùng một thứ đất, cùng một loài cây, thiên nhiên không có gì khác biệt để phân chia Nam - Bắc. Thế mà qua khỏi sông, cả đoàn tự nhiên không ai bảo ai, cùng dừng lại ngẩn ngơ, xúc động nhìn dòng sông ngoằn ngoèo về xuôi, ra Biển Đông, xúc động nhìn từ giã bờ Bắc, nhìn xa hơn nữa giống như nhìn thấy lần cuối cả Thủ đô Hà Nội, cả Bác Hồ kính yêu. Đường đi thật hiểm trở, toàn leo núi cao từ núi này qua núi nọ. Vào đến địa phận Kon Tum thì đường có tổ chức đã hết, phải chờ khai thông. Nghỉ được vài hôm chúng tôi được lệnh: Trưởng đoàn phải trở ra bắc Quảng Nam để gặp Bí thư Khu ủy Khu 5. Thế là anh em nằm lại, tranh thủ phát rẫy sản xuất để có lương thực mà ăn và đem theo khi đi tiếp, còn tôi quay trở lại đường cũ. Đến nơi tôi gặp anh Bốn 2 - Bí thư Khu ủy. Anh bảo đường đi chưa thông hãy dừng lại đây chờ. Trong lúc chờ đợi, các đồng chí triển khai giúp chúng tôi một số việc:

    - Tổ chức và huấn luyện các trạm giao liên dọc Trường Sơn mới bố trí từ Quảng Nam đến Kon Tum.

    - Mở một lớp đào tạo y tá cho các địa phương miền núi.

    - Mở một lớp đào tạo tiểu đội trưởng cho anh em người Thượng.

    Hoàn thành các công tác được giao, thu hoạch vài vụ sản xuất, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Đến khoảng giữa Gia Lai và Buôn Ma Thuột, vừa ra khỏi một khu rừng rậm quanh co, chúng tôi cụng trán ngay với một toán lính ngụy người Thượng trên 10 tên và 3 con voi đồ sộ. Đôi bên đã thấy nhau, chúng sửng sốt dừng lại. Tôi ra lệnh nhỏ cho toàn đoàn: Sẵn sàng và theo tôi! Đến sát chúng, tôi tự xưng là một đơn vị biệt kích (chúng tôi ăn mặc theo lính ngụy và mỗi người trang bị một mituyn hoặc cạcbin và một súng sáu) và vặn lại chúng sao dám đi vào khu vực của chúng tôi hoạt động, từ nay phải tránh khu vực này. Chúng dạ một cách cung kính và riu ríu đi qua để cho chúng tôi lại tiếp tục hành quân của mình. Vào đến Buôn Hồ chúng tôi gặp được đoàn đồng chí Tư Lạc 3 đi trước xoi đường, đang trú tại đây, còn đồng chí Tư Lạc dẫn một tổ đi bắt liên lạc với đoàn của Xứ ủy đón chưa về. Thế là chúng tôi nhập bọn. Đúng vào mùa lúa rẫy chín, chúng tôi đi tuốt lúa cho đồng bào và lại làm rẫy tự túc cho đến khi đồng chí Tư Lạc trở lại dẫn cả đoàn đi tiếp. Vào đến địa phận Nam Bộ đoàn chúng tôi chia làm hai. Một bộ phận do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ dẫn đầu qua sông Đồng Nai Thượng, còn tôi dẫn một bộ phận vào Phước Long, gặp được anh Nguyễn Hữu Xuyến. Anh Xuyến lúc ấy là Trưởng ban Quân sự Khu 1.

    Chúng tôi theo anh Xuyến về Khu 1 ở Chiến khu Đ rồi nhận điện của Xứ ủy lại về gặp Xứ ở căn cứ Tây Ninh. Đó là vào đầu tháng 12/1960. Một năm trọn vẹn trên đường đi, bốn lần qua lại quốc lộ 14, hai lần dừng lại trỉa bắp, trỉa lúa để lấy lương ăn và công tác phục vụ địa phương. Tất cả đều vào đến đích, gầy đi, đen sạm, nhưng sức lực và chí khí được trui rèn thêm để lao vào công tác cho miền Nam yêu dấu.





-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2. Tức đồng chí Võ Chí Công, nay là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
3. Đại tá Phạm Văn Lạc, đã nghỉ hưu tại Xuân Lộc, Đồng Nai.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #54 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:09:21 pm »

    Nghỉ ngơi bồi dưỡng cho lại sức, rồi cả đoàn chúng tôi được tham dự Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20/12/1960. Ở Đại hội này đồng chí Lê Thanh 1 đại diện chung lực lượng vũ trang, còn chúng tôi thì đại diện cho các binh chủng (đoàn chúng tôi gồm cả cán bộ bộ binh, pháo binh, đặc công, thông tin, quân y). Sau Đại hội chúng tôi được phân công công tác, được điều về Quân khu 7, 8, 9 và Sài Gòn - Chợ Lớn, mỗi nơi bốn người. Tôi và số người còn lại được bố trí ở Ban Quân sự thuộc Xứ ủy. Thực tế Ban Quân sự vừa lập để giúp Xứ ủy chỉ đạo về mặt quân sự, mới gồm vẻn vẹn một số cán bộ ít ỏi do các anh Ba Bường 2 và Hai Xô 3 phụ trách, anh Tư Võ (Võ Phát) - Chánh văn phòng, anh Nhựt Quang - Thư ký, anh Năm Thành - hậu cần. Còn tôi lo công tác tham mưu, anh Ba Nghiêm công tác chính trị.

    Lực lượng vũ trang trực thuộc có hai trung đội bảo vệ. Mầm mống lúc đầu là như vậy, nó là tiền thân quý báu của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam sau này. Công việc đầu tiên tại chiến trường mà các đồng chí trong đoàn chúng tôi đã thực hiện kết quả là mở các lớp dạy bắn súng. Các nơi dấy lên phong trào bắn chính xác: “Một viên đạn một quân thù”...

    Còn đoàn đồng chí Tư Lạc đi trước xoi đường để đưa đoàn đồng chí Tư Chương tới đích thì xuất phát từ ngày 01/6/1959. Đoàn gồm tất cả 32 đồng chí, có điện đài, do Tư Lạc và Ba Phước phụ trách. Đồng chí Tư Lạc nay đã gần 70 tuổi, vẫn kể chuyện rành mạch như mới xảy ra vào ngày gần đây. Đồng chí cười nói: “Ai có thể quên được chứ chúng tôi không bao giờ quên chuyện mình đã làm, nhất là những ngày đầy gian khổ ấy”. Đồng chí kể:

    Đường đi thật gian nan vất vả. Leo núi, xuống đèo, hết đèo lại núi. Thế mà phải mang theo nửa tháng đến một tháng gạo ăn mỗi người không kể đồ dùng, súng đạn. Có những suối đá, bờ dốc đứng, nước chảy xiết, vượt qua được thật nguy hiểm. Phải buộc dây vào mình mà lần từng bước. Trước khi đi chúng tôi đều được tập bơi lội đủ kiểu, nhưng bơi gì được với kiểu suối này. Đặc biệt là muỗi và vắt không chê vào đâu được. Vắt đen, vắt xanh, vắt nhỏ, vắt lớn, cả đàn, cả lũ. Dưới đất có mà trên cây cũng có. Nhất là ở bờ suối ẩm, không biết đặt chân vào đâu, vì tua tủa những “cần ăngten” ngọ ngoạy. Trong lúc ta chăm chú bọn vắt dưới đất thì từ cây cối hai bên, vắt bung chính xác vào mặt, vào cổ. Nếu không biết hoặc bắt còn sót thì vắt cứ im lìm bò dọc theo người, tìm nơi kín đáo nhất nằm, tha hồ hút đầy máu. Khi quá no căng, vắt nhả ra và rớt đi. Còn ta đi cho đến lúc có đồng chí bên cạnh phát hiện giùm vì máu thấm đỏ cả quần hoặc áo. Không nguy hiểm lắm nhưng mất bao nhiêu máu, bao sức lực, trong khi vận động nhiều mà ăn uống khổ cực. Thật phải chiến đấu ra trò với bọn chúng. Đường đi vắng vẻ, hầu như từ khai thiên lập địa chưa có dấu chân của con người qua đây. Vì vậy khi qua những vùng gần địch, băng qua đường xe, qua buôn rẫy của đồng bào... chúng tôi đều phải bỏ dép râu (dép cao su) ra cầm tay đi chân không, để khỏi lộ vết tích của “Việt cộng”. Đường chúng tôi đi dài cả năm như vậy mà đến hai phần ba là dép mang trên người chứ không phải người đi dép. Cuối tháng 11/1959 chúng tôi đến địa phận Buôn Ma Thuột. Qua khỏi con sông Ba là hết đường đi, không có trạm, phải nhằm hướng mà mở đường. May quá, đến Buôn Hồ lại gặp một trạm. Chúng tôi ở lại đây bắt liên lạc với Trung ương và Nam Bộ bằng máy 15 oát và phát rẫy sản xuất bảo đảm lương thực. Đến tháng 7/1960 thì chúng tôi nhận được điện chỉ đạo của Trung ương về hướng tiến, địa điểm bắt liên lạc với đoàn của Xứ ủy Nam Bộ đi đón: Bờ suối Đắk Rtí gần Gia Nghĩa, một con suối chảy ra sông Đồng Nai Thượng. Rồi cách làm dấu tại bờ suối nếu đoàn nào đến trước, khẩu hiệu hỏi, đáp để nhận nhau. Chúng tôi liền tổ chức một tổ gồm tôi, đồng chí Đỏ tức Mađen, người xã Xuân Thọ (Xuân Lộc) và đồng chí Thời người quê Túc Trưng (tỉnh Đồng Nai) đi đến địa điểm móc ráp, còn cả đoàn cứ ở lại trạm, sản xuất lương thực và chờ. Khi tới suối Đắk Rtí, nghe cả tiếng loa đài phát thanh ngụy từ thị xã Gia Nghĩa, chúng tôi đi lùng dọc bờ vẫn không có dấu vết gì của đoàn đi đón. Rõ ràng theo chỉ đạo ở trên thì ở bờ suối bên này. Nhưng cũng cứ qua bờ bên kia xem có gặp được không. Suối đá trơn, sâu, bờ suối dựng đứng, nước chảy xiết, tìm mãi không có nơi nào qua được dễ. Đành phải chọn nơi tốt nhất. Tôi để hai đồng chí lại, còn tôi cột dây vào thân mình để băng qua suối. Nhưng đồng chí Thời cản tôi lại, đòi để đồng chí đi vì đồng chí trẻ và khỏe hơn tôi và nếu có rủi ro thì không phải là trưởng đoàn hy sinh. Giằng co mãi tôi đành nhượng bộ. Người đi hăng hái, người ở lại theo dõi từng bước của bạn mới là khổ: Lo lắng, bồn chồn, rồi mừng, rồi lại lo. Phải mất nhiều giờ đồng chí mới qua gần đến bờ bên kia. Rủi thay, một cái trượt chân đồng chí vội bíu vào mỏm đá, nhưng đá trơn quá mà nước chảy mạnh, mang luôn đồng chí xuôi theo dòng. Chúng tôi chỉ còn kịp nhìn chăm chú sự vật lộn của đồng chí với dòng nước ác nghiệt, với những tảng đá lởm chởm cho đến khi khuất dạng. Băng qua cứu không được, chạy dọc theo bờ cũng không kịp, chúng tôi đành ngồi đợi một tin may rủi. Ba ngày vẫn bặt tăm. Lại cạn lương thực. Thế là hai chúng tôi còn lại phải trở về trạm Buôn Hồ lấy lương thực rồi trở vào lần nữa. Lần này có đồng chí Năm Nhường 4 thay chỗ đồng chí Thời cho đủ bộ ba. Đúng ngày 30/9/1960 thì tổ chúng tôi đến đúng nơi cũ ở bờ suối. Đã có nhiều dấu chân lạ. Đi lùng một hồi thì gặp hai cậu thanh niên đang nằm trên võng. Tôi hỏi theo khẩu lệnh: “Ký ninh xanh?”. Đáng lẽ trả lời là “Ký ninh vàng” thì một cậu hỏi có phải đoàn anh Tư Lạc không? Nhưng thôi, nhìn trang phục, nhìn người, nhìn thái độ cũng nhận ra, mừng quá rồi. Thì ra hai cậu này đã đến suối, trước cả lần trước chúng tôi đến tới bảy ngày nhưng lại ở bên kia bờ suối. Lần này mới qua đúng nơi hẹn gặp. Đây là đội viên của trung đội đi đón do đồng chí Bảy Tâm (còn gọi là Bảy BK) và Sơn phụ trách, nhưng cả trung đội đóng ở bên kia bờ sông Đồng Nai. Chúng tôi lại làm bè và lội qua sông, suýt nữa thì tôi và đồng chí Năm Nhường cũng bị trôi theo dòng, may nhờ ba cậu thanh niên cứu kịp vào bờ. Yên tâm rồi, chúng tôi trở về Buôn Hồ để đón đoàn vào. Khi đi cả tháng thế mà lần này chỉ mất có sáu ngày. Đó là nhờ đồng bào Thượng ở các buôn dẫn đường, từ buôn này qua buôn kia. Đồng bào Thượng tin và giúp chúng tôi vì có đồng chí Đỏ. Đồng chí gốc người Thượng lại được học nhiều tiếng dân tộc trước khi lên đường từ miền Bắc. Khi nghe đồng chí Đỏ nói chuyện, đồng bào rất ngạc nhiên hỏi: “Bây ở đâu tới? Sao bây biết nói tiếng? Từ thời Tây đến nay chưa có ai tới đây như bọn bây”.

    Đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang nhưng mất đi đồng chí thân yêu, một người con dũng cảm của Tổ quốc: đồng chí Thời.

    Tư Lạc sau đó được chỉ định phụ trách quân sự tỉnh Quảng Đức (từ tháng 10/1960 đến tháng 10/1961). Đồng chí đã xây dựng được lực lượng và tác chiến có kết quả. Đã có trận dùng một tiểu đội đặc công và hai trung đội bộ binh diệt gọn quận lỵ Đức Lập vào tháng 12/1960, thu được 50 súng. Sau đó được chuyển qua phụ trách quân sự tỉnh Lâm Đồng nhưng chưa kịp gặp tỉnh ủy nhận nhiệm vụ thì được điều về Khu 1 (miền Đông Nam Bộ) nơi đồng chí đã hoạt động trước khi đi tập kết. Sau khi được phép gặp vợ con lúc ấy đang làm công tác phụ nữ ở tỉnh Biên Hòa, đồng chí về phụ trách quân sự tỉnh Long Khánh. Kể xong sự việc đồng chí trầm ngâm, kết thúc: “Có thể gọi được rằng mình đã sống trong một thời kỳ lịch sử của dân tộc, và giờ đây vẫn còn sống. Thế là quý rồi!”.


*
*      *


    Sau khi đoàn đồng chí Tư Chương lên đường, chúng tôi lại được phép chọn nhiều cán bộ tập kết khác của chiến trường Nam Bộ cũng như Khu 5 cũ, lần lượt tập trung huấn luyện và lần lượt vào Nam tham gia chiến đấu. Rõ ràng là đầu xuôi đuôi lọt. Chúng tôi phấn khởi say sưa tổ chức đưa hết đợt này đến đợt khác vào chiến trường mong công việc không bị một bất ngờ nào làm đình trệ. Anh em cán bộ tập kết, mặc dù đã giữ hết sức bí mật sự việc về Nam chiến đấu, vẫn bằng cách nào đó, anh em còn lại biết được rành rẽ và hầu như ai cũng mong ngóng chờ đến phiên mình. Những ngày chủ nhật, ngày rảnh, gặp nhau ngoài đường họ mỉm cười gật đầu: Mày cũng còn đây hả. Rồi hỏi nhau thằng X, thằng Y đi rồi sao, lâu nay không thấy mặt. Cũng có người nôn nóng đi tìm người quen hỏi dò: Bao giờ tới phiên tôi. Tất nhiên cũng có người sợ chết không dám vào chiến trường, nhưng số này quá ít không đáng kể. Bản thân tôi cũng đâm ra sốt ruột. Từ năm 1959 tôi đã xin các đồng chí Bộ Chính trị cho tôi về Nam, cũng do Nghị quyết 15 kích thích. Các đồng chí đã trả lời: Bệnh anh chưa ổn định đi thế nào được, quyền quyết định bây giờ là do bác sĩ. Khi tiễn một đoàn cán bộ trung cao cấp lên đường vào năm 1960, một đồng chí quen thân đã cảm động bắt tay tôi thật chặt và nói để an ủi: “Anh đành phải ở lại thôi, rất cần thiết để lo cho tất cả anh em về và tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi về thay anh chiến đấu thật tốt vậy”, và nói thêm một cách thành thật: “Bây giờ anh đã làm trung tướng của Quân đội nhân dân rồi, về thế nào được”. Một lời nói chân tình nhưng không khỏi làm tôi bàng hoàng. Tôi nhớ ngay đến những ngày chuẩn bị tập kết năm 1954. Ngày ấy tôi đã đề nghị lên Trung ương Cục cho tôi ở lại miền Nam không đi tập kết. Các anh đã trả lời tôi: “Anh đã lộ liễu quá rồi, là Tư lệnh Khu, là Phó Tư lệnh Nam Bộ, anh ở lại thế nào được”. Tôi đã bực bội trong lòng không đâu vào đâu suốt cả tuần lễ chỉ vì các chức vụ cao cấp công khai của mình. Nhưng ngày ấy sợ vi phạm Hiệp định, còn bây giờ thì Hiệp định đã bị địch xé bỏ rồi. Sau phút bàng hoàng vì câu nói bất ngờ của bạn, tôi trấn tĩnh ngay và trả lời: “Chính vì cấp bậc trung tướng mà Chính phủ đã phong cho tôi trong đợt phong quân hàm đầu tiên cho quân đội này, nên để xứng đáng với nó tôi càng phải vào chiến trường sớm. Các đồng chí biết không, cấp trung tướng tôi được phong vì tôi đã hoàn thành những công việc tương xứng ở chiến trường Nam Bộ trong những năm chống Pháp. Chính chiến trường Nam Bộ đã đào tạo nên tôi, bao nhiêu đồng chí đồng đội đã ngã xuống ở chiến trường, đồng bào Nam Bộ đã nuôi dưỡng và giúp đỡ cho tôi hoàn thành nhiệm vụ, tức như đã phong cấp cho tôi hoặc có thể hiểu rằng cấp bậc ấy không phải riêng cho tôi mà là vì chiến trường Nam Bộ đấy. Giờ đây tôi phải có nghĩa vụ phục vụ chiến trường và nhân dân miền Nam đang đem xương máu ra đấu tranh chống địch. Địch không đếm xỉa đến thỏa thuận với ta sao ta lại bám vào thỏa thuận không có giá trị? Các đồng chí hãy về trước, tôi sẽ cố gắng theo gót các đồng chí”. Tôi đã tin chắc như vậy. Và tôi đã nói đúng như thâm tâm của mình hiểu một cách trang trọng về cấp bậc quân đội. Cho đến 16 năm sau, năm 1974 tôi được lên một cấp, cấp thượng tướng, tôi cũng nghĩ rằng nếu tôi không vì nhân dân, vì chiến trường B2 mà chiến đấu, mà phục vụ hết mình thì không thể xứng đáng với cấp bậc ấy và cấp bậc ấy phải chăng là của B2, của những đồng chí đồng đội đã ngã xuống ở B2 mà có. Chính vì vậy có một lần tôi đã phản ứng ra mặt đối với một đồng chí cấp cao khi đồng chí ấy hỏi tôi, sao không phong đại tá cho một đồng chí đang làm công tác công khai mặt đối mặt với địch tại Sài Gòn, khi ấy đồng chí này mới là thiếu tá. Tôi trả lời rằng đồng chí ấy chưa đủ thành tích xứng đáng được phong vượt cấp lên đại tá. Đồng chí cấp trên ấy đã vừa cười và nói: Ôi chao, cấp bậc cũng do ta đặt ra mà mang thôi, có gì mà chưa với đủ. Tôi đã như bị một cú “sốc” mạnh vì cái cười và câu nói vô trách nhiệm ấy (đúng là đồng chí ấy chưa từng chiến đấu ngày nào ở chiến trường đâu hiểu nổi giá trị thực của một chiến sĩ, một cấp bậc sĩ quan), đến nỗi tôi sa sầm nét mặt, không nói thêm một lời nào và quay ngay đi chỗ khác. Tôi cay đắng nghĩ: Nếu ai cũng cho cấp bậc quân đội là như vậy, do ta đặt ra thì ta có thể tùy tiện phân phát, không có một chân giá trị thì quân đội chiến thắng của ta rồi sẽ ra sao? Không, mọi thứ trên đời này đều có chân giá trị của nó. Mỗi con người đều có một phẩm chất, mỗi sự việc đều có một ý nghĩa. Nếu không, xã hội không tồn tại. Năm 1973, khi tôi là Trưởng đoàn đại diện quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên ở Sài Gòn, tôi gặp Sullivan - Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, đại diện Chính phủ Mỹ đi công cán qua Sài Gòn, đến thăm xã giao tôi và Thiếu tướng Lê Quang Hòa ngày ấy là Trưởng đoàn quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi gặp tại trụ sở của hai phái đoàn quân sự chúng ta ở trại “Đavít” trong sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đã nói vừa thật vừa xã giao: “Được nghe tiếng ngài Sullivan từ lâu, nay mới được hân hạnh gặp ở đây”. Sullivan mỉm cười ý nhị trả lời: “Tôi cũng rất hân hạnh gặp Trung tướng Trần Văn Trà lần này, tuy rằng tôi đã biết tiếng ngài từ lâu, nhất là thời kỳ ngài đã phái Sư đoàn 316 qua tìm tôi ở Vientiane”. Lúc ấy y là Đại sứ Mỹ ở Lào đóng tại Vientiane. Tôi cười lớn một cách thành thật: “Vâng, lần này không tìm cũng gặp và tôi mong ta sẽ còn gặp nhau vui vẻ nhiều lần nữa trong cảnh thanh bình”.

    Như vậy đó, Mỹ và ta đã biết nhau nhiều. Trong thời đại ngày nay khó mà ai che giấu ai được mọi chi tiết. Sullivan nhắc chuyện hồi đầu 1960 ở Lào, khi đó Trung tướng Trần Văn Trà là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân, là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, ngày nay Trung tướng Trần Văn Trà lại là Trưởng đoàn quân sự miền Nam ở Sài Gòn, phải chăng y công khai thừa nhận việc cán bộ tập kết bất cứ ai đều có quyền trở về miền Nam chiến đấu vì độc lập tự do chống xâm lược? Tôi vui vẻ cười to một cách thành thật trong khung cảnh ngoại giao là nghĩa như vậy.




------------------------------------------------------------------
1. Nay là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7.
2. Phạm Thái Bường, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, đã mất.
3. Phạm Văn Xô, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, đã nghỉ mất sức.
4. Hiện nay làm công tác thanh tra ở tỉnh Sông Bé.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #55 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:17:24 pm »

CHƯƠNG V
Đồng khởi



    Năm 1959 là một năm đáng ghi nhớ sau một giai đoạn vô cùng khó khăn của cách mạng miền Nam trong thế thủ chịu đựng những thiệt hại lớn lao của nhân dân và của lực lượng ta do Đảng lãnh đạo.

    Từ năm 1954 đến năm 1959, trải qua hơn 5 năm trời, chính quyền Ngô Đình Diệm được chủ Mỹ nuôi dưỡng và dùng vũ lực đặt lên ở miền Nam Việt Nam, được tên phù thủy Lansdale đã từng có kinh nghiệm phụ trợ cho Magsaysay đánh phá phong trào nhân dân Philíppin và hàng trăm cố vấn Mỹ giúp sức, dùng vũ khí và đôla Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh liên miên đánh vào nhân dân miền Nam dưới chiêu bài diệt cộng. Những cuộc hành quân cảnh sát lớn nhỏ, những cuộc càn quét giết người cỡ trung đoàn, sư đoàn tiến hành khắp thôn quê thành thị. Diệm diệt phe đối lập, đánh lực lượng vũ trang giáo phái, bắt tù và tàn sát hàng vạn người vô tội, nhốt cả triệu quần chúng vào các trại tập trung, khu dinh điền, khu trù mật, cướp ruộng đất của nông dân cho địa chủ, đàn áp các tầng lớp công nhân, tiểu thương, trí thức... ở thành thị, bóp nghẹt mọi tự do dân chủ, tạo nên một cuộc sống ngột ngạt dài ngày ở miền Nam. Chế độ buôn dân bán nước của Diệm không có cơ sở xã hội, phải tạo ra tầng lớp địa chủ tư sản mại bản, quân phiệt mới để làm chỗ dựa. Muốn giữ vững địa vị thống trị, chúng không thể cai trị dân theo các phương thức bình thường của một nhà nước gắn bó với dân, mà phải dùng biện pháp tàn ác nhất, phátxít nhất, nhằm đè bẹp sự chống đối của nhân dân từ mọi phía; phải dùng nhà tù và lưỡi lê để chống lại nhân dân, buộc nhân dân phải khuất phục một bề, dưới quyền lực của một nhóm nhỏ mà tiêu biểu cầm đầu là gia đình họ Ngô. Sự đàn áp khủng bố ngày càng tăng, bất chấp dư luận rộng rãi trong nước và ngoài nước, đạp lên oán hờn xương máu, miễn biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia riêng biệt chống cộng theo ý đồ của đế quốc Mỹ. Mức tột cùng của tàn bạo là vào năm 1959 khi Diệm cho kéo máy chém đi khắp mọi nơi, chặt đầu bất cứ ai dám có ý nghĩ chống đối lại. Thực ra Diệm tiến hành hàng loạt tội ác ấy ngoài ý thức giai cấp phong kiến địa chủ phục thù, ngoài sự ham mê quyền lực tối cao, danh vọng hão huyền một thời, còn bị sự thúc ép thực hiện ý đồ và kế hoạch của chủ Mỹ. Còn Mỹ, nếu ta bình tâm nghiên cứu âm mưu và hành động thực tế của Nhà Trắng qua các thời kỳ, từ lúc đầu tư lớn thúc đẩy Pháp tiếp tục chiến tranh, chiếm cho được Đông Dương trong những năm đầu thập kỷ năm mươi, đến lúc thay Pháp dựng Diệm lên làm tiếp chiến tranh một phía, thì ta thấy rõ con đường đã và sẽ tiếp diễn của Mỹ. Mỹ đã buộc Diệm xé bỏ Hiệp định Giơnevơ, quyết xâm lược và biến miền Nam Việt Nam thành một nước phụ thuộc Mỹ, một đầu cầu trên đất liền châu Á để chống cộng dù phải tiến hành kiểu chiến tranh nào, thật đã rõ như ban ngày. Đó là sự nhất quán thi hành theo chính sách chiến tranh lạnh của đế quốc Mỹ thời kỳ ấy, thời kỳ mà “Harry Truman trở thành tín đồ của một cuộc chiến tranh lạnh đổi mới và mạnh mẽ chống lại Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản nói chung” 1.

    “NSC-68” 2 kiến nghị rằng Mỹ phát triển một khả năng quân sự và một môi trường trong nước Mỹ và trong tất cả các khu vực khác của thế giới mà theo đó, Mỹ và hệ thống của Mỹ có thể sống sót, để đi đến mục đích đó, Mỹ phải tiến hành một cuộc chiến tranh thực sự với người Xôviết hoặc với những người làm thay cho họ trong bất cứ nơi nào trên thế giới. Chính sách chiến tranh lạnh của Truman từ năm 1950 thúc đẩy nước Mỹ tăng chi phí quốc phòng, tăng quân số, chạy đua vũ trang, gây tình hình căng thẳng thế giới đi đến làm chiến tranh thực sự ở Việt Nam.

    Trong khi lao vào cuộc chiến tranh chống nhân dân Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, đế quốc Mỹ đã cố nặn ra Khối hiệp ước xâm lược Đông Nam Á (SEATO) để lôi kéo các nước ấy cho có thêm sức mạnh quân sự và chính trị phản động. Nhưng quan trọng hơn là đế quốc Mỹ tìm mọi cách chia rẽ, mọi thủ đoạn ngoại giao và áp lực để tìm sự nhất trí và cấu kết giữa đế quốc và các thế lực cơ hội bành trướng ngay từ lúc ấy là chia cắt lâu dài nước Việt Nam, nhằm bảo đảm cho sự thành công của chiến tranh xâm lược, chống cộng ở Đông Dương, để vững bước tiến trên con đường tội ác, hết nấc thang này đến nấc thang khác.

    Nếu năm 1959 là năm tột cùng tàn bạo khủng bố của chế độ Mỹ - Diệm thì năm ấy sức chịu đựng và chống đối của nhân dân miền Nam cũng đã đến giới hạn bùng nổ. Khi kẻ thù đã dùng đến những thủ đoạn cực đoan nhất, điên cuồng nhất chống nhân dân thì nhân dân cũng chống trả lại bằng hành động quyết liệt nhất. Chính vì vậy mà năm 1959 là năm chuyển mình to lớn của cách mạng miền Nam từ thế phòng ngự qua tấn công để đè địch xuống, vươn lên giành những thắng lợi. Đó là đêm trước của ngày khai hoa nở nhụy: Ngày hội Đồng khởi của miền Nam thành công.

    Hai tiếng “Đồng khởi” mà ngày nay trở thành quen thân với mọi người chúng ta, trở thành tiêu biểu của một thời đấu tranh cách mạng vang lừng năm 1959-1960 của miền Nam Thành đồng Tổ quốc, xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng tỉnh Bến Tre ngày 02/01/1960 để bàn chấp hành quyết định của Khu ủy 2 3 “tháng Giêng năm 1960 tiến hành nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt”. Các đồng chí dự họp đã gọi tắt “nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt” bằng “Đồng khởi”. Chỉ đơn giản thế thôi nhưng “Đồng khởi” đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh anh hùng của nhân dân ta vì bao nhiêu máu của đồng bào đồng chí toàn miền Nam đã đổ ra, để đồng khởi làm chuyển biến một giai đoạn cách mạng hết sức quan trọng, đã chuyển một thời kỳ ảm đạm lên một thời kỳ rạng rỡ.

    Nghị quyết 15 đã được tóm tắt điện vào cho Xứ ủy Nam Bộ cũng như các khu khác và sau đó các đồng chí dự họp mới lần lượt trở về địa phương thông báo đầy đủ. Tháng 11/1959, Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị lần thứ tư thảo luận Nghị quyết Trung ương 15 và bàn việc chấp hành. Hội nghị đã đánh giá sâu sắc tình hình và những ưu khuyết điểm trong lãnh đạo phong trào vừa qua. Ưu điểm căn bản là đã bảo toàn được lực lượng Đảng lãnh đạo, huy động được lực lượng quần chúng đấu tranh chính trị, qua những cơn bão tố đàn áp khốc liệt của địch, tuy có bị tổn thất nặng nề. Hội nghị đã biểu dương các Đảng bộ địa phương, cơ sở đã bám dân, bám đất, đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh với những khẩu hiệu chính trị dân sinh dân chủ đúng đắn, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ đã sớm hướng mạnh phong trào chống việc cướp đất tăng tô, giữ được quyền lợi thiết thân của nông dân. Về phương pháp đấu tranh, Hội nghị nhận định: “Mấy năm qua, trong đấu tranh chính trị ta biết kết hợp hoạt động vũ trang tuyên truyền để hỗ trợ thúc đẩy phong trào. Trong một số vùng hoạt động võ trang tuyên truyền để hỗ trợ, thúc đẩy phong trào, trong một số vùng hoạt động võ trang tuyên truyền đã hạ uy thế địch và nâng uy thế ta, mở rộng ảnh hưởng và cơ sở cách mạng ở vùng yếu kém, có tác dụng hạn chế hung hăng của bọn gian ác địa phương và phân hóa bọn này. Nhưng sử dụng vũ trang tuyên truyền trong thời gian qua, trong phạm vi chiến thuật hỗ trợ thúc đẩy phong trào, ta cũng chưa sử dụng đúng mức và cũng chưa phát huy danh nghĩa ảnh hưởng của võ trang tuyên truyền tấn công chính trị vào địch. Có nơi co thủ quá, đối phó địch chưa tương xứng, có nơi không dám sử dụng, cho nên địch có lấn lướt uy thế đấu tranh của quần chúng, làm thiệt hại cơ sở cách mạng khá quan trọng”. Hội nghị cũng biểu dương: “Ta đã biết dựa vào lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng là chủ yếu, lấy đấu tranh chính trị rộng rãi của quần chúng làm chính và giữ thế công khai hợp pháp của phong trào. Điều đó có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh chống các chính sách của địch để đưa cách mạng tiến lên”. Nhưng Hội nghị cũng phê phán nghiêm khắc từng nơi, từng lúc “chỉ thuyết phục quần chúng trở về thế hợp pháp đơn thuần làm thiệt hại đến phong trào, địch đánh phá mạnh tổ chức, đưa quần chúng vào thế bị kềm kẹp của địch”. “Hiện nay trong các vùng căn cứ kháng chiến cũ, ở rải rác trong các tỉnh đã xuất hiện một số người bất hợp pháp đối địch với chính quyền Mỹ - Diệm. Có những cái “túi” gồm có hàng trăm hàng ngàn người lẩn tránh địch và chiến đấu chống địch để tồn tại. Ta phải có kế hoạch giải quyết hợp lý, hợp tình có lợi cho phong trào chung, không cho đó là một chướng vật cản ngại phong trào. Không vì thế hợp pháp mà thúc ép quần chúng co thủ ngăn cản không để cho họ dùng vũ trang chống lại địch để tự vệ”  4.





-----------------------------------------------------------------
1. Trích Lời phán quyết về Việt Nam (Vietnam Verdict) của Giôdép Amtơ, bản dịch của Trung tâm Thông tin khoa học và kỹ thuật quân sự.

2. NSC-68 là bị vong lục Hội đồng an ninh quốc gia ngày 14/4/1950 bao gồm một tài liệu lấy tên là “Một báo cáo cho Hội đồng an ninh quốc gia của các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng về các mục tiêu và chương trình của Mỹ đối với an ninh quốc gia”, được cho ra công khai ngày 27/02/1975. “NSC-68 hình thành và phản ánh các quyết định chính sách lớn của Chiến tranh lạnh. Tổng thống Truman tuyên bố một tình trạng khẩn cấp quốc gia, trong khoảng thời gian một năm, một triệu lính đã được thêm vào các lực lượng quân sự Mỹ; không quân đã được cung cấp thêm năm lần máy bay và ngân sách quốc phòng từ 13,5 tỷ đôla lên 48,2 tỷ đôla”

3. Lúc ấy miền Trung Nam Bộ ta hay gọi là Khu 2, miền Đông Nam Bộ là Khu 1 và miền Tây Nam Bộ là Khu 3.

4. Trích Nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ, tháng 11/1959. Hồ sơ lưu trữ tại Phân viện Lịch sử quân sự thuộc Bộ Quốc phòng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #56 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:23:47 pm »

    Để thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương, Nghị quyết Xứ ủy đã đề ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là: “Giữ vững và đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng, lấy đấu tranh chính trị rộng rãi và mạnh mẽ của quần chúng làm chính, đồng thời kết hợp hoạt động võ trang tuyên truyền để: chống chính sách khủng bố tàn bạo, chính sách bóc lột vơ vét, chính sách cướp nước và bán nước, nô dịch dân tộc và gây chiến của Mỹ - Diệm. Ngăn chặn và đẩy lùi từng bước mọi chính sách của địch, đẩy địch vào thế bị động và cô lập hơn nữa về chính trị, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân chủ”. Ở đây, cũng theo Nghị quyết 15 của Trung ương, đã đặt rõ mục đích đường lối cách mạng miền Nam là đánh đổ Mỹ - Diệm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam có hướng đi rõ rệt và triệt để cách mạng. Về phương pháp có nêu một cách rất đúng đắn: “Phải biết kết hợp sử dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và bất hợp pháp một cách linh hoạt, phối hợp chặt chẽ phong trào ở đô thị và phong trào ở nông thôn và vùng căn cứ thì mới tạo được cái thế vững mạnh để đẩy phong trào cách mạng tiến lên”. Về phương pháp đấu tranh vũ trang tuy chỉ để là “kết hợp hoạt động vũ trang tuyên truyền” nhưng trên thực tế ở khắp các khu từ lâu đã có những trận đánh thực sự để tự vệ chống lại quân đội Diệm đi càn quét. Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thường nói: “Có đường lối đúng, phải có phương pháp cách mạng đúng thì mới giành được thắng lợi”. Đúng là như vậy. Thực tế trong thời kỳ 1959-1960 ở miền Nam, cán bộ và quần chúng chỉ cần “nghe hơi” có nghị quyết của Trung ương và Xứ ủy đã cho kết hợp với đấu tranh vũ trang là khí thế đã bừng lên rồi. Nhiều đảng viên cũng như quần chúng đã nhảy lên reo hò mừng rỡ: Đảng đã cho đánh rồi. Cuối năm 1960 trong cuộc họp kiểm điểm công tác của Khu 1 (miền Đông Nam Bộ) anh em đã nhận định: “...Nhưng từ đầu năm 1960, sau khi học tập Nghị quyết 15 của Trung ương và Nghị quyết Hội nghị Xứ ủy lần thứ tư, đường lối chủ trương sáng suốt của Đảng lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu có kết hợp hoạt động vũ trang đúng mức nhằm phương hướng tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, đã đem lại cho chúng ta một luồng sinh khí mới và niềm tin tưởng phấn khởi”. Ở đây thấy rõ đường lối và phương pháp gắn chặt với nhau. Các đồng chí chúng ta phấn khởi tin tưởng với chủ trương phương hướng tổng khởi nghĩa cướp chính quyền để thoát ra khỏi chỗ bế tắc là đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, đòi hòa bình nhưng địch không thi hành Hiệp định, không chịu hòa bình từ bao năm nay rồi thì làm gì nữa? Lực lượng cách mạng ngày càng bị tiêu hao thì phải làm thế nào? Có thể nói từ tháng 7/1956 trở đi, các đồng chí chúng ta cũng như quần chúng cách mạng không ai nghĩ là phải đấu tranh gìn giữ củng cố hòa bình nữa vì từ năm 1954 đến nay có giờ phút hòa bình nào đâu mà giữ. Cũng không còn ai nghĩ là có thể đấu tranh đòi tổng tuyển cử theo Hiệp định Giơnevơ nữa vì Mỹ - Diệm đã tỏ ra quyết xé bỏ Hiệp định rồi. Rõ ràng chỉ có chống xâm lược Mỹ, loại bỏ ngụy quyền tay sai ngoại bang đang đàn áp đẫm máu nhân dân, giành tự do và độc lập mà thôi. Các đồng chí chúng ta cũng như quần chúng nhân dân đòi được trừ gian diệt ác, đòi được cầm súng bắn lại quân đội Mỹ - Diệm đã tiến hành chiến tranh từ bao lâu nay, nay nghe nói cho đánh rồi, tự nhiên phong trào bật lên mạnh mẽ một cách không lường được. Phương pháp cách mạng đúng, chủ trương chính sách cụ thể đúng, nhiều khi trở thành chìa khóa mở tung cửa căn phòng tối tăm để cán bộ qua một lâu đài rực ánh hào quang của thắng lợi. Và phương pháp, chính sách cụ thể sai, lắm khi đưa đường lối đến chỗ thất bại hoặc trở thành một trở lực cho thực hiện đường lối.

    Sau Hội nghị Xứ ủy, các khu về lại họp bàn thi hành. Đồng chí Nguyễn Minh Đường - Bí thư Khu ủy Khu 2 về đến Đồng Tháp Mười vào đầu tháng 12/1959 thì đại biểu các tỉnh trong khu đã có mặt vì đã được triệu tập từ đầu tháng 11. Chị Nguyễn Thị Định, lúc ấy là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, đại biểu của tỉnh dự Hội nghị đã kể lại: “...Anh Sáu (Đường) báo cáo tình hình và chủ trương mới của trên. Tôi mới nghe qua mà đã vui như mở cờ trong bụng, mừng quá đỗi. Đây là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Chủ trương rõ ràng và phát động nhân dân miền Nam đấu tranh chính trị có kết hợp với vũ trang để tự vệ. Nghe nói vũ trang là Hội nghị vỗ tay rầm rầm. Thế là trên đi đúng với nguyện vọng bên dưới, rất tài tình. Thấy các đồng chí hướng về vũ trang quá, anh Sáu Đường phải dặn đi dặn lại: Các đồng chí nhớ đấu tranh chính trị là chủ yếu, vũ trang chỉ hỗ trợ mà yêu cầu là phát động nông dân nổi dậy phá thế kìm kẹp, làm chủ nông thôn, xã ấp” 1.

    Trong cuộc hội nghị ấy, Khu 2 đã chủ trương:

    “Phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở nông thôn, đối với các tỉnh tiếp giáp căn cứ Đồng Tháp Mười, đều tích cực đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang hỗ trợ phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ, mở rộng căn cứ du kích, đánh địch càn quét, bảo vệ căn cứ, ra sức xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, vũ trang, chuẩn bị tiến hành nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt”.

    Khu đã quyết định tháng Giêng năm 1960 nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt toàn khu. Để thi hành quyết định này của khu, mỗi tỉnh có cách làm riêng vì hoàn cảnh cụ thể mỗi tỉnh khác biệt nhau. Ở Mỹ Tho là nơi địch chọn làm trọng điểm “tố cộng, diệt cộng” đã gây cho ta thiệt hại quá nặng nề, cũng ở đây tỉnh cho cán bộ ra hợp pháp đông đảo, địch nắm rún ép, mua chuộc dụ dỗ một số, số khác điều lắng đi nơi khác nên cũng hao hụt nhiều. Vì vậy, trước Đồng khởi toàn tỉnh chỉ còn không đầy 100 đảng viên trong số 4.000 trước kia, nhiều vùng trở thành vùng trắng, ta không có đảng viên, không có quần chúng được tổ chức. Bọn tề điệp ác ôn khống chế nhân dân rất nặng nề. Bọn do thám, gián điệp ngầm nằm trong làng xã đông đảo phát hiện và ngăn chặn các hoạt động của ta. Mãi đến tháng 02/1960 tỉnh mới có được ít lực lượng vũ trang, và bắt đầu bằng diệt trừ bọn địch nguy hiểm nhất, bọn ác ôn, tề, điệp. Nhờ kinh nghiệm của các tỉnh bạn Kiến Phong, Bến Tre..., sự cổ vũ của phong trào toàn khu, toàn xứ, có sự chỉ đạo đúng đắn, kiên quyết, phong trào mới bật dậy. Khi quần chúng bớt bị địch khống chế, được cán bộ, đảng viên đi sát lãnh đạo, họ tự vũ trang gậy gộc, dao mác, nổi dậy phá tề ấp, tề xã, bao vây bức hàng, bức rút đồn bót, làm chủ thôn ấp, từ nổi dậy lẻ tẻ dần dần thành cao trào đồng loạt. Những nơi có đảng viên lãnh đạo, phong trào lên mạnh như nam, bắc lộ 4, các vùng Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành đến dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp. Điều đặc biệt ở Mỹ Tho là ở các vùng sâu, vùng trắng, ta không còn cơ sở cách mạng, không còn đảng viên, bị địch khống chế từ lâu, thế mà nay nhờ phong trào chung cổ vũ, quần chúng đã nổi dậy mạnh hơn các vùng khác, phá rã kìm kẹp hàng loạt xã, ta làm chủ hoàn toàn như các vùng dọc sông Cửu Long hay ở cù lao Thái Sơn. Rõ ràng nơi nào bị áp bức nặng nề, nhân dân căm thù địch cao độ, nơi ấy được phát động sẽ nổi dậy như nước trào dâng không gì cản nổi.

    Ở Long An, cũng như tất cả các tỉnh, thi hành chủ trương cho cán bộ, đảng viên ra lấy giấy tờ hợp pháp của địch, đi điều lắng. Khi địch khủng bố cán bộ bị hao hụt cũng nhiều. Nhưng có nhiều người bị lộ đã phải chạy vào căn cứ sống bất hợp pháp và dần dần tự động vũ trang trừ gian diệt ác lẻ tẻ. Đến năm 1956 khi địch đã không chịu tổng tuyển cử theo thời hạn quy định và tăng cường khủng bố đàn áp thì các đơn vị vũ trang cách mạng đã hình thành dần và cuối năm ấy đã có quy củ, có lãnh đạo chỉ huy chặt chẽ. Có lực lượng vũ trang công khai thoát ly, có lực lượng vũ trang bí mật, ngầm, nằm trong nhân dân, kết hợp nhau hoạt động, vận động quần chúng đấu tranh, diệt ác. Nhờ đó mà cơ sở cách mạng vẫn giữ vững ngay từ đầu mặc dầu Long An giáp ngay với Sài Gòn, đầu não của địch. Năm 1957 hầu như ta đã làm chủ các ấp, tề ấp muốn làm gì phải xin ý kiến dân hoặc bí mật xin ý kiến cơ sở cách mạng, rồi mới dám làm. Cũng như năm 1957 ta đã tổ chức thành hai đại đội vũ trang lấy danh nghĩa là Tiểu đoàn 506 và Tiểu đoàn 508 hoạt động hai vùng nam, bắc lộ 4 chiến lược, con lộ chia tỉnh thành hai khu vực. Nhờ có lực lượng vũ trang sớm, lại được phân tán hoạt động khắp trong tỉnh, bám vào nhân dân, xóm làng mà làm công tác vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở, ta diệt bọn gian ác nên phong trào chính trị quần chúng lên mạnh, vững vàng, địch hoang mang lo sợ. Đồng chí Chín Cần 2 lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Tư Thân 3 phụ trách quân sự, cho biết rằng cả phong trào chính trị của nhân dân và hoạt động vũ trang trong tỉnh lên mạnh và đều trong các năm 1958, 1959. Vai trò, tác dụng của lực lượng vũ trang là to lớn trong việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, trong việc diệt tề trừ gian và làm trụ cột cho nhân dân đấu tranh chống địch, giành quyền làm chủ thôn ấp. Đặc biệt là uy hiếp bọn địa chủ, giữ được ruộng đất cho dân, nhờ đó khí thế cách mạng lên mạnh, nông dân tin tưởng, phấn khởi.

    Chính trên cơ sở phong trào trong tỉnh như vậy, Long An bước được vào cuộc Đồng khởi theo quyết định của khu. Tỉnh chủ trương cần tạo đòn quân sự mạnh để phát động và hỗ trợ phong trào Đồng khởi của quần chúng, đồng thời sẵn sàng đối phó với phản kích của địch.

    Tháng 01/1960, ta chỉ dùng một tiểu đội kết hợp với ba nội ứng diệt đồn Đức Lập, thu toàn bộ vũ khí. Tư Thân và Tư Tâm trực tiếp chỉ huy trận đánh mở màn này. Tiếp theo là bót Rạch Chanh bị chiếm bằng cách ém quân xuống xuồng chở chuối đi bán. Khi xuồng đến bót, anh em bất thình lình nhảy lên, xông vào diệt địch lấy súng. Rồi đến dùng xe đò, chở hành khách là chiến sĩ hóa trang chạy ngang qua đồn. Đến cửa đồn, xe đỗ lại, “hành khách” bất ngờ nhảy xuống nổ súng đánh úp, diệt một loạt các đồn Tân Bửu, Hưng Long (Cần Giuộc), Mỹ Hạnh (Đức Hòa)... Khi địch đã cảnh giác đề phòng các kiểu kỳ tập mưu mẹo này thì lực lượng vũ trang ta lại chuyển sang đánh phục kích địch ngoài công sự, diệt một loạt các trung đội bảo an đi càn quét khủng bố, như trận ngã ba Lý Văn Mạnh, các trận Thạnh Lợi, A Rặc, Phước Chỉ... Chỉ trong vòng vài tháng đầu năm 1960 ta đã thu được gần 200 súng các loại, có cả một số trung liên. Có vốn liếng rồi, lực lượng vũ trang lại phát triển. Đến giữa năm đã vây đồn diệt viện ở Hậu Thạnh và đánh chi khu Đức Hòa. Trong suốt thời gian đánh mạnh về quân sự như vậy quần chúng nô nức nổi dậy phá tề, trừ gian, cưa cây cản đường, dựng chướng ngại vật, làm chủ nhiều xã, nhiều ấp, cả một số khu vực trong thị trấn; các huyện Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa đều có những lõm giải phóng gồm nhiều xã. Đặc biệt huyện Đức Huệ, một bộ phận của Đồng Tháp Mười, xem như cơ bản được giải phóng. Địch chỉ còn lại chi khu Quéo Ba, bót Kinh Xáng và các bót dọc lộ nối liền Quéo Ba và Hiệp Hòa. Tình hình cách mạng trong tỉnh thật sáng sủa.

    Ở miền Trung Nam Bộ, Kiến Phong là một tỉnh mà đồng khởi có tính chất điển hình: Tấn công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng. Tỉnh nằm trên dọc tả hữu ngạn sông Tiền bao gồm toàn tỉnh Sa Đéc cũ và một phần phía tây căn cứ Đồng Tháp Mười. Trung tâm của tỉnh là huyện Cao Lãnh, một vùng trù phú có phong trào cách mạng khá mạnh từ những ngày Đảng ta mới thành lập. Đây là khu 100 ngày chuyển quân tập kết của Nam Bộ hồi năm 1954 mà đồng bào vẫn không thể nào quên hình ảnh gắn bó keo sơn giữa kẻ đi và người ở. Chính ở đây ngay từ cuối năm 1954 đã bùng nổ những cuộc đấu tranh thắng lợi của nhân dân chống vụ thảm sát Bình Thành rồi phong trào quần chúng liên tục chống địch khủng bố tố cộng, bảo vệ phần mộ cụ Phó bảng thân sinh ra Bác Hồ kính yêu mà bộ đội cách mạng đã sửa sang và gửi gắm lại đồng bào khi đi tập kết. Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh khá dầy, nổi bật với cuộc nổi dậy tay không giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy do chị Sáu Ngày làm Bí thư hồi năm 1945. Sự thực ở tỉnh này từ năm 1954 chưa bao giờ vắng bóng lực lượng vũ trang cách mạng, dựa vào căn cứ Đồng Tháp Mười mà tồn tại. Có lúc, đó là lực lượng dân canh chống cướp hợp pháp. Thời kỳ Diệm diệt lực lượng vũ trang giáo phái thì đó là lực lượng giáo phái ly khai “Cao - Thiên - Hòa - Bình” 4 chống Diệm. Các đội, tổ vũ trang tuyên truyền do Tỉnh ủy chủ trương thường xuyên hoạt động tại các vùng đông dân. Cho đến cuối năm 1956 khi Mỹ - Diệm ra mặt phản bội Hiệp định Giơnevơ đã rõ, Tỉnh ủy chủ trương thành lập tiểu đoàn tập trung của tỉnh: Tiểu đoàn 502 đặt căn cứ trong Đồng Tháp Mười. Tuy vậy, lúc này chưa có chủ trương hoạt động vũ trang của trên nên tiểu đoàn hoạt động phân tán, vũ trang tuyên truyền và chỉ cốt tự vệ nhằm bảo vệ căn cứ, cán bộ và diệt ác giữ vững phong trào đấu tranh của nhân dân. Trong những năm đầu, tiểu đoàn hầu như không có một phương hướng xây dựng và hoạt động rõ ràng, thậm chí chập chờn có nên nổ súng hay không khi gặp địch. Tình hình ấy đã dẫn đến một thất bại chua cay vào năm 1958 khi địch lợi dụng mùa nước nổi mở trận càn, đánh úp bắt sống cả ban chỉ huy tiểu đoàn. Khi tiểu đoàn được củng cố lại với Tám Dần làm Tiểu đoàn trưởng và Sáu Chung là Chính trị viên thì cũng là lúc mà “hơi hám” được phép tấn công vũ trang của Nghị quyết 15 đem lại, nâng cao tinh thần cán bộ và chiến sĩ. Sau trận Gò Quản Cung thắng lợi, Tiểu đoàn đã trưởng thành và danh tiếng của tiểu đoàn đã lan rộng làm khiếp vía quân địch, làm nức lòng nhân dân. Sau trận đánh đó danh hiệu Tiểu đoàn 502 thật sự trở thành hiệu triệu, ngòi nổ cho phong trào đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận của Kiến Phong vào cuối năm 1959, ngay trước ngày Đồng khởi toàn khu. Số tù binh khá nhiều bắt được trong một trận đánh, tiểu đoàn đã đối xử tốt, giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào rồi thả về hết, kể cả sĩ quan. Số tù binh này đã cảm phục cách mạng, kể chuyện về lòng nhân đạo và sức mạnh vũ trang của cách mạng cho gia đình và nhân dân nghe, càng làm cho danh tiếng tiểu đoàn lan xa. Tại Cao Lãnh, tại Hồng Ngự, hàng trăm gia đình binh sĩ, hàng trăm quần chúng kéo đến dinh quân ngụy đòi gặp mặt chồng con, đòi con em về làm ăn, không đi lính nữa. Ở xã Thường Phước, nhân dân tự vũ trang giáo mác đánh đuổi bọn địch kéo máy chém đi khủng bố, bọn này hoảng sợ chạy tán loạn và liệng máy chém xuống sông, dòng nước Cửu Long đã tham gia cuốn trôi máy chém. Tháng 2, Tiểu đoàn 502 đột nhập xã Phong Mỹ (Cao Lãnh) diệt đồn, phá tề, phát động nhân dân làm míttinh ngay tại chỗ, lập tòa án nhân dân xử bọn gian ác. Cả xã đồng lòng diệt ác ôn, tề điệp làm chủ xóm làng. Tháng 12, lực lượng vũ trang huyện Mỹ An kết hợp nội ứng diệt đồn Vĩnh Huê, nhân dân nổi dậy giải phóng hoàn toàn xã Thanh Mỹ. Cả bên hữu ngạn sông Tiền lực lượng vũ trang diệt đồn Vàm Đình huyện Lấp Vò, bao vây trụ sở tề An Phú Thuận huyện Châu Thành, diệt bọn đi càn xã An Khánh, nhân dân nổi dậy trừng trị ác ôn, làm chủ một số vùng.

    Trước ngày thống nhất Đồng khởi toàn khu, tỉnh Kiến Phong, một tỉnh có thế mạnh dựa vào căn cứ Đồng Tháp Mười, có lực lượng vũ trang mạnh nhất trong khu, đã có phong trào tấn công và nổi dậy rầm rộ và tương đối rộng như vậy. Chính phong trào ở đây đã động viên, cổ vũ các đồng chí các tỉnh về họp hội nghị toàn khu, đã nêu lên một kiểu cách kết hợp quân sự, chính trị và binh vận, và do đó nghị quyết nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt toàn khu của hội nghị đã có cơ sở thực tế để tin tưởng thành công.

    Chấp hành nghị quyết của khu, tỉnh Kiến Phong lại tiếp tục làm cuộc Đồng khởi theo kiểu cách của mình, phát động rộng lớn trong toàn tỉnh.

    Từ căn cứ Đồng Tháp Mười, Tiểu đoàn 502 tỏa về các huyện phối hợp với lực lượng vũ trang huyện diệt địch, phát động nhân dân nổi dậy. Ở các huyện Cao Lãnh, Hồng Ngự, Mỹ An, tự vệ vũ trang cùng nhân dân trừ gian, phá tề, phá tan các tổ chức liên gia kìm kẹp của địch. Tề chạy trốn vào đồn, đồn nhỏ rút chạy về đồn lớn. Tại xã Mỹ Trà (Cao Lãnh) một đại đội địch bị diệt, ta bắt sống tên đại úy tỉnh đoàn trưởng bảo an. Tại Mỹ Hội ta đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch đang yểm trợ cho đoàn bình định hoạt động, tên trưởng đoàn bình định đền tội. Ở xã Thường Thới (Hồng Ngự) ta diệt gọn một trung đội biệt kích và ở An Bình diệt một trung đội bảo an, thu toàn bộ vũ khí. Ở Tân Quới, đồn dân vệ bị diệt, ác ôn bị trừng trị. Bọn hội đồng hương chính đem toàn bộ sổ sách, tiền bạc ra nộp cho nhân dân, xin đầu hàng cách mạng. Ở quận Lấp Vò, nhân dân cùng tự vệ vũ trang diệt đồn Long Hưng, đồn Bù Hút, bao vây trụ sở tề xã, giải tán tề ấp, làm chủ nhiều thôn xóm. Ở huyện Châu Thành, nhân dân nổi dậy phá tan các khu trù mật Cái Dầu, Cái Sơn, kéo về vườn cũ. Bọn ác ôn bị diệt, hàng trăm thanh niên bị bắt lính được giải thoát. Các khu trù mật và dinh điền trong Đồng Tháp Mười như ở Gẫy Cờ Đen, ở ngã tư Cái Bèo và dọc theo biên giới với Campuchia bị phá banh, đồn bót bị diệt, nhiều xã ấp được giải phóng.

    Chỉ trong quý đầu năm 1960 quân và dân tỉnh Kiến Phong đã diệt hàng ngàn địch, san bằng hàng chục đồn bót, trụ sở tề xã, tề ấp, bắt, giáo dục và thả nhiều sĩ quan binh lính và nhân viên ngụy quyền, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng. Vùng giải phóng mở rộng trong căn cứ Đồng Tháp Mười, sát ra lộ 30 ven sông Cửu Long và tới vùng ven thị xã Cao Lãnh. Ta làm chủ nhiều xã và phần lớn các ấp. Thanh niên tấp nập gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Nhiều gia đình đem con em nài xin cán bộ cho vào bộ đội để khỏi bị địch bắt lính. Phong trào cách mạng lên mạnh và đều.




------------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Thị Định: Không còn đường nào khác (hồi ký), Nxb. Văn học Giải phóng, 1976, tr.3.
2. Đồng chí Nguyễn Văn Chính, hiện nay là Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
3. Đồng chí Huỳnh Văn Mến - Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.
4. Tức Cao Đài, Thiên Chúa, Hòa Hảo, Bình Xuyên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #57 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:29:35 pm »

    Nhưng điển hình nhất về phong trào quần chúng tự vũ trang nổi dậy lật đổ ngụy quyền làm chủ thôn ấp của dạng đồng khởi là phong trào tỉnh Bến Tre.

    Tỉnh Bến Tre là một tỉnh đồng bằng đông dân, phì nhiêu nhờ phù sa các nhánh sông Cửu Long bồi đắp trước khi đổ ra biển. Đó là các sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cửa Tiểu, cùng với bờ Biển Đông ôm gọn vào lòng và chia đất liền của tỉnh ra thành cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa. Nhân dân trong tỉnh có truyền thống đấu tranh cách mạng từ lâu đời, có tấm gương yêu nước, khẳng khái, trung trực của cụ Nguyễn Đình Chiểu mà phần mộ nằm ngay trên đất Ba Tri. Trong kháng chiến chống Pháp phong trào ở đây mạnh, ta làm chủ nhiều vùng rộng rãi. Ngay sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã nổ ra những cuộc đấu tranh chính trị nổi tiếng chống Mỹ - Diệm ở Bình Đại, ở Mỏ Cày... và ngày càng mạnh.

    Để dập tắt phong trào nhân dân, địch ra sức đàn áp, khủng bố, tố cộng, diệt cộng đẫm máu, nhất là từ năm 1957 đến năm 1959. Cho tới trước lúc Đồng khởi địch đã xây dựng được chính quyền đều khắp từ tỉnh đến xã ấp, có hệ thống kiểm soát kìm kẹp chặt chẽ nhân dân từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng dày đặc bọn cảnh sát, gián điệp. Do địch đánh phá ác liệt nên cơ sở cách mạng của ta bị thiệt hại nặng, số quần chúng có tổ chức còn ít, tổ chức trong lòng địch bị vỡ nhiều. Nhiều đồng chí cán bộ đảng viên bị giết, bị bắt tù đày, chỉ còn lại không đầy 200 trong tổng số trên 2.000 hồi năm 1954. Số vũ khí cất giấu trong tỉnh bị địch moi lấy hết do có cán bộ không giữ nổi khí tiết khi bị bắt, bị tra tấn dã man đã chỉ cho địch. Vì vậy trước lúc Đồng khởi tỉnh chỉ có bốn khẩu súng cũ với hơn vài chục đạn. Hôm ở khu, nhận lệnh nổi dậy đồng loạt, chị Định nghĩ đến tỉnh mình không có lực lượng vũ trang, đã hỏi anh Sáu Đường - Bí thư Khu ủy:

    “- Các anh phải cho tụi tôi một ít súng thì tụi tôi mới kết hợp vũ trang được chứ?

    Anh Sáu Đường cười:

    - Chị về bảo địch nó đưa súng cho mà dùng! Mà thật ra có súng ở đây thì chị cũng không làm thế nào mang về được”.

    Thế là chị Định đành ra về tay không, mà cũng không phải dễ dàng, lúc ấy phải giả dạng người làm ăn, đi công khai, lo về đến nơi cho kịp ngày kẻo các tỉnh bạn phát động nổi dậy trước thì đâu còn bất ngờ nữa. Thế nhưng lòng cứ mơ đến những trận thắng lớn như trận Gò Quản Cung, có được tiểu đoàn vũ trang như 502 và quần chúng nổi dậy như ở Hồng Ngự.

    Quả là tình hình tỉnh Bến Tre lúc ấy còn nhiều khó khăn. Cuộc họp Tỉnh ủy phổ biến nghị quyết Trung ương và Khu ủy, chấp hành chủ trương phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt quan trọng như vậy mà không thể nào triệu tập đủ Tỉnh ủy, chờ đủ thì thời gian quá lâu. Trong lúc chị Định về khu họp, địch càn quét đánh phá liên tục, một số đồng chí lãnh đạo tỉnh đã bị bắt. Ngày 30/12/1959 về đến Mỏ Cày, nơi cơ quan Tỉnh ủy đóng thì cơ quan đã dời đi nơi khác, đồng chí thường trực của trạm giao liên tỉnh cũng bị bắt. Tìm hiểu mãi qua nhiều mối, chị mới gặp được đồng chí Sáu Huấn 1 trong Huyện ủy Mỏ Cày. Thế là nhờ Sáu Huấn thông thạo địa phương, triệu tập các đồng chí trong Tỉnh ủy về họp. Chật vật khó khăn nhiều, đến tối ngày 02/01/1960 mới họp được nhưng cũng chỉ có ba đồng chí trong Tỉnh ủy là các đồng chí Nguyễn Thị Định, Bảy Hiền 2 và Ba Đao 3. Đồng chí Võ Văn Phẩm (Tám Chữ) - Bí thư Tỉnh ủy đã qua cù lao Bảo rồi, từ cù lao qua cù lao dễ gì mà gặp được. Đại biểu quận Mỏ Cày có các đồng chí Ba Cầu 4 và Sáu Huấn, quận Thạnh Phú có đồng chí Hai Chiến 5 và hai đồng chí nữa của quận Minh Tân. Vẻn vẹn chỉ có thế, đủ đại biểu các quận bên cù lao Minh thôi. Đồng chí Bảy Hiền đã nêu ý kiến và được tán thành là:

    “- Dứt khoát phải làm ngay mới kịp và ta cứ nổi dậy rồi tức khắc bắt được liên lạc cho mà xem...”.

    Và đồng chí Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy kiên quyết:

    “- Thôi bây giờ Hội nghị ta có bao nhiêu làm bấy nhiêu. Tập thể ta sẽ cùng chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy và Khu ủy. Nếu làm sai, mình xin chịu kỷ luật, mà làm đúng thì lấy thắng lợi bước đầu phát triển ra toàn tỉnh”.

    Mọi người đều nhất trí.

    Khi kiểm điểm tình hình, kiểm điểm thực lực, tương quan lực lượng đôi bên thì ai nấy đều lo lắng rằng lực lượng quân sự địch ưu thế tuyệt đối so với ta. Chúng nó hơn một ngàn dân vệ cơ động, gần ngàn bảo an trang bị đầy đủ, đủ các loại công an và cảnh sát tỉnh, quận, xã, công an miền Đông, công an Ngô Quyền, công an Duyên Hải. Ngoài 500 đồn bót, chúng còn có tàu thuyền trên sông và dọc biển, chúng còn có bộ máy tề điệp rộng khắp. Đặc biệt cần chú ý các tổng đoàn dân vệ cơ động là lực lượng mà bọn tề xã, tề ấp và ác ôn dựa dẫm để khống chế dân. Còn ta thì không có lực lượng vũ trang, tổ chức cách mạng của ta bị đánh phá hiện nay còn yếu. Nhưng ta có lòng dân và có chí cao của cán bộ. Địch càng phátxít, dân càng căm thù và sẵn sàng hướng về cách mạng. Về chính trị ta có ưu thế tuyệt đối so với địch. Chỉ cần ta kiên quyết hành động, có biện pháp đúng để khơi dậy sức mạnh khổng lồ và tiềm tàng của nhân dân đang bị đè nén đến cao độ. Phải tuyệt đối tin tưởng quần chúng, dựa vào sức mạnh của quần chúng. Phải biến ưu thế chính trị của ta thành lực lượng cụ thể của cách mạng đè bẹp quân thù.

    Như vậy vấn đề trọng yếu hàng đầu là phát động cho được một phong trào nổi dậy của quần chúng với khí thế thật mạnh để áp đảo địch ngay từ đầu và phải trên một diện rộng để phân tán sự chú ý và đối phó của địch, đảm bảo sự thành công của ta. Muốn thế trước hết ta phải có trong tay một lực lượng nòng cốt dù ít để làm nhiệm vụ phát động nhân dân và diệt bọn ác ôn nhất.

    Tỉnh ủy chủ trương:

    - Lực lượng vũ trang: Chọn ở mỗi xã một số thanh niên trung kiên tổ chức thành những tổ hành động, trang bị bằng dao mác, mã tấu. Có bốn khẩu súng phát cho bốn tổ ở trọng điểm. Tất cả những tổ hành động này đều lấy danh nghĩa là Tiểu đoàn 502 bách thắng ở Đồng Tháp Mười về. Ngoài ra mỗi xã đều tổ chức các đội thanh niên nam nữ mang vác khiêng các loại súng giả bằng cây, bằng bập dừa có bọc ni lông, có đủ hình dáng đại liên, trọng liên, súng cối và có cả một vài khẩu đại bác chở trên xe bò nữa, để hù dọa địch và động viên quần chúng phấn khởi. Ngoài danh nghĩa Tiểu đoàn 502 còn tung tin có bộ đội chính quy miền Bắc về, hành quân ban đêm rầm rập, súng to, súng nhỏ đủ loại. Để có tiếng nổ của đạn đại bác, súng cối thì dùng nhiều ống tre dồn khí đá vào làm ống lói, cũng có nhiều loại ống lói to, nhỏ, khí đá nhiều, ít, để minh họa cho súng lớn có, mà súng nhỏ cũng có. Lại chuẩn bị nhiều đống rơm khô ở nhiều nơi, để khi lấy đồn bót nào thì đốt cháy lên và đốt cả các đống rơm thêm vào để địch tưởng có nhiều bót bị diệt, bị đốt. Rồi dân làng còn chuẩn bị nào trống, nào mõ, nào thùng thiếc để đánh lên thúc giục khí thế đấu tranh, trấn áp tinh thần quân địch. Nơi nào cũng dùng mõ đình 6 làm hiệu lệnh vì mõ này tiếng vang to và xa.

    - Lực lượng chính trị: Cũng tổ chức thành lực lượng nòng cốt có nam nữ, đi công khai hợp pháp để phát động được rộng rãi quần chúng nhân dân nổi dậy kịp thời và liên tục. Phải kết nạp ngay những người tốt, hăng hái vào các tổ chức cách mạng, vào lực lượng vũ trang để phong trào càng lên, lực lượng quân sự chính trị càng lớn và tấn công liên tục, mở rộng diện đấu tranh.

    - Lực lượng binh vận: Kiểm kê và nắm chắc các gia đình binh sĩ ngụy, giáo dục động viên họ để khi phong trào lên họ tham gia đồn bót gọi chồng, con, anh, em mang súng trở về với cách mạng, ít nhất cũng không chống lại cách mạng. Nắm chắc các cơ sở bí mật của ta trong binh sĩ, trong đồn bót, trong tề để phối hợp hành động diệt ác ôn, triệt hạ đơn vị và đồn bót ngụy.

    Có chủ trương, có lực lượng, Hội nghị hạ quyết tâm:

    Phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi thật mạnh mẽ, thật quyết liệt, dùng mọi kiểu cách, bằng mọi sức mạnh, bằng mưu trí bức hàng bức rút, dứt điểm đồn bót địch, diệt ác ôn, phá kìm kẹp ở cơ sở, giải phóng nông thôn, giành quyền làm chủ của nhân dân. Phải giành lại ruộng đất của nhân dân đã bị cướp đoạt, các quyền dân sinh dân chủ bị tước. Nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, lực lượng Đảng, các đoàn thể quần chúng. Lấy súng địch trang bị cho ta, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng.

    Phương châm hành động:

    - “Đánh phải tới tấp!
    - Phát triển phải phát triển hết khả năng!
    - Khi sóng gió nổi lên, thuyền phải mạnh dạn căng buồm lướt sóng!”.




-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Huấn nay là Giám đốc Công an Tiền Giang.
2. Đồng chí Nguyễn Tân Cang, còn gọi là Hai Thủy.
3. Đồng chí Ngô Quang Đằng nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre.
4. Đồng chí Trần Văn Cầu (Bảy Giàu) nay là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Đồng chí Huỳnh Thanh Mua, hiện nay là Tổng Giám đốc Liên hiệp cây có dầu.
6. Thường là bằng thân cây mù u, đường kính khoảng 25-30cm, và dài 1,5m, tiếng kêu to và ngân xa, dùng ở các đình làng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #58 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:33:29 pm »

    Hội nghị đã thảo luận chọn điểm phát động đồng khởi cho đợt một trong toàn tỉnh. Điểm phải chắc thắng, phải thắng lớn giòn giã và lan rộng nhanh chóng ra khắp diện. Phải là tiếng pháo lệnh vang xa làm nức lòng nhân dân và rung chuyển hệ thống kìm kẹp của địch. Mọi người đều nhất trí chọn ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Ba xã này liền ranh nhau, chiều dài độ 10km và ngang 4km, có sông lớn bao quanh và kênh rạch chằng chịt, lợi thế cho du kích chiến. Nhân dân ở đây đông đúc, phần lớn là lao động sống về nghề vườn, vườn dừa, vườn mía, làm đường thủ công. Phong trào cách mạng có truyền thống từ trước, trong kháng chiến chống Pháp cho đến ngày nay vẫn còn giữ được liên tục. Cả ba xã đều có chi bộ chất lượng tốt. Cơ sở nòng cốt cách mạng nắm quần chúng tương đối đều trong các ấp. Số tề ấp ta nắm được hầu hết. Ở xã Định Thủy còn có nội tuyến đáng tin cậy sẵn sàng hành động theo chỉ đạo của cách mạng. Từ kháng chiến chín năm đến nay hầu như thường xuyên xã này là nơi đóng của Huyện ủy và Tỉnh ủy, đặc biệt đây là nơi bám trụ trong thời kỳ khó khăn nhất. Bước vào Đồng khởi, đây là địa bàn thuận lợi để Tỉnh ủy đứng chân nắm tình hình và chỉ đạo phong trào chung toàn tỉnh.

    Theo sự phân công, ngoài đồng chí thường trực chỉ đạo chung, đồng chí phụ trách quân sự, các đồng chí khác sau khi đi phổ biến cho các quận phải trực tiếp chỉ đạo xã, mỗi đồng chí từ một đến ba xã.

    Hội nghị quyết định lấy ngày N. đồng khởi trong tỉnh là ngày 17/01/1960. Ngày 12/01 là ngày họp kiểm điểm lần chót mọi công tác chuẩn bị.

    Một trong số vấn đề then chốt của kế hoạch là tạo ra phát súng lệnh đồng khởi thế nào cho có hiệu quả cao, để cho quân thù khiếp sợ và quần chúng dám nổi dậy ngay từ đầu. Lâu nay bị khống chế mạnh, quần chúng lo sợ nhất là bọn tổng đoàn dân vệ cơ động. Ở đâu có đấu tranh là bọn này được điều đến nhanh chóng để đàn áp, bắn giết nhân dân không chùn tay. Tiêu diệt hay làm tan rã được bọn này là súng lệnh có hiệu quả nhất để quần chúng mạnh dạn đứng lên hành động. Như vậy phải lấy trận tiêu diệt bọn tổng đoàn dân vệ để mở màn cho khởi nghĩa. Lực lượng vũ trang ta chưa có gì thì phải dùng mưu kế. Quân sự nhất định phải đi trước để khơi ngòi.

    Kế hoạch chu đáo, lại được giữ bí mật rất cao để bảo đảm bất ngờ. Tuy vậy, không khí chuẩn bị thật nhộn nhịp. Thanh niên tập họp từng nhóm ba đến năm người để tập võ. Lò rèn làm việc ngày đêm để rèn dao và mã tấu. Thợ mộc đẽo súng cây. Nhân dân chuẩn bị mõ, trống và làm súng bập dừa. Công việc chuyển động rộn ràng, khẩn trương như vậy ngay trong những vùng địch còn kìm kẹp. Thế mà địch không hề hay biết mảy may. Cho nên những gì hợp với lòng dân, được nhân dân hưởng ứng thì khó mấy cũng làm được, quần chúng có đủ sáng kiến để che mắt địch, bảo vệ công cuộc ích nước lợi dân.

    Chưa hết những trắc trở và hồi hộp. Trước ngày đồng khởi mấy hôm đồng chí Đoàn Văn Tranh - một cán bộ huyện phụ trách chỉ đạo nổi dậy ở các xã An Định, Tân Trung (Mỏ Cày) biết rõ mọi việc của đồng khởi kể cả việc làm dấu giả Tiểu đoàn 502 để hù dọa địch, bị bắt và bị tra tấn dã man. Đồng chí Tư Tranh bị đánh đến chết vẫn không khai báo, giữ bí mật vẹn toàn của Đảng của nhân dân. Rồi nữa, cô giao liên huyện cũng bị bắt, và bà Hai Già - một cơ sở tốt, bơi xuồng đưa chị Định đến gặp đồng chí Bảy Hiền ở xã điểm Định Thủy, khi trở về một mình lại bị bắt, bị tra tấn lại một mực không khai. Đấy, những việc nhỏ làm nên việc lớn, vạn tấm lòng thành một tấm lòng, thì có việc đào núi lấp sông rồi thì chớ bao giờ quên những việc nhỏ này, nhỏ nhưng vĩ đại biết nhường nào vì nó có thể làm hỏng việc lớn hay đảm bảo việc lớn thành công. Và đây nữa cũng là một mẫu của đạo đức Việt Nam, đúc nên từ nghìn xưa dựng nước và giữ nước, ngược hẳn với tư tưởng được chim bẻ ná, được cá quên cơm của bao kẻ khác. Truyền thống Việt Nam ta, cốt vì nghĩa nước, tình dân mà bia miệng ngàn đời còn đó, như Thánh Gióng, diệt xong giặc Ân, cứu an đất nước rồi bay về trời, không màng vương, cũng không màng tướng; Trần Quốc Tuấn đuổi xong giặc Nguyên vững vàng bờ cõi thì lui về Vạn Kiếp an nghỉ, từ giã vương triều; và Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng từng tâm sự với núi rừng căn cứ:

           “...Kháng chiến thành công ta trở lại,
           Trăng xưa, hạc cũ với Xuân này”
1.

    Ngày N.17 tháng 01 đã gần tới. Kế hoạch ngòi pháo của Đồng khởi là diệt tổng đoàn dân vệ hiện đang đóng ở xã Tân Thành Bình. Dựa vào cơ sở nội tuyến ta nắm vững chắc ở xã Định Thủy làm nội công đánh từ bên trong kết hợp với lực lượng thanh niên mạnh của xã tấn công từ bên ngoài bằng “ôm hè”, “bắt hè”, nghĩa là bất thình lình đồng hè nhau ôm, bắt bọn dân vệ tước súng, hạ chúng. Vì vậy phải lập mưu điều tổng đoàn dân vệ về xã Định Thủy bao vây tiêu diệt. Chúng đã mắc mưu. Ngày 12/01/1960 tổng đoàn dân vệ do đội Tý, một tên ác ôn khét tiếng chỉ huy, đã hùng hùng hổ hổ kéo quân về Định Thủy để “làm cỏ bọn Việt cộng nằm vùng” như chúng tuyên bố, theo yêu cầu cấp báo của tề xã. Tới bước hai là diệt cho được tên đội Tý để rắn mất đầu mà ôm hè, bắt hè bọn lính. Nhưng đội Tý là một tên ác ôn xảo quyệt. Nó biết rõ bàn tay nó đã vấy máu nhiều đến cỏ cây cũng oán hờn nên rất mực cảnh giác. Ngày tháng sắp hết rồi mà ta đã hai lần thất bại với nó, cá không ăn câu. Ban lãnh đạo đã phải nghĩ đến kế hoạch cuối cùng là táo bạo cho lực lượng ta đột nhập bất ngờ vào ngay sở chỉ huy của nó mà diệt nó: Không vào hang sao bắt được hổ.

    Nhưng sáng ngày 17/01, trái với bình thường, tên Tý dẫn theo mấy dân vệ tới chợ Định Thủy rồi vào tiệm uống cà phê. Hắn nói muốn làm chuyện không ai ngờ và có lẽ cũng đã đến cơn ghiền. Thật là dịp may hiếm có. Vốn luôn bám sát nó không chút lơi lỏng và đã tổ chức sẵn những đội thanh niên có sức khỏe, có nghề võ, sẵn sàng hành động nên ban lãnh đạo hạ lệnh ra tay. Tổ đồng chí Ba Giai cũng vào ăn sáng uống cà phê, ngồi bàn sát sau bàn tên Tý. Bất thình lình đồng chí Ba Giai choàng qua, chẹn họng, vật nó ngã xuống. Anh em khác nhảy đến trói các tên dân vệ và sẵn sàng tiếp sức bắt tên đầu sỏ. Đội Tý cũng có nghề võ đã vật lộn giằng co kịch liệt với Ba Giai. Bảy Thống, tổ trưởng tổ hai, xông vào giật được súng của tên Tý, định bắn nó nhưng loay hoay mãi súng vẫn không nổ. Giữa lúc đó, Chín Chiếm - một Vệ quốc quân không đi tập kết tới kịp và kết liễu đời tên khốn kiếp bằng một phát súng. Đó là phát súng đầu tiên báo hiệu cuộc Đồng khởi bắt đầu.

    Tin tên Tý ác ôn bị diệt lan nhanh khắp chợ, khắp làng. Quần chúng nô nức phấn khởi rầm rộ kéo ra chợ, ra đình nơi tổng đoàn dân vệ đóng, bao vây bọn chúng. Đoàn người xông vào đình, đi hàng đầu là mấy tên dân vệ bị bắt, vừa đi vừa kêu gọi đầu hàng ầm ĩ:

    - Đội Tý đã đền tội. Anh em binh sĩ hãy đầu hàng nhân dân đi.

    Bọn dân vệ nhốn nháo, nửa tin, nửa ngờ, chưa biết nên hành động ra sao. Một nội tuyến của ta trong tổng đoàn liền hô lớn:

    - Đội Tý đã chết. Cách mạng đã về, cự lại Quân giải phóng là chết, bỏ súng chạy thôi!

    Đồng bào từ cổng chạy vào mỗi lúc một đông.

    Lực lượng thanh niên ém sẵn quanh đình hô xung phong vang dậy. Mất tinh thần, một số lính đầu hàng ngay tại chỗ, số khác vứt súng chạy tán loạn. Ta đón bắt gần hết, giải thích, giáo dục rồi thả, chỉ trị những tên có nợ máu. Toàn bộ vũ khí về tay các thanh niên cách mạng.

    Trận đánh mở màn Đồng khởi diệt gọn tổng đoàn dân vệ, trị tội đích đáng tên đội Tý ác ôn gây sôi động không những trong ba xã điểm mà trong cả quận Mỏ Cày.

    Tiếp đó, buổi chiều, bót Định Thủy, chỉ cách nơi tổng đoàn dân vệ một cây số lại bị tiêu diệt. Thanh niên, đồng bào phấn khởi do chiến công đầu diệt bọn dân vệ liền thừa thắng kéo đến bao vây bót Định Thủy với khí thế của nước vỡ bờ. Đoàn người nổi dậy, trang bị súng, tầm vông, dao, phảng, tràn tới hô vang:

    - Hoan hô Quân giải phóng! Hoan hô cách mạng! Anh em binh sĩ bót Định Thủy hãy hàng đi... Hàng thì sống!...

    Bọn ác ôn toan tổ chức phòng thủ chống lại, chờ viện. Nhưng mấy nội tuyến của ta trong bót nổi dậy kịp thời, diệt trừ bọn chúng, kéo toàn bộ ra hàng, đón lực lượng cách mạng vào bót, nộp súng đạn nguyên vẹn.

    Thế là mở đầu ta đã thắng hai trận giòn giã, thu được nhiều súng đạn. Không có lực lượng vũ trang mạnh nhưng khéo kết hợp quân sự uy hiếp, chính trị quần chúng nổi dậy và binh vận nội ứng, kết quả đã vượt quá sự mong ước. Ban lãnh đạo đã phân phối ngay cho Thạnh Phú và Minh Tân mỗi quận một số súng làm vốn. Đồng chí Ba Đào được chỉ định phụ trách quân sự, đem thay súng cây cho các tổ hành động “Tiểu đoàn 502”. Đúng ra thì giờ G. quy định là 18 giờ ngày 17/01 mới hành động nhất loạt nhưng linh hoạt và thời cơ xuất hiện sớm nên trận đánh mở màn xảy ra từ buổi sáng. Chỉ có lợi thôi, vì chiến thắng đã cổ vũ mạnh mẽ đồng bào.




------------------------------------------------------------------
1. Trích bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #59 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2023, 02:38:43 pm »

    Chiều đó, đúng giờ G. tiếng mõ đình các xã nổi lên làm lệnh rồi thì đủ thứ tiếng trống, mõ, thùng thiếc... vang dậy từ làng này tới làng khác không dứt. Nhân dân đổ ra đường tấp nập, vừa kéo đi vừa hô khẩu hiệu “đả đảo ngụy quyền Ngô Đình Diệm”, “hoan hô cách mạng”, nào gậy, nào cờ, bao vây các đồn bót, trụ sở tề, lùng diệt ác ôn. Đồng bào xé cờ ngụy, đốt bản nóc gia 1, cưa cây, đắp mô trên các đường, ngăn chặn giao thông địch. Tiếng loa dậy thôn xóm, kêu gọi tề điệp ra thú tội, binh lính các bót đầu hàng. Tiếng nổ của “đại bác”, “súng cối” ống lói càng làm địch khiếp đảm. Trong đêm, đây đó lại bùng lên những ngọn lửa cháy to, đồng bào các xã lại reo hò: “Bót địch cháy rồi, hoan hô Quân giải phóng!”. Có bót bị triệt hạ, bị đốt thật, cũng có những đống rơm cháy lên phụ trợ. Địch, ngụy lớp bị tiêu diệt, đầu hàng, lớp bỏ chạy, nằm im trong đồn bót, nhân dân làm chủ mọi nơi. Chỉ qua một đêm quang cảnh xóm làng đã đổi mới. Ba xã điểm được hoàn toàn giải phóng.

    Sáng hôm sau, khắp các nơi đông người, chợ, đình, đường đi thị trấn, đâu đâu cũng có dán một bản quân lệnh chữ to, dưới ký “Tiểu đoàn trưởng 502 Lê Thiết Hùng” có đóng mộc đỏ chói. Quân lệnh ghi mấy điểm:

    - Anh em binh sĩ dù có tội ác thế nào, nếu biết ăn năn hối cải mang súng trở về với nhân dân sẽ được khoan hồng tha thứ.

    - Tề xã, tề ấp, trưởng liên gia, cảnh sát, chỉ điểm viên đã trả chức và ra thú tội với nhân dân thì được nhân dân tha tội.

    - Địa chủ nào dựa hơi địch, giật đất tăng tô của nông dân, bây giờ phải trả lại cho nông dân.

    Quân lệnh này có giá trị từ ngày 17 tháng Giêng tới 25 tháng Giêng năm 1960, nếu ai không tuân lệnh, bị nhân dân lên án tử hình, tịch thu tài sản.

    Những ngày đồng khởi thực sự là những ngày hội quần chúng. Đâu đâu cũng có hội họp, míttinh, vạch trần tội ác của ngụy quân, ngụy quyền, giải thích đường lối, chính sách của cách mạng, quyền tự do sinh sống của nhân dân, nghĩa vụ người dân đối với Tổ quốc. Từ ấp này qua ấp nọ nhân dân hăng hái phá đường, rào xóm đắp ụ, đào hố chông, làm công sự, sẵn sàng chiến đấu chống quân địch càn quét. Thanh niên tấp nập xin đầu hàng, tham gia tuần tra canh gác, tiếp tục truy lùng bọn gian ác, tề điệp, bao vây bức hàng đồn bót còn lại. Tòa án nhân dân được mở ra xử tội những tên ngoan cố bị bắt. Nhờ được giải thích thuyết phục, quần chúng mới đồng tình với cán bộ cách mạng, chỉ xử tử hình một số tên đầu sỏ ác ôn nhất, số còn lại đều được giáo dục, mang án treo và cho về gia đình làm ăn, cho lập công chuộc tội. Tổ chức nông dân các xã họp kiểm kê số ruộng đất thu lại được của địa chủ, bình nghị phân chia lại cho người bị mất ruộng, người nghèo không có ruộng. Các đoàn thể quần chúng lại được củng cố, sinh hoạt. Nhiều gia đình binh sĩ xin đi liên lạc móc nối chồng con trở về với cách mạng hoặc trao cho cách mạng những túi đạn, lựu đạn cứu quốc từ đồn lớn gửi ra, từ thị trấn, thị xã gửi về. Tổ chức lực lượng vũ trang được nhanh chóng xây dựng. Tỉnh được hai trung đội trang bị vũ khí đầy đủ, huyện có một trung đội, mỗi xã có một tiểu đội tự vệ. Ta lấy được hàng trăm súng nhưng không đủ, tự vệ xã vẫn phải dùng mã tấu và tập võ. Thanh niên xin tòng quân nhiều quá không thể thu nhận hết được, mặc dù nhiều cha mẹ đem con đến năn nỉ cán bộ cho gia nhập lực lượng vũ trang. Ta phải nêu điều kiện là ai có súng mang đến thì được nhận ngay vào quân ngũ giống hệt như những ngày tháng 9/1945. Do vậy, một phong trào “bắt giò” 2 lính địch lấy súng đầu quân lan rộng trong thanh niên. Nhiều mưu kế được bày ra, nhiều tổ tâm giao đi giật súng hình thành. Mọi người đã hiểu rõ nhiệm vụ thanh niên đền nợ nước, trả thù nhà. Chất lượng các đội vũ trang vì vậy rất cao, hễ đánh là thắng mặc dù còn nhỏ. Thời kỳ ấy, mà thời kỳ nào cũng vậy, “binh mạnh hay yếu, không cứ ở nhiều” 3. Trong những ngày Đồng khởi, số nhiều đồn bót địch bị tiêu diệt không phải bằng lực lượng vũ trang mà do những người dân, những đảng viên ưu tú tích cực dùng mọi mưu kế thích hợp. Chị Tám Phụng, còn gọi là chị Tám Cạcbin, một huyện ủy viên, nay đã hy sinh, một mình đã lấy tám bót giặc. Có một bót xã thuộc huyện Chợ Lách, chị đã ôm con của trưởng bót vào kêu gọi chúng đầu hàng. Ở xã An Định và nhiều xã khác, thanh niên hóa trang thành một tiểu đội chủ lực ngụy, bắt bí thư chi bộ xã thật, đem vào gửi bót, thừa cơ bắt và tước vũ khí dân vệ, theo sự chỉ huy của bí thư, giống như Nguyễn Nhạc xưa kia. Nhiều chị em thanh niên hăng hái giả trai oai vệ để đi trừ gian diệt ác như cô Tám Thu, một bí thư chi bộ xã. Chị Nguyễn Thị Định kể lại:

    “...Năm giờ sáng, chúng tôi gọi một đồng chí phụ trách diệt ác ôn ở xã gần nhất đến để kiểm tra kết quả. Đồng chí ấy vác mã tấu đến báo cáo:

    - Mọi việc xong cả rồi. Bọn tề, điệp, ác ôn xuống nước hết trơn. Khi chúng tôi xông vô hô một tiếng, chỉ có một thằng ngoan cố chạy, còn bao nhiêu nạp mạng ngay, thằng nào thằng nấy run thôi là run.

    Đồng chí này người tầm thước, bận bộ đồ âu phục rất gọn, đội một cái nón nỉ, tay xách mã tấu, trông rất rắn rỏi, chỉ có tiếng nói là nhỏ nhẹ. Tôi nghe rõ là tiếng nữ, tiếng của người quen nào. Tôi bèn hỏi:

    - Đồng chí có anh em với cô Thu à?

    - Thưa chị, em là Thu đây mà!

    Thu nói rồi phá lên cười. Cô bảo:

    - Em tích cực chấp hành nghị quyết ngụy trang để che mắt địch và cũng để mấy ông nam giới trong tổ em vững tinh thần, mấy ông hay khinh phụ nữ mình lắm.

    Tôi cũng bật cười”.

    Sau vài hôm khiếp đảm nằm im trong đồn lớn, ở thị trấn, bọn địch bắt đầu hành quân thăm dò. Chúng cho một đại đội bảo an dùng tàu địch đổ bộ gần vàm Định Thủy. Ta đã bố trí sẵn ở đây một tiểu đội vũ trang, nổ súng chặn đánh, địch vội vàng rút lui. Biết thế nào chúng cũng cho trinh sát tìm hiểu lực lượng ta. Đồng chí Bảy Hiền liền cho làm một trận địa phục kích giả, dầy đặc những giao thông hào, hố cá nhân, ụ súng đại liên, cối... Địch báo cáo lên cấp trên: đúng là có bộ đội lớn, chắc là Tiểu đoàn 502... Có bộ đội chủ lực miền Bắc vô thật!

    Rồi chúng lại nằm im trong đồn bót, trong thị trấn, thị xã, không dám phản ứng ngay. Một tuần lễ Đồng khởi, ta thắng to; diệt trên 200 binh lính, tề điệp làm tan rã một số đông địch, bức hàng, bức rút 27 đồn bót, giải phóng hoàn toàn 17 xã. Nhiều xã khác địch dồn vào một ấp, các ấp khác dân làm chủ. Đại bộ phận bộ máy kìm kẹp ở nông thôn bị rã, bị lỏng. Cán bộ và nhân dân vô cùng phấn khởi. Ban lãnh đạo làm sơ kết, rút kinh nghiệm để tiếp tục đẩy mạnh phong trào.

    Từ ba xã điểm phong trào lan nhanh ra toàn huyện, toàn cù lao Minh, rồi toàn tỉnh. Hết đợt đầu, cuộc Đồng khởi lại liên tiếp nổ ra nhiều đợt khác, kéo dài các tháng tiếp theo.

    Bị choáng váng lúc đầu, bị thiệt hại nặng, lại tiếp tục bị thua, địch quyết tâm phản ứng mạnh dập tắt phong trào. Vào cuối tháng 2, địch huy động được một lực lượng thủy quân lục chiến từ Sài Gòn xuống, có máy bay và pháo binh yểm trợ, có tàu thủy chặn đường sông và xe cơ giới án ngữ các lộ, quyết tâm bao vây chặt toàn bộ ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh hòng tiêu diệt “cho hết lực lượng cách mạng”, trừng trị dân “nổi loạn”.

    Được tin này Ban Lãnh đạo Đồng khởi bàn ngay kế hoạch đối phó. Bộ đội vũ trang tập trung của ta chưa đầy một đại đội, quân địch lại quá đông và trang bị mạnh. Phong trào mới lên, quần chúng đang hăng nhưng chưa có kinh nghiệm đối đầu với quân địch lớn và cố tâm khủng bố tàn bạo. Phải bảo tồn cho được lực lượng cách mạng, phải bảo vệ cho sinh mệnh và tài sản của đồng bào. Nếu để địch thực hiện được ý đồ của chúng “làm cỏ” được ba xã điểm này thì không những chúng dập tắt được phong trào ở đây mà còn đẩy lùi được cách mạng trong toàn tỉnh và có khi trong khu nữa. Còn phen này mà ta thắng lợi thì phong trào cách mạng sẽ lên cao, chứng tỏ đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng là đúng, tương lai sẽ sáng sủa. Trách nhiệm thật nặng nề.

    Ban Lãnh đạo chủ trương: Bằng bất cứ giá nào, ta phải thắng trận này, chỉ một trận nhưng quyết định một thời kỳ cách mạng trong tỉnh. Phải đánh du kích rộng rãi bất cứ đâu địch đến. Phát triển hầm, hố chông, mìn, lựu đạn gài, bố trí nhiều súng “ngựa trời” 4. Bộ đội ban đầu phân tán đánh nhỏ, phối hợp với tự vệ đánh tiêu hao, theo dõi sát địch, hễ thấy cách nào ngon hơn thì nhanh chóng tập trung đánh phục kích hay tập kích tiêu diệt địch rồi di chuyển ngay, xoay quần lấy địch. Nhưng còn nhân dân thì sao? Ta đánh địch, địch giết dân, thả bom, bắn pháo bừa bãi thì sao? Có ý kiến muốn đưa dân đi nơi khác, địch rút hãy về. Nhưng thảo luận mãi thì thấy rằng dân không thể đưa tài sản đi hết được. Không có dân, địch đốt nhà cướp của phát trụi hết. Chỉ có bộ đội thôi thì không làm sao đủ sức chống địch. Như vậy phải vận động nhân dân ở lại, cất giấu của cải, đào hầm, núp đạn, giữ thế hợp pháp với địch. Địch đi đến đâu, dân kéo ra đấu tranh, có lý có lẽ, không cho địch đốt phá cướp bóc. Tập trung chòm xóm hỗ trợ lẫn nhau, nơi nào có gia đình binh sĩ thì cùng ông già bà cả vận động binh lính đừng gây tội ác với đồng bào.

    Như vậy là ngày nào cũng bị thiệt hại. Đi đến đâu địch cũng bị bắn tỉa, bị mìn nổ, rớt hầm chông, đạp phải bàn chông, thỉnh thoảng bị súng “ngựa trời” khạc đạn tứ tung. Lực lượng cứ bị hao mòn mà không thấy “Việt cộng” đâu cả, lại bị dân vây, chặn, đấu tranh đòi rút. Mỗi hành động đốt phá, cướp bắt heo gà, đều bị quần chúng bu lại, xông vào níu kéo ngăn cản. Dọa không được, đánh đập, bắn bị thương, chết, dân càng căm giận xông vào đông đảo chống trả quyết liệt. Một cánh vừa ập tới An Thạnh thuộc xã Bình Khánh thì bất thình lình từ đâu dưới đất trồi lên một đội cảm tử tay cầm mã tấu, chém tới tấp không kịp đỡ, tên bị bay đầu, tên bị mất cánh tay, ống chân, chạy tán loạn, tan tác. Vài ngày sau lại một trận nữa, làm địch mất tinh thần. Đi sục sạo suốt ngày mệt mỏi, đến chạng vạng tối vừa dừng lại nghỉ, đội hình lộn xộn thì bị tập kích tơi bời bằng lựu đạn, bằng súng trong lúc hỗn loạn lại bắn lẫn nhau chết một số nữa. Tỉnh lại thì “Việt cộng” rút đi đâu mất. Chán ngán, địch phải kết thúc sớm cuộc càn trong ngày thứ tư, lũ lượt kéo về Mỏ Cày. Chúng dùng thủ đoạn khác. Tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng một lực lượng pháo, cối, lập trận địa đóng lại ở xã Phước Hiệp. Ngày nào chúng cũng bắt về một số thanh niên, đánh đập tra tấn đến chết rồi vùi xác quanh nơi đóng quân. Đồng bào đấu tranh, chúng mặc kệ, cứ khủng bố theo kế hoạch. Mới mấy ngày, hàng chục thanh niên bị giết. Khí thế quần chúng trong xã có phần núng, sụt xuống. Các đồng chí phụ trách xã đòi cho lực lượng vũ trang về tiêu diệt bọn thủy quân lục chiến hung ác nhưng ta đâu có đủ sức diệt chúng, nhất là khi chúng cụm lại, có công sự. Đã có một số dân hoảng hốt sẵn có họ hàng quen biết ở thị trấn Mỏ Cày tự động tản cư ra đấy. Họ kể lại những vụ tàn sát đẫm máu của bọn thủy quân lục chiến làm mọi người đều căm giận nhưng cũng lo sợ.

    Đánh quân sự không nổi, đấu tranh chính trị chúng không nghe. Ban Lãnh đạo chỉ ra cách đấu tranh khác: Nhận thấy một số đồng bào đã chạy ra thị trấn an toàn lại còn kể chuyện làm đồng bào thị trấn phẫn nộ, vậy ta vận động và chủ động tổ chức nhân dân kéo lên quận, tố cáo tội ác man rợ của bọn thủy quân lục chiến, đòi quận trưởng phải che chở cho nhân dân trong quận. Lẽ nào quận sở tại, thay mặt cho chính phủ, lại để cho binh lính xa lạ từ đâu tới, bất chấp chính quyền địa phương, tàn sát cướp bóc nhân dân. Chủ trương này được nhân dân đồng tình hưởng ứng nhiệt liệt. Hàng trăm xuồng ghe bơi đặc sông nước, từ ba xã đổ về thị trấn Mỏ Cày, đồ đạc mùng màn, gà, heo, trâu bò, con cái nheo nhóc. Họ cắm trại trước dinh quận, quanh dinh quận. Ông già, trẻ con, đặc biệt là lực lượng phụ nữ hùng hậu kéo vào quận, đòi gặp quận trưởng, đòi chấm dứt bắn giết, bom, pháo, đòi bồi thường nhân mạng, đòi kết thúc ngay cuộc càn, rút ngay bọn thủy quân lục chiến, đòi quận trưởng bênh vực che chở cho dân. Cảnh sát tới dẹp, bị đấu lý, bị đánh trả và bị thuyết phục. Không giải tán được ai, mỗi ngày bà con các xã lại kéo đến tăng cường, đội ngũ đấu tranh ngày một đông. Đồng bào ở thị xã được vận động, xúc động trước cảnh đau khổ của dân mình ở nông thôn, căm tức bọn ác ôn tàn bạo, kéo đến tiếp tế thức ăn nước uống đầy đủ, giống như một tổ chức hậu cần và úy lạo cho lực lượng đấu tranh. Thật là cảnh náo động cả thị trấn, xáo trộn cả sinh hoạt bình thường, giao thông, công việc đều đình trệ. Cuộc đấu tranh gay go, giằng co cả tuần lễ. Mỗi ngày lực lượng quần chúng từ các xã trong quận kéo đến chi viện mỗi tăng lên, số đông là phụ nữ. Tin truyền lan khắp nơi: Nếu quận không giải quyết, không đủ sức bênh vực được dân thì lực lượng sẽ chia làm hai, một nửa vây quận, nửa kéo lên đòi tỉnh trưởng phải bảo vệ dân.

    Cuối cùng địch phải xuống nước. Tên quận trưởng Mỏ Cày, tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre và tên đại tá chỉ huy thủy quân lục chiến từ Sài Gòn xuống, phải đến tận nơi vỗ về xoa dịu đồng bào. Chúng phải hứa chấm dứt cuộc càn. Bọn chúng còn kéo về xã Phước Hiệp, thừa nhận tội ác của binh lính chúng và ra lệnh rút hết về Sài Gòn.

    Cuộc đấu tranh thắng lợi rực rỡ. Đánh bằng quân sự bất hợp pháp cũng thắng lợi, đấu bằng chính trị hợp pháp của lực lượng quần chúng cũng thắng lợi. Quân sự, chính trị kết hợp thành công, hợp pháp và bất hợp pháp kết hợp cũng thành công. Tuy ta bị thiệt hại không ít, nhưng tinh thần quần chúng không những không sụt mà lại cao lên, phong trào cách mạng trong tỉnh mở đầu mạnh mẽ bằng đồng khởi tiếp tục phát triển ngày càng mạnh.

    Lần đầu tiên, một cuộc đấu tranh của đa số phụ nữ có tổ chức chu đáo, có đội tiên phong, có quân tiếp viện, từ nông thôn kéo ra thành thị, lôi kéo cả quần chúng ở thị trấn tham gia, có hậu cần tiếp tế đầy đủ, đã tỏ ra sức mạnh phi thường, lợi hại của nhân dân, thắng được cả bọn hung ác nhất đã có dã tâm khủng bố tàn sát để dập tắt phong trào. Một đơn vị chủ lực ngụy được vũ trang đến tận răng phải chịu khuất phục trước một đội nữ quân chính trị tay không, nổi tiếng trên toàn chiến trường miền Nam, về sau được gọi một cái tên vừa thương mến vừa kính phục: “Đội quân tóc dài”. Cũng lần đầu tiên có một cuộc “tản cư” hiếm có từ nông thôn đổ ra thành thị. Trước đây, khi quân địch kéo đến khủng bố một vùng nào thì dân chúng ở đó tản cư tránh né đến các vùng không có địch, thường là nơi bưng rừng hẻo lánh. Nay ngược lại, tản cư thẳng ra thị trấn, thị xã là nơi quân địch đông đảo, đối đầu trực tiếp với địch. Vì vậy lại đẻ ra một danh từ mới: “Tản cư ngược”. Từ đó, tản cư ngược trở thành một kiểu cách đấu tranh, đưa cuộc đấu tranh từ thôn quê vào tận thành thị để phát động phong trào thành thị liên kết hỗ trợ cho phong trào nông thôn. Phương pháp đấu tranh mới “Tản cư ngược” và một lực lượng đấu tranh mới trực diện quyết liệt “đội quân tóc dài”, đẻ ra từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đã nhanh chóng lan rộng khắp miền Nam khói lửa, tồn tại suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ - ngụy. Sáng tạo của quần chúng là vô cùng, sức mạnh của nhân dân là vô địch. Phương pháp cách mạng là rất phong phú. Điều kiện khách quan, tình hình bức bách đòi hỏi phải có những biện pháp thích hợp kịp thời. Míttinh quần chúng, biểu tình chính trị, bãi thị bãi công thôi không đủ, quần chúng cách mạng đòi hỏi phải hành động kiên quyết hơn, phải đấu tranh quyết liệt hơn, hình thức cao hơn; đó là đấu tranh trực diện, là chiến đấu vũ trang, là khởi nghĩa đồng loạt. Họ đã làm như vậy, cũng dũng mãnh coi thường cả cái chết, tấn công địch mạnh mẽ và liên tục. Căn cứ vào thực tiễn cách mạng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên nhận định có tính chất tổng kết:

     “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền... Tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng và khéo léo kết hợp các hình thức đấu tranh cách mạng vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”  .





--------------------------------------------------------------------
1. Mỗi nhà phải làm một bản kê khai tên họ từng người trong nhà treo trước cửa để địch kiểm tra chặt chẽ từng gia đình.
2. Ôm chân quật ngã địch theo một thế võ dân tộc.
3. Nguyễn Trãi: Quân trung từ mệnh tập.
4. Súng tự tạo bằng ống sắt, có chân như kiểu trung liên. Đạn là mảnh chai nhọn trộn lẫn với sắt vụn, ngâm nước đái ngựa và đầu rắn độc. Dùng dây giật nổ, thuốc đầy đạn đi như đạn ria, trúng mục tiêu trong vòng mười thước, hễ bị thương là nhiễm độc nguy hiểm, địch rất sợ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM