Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 11:30:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 5576 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #110 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 10:42:19 am »

*
*      *


    Trong lúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ đang diễn ra như vậy, thì ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cả ở hải đảo xa xôi như Phú Quốc, Côn Đảo, làn sóng cách mạng của nhân dân dâng lên cuồn cuộn. Quân và dân hợp đồng tấn công và nổi dậy rất chặt chẽ, lần lượt quét sạch quân thù, giải phóng hết tỉnh này đến tỉnh khác. Phong trào đã được chuẩn bị và phát động từ rất sớm, từ sau tháng 10/1974, lúc có chỉ thị của Trung ương Cục về việc xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh. Các tỉnh, cán bộ và nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng chủ trương đúng đắn này. Hàng vạn thanh niên đã đầu quân tham gia các loại lực lượng vũ trang chiến đấu. Hàng chục vạn quần chúng đi tham gia dân công tải đạn, tải thương. Tất cả các đoàn thể dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp ủy đảng địa phương, huy động lực lượng sẵn sàng tham gia đồng khởi. Truyền thống cách mạng của đồng bằng sông Cửu Long đã được chứng tỏ qua nhiều phong trào từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, qua thời chống Pháp, tới “Đồng khởi” năm 1960 và suốt thời gian chống Mỹ. Ngày nay hàng triệu tấm lòng mang ơn Đảng, có đất ruộng cày, có đời sống khấm khá, đang chờ ngày giải phóng quê hương mình.

    Tỉnh được giải phóng sớm là “Tỉnh dẫn đầu hai tháng chiến dịch mùa khô 1974-1975” như khu Tây Nam Bộ khen tặng, tỉnh được tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng Nhất của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam: Tỉnh Trà Vinh, thuộc Quân khu 9, nay thuộc tỉnh Cửu Long.

    Đêm 28/4, toàn tỉnh đã phát động cuộc tấn công và nổi dậy. Tỉnh ủy đã chỉ định Ban Chỉ huy tổng hợp của tỉnh gồm đồng chí Năm Rồm, tức Nguyễn Nam, nay là Thượng tá Chỉ huy trưởng quân sự tỉnh Cửu Long, làm Chỉ huy trưởng; đồng chí Nguyễn Phước Trị làm Chỉ huy phó và đồng chí Hai Tiến tức Võ Thành Triệu, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy và là Bí thư thị xã, chỉ huy cuộc nổi dậy của quần chúng.

    16 giờ ngày 29/4, lễ ra quân được tổ chức tại gốc me sát thị xã, nơi từ đây xuất quân đánh vào thị xã Trà Vinh trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Sự trùng hợp có dụng ý của địa điểm đã nhắc nhở và cổ vũ mọi người phát huy truyền thống, thực hiện lời thề được ghi trên một tấm băng rôn lớn hôm ấy: “Thề quyết tử giải phóng Trà Vinh để giành toàn thắng”.

    24 giờ ngày 29/4, lệnh tấn công thị xã được ban hành. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở tất cả các hướng.

    Nhân dân từ trong và ngoài thị xã có trên 30.000 đồng bào gốc Việt, gốc Khmer sát cánh xuống đường tước súng ngụy, giải tán các tề ấp, tề xã, phường, khóm. Tại xã Ngũ Lạc ven thị xã, quần chúng đã bao vây 2 tiểu đoàn ngụy, giáo dục, thuyết phục và buộc cả hai tiểu đoàn đầu hàng, ta tước súng và đưa chúng về hậu phương. Kể cả các huyện thì có đến 180.000 quần chúng tham gia nổi dậy giành chính quyền. Đến giờ đó, chỉ còn lại Dinh Tỉnh trưởng ngụy quyền. Cuộc chiến đấu hết sức ác liệt của lực lượng tỉnh gồm cả bộ đội địa phương, đặc công, công an vũ trang. Cánh chủ yếu đánh vào sân bay, trận địa pháo do đồng chí Chín Hải (tức Nguyễn Văn Thiện, là Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng tỉnh đội) chỉ huy. Địch chống cự hết sức ngoan cố, quân ta đã có lúc gặp khó khăn. Đồng chí Thiện - người chỉ huy kiên cường đã xông lên trước dẫn đầu đơn vị đột phá có kết quả, nhưng đồng chí đã hy sinh anh dũng ở hàng rào thứ 2. Lập tức đồng chí Mười Tài (Nguyễn Tấn Tài) thay thế chỉ huy, tiếp tục cuộc tấn công và đến 7 giờ sáng, ngày 30/4, ta đã chiếm lĩnh các mục tiêu ở cánh này. Ở các cánh khác, đến 8 giờ cuộc chiến đấu vẫn diễn ra quyết liệt. Ta bao vây chặt bốn phía. Ngay lúc ấy, mũi tấn công chính trị của quần chúng bao gồm đủ thành phần dân tộc, nam, nữ, lứa tuổi, có Lục cả Sơn Xớt ở chùa Xôn Rôm tham gia, trương cờ Mặt trận đi thẳng vào dinh tỉnh trưởng, kêu gọi tên tỉnh trưởng đầu hàng chuộc tội với đồng bào. Tên này run sợ nhưng vẫn ngoan cố định chạy ra trực thăng trốn, liền bị đồng bào bắt sống. Đến 10 giờ 30 phút, toàn bộ lực lượng ngụy đã hạ súng đầu hàng, 11 giờ, cờ cách mạng đã phấp phới bay trên dinh tỉnh trưởng. Tỉnh lỵ Trà Vinh được giải phóng sớm hơn Sài Gòn.

    Nơi tiêu biểu nữa trong tỉnh là tại đồn Mỹ Huê huyện Càn Long. Ở đây đồng bào tay không đã bao vây và tiến vào đồn. Một tên trung úy cảnh sát ngụy cho nổ một trái mìn clâymo giết chết 4 người dân và bị thương 12 người khác. Lập tức hàng trăm đồng bào tràn vào cướp đồn, bắt sống toàn bộ lính ngụy. Tên trung úy cảnh sát đã bị xử tử trước mặt đông đảo nhân dân.

    Nơi sau cùng được giải phóng trong tỉnh là huyện Duyên Hải. Lúc đó là 20 giờ ngày 30/4.

    Có thể nói trong phong trào nổi dậy của tỉnh Trà Vinh cũng giống như các tỉnh thành khác, lực lượng phụ nữ đã đóng một vai trò rất lớn. Tổng kết lại, phụ nữ ở đây đã được tặng thưởng 120 huân chương tập thể cũng như cá nhân, xứng đáng là quê hương của các anh hùng liệt sĩ Út Tịch, Tô Thị Huỳnh...

    Một tỉnh có vị trí quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, không xa Sài Gòn bao nhiêu, là bàn đạp để từ đồng bằng chi viện cho thủ đô ngụy nếu chúng có khả năng, đó là tỉnh Tiền Giang, bao gồm tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công cũ. Ở đây địch đã tập trung gần đủ cả Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 của chúng với lực lượng thiết giáp và pháo binh mạnh. Chúng cố giữ cho được con đường 4 là con đường sống còn của chúng, nhưng ngay từ ngày 26/4 như phần trên kia đã nói, đường 4 đã bị ta chiếm nhiều đoạn, cắt đứt lực lượng địch ra nhiều mảnh. Về giao thông chiến lược đi ngang qua tỉnh còn có kênh Chợ Gạo, đường thủy vận tải nội địa nối liền từ vùng Cà Mau đến Sài Gòn, con đường lúa gạo hết sức quan trọng từ xưa đến nay. Đồng bào Tiền Giang đã từng tham gia biết bao phong trào chống ngoại xâm từ những ngày đầu quân Pháp mới đến, rồi quân Xiêm (do Nguyễn Ánh đã cõng rắn cắn gà nhà rước về) ở Rạch Gầm, có một phần Đồng Tháp Mười nổi tiếng, có phong trào từ năm 30, 40 (của thế kỷ XX). Riêng trong tháng 4, Tiền Giang đã có đến 40.000 người tham gia dân công, vận tải vũ khí; từ 15/4 trở đi, có đến 4.000 người tham gia cắt đường và đắp cản trên kênh Chợ Gạo; đã có hàng vạn người xuống đường tham gia tấn công và nổi dậy giải phóng tỉnh nhà.

    Nơi chiếm được chính quyền sớm trong tỉnh là ở quận Chợ Gạo. Lực lượng bộ đội địa phương cùng an ninh vũ trang, biệt động đã tiêu diệt địch, giải phóng hoàn toàn thị trấn vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 30/4. Từ đó, bộ đội đã phát động quần chúng nổi dậy, phá rã ngụy quyền, ngụy quân, lan ra giải phóng toàn huyện.

    Ở Gò Công, sự việc diễn biến có khác. Tỉnh lỵ nằm ở vùng sâu, bộ đội tỉnh không nhiều và phải ở xa về phía tây. Khi nghe ngụy quân, ngụy quyền Trung ương ở Sài Gòn đã đầu hàng, quần chúng nhân dân đã rùng rùng kéo ra thị xã Gò Công, dùng loa tay và cả loa điện kêu gọi binh lính địch buông súng trở về quê cũ làm ăn. Gia đình binh sĩ ùa vào trong đồn bót, lôi con em ra, bắt vứt mọi thứ về với cha mẹ, anh em. Cán bộ đảng, cán bộ chính trị tại chỗ đã khéo léo lãnh đạo bà con giải tán tề ngụy, phá bót canh, thu gom súng đạn. Cả một tỉnh lỵ của địch tan tác, rã rời. Nhân dân đã làm chủ hoàn toàn vào lúc 13 giờ ngày 30/4. Sau đó nào xe lam, xe hàng từ thị xã chạy lên đến Vĩnh Hựu, chở bộ đội về cho nhanh để tiếp quản. Toàn tỉnh Gò Công được giải phóng lúc 14 giờ 30 phút ngày 30/4.

   Gò Công đã có truyền thống dùng sức mạnh đồng khởi của nhân dân để chống địch. Năm 1954, trước ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ, chỉ một đại đội bộ đội địa phương cùng dân quân và đồng bào, mỗi đêm tiêu diệt, bức hàng loạt 30-40 đồn bót và đến ngày ngừng bắn, hầu như chỉ còn có thị xã là địch còn kiểm soát. Sự việc như vậy lại diễn ra nhiều lần. Đồng khởi năm 1960, rồi phá tề, phá mảng ấp chiến lược thời Diệm và mới năm 1974 đây, cũng mở rộng quyền làm chủ của nhân dân trong nhiều vùng cho đến lúc này tự mình giải phóng lấy tỉnh mình.

   Tại thị xã Mỹ Tho, một đội biệt động của Thành đoàn Thanh niên lao động đã dựa vào các cơ sở cách mạng phát động quần chúng nổi dậy ở các phường, buộc phòng vệ dân sự, cảnh sát giao súng cho cách mạng, kêu gọi lính ngụy hạ vũ khí đầu hàng. 16 giờ ngày 30/4, một lá cờ giải phóng lớn được kéo lên cột cờ cao chót vót tại Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu. Các phường 1, 2, 4, 5, 6 được giải phóng trước. Nhưng địch ở khu quân sự gần sân banh vẫn còn. Anh em đã ngồi trên 6 chiếc xe Jeep giương cờ cách mạng chạy vòng xuống cặp bờ sông, dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Khi đoàn xe đi qua Chương Dương, địch bắn dữ dội vào đoàn xe lăn, một xe bị trúng đạn. Anh Trần Văn Trầm hy sinh. Anh em vừa chống trả lại bằng súng ngắn và lựu đạn vừa tiếp tục cuộc hành trình, chiếm luôn cầu Bắc để liên lạc với Bến Tre. Đến 24 giờ ngày 30/4, Trung đoàn 1 Sư đoàn 8 của Quân khu 8 mới tiến vào đến nơi, diệt Thiết đoàn 6 ngụy còn kháng cự ở Chợ Cũ. 5 giờ ngày 01/5, thị xã Mỹ Tho được hoàn toàn giải phóng.

   Sáng 30/4, nhân dân đổ ra đường 4 rất đông. Trong lúc lực lượng vũ trang của tỉnh diệt địch, chiếm cầu đúc Bưng Môn thì phía trên Bình Phú, dân đã hù dọa lính ngụy, chiếm được 6 chiếc M113 còn nguyên vẹn và cả trận địa pháo ở Thuộc Nhiêu gồm hai pháo 155 ly và 4 pháo 105 ly. Chính đơn vị tỉnh đã dùng xe M113 này chạy về giải phóng thị trấn Cai Lậy. Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 ngụy hoàn toàn tan rã tại đây.

   Tỉnh Mỹ Tho còn có căn cứ quân sự lớn của địch ở Bình Đức. Đây là căn cứ cũ của Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ. Sau khi quân Mỹ rút đi thì giao căn cứ này lại cho quân ngụy. Mỹ đã đổ nhiều công sức, tiền của, đưa nhiều máy móc tới đây, cướp đoạt các ruộng lúa phì nhiêu, san bằng nhà cửa, vườn tược của dân trên bờ sông Cửu Long để xây dựng căn cứ. Chúng chiếm đoạt tài sản và bắn giết vô tội vạ người dân địa phương lương thiện để biến ruộng nương thành chiến trường, căn cứ quân sự. Tên tướng Mỹ võ biền thô lỗ Westmoreland không những không thấy y là một tên tội phạm chiến tranh còn vênh váo khoe khoang về công trình này:

        “… Công binh của hải quân và lục quân (Mỹ) đã tạo ra một hòn đảo cát mà trong mùa khô đã trở thành một nơi có nhiều cát nhất trên trái đất...

     ... Các ruộng lúa đã được đào xới để có chỗ cho tàu đậu, còn các máy nạo vét thì xúc cát ở lòng sông để lấp một khu ruộng lúa ngập nước rộng tới 640 acres (1 dặm vuông)...

     ... Tôi đã đích thân chọn cái tên đặt cho căn cứ để tiêu biểu cho sự hợp tác giữa Mỹ và Nam Việt Nam: “Đồng Tâm”...”.

     Không những thế, tên tướng này còn thú nhận hắn đã dùng chiến tranh hóa học chống lại nhân dân ta. Y nói:

     “... Hóa chất phát hoang còn được dùng để triệt phá thóc lúa của địch ở các vùng xa xôi bị Việt cộng kiểm soát. Mặc dầu ranh giới vùng chính phủ kiểm soát và vùng chịu ảnh hưởng của Việt cộng không được phân định rõ ràng, loại thuốc phát hoang này vẫn thường được dùng. Thuốc phát hoang có gây ra sự thiệt hại về sinh thái học, gây ra bao nhiêu và hậu quả của nó dài bao lâu thì chưa ai rõ...”. (Trích hồi ký của Westmoreland: Một quân nhân tường trình, Nxb. Doubleday & Company, Inc., Garden City, N.Y, 1976.

     Chính tại cái căn cứ Đồng Tâm này, sáng 30/4, đã diễn ra cuộc họp khẩn cấp giữa Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 ngụy và các tiểu khu lân cận để bàn “tử thủ”. Chúng tưởng các công sự kiên cố, các rào dây thép gai phức tạp của Mỹ có thể cứu sống chúng. Đến trưa, chúng đã ra lệnh cho các trung đoàn còn ở phía bắc Cai Lậy và Châu Thành rút hết về đây. Thiết giáp được dàn ra lộ 4 để đón quân. Thế nhưng dọc đường rút về căn cứ, lính tráng đã bỏ trốn một mớ. Về đến căn cứ, thấy tình trạng hỗn quan hỗn quân chúng lại bỏ trốn một mớ nữa. Đồng bào suốt từ lộ 4 dài đến lộ Cổng 2, ai ai gặp lính còn mang súng hỏi: “Bộ muốn chết để hổng được hưởng hòa bình hay sao mà giờ này còn mang súng mang ống kình kình vậy đó?!”; hoặc “Sài Gòn thua tất rồi, bộ mấy chú (mấy em) hổng hay hay sao? Trời đất! Sức mấy mà cái “Đồng Tâm” này chống nổi với giải phóng? Thôi, về nhà lo làm ăn đi cho nó yên chuyện!”... Và, khi lính kéo về đây, đồng bào cũng ùa theo vô căn cứ. Bọn lính lại lần lượt bỏ trốn. Đến 7, 8 giờ tối thì du kích đã lọt vô căn cứ. Đến 12 giờ đêm thì bộ đội tỉnh, bộ đội khu cũng đã ở ngay trong căn cứ rồi. Toàn bộ sĩ quan, binh lính, số rã, số bị bắt. 00 giờ 00 ngày 01/5, căn cứ “Đồng Tâm” hoàn toàn được giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #111 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 10:45:57 am »

    Nhưng tỉnh có tính chất độc đáo nhất ở đồng bằng sông Cửu Long là tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Minh Hải) được giải phóng hoàn toàn vừa sớm vừa không tốn một viên đạn nào. Tình hình ở đây có những đặc điểm mà Tỉnh ủy đã nắm được nên hạ quyết tâm chỉ đạo rất kịp thời và đúng đắn. Địch bố trí trong tỉnh số lượng quân không ít, có tất cả 13.000 quân các loại trong đó có một trung đoàn biệt lập ở thị xã và 4 tiểu đoàn bảo an được yểm hộ mạnh của cơ giới và pháo binh. Tuy vậy, tinh thần đã dao động dữ dội, từ sĩ quan đến binh lính, mặc dầu bề ngoài chúng vẫn tỏ ra hung hăng. Đến tận ngày 25 - 26/4, chúng còn tổ chức một cuộc càn quét, trong đó bọn ác ôn đã giết hại nhiều đồng bào ta một cách điên cuồng. Thực chất có khá nhiều sĩ quan và binh lính các cấp đã liên lạc với ta và xin giấy thông hành hộ mệnh. Ngay tên Lâm Hoàng Hôn - Chủ tịch Đảng Dân chủ, linh hồn của địch trong tỉnh, từ đầu tháng 4 đã mất tinh thần và ta đã cho người lung lạc và nắm y. Lực lượng ta điều về tấn công vào thị xã có 5 tiểu đoàn nhưng chỉ có Tiểu đoàn 1 của tỉnh là làm nòng cốt. Trong thị xã ta còn có một đội biệt động rất hăng hái, sẵn sàng tấn công địch từ bên trong. Quần chúng cách mạng đã sôi sục khí thế, đang chờ lệnh để xông ra giành chính quyền. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy nhận định tình thế cách mạng đã chín muồi, công tác binh vận của ta có nhiều điều kiện thuận lợi làm mũi chủ công, nên đã hạ quyết tâm tiến hành tấn công và nổi dậy sớm, đẩy mũi binh vận đi trước, với sự hỗ trợ gây áp lực mạnh mẽ và sẵn sàng hợp đồng tấn công kịp thời của mũi vũ trang và mũi khởi nghĩa của quần chúng.

    Tỉnh ủy đã chỉ định Ban Chỉ huy tổng hợp của tỉnh gồm đồng chí Chín Quả (Trung tá Đặng Văn Nuôi - Tỉnh đội trưởng) làm Chỉ huy trưởng; đồng chí Ba Vị (Đoàn Thanh Vị) làm Chính trị viên và là Trưởng ban khởi nghĩa quần chúng; các ủy viên là đồng chí Nguyễn Thuận Kiều - Phó Bí thư Tỉnh ủy, chị Bảy Hoàng -Tỉnh ủy viên phụ trách binh vận, Nguyễn Viết Thống - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Năm Quân (Lê Quân, phái viên của Quân khu về giúp chỉ đạo tấn công và nổi dậy trong tỉnh).

    Trong nội ô thị xã còn có các đồng chí Trần Văn Bửu - Ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy, nữ đồng chí Quách Kim Tuyến - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy huy động và lãnh đạo quần chúng nổi dậy.

    Ngày 27/4, các tiểu đoàn vũ trang của ta đã chiếm lĩnh vị trí xung quanh thị xã Bạc Liêu.

    Ngày 28/4, cô Bảy Hoa - Bí thư Đoàn Thanh niên thị xã đã nhận lãnh vũ khí đầy đủ cho đội biệt động và đưa tất cả vào nội ô giấu một cách an toàn.

    Đêm 26/4, đồng chí Năm Quân, người đã tham gia giành chính quyền ở quê nhà Bạc Liêu hồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nay nhận lãnh nhiệm vụ tấn công binh vận trực diện, đã bí mật đột nhập vào thị xã. Đồng chí đã viết một loạt thư và cho người đưa thẳng cho tên Đại tá Điệp (Tỉnh trưởng ngụy) và một số sĩ quan cao cấp khác của chúng, khuyên chúng mau mau trở về với cách mạng để lập công chuộc tội, tránh đổ máu thêm nữa trong tình thế tuyệt vọng của ngụy quân, ngụy quyền sắp bị tiêu diệt và sụp đổ. Chỉ có tên Tỉnh trưởng nhận và trả lời cho người đưa thư. Y nói:

    - Tôi không tin cộng sản. Họ đòi ông Thiệu ra đi rồi sẽ ngừng bắn. Nay ông Thiệu đi rồi mà họ vẫn tấn công. Tôi không cần gặp họ. Chúng tôi có đủ khả năng tự bảo vệ.

    Lần nhận thư khác, ngay tiếp sau đó, y lại nói:

    - Được rồi, cộng sản cứ tới đây gặp tôi. Tôi sẽ nói thẳng cho họ câm họng đi.

    Biết rõ tên này đã dao động mạnh nhưng bề ngoài cố làm ra vẻ cứng. Trong thâm tâm có thể muốn gặp ta nhưng còn e sợ và giữ kẽ với xung quanh. Vì vậy, đồng chí Năm Quân quyết định đến gặp trực tiếp tên Điệp để thuyết phục y, mặc dù nhiều đồng chí khác lo ngại, can ngăn. Đồng chí nghĩ nếu ta phán đoán sai thì mất mình ta nhưng nếu đúng thì được cả một tỉnh mà tránh được đổ máu cho nhiều người.

    Chiều 28/4, với lòng tự tin, đồng chí Năm Quân tới thẳng nhà riêng gặp tên tỉnh trưởng trước sự ngạc nhiên và lúng túng của y. Đồng chí đã nhân danh đại diện có thẩm quyền của chính quyền cách mạng nói rõ tình hình quân giải phóng đã chiếm Vùng 1 và Vùng 2 chiến thuật và gần hết Vùng 3, đang chuẩn bị đánh đòn cuối cùng vào Sài Gòn và cả Vùng 4 chiến thuật. Không một hy vọng mỏng manh nào cho ngụy quân ngụy quyền sống sót. Mỹ không có khả năng nào can thiệp trở lại. Đồng chí đã phân tích điều hơn lẽ thiệt, bảo đảm các điều kiện cho y trở về với chính nghĩa.

    Hoang mang, sợ sệt, tên tỉnh trưởng không biết quyết định thế nào, cuối cùng xin đồng chí Năm Quân cho hoãn lại để suy nghĩ. Ngày 29/4, đồng chí lại vào thuyết phục nhưng tên Điệp vẫn còn hết sức phân vân chưa ngả về hướng nào. Đồng chí liền đề nghị với Ban Chỉ huy tổng hợp cho quần chúng xuống đường biểu dương lực lượng. Tức thì, nhân dân rầm rộ kéo đi khắp các đường phố, tập trung chỗ này ba chục, chỗ kia năm chục, tranh thủ lung lạc sĩ quan và binh lính địch: “Đây là những ngày cuối cùng của chiến tranh rồi... chết chi cho uổng mạng...”. Gia đình binh sĩ ngụy thì xông xáo kêu gọi thẳng chồng, cha, con, em bỏ súng về nhà làm ăn sinh sống.

    Trước tình hình “sôi bỏng” đó, chiều ngày 29/4, tên Điệp chủ động cho người đến mời đồng chí Năm Quân về nhà riêng của y. Y nói:

    - Tôi sẵn sàng đầu hàng cách mạng. Nhưng phải chờ chừng nào Sài Gòn ra lệnh đầu hàng thì tôi sẽ thực hiện ngay.

    - Anh chờ lệnh cấp trên của anh, nhưng chúng tôi lại cũng có lệnh của cấp trên chúng tôi. Thể theo yêu cầu thiết tha của anh, chúng tôi đã hoãn tấn công đêm 28/4. Nếu anh vẫn chưa hiểu thời hiểu thế thì lực lượng vũ trang hùng hậu của chúng tôi sẽ đánh đồng loạt trong đêm nay theo kế hoạch tôi không còn cách nào cứu anh được nữa. Anh hãy tỉnh lại một chút chớ sao lại chờ lệnh của kẻ đã đầu hàng ở Sài Gòn. Họ còn quyền hành gì nữa mà ra lệnh. Lệnh có giá trị nhất hiện nay là lệnh của nhân dân, của cách mạng. Các anh đầu hàng giờ nào thì còn có chút công nào đó đối với dân tộc, muộn là mất hết. Hãy khôn ngoan hơn.

    Tên Điệp run rẩy:

    - Tôi đầu hàng được rồi nhưng còn bên Tiểu khu (lực lượng quân sự ngụy). Tôi khó thuyết phục họ lắm. Xin ngài cho hoãn tấn công đêm nay để ngày mai ngài cùng tôi tới Tiểu khu nói chuyện với đám sĩ quan bên đó xem sao.

    - Anh định chơi kế hoãn binh chớ gì? Anh nên hiểu rằng cách mạng không bao giờ cho phép ai lừa dối. Chúng tôi có đủ sức mạnh và lòng kiên quyết.

    Sau khi nghe Điệp trần tình về lòng ngay thật và những lời năn nỉ hết mức, sau khi tỏ ra suy nghĩ đắn đo, đồng chí Năm Quân nói: Tôi nói với anh đây là lần hoãn cuối cùng vì lòng nhân đạo cách mạng. Ngày mai chính quyền phải về tay cách mạng hoặc bằng đầu hàng vô điều kiện của các anh hoặc bằng tấn công quân sự.

    Đêm 29/4, ta đã có lệnh cho các cơ sở bí mật giữ gìn kho bạc, các kho xăng dầu, lương thực... bảo đảm nguyên vẹn.

    Sáng ngày 30/4, từ sớm đồng bào đã lũ lượt kéo đi phong tỏa các nẻo đường trong thị xã và tập trung đông đảo nhất trước tòa hành chính tỉnh với một khí thế sôi sục. Tổ cán bộ ta gồm đồng chí Năm Quân, Tư Thanh và Thích Thiện Giác đường hoàng tới thẳng dinh tỉnh trưởng. Tên Điệp cung kính đón tiếp và nói chuyện hết sức lễ độ đồng ý tất cả mọi điều kiện. Trước khi cùng Điệp qua Tiểu khu, đồng chí Năm Quân tỏ ý muốn nói chuyện với đồng bào ngay trước tòa hành chính. Lúc đó khoảng 9 giờ 30 phút.

    Tên Điệp liền ra lệnh chuẩn bị loa phóng thanh và thân hành nhắc ghế cao ra trước cho cán bộ ta đứng. Yêu cầu cầm loa và giới thiệu:

    - Thưa đồng bào, tôi xin giới thiệu, đây là đại diện của chính quyền cách mạng đến bảo chúng tôi giao chính quyền cho nhân dân, có vài ý kiến với cô, bác.

    Rồi y đưa micrô cho đồng chí Năm Quân, trong lúc đồng chí đứng lên ghế cao. Tức thì tiếng hoan hô vang dội kéo dài. Đồng chí nói:

    - Thưa đồng bào! Ngụy quyền Sài Gòn đã hoàn toàn sụp đổ. Đồng bào hãy xuống đường đông đảo, giành chính quyền về tay mình, hạ cờ ngụy, treo cờ cách mạng lên, tước vũ khí của địch, tự quản lý các cơ sở, kho tàng, tài sản công cộng. Hãy giữ gìn trật tự, ngăn chặn việc trả thù cá nhân, việc cướp giật phá phách, chờ quân giải phóng vào tiếp quản.

    Tiếng vỗ tay và hoan hô lại vang dội hồi lâu.

    Quay qua binh sĩ và công chức ngụy đứng bên cạnh, đồng chí Năm Quân nói mấy lời về lòng nhân đạo của cách mạng, lượng khoan hồng của nhân dân, khuyên họ nộp súng, giữ nguyên vẹn mọi hồ sơ, tài liệu, tài sản không để mất mát một tí gì và trật tự, bình tĩnh đợi lệnh của cách mạng.

    Xong xuôi mọi người kéo qua Tiểu khu. Ở đây, tên Trung tá Đôn - Tiểu khu phó kiêm an ninh lãnh thổ cùng đồng bọn đón tiếp tổ cán bộ ta, mời ngồi nhưng với thái độ có vẻ ngang bướng, có phần xấc xược nữa. Tên này không đợi giới thiệu gì cả (biết rõ cả rồi), đứng chống nạnh nhìn chằm chằm vào người của ta và nói nhấn mạnh từng lời:

    - Ngài đến đây, ngài biết tôi còn bao nhiêu quân không?

    - Biết chớ, không những biết số chung mà còn biết chính xác chi tiết nữa. Đồng chí Quân trả lời bình tĩnh.

    Đôn lại nói ngay:

    - Tôi còn mười ngàn quân. Đánh nữa thì vô vọng, nhưng với 10 ngàn quân trong tay, tôi quyết tử thủ tại thị xã Bạc Liêu này, các ngài có đánh cũng khướt đấy, không phải dễ ăn đâu...

    Cán bộ ta vẫn bình tĩnh. Đồng chí Quân vừa gạt tàn thuốc đang hút vào cái gạt tàn, vừa nhìn khắp một lượt sĩ quan ngụy ngồi xung quanh hỏi:

    - Anh em sĩ quan nào có ý kiến gì nữa không?

    Im thin thít, cũng không một tiếng cử động nào.

    Đồng chí Quân thong thả nói:

    - Anh Đôn à, chúng tôi tới đây với thiện chí hòa bình, trên tinh thần hòa hợp dân tộc, để cho người Việt Nam mình không đổ máu vô ích nữa. Vậy mà anh đem 10 ngàn quân ra nói chuyện với chúng tôi sao? Tôi muốn nhắc lại để anh và anh em đây nhớ rằng quân đội xâm lược Mỹ đông cỡ nào? Trang bị hiện đại cỡ nào? Hùng hùng hổ hổ khoe khoang về sức mạnh Huê Kỳ của tên trùm đế quốc đi cướp nước người mà còn phải chịu thua nhân dân cách mạng ta một cách nhục nhã, phải rút về nước. Còn quân đội các anh, có phải đâu 10 ngàn, mà có trên một triệu chớ nhưng nay thế nào thì các anh đã biết. Ngay tên Thiệu ngoan cố gian manh, quyết làm tay sai Mỹ đến cùng, với nào “bốn không”, nào “tử thủ” mà rồi cùng vợ con gom góp tài sản, lo chạy thoát thân trước phần ai hết, bỏ mặc các anh lại cho đến giờ chót này. Còn một điều nữa mà anh Đôn chắc chưa biết là trong số 10 ngàn quân mà anh nói đấy, anh biết có bao nhiêu đã lãnh giấy chứng minh và thông hành của chúng tôi không? Số còn lại thì đa số đã mặc hai áo rồi, điều này chắc các anh đã rõ. Trong giờ phút cấp bách này chúng ta nên bàn với nhau một đường thoát nào tốt nhất mà không nên hăm dọa nhau bằng 10 ngàn quân hay gì gì nữa. Nếu sợ chúng tôi đã không vô đây, nếu không vì lòng nhân đạo cách mạng chúng tôi cũng không vô đây làm gì. Nhân dân cũng không phải sợ mà xuống đường rầm rộ khắp nơi trong thị xã như các anh thấy đấy.

    Tên Đôn nghe vậy, vội vàng đứng dậy, lễ phép nói:

    - Thưa ngài, tôi đâu dám dọa ngài. Ngài thông cảm cho tôi bởi vì không gì nhục nhã bằng người cầm quân mà bị tước khí giới.

    - Anh nghĩ lẩn thẩn rồi. Nếu anh để cho quân giặc cướp nước anh, giết đồng bào anh, tước vũ khí thì đó đúng là nhục. Còn đây không phải như vậy. Anh hạ súng trước nhân dân, đồng bào mình, trước cách mạng đã cứu Tổ quốc ta, dân tộc ta thì đó lại là vinh dự, là cơ hội may mắn nhất cho đời mình, cho gia đình mình để đưa mình về với chính nghĩa, trở thành công dân của một nước độc lập, tự do.

    Tên Thiếu tá Lợi lại nói:

    - Chúng tôi đã cưỡi lên lưng cọp rồi không thể xuống được.

    - Cách mạng luôn khoan hồng, nhân dân ta rất độ lượng. Đây là một dịp hiếm có để các anh lập công chuộc tội, tự cứu lấy mình.

    Tên Thiếu tá Mã Thành Nghĩa - một tên ác ôn khét tiếng ở vùng này, bàn tay nó đã đẫm không biết bao nhiêu máu của đồng bào ta, cho tới ngày 26/4, nó vẫn còn một lúc giết đến 40 người dân vô tội, nay nó đã thấy rõ thất thế, run sợ, đứng lên nói:

    - Tôi chỉ xin một điều kiện: đầu hàng rồi, cách mạng đảm bảo cho tôi được đi tu.

    Xin như vậy nhưng nó vẫn không yên tâm, vẫn hoảng hốt, mất trí trước tội ác tày trời chất chồng từ lâu nay của nó. Sáng ngày 01/5, nó đã tự sát, kết liễu cuộc đời tay sai ghê tởm của một con rắn độc. Chiều ấy, vợ nó cũng tự sát luôn.

    Thấy tất cả sĩ quan ngụy đã có vẻ được thuyết phục, đồng chí Quân vui vẻ:

    - Bây giờ ta tiến hành công việc bàn giao chính quyền đi, thời gian đã trôi qua nhiều rồi.

    Tất cả bọn chúng đều đứng lên, tỏ vẻ đồng ý, phục tùng.

    Đồng chí Quân nói như ra lệnh:

    - Một là, các anh ra lệnh ngay cho tất cả lực lượng dã chiến, đồn bót, cảnh sát, phòng vệ... trong tỉnh: Kể từ giờ này chấm dứt mọi hoạt động. Khi lực lượng cách mạng, lực lượng giải phóng tới đâu thì ở đó hãy tập trung lại, giao hết vũ khí, đồn bót, cơ sở, tài liệu,... Không được để nổ một phát súng nào.

    - Hai là, mở khám thả hết tù chính trị.

    - Ba là, đảm bảo các công sở, hồ sơ, kho tàng nguyên vẹn, an toàn.

    Chúng chỉ đề nghị chưa thả ngay tù chính trị. Chúng run sợ khi nghĩ lại những sự tra tấn cực hình đối với anh em ta trước đây. Giờ thì ngôi thứ đã thay đổi, chúng sẽ ra sao khi những người bị chúng hành hạ, chiến thắng trở về làm chủ xã hội? Anh em ta gạt đi bảo phải thi hành tất cả. Người cách mạng lòng rộng bao la, vì nghĩa lớn, không bao giờ trả thù hèn mạt.

    Sau khi thả tù chính trị xong, xe của đoàn cán bộ ta có cắm cờ Mặt trận giải phóng chạy qua trường huấn luyện. Đồng chí Quân đứng trên xe nói: Anh em binh sĩ và nhân dân! Chúng tôi là đại diện chính quyền cách mạng đến đây... Câu nói mới tới đó thì tất cả binh lính đang đứng lóng nhóng, có đến 2 ngàn tên rùng rùng vứt súng tại chỗ, chạy tán loạn mọi ngả, không còn cách nào can được nữa.

    Khắp thị xã lúc này, đường phố đông nghẹt người, nhà đã rực rỡ cờ cách mạng phấp phới bay. Lá cờ đầu tiên xuất hiện ở cầu Hoàng Diệu do anh em học sinh dựng lên. Sau đó lúc quá 9 giờ thì cờ được treo khắp mọi nơi ở ngã tư Quốc tế, đường Độc Lập ở cầu Quay, ở chợ...

    Thị xã Bạc Liêu thực sự do nhân dân làm chủ lúc 10 giờ ngày 30/4 và sau đó lần lượt các nơi trong toàn tỉnh chính quyền về tay nhân dân. Chiều tối đó quân đội ta đã tiếp thu và kiểm soát toàn bộ thị xã một cách êm ả.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #112 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 10:55:53 am »

    Tất cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đều diễn ra tấn công và nổi dậy tương tự như các vùng nói trên, nhịp độ sôi sục nhất trong các ngày 29/4, 30/4 và 01/5. Tuy Sài Gòn đã đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30/4 và Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật hay Quân đoàn 4 ngụy đầu hàng vào cuối ngày này, nhưng bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền ở các tỉnh vẫn ngoan cố chống cự, “cố thủ” trông chờ sự chi viện cuối cùng của Mỹ. Tuy nhiên, trước sức tấn công và nổi dậy như vũ bão của lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng, một số bị diệt, số khác phải đầu hàng, tan rã, và hầu hết các tỉnh đều được giải phóng hoàn toàn vào ngày 30/4 và 01/5.

    Tùy theo vị trí và điều kiện mỗi tỉnh khác nhau nên thời gian giải phóng nơi sớm hơn một chút, nơi muộn hơn một chút, khoảng cách không đáng kể. Diễn biến mỗi nơi một khác, nhưng tỉnh nào cũng có vẻ độc đáo sáng tạo của mình.

    Như tỉnh Bến Tre, một tỉnh có phong trào cách mạng liên tục, tỉnh nổi tiếng về phong trào Đồng khởi năm 1960. Bước vào mùa khô 1974-1975, tỉnh không chỉ đã tổ chức được lực lượng quân sự, chính trị của mình rất mạnh mà còn đưa về Quân khu 8 các loại quân, thanh niên, cán bộ đến 7 vạn người. Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội đã có kế hoạch tự giải phóng tỉnh mình từ rất sớm. Tháng 3/1975, tất cả các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận của ta đã áp sát thị xã, bao vây địch chặt chẽ. Nhưng không may là toàn bộ kế hoạch tấn công thị xã của ta mà hướng chính là từ phía bắc vào đã bị địch lấy được hôm 22/4 và chúng lập tức điều đến 7 tiểu đoàn về triển khai đối phó ráo riết. Ban Chỉ huy tổng hợp vẫn không nao núng liền chuyển hướng tấn công từ phía nam đúng ngày quy định. Ngày 25/4, đánh gục cầu Chẹt Sậy, rồi diệt đồn Lương Quới, đánh luôn Bình Chánh vào đêm ngày 29 rạng 30/4. Trước sức tấn công mãnh liệt của lực lượng phối hợp chính trị quân sự của ta, sáng sớm ngày 01/5, địch đã phải đầu hàng toàn bộ và Trung tá Bửu (Tỉnh phó ngụy) đã hướng dẫn ta truy kích đến tận Sài Gòn bắt tên Đại tá Kim (Tỉnh trưởng) đang lẩn trốn.

    Tại tỉnh Vĩnh Long, điểm trung tâm trong kế hoạch co cụm chiến lược theo “phương án Gauvin”, có cả đường 4 và đường sông Măng Thít chiến lược, lực lượng của ta cũng rất mạnh. Trước ngày Tổng tấn công và nổi dậy, ta đã giải phóng một nửa diện tích của tỉnh và gần một nửa số dân. Đêm ngày 28/4, ở tất cả các huyện, ta đã tấn công vào chi khu. Rạng ngày 30/4, ta đã tấn công vào thị xã. Cho tới khi Sài Gòn và Vùng 4 chiến thuật ngụy đã đầu hàng, tên Đại tá Tiểu khu trưởng cùng hai trung đoàn chủ lực của chúng là Trung đoàn 16 thuộc Sư đoàn 9 và Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 21 vẫn ngoan cố bố trí “tử thủ” từ Bắc Mỹ Thuận đến Cái Vồn. Khi đó, các chi khu của địch lần lượt bị tiêu diệt, tiểu khu bị cô lập và bao vây. Rạng sáng ngày 01/5, toàn bộ địch trong tỉnh Vĩnh Long đã bị diệt và đầu hàng - trừ các xã Tân Lược, Bình Quới, Bình Minh được giải phóng chậm một ngày.

    Ở tiểu khu An Xuyên (Cà Mau), ngày 30/4, địch rút lực lượng từ các chi khu Đầm Dơi, Thới Bình về cũng định cố thủ, nhưng bị ta chặn đánh tan tành trong đêm ngày 30/4. Rạng sáng ngày 01/5, ta vào chiếm lĩnh.

    Tỉnh Kiên Giang có cảng Rạch Giá thuận lợi thông ra biển, lại có đảo Phú Quốc mà địch mong trụ lại, ta cũng kịp thời tấn công và nổi dậy từ đêm ngày 29/4 và giải phóng vào cuối ngày 30/4 bằng lực lượng chính trị vũ trang tại chỗ.

    Như vậy là bờ đại dương hình chữ V, cái viền biển xanh của đồng bằng sông Cửu Long từ Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu đến mũi Cà Mau qua Rạch Giá, Hà Tiên và cả các đảo lớn như Côn Sơn, Phú Quốc cũng đều được giải phóng trong ngày 30/4 cùng với Sài Gòn và Cần Thơ. Một sự hợp đồng về chiến lược thật là tuyệt diệu khiến cho địch muốn co cụm cũng không có điều kiện co cụm, muốn từ đại dương tiến vào cũng không còn đường mà tiến.

    Từ Sở Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng một lực lượng hùng hậu gồm bộ binh, xe tăng, pháo binh, cao xạ để tiến về đồng bằng, giúp đỡ một tay với quân, dân hai quân khu 8 và 9 nhanh chóng diệt nốt quân địch còn ngoan cố chống cự. Chúng tôi biết rất rõ rằng khi đầu não ngụy quân, ngụy quyền ở Sài Gòn đã bị đập nát, Mỹ đã phải trèo lên nóc nhà “đằng vân giá vũ” trốn thoát, thì đó là đòn quyết định để giải phóng toàn bộ miền Nam Việt Nam. Nhưng không phải đơn giản là Sài Gòn giải phóng thì tự khắc các nơi khác cũng được giải phóng, ta không phải hành động gì, ngồi đó mà đợi cho trái chín rụng vào bị.

    Đến những ngày chót mà Thiệu còn bàn với những thủ hạ tâm phúc của hắn: “Nếu như bị mất miền Đông và Sài Gòn, thì bằng mọi giá gom hết sức lực còn lại của Nam phần Việt Nam, lui về đồng bằng sông Cửu Long, cố thủ ở đó... Phải giữ chặt các hòn đảo ở phía nam.
    ... Cần Thơ là thủ phủ của Việt Nam Cộng hòa”...

    Rồi thực tế là Sài Gòn đã đầu hàng mà quân ngụy còn định cố thủ ở Đồng Tâm, ở Cần Thơ và ngay khi Cần Thơ đã đầu hàng, bọn ngụy ở một số địa phương vẫn mong cố thủ. Nếu ta không có những biện pháp sớm từ trước phá tan âm mưu co cụm về đồng bằng, nếu ta không có một chiến lược cách mạng tổng hợp đồng loạt tấn công và nổi dậy bằng lực lượng tổng hợp chính trị, binh vận và quân sự thì chắc chắn tình hình đã diễn biến phức tạp hơn nhiều. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã nhận thức sớm được trách nhiệm lịch sử, tự mình đứng lên giải phóng quê hương mình, đã đóng góp xương máu không nhỏ vào những trận chiến đấu sau cùng. Theo sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, hợp đồng chiến đấu với mặt trận Sài Gòn, các tỉnh đồng bằng đều đã đồng loạt tấn công và nổi dậy với phương pháp “hai chân, ba mũi” truyền thống, giành toàn thắng vẻ vang. Có tỉnh giải phóng trước Sài Gòn, có nơi cùng một lúc và khi ngụy quyền Trung ương phải đầu hàng vô điều kiện thì lợi dụng thời cơ quý giá ấy, hàng triệu người, quân cũng như dân đã nhất tề xông lên mạnh hơn, chỉ trong 2 ngày 30/4 và 01/5 giải phóng hầu hết các tỉnh vùng châu thổ này.

    Đoàn binh chủng hợp thành chuẩn bị sẵn của chúng tôi từ miền Đông Nam Bộ đã không cần thiết phải xuất quân chiến đấu. Cả Quân khu 8 và 9 đều điện về Miền: “Chúng tôi tự lực được”, mà thực tế đồng bằng đã tự lực, gọn ghẽ quét sạch quân thù, tự giải phóng.

    Quân khu 9 tự giải quyết đầu não Vùng 4 chiến thuật, giải phóng “Tây Đô” và còn phối hợp kịp thời với Chiến dịch Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ cắt đường sông Măng Thít, đường 4 chiến lược và khống chế sân bay lớn ở Cần Thơ.

    Ngày 25/4, Quân khu nhận được điện của Bộ Tư lệnh Miền (Điện số 693/ZN/24-4):

    “Bắt đầu từ ngày 28/4 trở đi, Quân khu phải kiên quyết đánh phá cắt đường 4 ở nhiều đoạn quan trọng đã quy định. Cũng từ ngày 28/4 trở đi, dùng đặc công đánh nhỏ và lớn liên tục sân bay Trà Nóc, đi đôi với dùng cối pháo, khống chế vào các đường băng, đài chỉ huy, không cho địch cất cánh và hạ cánh ở sân bay này. Tối 29/4 rạng 30/4, dùng tất cả lực lượng của Quân khu đánh chiếm hoàn toàn sân bay Trà Nóc, làm chủ và giữ luôn sân bay. Sau đó khi có điều kiện thì đánh chiếm thị xã Cần Thơ”.

    Ngày 28/4, Quân khu đã tổ chức pháo kích và tấn công liên tục vào sân bay theo lệnh của Miền và sáng 30/4, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Trung đoàn 20 chủ lực của khu lập tức đánh thẳng vào và chiếm sân bay Trà Nóc lúc 14 giờ trong ngày. Toàn bộ quân địch ở đây đầu hàng gồm có Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 4 không quân. Ta thu 113 máy bay các loại.

    Trong khi đó, tại thị xã Cần Thơ, cán bộ chính trị đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy chiếm các phường ở trung tâm thị xã: Phường An Cư, An Nghiệp, An Hòa thuộc Quận 1, phường Hội An, An Thạnh thuộc Quận 2 và ấp Bình Dị, xã Long Tuyền thuộc Quận 3... Cơ sở binh vận của ta kết hợp với nhân dân chiếm đài phát thanh vào lúc 14 giờ và 15 giờ, đài đã phát đi tiếng nói của cách mạng, kêu gọi binh lính ngụy đầu hàng.

    15 giờ, ngày 30/4, lực lượng vũ trang Quân khu 9 siết chặt vòng vây và tấn công thẳng vào Chỉ huy sở Quân đoàn 4 ngụy. Trước tình hình tuyệt vọng không còn lối thoát, tên tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam - Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật phải đầu hàng. Vài giờ sau y tự sát, kết liễu một cuộc đời tay sai nhơ nhuốc. Ta làm chủ toàn bộ thành phố Cần Thơ trong đêm ngày 30/4.

    Sau đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đã sử dụng 24 xe M113 vừa lấy của địch cùng một số xe vận tải chở Trung đoàn chủ lực 101 chạy thẳng lên hướng Long Xuyên, nơi giải phóng cuối cùng ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng không phải lực lượng quân đội mạnh đã có thể đơn độc giải quyết được tình hình phức tạp ở khu vực này. Ở đây lại thể hiện thêm sự kết hợp giữa tấn công và nổi dậy, giữa lực lượng quân sự và chính trị của quần chúng. Chính ở đây nói lên sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân, nói lên rõ sức mạnh của chính nghĩa cách mạng.

    Cũng không phải tất cả khu vực này đều được giải phóng muộn. Ngay từ ngày 25/4, huyện Thanh Bình trên bờ đông sông Tiền đã được giải phóng. Tiếp theo đó tất cả bọn địch ở khu vực phía đông sông này đều bị quét sạch, bọn chúng rút về cụm ở Hồng Ngự, nhưng chúng cũng phải đầu hàng trước sức ép của ta vào 8 giờ ngày 01/5.

    Tại thị xã Châu Đốc, tối ngày 30/4, địch ở Tiểu khu được lệnh rút về tử thủ ở vùng “thánh địa Hòa Hảo”. Trước khi rút đi, chúng đã đốt kho bạc và tài liệu hồ sơ, nhưng đồng bào tại chỗ đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu được 11 thùng bạc và các giấy tờ, hồ sơ cần thiết cho cách mạng.

    “Thánh địa Hòa Hảo” là nơi thờ cúng của đạo giáo Hòa Hảo tại làng Hòa Hảo, quê hương của người lập ra đạo giáo này - Huỳnh Phú Sổ. Làng nằm trên sông Vàm Nao, con sông nhỏ nối liền hai sông Tiền và sông Hậu. Từ trước đến nay, bọn ngụy dựa vào một số người xấu trong những người lãnh đạo của đạo này, lợi dụng đồng bào theo đạo để mưu lợi cho chúng, chống lại cách mạng. Trước ngày tận số, chúng lại mưu mô lợi dụng đồng bào Phật giáo Hòa Hảo, định nắm cả triệu tín đồ trong vùng, dựa vào “thánh địa” làm nơi cố thủ lâu dài. Chúng mơ tưởng như vậy vì chúng không hiểu được lòng yêu nước và chống áp bức của đồng bào tín đồ vốn đa số là nông dân lao động. Chúng cũng không hiểu được nguồn gốc của đạo và ý nguyện thực sự của “Thầy” - tức Huỳnh Phú Sổ. Năm 1946-1947, Huỳnh Phú Sổ, con người nho nhã, cổ cao, mặt sáng, đã từng xem tôi như một người bạn, đã tin và nghe theo những lời tôi giải thích về cách mạng và cũng đã tâm tình nhiều lần với tôi trong những dịp gặp gỡ. Lúc ấy, tôi là Tư lệnh Quân khu 8 ở Đồng Tháp Mười trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và ông Huỳnh đã có thời gian ở trong căn cứ với tôi. Ông Huỳnh đã từng tâm sự: “Tôi là một người yêu nước. Tôi không chịu được cảnh Tây chiếm đoạt đất nước mình, đè đầu đè cổ dân mình. Nhưng làm sao để chống lại? Đêm ngày tôi lo nghĩ đắng cay. Phải chi tôi gặp các anh sớm để biết được con đường phải đi”. Ông dừng lại, vừa ngó tôi vừa cười: “Nhưng giờ cũng chưa muộn”, rồi ông tiếp: “Tôi nghĩ ra cách là nhân lúc này dân ta còn mê tín nhiều, tôi lập ra một cái đạo để tập hợp nhân dân, che mắt Tây và bọn mật thám. Khi ta đã có lực lượng đông đảo rồi thì có sức mạnh, lúc đó sẽ hành động, giành lại nước nhà”. Ông lại ngừng một chút có vẻ ngẫm nghĩ rồi nói: “Bây giờ nghe các anh nói có lý, tôi tin. Phải cả nước, phải mấy chục triệu dân Việt Nam ta đồng lòng mới được. Mà lấy nghĩa vụ đối với Tổ quốc, thất phu hữu trách, thì nhân dân ta vốn có lòng yêu nước chắc là đồng hành đánh Tây thôi... Đúng là không nên để cho dân ta cứ mê tín mãi...”. Tiếc rằng sau đó có một thời gian ông xa chúng tôi rồi bị bọn xấu lợi dụng, xuyên tạc, khống chế, cố lôi ông đi xa con đường mà ông đã tìm thấy, rồi ông mất đi, bọn xấu dùng danh nghĩa của ông, lợi dụng tín đồ của ông. Nhưng chính nghĩa khi nào cũng thắng, đó là chân lý.

    Như vậy là bọn tàn quân ngụy từ các nơi đổ về “Thánh địa”, co cụm tại đây với số quân có trên một vạn, bố trí thành trận địa.

    Sau khi ta giải phóng Tân Châu gần biên giới Campuchia thì bộ đội địa phương của tỉnh, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 cùng bộ đội huyện tiến xuống “Thánh địa” theo hai mũi: Bờ đông sông Tiền và bờ đông sông Hậu. Khi Tiểu đoàn 2 tiến đến gần kênh xáng An Long, định vượt sang cù lao Tây thì bị địch bắn ngăn chặn quyết liệt, lại không đủ phương tiện sang sông. Đồng bào đã huy động xuồng ghe cho bộ đội. Mặt khác, đồng bào tự phái một số ông bà già cùng các gia đình binh sĩ đi trước, đâm xuồng thẳng ngay vào trận địa địch, kêu gọi chúng đầu hàng. Trận địa tan rã, địch rút chạy. Bộ đội ta tràn sang an toàn. Cánh Tiểu đoàn 2 cũng xuống đến An Phú, tiêu diệt một số địch và bắt liên lạc giữa hai cánh để tiến đánh vào nơi co cụm chính. Lúc đó đã là 14 giờ ngày 02/5. Đang tổ chức lại đội hình tấn công thì chị Út Nhang - Tỉnh ủy viên phụ trách vận động bà con các tôn giáo, thường xuyên ở vùng này, đến báo: “Địch đang hoang mang. Các anh phải đánh gấp nội trong chiều nay”. Xong, chị đi trước, vận động bà con hưởng ứng kết hợp với bộ đội trấn áp địch và vận động lính ngụy ra hàng. Chị Út Nhang đã gặp và thuyết phục Lương Trọng Tường - một trong những người cầm đầu Phật giáo Hòa Hảo. Tường xin hàng quân giải phóng. Bộ đội ta vào. Trên 1 vạn quân ngụy buông súng đầu hàng. Ta làm chủ toàn bộ khu vực lúc 17 giờ ngày 02/5.

    Thế nhưng chưa hết. Số ngoan cố còn lại trốn về, nhập chung với một bọn tàn quân đông đảo hơn, trang bị mạnh hơn, co cụm tại một ngôi chùa cổ gọi là Tây An cổ tự thuộc quận Chợ Mới, cũng có danh nghĩa là quân đội Phật giáo Hòa Hảo.

    Trước khi giải quyết điểm co cụm này ta đã giải phóng thị xã Long Xuyên, một thành phố đẹp có nhiều kiến trúc mới trên bờ sông Hậu. Ở đây giới giáo chức và học sinh có vai trò nổi bật trong phong trào nổi dậy giành chính quyền.

    Trưa ngày 30/4, đông đảo giáo chức và học sinh chiếm trường học, trừng trị bọn ác ôn đã từng kìm kẹp, bắt bớ anh chị em trong bao năm trước. Sau đó, dựa vào cơ sở đã có sẵn, chiếm Đài truyền tin, chiếm kho bạc và cả trận địa pháo địch. Cờ cách mạng cất giấu từ trước được tung ra, treo các nơi và vận động bà con may thêm nhiều cờ mới. Họ tổ chức ngay lực lượng vũ trang của mình, trang bị bằng một ít súng lấy được của địch. Tuy nhiên, tình hình có những diễn biến phức tạp. Khi nghe Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Dương Văn Minh thì bọn xấu, bọn phản động cơ hội, lợi dụng lúc bộ đội ta chưa đến kịp liền làm cuộc đảo chính nắm chính quyền gọi là “Hòa Hảo cướp chính quyền”. Như vậy là tại thị xã Long Xuyên lúc ấy có hai lực lượng nổi dậy: Nhân dân nổi dậy và bọn phản động mệnh danh “Hòa Hảo nổi dậy”. Bọn này có súng ống đầy đủ, bắt đầu cướp bóc, trả thù. Nhân dân thì vũ trang yếu, chưa tiếp xúc được với bộ đội ta bên ngoài. Nhờ nắm được Đài truyền tin, lực lượng giáo chức, học sinh một mặt kêu gọi Cần Thơ xin viện trợ gấp, mặt khác cử những vị có uy tín lớn ở thị xã lâu nay đến gặp thẳng bọn cầm đầu cướp chính quyền, nói với chúng: “Các ông đừng làm cái việc dại dột như vậy! Các ông chỉ một nhúm người nhất định không đánh lại nổi với quân giải phóng đâu. Các ông chỉ làm cho dân chúng Long Xuyên này tiếp tục đổ máu trong khi mọi nơi, kể cả Sài Gòn, đã yên ổn, vui vẻ rồi. Đất nước sắp yên lành hoàn toàn mà các ông nỡ gây thêm nỗi oán hận nữa hay sao? Xe tăng ở Cần Thơ đã sắp lên tới rồi đó. Dân chúng đã đi đón quân giải phóng hằng hà ngoài đường. Các ông ra mà nhìn một chút để rồi biết nên làm gì lúc này...”.

    - “Họ còn bao xa nữa?”.

    - “Khoảng sáu, bảy cây số thì tới đây thôi”.

    Thế là chúng ra lệnh giải tán. Súng ống vứt bừa bãi, lực lượng tan rã. Số đông lẫn vào trong dân. Một số chạy về nhập bọn ở Tây An cổ tự.

    Long Xuyên được hoàn toàn giải phóng hồi 9 giờ ngày 02/5.

    Còn ở Tây An cổ tự, chúng đã có âm mưu từ trước nếu khi các nơi bị ta đánh chiếm, giải phóng thì chúng liền quy về “Thánh địa” và về đây. Khi “Thánh địa” bị mất nữa thì chúng coi đây là nơi cố thủ cuối cùng. Ước lượng số quân ngụy dồn về đây có đến 14.000 tên có vũ trang đầy đủ. Ngoài ra, có không biết bao nhiêu là tàu chở vũ khí trang bị, lương thực... đậu đầy dưới sông. Khu chùa trở thành quá hẹp không đủ đất, đủ nước để chứa nữa. Chúng vội vã tổ chức “tử thủ”.

    Nhưng Ban Trị sự chùa lúc ấy gồm các cụ cao tuổi, các bậc đạo chính tông, không chấp nhận việc làm sai trái như vậy. Các cụ đã nói: “Cơ hội lập lại hòa bình đã tới rồi. Đây chính là nguyện ước thái bình mà Thầy hồi sinh tiền đã ôm ấp và chỉ giáo cho bổn đạo hằng bốn phương. Cho nên tiếp tục gây cảnh núi xương sông máu là trái với lòng Thầy”. Đồng bào theo đạo Hòa Hảo đã nhất trí với các cụ. Vả lại khi đám tàn quân ô hợp kéo về đây thì bao tai nạn cướp bóc, hiếp đáp, bắn giết đổ lên đầu nhân dân còn tệ hơn những kìm kẹp, đàn áp của ngụy quyền trước kia nữa. Quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của cán bộ cách mạng vùng xung quanh đã đứng dậy phá tề, giải tán phòng vệ dân sự, thu vũ khí, trương cờ cách mạng, treo khẩu hiệu “Chính quyền về tay nhân dân”, vận động bọn chúng bỏ súng về nhà làm ăn, tránh chết chóc. Và tin đang lan rộng rằng lực lượng quân giải phóng từ Sa Đéc, Long Xuyên, từ Cần Thơ đang tiến đến bằng cả hành quân bộ, bằng xe tăng, bằng tàu hải quân... Bọn đầu sỏ hoảng hốt, hoang mang cao độ. Thực tế chúng cũng không còn chỉ huy được cái đám quân đã rã rời, chán chường, không còn một chút tinh thần gì. Thế là mạnh ai nấy tìm đường mà thoát, nhân dân giúp đỡ, chỉ lối cho mà trốn đi. Không mấy chốc cả một đám người hổ lốn ấy tan rã như bọt nước.

    Ngày 06/5/1975, cờ giải phóng đã rực đỏ tòa Tây An cổ tự, phấp phới bay trước gió trong lành khắp cả vùng, mảnh đất cuối cùng của B2, của miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #113 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 11:00:39 am »

*
*      *


    Trong đất liền đã tấn công và nổi dậy, ở hải đảo cũng nổi dậy và tấn công. Hai hòn đảo lớn nhất, quan trọng nhất ở phía nam này là Côn Đảo và Phú Quốc. Mỹ - ngụy ỷ vào lực lượng hải quân và không quân của chúng mạnh, nên xem các đảo này là nơi an toàn nhất của chúng. Chúng đã biến cả hai hòn đảo này thành những trại tù khổng lồ. Hàng vạn chiến sĩ yêu nước đã bị giam cầm, hành hạ, nhiều người đã hy sinh ở đây. Nơi non xanh nước biếc, tài nguyên thiên nhiên phong phú, gió biển trong lành, từ nhiều năm đã trở thành nơi chồng chất uất hận căm thù, chỉ mong có ngày phá tung ngục tù, đạp tan xiềng xích.

    Tại Côn Đảo cũng như tại Phú Quốc, những ngày tháng 3, tháng 4/1975, không thiếu những tin tức phấn khởi dồn dập từ đất liền. Trong các trại tù chính trị, anh chị em đã giấu được máy thu tin nhỏ, thường xuyên theo dõi từng chiến thắng của ta, từng nơi được giải phóng. Rồi chính những bàn luận nhỏ to của bọn sĩ quan và binh lính ngụy gác tù cũng là những nguồn động viên, tin tưởng: “Giải phóng đã chiếm tỉnh Phước Long rồi”, “Tây Nguyên thất thủ rồi”, “tỉnh Lâm Đồng cũng mất rồi”..., “Họ mạnh quá, pháo họ bắn rất xa và rất trúng, một viên đạn phá một tòa nhà...; còn xe tăng họ đi tới đâu càn nát ở đó, xe tăng Mỹ không loại nào chống lại nổi... Nghe nói toàn là vũ khí của Nga..., không khéo thì tàu ngầm họ ra tới đây bây giờ...”.

    Ngày 30/4, ở Côn Đảo, trong trại tù chính trị số 7, một số anh em chụm đầu lại nghe đài phát thanh Hà Nội: ...Sài Gòn đã được giải phóng... Dương Văn Minh -Tổng thống ngụy quyền đã xin đầu hàng vô điều kiện... Tức thì tin loan ra trong toàn trại. Những cuộc hội ý chớp nhoáng, phán đoán, xác minh hư thực, bàn luận phương thức hành động. Bỗng, cửa mở, vài sĩ quan ngụy ló đầu vào khúm núm, hết cả vẻ hách dịch thường ngày, nói: “Các ông đã biết Giải phóng chiếm Sài Gòn chưa? Thôi, các ông còn ở trong đó làm gì nữa?”. Tức thì quyết định dứt khoát, toàn trại tung cửa, ùa cả ra ngoài. Cờ Mặt trận Giải phóng và cờ đỏ sao vàng, bí mật chuẩn bị lâu nay được tung ra, kéo lên cột cờ, treo lên trước trại. Anh em kéo qua trại 1 mở toang cửa trại rồi lần lượt hết trại này đến trại khác. Rừng người bật dậy, rừng cờ tung bay. Toàn đảo bừng lên niềm hân hoan chiến thắng, ánh lên màu tươi sáng thanh bình.

    Côn Đảo được hoàn toàn giải phóng vào khoảng 16 giờ ngày 30/4.

    Ủy ban giải phóng được lập nên để tạm thời quản lý đảo, chờ liên lạc với đất liền.

    Trong lúc đó đoàn tàu bộ đội hải quân của ta được phái ra giải phóng đảo đang tăng tốc trên Biển Đông.

    Đảo Phú Quốc thì gần đất liền hơn, rộng hơn và cũng có đông dân cư sinh sống hơn. Đảng bộ địa phương từ nhiều năm đã xây dựng căn cứ kháng chiến, liên tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch. Tổ chức vũ trang có gần một đại đội, đã tích cực hoạt động phối hợp tấn công địch trong đợt xuân 1975. Ở Dương Đông, ta đã pháo kích và tấn công nhiều đồn bót giặc, đã bức rút 1 đồn và diệt 1 bót canh. Nơi đây giam giữ chủ yếu là số anh em chiến đấu của ta, cán bộ và chiến sĩ sa cơ bị bắt từ khắp các mặt trận. Anh em ta đã nhiều phen đánh trả lại lính ngụy tàn ác, nhiều toán đã vượt ngục ra rừng, tổ chức thành đội vũ trang chiến đấu, liên lạc với địa phương. Đã có số anh em đốn gỗ, đóng thuyền, vượt biển về đất liền, xin được chỉ đạo, được tiếp tế, trang bị. Có lần Bộ Tư lệnh miền Nam đã tổ chức cho một số cán bộ thoát ngục về gặp tại căn cứ, nghe báo cáo rõ tình hình trại giam, đề ra phương châm hoạt động, hỗ trợ tạo phương tiện và cho trở lại đảo chỉ đạo công tác và làm gạch nối liền với cấp trên. Địch thì vẫn coi thường phong trào đấu tranh ở đây, có lẽ chúng cho là nhỏ yếu, cô lập, dễ đàn áp. Vì vậy, chúng vẫn xem đây là nơi an toàn cuối cùng. Ngày 20/4, khi Sài Gòn đã bị uy hiếp mạnh, CIA lập tức di chuyển toàn bộ nhân viên và gia đình, các đài phát thanh bí mật do CIA điều khiển, lấy bí danh “nhà số 7” ra đảo Phú Quốc. Đó là 5 đài phát thanh cả bằng tiếng Khmer và tiếng Việt, trong đó có đài “Tiếng nói gươm thiêng” và “Mẹ hiền Việt Nam” đặt tại nhà số 7 đường Hồng Thập Tự (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh). Vì vậy mà có bí danh là “nhà số 7”. Những đài này rất phản động, chống Cộng, theo nội dung và hình thức của CIA, nhằm lung lạc tinh thần những người Việt Nam yêu nước, là một vũ khí thêm vào những âm mưu thâm độc của Kissinger, nhằm giành toàn thắng, giữ miền Nam Việt Nam mãi mãi là một thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Chính Kissinger đã ra lệnh lập ra các đài này ngay sau khi ký xong Hiệp định Paris. Điều này thêm một lần nữa nói lên sự giả dối khi ký kết Hiệp định hòa bình của Kissinger - Nixon và cũng cho thấy sự phá bỏ Hiệp định Paris của Mỹ - ngụy là tất nhiên.

    Nhưng các đài này và hàng nghìn người vừa di chuyển ra đây đã phải lên tàu Mỹ chạy sang đảo Guam vào cuối tháng 4.

    Trưa 30/4, lực lượng trong trại giam và anh em vũ trang ngoài trại giam kết hợp với địa phương và nhân dân nổi dậy, diệt tháp canh, phá trại, đánh tan quân ngụy, giành chính quyền trên toàn đảo. Chính quyền cách mạng đã quản lý đảo vào khoảng 17 giờ ngày 30/4.

    Sau đó, một số tàu hải quân ngụy, cả bọn phản động trong đạo Hòa Hảo cũng chạy ra đây định co cụm tại đảo. Nhưng đảo đã được ta giải phóng trước rồi nên chúng lại chạy trốn, một số tàu ngụy trở về đầu hàng.

    Như vậy là cả đảo, tách rời với đất liền, cũng đã tự mình tấn công và nổi dậy, tự giải phóng cho mình rất sớm, ngay chiều ngày 30/4/1975.

    Thế là toàn bộ chiến trường B2 đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.

    Quân và dân B2 đã tin tưởng và theo sát sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững truyền thống đấu tranh cách mạng hai chân, ba mũi, tấn công và nổi dậy, từ rừng núi đến đồng bằng, hải đảo, từ nông thôn đến thành thị, ngay cả tại Sài Gòn, thủ đô của ngụy. Quân và dân B2 luôn giữ vẹn nghĩa tình chung thủy, đi trước về sau, luôn đáng tự hào là Thành đồng Tổ quốc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #114 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 11:08:02 am »

CHƯƠNG IX
Vào quân quản thành phố


    Tôi lại gặp bất ngờ.

    Tại Sở Chỉ huy Tiền phương Chiến dịch, ngày 01/5, tôi gấp rút tiến hành một số công việc: Theo dõi cuộc tấn công và nổi dậy đang diễn biến sôi nổi ở đồng bằng sông Cửu Long; hoàn chỉnh tổ chức cánh quân tiến về chi viện; sắp xếp bố trí lại các lực lượng quân sự ở Sài Gòn và miền Đông; tiếp tục chỉ đạo việc xử lý tàn quân còn rải rác từng đơn vị đại đội, có nơi cả tiểu đoàn ở các cánh rừng và miệt bưng xung quanh Sài Gòn...

    Anh Sáu Thọ và anh Bảy Cường đến gặp để phổ biến: “Điện của anh Ba nói Bộ Chính trị quyết định cậu vào làm Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định. Đi ngay thôi cho kịp”.

    Từ đầu tháng 4, theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương Cục, có cả anh Sáu Thọ tham gia, đã dự liệu tất cả rồi: Đã có một kế hoạch công tác tỉ mỉ của Ủy ban quân quản cũng như của Ban tiếp quản các cơ sở các ngành ở thành phố.; đã tổ chức các bộ máy, chỉ định về nhân sự; đã chỉ định Chủ tịch Ủy ban quân quản và Trưởng ban tiếp quản (lúc ấy không phải là tôi). Bộ Chính trị đã thông qua và đã phái nhiều cán bộ từ các ngành Trung ương ở Hà Nội vào tăng cường để đủ sức triển khai công tác với khối lượng hết sức to lớn. Khi các cánh quân từ các hướng đánh vào Sài Gòn thì các bộ máy quân quản cũng như tiếp quản đã tiến sát theo đoàn quân. Nay có lẽ anh em đã bắt tay vào công tác rồi. Như vậy là từ đầu tháng 4, khi đội quân tác chiến và đội quân nổi dậy hoàn chỉnh việc bố trí, thì đội quân quản lý và đội quân tiếp quản thành phố cũng song song được triển khai kịp thời. Kế hoạch tấn công và nổi dậy được vạch ra thì kế hoạch tiếp quản và quân quản cũng được xây dựng. Công việc này chưa được dứt hẳn thì công việc kia đã phải tiến hành rồi. Ta đã quyết tâm giành toàn thắng, ta đã tin chắc thắng nên mọi việc đều được lo toan từ trước.

    Tôi thường không bao giờ nhớ thử đây là lần bất ngờ thứ mấy đối với tôi trong công tác, mà luôn đinh ninh rằng không phải là lần chót. Sẽ còn nhiều bất ngờ nữa, cả những bất ngờ hay cũng như bất ngờ dở. Và đó cũng là sự thật của cuộc sống thôi, là chuyện bình thường khi công việc cần mà ta còn hơi thở và còn làm việc. Ngay khi không còn làm việc được nữa, khi “mắt họa xanh, đầu dễ bạc. Lưng khôn uốn, lộc nên từ”, hoặc lúc sức đã yếu tuổi đã già - đây cũng là chuyện bình thường - thì vẫn còn có những bất ngờ cho đến khi ta đã trở về đất bụi thì mới hết mọi sự việc.

    Đoàn xe Commăngca của chúng tôi rời Sở Chỉ huy, xuyên rừng cao su Dầu Tiếng, vượt sông Sài Gòn tới Bến Củi rồi ra Trảng Bàng theo quốc lộ 1 tiến về Sài Gòn ngang qua Củ Chi, Tân Phú Trung, Hóc Môn, Bà Quẹo. Ôi! Những vườn cây ăn quả, những rặng trúc, bờ tre xanh tốt, những thửa ruộng bìa làng và cả những đám hàng bông kia nữa, sao mà quen thân quá như mới hôm nào mình đã sống nơi đây. Rồi những con người gặp dọc đường đông đảo hay đang ở trước cửa, trong vườn nhà, ai nấy đều một vẻ mặt hân hoan chào đón, một ánh mắt sáng ngời, đều có những nét thân thuộc giống như mình đã có gặp ít nhất một lần. Lòng tôi dạt dào xúc động. Tôi muốn ghé lại thăm từng nhà, ôm hôn thắm thiết từng người mà tôi gặp. Tôi muốn thu vào ánh mắt, in vào tận đáy lòng mọi thứ mà tôi nhìn thấy hôm nay, từ những cánh đồng phì nhiêu rộng rãi, cho đến cả vòm trời cao vút trong xanh. Không cần biết đây là làng gì, ấp gì, phường gì, khóm gì. Anh là họ Nguyễn ư, chị là họ Lê ư, tất cả đều là bà con, làng mạc của ta, tất cả đều là người mình hết! Ba mươi năm rồi, chúng phân cắt, chia ly, gần mà hóa ra xa, thân mà làm như lạ. Giờ đây trời của ta, đất của ta. Tự do và độc lập rồi. Bà con ơi! Các mẹ, các anh, các em, các cháu đã nhận rõ hết chưa?

    Nhớ lại tâm trạng mình lúc đó, tôi thầm khen nhà thơ Xuân Diệu đã viết nên những câu thơ hay trong bài thơ “Tôi muốn đến thăm khắp cả miền Nam”, đây là những câu cuối:

    “...Ôi! Trên đôi cánh huy hoàng của con chim phượng hoàng Chiến thắng.
    Phải chi tôi bắt chước được Khuất Nguyên cưỡi phượng qua đèo.
    Dắt cầu vồng mống cụt cũng bay theo
    Đặng nói nổi hân hoan ngang tầm đất nước.
    Tôi muốn đi thăm mỗi làng, mỗi nhà,
    Mỗi hàng rào bông bụt của miền Nam ta,
    Tôi muốn đến nghiêng đầu chào thương mỗi má
    Cất tiếng đáp “muôn năm” mỗi tiếng gọi của sơn hà
.

    (Trích tập Thơ Việt Nam 1945-1975, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1984, tr.85).

    Vô tình mà đường tôi tiến vào Sài Gòn hôm nay gần như trùng hợp với đường tôi đã từ Sài Gòn ra đi kháng chiến vào tháng 9/1945. Hồi ấy tôi đã ra Gò Vấp, Bà Quẹo rồi quanh quẩn ở Hóc Môn - Bà Điểm, lại lên An Nhơn Tây, Củ Chi, Đức Hòa, Mỹ Hạnh... Đành để sau lưng mình thành phố thân yêu cho bọn Tây, bọn Anh chiếm đóng. Biết làm sao được! Năm ấy chính quyền cách mạng ta còn trong trứng nước. Chúng ta chỉ có trong tay tầm vông vạt nhọn và một số cây súng mút (Mousqueton), súng trường Nhật, giật được của quân thù. Trước khi ra đi, tôi đã cầm gậy tầm vông, hông cài súng lục, tham gia chiến đấu ở mặt trận Cầu Bông, Bà Chiểu dài ra tới Phú Nhuận. Bao thanh niên dũng cảm có thừa, sát cánh với những cụ già đầy nhiệt huyết, nhịp bước theo bài hát mà ai cũng thuộc: “Nào anh em ta, cùng nhau xông pha lên đàng...” 1. Tôi không quên được hình ảnh cụ Phạm Thiều - một giáo sư nổi tiếng của Sài Gòn hồi ấy, cũng đầu đội mũ nan, tay cầm tầm vông vạt nhọn, sát cánh theo đám thanh niên chúng tôi, nhằm quân thù mà tiến. Bao nhiêu đồng chí, đồng bào đã ngã xuống, đã nằm lại vĩnh viễn ở đất Sài Gòn này. Còn chúng tôi, chúng tôi ra đi với hai bàn tay trắng, quý nhất chỉ là tấm lòng. Tấm lòng tin tưởng ở Đảng, tin ở tương lai nhất định sẽ xán lạn. Chúng tôi trìu mến tạm biệt thành phố, lòng nguyện với lòng, ra đi để rồi trở lại, thề trở lại trong một ngày huy hoàng giải phóng thành phố của ta, đồng bào của ta, và ngày ấy nhất định không xa. Sự thật không như mơ ước, xa đến quá mười nghìn ngày rồi còn gì. Nhưng thời gian hết đêm lại ngày, hết mùa mưa qua mùa nắng... còn có thể tính được, song đố ai nhớ được con đường ta đã đi trải dài bao nhiêu cây số. Từ làng này qua ấp nọ, tôi cũng như bao nhiêu đồng chí của tôi đã sống trong đùm bọc thương yêu của đồng bào cô bác vùng ven Sài Gòn, rồi suốt các tỉnh miền Đông, từ bưng lầy đến rừng núi, rồi miền Trung, miền Tây, khắp sông rạch Đồng Tháp Mười. Làm sao mà kể hết được tên xóm tên làng, làm sao mà kể hết được tên các má, các anh, các chị. Các em liên lạc dẫn đường hồi ấy, mới trên mười tuổi đời, ngày nay, nếu còn sống, ắt hẳn đã thành gia thất, có con, có cháu rồi. Nếu có thể kể được tên thì đó là những xóm làng: “Việt Nam” với những gia đình, ở đâu cũng có, “má Năm”, “má Tám”, “bác Hai”, “chú Bảy”, mà “thằng Ba”, “thằng Tư” đã từng xem là gia đình mình. Mỗi sự nghiệp của một con người đều là sự nghiệp của tất cả. Anh có làm được việc gì thì đó là nhờ nhân dân giúp rập mà nên. Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây. Khi về thành chớ bao giờ quên bưng biền rừng núi. Nhờ dân mà anh đã hoàn thành nhiệm vụ, nay làm nhiệm vụ trước hết phải vì dân. Nhờ bạn bè mà anh xây thành sự nghiệp. Nay có sự nghiệp chớ nên quên lãng bạn bè. Đức Việt Nam là tình là nghĩa, là đạo xử thế thủy chung giữa con người với con người. Mắt ta phải trong mà lòng ta phải sáng, đó là quý nhất của một đời người.

    Nhưng đã qua mọi nẻo đường đất nước, cay đắng ngọt bùi đã trải, gian lao nguy hiểm đã từng, ngày nay ta lại trở về. Tôi bất giác lần tay rờ khắp thân mình: à ra mình còn nguyên xương thịt. Bao phen rồi mà bom đạn còn nương nhẹ đối với mình. Có lẽ đừng nghĩ đến nó thì nó tránh mình - đó chỉ là may mắn thôi. Nguyễn Trãi đã chẳng có câu: “Can qua vị tức, hạnh thân tuyền”, trong bài thơ của ông: Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác:

         Mười năm xa cách chốn non nhà,
         Tùng cúc quay về nửa xác xơ.
         Đã hẹn rừng khe đâu phụ ước,
         Cúi đầu đất bụi chỉ thương ta.
         Tưởng đâu thấy mộng, quê vừa gặp,
         Mừng hãy còn thân, loạn chửa qua.
         Dưới núi bao giờ lều sẽ dựng
         Đá kê đầu ngủ, suối pha trà
.
                     (Khương Hữu Dụng dịch)

    Nhưng trong chinh chiến đâu phải ai cũng vẹn toàn. Bao nhiêu đồng chí, anh em bạn bè của tôi đã phải nằm lại ở một mảnh đất nào đó của quê hương. Họ nằm xuống cho chúng tôi ngày nay trở về. Đại diện cho những người ra đi mùa Thu năm ấy, ra mắt đồng bào thưa rằng chúng tôi đã trọn vẹn lời thề. Hỡi những gia đình đã trải qua những mất mát, đã có những người thân ra đi mà không bao giờ quay trở lại, hãy xem chúng tôi đây là con, là cháu, là anh, là em, giờ đây ta cùng nhau xây dựng nên cuộc đời mới mà ta hằng mong ước.

    Tôi còn nhớ như những bức tranh vô cùng đẹp đẽ của những làng mạc Việt Nam mỗi khi có họa xâm lăng. Năm ấy từng tốp, từng đoàn thanh niên, trai, gái, đủ các tầng lớp công nhân, trí thức..., lòng nặng căm thù, chí cao hơn núi, kéo nhau lũ lượt đi, số này thì ra miền Trung - ở đó Tây chưa đến - xin Trung ương cho trang bị, tổ chức bộ đội trở về diệt thù giữ nước. Số khác thì ở lại, tập hợp nhau, cướp súng địch trang bị cho mình, chặn địch ngay ở rìa thành phố. Tôi và em tôi, Việt Châu (tức Sáu Tâm), nhập với đám sau này. Đã có những đêm, tôi cùng chị Năm Bi (tức Thượng tá Hồ Thị Bi, nay đã nghỉ hưu) len lỏi đến vùng Bà Điểm vào căn cứ đóng quân cũ của Nhật, cùng một vài anh em trai tráng, đào các giếng cạn kiếm súng của Nhật để trang bị đánh Tây, vì có tin rằng khi đầu hàng, Nhật đã chôn giấu súng như vậy. Tôi đã họp với Tỉnh ủy tỉnh Gia Định (Tỉnh ủy Giải phóng) ra quyết định tổ chức lực lượng vũ trang, tập hợp những du kích từ các quận Hóc Môn, Đức Hòa, Bà Điểm, lập ra đội “Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa”, lấy căn cứ là làng Mỹ Hạnh. Dân chúng trong vùng yêu mến gọi chúng tôi là “cán bộ của mình” để phân biệt với những bộ đội không chịu đánh giặc mà thường sách nhiễu nhân dân. Từ đó anh em chiến đấu liên tục trong sự bảo bọc của bà con, phát triển lên thành các chi đội 12, 14, 15 rồi Quân khu 7, 8... ngày càng hùng hậu. Rồi tập kết, rồi lại trở về. Và ngày nay, ta trở về với đại bác, xe tăng thay thế cho tầm vông súng mút. Ta trở về áp đảo quân thù, cũng mạnh hơn quân thù trước đây gấp bội, đánh bại tên đế quốc đầu sỏ mạnh hơn cả thực dân Pháp xưa kia.

    Cách mạng như vậy, chính nghĩa là vậy.

    Nắm vững đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của một chiến lược tổng hợp, quan niệm đúng tính chất thời đại, dựa chắc vào sự giúp đỡ vô tư trên tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp vô sản thế giới, ta không những được trang bị một tư tưởng, một tinh thần ưu việt hơn địch, mà còn được trang bị những vũ khí tối tân, những phương tiện hiện đại trong khi đất nước còn lạc hậu, nghèo nàn.

    Nghe theo Bác Hồ, được sự lãnh đạo của Đảng chân chính, với tấm lòng trong sáng, ý chí sắt son, ta có được sức mạnh dời non lấp biển, làm nên được tất cả.

    Ngày ấy tôi ra đi lòng nặng ưu tư, nhìn lại thành phố, nhìn lại đồng bào mà ruột đau quặn thắt. Ngày nay tôi trở về, lòng phơi phới nhìn phố phường đỏ màu cờ chiến thắng, nhìn mọi người mặt rạng rỡ như hoa. Từ Hóc Môn vào đến nội thành, xe chúng tôi chạy cán lên nào áo quần, giầy, vớ của lính bộ binh, lính dù ngụy trút bỏ bừa bãi dọc đường. Trên hai lề đường còn nhiều hơn nữa, nào ba lô, nào nón, nào băng đạn vứt ngổn ngang. Hàng chục vạn tên ngụy đã khiếp đảm rã trốn ở Sài Gòn này, đã bày ra khắp phố phường một cảnh tượng tan nát thảm hại của một đội quân đánh thuê, giết mướn, của một chế độ cõng rắn cắn gà nhà. Tất cả những gì không phù hợp đạo lý, không hợp lòng người, phi chính nghĩa, dù có thời nào đó có vẻ hưng thịnh cũng chỉ là tạm thời, bề ngoài mà thôi. Số phận của nó là như vậy đó.

    Xe chúng tôi lại bon bon trên đường nhựa. Thế nào mà lại lọt ra đường Thống Nhất thênh thang (nay là đường 30/4) thẳng về Dinh Độc Lập. Ở đó các đồng chí đi trước đã đặt trụ sở Ủy ban quân quản thành phố. Gặp tất cả, đủ mặt. Nhưng thôi, trước khi bắt tay vào việc, cho tôi đi nhìn khắp Sài Gòn một lượt, cho đỡ nhớ đỡ thương. Còn gì sung sướng bằng đi giữa thành phố tự do của ta mới vừa giải phóng, nhìn ngắm hết phố này đến phường nọ, nhìn ngắm nhân dân mình hồ hởi, vui tươi và nhân dân cũng nhìn mình với thiện cảm là anh giải phóng mới về, một anh giải phóng mà “tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm”. “Có lẽ anh quê quán đâu đây, đến tìm người nhà thất lạc qua bao thăng trầm của thế sự”. Một số đồng bào đã ái ngại hỏi tôi như vậy. Khác xa với hồi năm 1973, khi tôi là Trưởng đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại trại Đavít ở sân bay Tân Sơn Nhất. Hồi ấy mỗi bước ra phố của tôi phải có quân cảnh ngụy, có vẻ “tiền hô hậu ủng” nhưng là để không cho tự do đi đây đi đó, không cho tiếp xúc với đồng bào. Xe quân cảnh ngụy đi trước rú còi inh ỏi, dẹp người và xe cộ đi đường, qua ngã tư, ngã ba, đèn xanh đèn đỏ, mặc, xe cứ thẳng chạy không dừng lại, ngại đồng bào xúm quanh coi mặt anh giải phóng.

    Trước tiên, tôi đã ra thẳng bờ sông Bến Nghé, qua Cầu Quay đến trước bến Nhà Rồng. Đây rồi, nơi Bác đã ra đi năm xưa, chân Bác bước đi mà mắt lưu luyến nhìn thành phố thân yêu, nhìn quê hương xứ sở mà mấy nghìn năm tổ tiên ra sức đắp bồi. Hẳn lòng Bác xót xa phải xa cách đồng bào còn đang trong cảnh lầm than, xiềng xích. Nuốt hận trong lòng, rèn cao chí khí, Bác đã từ đây ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Đường Bác đã đi, đường Bác đã vạch sẵn, chúng con đã đi theo đường ấy, đã kiên trì và dũng cảm đi mãi theo ánh sáng chân lý của Bác soi rọi, theo tình thương mênh mông của Bác sưởi ấm; ngày nay chúng con đã đi về đích, về giáp với vết chân của Bác, đây rồi!

“... Bác như ánh nắng ban mai
Chiếu soi bãi rậm truông dài con đi...”
.

    Và:

“.. Cho con núi rộng sông dài
Cho con lưỡi kiếm đã mài nghìn năm...”
2

    Nhớ lại lần đầu tiên tôi gặp được Bác, năm 1948 ở Việt Bắc. Từ sau ngày Nam Bộ kháng chiến, ngày 23/9/1945, đó là lần đầu một phái đoàn Nam Bộ có đủ cán bộ quân sự, chính trị, mặt trận do tôi làm Trưởng đoàn, xuất phát từ Đồng Tháp Mười ra Việt Bắc để báo cáo với Bác, với Trung ương Đảng tình hình kháng chiến mọi mặt của chiến trường Nam Bộ. Đường đi phần lớn xuyên qua các vùng địch tạm chiếm. Chúng tôi phải tổ chức thành một đơn vị chiến đấu được trang bị mạnh để sẵn sàng tự bảo vệ và mở đường mà đi khi cần thiết, tuy rằng qua các địa phương đều được sự giúp đỡ, lo lắng rất tận tình. Chúng tôi đã đi bộ suốt dọc dãy Trường Sơn Đông, leo núi trèo đèo, vượt sông vượt suối, có những đoạn vượt biển dài như qua biển Cam Ranh và Nha Trang, suốt sáu tháng trời không nghỉ. Giặc Pháp lúc ấy theo dõi chúng tôi thật sát, chặn đường, phục kích ở vùng núi Phan Rang, ở Dốc Mỏ, Khánh Hòa rồi cuối cùng nhảy dù ở Vân Đình phía tây Hà Nội, mong thình lình bắt gọn cả phái đoàn, nhưng đều thất bại. Bác và Trung ương đã cho đón chúng tôi từ xa. Tới núi rừng Việt Bắc, chúng tôi nóng lòng muốn gặp ngay Bác để thỏa lòng mong ước từ lâu. Khi gặp được Bác, mọi người chúng tôi đều xúc động. Đây là người thầy, người cha, đây là biểu tượng của Tổ quốc, đây là hình ảnh của dân tộc. Người có vầng trán cao, có chòm râu phơ phất, có cặp mắt sáng ngời, một vẻ mặt hiền từ và một dáng người mảnh khảnh, ung dung. Chưa biết đến những tư tưởng vĩ đại, những đức độ cao sâu, chỉ nhìn Người, ta bỗng thấy ngay lòng ta tin yêu vô hạn, kính trọng mà gần gũi muôn phần. Tài Người đã chinh phục thiên hạ, đức Người đã tập hợp nhân tài. Quý biết bao, trong những ngày tháng lịch sử này, Tổ quốc ta, dân tộc ta đã sản sinh ra một con người như vậy để cho triệu người tin theo, triệu người yêu mến. Ngày trở về Nam của phái đoàn, Bác, Trung ương và Chính phủ đã tổ chức một bữa cơm tiễn biệt. Trước mặt mọi người, Bác đã kêu tôi lại, đưa ra một thanh gươm rất đẹp và nói với một giọng ấm áp làm rung động đến tận đáy lòng tôi:

    “Bác trao chú thanh gươm quý này, đưa về cho đồng bào Nam Bộ để diệt thù, chú báo cáo với đồng bào rằng lòng Bác, lòng Đảng lúc nào cũng bên cạnh đồng bào. Chúng ta đồng lòng vì nước, nhất định chúng ta thắng!”.

    Âm vang lời Bác không bao giờ phai trong tôi, trong lòng người dân Nam Bộ.

    Rồi lần trở về Nam đánh Mỹ năm 1963, ngày ấy tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam. Bác kêu đến nhà của Bác ăn cơm trước khi lên đường. Và Bác đã đưa ra cho tôi một hộp thuốc xì gà sản xuất từ Cu Ba xa xôi. Bác bảo: “Bác chỉ có món quà này, đồng chí Fidel gửi biếu Bác, Bác gửi chú đem vào biếu lại cán bộ miền Nam. Khi hút thì nhớ tấm lòng thiết tha của Bác đối với miền Nam và trong đó có cả tấm lòng của Cu Ba anh em. Cố gắng để Bác có dịp vào thăm đồng bào miền Nam”.

    Có bao giờ quên được lời dặn của Cha già. Ngày nay đất nước đã được hoàn toàn giải phóng và Cha già đã nghỉ một giấc nghỉ yên lành. Không là nhà văn, cũng không là nhà thơ, tôi không diễn tả nổi tấm lòng mình. Tôi đành nhờ Thu Bồn nói hộ một phần trong bài thơ Gởi lòng con đến cùng Cha:

“...Cho con là một mũi tên
Xòa năm cánh nhọn giương trên thành đồng
Việt Nam ơi! Giống tiên rồng
Bốn ngàn năm lấy máu hồng làm hoa
Gửi lòng con đến cùng Cha
Chiến công đất nước kết hoa triệu vòng”
.
                    (Trích trong Thơ Việt Nam 1945-1975, Sđd, tr.32).

    Rời Bến Nhà Rồng, tôi đi khắp Sài Gòn rồi lên Chợ Lớn cũ. Đến đường Thuận Kiều, chúng tôi xuống xe, đứng mặc niệm các đồng chí Lê Thị Riêng và Nguyễn Văn Kiểu mà bọn ngụy đã hèn mạt sát hại tại đây vào mùng 2 Tết Mậu Thân năm 1968. Chị Lê Thị Riêng là Thành ủy viên Sài Gòn, Trưởng ban Phụ vận Thành ủy và là Ủy viên Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi biết chị từ những năm kháng chiến chống Pháp ở miền Đông “gian lao mà anh dũng”. Tôi đã gặp lại chị ở rừng căn cứ miền Đông những năm đánh Mỹ. Chị đã tình nguyện vào nội thành vận động tổ chức các chị em để đấu tranh chống địch, bảo vệ quyền lợi phụ nữ. Còn anh Kiểu cũng là Thành ủy viên, Phó ban Công vận thành. Chẳng may giặc bắt được lần lượt từng người và giam cả hai ở khám Chí Hòa. Trong đợt 1 Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, ngụy đưa chị Riêng và anh Kiểu lên xe từ khám ra đây rồi dùng súng sát hại. Không thể hiểu được hành vi hèn hạ đến như vậy đối với những người đấu tranh chính trị đã sa cơ bị bắt giam, trong tay không có 1 tấc sắt. Chúng còn lắm những hành vi man rợ khác như tướng ngụy Nguyễn Ngọc Loan bắn tù binh đã bị trói tay ngay trên đường phố Sài Gòn. Lính ngụy đã chặt người chúng bắt được ra làm nhiều mảnh, mình riêng, đầu riêng rồi xách đi như giết súc vật. Ta không nói đến bọn ngụy Việt gian không còn tính người làm gì mà chỉ hỏi người Mỹ, thầy và cha đẻ của chúng, đã lớn tiếng nói về nhân quyền, hành vi ấy gọi là gì? Ngày nay ta là những người chiến thắng, ta xử sự thế nào với hàng triệu tướng tá và lính ngụy mà trong số đó nhiều người có thể xem là tội phạm chiến tranh. Không có trả thù, không có tắm máu như chúng rêu rao. Ai là văn minh? Và ai biết quý trọng con người?

    Tôi đã đến đường Minh Phụng và khu vực xung quanh. Đây là bãi chiến trường ác liệt trong đợt 2 Tết Mậu Thân, khi mà hàng trung đoàn ta đã vào và chiếm được những nơi đây. Chúng đã dùng trực thăng vũ trang kết hợp thiết giáp và pháo binh điên cuồng phản kích. Đồng chí Hai Hoàng đã hy sinh ở đây. Đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn “Gironde” đã chỉ huy thắng lợi trận Ấp Bắc nổi tiếng đầu năm 1963, lần đầu tiên chống lại có hiệu quả chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của địch. Năm Mậu Thân, đồng chí là Chỉ huy trưởng cánh quân của tỉnh Long An, đánh vào đây và đã hy sinh anh dũng ngay tại khu vực này. Ở đây nữa, tại đường Minh Phụng, đồng chí Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) một nhà văn có tài, một chiến sĩ dũng cảm cũng đã đền nợ nước trong đợt 2 Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968. Đồng chí Nguyễn Thi đã có mặt từ những ngày kháng chiến chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ và từ lúc ấy, vừa cầm súng giết giặc vừa cho ra những truyện ngắn đầu tay của mình mà chiến sĩ ai cũng thích. Rồi trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí luôn xung phong ra mặt trận, hòa nhịp sống và sáng tác của mình với nhịp sống của anh chiến sĩ giải phóng, nhịp sống của chiến trường khói lửa. Phải chăng đồng chí là tiêu biểu cho phẩm chất và tâm hồn của những nhà văn Việt Nam trong những năm chiến tranh oanh liệt của dân tộc.

    Đi khắp các đường phố Sài Gòn - Gia Định, hầu như nơi nào cũng ghi dấu những chiến công oanh liệt của những chiến sĩ đặc công, biệt động, của những thanh niên vũ trang, nam cũng như nữ. Không phải chỉ có những trận đánh nổi tiếng vào Dinh Tổng thống ngụy, vào Sứ quán Mỹ, tại cầu Chữ Y... hồi Tết Mậu Thân, mà trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, ở vào thời điểm nào cũng có những trận thắng vang dội ngay tại Sài Gòn này. Cũng không phải chỉ có những chiến sĩ vũ trang mà còn rất nhiều người dân yêu nước, thuộc các tầng lớp xã hội, những cán bộ chính trị, những chiến sĩ văn hóa đã từng đấu tranh bằng mọi cách giữa thành phố Sài Gòn - Gia Định này chống quân cướp nước và bán nước. Làm sao nói hết được những chiến công muôn màu muôn sắc, làm sao biết hết được những chiến sĩ vô danh đã hy sinh thân mình trên mảnh đất yêu thương này cho ngày toàn thắng hôm nay.

    Đó chính là những con người đã làm nên lịch sử. Xương máu của họ đã chất chồng lên cho cái dải đất, núi, sông hình chữ S nằm bên bờ Tây Thái Bình Dương này ngày càng cao, càng vững, đã viết nên những trang lịch sử hào hùng chói lọi Việt Nam. Hãy biết ơn họ mãi mãi hỡi con cháu nghìn đời sau này, khi ta đã có thể đứng thẳng người, ngẩng cao đầu nhìn mặt trời tỏa sáng trên cảnh huy hoàng của đất nước. Hãy biết ơn cả những người cha, người mẹ đã đóng góp những dòng máu của con em mình cho mùa Xuân đại thắng hôm nay. Đừng bao giờ lãng quên quá khứ để có thể xây đắp cho một tương lai rực rỡ, vững vàng. Vì không có quá khứ thì làm gì có hiện tại và tương lai.





-----------------------------------------------------------------
1. Bài hát “Lên đàng” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin văn hóa - Văn hóa Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

2. Trích trong bài thơ “Gởi lòng con đến cùng Cha” của nhà thơ Thu Bồn, in trong Thơ Việt Nam 1945-1975, Sđd, tr.30-31.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #115 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 01:59:14 pm »

*
*      *


    Trở về Dinh Độc Lập, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, tôi cho tuyên bố thả tất cả những nhân vật trọng yếu của ngụy quyền mà từ hôm giải phóng Sài Gòn, bộ đội ta đã giam giữ họ tại một phòng ở đây. Tôi chỉ gặp những người đứng đầu: Dương Văn Minh - Tổng thống, Nguyễn Văn Huyền - Phó Tổng thống và Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng ngụy quyền. Tôi đã giải thích cho họ chính sách của cách mạng là quang minh, chính đại, độ lượng, khoan hồng, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Tôi đã nhấn mạnh: Tất cả những việc làm đã qua chúng tôi xếp nó vào quá khứ, chúng tôi căn cứ vào thái độ và hành động từ ngày nay trở đi. Tôi mong họ quan niệm được sự thắng lợi vĩ đại của dân tộc vừa rồi mà tự hào rằng mình cũng là người Việt Nam.

    Có vẻ họ tỏ ra xúc động. Dương Văn Minh đã phát biểu: “... Tôi vui mừng được là công dân của một nước Việt Nam độc lập...”. Còn Nguyễn Văn Huyền thì nói: “Là một công dân Việt Nam, tôi có thể tự hào về sự thành công và chiến thắng vinh quang của dân tộc. Tuy nhiên, nếu nhìn lại thời gian qua, tôi xét thấy có tội...”. Vũ Văn Mẫu cũng tỏ ra tỉnh ngộ: “30/4/1975 ngày thành công của cách mạng, cũng là ngày làm cho tôi thoát khỏi sự ngộ nhận. Chúng tôi sung sướng và kiêu hãnh làm công dân một nước Việt Nam độc lập và thống nhất”.

    Chúng tôi tin ở lời nói danh dự của họ. Còn họ thành thật đến mức độ nào thì đó lại là đạo đức của một con người. Chính sách của cách mạng đã đề ra là thi hành.

    Cũng thể theo đường lối nhân nghĩa của Đảng, truyền thống xử sự của ông cha ta mà Nguyễn Trãi đã viết: “Thể lòng trời bất sát, ta mở đường hiếu sinh”, và Bác Hồ với lòng nhân ái vô biên đã nói về những người lầm đường lạc lối: “Trong anh em đó, dù thế nào, lòng thương nước cũng không tắt hẳn, còn âm ỉ như cục than hồng, phải giúp anh em nhen lên cho thành lửa ngọn”, Ủy ban quân quản đã thông báo và tổ chức đăng ký trình diện cho tất cả các tướng tá, sĩ quan, binh lính cũng như nhân viên các cấp ngụy quyền và tổ chức cho họ học tập về đường lối của cách mạng, về thái độ đối với Tổ quốc và dân tộc, về quan niệm đối với độc lập và tự do. Tất cả những việc ấy nhằm biến những người sai lầm, có tội với dân với nước thành những người công dân lành mạnh, góp phần thực hiện đại đoàn kết dân tộc và xây dựng nước nhà.

    Chúng ta đã đổ máu nhiều rồi để có được ngày vinh quang hôm nay, chúng ta không muốn phung phí thêm chút máu Việt Nam nào nữa. Chúng ta là một dân tộc anh hùng và cũng là một dân tộc văn minh. Chúng ta biết quý trọng nhân phẩm của con người. Chúng ta mong làm tất cả những gì có thể được để người với người đều là bạn, xã hội toàn là những người tốt. Khác xa với những kẻ suy bụng ta ra bụng người, tưởng rằng thế nào cũng sẽ có “tắm máu” trả thù ghê gớm. Khác xa với Mỹ - ngụy trước đây khi những người của đối phương lọt vào tay họ, thì họ hành hạ dã man, tra tấn nhục hình khó mà tưởng tượng được. Họ đã coi con người như con vật, tha hồ bắn giết, họ cố biến thành tàn tật cả thể chất và tâm hồn người bị họ bắt. Một lần nữa ta có quyền đặt lên câu hỏi: Ai là người văn minh? Ai biết quý trọng con người?

    Ngày 07/5/1975, Ủy ban quân quản làm lễ ra mắt nhân dân thành phố Sài Gòn - Gia Định. Suốt đêm 06 rạng ngày 07/5, toàn thành phố rạo rực, cả Sài Gòn sống một đêm không ngủ. Từng người, từng nhà chuẩn bị, từng đoàn thể, từng quận chuẩn bị, ai nấy náo nức mong chờ một ngày mai tràn ngập nắng hồng. Đất trời có những phút giây đã cùng lòng người ghi đậm dấu vết thời đại. 117 năm rồi non sông ta mới có hôm nay, 400 năm rồi, thành phố trên dòng sông Bến Nghé này mới có những giờ phút lớn lao như vậy. Dầu là quân quản ban đầu, đây là chính quyền cách mạng mà xương máu của đồng bào cả nước và của đồng bào Sài Gòn xây dựng lên. Đây là quân đội của mình, là chính quyền của mình, của dân, vì dân. Từ sáng tinh mơ, từng dòng người khắp các quận, huyện nội ngoại thành với băng rôn, cờ, khẩu hiệu hoan hô chiến thắng của cách mạng, hoan hô Ủy ban quân quản, kéo về đầy sân “Dinh Độc lập”. Đây thật sự là một ngày hội lớn, ngày hội mừng chiến thắng trọn vẹn đã phải chờ trên một thế kỷ. Niềm vui tự hào của cả một dân tộc, niềm sung sướng hân hoan của những người đã thực sự làm chủ đất nước đẹp đẽ của mình, dâng tràn khắp các phố phường. Trước sân Dinh Độc lập, nơi xưa kia từng bầy quân cảnh, cảnh sát ngụy xua đuổi đồng bào ra xa vòng nghiêm cấm thì ngày nay nô nức từng đoàn người tiến vào, trật tự nghiêm trang. Các cụ già da mồi, tóc bạc, từng sống qua những thời kỳ đen tối bị bọn thực dân áp bức, hôm nay cũng tựa vào tay con cháu, đến đây để tận mắt nhìn quang cảnh biểu hiện cái quý giá nhất, thiêng liêng nhất: Tự do độc lập của đất nước, của người dân. Các em bé nữa, thỏa thuê, thích thú vì không còn gì hăm dọa cuộc vui và sự sống của các em. Nhưng tầng lớp đông đảo nhất, ý thức đầy đủ nhất niềm kiêu hãnh của chiến thắng vĩ đại hôm nay, ý thức đầy đủ nhất về một tương lai huy hoàng là tầng lớp thanh niên nam, nữ. Họ mặc những quần áo đẹp nhất, cầm những cành hoa tươi thắm, từng đoàn, từng đoàn sát cánh nhau đi vào sân lễ, như sẵn sàng nối bước cha anh để viết tiếp những trang sử không kém oai hùng trong xây dựng và bảo vệ đất nước.

    Thay mặt Ủy ban quân quản tôi đã đọc diễn văn ra mắt, kêu gọi mọi người dân, mọi tầng lớp tham gia bằng mọi cách giữ gìn trật tự và xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tôi đã nhấn mạnh:

    “...Non sông Việt Nam từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau lần đầu tiên từ trên một thế kỷ nay sạch hết bóng thù hắc ám của quân xâm lược nước ngoài...

    Cả nước đã giành được độc lập trọn vẹn và tự do thật sự...

    Dân tộc ta từ đây nhất định trường tồn và phát triển...

    Không một thế lực phản động nào có thể ngăn cản bước đường của dân tộc ta đi lên, tiến tới, tạo lập cho mình cuộc sống ấm no, hạnh phúc muôn đời...

    Chỉ có đế quốc Mỹ là kẻ chiến bại...

    Toàn thể dân tộc Việt Nam là người chiến thắng...

    Bất cứ ai còn mang dòng máu Việt Nam đều có quyền tự hào về chiến thắng chung của cả dân tộc...

    Mỗi người Việt Nam biết nghĩ đến dân, đến nước không thể không mừng vui sâu sắc trước tiền đồ rộng mở của quê hương đất nước...
    Con cháu chúng ta, con em của mọi tầng lớp trong xã hội mới cũng đều được lớn lên mãi mãi từ đây trong tinh thần tự hào dân tộc, sống ngẩng cao đầu, được vui, được học, được làm việc trong một thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nước nhà...

    Chúng ta không hổ thẹn với ngàn năm tổ tiên về trước...

    Chúng ta đã không phụ lòng tin yêu trìu mến của anh em, bè bạn ta trên thế giới...

    Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử này là thắng lợi của truyền thống dân tộc anh hùng được đào luyện qua bốn nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó được cách mạng hết lòng gìn giữ và không ngừng phát huy cao độ...

    Thắng lợi có ý nghĩa thời đại này là thắng lợi của đường lối cách mạng duy nhất đúng và sự chỉ đạo cách mạng hoàn toàn chính xác đã đưa cách mạng nước ta đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, đi đến toàn thắng, đi đến tương lai huy hoàng...

    Trong giờ phút thiêng liêng này, lòng tất cả chúng ta hướng về anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người...

    Vinh quang hôm nay trước hết thuộc về đồng bào cả nước đã 30 năm trường hy sinh phấn đấu, vì nghĩa lớn của dân tộc, bom đạn chẳng sờn, tù đày không sợ...

    Vinh quang thuộc về các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, trung hiếu vẹn toàn, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng...

    Nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình...

    Cách mạng là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là giải phóng khả năng sáng tạo vô tận của quần chúng...

    Ai cũng hiểu, sau 30 năm chiến tranh liên tục, buổi đầu tiên của hòa bình lập lại, tránh sao khỏi nhiều khó khăn trong đời sống và trong công việc. Tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ còn di hại nhiều năm trong đời sống của dân tộc ta. Bọn Việt gian tay sai đầu sỏ của đế quốc Mỹ, vì quyền lợi ích kỷ đê hèn của chúng, cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi mặt hậu quả nghiêm trọng lâu dài do chính sách thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ gây ra trên đất nước này...

    Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi hãy cũng nhau đồng tâm hiệp lực xây dựng lại quê hương, mau chóng băng bó lại những vết thương chiến tranh, giải quyết mọi hậu quả nghiêm trọng do tội ác chồng chất của đế quốc Mỹ và tay sai gây ra, khiến người dân nào, gia đình nào cũng phải chịu phần đau khổ...

    ... Hiện tại dù khó khăn đến đâu cũng không khó bằng đánh Mỹ và thắng Mỹ.

    Dân tộc ta từng chiến thắng đế quốc Mỹ, nhất định có đủ tinh thần, trí tuệ và khả năng giải quyết mọi vấn đề, khôi phục mau chóng và phát triển vững chắc đời sống của đất nước...

    Có độc lập, có hòa bình, người dân có ý thức làm chủ là có tất cả...”.


*
*     *


    Rõ ràng chúng ta đã biết có nhiều khó khăn ngay cả trong những ngày vang lừng chiến thắng. Chúng ta còn biết cả những vấp váp không tránh khỏi trong những bước đi ban đầu, thời nào cũng vậy. Đảng đã dạy: Được hòa bình ta vẫn phòng ngừa chiến tranh. Có thắng lớn ta không kiêu căng tự mãn. Nguyễn Trãi cũng đã viết: “Phải coi chừng mối họa loạn, có khi do yên ổn mà nên. Phải đón ngăn ý kiêu xa, có khi do sung sướng mà đến” (Nguyễn Trãi: Lam Sơn thực lục). Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là bắt nguồn từ những ngày gian khổ của những năm 1945... 1957... 1959..., mà biết bao những vấp váp sai lầm trong từng chặng đường đi lên đã làm cho ta dày thêm kinh nghiệm. Không có những cây tầm vông vạt nhọn thì khó có những đại bác, xe tăng.

Ví không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân
.
                                    (Trích trong bài thơ Tự khuyên mình của Bác)

    Ta quyết tâm tạo ra ngày Xuân đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của ấm no hạnh phúc thì có ngại gì mà không vượt qua những khó khăn vấp váp trong những năm tháng ban đầu. Ý chí Việt Nam là như vậy.

                                                                         
Mùa Xuân năm 1982
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #116 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 02:05:50 pm »

NHỮNG TRANG BẢN THẢO DỞ DANG



  Lúc Thượng tướng Trần Văn Trà còn sống, khi thực hiện viết hồi ký về chiến trường B2, lúc đầu theo kế hoạch sẽ gồm 5 tập, và đã công bố được 2 tập, đó là: Tập 5: “KẾT THÚC CUỘC CHIẾN TRANH 30 NĂM”, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1982.

  Tập 1: “HÒA BÌNH HAY CHIẾN TRANH”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 1992.

  Đông đảo cán bộ, nhân dân, bạn đọc đã viết thư, điện và trực tiếp gặp Thượng tướng mong mỏi được đọc tiếp 3 tập còn lại.

  Tâm tư, nguyện vọng của Thượng tướng ngày đêm mong muốn là hoàn thành hồi ký để ghi lại đầy đủ những sự kiện lịch sử, những bước thăng trầm của chiến trường, sự chỉ đạo của Trung ương cùng sự nỗ lực của quân và dân ta, những tấm gương chiến đấu hào hùng, hy sinh oanh liệt của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân B2. Đặc biệt, 3 tập còn lại ghi lại giai đoạn từ năm 1965 là lúc Thượng tướng trực tiếp chỉ huy chiến trường, cùng sống, chiến đấu với cán bộ, chiến sĩ, nhân dân B2 từ muôn vàn khó khăn cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

  Tuy nhiên, lúc đó ở cương vị Phó Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, Thượng tướng không thể dứt ra khỏi công việc của Hội.

  Đến đầu năm 1996, được sự nhất trí của Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Thượng tướng mới có thời gian tập trung triển khai 3 tập còn lại. Tháng 4/1996, những buổi làm việc với bộ phận giúp việc càng thêm khẩn trương. Không may, khi công việc đang trên đà tiến triển, Thượng tướng đã vĩnh viễn ra đi, để lại phác thảo còn bỏ dở.

  Những phác thảo dở dang là đoạn băng ghi âm các buổi làm việc, những trang viết tay dạng đề cương, những trang đánh máy... chủ yếu tập trung ở Tập 2.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #117 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 02:12:54 pm »

PHỤC VỤ THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ VIẾT HỒI KÝ



   Trong suốt gần 20 năm (từ năm 1977 đến năm 1996), bên cạnh công tác chuyên môn tại Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7 và Báo Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, tôi còn có vinh dự được phục vụ Thượng tướng Trần Văn Trà viết hồi ký. Những ngày làm việc với ông đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm và cũng lắm suy tư về nhân tình thế thái: Kính phục và học tập nhân cách của một con người dù gặp biết bao chông gai nhưng vẫn lạc quan, kiên định con đường cách mạng của mình đi theo Đảng, theo Bác Hồ.

   Cuối năm 1977, Tổng cục Chính trị yêu cầu Thượng tướng Trần Văn Trà viết hồi ký về chiến trường B2. Do vậy, tôi và nhà văn Võ Trần Nhã được điều từ Cục Chính trị Quân khu 7 về Ban Tổng kết chiến tranh B2, thực hiện sưu tập tư liệu, khai thác nhân chứng lịch sử, những tấm gương đồng bào, chiến sĩ từng chiến đấu trên chiến trường B2 để ông trực tiếp viết cuốn hồi ký. Anh Hồ Quý Ba phục vụ ông một thời gian ngắn thì nghỉ hưu, tôi gặp đồng chí Hiệp đang là Chính ủy một trung đoàn pháo binh ở Campuchia về Quân khu bộ. Biết khả năng viết lách của Hiệp trước đó, tôi rủ Hiệp về công tác chung. Hiệp đồng ý vì được phục vụ một vị tướng tài ba và bao nhiêu năm xa nhà nay cũng muốn được gần gia đình. Vậy là bộ phận phục vụ viết hồi ký có 3 người. Nhưng đáng tiếc là Hiệp mất sớm, chỉ còn tôi và Nhã.

   Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi được tiếp xúc chỉ huy Trần Văn Trà một lần ở gần núi Bà Đen khi tôi chỉ huy đoàn học viên tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn từ miền Đông Nam Bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long. Lúc đó, ông là Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân liên khu miền Đông đi thị sát chiến trường đồng bằng sông Cửu Long trở về. Ông cho liên lạc kêu tôi đến gặp. Tôi lo quá. Ông chỉ căn dặn phải cẩn thận, cho trinh sát đi trước vì màu quần áo chúng tôi giống bọn commandos (biệt kích), dễ bị bắn lầm.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tôi thường được phân công đi giao ban ở Bộ Chỉ huy Miền nên gần như được gặp ông hằng ngày, nhưng tôi là cán bộ chính trị nên không tiếp xúc riêng mà chỉ được nghe ông chỉ đạo hoạt động của các chiến trường ở B2... Trong chiến tranh thấy ông rất nghiêm trong việc chỉ đạo ở Bộ Chỉ huy Miền, có lúc thái độ gay gắt đối với chỉ huy đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, nên lúc đầu tôi cũng ngại.

    Sau giải phóng, từ năm 1977 cho đến năm 1996 khi ông mất, tôi được làm việc, gắn bó mật thiết, gần gũi nhiều hơn nên càng mến phục phong cách làm việc, cách đối nhân xử thế của ông. Với bộ quần áo bà ba khi còn ở trong rừng đã cũ, ông cầm bình rót nước cho anh em đến làm việc. Nhiều lần chuông ngoài cửa reo vì có người muốn đến gặp ông. Sợ mất thì giờ làm việc, tôi đề nghị ra nói ông đi vắng. Nhưng ông nói: Cán bộ, chiến sĩ có nhiều tâm tư, bức xúc muốn giãi bày để ông giúp giải quyết, không nên từ chối, cứ để anh em vào.

    Trên cơ sở những tư liệu và vốn sống có được trong những năm tháng được đi giao ban ở Bộ Chỉ huy Miền, kết hợp khai thác nhân chứng lịch sử, tôi phác thảo bố cục, nội dung chính của cuốn hồi ký, nhất là những diễn biến quan trọng ở chiến trường. Trong những buổi làm việc, ông kể lại khá chi tiết sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, Trung ương Cục; sự thực hiện của Quân ủy, Bộ Chỉ huy chiến trường B2. Ông nói: Nếu thi hành một cách máy móc khi tình hình đã thay đổi là không đúng sự chỉ đạo của trên, vì chỉ thị của trên căn cứ báo cáo, nhưng khi đến chiến trường tình hình đã có chuyển biến, cần chấp hành sáng tạo, đúng ý đồ của trên.

    Có mấy sự kiện ông kể mà tôi nhớ rất sâu và rất tâm đắc. Từ Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) ra Hà Nội, rồi trở về B2, ông tiếp tục chỉ đạo chiến trường. Trước tình hình quân ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm, huy động không quân đánh phá vùng giải phóng của ta, một số địa phương, đơn vị “chao đảo”, ông chỉ thị cơ quan tham mưu điện cho các địa phương, đơn vị cương quyết đánh trả quân ngụy vi phạm Hiệp định. Cục Chính trị đưa tin công khai trên báo đài: Lệnh của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam: “Đánh trả quân địch ngay từ nơi chúng xuất phát gây tội ác”. Cũng trong buổi giao ban ở Bộ Chỉ huy Miền, khi nghe phái đoàn ta ở Tân Sơn Nhất báo cáo phái đoàn chính quyền Sài Gòn đề nghị chia miền Nam thành hai vùng, vùng ta và vùng địch (ta ở trên núi, ngụy ở đồng bằng và đô thị), ông liền chỉ thị Cục Tham mưu điện ngay vào cho phái đoàn ta ở Tân Sơn Nhất và đề nghị Trung ương không chấp thuận chia ra làm hai vùng mà vẫn giữ ba vùng (vùng địch tạm chiếm, vùng giải phóng của ta và vùng tranh chấp), từ đồn bót, vị trí địch trở ra là vùng kiểm soát của ta. Thực tế chiến trường miền Nam từ năm 1973 đến ngày 30/4/1975 đã diễn ra đúng như nhận định và kiến nghị của ông.

    Trong Hội nghị Trung ương mở rộng, ông được điện từ B2 báo cáo, Bộ Tổng Tham mưu không chấp thuận kế hoạch của Bộ Chỉ huy Miền (khi ông còn ở miền Nam) đề nghị cho B2 dùng pháo 130 ly và xe tăng tấn công đánh chiếm chi khu Đồng Xoài. Ông đã cùng đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục đến gặp Tổng Bí thư Lê Duẩn đề nghị và được chấp thuận kế hoạch của B2, ông đã điện về Bộ Chỉ huy Miền và Bộ Chỉ huy chiến dịch tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh chiếm chi khu Đồng Xoài.

    Tiếp đó, tại Hội nghị khi được tin ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, Mỹ và ngụy đều không có phản ứng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Có cho Mỹ ăn kẹo cũng không còn dám đưa quân vào”. Viết đến đây, Thượng tướng Trần Văn Trà hỏi tôi: Có nên đưa câu nói của Thủ tướng vào cuốn hồi ký không. Tôi nghĩ nên đưa vào, vì đây là nhận định có tầm chiến lược.

    Còn nhớ, trong buổi trao đổi đầu tiên để chuẩn bị đề cương bắt tay triển khai thực hiện cuốn hồi ký, tôi đề nghị ông là chủ thể như hồi ký của tướng Liên Xô Giucốp. Ông nói ngay: “Tôi chỉ là nhân chứng ghi lại diễn biến của lịch sử, kể lại những tấm gương chiến đấu, hy sinh của đồng bào, chiến sĩ, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của B2 đóng góp về chiến lược, nghệ thuật, chỉ đạo, chỉ huy cuộc chiến tranh”. Cho nên trong hồi ký của ông, chúng tôi đã sưu tập và đưa rất nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh của đồng bào.

    Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà chính ngay trang bìa cuốn hồi ký ông đã viết: “Mỗi sự nghiệp của một con người là sự nghiệp của tất cả. Anh có làm được việc gì thì đó là nhờ nhân dân giúp rập mà nên. Ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Khi về thành chớ bao giờ quên bưng biền rừng núi. Nhờ dân mà anh đã hoàn thành nhiệm vụ, nay làm nhiệm vụ trước hết phải vì dân..”.

    Tôi và Nhã thu thập tư liệu về trận đánh cầu Rạch Chiếc, khi báo cáo với ông về các đơn vị biệt động, đặc công phải 3 lần tấn công quyết liệt, 52 cán bộ, chiến sĩ hy sinh mới chiếm giữ được cầu Rạch Chiếc bảo đảm cho các binh đoàn chủ lực phía đông vượt cầu, tiến công vào trung tâm Sài Gòn. Ông rất xúc động ghi toàn bộ diễn biến trận đánh vào nội dung hồi ký. Ông cùng các ông Tô Ký, Trần Hải Phụng làm văn bản kiến nghị và được Ban Thường vụ Thành ủy chấp thuận, chỉ đạo các ban ngành thực hiện xây tượng đài ở cầu Rạch Chiếc, biểu tượng công lao, sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

    Cũng qua thu thập tư liệu và nhân chứng, trong hồi ký ông đã nêu nhiều tấm gương chiến đấu của quân dân B2. Tiêu biểu như trường hợp má Lánh ở Củ Chi -một đảng viên lão thành, đã may và phất cờ phối hợp du kích chiếm trụ sở chính quyền ngụy và chi khu quân sự khi quân ta tấn công vào Sài Gòn.

    Ông nhắc tôi, trong tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngoài 5 binh đoàn chủ lực ở 5 hướng tấn công, ít nói đến cánh Nam, gồm hai trung đoàn của Quân khu 8 do Phó Chính ủy Quân khu (Thiếu tướng Võ Văn Thạnh) chỉ huy. Ông bảo tôi đến Quận 10 gặp anh Trần Hàm Ninh, vốn là trợ lý tác chiến cánh này. Trần Hàm Ninh đã ghi nhật ký chiến đấu cánh Nam từ ngày xuất phát đến 10 giờ 30 phút ngày 30/4 đánh chiếm Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia ngụy tại trung tâm Sài Gòn. Ông đã đưa toàn văn nhật ký chiến đấu của Trần Hàm Ninh vào nội dung hồi ký.

    Năm 1978, tôi và Võ Trần Nhã được tháp tùng ông đi thị sát các tỉnh Trung Bộ và Tây Nguyên bằng trực thăng. Đến Đà Nẵng, cấp ủy, chính quyền bố trí đoàn xe đưa ông về thăm quê tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi thắp nhang nhà thờ họ, ông rảo bước khắp làng quê. Gặp Bí thư Đảng ủy xã, ông gợi ý đảng ủy, chính quyền vận động bà con dời mấy ngàn ngôi mộ ở vùng đất cao, đưa dân ở vùng trũng về xây nhà, trường học, tạo môi trường sống tốt hơn. Những năm sau, tôi có dịp ghé lại Tịnh Long, rất phấn khởi khi thấy địa phương đã thực hiện gợi ý của ông, làm đường sá, xây nhà nơi khô ráo, trường học khang trang mang tên Trần Văn Trà.

    Ngoài việc chỉ đạo hoạt động của Hội Cựu chiến binh Thành phố, ông tranh thủ về nhà làm việc với chúng tôi về nội dung hồi ký. Về cơ sở, thấy nhà cửa của nhiều cựu chiến binh dột nát, ông căn dặn gia đình tạo điều kiện giúp đỡ. Sau khi ông qua đời, gia đình đã xây dựng được 300 căn nhà tình nghĩa cho các cựu chiến binh khó khăn.

    Có nhiều người lầm tưởng tôi và Võ Trần Nhã viết Tập 5 hồi ký Những chặng đường lịch sử của B2 Thành đồng - Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm cho Thượng tướng Trần Văn Trà. Thực tế đúng như ông đã viết trong Lời nói đầu của Tập 5, phát hành năm 1982: “Đặc biệt Thượng tá Nguyễn Viết Tá và Đại úy Võ Trần Nhã đã bỏ nhiều công sức sưu tầm tư liệu, liên hệ các địa phương, đóng góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này”. Thượng tướng Trần Văn Trà là tác giả trực tiếp viết cuốn hồi ký.

    Tập 5 cuốn hồi ký do Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phát hành bị “trục trặc”, có một vài vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp phê phán, có ý kiến trái chiều (xin không nói tên), có chỉ thị thu hồi, nhưng đông đảo cựu chiến binh, cán bộ vẫn tìm mua hết. Một thời gian sau Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tái bản Tập 5 và Tập 1, đồng thời đề nghị Thượng tướng Trần Văn Trà tổ chức biên tập tiếp các tập 2, 3, 4.

    Do vậy, mãi đến cuối năm 1995, đầu năm 1996, kế hoạch triển khai thực hiện biên soạn hồi ký được Thượng tướng tái khởi động. Lúc này, bộ phận giúp việc khá “hùng hậu”, quy tụ các cán bộ quân đội, nhà sử học, nhà báo, nhà văn... cả già lẫn trẻ gần chục người (Nguyễn Viết Tá, Nguyễn Ngọc Lân, Võ Trần Nhã, Trần Phấn Chấn, Trương Nguyên Tuệ, Hồ Sơn Đài, Hồ Sĩ Thành, Trần Tuấn Anh, Phan Gia Hoài...). Ai cũng cảm thấy hào hứng và vinh dự được phục vụ Thượng tướng tiếp tục thực hiện công trình có ý nghĩa này.

    Khi triển khai thực hiện, Thượng tướng Trần Văn Trà đã tổ chức được 4-5 buổi tại nhà riêng để trao đổi với bộ phận phục vụ về đề cương bản thảo các tập, các chương còn lại. Trong những lần ấy, mỗi người chúng tôi đều mạnh dạn chia sẻ suy nghĩ, quan điểm của mình sao cho hợp lý nhất.

    Sau khi lắng nghe các ý kiến phát biểu của anh em, bao giờ ông cũng phân tích nhiều vấn đề, nhất là những ý đồ chiến lược mà chúng tôi còn ít hiểu biết. Anh em ai cũng cảm thấy hài lòng và hy vọng sẽ có được cuốn hồi ký hấp dẫn bạn đọc, có ý nghĩa. Và trong những lần “hội thảo” ấy, bao giờ cũng thấp thoáng hình bóng chị Thoa - phu nhân Thượng tướng, vui vẻ ra chào mọi người, tự tay chuẩn bị trà nước, bánh kẹo, trái cây mời anh em dùng lúc giải lao rồi nhẹ nhàng “lui về tuyến sau” để mọi người thoải mái tranh luận.

    Công trình hồi ký của Thượng tướng Trần Văn Trà được anh em xúc tiến một cách khẩn trương. Theo kế hoạch, chậm nhất là cuối năm 1996 sẽ có được bản thảo Tập 2 để đưa nhà xuất bản xin giấy phép xuất bản. Các tập còn lại hy vọng sẽ ra mắt trong hai năm 1997 và 1998.

    Đầu tháng 4/1996, được sự cho phép của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Thượng tướng lên đường sang Singapore kiểm tra sức khỏe về tim mạch và tiếp tục vận động xây dựng một bệnh viện (mục tiêu chính) chữa trị tim mạch cho cựu chiến binh, diện chính sách và nhân dân. Trước khi lên đường, ông vui vẻ hẹn chúng tôi “hai tuần nữa chúng ta tiếp tục làm việc”. Chúng tôi cũng mong chờ những buổi làm việc tiếp theo.

    Thật bất ngờ, sáng ngày 20/4/1996, Thượng tướng Trần Văn Trà mãi mãi đi xa, nhưng sự nghiệp, tấm lòng, đạo đức trong sáng của ông sống mãi cùng non sông đất nước như phần mở đầu cuốn hồi ký ông đã trải lòng mình: “... Mỗi sự nghiệp của một con người đều là sự nghiệp của tất cả. Anh có làm được việc gì thì đó là nhờ nhân dân giúp rập mà nên. Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây. Khi về thành chớ bao giờ quên bưng biền rừng núi. Nhờ dân mà anh đã hoàn thành nhiệm vụ, nay làm nhiệm vụ trước hết phải vì dân. Nhờ bạn bè mà anh xây thành sự nghiệp. Nay có sự nghiệp chớ nên quên lãng bạn bè. Đức Việt Nam là tình là nghĩa, là đạo xử thế thủy chung giữa con người với con người. Mắt ta phải trong mà lòng ta phải sáng, đó là quý nhất của một đời người...”.


                                                                           
Đại tá Nguyễn Viết Tá
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #118 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 02:20:25 pm »

VỀ TẬP 2 CHỐNG MỸ Ở B2



    Làm việc với bộ phận phục vụ viết hồi ký chuẩn bị cho Tập 2 - Bản ghi lại từ băng ghi âm buổi làm việc, do đồng chí Phan Gia Hoài, hiện nay là Thư ký Tòa soạn Báo Cựu chiến binh Thành phố, rã băng và ghi chép lại

    Mãi đến năm 1959 mới có Nghị quyết Trung ương 15 là chậm. Chung quanh Nghị quyết Trung ương 15 chậm, viết thế nào thì tùy. Tư tưởng lãnh đạo của ta là bằng mọi cách tránh chiến tranh, đấu tranh bằng hòa bình và chính trị thì tốt hơn nhiều. Đây là cái gốc, còn Nghị quyết chậm là đành rồi. Sau khi Mỹ -ngụy khủng bố, tàn sát dữ dội, kéo máy chém đi khắp nơi, tình hình cấp bách lắm, không có hành động thì cách mạng miền Nam sẽ bị tiêu diệt. Tinh thần của Nghị quyết Trung ương 15 vẫn là đấu tranh chính trị là chính, đấu tranh quân sự hỗ trợ, nổi dậy từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa vũ trang.

    Cần nhắc lại từ năm 1954 đến năm 1959, chủ trương là đấu tranh hòa bình, đòi thi hành Hiệp định. Vì sao vậy? Tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ, của Trung ương là tìm mọi cách đấu tranh chính trị hòa bình, tránh xảy ra đấu tranh vũ trang, càng tránh được chiến tranh chừng nào càng tốt, theo dõi tình hình từng lúc để có chủ trương sát đúng, thận trọng, luôn luôn đấu tranh bằng ngoại giao và chính trị.

    Từ năm 1957, Mỹ - ngụy đã phá bỏ Hiệp định nhưng ta vẫn đòi thi hành Hiệp định cho đến năm 1959. Đáng lý từ năm 1957 khi địch bỏ Hiệp định thì ta phải có đường lối mới ngay vì không còn hòa bình nữa. Trong này, một số cán bộ, trong đó có anh Xuyến (Nguyễn Hữu Xuyến) đã đề nghị với anh Duẩn và Trung ương Cục cho vũ trang, cho tấn công giành chính quyền vì đồn bót địch rã chưa sửa lại được bao nhiêu, còn ta thì nắm được rất nhiều, nhiều đơn vị địch đều có người của ta, cho rằng lật đổ chính quyền Diệm chắc chắn thành công. Nhưng Xứ ủy không cho, nay anh Xuyến còn nhắc anh Linh còn nói: Các anh không được manh động, đây là vấn đề lớn phải có chủ trương của Trung ương. Lúc đó, giành chính quyền có thể thành công nhưng còn Mỹ sẽ làm gì thì không biết. Rất nhiều kiến nghị cho hoạt động vũ trang.

    Ở miền Nam, trong tình hình như thế, khắp nơi nghe Nghị quyết Trung ương 15 cho vũ trang nên nổi dậy đồng khởi. Đồng khởi không phải do chỉ thị mà do khắp nơi ở miền Nam tiến hành. Nghị quyết Trung ương 15 phù hợp trong giai đoạn đầu, nhưng khi địch tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thì Nghị quyết Trung ương 15 không phù hợp nữa. Tuy nhiên, muốn có đường lối mới phải có thời gian cân nhắc, vì chủ trương chiến tranh không thể dễ dàng đề ra sớm. Những vấn đề cụ thể của tình hình chưa bộc lộ ra hết, có phán đoán nhưng vẫn phải có thời gian mới hình thành được đường lối cụ thể, phải cân nhắc kỹ để giành thắng lợi. Cho nên những năm 1961-1962, địch tung hoành nhưng ta vẫn phải cân nhắc, chưa thể đề ra đường lối mới.

    Vào giữa năm 1961, sau khi qua miền Nam thị sát, Johnson đề nghị đưa các đơn vị, phương tiện chiến tranh của Mỹ đến miền Nam. Trực thăng bắt đầu hoạt động mạnh từ cuối năm 1961, hoành hành dữ vào năm 1962 (nên lấy một số sự kiện trực thăng và xe lội nước trong thời kỳ đó hoạt động rất mạnh). Ta chưa biết đối phó ra sao, còn rất bỡ ngỡ trong việc đối phó. Sau Đồng khởi, ta có từng trung đội, đại đội, một số nơi đã có tiểu đoàn, miền Đông cũng đã có vài tiểu đoàn dựa danh giáo phái. Miền Trung cũng đã có tiểu đoàn đánh địch ở Kiến Phong. Ở miền Tây, cũng có hai, ba tiểu đoàn. Tiểu đoàn chưa có nhiều, nhưng du kích phát triển lên thành trung đội, đại đội ở khắp mọi nơi. Nhưng các đơn vị bị trực thăng, xe lội nước của địch uy hiếp dữ lắm. Có đơn vị đang hành quân ngoài đồng trống gặp trực thăng bỏ chạy bị trực thăng bắn hy sinh khá nhiều (cần nêu một vài trận đánh tiêu biểu). Ở miền Nam, cuối năm 1962 đầu năm 1963, có chủ trương vận động anh em bắn trực thăng. Hồi đó, có súng K.44 (bá đỏ) gửi vào, súng này rất mạnh, bắn được cả trực thăng và xe lội nước. Từng người có thể bắn loại đó. Còn từ trung liên trở lên có thể bắn được. Tuy vậy, cả năm 1961 và 1962 ta còn rất khó khăn. Thấy trực thăng từng chiếc một rất sợ không dám bắn. Từng người dân, từng cán bộ đi ngoài đồng trống bị trực thăng hạ bắt đi. Nông dân làm ngoài đồng dù chỉ có một người, địch cũng hạ trực thăng xuống, hỏi căn cước, giấy tờ. Có chuyện mấy bà đi chợ về bị địch bắt lên trực thăng chở về thành phố, điều tra không có gì lại thả, do đó có người muốn đi Sài Gòn nên để cho trực thăng hạ, bắt đem về Sài Gòn... Nêu một số sự kiện nói lên trực thăng địch uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân rất nhiều.

    Năm 1962, ngoài miền Bắc cũng nghiên cứu phá ấp chiến lược. Trong miền Nam có nơi báo cáo ra, ấp chiến lược cũng giống ấp tân sinh, khu trù mật không có gì lạ. Ngoài miền Bắc có tư liệu nhiều hơn, nghiên cứu thấy ấp chiến lược rất nguy hiểm, địch đã gom 7 triệu dân đồng bằng vào ấp chiến lược, không thể coi thường, ngay từ đầu phải nghiên cứu cách phá. Tôi đã nghiên cứu, viết chỉ thị về phá ấp chiến lược khá dài đưa qua Bộ Chính trị thông qua, điện vào cho Trung ương Cục. Lãnh đạo của ta cũng nhạy bén trước những âm mưu, biện pháp, thủ đoạn chiến tranh mới của địch.

    Lúc đó, tôi còn ở ngoài miền Bắc, nói anh em nghiên cứu cách đối phó với trực thăng và xe lội nước. Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu kỹ tính năng, tác dụng của trực thăng của Mỹ và cách đối phó, trực thăng yếu ở đâu, bắn như thế nào, còn thiết giáp dùng súng gì bắn hạ được, nhất là xe lội nước của Mỹ, để gửi tài liệu, vũ khí vào miền Nam. Tôi còn nhớ trong cuộc diễn tập tấn công do tôi điều khiển, tôi có mời anh Ba Duẩn đi xem. Anh Duẩn đứng trên xe thiếp giáp để quan sát diễn tập. Tôi chỉ cho anh thấy vũ khí bộ đội đang vác rất nhẹ nhàng như cái gậy, đó là khẩu súng B.40, chưa cho phép sử dụng ở miền Nam. Một người sử dụng B.40 có thể diệt được xe tăng, tôi đề nghị anh Ba cho đưa vào miền Nam. Anh Ba nói: “Được, để suy nghĩ”. Hồi đó còn bí mật lắm, các loại súng thường phải cạo số hiệu mới được đưa vào miền Nam. Sau đó, tôi chỉ đạo quân giới nghiên cứu sản xuất loại súng đó. Anh em sản xuất được, đặt tên là CT62, trái đạn lớn hơn đạn B.40 của bạn viện trợ. Ta không có thuốc nên phải lấy ruột của B.40 nhồi vào, đi bắn thử hiệu quả vào lô cốt còn lại của Pháp ở Sơn Tây. Tôi mời cả tùy viên quân sự Liên Xô, tùy viên quân sự Trung Quốc đến xem, cốt để xin thuốc tự sản xuất. Họ hứa này khác nhưng rốt cuộc không cho. CT62 gửi vào miền Nam. CT62 sản xuất không được bao nhiêu vì không có thuốc. CT62 được sử dụng đầu tiên ở Rừng Sác để bắn tàu địch. Đó là quá trình nghiên cứu, sản xuất vũ khí đối phó với xe tăng và xe lội nước.

    Trước khi đi vào Chương I, Tập 2 và Nghị quyết Trung ương 9, cần nhắc lại tình hình miền Nam và Nghị quyết Trung ương 15. Nghị quyết Trung ương 9 được ban hành từ đầu năm 1963, nhưng đến cuối năm mới quán triệt đến miền Nam. Nội dung chủ yếu của Nghị quyết Trung ương 9 là đấu tranh quân sự và chính trị song song tất yếu đi đến tổng công kích và tổng khởi nghĩa (năm 1961, đã có chỉ thị của Trung ương đưa đấu tranh quân sự lên ngang hàng đấu tranh chính trị). Nghị quyết Trung ương 9 rõ ràng là đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị song song tiến lên tổng công kích và tổng khởi nghĩa.

    Giữa năm 1963, sau bốn ngày đêm lênh đênh ngoài biển, tôi vào đến miền Nam.

    Cuối năm 1963, anh Linh từ miền Bắc đã về miền Nam tổ chức hội nghị phổ biến Nghị quyết Trung ương 9. Đây là thời kỳ chuyển giữa hai đường lối của Đảng, và cũng không phải dễ dàng mà chuyển được. Vì trong suy nghĩ của mỗi người đều đinh ninh sức mạnh của quần chúng có thể đi đến khởi nghĩa vũ trang, vẫn suy nghĩ theo Nghị quyết Trung ương 15, dù đã có nghị quyết mới rồi. Việc thảo luận Nghị quyết này ở Trung ương Cục kéo dài đến hai tháng trời. Nghị quyết được quán triệt cho đến các địa phương, các đảng bộ.

    Triển khai nghị quyết có hai vấn đề: Xúc tiến mạnh xây dựng lực lượng tập trung và đánh phá ấp chiến lược (vì vậy phải có một chương nói về đánh phá ấp chiến lược của Mỹ - ngụy). Đây là biện pháp của ta, có giá trị lớn về chiến lược. Mỗi khu đều có điểm đột phá, điển hình như ở miền Đông Nam Bộ phá ấp chiến lược Bến Tượng bằng cả quân sự, chính trị và sức mạnh của nhân dân. Phong trào phá ấp chiến lược được phát động khắp nơi.

    Đi đôi với phá ấp chiến lược, có phong trào bắn hạ trực thăng. Các nơi đều nghiên cứu cách vừa đánh được xe lội nước vừa chống được trực thăng, không để trực thăng, xe lội nước làm cho bộ đội và nhân dân ta hy sinh. Riêng ở Khu 8, ta nghiên cứu đưa bộ đội trụ lại ở đồng trống chống lại trực thăng và xe lội nước. Hành quân ban đêm, không được di chuyển ban ngày, phải tìm cách trụ lại (nhiều đơn vị hành quân ban ngày bị đánh, chạy ngoài đồng trống bị thương vong). Tiểu đoàn 261 có một đại đội giành thắng lợi nhờ thực hiện phương châm “Tấn công bức rút, bức hàng, trụ lại chống càn, giải phóng nông thôn” (do vậy, Chương 5 phải nói về chiến thắng Ấp Bắc). Chiến thắng Ấp Bắc là một thực tiễn để Trung ương nghiên cứu ban hành Nghị quyết Trung ương 9. Sau thắng lợi Ấp Bắc, anh Ba Duẩn và Bộ Chính trị xác định có thể đánh bại được chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của địch. Anh Ba Duẩn nói: “Sau Ấp Bắc địch thấy không thể thắng ta”. Vì trước đó có ý kiến cho rằng tiến hành chiến tranh cách mạng có thắng được không. Lúc đó có ông bạn khuyên ta đừng đánh Mỹ. Ta phát động chiến tranh cách mạng phải cân nhắc. Chiến thắng Ấp Bắc có vai trò trên nhiều mặt: Về chiến lược cho phép ta nhận định thực hiện chiến tranh cách mạng có thể thắng được chiến tranh xâm lược dù địch dùng bất cứ hình thức gì. Về chiến thuật như trên đã nói rõ.

    Tôi dự Hội nghị Trung ương Cục triệu tập quán triệt Nghị quyết Trung ương 9 của Trung ương. Trong hội nghị mọi người còn đang “thích thú” với đường lối trước là giành thắng lợi bằng tổng khởi nghĩa. Vì vậy, khi quán triệt Nghị quyết Trung ương 9, còn có người nghĩ rằng chỉ cần tiến tới khởi nghĩa vũ trang, không cần chiến tranh cách mạng.

    Phổ biến Nghị quyết Trung ương 9 rồi hai luồng tư tưởng vẫn chưa hết.

    Triển khai Nghị quyết Trung ương 9 có nhiều mặt, có mặt về quân sự: xây dựng lực lượng. Do vậy, tách Chương 2 và Chương 3 rất khó. Chương 2 nói về Đường 559 và đường biển 759, Chương 4 là xây dựng lực lượng. Nội dung các chương liên quan nhau nhiều, viết nên chia như thế nào cho thuận lợi hơn.

    Vừa dự Hội nghị Trung ương Cục, tôi đã có ý thức triển khai ngay mấy vấn đề. Tôi có hỏi anh Quang về vũ khí, anh nói vũ khí đưa vào để ở Bến Tre, phát cho bộ đội địa phương, du kích rồi, không đưa vũ khí lên để bổ sung cho chủ lực... Như vậy là chiến tranh du kích và nổi dậy của quần chúng tiến lên tổng khởi nghĩa vẫn theo đường lối của Nghị quyết Trung ương 15. Tôi thấy phải chuyển ngay vũ khí lên bổ sung cho chủ lực và tăng cường chủ lực để hoạt động.

    Đáng lẽ tôi vào miền Nam sớm, nhưng bị bệnh phổi, các anh nói phổi như thế vào trong đó chắc chắn là không được nên không cho đi. Ở lại ngoài đó, tôi được giao phụ trách theo dõi tình hình miền Nam. Vẫn là Tổng Tham mưu phó, đặc biệt lo tất cả mọi thứ cho chiến trường miền Nam. Tôi chủ động đề nghị cho cán bộ tập kết trở về, được chấp thuận và tổ chức các đoàn về Nam. Mỗi đoàn đều nhằm phục vụ cho thời kỳ nhất định, thời kỳ đầu cần cán bộ huấn luyện, tiếp theo mới là cán bộ chiến đấu, tiếp theo nữa là cán bộ các cấp. Năm 1961, tổ chức Đoàn Phương Đông có anh Trần Văn Quang, chủ yếu là bố trí cán bộ từ Trung ương Cục đến khu, tỉnh. Cán bộ biết chiến tranh du kích và cả chiến tranh chính quy, không chỉ hiểu một mặt. Do đó phải chọn lựa cho phù hợp. Bộ binh, pháo binh, hậu cần đều có chuẩn bị cán bộ. Tôi nghĩ dù đang là chiến tranh du kích nhưng chiến tranh không nằm một chỗ mà sẽ phát triển, phải chuẩn bị như thế nào, chuẩn bị mọi mặt, nhất là con người, cán bộ. Thứ hai là chuẩn bị gửi vũ khí vào, vì chiến trường xa, vấn đề vận chuyển vũ khí rất khó. Cho nên mới tổ chức Đường 559, Đường 559 không đủ phải tổ chức Đoàn 759 chuyển bằng đường biển. Năm 1962, chuyến đầu tiên anh Bông Văn Dĩa về Rạch Gốc, Cà Mau, chở 22 tấn vũ khí. Đó là chuyến thử đầu tiên thuận lợi, sau tiếp tục gửi tiếp. Tôi cho chọn vũ khí thành 3 loại, loại vũ khí cho du kích rộng rãi, cả súng trường, lựu đạn; loại thứ hai lớn một chút cho bộ đội địa phương như trung liên, đại liên, cối; loại nữa cho chủ lực có cả sơn pháo 75mm, bộ binh pháo 70mm, thuốc nổ và đặc biệt là đài thông tin 15W, nghiên cứu cả bộ đàm nhỏ để lần lượt gửi về. Năm 1962, nhận được điện trong Nam ra là chỉ cần vũ khí cho phát triển du kích rộng rãi, không cần vũ khí lớn, vì đưa vũ khí lớn chưa cần, phải mất người, lo chỗ bảo vệ, khó khăn lắm; đài thông tin 15W cũng chưa cần. Tôi xin ý kiến các anh và trả lời cho trong Nam rằng đấu tranh vũ trang sẽ phát triển, tới thời kỳ nào cần thì lại không có, gửi trước vào là một biện pháp rất cần thiết, cứ giữ sẽ có lúc cần. Tôi vẫn tiếp tục gửi vào cả 3 loại vũ khí. Đến năm 1963, đi được nhiều chuyến, không có chuyến nào mất.

    Nói như thế để thấy có sự khác nhau về tư tưởng, đường lối chiến tranh. Nếu không có sự chuẩn bị trước như thế làm sao mà xây dựng chủ lực nhanh được. Vì vậy, trong tổng kết chiến tranh đặt vấn đề xây dựng chủ lực có chậm hay không. Nếu nói chậm cũng được, nói nhanh cũng được. Đáng lý đã có khung cấp trung đoàn từ miền Bắc đưa vào từ năm 1961-1962 nhưng vẫn còn khập khiễng, năm 1963 còn có ý kiến chế giễu chủ lực. Tới năm 1964 mới xây dựng chủ lực, đấy là trễ. Nhưng là nhanh nhờ có lò đào tạo cán bộ ở miền Bắc, anh em tập kết ra miền Bắc được rèn luyện trong các trường chính quy, được đưa ra nước ngoài học, được rèn luyện trong các cuộc diễn tập, quân sự được vững vàng. Nếu không có cán bộ từ cấp trung đoàn, sư đoàn ở miền Bắc điều vào thì không thể tác chiến lớn sớm.

    Khi vào, động tác đầu tiên, tôi tổ chức cho lấy vũ khí. Chỉ định anh Lâm Quốc Đăng và anh Ngân xuống Hắc Dịch xây căn cứ, chuyển vũ khí từ Bến Tre lên Rừng Sác, qua Hắc Dịch, Bà Rịa, từ Bà Rịa đưa lên Chiến khu Đ, Khu B (Tây Ninh). Đưa lên Tây Ninh chỉ được một ít thôi, chỉ có bộ binh pháo, cối nhẹ. Vũ khí nặng càng khó, chỉ đưa lên Chiến khu Đ (sơn pháo).

    Củng cố chủ lực bằng cách chủ yếu lấy quân từ đồng bằng lên bổ sung cho các đơn vị chủ lực và tiếp tục xây dựng các đơn vị mới. Lấy quân lên cũng là cả vấn đề rắc rối. Nhiều người nói tiến hành chiến tranh du kích và nổi dậy đi đến khởi nghĩa vũ trang, vậy anh đưa quân lên xây dựng chủ lực để làm gì? Xây dựng chủ lực có ích lợi gì? Câu điển hình của anh Hai Xô: Ta đang làm cách mạng, chỗ nào có nhân dân là ở đó có cách mạng. Thanh niên ở đồng bằng sông Cửu Long nơi có dân đang làm cách mạng, tại sao lại đưa lên rừng núi chỉ có cây và đá, có gì đâu mà làm cách mạng? Tôi nhớ mãi lời của anh Xô như thế. Cho nên vận động Trung ương Cục đồng ý lấy quân lên bổ sung, xây dựng chủ lực được bàn đi bàn lại nhiều lần. Cuối cùng, anh Linh đồng ý, chỉ thị cho các quân khu lấy thanh niên đưa lên, khi thanh niên lên vác theo luôn súng đạn.

    Vấn đề triển khai chuẩn bị tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào năm 1964 đặt ở chương nào cho thích hợp? Vì sao lại chuẩn bị tổng công kích, tổng khởi nghĩa năm 1964? Căn cứ đường lối của Nghị quyết Trung ương 9 là tấn công quân sự, chính trị, tấn công và nổi dậy, tất yếu tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Tổng khởi nghĩa là ở đô thị, nơi đặt cơ quan đầu não của địch là chính, không phải ở đồng bằng là chính. Ở chiến trường B2, đô thị quan trọng nhất là Sài Gòn. Ở Sài Gòn, quân Mỹ đã vào, lực lượng địch rất mạnh, cả thành phố lớn kiến trúc công sự rất kiên cố. Tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở đây đặt ra một câu hỏi cho người chỉ huy ở chiến trường phải làm gì khi thời cơ đến. Nếu để thời cơ đến mới ào xuống thì không được. Phải chuẩn bị lực lượng mới hành động được. Không phải đánh nông thôn trước rồi mới đến thành thị sau, cũng không phải theo tuyến mà đánh theo kiểu tổng khởi nghĩa, cho nên phải nhắm vào các đô thị. Ở B2, không thể đi xe bò mà giành chính quyền được. Chuẩn bị đặc công, biệt động, năm sáu tiểu đoàn mũi nhọn. Lấy người, thanh niên từ các vùng ven ra xây dựng thành các tiểu đoàn, huấn luyện cách đánh đô thị và vùng ven. Tổ chức, huấn luyện rồi đưa về địa bàn đứng chân để thực hiện tổng khởi nghĩa. Chuẩn bị là nghiên cứu cả một kế hoạch lớn, mục tiêu nào sẽ đánh, mục tiêu nào phải chiếm. Như mục tiêu số 1, số 2, số 3..., bố trí tình báo, trinh sát liên tục bám sát. Đặc công cũng huấn luyện cách đánh nhỏ, đánh vừa các mục tiêu đó.

    Cuối 1965, anh Nguyễn Chí Thanh ra Hà Nội. Cuối năm 1966, tôi ra, bàn với anh Thanh qua xin ý kiến Bộ Chính trị ta đã chuẩn bị tổng công kích, tổng khởi nghĩa năm 1964-1965, nay địch đã tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, ta có còn tổng công kích, tổng khởi nghĩa được không, đề nghị Bộ Chính trị thảo luận trong lúc anh Thanh và tôi còn ngoài này. Anh Thanh đồng ý sẽ đề nghị Bộ Chính trị. Sau đó anh trả lời rằng, Bộ Chính trị nói cứ lo đánh Mỹ, chưa bàn ngay chuyện đó. Do không có cuộc họp bàn, nên vẫn chuẩn bị nhưng không có kế hoạch. Lực lượng không rút đi cũng không phát triển. Phải nói vấn đề này, vì thực ra khi tổng công kích, tổng khởi nghĩa năm 1968 ở chiến trường chỉ biết trước có 3 tháng, có thể không đầy 3 tháng. Tháng 10 mới có nghị quyết về tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968. Nếu chỉ có 3 tháng chuẩn bị thì không thể kịp, nhưng nhờ đã chuẩn bị từ năm 1964-1965 mới có lực lượng đặc công, các tiểu đoàn mũi nhọn. Nếu không có bước chuẩn bị sẵn như thế thì làm sao triển khai được (cần viết kỹ công tác chuẩn bị, đến năm 1968 chỉ nhắc qua).

    Đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng khởi nghĩa hay chiến tranh? Tiến lên khởi nghĩa hay là làm chiến tranh? Không phân biệt rõ. Tính từ năm 1961 đã là chiến tranh rồi, không còn khởi nghĩa nữa nhưng vẫn lo khởi nghĩa nên không tính việc xây dựng lực lượng. Chiến tranh xảy ra từ năm 1961 mà đến năm 1964 mới xây dựng lực lượng. Cho nên Tập 2 đặt là “Hòa bình hay chiến tranh” là đúng. Nhưng vì Tập 1 đã là để tên “Hòa bình hay chiến tranh”, Tập 2 lấy tên là “Khởi nghĩa hay chiến tranh” thì lặp lại hai chữ chiến tranh, vậy nên thay thế nào cho khỏi trùng. Nội dung Tập 2 viết về thời kỳ chiến tranh rõ ràng rồi, cứ bám khởi nghĩa đi lên là không được. Đến “Chiến tranh cục bộ” rồi vẫn còn mang tư tưởng này, kéo dài đến năm 1967 mới hết.

    Chương 2 cũng có thể để tên “Khởi nghĩa vũ trang đến chiến tranh cách mạng”. Địch từ “Phản ứng linh hoạt” đến “Chiến tranh đặc biệt”, còn ta thì từ khởi nghĩa vũ trang đến chiến tranh cách mạng. Có một chương về địch, một chương về ta nêu được chiến lược của đôi bên trong thời kỳ ấy.

   Chương 3 nói về việc quân tập kết trở về cũng không được. Tập 1 tôi đã viết về đoàn đầu tiên do Tư Chương phụ trách về Nam rồi, nay nên đề là Xây dựng lực lượng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh là xây dựng chủ lực, nói lên xây dựng chậm hay mau. Chương 4: “Đường Hồ Chí Minh trên biển” để như thế cũng rõ. Hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn phải có các tuyến đường chiến lược, thứ nhất là tuyến Đường 559, nhưng Đường 559 có nhiều khó khăn nên phải nghĩ đến đường biển. Hai đường chiến lược song song có tác dụng rất lớn. Nói nhiều về đường biển, Đường 559 nói ít thôi (trong thời kỳ này).

   Chương 5 không để tên “Một năm hai sự kiện” mà nói do thắng lợi của ta sau Ấp Bắc làm cho nội bộ địch xào xáo ra sao. Không thể chỉ nói chiến thắng Ấp Bắc mà sau Ấp Bắc có phong trào thi đua giành thêm nhiều thắng lợi mới, ảnh hưởng đến nội bộ địch. Cuối năm, Diệm bị lật đổ, sau khi Diệm đổ là khủng khoảng liên tục về chính trị của ngụy. Phần cuối nói về chiến dịch Bình Giã, chiến thắng Ba Gia, Đồng Xoài. Bình Giã đánh địch ngoài trời, Ba Gia cũng đánh địch ngoài trời cũng tiêu diệt địch khá, đến Đồng Xoài. Chương 4 nói về vai trò chủ lực không cũng không phải, phải nói đầy đủ ba mũi giáp công, ba thứ quân của chiến tranh nhân dân trong từng trận đánh, từng chiến dịch.

   Chương 6 để tên là “Bình Giã” cũng được hoặc “Những đòn của chủ lực”. Như cuộc đảo chính Diệm, ta muốn chớp thời cơ nhưng không có lực lượng thì cũng chỉ là ảo vọng về chính trị. Ngay sau này, năm 1968, lực lượng quân sự của địch như thế, tương quan lực lượng như thế mà muốn giành chính quyền triệt để cũng là viển vông.

   Cũng có thể để Chương 7 với nội dung về những chiến thắng của ta. Mỹ thấy không thể tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” để giữ chính quyền ngụy, chính quyền ngụy có thể bị đập nát vì lực lượng quân sự là chỗ dựa duy nhất của chúng bị ta tiêu diệt mỗi lần mấy tiểu đoàn. Do đó Mỹ phải chuẩn bị chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Muốn chuẩn bị cho chiến lược “Chiến tranh cục bộ” có sự kiện Vịnh Bắc Bộ để lấy cớ và cũng là chiến lược của Mỹ, chỉ đánh miền Nam là không được, phải đánh ra miền Bắc. Mc Namara viết hồi ký cũng thắc mắc sự kiện này, hỏi anh Giáp rằng lần thứ hai ta có đánh tàu Mađốc không. Anh Giáp nói không có. Mc Namara nói, ông ta cũng nghĩ như thế. Sự kiện thứ hai là giả tạo để đưa quân Mỹ vào miền Nam việt Nam.

   Như vậy, xác định lại Tập 2 có để tên “Khởi nghĩa hay chiến tranh”, hay thay hai chữ “chiến tranh”, vì Tập 1 đã là “Hòa bình hay chiến tranh” rồi.

   Về Chương 2 không nên để là “Ấp chiến lược” vì địch sử dụng cả biện pháp tấn công quân sự phối hợp xây ấp chiến lược. Mỹ thực hiện quân sự, hoả lực mạnh và cơ động, vì thế mới dùng trực thăng và thiết giáp, một mặt, dùng lực lượng quân sự mạnh để đập tan lực lượng quân sự của ta, một mặt xây ấp chiến lược để nhốt dân, chia cắt giữa dân với lực lượng cách mạng. Về phá ấp chiến lược, năm 1962, có chỉ thị của Bộ Chính trị, năm 1961, có điện vào Nam, hướng dẫn nâng quân sự lên ngang hàng đấu tranh chính trị, quân sự chính trị song song, không còn là chính trị là chính nữa. Năm 1962, có chỉ thị về phá ấp chiến lược tương đối dài, nếu lục được thì hay quá.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #119 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2023, 02:23:39 pm »

CHƯƠNG 1
PHẢN ỨNG LINH HOẠT
                  (Bản đánh máy đã hoàn chỉnh xong chương đầu tiên của Tập 2)


    Đứng trước tình hình sôi sục đấu tranh chính trị vũ trang của nhân dân miền Nam những năm 1959-1960, chính quyền Mỹ không chịu hiểu đây là cao trào cách mạng của quần chúng nhân dân quyết giành sự sống, quyết bảo vệ quyền làm chủ non sông đất nước mình mà cố tình gán cho phong trào cái nhãn hiệu “bị cộng sản xúi giục làm loạn”. Thời kỳ ấy những người cầm đầu Nhà Trắng như có một tinh thần hoảng loạn, nhìn đâu cũng thấy “bóng ma cộng sản”, không còn nhận thức được thực tế tình hình hoặc tưởng có thể bảo vệ được thế giới tư bản với cái quyền tự do bóc lột các dân tộc khác bằng cách chống cộng sản và chống cả những phong trào giải phóng dân tộc. Vì vậy mà Mỹ cố rèn nanh giũa vuốt, tự nguyện làm tên sen đầm quốc tế. Để làm tên sen đầm quốc tế mà mục đích là làm bá chủ hoàn cầu, đế quốc Mỹ trước đây đề ra chiến lược “Giáng trả ồ ạt” có nghĩa là dùng vũ khí hạt nhân mà lúc ấy chỉ riêng Mỹ có, để lập tức tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa, hoặc bất kỳ nước nào, dân tộc nào dám không phục tùng Mỹ. Mỹ đã từng cho nổ bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki ở Nhật, giết hại hàng loạt người Nhật vô tội để thử hiệu quả vũ khí lợi hại của mình và đã có ý định sử dụng vũ khí hạt nhân giúp Pháp ở Điện Biên Phủ nhưng không thực hiện được. Nay muốn đánh vào nhân dân bằng vũ khí với chiến lược “Giáng trả ồ ạt” thì không được nữa rồi vì ngày 12/8/1953, Liên Xô đã cho nổ quả bom khinh khí đầu tiên của mình và ngày 04/10/1957, lại phóng vệ tinh Spunik I, có nghĩa là Liên Xô đã có tên lửa mạnh có khả năng mang đầu đạn hạt nhân đi xa và trúng đích. Nước Mỹ không còn an toàn ngoài tầm bắn của các loại vũ khí của đối phương như trong Chiến tranh thế giới thứ hai nữa rồi. Độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ không còn nữa, thì nguy cơ Mỹ bị đánh trả bằng hạt nhân không thể tránh khỏi, và nước Mỹ cũng có thể sẽ bị tiêu diệt như bất cứ nước nào mà Mỹ muốn tiêu diệt bằng hạt nhân. Chiến lược “giáng trả ồ ạt” vì vậy bị phá sản. Nhưng phong trào giành độc lập dân tộc và tự do trên thế giới đang lan rộng, ngày càng thu hẹp các thuộc địa của phe đế quốc tư bản. Muốn làm tên sen đầm quốc tế, Lầu Năm Góc và Nhà Trắng cố nặn óc nghĩ ra một chiến lược mới phù hợp hơn với tương quan lực lượng trên thế giới hiện nay. Đó là chiến lược “Phản ứng linh hoạt”, một chiến lược toàn cầu hết sức phản động của những tên thực dân vẫn còn tưởng mình là vô địch bất cứ trong tình hình nào. Chiến lược “Phản ứng linh hoạt” nhằm sử dụng ba loại chiến tranh một cách linh hoạt tùy theo tình hình can thiệp ở từng nơi. Loại chiến tranh thứ nhất gọi là “Chiến tranh đặc biệt”, có nghĩa là dùng đôla và vũ khí của Mỹ cộng với xương máu của người bản xứ để làm chiến tranh thôn tính xứ ấy. Trong hoàn cảnh này, phải có một chính quyền tay sai và một đội quân tay sai mạnh được lãnh đạo và chỉ huy chặt chẽ của Mỹ qua đội quân cố vấn đông đảo. Biện pháp cụ thể là dùng quân sự tàn bạo kết hợp với chiến tranh tâm lý, mị dân và lừa bịp, tình báo và cảnh sát. Nếu vì lẽ gì mà chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” không thể đem lại thắng lợi cho Mỹ thì mới dùng đến chiến lược “Chiến tranh cục bộ” tức là phải sử dụng đội quân nhà nghề được trang bị mạnh của Mỹ, kết hợp với tay sai tại chỗ để thắng ở một khu vực nhất định của thế giới. Cuối cùng nếu chiến lược “Chiến tranh cục bộ” cũng bị thất bại, không đạt mục tiêu đế quốc thì phải dùng đến loại chiến tranh thứ ba là loại chiến tranh tổng lực không hạn chế. Mỹ nghĩ rằng với ba loại chiến tranh như vậy Mỹ nhất định sẽ thắng bất cứ gặp trường hợp nào, ở bất cứ nơi nào trên quả đất này. Chiến lược mới được đề ra thì Mỹ đem áp dụng ngay vào miền Nam Việt Nam - Mỹ quyết tâm chiếm cho được miền Nam Việt Nam để làm đầu cầu chiến lược trên đất liền châu Á chống lại phe xã hội chủ nghĩa, chặn đứng phong trào giành độc lập dân tộc đang lan tràn khắp nơi nhất là ở Đông Nam Á. Nhưng nhân dân miền Nam cũng quyết tâm còn cao hơn Mỹ, thà chết chứ không chịu làm nô lệ một lần nữa mà biểu hiện rõ nhất là phong trào Đồng khởi năm 1959-1960. Mỹ chưa đánh giá được hết quyết tâm này của nhân dân miền Nam Việt Nam, của nhân dân cả nước Việt Nam và của cả bán đảo Đông Dương. Mỹ cũng chưa lường hết sức mạnh vĩ đại của nhân dân một khi đã nổi dậy dưới sự lãnh đạo vững chắc và sáng suốt của một đảng tiền phong cách mạng vì một mục đích: Tự do, độc lập và hạnh phúc của nhân dân mình. Vì vậy mà Mỹ đã quyết định thử nghiệm chiến lược “Phản ứng linh hoạt” ở miền Nam Việt Nam mà mở đầu là tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

    Trước hết, theo chỉ thị của Kennedy, một ủy ban đặc trách về tình hình Việt Nam do R.L. Gilpatric - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ cầm đầu, ngày 27/4/1961 đã báo cáo và đề nghị lên Tổng thống một loạt các hành động cần thiết với ý nghĩa: Dù muốn ra sao thì ra, Mỹ nhất định đánh thắng trận này. Ngày 09/5/1961, Phó Tổng thống Mỹ L.B. Johnson được phái sang miền Nam Việt Nam thị sát tình hình tại chỗ để có đề nghị về Washington. Ngày 23/5/1961, trong bức giác thư “Chuyến đi thăm Đông Nam Á, Ấn Độ và Pakistan” của ông gửi Tổng thống Kennedy, Johnson đã thúc đẩy Tổng thống nhanh chóng tích cực can thiệp vào Việt Nam với quan điểm: Quyết định cơ bản tại Đông Nam Á là ở chỗ này. Chúng ta phải quyết định hoặc là phải mang hết khả năng chúng ta giúp đỡ các nước này hoặc chúng ta vứt găng, bỏ cuộc tại khu vực này và rút phòng tuyến của chúng ta về San Francisco và theo quan điểm “pháo đài Mỹ”. Johnson cho rằng, Diệm là con người phức tạp, xa rời dân chúng, nhưng phải ủng hộ Diệm vì: Chúng ta phải quyết định hoặc là ủng hộ Diệm hoặc là bỏ rơi Việt Nam. Ngày 11/5/1961, Tổng thống Kennedy lệnh đưa 400 binh sĩ thuộc lực lượng đặc biệt và 100 cố vấn sang miền Nam Việt Nam, phát triển ngụy quân lên 20 vạn quân chính quy, 6,8 vạn bảo an, mở rộng quân địa phương; đồng thời lại chỉ thị phá rối miền Bắc Việt Nam với việc tiến hành rải tuyền đơn bằng máy bay, tăng cường các buổi phát thanh giả mạo hướng về miền Bắc, xây dựng ở miền Bắc căn cứ bí mật và những mạng lưới phá hoại, tiến hành những cuộc quấy rối nhỏ, cho quân đội ngụy Diệm đánh biệt kích và các hành động quân sự khác vào miền Bắc Việt Nam.
    Với khẩu khí này, khoảng 8 năm sau, Johnson đã đem hết khả năng “giúp đỡ” Thiệu cho đến khi buộc phải vứt găng, bỏ cuộc ở Việt Nam với chủ trương xuống thang chiến tranh và “phi Mỹ hóa chiến tranh” đồng thời vứt luôn cái ghế tổng thống nước Mỹ.

    Tháng 6/1961, Kennedy cử phái đoàn Staley, rồi tháng 10 lại cử tiếp một phái đoàn quan trọng hơn - Phái đoàn tướng M.D. Taylor, cố vấn quân sự của Tổng thống Mỹ sang miền Nam Việt Nam để vạch kế hoạch toàn diện mở đầu cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Diệm đã long trọng đón tiếp Taylor và đưa ra yêu cầu cùng Mỹ ký một hiệp ước phòng thủ tay đôi, Mỹ giúp phát triển quân ngụy, đưa sang Việt Nam máy bay chiến thuật, các đại đội máy bay lên thẳng, các lực lượng tuần tra bờ biển và yểm hộ hậu cần. Từ Sài Gòn, Taylor đã điện về cho Kennedy, đề nghị gửi sang một lực lượng từ 6.000 đến 8.000 quân Mỹ để đảm bảo “với Diệm rằng, chúng ta sẵn sàng sát cánh với ông trong một cuộc đọ sức lần cuối cùng về quân sự với Việt cộng hay Việt Minh” (1). Sau đó “từ Baguio ở Philíppin, nơi ông dừng chân để dự thảo bản báo cáo chính thức cùng ông Rostow và các phụ tá của mình, tướng Taylor gửi về thêm hai bức điện nữa cho Tổng thống Kennedy hôm 11/11, yêu cầu đưa sang Việt Nam một “lực lượng quân sự đặc biệt”, ông nói sự có mặt của các đơn vị bộ binh Mỹ là “cần thiết” để đảo ngược sự thể tình hình đang xuống dốc” (2).

    Bản báo cáo chính thức của phái đoàn Taylor từ Sài Gòn gửi về được đệ trình hôm 03/11/1961 bao gồm đề nghị thực hiện cái mà tài liệu nghiên cứu của Lầu Năm Góc gọi là “một sự cam kết vững chắc ở trên bộ” và các biện pháp khác, tất cả đều xuất phát từ một quan điểm tổng quát về một vai trò mới của Mỹ ở Việt Nam là “sự tham gia có giới hạn”. Ý đồ chỉ đạo của bản báo cáo mà theo tài liệu của Lầu Năm Góc có lẽ do Rostow viết, được phản ánh trong đề nghị nói rằng, phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ ở Sài Gòn không những phải được “tăng lên một cách căn bản” mà còn phải nắm lấy sự chỉ đạo chiến tranh tích cực hơn để trở thành “một cái gần giống tuy chưa hoàn toàn một sở chỉ huy hành quân ở một nơi có chiến tranh”(3).

    “Các kiến nghị của Taylor đã nhận được sự ủng hộ của Bộ trưởng Quốc phòng R.L. Gilpatric và Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân” (4). Ngày 11/11/1961, Ngoại trưởng Rusk cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara gửi cho Tổng thống Kennedy một bị vong lục tán thành việc sử dụng lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân còn đề nghị Mỹ đảm nhận vai trò lớn hơn ở miền Nam Việt Nam vì đánh giá rất cao khả năng của lực lượng vũ trang Mỹ. Bất cứ một cuộc chiến tranh nào nổ ra ở vùng Đông Nam Á sẽ là một kiểu chiến tranh trên bán đảo hoặc trên đảo, một kiểu chiến tranh mà tất cả các quân chủng trong lực lượng vũ trang của Mỹ đều đã có rất nhiều kinh nghiệm, một kiểu chiến tranh trong đó chúng ta [Mỹ] đã chiến đấu một cách xuất sắc cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai lẫn ở Triều Tiên (5).

    Mc Namara trong bị vong lục ngày 08/11/1961, đã báo cáo với Tổng thống: “Tôi cho rằng chúng ta có thể ước tính lực lượng quân Mỹ tối đa cần phải có ở trên đất liền Đông Nam Á sẽ không vượt quá 6 sư đoàn hoặc khoảng 205.000” (6).

    Phái đoàn Staley đã nghiên cứu vạch ra một kế hoạch và sau đó được phái đoàn Taylor bổ sung mà ta thường gọi là kế hoạch Staley - Taylor. Kế hoạch dự kiến trong 18 tháng, bắt đầu từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962 sẽ quét sạch Việt cộng, bình định xong miền Nam và đến năm 1963 sẽ rút dần quân Mỹ về nước.

    Kế hoạch Staley - Taylor có 3 nội dung chủ yếu:

    1. Tuần tra ngăn chặn, bít biên giới Việt Nam với miền Bắc và Lào, không để có một sự thâm nhập nào, đi đôi với gây rối, phá hoại ở miền Bắc, không cho miền Bắc rảnh tay để thâm nhập. Giám sát và kiểm soát gắt gao bờ biển và sông ngòi miền Nam Việt Nam, bảo đảm miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị bao vây và cô lập.

    2. Tấn công tiêu diệt các lực lượng tập trung và du kích Việt cộng chủ yếu bằng lực lượng quân ngụy được giúp đỡ xây dựng mạnh, có đủ trang bị và phương tiện hiện đại, đánh được cả ở rừng núi, đồng bằng, sông ngòi và biển, có cố vấn Mỹ đến tận tiểu đoàn, có sự hỗ trợ, chi viện chiến đấu và chiến đấu có mức độ của các lực lượng quân Mỹ được gấp rút đưa sang với mức hạn chế ban đầu và sẵn sàng tăng thêm khi cần thiết.

    3. Tiến hành xây dựng ấp chiến lược một cách quy mô và bình định có hệ thống nhằm để chính quyền Diệm có thể kiểm soát được chặt toàn bộ nhân dân miền Nam, loại Việt cộng ra khỏi dân, thu đồ tiếp tế và bổ sung người...

    Cả ba nội dung được tiến hành song song và kết hợp chặt chẽ, có sự chỉ huy chặt chẽ, thống nhất của chính quyền Diệm và Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ.

    Thực hiện kế hoạch này, ngay từ giữa năm 1961, Mỹ đã giúp Diệm tổ chức một hệ thống các trại lực lượng đặc biệt cắm dọc theo biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, dự tính đến 75 trại và bao quanh các căn cứ của ta như kiểu các trại Đức Lập, Tráng Sụp, Đồng Xoài... Chúng còn xây dựng một hệ thống rađa trinh sát, các hệ thống tình báo gián điệp, tung biệt kích tập kích cơ quan, kho tàng, bắt cán bộ và rải chất độc hóa học dọc tuyến biên giới.

    Ven bờ biển, địch tăng cường hệ thống đồn bót, các đoàn hải thuyền của Mỹ kết hợp với các đoàn hải thuyền ngụy tuần tra. Kiểm soát chặt chẽ ngoài khơi thì có Hạm đội 7 của Mỹ khống chế đường hành lang quốc tế, kiểm tra tàu lạ. Việc làm nghề cá của nhân dân gặp nhiều trở ngại, bị xáo trộn, hạn chế.

    Ngày 10/11/1961, một đại đội máy bay ném bom B-26 của Mỹ đến sân bay Biên Hòa. Ngày 25/12, đại đội trực thăng đầu tiên cùng một đại đội phi cơ ném bom B-57 gồm 33 máy bay và 400 người hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhất. Số quân chiến đấu và đoàn cố vấn Mỹ cũng được tăng cường nhanh chóng. Một báo cáo quân sự gửi Tổng thống Mỹ ngày 09/01/1962 được nêu trong tài liệu nghiên cứu của Lầu Năm Góc cho biết:

    - Số quân Mỹ ở Việt Nam từ 948 người cuối tháng 11 (1961), nhảy lên 2.946 người vào ngày 09/01 (1962) và đến ngày 30/6 đã lên đến 5.576 người.

    - Hai đại đội máy bay lên thẳng của lục quân đang tiến hành các phi vụ yểm trợ chiến đấu và một đội biệt kích trên không mang tên mật mã Jungle Jim, đang huấn luyện cho không quân miền Nam Việt Nam về chiến thuật và kỹ thuật yểm trợ chiến đấu trên không.

    - Đội mìn 73 của hải quân Mỹ cùng với một tàu thông tin liên lạc và 5 tàu quét mìn đang hoạt động dọc bờ biển xuất phát từ Đà Nẵng. Máy bay Mỹ xuất phát từ Thái Lan và từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội 7 đậu ngoài khơi Việt Nam đang tiến hành các phi vụ quan sát và trinh sát trên bầu trời Việt Nam.

    - 6 máy bay CL-23 có thiết bị chuyên dùng để “hỗ trợ cho các hoạt động rải chất làm trụi lá cây”, đã “nhận được giấy phép ngoại giao” để vào miền Nam Việt Nam.

    Trong năm 1961, Mỹ còn đưa vào miền Nam Việt Nam trên 500 xe thiết giáp các cỡ và 45.700 súng Mã Lai chống du kích.

    Mỹ dự kiến 3 bước chiến lược của cuộc “Chiến tranh đặc biệt” là:

    + Bước 1, từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962 (18 tháng), sẽ cơ bản hoàn thành công cuộc bình định miền Nam Việt Nam. Đây là bước quan trọng nhất, bước quyết định.

    + Bước 2, hoàn thiện công cuộc bình định và khôi phục nền kinh tế miền Nam.

    + Bước 3, phát triển kinh tế.

    Năm 1962 là năm giành thắng lợi quyết định.

    Năm 1963, rút dần quân Mỹ về nước.

    Năm 1965 thắng lợi hoàn toàn, kết thúc cuộc “Chiến tranh đặc biệt”:

    Kế hoạch Staley - Taylor dự kiến rút bớt lực lượng quân Mỹ về nước vào năm 1963 vì chắc mẩm lúc ấy kế hoạch đã hoàn thành và Mỹ - Diệm đã giành thắng lợi cơ bản. Nhưng năm 1963, quân Mỹ vẫn tiếp tục tăng lên theo kiểu leo thang: Tháng 10/1963, đã đạt con số 16.732 người (cuối năm 1962, số quân Mỹ là 10.960 người). Riêng lực lượng không quân của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã lên đến 257 máy bay và trực thăng, không kể của ngụy được Mỹ viện trợ có đến 205 chiếc. Tháng 02/1963, cũng có lệnh rút bớt 1.000 quân Mỹ, có lẽ đó là một trò xảo thuật về con số để yên lòng dân Mỹ. Còn theo một báo cáo riêng của Mc Namara thì: “...tình hình thời gian 5 tháng cuối cùng của chính quyền Kennedy xấu đi nghiêm trọng tới mức toàn bộ kế hoạch rút dần đã bị chính thức hủy bỏ vào đầu năm 1964”.

    Để Mỹ trực tiếp nắm quyền chỉ huy quân sự, tiến hành có hiệu quả chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, tháng 02/1962, Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam MACV (Military Assistance Command in Vietnam), được thành lập ở Sài Gòn trùm lên cơ quan MAAV không còn kham nổi nhiệm vụ, do tướng Paul D. Harkins cầm đầu. Harkins đã từng chỉ huy quân đội phương Tây trong cuộc xâm lược Bắc Phi năm 1942, từng là Tham mưu trưởng Quân đoàn 8 Mỹ, rồi làm Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 45 và 24, trong cuộc chiến tranh ở Triều Tiên đã là Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng các lực lượng quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương trước khi qua Sài Gòn. Bộ Chỉ huy MACV ngày càng mở rộng tổ chức và quyền hạn, có 3 nhiệm vụ: Trực tiếp chỉ đạo chiến tranh trên lĩnh vực quân sự; làm nhiệm vụ cố vấn cho quân đội ngụy cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và kỹ thuật; chỉ huy các lực lượng yểm trợ Mỹ bao gồm: Không quân, hải quân, pháo binh, hậu cần... để chi viện cho quân ngụy. Tháng 5/1962, MACV được chính thức nới rộng quyền hạn với tính chất một bộ tư lệnh tiền phương của Mỹ ở Đông Nam Á, không chỉ có trách nhiệm về quân sự ở miền Nam Việt Nam mà cả ở Đông Dương và Thái Lan, trở thành “Lầu Năm Góc ở phương Đông” vậy. Không những thế, Mỹ đã đưa chuyên viên sang Sài Gòn lập ra Ủy ban 202 rải chất độc hóa học, triển khai Trung tâm thực nghiệm và phát triển khả năng tác chiến (ARTA) do tướng W.H. Goden cầm đầu. Vũ khí hóa học bắt đầu được sử dụng ở miền Nam Việt Nam. Thompson - chuyên gia chống chiến tranh du kích người Anh, được mời làm cố vấn bên cạnh MACV. Như vậy, các biện pháp quốc tế chống cách mạng nhân dân ở Phi Luật Tân, ở Mã Lai... đều được Mỹ áp dụng.

    Nhưng trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ xem lực lượng vũ trang ngụy là lực lượng chiến lược đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu trên chiến trường. Trước kia Mỹ hạn chế sự phát triển vì quân ngụy chỉ là một đội quân thời bình và nếu có cuộc tiến công từ miền Bắc thì ngụy quân chỉ làm nhiệm vụ tác chiến, trì hoãn chờ viện binh từ ngoài vào. Do thay đổi về chiến lược và quan niệm sử dụng nên Mỹ chủ trương đẩy nhanh tốc độ phát triển quân ngụy toàn diện cả chủ lực và địa phương, cả binh quân chủng hiện đại và đặc chủng chống du kích. Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất, từ năm 1961 đến năm 1965 là đưa tổng số quân chủ lực ngụy từ 170.000 lên 278.000 tên. Về biên chế đơn vị, có 12 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn dự bị chiến lược, 86 đại đội biệt động quân. Bảo an và dân vệ được phát triển rộng rãi và trang bị mạnh, nhằm đánh phá phong trào du kích ở địa phương và yểm trợ cho chương trình bình định. Việc bắt lính được triển khai ồ ạt. Trong kế hoạch 18 tháng Staley - Taylor, cuối năm 1962, tổng số quân ngụy đã đạt được là 354.000 người, trong đó có 198.000 quân chủ lực, 79.000 bảo an và 77.000 dân vệ. Ngoài ra còn có 20.000 thanh niên chiến đấu trong các ấp chiến lược và 60.000 thanh niên bảo vệ hương thôn. Chúng đã tổ chức thêm 2 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 9 và 25) , thêm 1 tiểu đoàn dù và 2 tiểu đoàn lính đánh bộ. Bảo an và dân vệ trước đây trực thuộc Bộ Nội vụ được chuyển sang hệ quân đội làm nhiệm vụ “an ninh lãnh thổ”. Không quân ngụy được đổi mới một phần trang bị: Máy bay ném bom T28 thay cho trục Helcat, trực thăng H34 tăng cường cho vận tải C-47.

    Tổ chức chiến trường và bố trí quân cũng thay đổi cho phù hợp với chiến lược chiến tranh. Sắc lệnh ngày 13/4/1961 giải tán các tổ chức quân khu, chia lãnh thổ thành ba vùng chiến thuật, mỗi vùng do một quân đoàn phụ trách. Bộ tư lệnh vùng đồng thời là bộ tư lệnh quân đoàn.

    Vùng chiến thuật 1 do Quân đoàn 1 (có 3 sư đoàn) phụ trách, gồm các tỉnh từ Quảng Ngãi ra giới tuyến.

    Vùng chiến thuật 2 do Quân đoàn 2 (có 2 sư đoàn) phụ trách, gồm các tỉnh cao nguyên và cực Nam Trung Bộ.

    Vùng chiến thuật 3 do Quân đoàn 3 (có 4 sư đoàn) phụ trách, gồm các tỉnh Nam Bộ cũ kể cả Sài Gòn - Gia Định.

    Dưới vùng chiến thuật có khu chiến thuật, tiểu khu (tỉnh) và chi khu (quận, huyện). Chúng chú trọng kiện toàn cấp tiểu khu và chi khu, tạo điều kiện đánh phá và bình định từng địa phương có hiệu quả. Hình thái tổ chức chiến trường và bố trí lực lượng đó tỏ rõ mục tiêu chiến lược là đánh phá, càn quét và bình định nội địa miền Nam Việt Nam, đề phòng và ngăn chặn một cuộc tấn công từ phía bắc tràn xuống. Chiến trường chủ yếu được xác định là Nam Bộ cũ và phần cực Nam Trung Bộ. Ở đó chúng bố trí tới 50% chủ lực của toàn miền Nam (90.000/198.000), 50,6% quân bảo an (40.000/79.000), 54,5% dân vệ (42.000/77.000), 100% lực lượng dự bị chiến lược (2 lữ đoàn dù và lính thủy đánh bộ). Không quân Mỹ - ngụy chủ yếu nằm ở căn cứ Tân Sơn Nhất và Biên Hòa.

    Vùng 3 chiến thuật là chiến trường chính gồm khu chiến thuật 31 (miền Đông Nam Bộ), khu chiến thuật 32 (miền Trung Nam Bộ), khu chiến thuật 33 (miền Tây Nam Bộ) và biệt khu thủ đô (Sài Gòn - Gia Định).

    Vùng chiến thuật 1 bố trí 3 sư đoàn, luôn luôn có một sư đoàn ở Trị Thiên và thỉnh thoảng có lực lượng tổng trù bị ra tăng cường nhằm phòng thủ giới tuyến, đề phòng miền Bắc tấn công.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM