Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 11:31:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 5577 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #100 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2023, 04:47:06 pm »

    Trong lúc B2 bắt đầu thực hiện việc chia cắt chiến lược và bao vây Sài Gòn theo kế hoạch nói trên thì Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kiên quyết tập trung toàn lực có thể có vào mặt trận Sài Gòn, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Theo mệnh lệnh khẩn cấp của trên và lửa nhiệt tình nung nấu trong tim, từng đoàn quân rầm rập tiến nhanh về Nam để kịp tham gia vào “ngày hội giải phóng dân tộc”. Các quân đoàn, sư đoàn từ đồng bằng sông Hồng, từ Quân khu 4, hành quân cơ giới ngày đêm chật ních đường Trường Sơn. Các đơn vị chủ lực của Quân khu 5 và của Bộ, các binh khí kỹ thuật, đạn dược mà quân dân Khu 5 vét trong các kho gửi chi viện, tiến dọc theo ven biển miền Trung, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa, Hoàng Minh Thảo, Nam Long do Quân ủy Trung ương chỉ định, vừa diệt địch vừa cấp tốc hành quân tăng cường cho cánh phía đông đánh vào Sài Gòn. Tiếp theo đó là các đoàn quân bổ sung từ Hà Nội, từ Tây Bắc, Việt Bắc, từ các tỉnh miền Bắc xã hội chủ nghĩa gửi vào, sẵn sàng người trước ngã người sau thay thế cho dân tộc vươn lên đỉnh cao chói lọi. Cũng trong thời gian này, ở các tỉnh B2 đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, thanh niên tấp nập tòng quân, tham gia du kích, xây dựng đơn vị mới để có sức mạnh cùng đồng bào tấn công và nổi dậy giải phóng quê hương. Ở Sài Gòn, 1 trung đoàn trở thành 2 trung đoàn Gia Định 1 và 2, ở các tỉnh Khu 8 và 9 như Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ..., huyện nào hầu như cũng có tiểu đoàn. Có tỉnh có đến 5, 6 tiểu đoàn. Hàng vạn thanh niên về quân khu bổ sung cho chủ lực. Khí thế quần chúng sôi sục. Thật là hào hùng, cả nước hành quân, cả nước chiến đấu, cả nước đứng dậy. Ôi! Tổ quốc ta thiêng liêng, dân tộc ta anh hùng biết mấy!

     Trong thời gian này, về phía địch chúng rất hoang mang vì đã bị thất bại lớn. Lực lượng Quân đoàn 1 và 2 cơ bản bị tiêu diệt, tan rã. Nhưng chúng vẫn ngoan cố vội vàng tập hợp lại lực lượng, tổ chức lại phòng thủ vùng chiến thuật 3 và 4. Thiệu đã đề ra một chiến lược mới mà y đặt tên là “Nhẹ ở đầu nặng ở đáy”, nghĩa là rút bỏ các vùng thuộc Quân khu 1 và 2 còn lại để về giữ Quân khu 3 và 4 theo như kế hoạch Gauvin đề ra. Nếu trước đây Thiệu đã chửi rủa kế hoạch này một cách thậm tệ thì ngày nay y bám víu vào như một kế hoạch cứu tinh cho cái chế độ đang hấp hối của y. Nhưng thương hại thay, muộn quá rồi! Cả người Mỹ đến giờ phút này cũng vẫn còn chủ quan nặng. Tiêu biểu nhất là Martin - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. “Martin trả lời thượng viện (Mỹ) rằng lực lượng Nam Việt Nam rút lui khỏi Tây Nguyên một cách có trật tự, mặc dù có những tin tức trái ngược lại. Và khi Phó Vụ trưởng Vụ Việt Nam (thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ) phản đối sự lạc quan này thì Martin hứa là trong một năm nữa sẽ mời vợ chồng Vụ phó này đi chơi Buôn Ma Thuột một chuyến. Martin còn ra vẻ sốt ruột về tay chân của mình là AL Francis. Sau khi xem bức điện ảm đạm từ Đà Nẵng gửi về, Martin nhẫn tâm bình luận, đại khái nói là “Chắc tuyến giáp trạng của Francis lại hành anh ta lần nữa”. Martin tin tưởng như vậy không phải chỉ vì không hiểu biết sự thật. Ông ta luôn luôn bảo những người bi quan, hết người này đến người khác, ở Washington rằng ông coi mất nửa phía bắc của Nam Việt Nam cũng là nhẹ nợ vì về kinh tế nó không được lợi lãi bao nhiêu, chỉ tốn tài nguyên của chính phủ. Phần còn lại giàu hơn nhiều, nó tập trung hẳn thành một khối, có thể bảo vệ một cách có hiệu quả hơn”. Ngay các nhà phân tích CIA và Lầu Năm Góc cũng có quan điểm: “Tuy thừa nhận một phần lớn Quân khu 1 và 2 là mất vĩnh viễn, họ vẫn lập luận rằng lực lượng chính phủ ở nơi khác trong nước đủ mạnh để ít nhất cũng giữ được phòng tuyến Bắc Sài Gòn suốt cho đến đầu mùa mưa vào tháng 5, sau thời gian đó cuộc tấn công của Bắc Việt Nam nhất định sẽ bị khó khăn về thời tiết và chính phủ sẽ có thời gian để chỉnh đốn và tập hợp lực lượng lại và có lẽ mở lại đàm phán từ một thế tương đối mạnh”.

    Sáng ngày 25/3/1975, một cuộc họp của cấp chóp bu Mỹ đã diễn ra tại Nhà Trắng gồm cả Tổng thống Ford, Kissinger, Martin, Weyand, tham mưu trưởng lục quân và là cựu Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Đông Dương, để nhận định tình hình và bàn kế hoạch đối phó với chiến sự ở Việt Nam. Cuộc họp lúng túng với những tin tức trái ngược nhau nên phải cử tướng Weyand đi Sài Gòn để đích thân đánh giá tình hình tại chỗ và bày mưu tính kế cho Thiệu chống trả cho có hiệu quả.

    Ngày 25, Weyand và Martin cùng một phái đoàn quan trọng đã đến Sài Gòn và lao ngay vào việc. “Ngay từ khi đặt chân lên Sài Gòn, Weyand đã tập trung tâm lực vào một vài mục tiêu cơ bản. Ngoài công việc cụ thể là điều tra tình hình, ông tập trung nhiều vào việc xây dựng một chiến lược mới nhằm cứu vãn những người miền Nam Việt Nam. Điều mấu chốt của kế hoạch này là sự thay đổi cơ cấu của chính Thiệu: “Nhẹ ở đầu nặng ở đáy”. Đầu tiên theo quan niệm này, Thiệu hy vọng xây dựng một tuyến phòng thủ vùng ngoài cho Sài Gòn kéo dài từ Tây Ninh ở hướng Tây đến Nha Trang ở vùng bờ biển. Nhưng bây giờ với tình trạng cộng sản thâm nhập sâu vào vùng phía nam Quân khu 2, rõ ràng cần có một vài điểm điều chỉnh bổ sung, Weyand gợi ý như một cách lựa chọn, một tuyến phòng thủ mới sẽ được xây dựng chốt tại thị xã Phan Rang với Xuân Lộc làm căn cứ trung tâm và Tây Ninh là chốt phía tây. Vì Thiệu cũng chẳng có mấy phương án, ông ta chấp nhận ngay đề nghị này”. Weyand đã nhấn mạnh với Thiệu: “Phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”.

    “Như vậy là bước đầu tiên nhằm thực hiện kế hoạch phòng thủ mới, Thiệu cử tướng Toàn giữ Phan Rang (tướng Toàn là chỉ huy Quân đoàn 3) và Toàn lại chỉ thị cho người bạn cũ của mình là tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (cựu chỉ huy Quân khu 4 bị cách chức mùa thu trước vì tham nhũng) thành lập Tổng hành dinh vùng ngoài ở đó cùng với một bộ phận của Sư đoàn cơ động. Ông ta cũng triển khai một lữ đoàn thiết giáp và một vài đơn vị biệt động tới phía đông Quân khu 3 để tăng cường cho sư đoàn quân Nam Việt Nam tại thị trấn trọng yếu Xuân Lộc”.

    Tuy xoay xở như vậy, bề ngoài có vẻ cố thủ đến cùng nhưng trong thâm tâm cả Thiệu và Mỹ đều không tin có thể đứng vững.

    Bằng chứng là trong ngày 2 và 3 tháng 4, Thiệu đã lén lút cho chở tài sản quý giá mà y đã cướp được của nhân dân ta qua Đài Loan và Canađa để mưu sống một đời vương giả khi phải chạy trốn ra nước ngoài. Còn Mỹ thì cũng lo chuẩn bị trước cho kế hoạch phục thù về sau khi phải cút khỏi Việt Nam. “Từ lúc phái đoàn Weyand đến đây, Johnson (trùm CIA cơ sở Sài Gòn) đã xin được phép tuyển lựa một số “người ở lại” và thành lập tổ chức những người tị nạn Việt Nam ở Băng Cốc, coi đó như một chiếc cầu tung các mạng lưới điệp viên, hoạt động dài hạn vào Việt Nam. Đứng về quan điểm mà nói, điều đó tương đối đơn giản. CIA đã từng làm như vậy với các nhóm lưu vong ở Đông Âu nhiều năm về trước”.

    Những người có lương tri trên toàn thế giới hãy qua sự tự thú này để hiểu rõ vấn đề tị nạn Việt Nam mà loa tuyên truyền Mỹ làm rùm beng lâu nay là thế nào. Đó thực chất là một khâu trong kế hoạch phục thù của Mỹ... sau thất bại cay đắng và nhục nhã ở Đông Dương. Và cũng qua đây để hiểu đầy đủ Băng Cốc, thực sự là một căn cứ bàn đạp của Mỹ để đánh vào Đông Dương, nơi mua xương máu lính Thái Lan qua tham chiến trong cuộc chiến tranh vừa qua, và còn là căn cứ đào tạo và tung gián điệp vào Đông Dương..., là nơi xuất phát mọi mưu đồ phá hoại hòa bình ở Đông Nam Á sau chiến tranh.

    Theo kế hoạch phòng thủ mới, ngoài các sư đoàn ngụy số 25 ở Củ Chi, tây bắc Sài Gòn, số 5 Lai Khê phía bắc, số 18 và Lữ 3 kỵ binh, 2 lữ thủy quân lục chiến, 1 lữ dù ở phía đông, chúng gấp rút bổ sung xây dựng lại Sư đoàn 22 bố trí ở Long An phía tây để nối liền với các Sư đoàn 7, 9, 11 ở đồng bằng. Ở vùng ven Sài Gòn chúng còn có một lữ dù, 3 liên đoàn biệt động quân và một số liên đoàn bảo an trấn giữ. Trong nội đô chúng bố trí thành 3 liên khu phòng thủ do lực lượng cảnh sát dã chiến và phòng vệ dân sự rải khắp các quận, phường.

    Để đưa phái đoàn Weyand về Mỹ một cách “có ý nghĩa”, ngày 01/4/1975 ta giải phóng Quy Nhơn, Tuy Hòa; ngày 03/4/1975 chiếm Cam Ranh, Nha Trang và sát Sài Gòn hơn về phía bắc chiếm Chơn Thành trên đường 13, ngày 04/4/1975 giải phóng thị xã Đà Lạt. Một việc nổi bật nữa là sáng ngày 04/4/1975 phái đoàn Weyand bay về Mỹ để báo cáo nhiệm vụ hoàn thành tại Nhà Trắng thì Dinh Độc Lập của Thiệu bị oanh tạc bằng phi cơ sáng ngày 08/4/1975. Đó là chiếc máy bay F-5E do Trung úy không quân Nguyễn Thành Trung lái, cất cánh từ sân bay Biên Hòa, đã ném hai quả bom rất trúng đích vào dinh lũy của tổng thống ngụy quyền, báo hiệu trước ngày sụp đổ sắp tới của chế độ tay sai. Trung là một thanh niên yêu nước, con một đồng chí ta ở Bến Tre, được tổ chức đưa vào hoạt động trong lực lượng không quân ngụy từ lâu. Đã đến lúc ta cần Trung huấn luyện hướng dẫn cho các đồng chí lái của ta sử dụng các loại máy bay và bom đạn lấy được của địch để chuẩn bị cho giờ phút cần thiết. Sân bay Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long đã được tổ chức và điều khiển cho chiếc F-5E hiện đại nhất của ngụy hạ cánh an toàn, nguyên vẹn. Nguyễn Thành Trung đã lập được thành tích, được khen thưởng xứng đáng, đã hoàn thành một nhiệm vụ vẻ vang lâu dài trong lòng địch và đã trở về bằng một chiến thắng. Đây là một trong những dung nhan muôn hình muôn vẻ của người chiến sĩ quân giải phóng hoạt động khắp mọi nơi, bất cứ nơi nào có người Việt Nam sống, trong những năm chống Mỹ, cứu nước oanh liệt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #101 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 10:16:38 am »

CHƯƠNG VII
Trận quyết chiến chiến lược quyết định: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử



    Trong những ngày đầu tháng 4 trở đi, sân khấu chính trị Sài Gòn hoạt động sôi nổi khẩn trương. Nhân dân thì đòi hạ bệ Thiệu để có hòa bình theo yêu cầu của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Weyand và Martin thì vẫn muốn giữ Thiệu tránh xáo trộn chính trị, nhưng mở rộng chính phủ có nhiều thành phần kể cả phe đối lập để có thể đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng hòng cứu vãn sự thất bại hoàn toàn của Việt Nam Cộng hòa. Cái gọi là “Thượng nghị viện” miền Nam cũng ra nghị quyết, tuy biết rằng nghị quyết này không có giá trị gì cả, đòi thay đổi lãnh đạo để “cứu vãn quốc gia”! Khiêm thì nịnh bợ Mỹ, hoàn toàn tán thành ý kiến của Mỹ, còn Cao Kỳ thì rủ rê Cao Văn Viên, Lê Minh Đảo (Sư trưởng Sư 18 ở Xuân Lộc) và một số khác làm đảo chính. Như ta đã biết, mọi sự việc diễn ra ở Sài Gòn từ kế hoạch quân sự, kế hoạch “Phượng hoàng” giết người Việt Nam, chính sách đối nội, đối ngoại cho đến cả việc đánh lộn nhau giữa bầy tay sai đều phải do chủ Mỹ quyết định. Vì vậy, Kỳ phải xin phép Mỹ và Polgar trùm CIA ở Sài Gòn đã nghiêm khắc cấm không cho đảo chính. Thế là tướng không quân anh hùng rơm Cao Kỳ đành nằm im ở nhà riêng của mình trong sân bay Tân Sơn Nhất chờ ngày chạy trốn. Tất nhiên là được Mỹ đỡ đầu, Thiệu vẫn ngồi vững. Y cho rằng Khiêm cùng phe với Kỳ nên liền truất Khiêm khỏi chức Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng, đưa tay chân là Nguyễn Bá Cần lên cầm đầu chính phủ gọi là đã cải tổ, mệnh danh “Chính phủ chiến đấu và đoàn kết dân tộc” và cho Trần Văn Đôn làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thật là đánh chết nết không chừa. Giờ tận số của chúng đã sát đến nơi rồi, thế mà những tên tham quyền vẫn cố bám chặt lấy địa vị, còn những tên cơ hội thì vẫn ra sức nịnh bợ chủ hoặc chòi đạp để ngoi lên. Thế nhưng chúng cứ rêu rao nào “quốc gia”, nào “dân tộc”.

    Đến lúc này Martin đã thấy rằng chỉ còn độc nhất giải pháp đàm phán là may ra cứu vãn được tình hình, tranh thủ được thời gian cứu hàng vạn người Mỹ và những tay sai đắc lực lâu nay khỏi kẹt ở Sài Gòn.

    Trong lúc Đại sứ Mỹ Martin cùng trùm CIA Polgar kết hợp với các nhà ngoại giao, nhà chính trị khác cố tìm mọi cách đi đến một cuộc đàm phán nóng lòng mong đợi ấy thì phái đoàn của ta trong Ban Liên hợp quân sự hai bên ở trại Đavít bỗng trở nên quan trọng hết sức. Thỉnh thoảng lại có những nhân vật Sài Gòn đến xin tiếp xúc, thăm dò về tình hình quân sự, về thái độ của Chính phủ Cách mạng lâm thời, về khả năng và điều kiện để nói chuyện, để tránh một cuộc tấn công thẳng vào Sài Gòn. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi. Chính phái đoàn ta là những người duy nhất ở cái “Thủ đô” đang run sợ từng ngày này, bình tĩnh, tự tin như những người đã làm chủ thực sự, am hiểu tình hình chiến sự thực tế hơn ai hết và hiểu ý kiến rõ ràng của Chính phủ cách mạng. Trong những ngày này, chúng tôi vẫn liên lạc thường xuyên với phái đoàn chúng ta và theo sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Chính trị, trả lời nhanh chóng các bức điện, hướng dẫn mọi ý tứ và hành động cho phù hợp với không khí ngoại giao cũng như diễn biến của chiến trường.

    Cũng chính trong những ngày này, Nhà Trắng hết sức sốt ruột, “mấy ngày qua kể từ khi Weyand đi Sài Gòn, Nhà Trắng không dám bình luận trực tiếp về tình hình khủng hoảng ở Đông Dương. Nhưng đến ngày 03/4 khi cuộc chiến đấu dữ dội xảy ra quanh Sài Gòn, Tổng thống Ford đã không giữ được im lặng nữa. Trong chuyến đi nghỉ ở Palm Spring, Ford đã tuyên bố với các nhà báo, tỏ ý chê trách Thiệu đã quá vội rút quân từ Tây Nguyên về và nói là việc di tản 6.000 người Mỹ khỏi Việt Nam đang được xem xét tới. Đề cập đến một trong những vấn đề tế nhị nhất, ông cũng nói rõ ràng theo ý ông hiểu về đạo luật quyền hạn chiến tranh, ông được quyền dùng sức mạnh để giúp di tản những người Mỹ đi khỏi bất cứ khu vực chiến tranh nào trên thế giới 1.

    “Những nhận xét của ông về vấn đề này không phải là một sự ngẫu nhiên. Vì thêm vào tình hình căng thẳng ở vùng quanh Sài Gòn, chính quyền còn phải đương đầu với tai họa xảy ra đến nơi ở Campuchia. Thực tế tình hình quân sự của Phnôm Pênh trở nên nguy nan trong khoảng vài ngày qua. Nhà Trắng cuối cũng đã quyết định tiến hành việc rút toàn bộ quân Mỹ ở đó”.

    Thế là Dean - Đại sứ Mỹ ở Phnôm Pênh ngày 12/4 đã cắp nách cờ Mỹ bước lên máy bay, chuồn trước Martin, trong khi Lon Non - tên đầu sỏ ngụy quyền Campuchia thì ngụy trang một chuyến công du ra nước ngoài để trốn qua Mỹ từ đầu tháng. Ngày 17/4 toàn bộ đất nước Campuchia được lực lượng cách mạng của nhân dân Khmer anh hùng giải phóng. Thật là một sự hợp đồng đẹp đẽ giữa hai chiến trường gắn bó với nhau từ lâu, trong thế chiến lược ba nước Đông Dương dựa vào nhau mà tồn tại và xây dựng lớn mạnh, một thế chiến lược vững chắc không gì lay chuyển được như dãy Trường Sơn và dòng sông Mêkông hùng vĩ.

    Trong lúc người Mỹ thực hiện “cuộc rút lui đại bàng” bằng trực thăng ra khỏi Phnôm Pênh thì ở Sài Gòn, cuộc di tản cũng ngày càng tăng tốc độ. “Cho đến ngày 07/4 số lượng những máy bay vận tải Mỹ đến và rời sân bay Tân Sơn Nhất đã tăng vọt lên. Gần một tá máy bay vận tải C-141 đi về trong một ngày cùng với số lượng ít hơn máy bay C-130 hạ cánh ban đêm để chuyên chở hàng hóa”.

    “Ngay từ lúc bắt đầu, những chuyến chuyên chở đi về như con thoi đến căn cứ Clark chủ yếu là phục vụ cho nhân viên cơ quan DAO và gia đình của họ.

    Những nhân viên không thiết yếu của sứ quán sẽ phải rời khỏi nước này bằng những máy bay thương mại để cho việc di tản được tiến hành nhanh chóng. Nhân viên Bộ Ngoại giao đã liên hệ với hãng Pan Am vào ngày 07/4/1975 và yêu cầu hãng này bổ sung thêm những chuyến bay đến Sài Gòn. Nhân viên hãng hàng không này không muốn nghe theo vì làm như vậy có nghĩa là họ phải tăng thêm tiền bảo hiểm cho những chuyến bay đến Đông Dương. Nhưng họ đã đồng ý cho mở thêm chỗ ngồi trong những máy bay 747 cho cuộc rút chạy của Sài Gòn”.

    Còn tại Washington thì các nhà chức trách chóp bu đang cãi vã nhau về việc viện trợ khẩn cấp ngay cho Thiệu 2 triệu đôla coi như liều thuốc hồi sinh trong chốc lát. Kíp Kissinger - Bộ trưởng Ngoại giao thì muốn viện trợ tối đa, còn kíp Schlesinger - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thì phản đối vì theo ông Nam Việt Nam xem như đã thất thủ rồi.

    Trong bối cảnh như vậy, cuộc bao vây chiến lược Sài Gòn bắt đầu thực hiện theo kế hoạch đã định. Ngày “N”, ngày 09/4, những trận đánh cắt đường 4 phía tây Sài Gòn và trận tấn công vào Xuân Lộc, cứ điểm then chốt số một trên tuyến phòng ngự sống còn cho Sài Gòn và Vùng 3 chiến thuật bắt đầu.

   Ở phía tây, trước đây kế hoạch dự kiến dùng lực lượng Đoàn 232 đánh chiếm thị trấn Mộc Hóa rồi theo đường dọc kênh 12, một đơn vị binh chủng hợp thành tiến về làm chủ con đường 4 từ Cai Lậy lên Tân Hiệp phối hợp với Sư đoàn 8, Quân khu 8 tiêu diệt Sư đoàn 7 và 9 của ngụy. Nhưng vì tình hình tiến triển quá nhanh chóng, Bộ Tư lệnh Miền ngại rằng lực lượng ta không nhiều, dễ bị kẹt dài ngày tại Mộc Hóa nếu địch tập trung lực lượng cố giữ và cũng theo gợi ý của trên nên thay đổi kế hoạch. Trong lúc dùng lực lượng khác kèm giữ địch ở biên giới Campuchia, Sư đoàn 5 với pháo mang vác đã cấp tốc hành động, vượt sông xuống cắt đường 4 trong khu vực Tân An - Bến Lức. Ngày 09/4, Sư đoàn 5 tấn công vào thị trấn Thủ Thừa và thị xã Tân An không thành công vì Sư đoàn 7 và 22 của ngụy đã có phòng bị sẵn trong công sự kiên cố ra sức chống cự, còn sư đoàn ta thì chỉ có bộ binh và được chi viện yếu. Bộ Chỉ huy Đoàn 232 lệnh cho Sư đoàn chuyển ra đánh tiêu diệt quân địch phản ứng và quét hệ thống đồn bót của địch phía bắc đường 4, tạo bàn đạp khống chế đường này và cắt từng thời gian cần thiết. Trong một số ngày hoạt động tiếp theo, Sư đoàn đã đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 7 ngụy và 1 trung đoàn thiết giáp, diệt 80 đồn bót lớn nhỏ, giải phóng một vùng rộng dọc bờ sông Vàm Cỏ Tây và kênh Bo Bo ngay phía bắc đường 4, uy hiếp trực tiếp đường này. Lực lượng Quân khu 8 thì làm chủ từng thời gian đường 4 trên đoạn Tân Hiệp - Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, còn lực lượng Quân khu 9 tấn công đoạn Cái Vồn -Ba Càng, tỉnh Vĩnh Long.

   Về hướng đông, đêm ngày 09 rạng ngày 10/4, Quân đoàn 4 gồm 2 sư đoàn 7, 1 (341 cũ) và Sư đoàn 6 thiếu của Quân khu 7 tấn công Xuân Lộc, thị xã thuộc tỉnh Long Khánh. Cuộc tấn công dũng mãnh đã chọc thủng tuyến phòng ngự thị xã bằng nhiều mũi, nhanh chóng phát triển vào trung tâm. Đến 7 giờ 40 phút ngày 10/4 ta đi cắm cờ trên dinh tỉnh trưởng và làm chủ một loạt các căn cứ khác như Ty Cảnh sát, Khu cố vấn Mỹ, Khu tình báo CIA, khu biệt động, nhà ga xe lửa... Địch còn giữ được tiểu khu liền tập trung 2 trung đoàn của Sư đoàn 18 cùng số tàn quân của các tiểu đoàn bảo an, biệt động, thiết giáp cố thủ và liên tục phản kích. Ngay trong ngày 10/4, địch đã dùng trực thăng đổ bộ 1 lữ đoàn dù xuống ven thị xã để chi viện gấp và giữ tinh thần cho Sư đoàn 18. Cho đến ngày 15/4 chúng đã điều về đây thêm 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn của Sư đoàn 5, 8 tiểu đoàn pháo binh và 2 chiến đoàn xe tăng thiết giáp. Như vậy là chúng đã tập trung sử dụng vào đây đến 50% chủ lực, cỡ 60% pháo, gần hết tăng thiết giáp của Quân đoàn 3 và tương đương 1 sư đoàn lực lượng tổng trù bị dù và thủy quân lục chiến chỉ trong vòng mấy ngày đầu chiến sự. Chúng cũng sử dụng không quân với mật độ cao chi viện trực tiếp cho các mũi phản kích của bộ binh và thiết giáp của chúng, đồng thời oanh tạc những nơi ta đã chiếm, đánh vào đội hình quân ta, cũng như tuyến tiếp tế phía sau của ta. Chúng đã dùng 2 loại bom có uy lực mạnh nhất, loại “Daisy Cutler” và “CBU” 2 là loại dùng để phá rừng dọn bãi cho trực thăng và sát thương hàng loạt mà quân đội Mỹ đã từng dùng nhiều năm rồi ở Việt Nam và khi rút về Mỹ theo Hiệp định Paris quy định thì lén lút để lại vũ khí, cả các loại bom nói trên cho không quân ngụy sử dụng (sau ngày giải phóng ta còn chiếm được một kho bom CBU và nay đang triển lãm ở nhà trưng bày tội ác Mỹ -ngụy ở đường Võ Văn Tần, Thành phố Hồ Chí Minh). Từ năm 1973 đến nay, đây là lần đầu máy bay ngụy mang bom trút xuống mục tiêu. Có thể nói là quân ngụy đã dùng đến mọi thứ có thể có, mọi sức mạnh có thể tập hợp được để cố giữ cho được Xuân Lộc. Phải chăng chúng rất sợ câu nói quái gở của quan thầy Weyand của chúng khi vạch ra kế hoạch phòng thủ cuối cùng: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Ngụy không những cố đem hết sức lực vào để giữ cho được Xuân Lộc, điểm trung tâm then chốt cho tuyến phòng ngự chiến lược cuối cùng mà còn mong giành được một thắng lợi tâm lý và chính trị lớn ở thời điểm nguy nan này. Thời kỳ ấy, báo chí ngụy và ngoại quốc tuyên truyền rùm beng về khả năng chiến đấu của quân ngụy đã hồi phục, rằng quân ngụy chưa đến nỗi nào, vẫn còn đủ mạnh để giữ vững cho chế độ,... Hãng UPI của Mỹ ngày 12/4 tưởng đã chắc ăn, liền nêu là ngụy chọn Xuân Lộc “làm một nơi thí nghiệm khả năng chiến đấu của quân Nam Việt Nam”. Có lẽ cũng đúng một phần, kết quả trận Xuân Lộc sẽ quyết định số phận của ngụy quân, ngụy quyền. Lúc này Thiệu rất cần một chiến thắng như vậy để kêu gọi Mỹ tin tưởng và viện trợ tối đa cho y, để ra sức giúp đỡ xây dựng lại quân ngụy và cũng để củng cố lại tinh thần sĩ quan và binh lính chúng, chủ yếu là giữ vững địa vị của Thiệu đang bị lung lay dữ dội, Mỹ thì mong ngụy trụ lại được một thời gian để có cái gì còn lại mà trả giá trong một cuộc đàm phán nếu có.




------------------------------------------------------------------
1. Chú thích của Frank Snepp: “Những ngày vừa qua, các luật gia của Nhà Trắng đã chuẩn bị một bản tường trình để báo cáo với Ford về cuộc tranh luận luật pháp xung quanh đạo luật quyền hạn chiến tranh. Ngoài các vấn đề khác, họ chỉ ra rằng khi đạo luật được thảo luận trong Ủy ban và ở hội trường Quốc hội, ngay cả những người đề xướng ra nó cũng đồng ý có thể sử dụng vũ lực để cứu những công dân Mỹ ở nước ngoài một cách khẩn cấp. Không có quyền hạn nào tốt hơn nên bây giờ Ford quyết định dùng điểm này để biện luận cho việc dùng lính thủy đánh bộ được túc trực trên tàu ngoài bờ Biển Đông”.

2.    Lời chú thích về 2 loại bom này của sĩ quan cao cấp CIA Mỹ Frank Snepp trong sách Khoảng cách thời gian vừa phải như sau: “Daisy Cutler là loại bom dùng để phá các cây trong rừng làm bãi đậu cho máy bay lên thẳng. Bom này nổ trên không ở địa điểm mục tiêu, dọn sạch một khoảng đất rộng tới một trăm thước vuông. Còn CBU là loại khủng khiếp hơn, nổ ở độ cao đã định trước, tạo ra một đám mây lỏng có đường kính đến 100m và dày đến hơn 2m. Gặp lửa, đám mây này tỏa ra một nhiệt lượng lớn và áp lực mạnh, thốc xuống mặt đất nặng tới hàng tấn trên một centimét vuông, có thể phá tan mọi thứ. Con người dù có thoát vòm lửa này, cũng vẫn bị chết ngạt sau tiếng nổ của trái bom, tạo ra một khoảng chân không lớn. Trong kho vũ khí của Mỹ, bọn CBU là một trong các loại sát thương tàn ác nhất, ngoài vũ khí hạt nhân”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #102 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 10:26:04 am »

    Tại Sở Chỉ huy của Miền, chúng tôi chăm chú theo dõi từng diễn biến của trận đánh. Các báo cáo ngày 9, 10/4/1975 có nhiều phấn khởi. Các mũi tiến triển tốt, ta chiếm được nhiều mục tiêu. Nhưng vào cuối ngày 10/4/1975 trở đi tình hình trở nên căng thẳng. Địch phản kích điên cuồng tuy chúng bị thiệt hại nặng. Máy bay địch đánh phá ác liệt có tính chất hủy diệt các mục tiêu chúng đã bị mất. Quân đoàn đã kêu thiếu đạn các loại, nhất là Sư đoàn 1 và 6, Sư đoàn 7 thì thiếu quân số vì đã chiến đấu liên tục trên đường 20 cho đến nay. Rồi báo cáo từng vị trí ta chiếm được phải bỏ lần lượt. Có vị trí thay đổi chủ vài lần. Số thương vong của Sư đoàn 1 cao hơn các đơn vị khác vì kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều ở chiến trường ác liệt. Tình hình rất gay go.

    Các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng và cả anh Lê Đức Thọ rất lo lắng khi thấy địch ngày càng tập trung thêm lực lượng và ta có vẻ chững lại, chiếm mục tiêu không nhanh gọn, hoặc bị đẩy lùi. Trận đánh quá ác liệt e rằng các đơn vị ta bị thương vong nặng trong thời điểm này không lợi. Vì vậy, các anh gợi ý có thể cho anh em rút ra khỏi thị xã và đánh diệt quân địch bên ngoài, tập trung diệt từng bộ phận. Tôi đề nghị cho tôi đến tận nơi, nắm rõ tình hình cụ thể tại chỗ và cùng anh chị nghiên cứu cách giành thắng lợi. Các anh đều đồng ý.

    Thế là chiều ngày 11/4/1975 tôi lên đường đến thẳng chỉ huy sở của Quân đoàn 4. Xe chúng tôi vượt sông Đồng Nai bằng phà tại bến Tà Lài và ra gặp đường 20 ở Phương Lâm. Chỉ huy sở Quân đoàn đóng trên bờ sông La Ngà, địa danh này đã đi vào lịch sử với trận thắng lớn La Ngà hồi 9 năm chống Pháp. Trận đánh hồi ấy do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ và đồng chí Bùi Cát Vũ chỉ huy. Bây giờ đồng chí Vũ lại là Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, khi gặp đồng chí trên bờ sông La Ngà tôi vui vẻ nhắc đồng chí hãy cố gắng làm nên chiến công La Ngà một lần nữa. Thực tình tôi tin tưởng như vậy.

    Sau khi nghe báo cáo kỹ tình hình diễn biến trận đánh, quan sát thực địa trên một số hướng, theo dõi hoạt động không quân và pháo binh địch, kiểm điểm lại tình hình quân địch và nắm chắc lại thực lực của ta, ngày 13/4/1975 chúng tôi bàn quyết tâm mới. Lần này Quân đoàn được tăng cường thêm Trung đoàn 95B vừa mới từ ngoài vào, 1 đại đội xe tăng, một số pháo và cao xạ, đồng thời đã gấp rút bổ sung quân số, đạn dược nên sức chiến đấu vẫn còn tốt. Quân địch hiện đang ra sức phản kích cố chiếm lại các vị trí đã mất hòng khôi phục lại toàn bộ thị xã Xuân Lộc, mật độ pháo cao và hoạt động không quân chủng rất lớn.

    Đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh - Tham mưu trưởng Quân đoàn phân tích gọn tình hình rồi đề nghị:

    Bỏ Long Khánh, toàn bộ lực lượng ta vòng qua diệt Trảng Bom rồi đánh chiếm luôn Biên Hòa.

    Đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn có ý kiến khác:

    Tiêu diệt Trung đoàn 52 ngụy ở ngã ba Dầu Giây và núi Thị. Sau đó đánh chiếm Xuân Lộc. Đánh Biên Hòa là khi hợp đồng chung với các hướng.

    Nhiều ý kiến đồng ý như đồng chí Hoàng Cầm, chỉ đề nghị sử dụng lực lượng có khác nhau.

    Sau khi nghe tất cả ý kiến, tôi đã phân tích một số điểm và kết luận dứt khoát:

    Xuân Lộc là điểm then chốt hết sức quan trọng trong tuyến phòng ngự của địch nên chúng đã tập trung nhiều lực lượng cố giữ. Hiện nay lực lượng chúng đã chiếm ưu thế so với ta. Ta cũng không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Vì vậy tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là không lợi.

    Ta có được con đường 20 cho đến Túc Trưng là rất có thể. Địch từ Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây (ngã ba đường 20 và đường 1) không mạnh. Ta phải tận dụng lợi thế này của đường 20 và sơ hở này của địch ở khu vực quanh Dầu Giây.

    Nếu ta chiếm ngã ba Dầu Giây và giữ vững luôn, điều này ta làm được vì địch ở đây yếu và bị bất ngờ, thì Xuân Lộc tự nhiên mất hết tác dụng của một cứ điểm then chốt vì nó nằm ngoài tuyến phòng thủ rồi. Còn Biên Hòa thì lập tức bị uy hiếp.

    Khi ta chiếm giữ Dầu Giây rồi thì địch ở Xuân Lộc sẽ bối rối hỗn loạn vì bị cắt đứt với hậu phương, bị bao vây cô lập, Quân đoàn 3 sẽ hoảng sợ vì kẹt lực lượng lớn bên ngoài tuyến phòng ngự còn bên trong tuyến thì yếu. Vậy chúng sẽ có 2 hành động. Một là tập trung sức đánh chiếm lại Dầu Giây từ 2 phía Xuân Lộc và Trảng Bom. Hai là rút chạy khỏi Xuân Lộc về Bà Rịa, Biên Hòa. Vì vậy, ta không được để lơi lỏng đối với lực lượng địch ở Xuân Lộc mà phải kèm kỹ và diệt khi chúng phản kích hay rối loạn rút chạy.

    Căn cứ vào những phân tích ấy, quyết định:

    - Trước tiên dùng 1 sư đoàn diệt Trung đoàn 52 ở Dầu Giây và núi Thị, một cao điểm khống chế ở đây, giải phóng rộng và chốt giữ cho được ngã ba Dầu Giây, một điểm trở thành trọng yếu cho ta cũng như cho địch. Chặn và diệt cho được quân địch từ Trảng Bom ra phản kích.

    - Lực lượng mạnh của Quân đoàn kèm chặt và diệt từng bộ phận địch ở Xuân Lộc chủ yếu là hướng giữa Xuân Lộc và ngã ba Dầu Giây để hỗ trợ cho chốt Dầu Giây.

    - Cho một lực lượng phục kích ở đường 2 sẵn sàng khóa đường, diệt địch rút chạy theo đường độc nhất này về Bà Rịa.

    - Bố trí hợp lý hỏa lực phòng không để đánh có kết quả máy bay địch, đồng thời trận địa pháo Hiếu Liêm cùng với Đoàn 113 khống chế cho có hiệu lực sân bay Biên Hòa. Chính từ đây máy bay địch trang bị bom có uy lực mạnh để cất cánh đánh ta.

    Tất cả mọi người đều nhất trí với phương án tác chiến này và khẩn trương chuẩn bị thực hiện theo quyết tâm cụ thể của Quân đoàn.

    Tôi chuyển qua bàn với Quân đoàn và Quân khu 7 về phương hướng tác chiến sau khi giải quyết xong Xuân Lộc: hành động của hướng Đông đánh vào Sài Gòn khi có lệnh thống nhất. Khi chúng tôi bàn vấn đề này, chưa tính đến lực lượng của ta do đồng chí Tấn chỉ huy đang tiến vào theo ven biển miền Trung. Chúng tôi vẫn theo kế hoạch tấn công Sài Gòn với lực lượng bản thân B2 hiện có.

    Tôi phân tích cặn kẽ: Thị xã Biên Hòa kết hợp với sân bay và chỉ huy sở Quân đoàn 3 ngụy có nhiều kiến trúc và công sự phức tạp. Địch sẽ dựa vào đây ra sức kháng cự ngăn chặn ta tiến về Sài Gòn. Xuân Lộc mất rồi thì Biên Hòa là điểm quan trọng nhất ở hướng này. Đánh vào đây là ta đánh vào nơi cứng nhất trên tuyến ngăn chặn của địch, sẽ không lợi và chậm. Hướng địch yếu và cũng là bất ngờ là theo đường 15 cặp sườn khu kho Long Bình lên gặp xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, và theo xa lộ thênh thang ấy mà nhanh chóng về chiếm mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập. Đánh theo hướng này, ta hành quân cơ giới có xe tăng dẫn đầu sẽ tiến triển rất nhanh và được chi viện tốt khi ta đặt được trận địa pháo 130 ly tại Nhơn Trạch. Trong lúc đó cho một bộ phận lực lượng kèm chân địch tại Biên Hòa rồi sẽ giải quyết về sau.

    Mọi người đều nhất trí với các phân tích trên đây. Tôi bàn luôn với các đồng chí về kế hoạch và quyết tâm: Sư đoàn 6 của Quân khu 7 quen thạo địa phương, được tăng cường pháo và xe tăng, bí mật hành quân, bất ngờ giải phóng một đoạn trên đường 15, chọc qua tỉnh lộ 19 chạy quanh lòng chảo Nhơn Trạch, nhanh chóng giải phóng Nhơn Trạch, đặt cho được trận địa pháo 130 ly tại đây. Từ trận địa pháo này, trước khi có lệnh thống nhất tấn công vào Sài Gòn thì bắn khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Khi các hướng tiến vào nội đô thì không được bắn vào các mục tiêu trong nội thành nữa mà chi viện đắc lực cho cánh quân phía đông.

    Để hợp đồng ở hướng này, dùng Đoàn 10 đặc công khóa chặt sông Lòng Tàu không để bất cứ sự lưu thông ra vào nào được tiến hành và một bộ phận lực lượng vượt sông Đồng Nai kết hợp với địa phương vào giải phóng Quận 9 Sài Gòn.

    Sư đoàn 1 có trách nhiệm kìm giữ và diệt địch ở Biên Hòa, giữ sườn phải cho Quân đoàn.

    Lực lượng chủ yếu của Quân đoàn, Sư đoàn 7, có Trung đoàn 95B làm dự bị vòng qua Biên Hòa tiến lên đường 15 rồi theo xa lộ đánh thẳng về Sài Gòn chiếm cho được Dinh Độc Lập là mục tiêu chính của Quân đoàn.

    Các đồng chí trong Quân đoàn đều tán thành và phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi. Các đồng chí Lê Văn Ngọc - Quyền Tư lệnh Quân khu 7 và Đặng Ngọc Sĩ - Phó Tư lệnh kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 6 hăng hái nhận cả nhiệm vụ diệt Trung đoàn 52, chiếm và chốt ngã ba Dầu Giây trước mắt và sau này chiếm Nhơn Trạch, đặt trận địa pháo 130 ly quan trọng khống chế sân bay Tân Sơn Nhất và chi viện cho Quân đoàn tiến về Sài Gòn.

    Chúng tôi chia tay nhau trong niềm tin chiến thắng. Đoàn tôi gấp rút trở về trong lúc các đồng chí thì người nào việc nấy khẩn trương triển khai trận tác chiến có giá trị lớn lao này. Trong lúc đó quân ngụy hút vào Xuân Lộc, cố xây dựng một chiến thắng Xuân Lộc “nổi tiếng thế giới”, không hề biết rằng chúng lại sắp thành bầy “chuột mắc bẫy”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #103 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 10:28:09 am »

*
*      *


    Trong những ngày giữa tháng 4 này, mọi người chúng tôi đều sốt ruột theo dõi từng bước hành quân của Quân đoàn 3, Quân đoàn 1, các đơn vị binh chủng vào tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Các đoàn cán bộ được phái đi hướng dẫn các hướng. Mỗi đơn vị có đường hành quân khác nhau, ngày lên đường khác nhau. Quân đoàn 1 xuất phát từ bờ sông Hồng. Quân đoàn 3 thì có sư đoàn từ Tây Nguyên lại có sư đoàn từ ven biển quặt lên theo đường 11 đi Đà Lạt rồi theo đường 20 vào. Còn Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 của Quân khu 3 thì vừa hành quân vừa tác chiến dọc ven biển. Có đơn vị vào tới thì đạn dược chưa tới, có xe tăng đến nơi nhưng xăng dầu hết, đạn pháo chỉ còn 1, 2 viên, cần phải bổ sung chấn chỉnh. Cán bộ tham mưu và hậu cần vùi đầu với công việc. Mỗi người làm việc gấp mấy lần ngày thường, không kể ngày hay đêm. Tinh thần phơi phới, sức lực như được tăng lên bội phần, công việc được giải quyết sáng suốt và nhanh chóng.

    Trừ cánh quân ven biển, mỗi quân đoàn đều có đoàn cán bộ phái đi trước do đồng chí Tư lệnh Quân đoàn dẫn đầu đến Chỉ huy sở chiến dịch nhận nhiệm vụ. Đoàn phái đi nghiên cứu trước nơi tập kết quân, tuyến xuất phát tấn công của đơn vị mình phải chiếm lĩnh, đơn vị địch mà mình phải diệt, tìm hiểu đường tiến quân, địa hình, mục tiêu chủ yếu mà đơn vị phụ trách. Rồi lại tổ chức hợp đồng giữa các hướng, các cánh, giữa các binh chủng, giữa chủ lực và địa phương... Các cán bộ tham mưu của Miền do đồng chí Đồng Văn Cống chỉ huy và phân phối cùng với Đoàn A.75 do đồng chí Lê Ngọc Hiền điều khiển đã trao đổi mọi chi tiết của kế hoạch tác chiến, trả lời mọi câu hỏi cho các đoàn một cách cặn kẽ. Đồng chí Trần Văn Danh thì tổ chức hợp đồng giữa các quân đoàn, các hướng với các cánh đặc công biệt động, bàn giao cho từng quân đoàn, từng sư đoàn thọc sâu, cán bộ và đơn vị đặc công biệt động hướng dẫn đường tấn công, mục tiêu phải tấn công. Mọi người đều cố làm hết sức mình, đóng góp tất cả những hiểu biết của mình để góp phần vào thắng lợi.

    Do tình hình cần thiết và các quân đoàn đã lần lượt vào chiến trường nên Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy chiến dịch có anh Sáu Thọ tham gia đã quyết định nên chờ các quân đoàn vào đủ để ta có ưu thế tuyệt đối hơn địch, đánh trận chắc thắng và nhanh mạnh vào hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy, giữ vẹn toàn cho thành phố. Quyết định này được Bộ Chính trị đồng ý.

    Chúng tôi lo hoàn chỉnh lại kế hoạch chiến dịch, trên cơ sở của kế hoạch đánh vào Sài Gòn với lực lượng bản thân mà Bộ Tư lệnh B2 đã vạch, được Trung ương Cục thông qua và các anh Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ đã xem xét đồng ý trước đây, trên cơ sở các lực lượng đã triển khai sẵn ở các hướng, tránh những điều động xáo trộn không cần thiết mất thì giờ; với tinh thần là lực lượng B2 quen thạo chiến trường phải đảm nhận các hướng mà địa hình phức tạp và có nhiều khó khăn; cần phải đánh những hướng gần nhất cho lực lượng từ xa đến kịp thì giờ triển khai. Kế hoạch đã điều chỉnh bố trí và phân công các lực lượng như sau:

    Hướng Tây Bắc xuất phát từ Củ Chi, Bến Cát đánh vào Sư đoàn 25 ngụy, theo trục đường 1 là chính, chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất do Quân đoàn 4 đảm nhiệm. Trước đây dự định Sư đoàn 9, Trung đoàn 16 và 271B chịu trách nhiệm đánh hướng này thì nay các đơn vị này chuyển qua tăng cường cho Đoàn 232.

    Đoàn 232 như kế hoạch cũ đánh theo hướng Tây, lấy trục đường 10 làm chính và mục tiêu cần chiếm là biệt khu thủ đô - Trung đoàn 271B chuyển xuống hướng Nam.

    Hướng Nam vẫn là Trung đoàn 88 và Trung đoàn 24 nay được tăng cường Trung đoàn 271B, do Quân khu 8 chịu trách nhiệm tổ chức và Quân khu chỉ định Bộ Chỉ huy hướng này là đồng chí Ba Thắng tức Thiếu tướng Võ Văn Thạnh làm Tư lệnh, đồng chí Tư Thân tức Thiếu tướng Huỳnh Văn Mến làm Phó Tư lệnh và đồng chí Chín Phẩm - Thường vụ Khu ủy Khu 8 làm Chính ủy. Từ Long An lại được tăng cường đồng chí Tư Chiểu, Tỉnh đội trưởng, làm Chỉ huy phó cho cánh. Trục đường chính của hướng này là đường 5 từ Cần Giuộc tiến lên và mục tiêu chủ yếu là Tổng nha Cảnh sát.

    Đồng chí Lê Đức Anh - Phó Tư lệnh Miền và là Phó Chỉ huy chiến dịch và đồng chí Lê Văn Tưởng, Phó Chính ủy Miền được chỉ định trực tiếp chỉ huy thống nhất cả hướng Tây và Nam.

    Hướng Bắc đánh vào Sư đoàn 5 và theo trục đường 13 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy do Quân đoàn 1 đảm nhận - Trung đoàn Gia Định phụ trách ở vùng ven hướng này.

    Hướng Đông trước chỉ Quân đoàn 4 chịu trách nhiệm, nay được tăng thêm Quân đoàn 2 thiếu và Sư đoàn 3 Quân khu 5. Đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Chỉ huy chiến dịch được chỉ định trực tiếp chỉ huy cả 2 quân đoàn và hạ quyết tâm cụ thể lại cho hướng này.

    Như vậy là cả 5 hướng đều được tăng cường lực lượng rất mạnh cả bộ binh và các binh chủng, trừ công binh thiếu nhiều về đơn vị và phương tiện, đặc biệt là phương tiện vượt sông. Riêng cả hướng Đông, Tây và Nam được tăng cường chỉ huy mạnh vì gồm nhiều lực lượng và có nhiều phức tạp.

    Chỉ huy sở tiền phương của chiến dịch nằm trên khu vực Ván Tám tây nam Chơn Thành, bắc Bến Cát, ngay sau đội hình Quân đoàn 3 mà Bộ Tham mưu Miền đã bố trí trước.

    Ngày 18/4, đồng chí Sáu Thọ, đại diện Bộ Chính trị đã cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch duyệt lại lần cuối cùng quyết tâm chiến dịch. Tất cả đều nhất trí cao là thực hiện đúng phương châm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đề ra là “Thần tốc - Táo bạo - Bất ngờ - Chắc thắng”. Với riêng chủ lực, ưu thế của ta đã gấp ba lần so với địch về số lượng và gấp nhiều lần về chất lượng. Ta phải bố trí có lực lượng tiêu diệt quân địch phòng thủ bên ngoài đồng thời cùng lúc có lực lượng mạnh thọc thẳng nhanh vào mục tiêu chủ yếu bên trong. Phái đánh nhanh, mạnh từ ngoài vào kết hợp chặt với tấn công và nổi dậy từ bên trong để địch không kịp trở tay, không kịp phá hoại, bộ đội kết hợp với lực lượng cách mạng quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh ngay mọi cơ sở, mọi phố phường trong toàn thành trong một thời gian ngắn nhất. Đây là nội dung và ý nghĩa của thần tốc. Quyết tâm quy định 5 cánh quân phải hợp đồng chiến đấu chặt chẽ, 5 mục tiêu chủ yếu phân chia cho 5 cánh phải được chiếm gần như cùng một thời gian nhưng lấy mục tiêu Dinh Độc Lập làm mục tiêu trung tâm cuối cùng, cánh nào đã chiếm xong mục tiêu chủ yếu của mình rồi thì phải tiến ngay về Dinh Độc Lập. Nếu chưa có lực lượng nào chiếm thì phải đánh chiếm và treo cờ chiến thắng của ta lên, nếu đã có lực lượng ta chiếm rồi thì lui ngay về dải tấn công của mình.

    Ngày N tấn công vào Sài Gòn chủ yếu dựa vào việc Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1 đã đến nơi phần lớn chưa. Trước đây trong Điện số 07, anh Ba đã chỉ đạo: “Tôi đã bàn với anh Văn, nhận thấy cần chuẩn bị thêm mấy ngày nữa, đến khi phần lớn lực lượng của Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1 (cả bộ binh và binh khí kỹ thuật) đến nơi sẽ bắt đầu cuộc tấn công lớn, chưa nên làm ngay bây giờ”. Căn cứ vào chỉ đạo này chúng tôi một mặt theo dõi từng giờ, từng ngày cuộc hành quân của từng đơn vị thuộc các quân đoàn, nhất là Quân đoàn 1 do đường hành quân xa nhất. Mặt khác, chúng tôi đã phái từng đoàn cán bộ tham mưu hậu cần, túc trực ở các nơi tập kết để giúp các quân đoàn kiểm điểm thực lực, chấn chỉnh tổ chức, bổ sung đạn dược, hậu cần. Công binh Miền phải chuẩn bị sẵn các ngầm Bến Bầu qua Sông Bé ở tây bắc Tân Uyên cho Quân đoàn 1, đảm bảo qua cầu Nha Bích đã bị sập và sông Sài Gòn cho Quân đoàn 3... Thật là chạy đua không kịp với thời gian. Tình hình chung thúc đẩy, cấp trên cũng thúc đẩy. Ngày 22/4, anh Ba đã điện có đoạn:

    “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày kịp thời phát động tấn công địch trên các hướng không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn.

    Các anh ra chỉ thị ngay cho các hướng hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng, sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động.

    Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng”.

    Đó là lúc mà toàn bộ quân địch đã bị tiêu diệt, tan rã và rút chạy khỏi Xuân Lộc và Thiệu đã buộc phải từ chức Tổng thống ngụy quyền.

    Đêm 13 rạng ngày 14/4, theo quyết tâm mới của Quân đoàn 4, Sư đoàn 6 đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn của Trung đoàn 52 thuộc Sư đoàn 18 và một chi đoàn thiết giáp giải phóng ngã ba Dầu Giây. Tiếp theo hôm sau đã chiếm núi Thị, chiếm Túc Trưng, Kiệm Tân, những điểm cuối cùng trên đường 20, diệt nốt toàn bộ Trung đoàn 52. Sư đoàn 6 chuyển qua bố trí phòng thủ vững chắc khu vực quan trọng này và đánh diệt quân địch phản kích liên tục từ Trảng Bom ra. Các sư đoàn 7 và 1 của Quân đoàn 4 cũng lần lượt tiêu diệt từng bộ phận của lực lượng địch ở Xuân Lộc thuộc Trung đoàn 48, lữ dù và thiết giáp.

    Không chiếm lại nổi ngã ba Dầu Giây lại mất toàn bộ đường 20, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu mà lại không còn mấy lực lượng để phòng giữ. Ngày 18/4, Quân đoàn 3 ngụy đã phải dùng trực thăng bốc một số lực lượng từ Xuân Lộc về Biên Hòa - Trảng Bom để củng cố tuyến phòng thủ mới và ngày 20/4 thì tàn quân còn lại rút chạy khỏi Xuân Lộc theo đường 2 qua Bà Rịa về Biên Hòa. Ta chỉ tiêu diệt một bộ phận của quân rút chạy vì đơn vị của ta do Bộ Chỉ huy Quân sự Bà Rịa chịu trách nhiệm khóa đường 2, đã sơ hở không kịp chặn lại từ đầu.

    Frank Snepp trong sách đã dẫn kể lại:

    “...Rạng ngày 21 các tuyến phòng thủ cuối cùng của chính phủ tại Xuân Lộc sụp đổ. Bốn tiểu đoàn còn sống sót của Sư đoàn 18 quân đội Việt Nam Cộng hòa với viên tư lệnh, tướng Đảo, được kéo chạy khỏi thành phố đổ nát bằng máy bay lên thẳng.

    Cùng ngày 21, buổi trưa Thiệu triệu tập cựu Thủ tướng Khiêm và Phó Tổng thống Hương đến văn phòng và buồn rầu nói với họ là ông ta từ chức. Thiệu nói:

    “Vì tình hình quân sự, ông ta diễn tả là “tuyệt vọng” (Khiêm và Hương đồng ý), mà ông ta cứ tiếp tục tại chức thì không có mục đích gì cả và việc này chỉ cản trở một giải pháp mà thôi”. Chiều tối hôm đó Thiệu tuyên bố từ chức và giao quyền cho Phó Tổng thống Hương. Trong lễ tuyên thệ nhậm chức của mình, Trần Văn Hương, 71 tuổi, bệnh thấp khớp và gần bị mù, đã hứa sẽ giữ vững cho đến khi “quân đội chết hết hoặc đất nước bị mất”.

    “Các nhà thông thái ở tòa Đại sứ Mỹ cười khẩy các tuyên bố cứng rắn này: Họ cho “đây chỉ là cả vú lấp miệng Kỳ và cánh hữu để giữ họ đừng có nhảy vào...”.

    “Vài tháng sau ông ta (Thiệu) đã nói với một người bạn ở Đài Loan rằng: “Vâng, việc quyết định thời gian của tôi vừa đúng. Tôi đã đợi con bệnh cho đến khi anh ta liệt giường. Không ai có thể vượt tôi trong các việc tôi đã làm cho đất nước mình”.

    Đúng là khẩu khí và tư tưởng của một tổng thống ngụy quyền.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #104 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 10:35:15 am »

*
*      *


    Trong lúc chờ đợi lực lượng Quân đoàn 3 và 1 vào tới thì chúng tôi lo điều khiển cho ăn khớp cánh quân của Quân khu 8 đánh từ hướng Nam vào Sài Gòn. Như trên đã nói, hướng này là hướng khó khăn nhất vì địa hình rất phức tạp, căn cứ bàn đạp ta lại rất xa, đường hành quân đi bộ phải qua các vùng địch chiếm đóng lâu ngày. Có những đoạn phải hành quân bí mật ban đêm. Có những đoạn phải diệt cho được đồn bót địch, diệt quân địch phản kích để tiến đến ven Sài Gòn. Con đường dài nhưng đều qua các vùng dân cư đông đúc mà ở đó cơ sở cách mạng không phải chỗ nào cũng đông hơn gia đình binh sĩ ngụy, chưa được giác ngộ. Đây là một cuộc hành quân vừa đánh vừa đi, mở đường mà tiến. Phải giỏi vận động quần chúng, phải biết cách làm binh vận. Những sơ hở có thể làm thất bại ngay cuộc hành quân, chưa nói đến việc tham gia tấn công Sài Gòn. Tính toán thì giờ không chính xác, bố trí trận đánh không chắc thắng đều có thể làm vỡ kế hoạch, muộn ngày N tấn công. Còn nếu sớm quá thì lộ ý đồ chung, hại cho cả chiến dịch.

    Cân nhắc kỹ lưỡng, tuần đầu tháng 4 chúng tôi đã ra lệnh cho Quân khu triển khai cánh quân này rồi. Quân khu đã nhận nhiệm vụ từ tháng 2, chuẩn bị sẵn tổ chức, chỉ huy, lực lượng và kế hoạch nhưng vẫn giữ bí mật đến khi có lệnh trên.

    Tôi xin được phép trích vào đây một ít trang nhật ký của đồng chí Trần Hàm Ninh - trợ lý tác chiến của đồng chí Ba Thắng, tức Thiếu tướng Võ Văn Thạnh, Chỉ huy trưởng cánh này.

    Qua những dòng ngắn gọn của mấy trang nhật ký, tuy chưa tả rõ nổi nhưng cũng giúp ta có thể hình dung được phần nào cách tổ chức và thực hiện một hướng tấn công nhỏ của Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nói nhỏ vì hướng Nam này ta buộc phải sử dụng lực lượng nhỏ hơn các hướng khác: chỉ 3 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh nhẹ chính thức trong đội hình của cánh. Không có xe tăng thiết giáp rầm rầm rộ rộ, cũng không có pháo to, cao xạ lớn. Nói đơn vị chính thức trong đội hình cánh vì còn bao nhiêu đơn vị khác, tổ chức khác, kể cả nhân dân không tham gia vào cánh nhưng giúp khá nhiều cho thành công của cánh. Các lực lượng hướng này để mở đường hành quân đã phải diệt 45 đồn bót địch, giải phóng 12 xã, đánh diệt địch bên ngoài và chọc thẳng vào trung tâm thành phố, chiếm lĩnh đúng thời gian quy định một trong 5 mục tiêu chủ yếu nhất để đồng hành đánh ngã quân thù một cách thần tốc. Mục tiêu chủ yếu phải đập tan và chiếm lấy là cơ quan cầm đầu cảnh sát, lực lượng phòng thủ trong cùng và là lực lượng đề phòng và dập tắt nổi dậy của nhân dân, một vế trong chiến lược tổng tấn công và nổi dậy của ta.

    Đồng chí Trần Hàm Ninh ghi:

    . Ngày 06/4/1975:

    23 giờ 30 phút, cả nhà đã ngủ. Tại sao tôi trăn trở mãi mà chưa ngủ được.

    Từ phía ngoài ruộng có ánh đèn pin đi vào. Tôi ngồi dậy, vặn đèn lên. Đồng chí liên lạc bên cơ yếu đến. Lúc đó đã 12 giờ khuya.

    Điện gì mà gấp thế?

    Điện ZN.

    Em về nghe anh Sáu (tức Ninh).

    Tôi xé bao thơ, rút bức điện ra, lướt nhanh trên tờ giấy. Nhiều quy ước quá. Cuối bức điện ký tên Bảy Hồng(Phạm Hùng), Tư Nguyễn (Trần Văn Trà). Chỉ bấy nhiêu đó cũng biết được tầm quan trọng của bức điện này.

    Đẩy cái đèn vào một góc để ánh sáng bớt tỏa ra ngoài. Mở các chỗ quy ước.

    - Lại có 1 sự thay đổi lớn.

    Tôi bấm đèn pin đi lại chỗ anh Hai Phát (Trưởng Phòng tác chiến) ngủ, khẽ lay anh dậy.

    - Điện thay đổi nhiệm vụ.

    Chỉ bấy nhiêu tiếng cũng làm anh bật ngồi dậy, chui ra khỏi mùng. Sau khi đọc đi đọc lại bức điện mấy lượt, anh vội xách đèn pin đi ngay vào Bộ Chỉ huy. Lúc ấy là 1 giờ sáng.

    . Ngày 09/4/1975:

    Lại từ giã vùng 20/7 thân yêu (vùng thuộc 2 huyện Cái Bè và Cai Lậy của tỉnh Mỹ Tho, nằm giữa lộ 4 và sông Cửu Long) không biết đây là lần thứ mấy. Nhưng sao lần này thấy lưu luyến quá. Mới tuần trước đã có lần từ giã. Nhưng sau mấy ngày lại trở lại. Hôm nay đi, bao giờ trở lại? Chưa biết được. Túi hột giống (rau, cải) gửi lại anh Ba Lạc.

    Ngồi trên xuồng đi ngang căn cứ Mỹ Long. Một tiểu đoàn địch vừa bỏ chạy cách đây 2 ngày. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh bay phấp phới trông đẹp quá. Dòng nước vẫn lặng lờ trôi, hình như không cần biết là ở một góc căn cứ này còn lại xác một tên lính đánh thuê.     Đến Nhị Quý mặt trời chưa lặn. Du kích bao vây bót Bờ Keo nên pháo cối địch bắn lung tung. Bộ binh địch trên lộ 4 chưa rút. Chưa qua lộ được. 21 giờ bắt liên lạc được với tỉnh đội. Tổ chức qua lộ. Như vậy là xa vùng 20/7. 12 giờ khuya, chỗ ăn, chỗ ở tạm đủ.

    . Ngày 10/4/1975:

    Tân Hội, một mảnh đất kiên cường. Căn cứ bất khả xâm phạm của Tỉnh đội Mỹ Tho. Hôm nay trong Ban Chỉ huy chỉ còn anh Tám Công ở nhà. Chỉ huy 2 tiểu đoàn hẹn gặp Bộ Chỉ huy đã ở đây, chờ mãi chỉ gặp Tham mưu trưởng E2.

    15 giờ lên đường qua Tam Hiệp, đến Tam Hiệp gặp E3 (E88) các anh đã sẵn sàng.

    19 giờ lại vượt qua lộ 4. Bên phải là ngã ba Trung Lương, bên trái là cầu Bến Chùa. Trong lòng dân, đoàn quân vượt qua lộ an toàn.

    Qua vùng Bảo Định, gặp người quen. Không nói gì được vì đoàn quân lại tiếp tục tiến lên. Còn bạn quen, nhiệm vụ ở lại bám giữ đất này. Đi bên ngoài hè của nhiều ngôi nhà. Trong nhà hoàn toàn im lặng. Nhưng chắc chắn rằng những người mẹ, người chị, người em trong ấy không thể nào ngủ được. Bởi vì những bàn chân, tuy đi rất nhẹ nhàng, vẫn dội vào tận đáy lòng. Tất cả nằm đó mà trăn trở, mà nhớ thương.

    Do hợp đồng không chặt, cả đoàn đi xuống Lương Hòa lạc không gặp ai hết. Quá khuya tạm ngủ lại dưới mấy gốc cây keo.

    . Ngày 11/4/1975:

    Sáng sớm dậy, trở lên Song Bình gặp tất cả ở đấy.

    Báo về J10 (Bộ Chỉ huy Quân khu 8 ) báo lên Đoàn 232, Bộ Chỉ huy cánh Nam đã đến nơi an toàn. Chiều tối Bộ Chỉ huy vượt lộ Ông Văn, dời xuống Quơn Long (Chợ Gạo). Đến nơi tìm chỗ đất bằng để trải tấm nilông ngủ thật là khó. Nhưng không sao mọi việc rồi đâu cũng vào đó.

    . Ngày 12/4/1975:

    Quơn Long, hết một ngày rồi mà tình hình hành quân của E3, E4 (tức Trung đoàn 24) vẫn chưa nắm được. Vị trí dừng chân và tình hình hoạt động của E3 cũng không nắm được. Sốt ruột chờ đợi.

    Báo cáo quyết tâm của cánh Nam về R, Đoàn 232 và J10: quyết tâm mở đường và lên vị trí tập kết đúng thời gian quy định.

    . Ngày 13/4/1975:

    Đoàn cán bộ của E2, E4 đến. Nhưng vị trí dừng chân của E3 và anh Tư Thân vẫn chưa nắm được.

    2 tiểu đoàn Mỹ Tho hoạt động mạnh ở kênh Chợ Gạo. Địch đối phó quyết liệt. Chúng bị thu hút vào đây để ta được yên.

    Đêm nay hướng Đoàn (Sư đoàn 5) nổ súng. Bạn nổ súng - ta sẽ thuận lợi hơn.

    Đôn đốc E3 cố gắng đêm 14/4 nổ súng vào Tân Trụ.

    . Ngày 14/4/1975:

    Do hợp đồng không chặt, đoàn cán bộ E4 đã đến Rạch Tràm không có người đón, không vượt lộ 21 được phải trở lại Quơn Long.

    E2 được lệnh trở lại, có sự thay đổi sử dụng lực lượng. Ai thay E2 vào đội hình cánh Nam?

    Tiểu đoàn 279 diệt đồn Ông Bái, mở rộng đường đi.

    Toàn bộ E4 đến.

    Đoàn anh Hai Phát đến. Như vậy cơ quan chỉ huy của cánh đến hôm nay mới tập hợp được. Về lực lượng hôm nay đã có được 2E và 3D (tức 3 tiểu đoàn). Còn D10, D14 và một E nữa (E nào?) chừng nào mới tới.

    . Ngày 15/4/1975:

    Hôm nay rời Quơn Long. 17 giờ ra đồng. Sắp xếp đội hình và thời gian hành quân.

    Rời Quơn Long. Sình lầy quá, tưởng không xiết. Nào ngờ sình nước lên quá bụng. Lần theo những bụi lá dừa nước đi ra Rạch Tràm. Qua lộ 21 xong thì đã gần đến 24 giờ. Không có ghe qua sông Vàm Cỏ Tây. Nằm ngoài đồng chờ. Kế kia là bót Thuận Mỹ. Xa hơn một chút là Thanh Vĩnh Đông. Bên kia sông là Chợ Dinh. Gần quá. Thế mà đã 15 năm rồi chưa đi tới. Hôm nay mới gần tới thôi. Nhớ thương quá. Mẹ đã ra đi và nằm bên đó. Anh làm tròn nhiệm vụ hồi kháng chiến chống Pháp. Em mới hy sinh hồi năm kia. Còn một mình và ba. Không! Còn cả một dân tộc.

    . Ngày 16/4/1975:

    Nhựt Ninh, 4 giờ sáng mới qua sông được. Đến chỗ nghỉ thì mặt trời đã mọc. Quần áo bùn sình bê bết. Bộ đội đi lại coi sao thanh bình quá.

    . Ngày 22/4/1975:

    Sở Chỉ huy vẫn ở Tân Phước. Thiệu đã từ chức.

    Bộ Chỉ huy có điện số 72ZN gửi E3 - E4 chỉ đạo vừa đẩy mạnh tiến công vừa làm tốt công tác binh địch vận. E3 phát triển thuận lợi ở Cần Giuộc (diệt 4 đồn), E4 cũng diệt được 4 đồn ở Cần Đước.

    Các mặt đảm bảo hậu cần gặp khó khăn một tuần rồi. Việc chuyển hàng cho phía trước quá ít. Trong ngày Bộ Chỉ huy cánh đã có 5 điện ZN về công tác hậu cần.

    Sở Chỉ huy đã liên lạc với anh Tư Chiểu (Tỉnh đội trưởng Long An, chỉ huy phó cánh Nam) qua E3.

    . Ngày 23/4/1975:

    Vàm Rạch Cá (Tân Phước). Bộ Chỉ huy giao nhiệm vụ cho E4: “Hướng phát triển của E là Phước Hậu, Long Thượng (Cần Giuộc, giáp Bình Chánh), để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu”. Về mặt hậu cần rất khó khăn. Được biết J10 cũng gặp khó khăn, nhưng để bảo đảm cho thắng lợi, đề nghị J10 (anh Ba Đào) cho anh Năm Trị hoặc Ba Thi sang thay anh Ba Cảnh (không hoàn thành nhiệm vụ) và đề nghị J10 thông báo tình hình cho J50 (Bộ Chỉ huy cánh Nam) biết.

    Trong ngày E4 đã giải phóng Long Cang (Cần Đước) và đang vây đánh D2/E42.

    Anh Tư Thân đã đi 232.

    Báo cáo tình hình của cánh Nam về R, 232, J10.

    . Ngày 24/4/1975:

    Các đơn vị tạm ngưng mở nhanh..., củng cố tại chỗ, báo cáo về R, 232 và J10 vị trí đứng chặn của các E và D.

    Quân bổ sung cho J50 chưa thấy. Đề nghị anh Ba Đào (J10) đôn đốc.

    Đề nghị anh Tư Chiểu và E3 cho một cán bộ của Cần Giuộc về đón Sở Chỉ huy.

    Bộ Chỉ huy hỏi anh Tư Chiểu đã liên lạc được Huyện ủy và Huyện đội Nhà Bè và Bình Chánh chưa?

    Theo lệnh của R, anh Ba Thắng phải đến 232 nhận nhiệm vụ. Điện cho Long An liên lạc tại lộ 4 (Bình Đức). 18 giờ lội qua sông Nhật Tảo, sình lầy và muỗi, bù mắt cắn quá.

    Ra gần lộ 4, lúa đã gặt xong, ruộng khô, cảm thấy dễ chịu quá. Nằm chờ đến 22 giờ, tình hình động nên không liên lạc được với Long An. Phải trở lại sở chỉ huy.

    . Ngày 25/4/1975:

    Long Sơn. Đồng khô, lúa đã gặt xong.

    Nhận được điện 111ZN của 232 về ngày N của chiến dịch. Lặp lại ngày N. Ngày chờ đợi đã đến.

    Chỉ đạo E3 kết hợp thật tốt giữa tác chiến và binh địch vận trong tình hình hiện tại. Bộ Chỉ huy đồng ý là D4/E4 ở lại, E3 mở Long Thượng.

    Điện hợp đồng với anh Tư Chiểu và Bốn Độ (E3) đón Sở Chỉ huy tại khu vực Chợ Mỹ. D1 Long An đã đánh sập cầu Rạch Đào.

    . Ngày 26/4/1975:

    Long Sơn. Điện đi từ ngày nay, lấy lại từ số 01. Điện 0lZN là điện gửi 232 lập lại ngày N lần thứ 2 (trả lời điện 44ZN của 232).

    Báo cáo về R, 232 và J10, việc đi họp gặp trở ngại, đề nghị 232 thông báo nhiệm vụ bằng điện. Cả anh Tư Thân cũng không đi được.

    Nhận điện số 45ZN của anh Sáu Nam (232) giao nhiệm vụ cho cánh. Cánh hạ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

    Vẫn chưa liên lạc được với Nhà Bè và Cần Giuộc.

    Bộ Chỉ huy nhắc anh Phong ET/E271B nên tổ chức một khối hành quân vì thời gian gấp rút.

    Nhắc anh Năm Nghi cho D1 Long An chốt giữ bắc Chợ Đào 1km để bảo đảm cho Sở Chỉ huy hành quân.

    18 giờ, Sở Chỉ huy rời Long Sơn lên hướng Cần Giuộc. Hành quân giữa lòng dân. Đại bộ phận đồng bào ở nguyên.

    22 giờ đến Phước Lâm (Cần Giuộc).

    23 giờ Bộ Chỉ huy cánh Nam họp, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của E3, kiểm điểm ưu, khuyết. Có anh Tư Đỏ (E trưởng) và Năm Tư (chính ủy) E3 dự.

    Nhận xét: hoàn thành nhiệm vụ mở được hành lang tiến quân, chuẩn bị nhanh đánh nhanh.

    Nhấn mạnh: - Giáo dục quan điểm quần chúng cho đơn vị: chiến đấu vì nhân dân, bảo vệ dân, giải phóng dân, phát động quần chúng tham gia cách mạng, làm hầm cho dân tránh đạn.

    - Chú ý hơn công tác binh, địch vận.

    . Ngày 27/4/1975:

    Phước Lâm.

    Đề nghị 232 và R cho liên lạc với E17 (đặc công).

    7 giờ 30’ Bộ Chỉ huy cánh Nam họp bàn kế hoạch tấn công và sắp xếp tổ chức. Nhận điện số 53ZN của 232 cho biết:

    - 232 đã chỉ đạo cho anh Năm Mân (Thành đội Sài Gòn) cho Bình Chánh và Nhà Bè liên lạc với cánh Nam.

    - Hiện có 1D/E429 (Chín Mây) ở khu vực cầu Nhị Thiên Đường.

    9 giờ 20 phút Bộ Chỉ huy cánh giao nhiệm vụ cho E4 do đồng chí Ba Thuyên ET, Hai Vấn, Chính ủy E nhận:

    - Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố Sài Gòn.

    - Mục tiêu chủ yếu: Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia.

    - Thời gian:
    Đêm 27/4 - tiền trạm lên Bình Đăng;
    Đêm 28/4 - toàn E lên Bình Đăng;
    Đêm 29/4 - hành quân chiếm lĩnh, tấn công.

    - Chỉ huy sở Bộ Chỉ huy cánh Nam: Nam Cầu Mật. Quân y triển khai gần chỉ huy sở.

    - Từ 27/4 trở đi E4 hành quân không nổ súng cho đến khi tấn công, D1 Long An là dự bị của E.

    - Các mục tiêu của E3 là tấn công Qui Đức, Hưng Long, Phong Đước, Bình Đăng.

    - Khẩu hiệu:
    Hỏi: Hồ Chí Minh
    Đáp: Muôn năm

    - Mật hiệu:
    - Mang cờ giải phóng
    - Mang băng đỏ ở tay trái.

    . Ngày 28/4/1975:

    E271B hành quân đến đâu Bộ Chỉ huy vẫn chưa biết, kể ra một E mới xuống đồng bằng mà hành quân kiểu này cũng khó khăn thật. Bộ Chỉ huy một mặt điện cho E271B một mặt điện cho J10 đề nghị cho biết về E271B.

    Điện báo cáo J10 và 232 biết là hàng còn lại rất ít, đề nghị chi viện.

    Đã cử người liên lạc với anh Chín Mây.

    Đêm, Sở Chỉ huy từ Phước Lâm - Thuận Thành cùng các đơn vị hành quân vượt qua sông Quán Cơm, tiến về Hưng Long. Lặn lội suốt đêm mới đến, triển khai công sự xong, trời đã sáng tỏ.

    . Ngày 29/4/1975:

    Hưng Long. Quần chúng nhân dân sau một đêm, sáng dậy thấy bộ đội giải phóng ở khắp nơi, phấn khởi vô cùng. Có một mẹ già ra đồng đào moi lên một lá cờ đỏ sao vàng không biết má chôn giấu đã từ bao giờ mà lá cờ còn mới quá.

    Điện số 15ZN gửi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương, báo cáo Sở Chỉ huy cánh Nam, E4, E3, D10 đã đến Hưng Long trong đêm 28/4. E4 sẽ chiếm Quận 8 (Cầu Chữ Y), E3 chiếm lộ 5. Bộ Chỉ huy cánh sử dụng cả 2D của Long An.

    Bộ Chỉ huy điện cho E271B: “Thời gian thực hiện nhiệm vụ đã đến, cho hành quân thần tốc”.

    Điện số 16ZN gửi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo sử dụng 1D/E3 tấn công phân chi khu Hưng Long.

    Bộ Chỉ huy họp bàn kế hoạch tấn công, anh Tư Chiểu báo cáo tình hình địa hình đông lộ 5, tình hình ta, địch khu vực Bình Chánh, Nhà Bè.

    Ở khu vực rạch Cây Khô rất hoang vu, không ta không địch, sình lầy không đi được.

    Do vậy bố trí E4 có thay đổi một ít. Thay vì toàn bộ E4, đêm 29/4 vượt qua đông lộ 5, từ rạch Cây Khô tiến vào cầu Chữ Y, thì chỉ sử dụng 1D/E4 thực hiện phương án này, còn 2D/E4 sẽ đánh dọc lộ 5 đến cầu Nhị Thiên Đường, quẹo sang bên Phạm Thế Hiển về cầu Chữ Y.

    E3 vẫn như cũ.

    Điện số 18ZN gửi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo đã giải phóng Hưng Long, báo cáo nhận được điện 731 và báo cáo kế hoạch tấn công.

    19 giờ, Sở Chỉ huy hành quân ra Đa Phước, các E hành quân theo kế hoạch.

    21 giờ đến Đa Phước. Các bộ phận đều đào công sự. Quần chúng lúc đầu không cho đào, có lẽ sợ “động” đất. Sau khi giải thích việc đào công sự vừa cho bộ đội chiến đấu, vừa cho đồng bào núp bom đạn. Khi biết có bộ đội ta về, địch sẽ ném bom, bắn pháo. Không có công sự làm sao tránh được nguy hiểm cho bộ đội, cho nhân dân. Sau cùng không những chỉ đào mà đồng bào còn cho cây làm nắp, nắm cơm nếp cho bộ đội ăn.

    Quá 24 giờ đào xong công sự. Tất cả công sự đều đầy nước. Có vài cái đào xong đã sụp lở.

    . Ngày 30/4/1975:

    Đa Phước. Sáng sớm dậy đã nghe rõ tiếng xe ngoài lộ 5. Sở Chỉ huy cách đường 500m.

    Đài Phát thanh giải phóng phát bản thông cáo của Chánh phủ Cách mạng lâm thời và bản thông báo của Bộ Chỉ huy mặt trận Sài Gòn nghe giục giã quá.

    Bộ Chỉ huy điện chỉ đạo E3, E4 ghi 2 bản thông cáo, điện báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ.

    8 giờ Điện số 23ZN gửi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo E3, E4 đã vào chiếm lĩnh đúng thời gian và đã nổ súng.

    10 giờ E4 báo cáo đã phát triển qua cầu Chữ Y. Sau đó một báo cáo khác: đang tiến chiếm mục tiêu chủ yếu của cánh Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, đúng 10 giờ 30 phút.

    Hơn 10 giờ đồn tam giác Đa Phước mới đầu hàng. Toàn bộ Sở Chỉ huy ra lộ 5.

    Từ Đa Phước quần chúng dùng xe đò, xe hàng chở toàn bộ cơ quan chỉ huy đến đầu cầu Chữ Y, lúc bấy giờ là 11 giờ 30 phút.

    12 giờ Sở Chỉ huy cánh Nam đến tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, sau E4 1 tiếng rưỡi.

    Bức điện cuối cùng mang số 24ZN gửi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo đã tiếp quản Nha Cảnh sát đô thành và Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #105 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 02:09:52 pm »

*
*      *


   Một vấn đề hóc búa nhất vào những ngày chuẩn bị cuối cùng cho Chiến dịch Hồ Chí Minh là vấn đề công binh vượt sông cho các hướng tiến quân vào nội đô. Đó là lúc mà chúng tôi phải giải quyết cho Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông để đưa toàn bộ đội hình của mình tới tuyến xuất phát tấn công. Đoàn 232 được tăng cường thêm lực lượng bộ binh, pháo và cao xạ, cả pháo nặng 130 ly, có đến 1 trung đoàn xe tăng và thiết giáp trong đó 1 phần 3 là tăng T.54. Tất cả xe, pháo các loại gần 800 chiếc. Thế mà từ lâu nay Miền chỉ có 1/2 bộ cầu phà nặng (TPP của Liên Xô). Đã xin Trung ương cho thêm nửa bộ nữa nhưng chưa vào. Tất cả các hướng khác lực lượng công binh cũng nhiều. Tham mưu kiểm điểm lại lúc ấy, Bộ Tổng Tư lệnh đã tăng cường cho mặt trận Sài Gòn các lực lượng công binh như sau:

    - Trung đoàn 279 công binh công trình đã vào đến nơi.

    - Trung đoàn 574 làm đường của 559 đã vào và sẽ giao cho Cục Hậu cần sử dụng.

    -  Trung đoàn 249 cầu phà có 4 đại đội và 1/4 bộ cầu phà nặng TPP khác, ước khoảng ngoài ngày 20/4 tới nhưng chưa thấy.

    Chúng tôi dự tính đơn vị cầu phà nào tới nơi sẽ đưa ngay cho 232 vì lực lượng 232 phải vượt sông sớm nhất và có lẽ duy nhất nếu địch không phá hoại được cầu nào. Quân đoàn 1 phải qua Sông Bé nhưng mùa này sông Bé nước cạn, công binh Miền đã làm sẵn ngầm vượt ở bên Bàu rồi. Trước mắt 232 phải dựa vào lực lượng hiện có và huy động phương tiện tại chỗ mà vượt Vàm Cỏ Đông.

    Chính vì vậy, một vấn đề đặt ra lúc ấy là nếu địch ngoan cố rút nhanh vào nội thành và phá hoại các cầu trên các trục đường tiến vào Sài Gòn thì sao? Cái gì cũng có thể xảy ra cả, ta phải dự kiến để có kế hoạch sẵn. Ta đã biết rằng Sài Gòn nằm giữa một vùng mà quanh nó bao nhiêu là sông rạch, kênh mương. Các sông rạch đều sâu và lầy. Lòng sông lầy mà cả hai bên bờ cũng đều lầy, lên bờ rồi có khi phải qua một cánh ruộng lầy nữa, địch có đủ thuốc nổ cũng có đủ kỹ thuật phá hoại. Trước giờ chết chúng cũng có đủ âm mưu thâm độc.

    Đây là một trở ngại rất lớn cho binh chủng hợp thành với binh khí kỹ thuật nặng triển khai sức mạnh tấn công của mình. Hướng nào của ta cũng phải vượt qua ít là 4, 5 cầu. Nếu cầu bị phá, xe pháo bị chặn lại từ vùng ven? Rồi ta cũng sẽ khắc phục được từng bước thôi nhưng địch sẽ có thì giờ xây dựng công sự, vật cản, tổ chức phòng thủ và biệt động ta đánh mục tiêu bên trong bị cô lập, nhân dân không nổi dậy được, ta lại phải đánh từng tuyến, từng đường phố, căn nhà thì đâu còn là bất ngờ, thần tốc và thành phố đâu còn nguyên vẹn, nhân dân đâu được yên lành.

    Quân ta lúc ấy không có khả năng như những quân đội hiện đại khác, phái các đơn vị nhảy dù hoặc đổ bộ trực thăng bất ngờ đánh chiếm các cầu trước khi đại quân tiến vào. Nhưng không đơn giản khi phải đánh giữ hàng chục cầu một lúc ở nhiều hướng.

    Ta lại đánh theo cách đánh độc đáo của ta: dùng đặc công và biệt động tiêu diệt địch, chiếm và giữ cho kỳ được các cầu trọng yếu trên các hướng tiến quân.

    Chúng ta có tất cả 6 trung đoàn đặc công cộng với hàng chục đội biệt động đang sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành. Đây là những đơn vị tinh nhuệ đã được rèn luyện thử thách từ nhiều năm đánh Mỹ, đã lập được nhiều chiến công hiển hách, nhiều đơn vị đã được tặng danh hiệu “anh hùng”. Quân đoàn 3 lại có riêng 1 trung đoàn đặc công nữa. Như vậy là ta có đủ sức làm nhiệm vụ giữ không cho địch phá cầu, đảm bảo cho các quân đoàn tiến thẳng vào mục tiêu không bị trở ngại.

    Nhưng phải thay đổi nhiệm vụ của các cánh đặc công biệt động. Trước đây Bộ Tư lệnh Miền đã giao nhiệm vụ chính là đánh các mục tiêu được phân công từ 5 mục tiêu chủ yếu cho đến các mục tiêu quan trọng khác cùng lúc các quân đoàn vào để kết hợp tấn công từ bên trong và tấn công từ ngoài vào. Bây giờ phải chuyển thành nhiệm vụ chính là đánh chiếm và giữ các cầu quan trọng ở các hướng cho tới khi quân đoàn tiến qua. Tuy vẫn còn nhiều đội biệt động và một số đơn vị đặc công vẫn phụ trách đánh mục tiêu bên trong, nhưng những đơn vị mạnh phải chuyển qua nhiệm vụ mới. Việc chuyển nhiệm vụ chính lại quá gấp rút, chỉ trong vòng 4, 5 ngày vừa hành quân, vừa điều tra nghiên cứu, vừa làm kế hoạch chiến đấu. Hơn nữa khó khăn là chiếm rồi lại phải giữ, đánh địch phản kích, đó là chiến thuật mà đặc công ít khi sử dụng, mà nay không còn thì giờ để huấn luyện lại. Tuy vậy tin ở khả năng và truyền thống của đặc công, biệt động, tin ở ý chí cao và lòng dũng cảm của anh em, ngày 25/4 chúng tôi quyết định chuyển nhiệm vụ. Các cầu phải được chiếm và giữ ngay trước giờ “G” của ngày “N”, đồng loạt tấn công vào nội thành. Muộn sẽ trở ngại cho tiến quân, cho thành công của cả chiến dịch, nhưng sớm quá nhiều khi rất nguy hiểm. Vì lẽ các đơn vị đặc công với chiến thuật tấn công bất ngờ chứ không phải phòng ngự và không được trang bị để tấn công bằng sức mạnh công khai, vì vậy khó mà giữ cầu lâu ngày, hay đánh chiếm lại lần thứ hai, thứ ba. Hơn nữa địch có thể đánh trả lại mạnh khi quân đoàn ta chưa đến và nhân đó có thể phá luôn cầu. Tính toán lúc nào nên chiếm giữ cầu là phải ăn khớp với hành động của các quân đoàn. Bộ Chỉ huy chiến dịch giao cho Bộ Chỉ huy các hướng quyết định ngày giờ cho đặc công.

    Hướng có nhiều cầu lớn là hướng Đông. Ngoài các cầu qua sông Đồng Nai như cầu xa lộ Đồng Nai, cầu Ghềnh; qua sông Sài Gòn như cầu xa lộ Tân Cảng, cầu Bình Lợi; lại còn các cầu nhỏ hơn nhưng không kém quan trọng như cầu Rạch Chiếc... Các hướng khác cầu không lớn lắm nhưng nhiều và nếu bị phá cũng gặp trở ngại không nhỏ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #106 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 02:12:14 pm »

*
*     *


     Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông trước khi chiến đấu nhưng đã gặp rất nhiều khó khăn. Và chính vì trước khi chiến đấu nên phải giữ bí mật đối với địch, phải tiến hành vượt sông ban đêm và chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công cũng vào ban đêm trong một khu vực địch còn kiểm soát: Khu Mỹ Hạnh ở gần ngã ba đường 9 và đường 10 (Đức Hòa, Long An). Đoạn sông Vàm Cỏ Đông phải vượt nằm trên xã An Ninh, cách Bảo Trai (tức Khiêm Hạnh tỉnh lỵ tỉnh Hậu Nghĩa của ngụy) trên 10km về phía tây bắc. Đoạn sông dự bị sẵn sàng khi cần thì vượt bằng sức mạnh, qua thẳng thị trấn Hiệp Hòa rồi lên đường 10. Sông Vàm Cỏ Đông ở những đoạn này cả 2 bên bờ đều sình lầy, tìm được một nơi đất cứng thật là khó khăn. Bên bờ tây sông là vùng ta đã giải phóng từ đầu đợt, vùng “mỏ vẹt”, một bộ phận của Đồng Tháp Mười, chủ yếu là bưng sình, chỉ có một số giồng đất cao có dân cư nhưng không đông đúc và xa bờ sông. Ở đây cây củi thật là hiếm. Trong chiến tranh, cả trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, bộ đội ta về đây, đồng bào có thể giúp ta gạo và nhất là cá nhiều, nhưng củi đốt thì chớ có đụng đến, của quý đấy. Mỗi người một bó củi nhỏ mang theo mà dùng. Dọc bờ sông là vùng địch kiểm soát, xen kẽ có những căn cứ du kích của ta. Xã An Ninh là một xã có truyền thống cách mạng, năm Tết Mậu Thân, Sư đoàn 9 của ta cũng về đóng quân ở xã này để rồi tiến về Sài Gòn trong đợt 2 tấn công và nổi dậy. Địa hình ở đây tương đối tốt, có rẻo đất giồng liền ra đường 10, xuống ấp Bào Công rồi đến xã Mỹ Hạnh, xã căn cứ đầu tiên của “Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa” năm 1945 chống Pháp, xã của anh hùng quân giải phóng trong chiến tranh chống Mỹ: Nguyễn Thị Hạnh. Như vậy là đoạn sông vượt từ vùng của ta, vùng bưng sình và đổ bộ lên vùng đất tương đối cao ở phía của địch kiểm soát, có thể triển khai chiến đấu ngay được. Đường từ hậu phương ra tới bến vượt rất lầy lội, không có biện pháp khắc phục thì khó mà hành quân cơ giới nổi. Cán bộ của Đoàn 232 đã cùng cán bộ các địa phương lân cận vận động nhân dân chặt và bó hàng ngàn bó chà 1 phân tán cất giấu nhiều nơi. Như đã nói, ở đây cây, củi hiếm nên phải vận động nhân dân từ trước và trong một vùng rộng thì mới đủ và kịp thời gian. Thế mà mọi việc đều kết quả mỹ mãn, và đặc biệt là địch không hề hay biết tí gì cả.

     Đồng chí Bảy Triết (Võ Minh Triết) - Chủ nhiệm công binh Miền được chỉ định làm chủ nhiệm công binh Đoàn 232 đã kể lại:

     “...Ngay trước hôm vượt sông, một trận mưa đầu mùa trút nước xối xả xuống một vùng rộng. Đường càng bị ngập bị sình. Đêm bộ đội hành quân ra bờ sông, ngồi trên bờ từ anh Năm Ngà, cán bộ tham mưu, công binh, pháo binh, xe tăng đều lo lắng hồi hộp. Tiếng xe ầm ì suốt một đoạn đường dài mấy chục kilômét, chiếc xe đầu đã đến bến, chiếc xe cuối còn tận nơi xuất phát ven biên giới Việt Nam - Campuchia. Trong bóng tối, đồng bào từ mọi hướng thôn ấp đổ ra đường, đặt xuống những đoạn lầy từng bó chà vác trên vai. Mỗi chiếc xe, mỗi khẩu pháo, nhất là tăng T.54, pháo 130 ly nòng dài vượt qua là đường đi càng nhão ra, đoạn lầy càng thủng xuống. Chà lại được bỏ thêm vào, chất thêm lên, xe pháo lại cứ vượt.

    “Dễ muôn phần, không dân cũng chịu.
    Khó trăm lần, dân liệu cũng xong”
.

    Câu ấy đúng cả với tình huống chiến thuật cũng như chiến lược, đúng cả trong chiến tranh cũng như trong xây dựng hòa bình.

    Trên đường đất còn như vậy, xuống sông nước còn gay go hơn. Nếu có cầu phà hiện đại đủ thì còn nói gì. Đồng chí Sáu Nhẫn (Bùi Công Trữ) - Phó phòng công binh Miền, chịu trách nhiệm về phà vượt sông hôm đó cho biết: “Tất cả xe pháo đều được đưa qua sông trên phà ứng dụng: giữa là khoang thuyền hiện đại, hai bên là vật nổi tự tạo. Trong đời công binh mấy chục năm của tôi, chưa bao giờ tôi lo đến muốn vỡ tim như hôm lực lượng 232 qua sông Vàm Cỏ. Hôm ấy anh Năm Ngà đến tận nơi đứng đó kiểm tra. Chiếc tăng từ từ lăn xích xuống phà - phà chìm đến đâu tim tôi thắt lại đến đó. May quá, đúng như tính toán, phà chỉ chìm đến chân nước quy định và nổi hẳn. Có lẽ nếu chiếc tăng chìm nghỉm theo phà thì tim tôi cũng ngừng đập luôn”.

    Cầu phà, đến giờ quy định xe chở đến cách sông 5km, hạ xuống nước. Lợi dụng con rạch nhỏ dùng sào và sức người chống từng khoang thuyền ra sông rồi nhanh chóng ghép lại thành phà ứng dụng. Phải đảm bảo bí mật và khẩn trương, đòi hỏi kỹ thuật thao tác của từng chiến sĩ, động tác chỉ huy của từng cán bộ hết sức thành thạo. Còn sức đẩy nữa chứ. Sông rộng gió to, máy đẩy “Hải âu” của công binh không đủ sức, phà dễ trôi. Đoàn hậu cần 230 đã tiếp sức cho chúng tôi mấy thuyền máy có sức đẩy 50 mã lực mới đảm bảo được an toàn”.

    Một lần vượt sông không chiến đấu đã như vậy, nếu phải vượt sông nhiều lần, nhiều hướng và trong chiến đấu thì thật là nan giải. Các quân đoàn, các lữ đoàn xe tăng và pháo binh tiến nhanh qua các cầu vào hội sự rực rỡ ở trung tâm thành phố không thể không nhớ đến chiến công của các đơn vị đặc công góp phần. Và mỗi chiến công của một đơn vị nào đó, binh chủng nào đó làm nên mà lại không có sự đóng góp bằng cách này hay cách khác của nhân dân.

    Trong kế hoạch tấn công vào Sài Gòn, Quân ủy Miền chúng tôi còn một vấn đề phải lo nghĩ. Đó là trách nhiệm đối với cán bộ và chiến sĩ ta trong phái đoàn quân sự ở trại Đavít, ngay giữa vòng vây quân địch. Đã nhiều lần quân ngụy giở những thủ đoạn thô bạo hăm dọa tính mệnh của anh em ta. Ngay những ngày đầu mới vào, Tết âm lịch Quý Sửu, lúc tôi ở trong ấy, chúng đã dùng xe thiết giáp bao vây uy hiếp, dùng trực thăng vũ trang gầm rú trên nóc nhà, đe dọa, chỉ vì phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa treo cờ ăn Tết dân tộc. Quanh trại Đavít đều là căn cứ của ngụy, chúng có 12 chòi gác cao luôn hướng nòng súng máy vào anh em ta. Còn nhiều hành vi xấu xa khác. Như vậy khi ta tấn công vào, quân ngụy có để yên cho anh em ta? Điều này khó mà tin được. Để trả thù và cho là anh em ta không bao nhiêu người mà phần lớn là cán bộ, chúng dám giở thủ đoạn tấn công tàn sát một cách đê hèn lắm. Chúng tôi thấy có trách nhiệm bảo vệ anh em ta trong ấy.

    Vào cuối tháng 3, tôi mời đồng chí Ba Trần và Bùi Thành Khiết bàn về vấn đề này và đi đến kết luận là trước khi ta nổ súng tấn công vào Sài Gòn, cần phái một đơn vị đặc công giỏi và thạo khu vực quanh sân bay Tân Sơn Nhất, vào để đưa tất cả anh em ra khu giải phóng. Kế hoạch đã được bàn tỉ mỉ và đơn vị đã được chọn, tôi giao cho 2 đồng chí ấy phụ trách chỉ đạo thực hiện.

    Kế hoạch được triển khai khẩn trương và anh em phái đoàn ta đã được phổ biến để hợp đồng trong hành động. Nhưng trong quá trình thực hiện chúng tôi vẫn suy nghĩ và không yên tâm. Vì rằng thành phần phái đoàn chủ yếu là cán bộ, rất ít chiến sĩ, vũ khí chiến đấu không đủ, dù đơn vị đặc công ta có thiện chiến thì vẫn là một đơn vị nhỏ để tấn công chớ không phải để bảo vệ. Kẻ địch quanh sân bay Tân Sơn Nhất đông đặc, được trang bị mạnh, có máy bay, thiết giáp yểm trợ. Cuộc chiến đấu thoát vòng vây này rất không cân sức trong một chiến trường bất lợi cho ta, dễ xảy ra thương vong đáng tiếc. Vì vậy, cuối cùng chúng tôi đã hủy bỏ kế hoạch cũ, nhất là khi đã có quyết tâm đợi các quân đoàn tới tương đối đầy đủ, ta tấn công nhanh mạnh từ ngoài kết hợp với nổi dậy từ bên trong thì chúng tôi dự đoán chắc chắn cuộc chiến đấu sẽ không kéo dài. Anh em ta trong trại Đavít nếu có chuẩn bị chu đáo sẽ có khả năng chiến thắng trong tự vệ cho đến khi Sài Gòn hoàn toàn giải phóng.

    Chúng tôi liền cho liên lạc với các đồng chí có trách nhiệm trong trại Đavít phổ biến ý kiến của Quân ủy Miền là Phái đoàn phải có kế hoạch chiến đấu tự bảo vệ mình trong suốt thời gian trận tấn công của ta vào Sài Gòn. Kế hoạch chiến đấu tại chỗ kiên cường phải dựa vào một hệ thống hầm hào tự tạo hết sức bí mật. Phải là hầm hào chiến đấu chắc chắn, chịu được sức công phá của pháo địch và pháo 130 ly của ta nữa. Công việc phải tiến hành khẩn trương, toàn phái đoàn tổ chức thành một đơn vị chiến đấu được chỉ huy chặt chẽ.

    Đồng chí Mười Sương (Thượng tá Ngô Văn Sương) - phụ trách chính trị của phái đoàn lúc ấy, đã kể lại như sau:

    “...Khi được phổ biến có đơn vị đặc công vào đón trước ra vùng giải phóng, toàn thể cán bộ chiến sĩ đều rất cảm động thấy rằng Đảng, cấp trên đã luôn quan tâm tới anh em, tuy là một bộ phận nhỏ so với bao đoàn quân lớn. Nhưng mọi người không ai bảo ai đều có chung một ý nghĩ: trong lúc các cánh quân của ta từ ngoài ào ạt tiến công vào nội thành, chúng ta, xem như một đơn vị sẵn trong này, sao không tham gia chiến đấu mà lại ra ngoài? Ta cứ xem như một đơn vị đặc công biệt động tại chỗ có được không? Chúng tôi đã định điện xin được tình nguyện ở lại chiến đấu cho đến phút cuối cùng. Cho nên khi được lệnh ở lại chiến đấu, từ cán bộ đến chiến sĩ rất phấn khởi, ai nấy đều thức trắng đêm để đào hầm. Để khỏi lộ bí mật, đêm đào ngày nghỉ, đào nhẹ nhàng tránh tiếng động lớn. Đất đào lên một phần giấu dưới các sàn nhà kín đáo, một phần dồn vào các tủ bằng tôn sắt rồi để nằm lên nắp hầm, hầm thêm kiên cố. Chỉ hơn một tuần anh em đã xây dựng được một địa đạo dài hàng mấy trăm mét, có hầm trú ẩn, hầm hào chiến đấu nối liền nhau từ chỗ anh Tuấn (Trưởng phái đoàn) lên các đơn vị, đến cả bộ phận hậu cần, nối thông với Đoàn miền Bắc (tổ mổ mả) còn lại, có cả nơi họp và nơi để thương binh. Chính tại hầm này vào giờ chót của chiến tranh, mấy sứ giả của ngụy quyền Sài Gòn đến thương lượng vớt vát đã cùng chúng tôi tránh đạn, cho đến khi Sài Gòn giải phóng “họ đã được bảo vệ an toàn””.

    Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Phái đoàn ta ở trại Đavít đã đóng góp xương máu vào chiến thắng lịch sử: hy sinh một đại úy kỹ sư và một thượng sĩ, bị thương 5, 6 đồng chí khác, trong đó có một trung tá!





-----------------------------------------------------------------
1. Nhiều cành cây nhỏ hoặc tươi, hoặc khô dài khoảng một thước, cột chặt lại thành từng bó.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #107 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 02:14:15 pm »

*
*      *


    Ngày 26/4/1975, một số xe con đưa anh Văn Tiến Dũng và tôi cùng cơ quan di chuyển xuống phía Nam: Sở Chỉ huy tiền phương bắt đầu làm việc.

    Hai ngày sau anh Sáu Thọ và Phạm Hùng cùng tới đó để nhanh chóng quyết định tập thể những vấn đề lớn.

    Đến lúc này tình hình đã ngã ngũ rõ rệt.

    Sài Gòn hoàn toàn bị vây hãm.

    Ở phía tây từ ngày 26/4, Sư đoàn 5 của Đoàn 232 bắt đầu tấn công vào Sư đoàn 22, diệt lần lượt từng trung đoàn và làm chủ hoàn toàn đường 4 từ Tân An lên đến Cầu Voi. Trung đoàn 16 thì đánh chiếm cầu Bình Điền và cầu An Lạc. Hai trung đoàn đặc công 115 và 117 chiếm Phú Lâm. Xa hơn về phía tây, lộ 4 lại bị cắt một đoạn khác ở khu vực Điềm Hy - Nhị Quí - Nhị Bình thuộc huyện Cai Lậy. Đó là do lực lượng tỉnh Mỹ Tho, trong đó có Tiểu đoàn Ấp Bắc được anh hùng quân giải phóng, đồng chí Lê Quang Công, dẫn đầu lên chiếm lộ vào đêm 26 rạng ngày 27/4. Cũng từ ngày 26/4, Sư đoàn 8 Quân khu 8 đã cắt hoàn toàn lộ 4 đoạn từ ngã ba Trung Lương lên giáp Tân An. Lực lượng Quân khu 9 cũng khống chế hẳn đoạn Cái Vồn - Ba Càng. Con đường chiến lược độc nhất xuyên suốt đồng bằng sông Cửu Long bị băm nát.

    Về phía đông, Quân đoàn 2 ngày 26/4 cũng nổ súng tấn công căn cứ huấn luyện thiết giáp Nước Trong, đánh chi khu Long Thành, ngày 27/4 chiếm thị xã Bà Rịa. đường 15 bị cắt đứt hoàn toàn. Cùng đêm 26/4, Trung đoàn đặc công 116 bắt đầu đánh cầu xa lộ Đồng Nai. Tàu địch trên sông Lòng Tàu thì bị chặn đánh quyết liệt từ 26/4 do lực lượng Trung đoàn 10 đặc công trên đoạn từ Phước Khánh đến ngã ba sông Đồng Tranh và khóa chặt đường sông khi đánh chìm tàu vào hôm sau.

    Sân bay Biên Hòa bị bắn phá bằng pháo 130 ly của trận địa Hiếu Liêm từ ngày 15/4, nhiều máy bay bị phá hủy, sân bay bị rối loạn. Đến ngày 18/4 địch đã phải chuyển máy bay F5 về sân bay Tân Sơn Nhất và A37 về sân bay Lộ Tẻ (Cần Thơ). Và ngày 23/4 sân bay Biên Hòa bị đóng cửa hẳn cùng lúc với tòa Lãnh sự Mỹ ở thị xã Biên Hòa. Địch chỉ còn 2 sân bay cuối cùng: Lộ Tẻ và Tân Sơn Nhất. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng bị tên lửa 122 ly của Trung đoàn đặc công 17 ở phía tây và của cánh Bắc đặc công từ Quới Xuân bắn phá từng lúc, gây khó khăn cho địch. Nhưng mãi đến khi trận địa pháo nòng dài 130 ly Nhơn Trạch của Quân đoàn 2 đặt xong vào cuối ngày 28/4 bắn phá, và trận tấn công độc đáo của không quân Việt Nam cũng ngày hôm ấy, dùng 5 chiếc A37 lấy của địch do đồng chí Nguyễn Thành Trung hướng dẫn thì Tân Sơn Nhất không còn phục vụ cho địch nữa. Sân bay Lộ Tẻ do pháo của Quân khu 9 khống chế từ ngày 28/4, nhưng do vùng địch kiểm soát ta có khó khăn nên mãi đến ngày 30/4 địch vẫn còn sử dụng được, tuy bị hạn chế.

    Mỹ và ngụy đều đã thấy tình hình là tuyệt vọng.

    “Từ trong các tường thành bao bọc cuộc sống của mình, chính Thiệu cũng bắt đầu nhìn thấy cái không thể tránh khỏi. Ông ta khó có thể tránh được nó. Trước rạng đông ngày 18, một tiểu đội đặc công cộng sản đã tiến đánh trạm rađa Phú Lâm ngoại ô phía tây của Sài Gòn. Như vậy là đã đưa chiến sự đến ngưỡng cửa của thành phố. Khoảng 1 giờ sau, tướng Toàn - Tư lệnh Quân khu 3, từ chỉ huy sở của mình ở Biên Hòa bay về báo cáo Thiệu là: thực tế, cuộc chiến tranh đã thất bại, quân đội đã hỗn loạn và bị áp đảo về số lượng một cách tuyệt vọng. Không thể hy vọng sẽ giữ được thêm hai hoặc ba ngày nữa”. (Frank Snepp: Khoảng cách thời gian vừa phải, Sđd, Phần III - Sụp đổ).

    Martin là con người xa thực tế nhất, chủ quan hạng nặng, đến bây giờ cũng phải thấy ra sự thất bại không tránh đi đâu được và ra sức vận động Thiệu rút lui để mơ tưởng một âm mưu chính trị may ra cản bước tiến của quân ta. Từ xa rời thực tế này đến xa rời thực tế khác, Martin quả là một con người chuyên sống bằng ảo vọng.

    “Martin đánh xe đến Phủ Tổng thống gặp Thiệu, sáng 20, sau khi gặp Mérillon (đại sứ Pháp) về cùng một chủ đề, cho cùng một mục đích. Y nói với Thiệu: “Tôi đã nói rằng kết luận của tôi là hầu hết các tướng lĩnh, mặc dù họ có thể tiếp tục chiến đấu, tin rằng sự phòng thủ là vô hy vọng, trừ phi có một cuộc ngưng bắn nhờ thương lượng, và họ không tin là thương lượng có thể bắt đầu được trừ phi Tổng thống từ chức hoặc có các bước làm cho thương lượng bắt đầu được ngay”.

    Ngày 21/4 Thiệu từ chức, không biết có phải công của Martin không.

    Ngày 28/4, Trần Văn Hương - Tổng thống ngụy quyền một tuần lễ - sức đã mòn, trí đã cạn, lại tưởng mình có “số trời cho” lăm le lấp biển vá trời, đã bừng tỉnh hay buộc phải tỉnh, nhường “ngai vàng” lại cho Dương Văn Minh. Còn Minh, có lẽ do bản chất có phần thật thà, tin vào phù phép của tả phó Martin và hữu trợ Mérillon, nên đã bị chúng gạt ra rìa từ lâu mà đến giờ chót còn cố vươn vai gánh chịu cái đầu hàng vô điều kiện.

    Lại cũng chính trong ngày ấy, Sở Chỉ huy của Quân đoàn 3 ngụy ở Biên Hòa hoàn toàn tan vỡ, rút chạy về Gò Vấp để qua ngày hôm sau, tên Tư lệnh của nó, tướng Toàn, chạy theo Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên trốn qua Mỹ. Chỉ huy quân sự của chế độ Sài Gòn đã mất đầu.

    Về phía ta, chúng tôi chuyển gấp đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận Sài Gòn bức điện động viên sau đây đề 22 giờ ngày 28/4/1975:

    “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gửi lời chào quyết thắng đến toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, các đồng chí hãy anh dũng tiến lên giành toàn thắng cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #108 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 02:17:05 pm »

CHƯƠNG VIII
Giờ tận số của một chế độ: Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng


    Giờ “G” ngày “N” đã điểm. Đó là 24 giờ 00 ngày 29/4/1975, giờ quy định hợp đồng cho tất cả các cánh quân ta từ năm hướng nổ súng đồng loạt tấn công vào nội thành Sài Gòn, tiêu diệt nốt quân địch phòng thủ, chọc thẳng vào 5 mục tiêu trọng yếu nhất. Đó là giờ quy định cho tất cả các tổ biệt động các đơn vị đặc công, từ nơi ém quân, đứng dậy cho nổ tung địch từ bên trong, chiếm lĩnh các mục tiêu được giao và bắt liên lạc với các cánh quân từ ngoài vào. Đó cũng là giờ quy định cho cán bộ Đảng, cán bộ chính trị, từ trong lòng nhân dân, vùng lên dẫn đầu đồng bào yêu nước nổi dậy diệt ác ôn, phá rã ngụy quyền, vận động ngụy quân đầu hàng, giành chính quyền vào tay nhân dân, làm cuộc đổi đời long trời dậy đất, xóa sạch kìm kẹp áp bức, bất công, nô dịch.

    Giờ “G” ngày “N” này là mốc mà Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh phát ra cho toàn mặt trận Sài Gòn. Hãy lấy đó mà tính toán từng công việc, từng hành động của anh, dù anh xa hay gần, dù anh khó hay dễ, anh gặp trở ngại hay thuận lợi, mà hành động trước hay sau, sớm hay muộn, đến giờ đó là tất cả phải sẵn sàng ở tư thế của hổ sắp vồ mồi. Và tất cả từ giờ đó nhất tề chồm lên dũng mãnh nhất, nhanh nhất vồ lấy mồi của mình nguyên vẹn và về hội sư ở điểm trung tâm: Dinh Tổng thống ngụy quyền.

    Giờ “G” ngày “N” đó cũng là giờ quy định cho toàn B2 mà Bộ Tư lệnh Miền đã phát ra cho tất cả các quân khu, các tỉnh, các đơn vị, những nơi còn địch, đã đồng loạt đứng lên tấn công tiêu diệt và đánh ngã quân thù, để đồng khởi nổi dậy nắm lấy chính quyền, định đoạt số phận của mình. Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh.

    Đã có giờ “G” nào mà hàng triệu trái tim rộn ràng, hồi hộp vừa lo lắng vừa sung sướng đợi chờ. Đã có giờ “G” nào mà ta mong đợi từ mấy chục năm khói lửa ngất trời. Đã có ngày “N” nào là hàng triệu con người ngã xuống từng ngày, từng ngày, trong suốt hơn một vạn ngày cam go chiến đấu, anh dũng hy sinh, để quyết định ra nó.

    Ngồi trong Sở Chỉ huy chiến dịch, mọi người chúng tôi lẳng lặng đợi. Tự nhiên tôi cảm thấy tinh thần thư thái lạ lùng. Vào giờ đó không còn gì mà lo nữa. Kiểm tra tất cả các cánh quân đều báo cáo thuận lợi và sẵn sàng. Các quân khu, các đơn vị xa cũng đã lặp lại đúng giờ “G” ngày “N” không nhầm lẫn. Tất cả các mệnh lệnh đều đã phát đi và đã được trả lời nhận đúng. Còn công việc sắp tới? Hãy chờ súng nổ giống hệt như chờ pháo giao thừa. Giờ phút thư thái như vậy rất ngắn thôi nhưng quý vô cùng. Nó giúp ta thải nốt khí độc nhọc nhằn còn lại của giờ trước và hút khí mới trong lành cho giờ sau của công việc khẩn trương sắp tới.

    Đúng như giờ giao thừa, âm vang tiếng pháo từ mọi hướng.

    Hướng tây bắc, Quân đoàn 3 ta đã tấn công diệt Đồng Dù, căn cứ của Sư đoàn 25 ngụy, bắt sống tên tướng tư lệnh sư đoàn Lý Tòng Bá. Quân đoàn tiếp tục cho Trung đoàn đặc công của mình đánh chiếm và giữ trước cầu Bông trên đường 1 và cầu Xáng trên đường 15. Quân đoàn đánh vào nội thành theo 2 đường, đường chính là đường 1 và đường phụ là đường 15, nhưng khi qua cầu Xáng, cầu bị sập, 2 xe tăng rớt xuống nước nên cánh quân đường 15 lại chuyển qua đường 1 tiến về Hóc Môn. Lực lượng tỉnh Tây Ninh phối hợp chặn diệt quân của Sư đoàn 25, không cho chúng từ Tây Ninh rút về và lần lượt cùng nhân dân giải phóng tỉnh mình. Bộ đội địa phương quận Củ Chi đã phối hợp với chủ lực đánh Đồng Dù và chiếm chi khu. Nhân dân vùng Củ Chi do má Bảy Nguyễn Thị Lánh, một đảng viên 76 tuổi đã có 3 con trai hy sinh cho Tổ quốc, cầm đầu chiếm chi cảnh sát rồi cả quận lỵ Củ Chi, giữ nguyên vẹn giao cho bộ đội địa phương quận. Chính má Bảy đã tự leo lên cắm cờ tại chi cảnh sát trong lúc địch còn ở đấy. Chúng đã run sợ trước ánh mắt căm thù của một mẹ già tóc bạc, trước lực lượng tay không của nhân dân nổi dậy, vứt súng bỏ chạy.

    Trước mặt Quân đoàn 3, trong ngày 29, Tiểu đoàn 14 đặc công đã chiếm cầu Chợ Mới, Đài Phát thanh Quán Tre, Chi khu cảnh sát và Trường huấn luyện Quang Trung ở Hóc Môn tan rã bỏ chạy. Trung đoàn 1 Gia Định giải phóng 2 xã Tân Thới Nhất và Xuân Thới Thượng chiếm cầu Tham Lương. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn Gia Định cùng Trung đoàn đặc công 115 giải phóng xã Tân Thới Hiệp và mở 2 cửa ra phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất chờ lực lượng Quân đoàn tới để đột phá tấn công. Tảng sáng 30/4, Quân đoàn 3 từ Hóc Môn tiến chiếm mục tiêu chủ yếu của mình, đánh bại các cuộc phản kích và làm chủ toàn bộ sân bay lúc 14 giờ trong ngày.

    Hướng bắc, Quân đoàn 1 đánh chiếm thị trấn Tân Uyên, bao vây căn cứ Phú Lợi và chọc thẳng xuống Lái Thiêu để tấn công vào nội đô. Toàn bộ Sư đoàn 5 ngụy bị bao vây cô lập giữa 2 cánh quân của ta - Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1 - không còn đường chạy, bị bộ đội địa phương phối hợp với Quân đoàn tấn công, liền treo cờ trắng đầu hàng. Cả 3 trung đoàn 7, 8, 9 đều hạ súng đầu hàng tại chỗ. Tiểu khu Bình Dương cũng treo cờ trắng vào sáng 30/4. Quân đoàn 1 vượt qua cầu Bình Phước tiến về mục tiêu chủ yếu: Bộ Tổng Tham mưu. Cầu Bình Phước đã bị Trung đoàn đặc công 115 đánh chiếm từ sáng 29/4 nhưng địch phản kích chiếm lại. Từ Sở chỉ huy được tin địch gài mìn định phá cầu Bình Phước, chúng tôi liền điện gấp cho Trung đoàn 115: “Đánh chiếm và giữ cho được cầu Bình Phước... Cắt đứt ngay dây mìn địch đã gài sẵn ở cầu...”. Rạng sáng 30/4, Trung đoàn đánh lại và giữ cầu cho đến lúc Quân đoàn 1 vượt qua. Phía trước Quân đoàn 1, đêm 28/4 Tiểu đoàn 80 đặc công đã cùng các đội biệt động tấn công căn cứ pháo Cổ Loa ở Gò Vấp, đến sáng 30/4 mới chiếm được. Cũng sáng hôm ấy lúc 9 giờ 20 phút, Tiểu đoàn đã chiếm căn cứ thiết giáp “Phù Đổng”. Tại Bộ Tổng Tham mưu địch, sáng 30/4, không còn chỉ huy, quân ngụy đã mất hết tinh thần, cả bọn đã bỏ trốn. Nhưng tại các cửa vào, bọn biệt kích dù 81 vẫn còn ngoan cố giữ. 8 giờ 30 phút ngày 30/4, Đội biệt động Z28 do đồng chí Bảy Vĩnh chỉ huy đánh vào cổng 1 không thành công, liền chuyển qua cổng 3. Ở đây có một số xe tăng bỏ không, địch trên xe đã chạy. Đội lấy súng địch trang bị đầy đủ, lên 1 xe Jeep đột thẳng vào trung tâm điện toán. Tên Đại tá Hồ, phụ trách ở đây, đã giao nguyên vẹn cơ sở này cho tổ. Hệ thống máy IBM và toàn bộ băng từ quản lý nhân sự và trang bị của ngụy còn đầy đủ. Lúc ấy là 10 giờ. Tổ liền lên xe chạy đến tòa nhà chính của Bộ Tổng Tham mưu. Tất cả quân ngụy đã chạy trốn, còn lại một hạ sĩ đón tổ và bàn giao chùm chìa khóa với toàn bộ văn kiện, tài sản còn nguyên. Hạ sĩ ngụy ấy là đồng chí Ba Minh, tình báo Miền cài vào làm việc Bộ Tổng Tham mưu từ lâu (hiện nay là Thượng úy tại Bộ Tham mưu Quân khu 7). Lá cờ được treo lên cột cờ chính và nóc nhà chính ở đây vào hồi 10 giờ 30 phút. Đúng 12 giờ ngày 30/4, đồng chí Vĩnh (nay là Trung tá Lê Văn Vĩnh, Anh hùng lực lượng vũ trang, Phó Tham mưu trưởng tỉnh Tây Ninh) đã đón lực lượng của Quân đoàn vào và chuyển giao lại mục tiêu. Trên cánh này, nhân dân đã nổi dậy phối hợp với biệt động, đặc biệt là ở xã An Phú Đông, diệt cơ quan tề, cảnh sát xã và xây dựng ngay chính quyền mới. 9 giờ 30 phút ngày 30/4, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng tại chỗ, nhân dân đã chiếm Phường 2 thị trấn Gò Vấp. Sớm hơn nữa, chiều 29/4, đồng chí Thuần, cán bộ quận đã lãnh đạo quần chúng chiếm và treo cờ ở trụ sở Phường 12 quận Phú Nhuận.

    Hướng tây, sáng ngày 29/4 Đoàn 232 đã chiếm thị xã Hậu Nghĩa, Chi khu Đức Hòa, bảo đảm sườn trái, một bộ phận diệt Sư đoàn 22 ngụy, chiếm thị xã Tân An, thị trấn Bến Lức, cầu Bình Điền, sau đó tiến vào Sài Gòn theo lộ 4, bảo đảm sườn phải. Bộ phận chủ yếu thọc sâu, Sư đoàn 9, từ Mỹ Hạnh, Vĩnh Lộc đánh thẳng vào ngã tư Bảy Hiền, tiến chiếm mục tiêu chủ yếu, Biệt khu Thủ đô ngụy, lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/4. Trên khu vực ngã tư Bảy Hiền, địch đã cố sức chống cự, dùng cả 1 tốp A37 đánh bom vào đội hình quân ta gây một số thiệt hại.

    Trung đoàn đặc công 429 và Trung đoàn 117 phối hợp với cánh tây trong 2 ngày 29 và 30 đã chiếm một số mục tiêu then chốt như Đài rađa Phú Lâm, yếu khu Tân Tạo, khu ngã năm Vĩnh Lộc, Trung tâm phát tín Phú Thọ, cầu Bà Hom, cầu Nhị Thiên Đường.

    Nhân dân các xã vùng Hóc Môn, Bà Điểm, đặc biệt là ở xã Phú Thọ Hòa, đã nổi dậy, vận động địch hạ súng đầu hàng, phá rã ngụy quyền, treo cờ giải phóng. Nhiều xã xây dựng chính quyền cách mạng. Tại Quận 11, chị Út Vân và anh Sáu Hoàng, cán bộ đảng tại chỗ đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy chiếm chính quyền Phường 8 lúc 9 giờ ngày 30/4, và chiếm luôn tòa hành chính quận lúc 9 giờ 15 phút trước khi quân ta tiến vào.

    Hướng nam, như phần trên đã nói, tuy có nhiều khó khăn, cũng về tới đích đúng thời gian quy định và nhanh chóng chiếm được mục tiêu chủ yếu: Tổng nha Cảnh sát. Các kho tài liệu, hồ sơ, văn kiện, tư liệu đang làm việc dở để trên bàn giấy còn y nguyên ở đó.

    Hướng đông, Quân đoàn 4 theo đường 1 đánh thẳng vào sân bay Biên Hòa, thị xã Biên Hòa và chỉ huy sở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 18, Lữ đoàn 3 thiết giáp, thủy quân lục chiến ngụy ra sức ngăn chặn, liên tục phản kích, tất cả các mũi đều phải tiến chậm. Lực lượng thọc sâu gồm Sư đoàn 7 và dự bị là Lữ 52, sáng sớm ngày 30/4, bộ phận đi đầu đã đến cầu Ghềnh nhưng thấy cầu yếu sợ xe tăng không qua được, phải quay đội hình trở lại xa lộ Biên Hòa, theo sau Quân đoàn 2 về Sài Gòn chiếm trụ sở Bộ Quốc phòng ngụy, căn cứ Hải quân và Đài phát thanh.

    Nhân dân quận Bình Thạnh được chị Ba Liễu phát động và chỉ huy, đã chiếm trụ sở Phường 13 lúc 9 giờ 30 phút ngày 30/4.

    Quân đoàn 2, một cánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu (Sư đoàn 3 Quân khu 5), một cánh đánh Long Thành, qua chiến khu Nhơn Trạch, đặt trận địa pháo 130 ly ở đây và chuẩn bị cho một bộ phận vượt sông Đồng Nai, phối hợp với đặc công biệt động tiến vào Quận 9. Cánh chủ yếu đánh vào Sài Gòn đi đầu là Lữ xe tăng 203. Đến sông Buông, cầu bị đánh sập. Cả ngày 29/4, Lữ xe tăng 203 qua không được. Đến giữa đêm mới qua khỏi cầu sông Buông và tiến thẳng lên xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn. Ở đây Lữ xe tăng 203 tiếp xúc được với lực lượng ta đang giữ cầu. Một bộ phận của Trung đoàn đặc công 16 làm nhiệm vụ chiếm giữ cầu Đồng Nai đã mở rộng chiếm luôn một góc kho Long Bình (giải phóng 2 xã An Hòa và Long Hưng). Trung đoàn 116 liền tổ chức công sự phòng giữ ở đấy. Vào lúc quá nửa đêm, Lữ 203 xe tăng ta vừa tiến vừa bắn dữ dội về phía trước. Tưởng địch, chiến sĩ đặc công chốt giữ đã dùng B40, B41 bắn trả lại. May mà không trúng. Nhưng nhờ ánh lửa của đạn, anh em nhận ra cờ Mặt trận cắm trên xe tăng, lúc đó là 5 giờ ngày 30/4, liền hỏi khẩu hiệu:

    - Hồ Chí Minh?

    - 19/5 - trả lời (chiến sĩ xe tăng nhớ lầm khẩu hiệu lúc ở Khu 5)

    - Hồ Chí Minh? - hỏi lại lần thứ 2.

    - Muôn năm - trả lời.

    “Đúng rồi. Thôi bắn”. Anh em mừng rỡ, phất cờ nhận nhau.

    Trên xa lộ này có 3 cầu trọng yếu nhất đó là cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc và cầu Tân Cảng.

    Đêm 26/4, Trung đoàn đặc công 116 đã bắt đầu đánh chiếm cầu Đồng Nai, nhưng ngày 27 địch phản kích chiếm lại. Đêm 28/4, đơn vị lại chiếm lại đầu cầu phía đông, đánh sang đầu cầu phía tây và tổ chức chốt giữ phòng ngự. Chiều 29/4, có tiếng nhiều xe di chuyển trên đường 15 từ Long Thành về Sài Gòn. Trinh sát báo cáo tất cả có 15 xe địch, đi đầu là 5 tăng và thiết giáp, nhưng xe sau đầy lính có cả phụ nữ, trẻ em và có bộ binh đi hai bên đường. Mở máy bộ đàm PRC-25 của Mỹ, Chỉ huy Trung đoàn đã nghe một đoạn nói chuyện ngắn vội vã:

    - Khi xe mày qua cầu dứt đuôi thì dùng 5 tấn thuốc nổ phá sập luôn cầu.

    - Còn đơn vị sau làm sao?

    - Không đi đường này nữa. Đó là lệnh chỉ huy. Việt cộng đang đuổi sau lưng mày. Nổ sập cầu ngay!

    Bộ đội ta vẫn giữ kín được trận địa phục kích. Đoàn xe địch không hay biết tiến đến cách cầu khoảng 1 km (đoạn ngã ba Bến Gỗ). Lập tức súng B40, B41 và các loại cùng nổ. 5 chiếc xe đầu bị diệt. Một số bỏ xe nhảy hàng rào kho Long Bình chạy bộ, những xe sau quay đầu chạy tắt về hướng Biên Hòa.

    Thừa thắng, đơn vị phát triển chiếm luôn một góc kho Long Bình (hướng tây tây nam). Cầu được giữ nguyên vẹn cho đến cuối cùng.

    Còn ở cầu Rạch Chiếc, cuộc chiến đấu cũng xảy ra rất ác liệt. Đội biệt động Z23 cùng Tiểu đoàn 81 đặc công do đồng chí Nguyễn Hoàng Ân (Tiểu đoàn trưởng), Trần Kim Thinh (Tiểu đoàn phó) và Nguyễn Văn Tư (Chính trị viên), chỉ huy chung có trách nhiệm chiếm giữ cầu này. 3 giờ ngày 27/4 nổ súng, sau 1 giờ chiến đấu anh em đã làm chủ toàn bộ cầu, cẩn thận cắt tất cả dây điện giăng dưới cầu. Cả ngày 27, bộ binh địch kết hợp với tàu dưới sông đã phản kích quyết liệt. Đến 15 giờ ngày 28/4, Z23 kiên cường đã có 20 đồng chí hy sinh. Lực lượng ta phải tạm lui vào con rạch nhỏ dừa nước và ô rô cách đường khoảng 500 mét. Lo trách nhiệm, đêm 28/4, Z23 tổ chức tấn công chiếm lại, nhưng không thành công. Đến đêm 29/4, toàn bộ đơn vị mới đánh chiếm lại được cầu lần thứ 2 và giữ cho đến khi xe tăng ta vượt cầu vào 9 giờ 30 phút ngày 30/4.

   Cầu Tân Cảng, do Tiểu đoàn 4 Thủ Đức đánh chiếm không thành công vì ở đây địch mạnh và sát Sài Gòn, tối 28/4, khi Lữ 203 xe tăng của Quân đoàn 2 đến cầu xa lộ Đồng Nai thì bộ binh vẫn còn ở xa chưa đến kịp. Tại đây, đồng chí Tài (Lữ trưởng) đã gặp các đồng chí Tống Viết Dương - Chỉ huy trưởng đặc công biệt động cánh Đông (nay là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thượng tá, Chỉ huy phó quân sự tỉnh Đồng Nai) và Võ Tấn Sĩ - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 116 đặc công biệt động (hiện nay là Trung tá Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 304 cảnh sát bảo vệ Công an Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng chí Tài cho biết lệnh của quân đoàn phải tiến chiếm nhanh Dinh Độc Lập ngày hôm nay. Nhưng bộ binh chưa đến kịp. Địch ở chỗ nào chưa rõ. Đường đi không rành, chỉ biết trên bản đồ.

   Đồng chí Dương nói ngay:

   - Đợi bộ binh thì chậm mất. Chúng tôi có cả một trung đoàn đặc công mạnh. Tôi từng là cán bộ tình báo nằm nhiều năm trong Sài Gòn. Tôi rành đường lắm. Các khu vực địch tôi đều biết. Biết rõ cả Dinh Độc Lập. Anh cứ quyết tâm tấn công đi.

   Đồng chí Sĩ cũng nói:

   - Trung đoàn chúng tôi đã phụ trách đánh trong sát ven đô. Mới chuyển nhiệm vụ ra đây. Nhiều cán bộ chiến sĩ quen thực địa. Trung đoàn tôi còn có khả năng tác chiến như bộ binh, và có cả kinh nghiệm đánh diệt căn cứ, hậu cứ địch. Đồng chí cứ mạnh dạn hợp đồng tấn công!

   Đồng chí Tài cân nhắc rồi đồng ý.

   Mất một thời gian sắp xếp đội hình xe tăng và điều động tập trung trung đoàn đặc công:

   Trừ hai đại đội ở lại giữ cầu, toàn bộ Trung đoàn 116 ngồi lên xe tăng của Lữ 203 cùng hợp đồng chiến đấu, hùng dũng tiến về chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền.

    Đồng chí Dương ngồi với đồng chí Tài và đồng chí Minh (chủ nhiệm chính trị) ở xe chỉ huy của lữ trưởng, chiếc thứ 6 trong đội hình. Đồng chí Sĩ - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 116 ngồi lên xe thứ 3. Đồng chí Phạm Duy Đô, quyền Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 19 ngồi lên xe thứ 2. Đoàn xe xuất phát từ cầu Đồng Nai đúng 6 giờ ngày 30/4.

    Khi ngang qua Suối Cát Thủ Đức, quân ngụy ở Liên trường huấn luyện sĩ quan địch dùng pháo bắn tới tấp vào đội hình quân ta. Một xe tăng trúng đạn, anh em ta hy sinh. Ba pháo cao xạ 37 ly bị hỏng. Theo sự chỉ dẫn của đồng chí Dương, đồng chí Tài ra lệnh 2 mũi xe tăng, một băng đồng, một vòng vào hướng chợ Nhỏ, tiêu diệt ngay trận địa pháo ở Liên trường (thuộc xã Tăng Nhơn Phú).

    Đoàn xe qua cầu Rạch Chiếc, đồng chí Tư Thinh báo cáo tình hình cầu và địch ở khu vực. Gần đến cầu Tân Cảng, thình lình nhiều đạn bắn vào quân ta từ các dãy nhà hai bên đường. Một xe bị hư, một đồng chí hy sinh. Lập tức đơn vị đặc công nhảy xuống xe chiến đấu và lùng sục bắt sống được nhiều địch hãy còn sắc phục “rằn ri”, còn đủ súng ống. Tiếp đó 2 máy bay A37 vòng tới nhào xuống trút 2 loạt bom rồi bay luôn. Ta an toàn, lại tiếp tục tiến.

    Xe qua khỏi cầu Tân Cảng, nhân dân đổ ra 2 bên đường, càng gần Sài Gòn càng đông, vẫy cờ, vỗ tay hoan hô quân giải phóng. Các nhà báo quốc tế quay phim, chụp ảnh dẫn cho tới nội thành. Gần cầu Thị Nghè, 3 xe M113 địch xuất hiện, ta bắn, 1 xe cháy, 2 xe khác lính bỏ xe ngay trên cầu Thị Nghè, chạy bộ trốn.

    Hai chiếc xe tăng T54 hiệu 843 và Type 59 hiệu 390 đi đầu húc vô cửa sắt Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 10 phút, xe 390 tiến thẳng vào cột cờ giữa sân, các xe khác rẽ qua trái, phải, dừng lại. Chiến sĩ Trung đoàn 116 nhảy xuống xe bao vây toàn bộ khu nhà, lùng sục bắt bọn lính bảo vệ, nhân viên ra ngồi tập trung trước bãi cỏ. Một tổ chiến sĩ xe tăng do đồng chí Bùi Quang Thận dẫn đầu, 1 tổ chiến sĩ đặc công có 2 đồng chí Phạm Duy Đô và Phạm Huy Nghệ, cùng cầm cờ chạy lên ban công cao phía trước Dinh Tổng thống ngụy quyền, đứng phất cờ hồi lâu, rồi cờ được kéo lên cột cờ chính trước ban công. Đúng 11 giờ 30 phút.

    Tổ đặc công lại chạy xuống các tầng dưới lục soát các phòng. Đến tầng cuối, phòng bên phải, kéo màn qua một bên, toàn bộ nội các ngụy quyền đang ngồi đủ mặt ở chiếc bàn hình bầu dục trong phòng họp chính phủ. Đồng chí Đô chĩa súng AK hô to:

    “Các ông đã bị vây. Ai có súng bỏ xuống. Đầu hàng”.

    Không ai nhúc nhích. Không ai thốt một lời.

    Đô lại ra lệnh cho đồng chí Nghệ, cầm súng AK đứng ở cửa:

    “Đồng chí đứng gác ở đây. Không ai được ra khỏi phòng này!” Xong, Đô chạy ra tìm chỉ huy. Vừa lúc ấy các đồng chí Tùng (Chính ủy), Tài (Lữ trưởng Lữ 203), Minh (Chủ nhiệm chính trị) và Dương (Chỉ huy trưởng cánh Đông đặc công biệt động) vừa kịp đến cửa. Đô đưa đoàn cán bộ vào.

    Mọi người trong phòng đều đứng cả lên. Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền, đứng đầu bàn phía trong cùng, nói:

    - “Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao!”.

    - “Các ông không còn gì để mà bàn giao. Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Mời ông ra tuyên bố ở Đài Phát thanh: Xin đầu hàng vô điều kiện” - Đồng chí Tùng nói dõng dạc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #109 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 02:32:26 pm »

*
*     *


    Tại Sở Chỉ huy, chúng tôi chăm chú theo dõi từng giờ các mũi tiến quân của từng hướng. Trên bàn to trải bản đồ vùng Sài Gòn và xung quanh, mọi người nhìn theo vạch bút chì đỏ mà cán bộ tham mưu, từng lúc, căn cứ vào báo cáo của các cánh, vẽ, đánh dấu nơi quân ta đến, mục tiêu ta đã chiếm. Bỗng một đồng chí cán bộ vừa reo mừng vừa xách máy ghi âm vào để lên bàn: Tiếng nói của Dương Văn Minh trên Đài Phát thanh xin đầu hàng vô điều kiện và lệnh cho quân ngụy hạ súng đầu hàng. Tất cả đổ xô đến, im lặng lắng nghe.

    Mọi người nhảy lên reo mừng. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng đều xúc động mạnh, ôm hôn mọi người, bắt tay nhau thật chặt. Có mấy phút giây trong đời ta mà sung sướng đến nghẹn ngào, mừng vui muốn trào lệ. Tự nhiên tôi cảm thấy như tâm hồn mình trong suốt, nhẹ lâng lâng, mọi thứ như đọng xuống tận đáy sâu. Chiến tranh sắp chấm dứt hoàn toàn rồi. Một cuộc chiến tranh dài ngày, khốc liệt mà biết bao nhiêu đồng chí, đồng bào không còn trong giờ phút này để cùng ta hả hê vui sướng. Đồng chí, đồng bào đã ngã xuống cho ta có giờ phút hôm nay.


*
*      *


    Sài Gòn, ngày 30/4 rực rỡ nắng vàng. Khắp phố phường, cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh, xen kẽ với cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió. Cả thành phố đổ ra đường, hạ cờ ngụy, treo cờ ta, kêu gọi binh sĩ ngụy buông súng đầu hàng, giải tán ngụy quyền, xây dựng chính quyền cách mạng. Tất cả thành phố đứng lên, giữ trật tự, bảo vệ các nhà máy, cơ sở, cho cách mạng, cho bản thân mình. Bao nhiêu năm mới có ngày nay. Nhớ ngày 25/8/1945, cũng tương tự như thế này, răm rắp bước chân cách mạng mừng mừng, tủi tủi nhìn anh bộ đội giải phóng, bộ đội Cụ Hồ, nhìn những chiếc xe tăng khổng lồ, những khẩu pháo lớn quá cỡ. Có con ta, có anh mình cùng về trong đoàn quân chiến thắng? Có chú ta, có cô ta ngồi trên xe tăng hay xe kéo pháo hùng dũng tỏa ra khắp nơi? Từng đám đông, phố nào cũng có, vây quanh các anh giải phóng hỏi han trò chuyện. À, không giống lính ngụy chút nào. Các anh hiền quá, đẹp quá. Các con trẻ quá, thương quá.

    Sài Gòn một ngày hành động. Đúng ra là đã hành động từ mấy ngày nay. Không phải chỉ là hoan hô, reo mừng, tiếp đón như một đôi ngày lịch sử trước đây. Ngày 31/01/1789, ngày Tết Kỷ Dậu, nhân dân kinh thành Thăng Long đã đổ ra đường mừng vui, tự hào, tin tưởng, nghênh đón đoàn quân chiến thắng của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ tiến vào giải phóng thủ đô. Nhà thơ Ngô Ngọc Du đã tả không khí tưng bừng ngày chiến thắng năm ấy:

    “Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng
    Đầy thành già trẻ, mặt như hoa”
.

    Ngày nay, ở thành phố Sài Gòn, một thành phố lớn nhất trong cả nước, một thành phố đã chiến đấu từ nhiều năm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, không khí tưng bừng cũng giống như vậy. Nhưng còn hơn như vậy, một không khí sục sôi nổi dậy hào hùng, mà mỗi người có góp phần của mình vào chiến công hiển hách giữ cho thành phố thân yêu nguyên vẹn, cho nhân dân hạnh phúc trọn lành.

    Sinh hoạt bình thường ở Sài Gòn có gì khác, trước và sau 11 giờ 30 phút ngày 30/4? Khác là trước thì súng đạn nổ vang, nhà nhà lo lắng, người người hành động. Còn sau đó thì cờ xí phấp phới bay, phố phường bỗng trở thành ngày hội. Khắp nẻo đông chật nhưng trật tự, vui tươi. Điện nước cho mọi nhà vẫn đầy đủ, dòng đời không ngừng một phút. Có cuộc chiến tranh nào kết thúc ở một thành phố cỡ ba triệu rưỡi dân như vậy không? Hay đây là một kỳ công lịch sử hiếm có. Kỳ công đó chính là nhờ trí tuệ lãnh đạo của Đảng ta: Kết hợp tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, kết hợp đánh từ ngoài vào và đánh từ trong ra. Khác đi thì trạng thái không như vậy được và cũng sẽ không thắng được. Và kết quả thực tế đã rõ.

    Nhà máy cung cấp nước cho thành phố nằm ở Thủ Đức đã được Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Nguyễn Văn Muống cầm đầu, phát động quần chúng, hù dọa đuổi địch, chiếm lĩnh và làm chủ nhà máy từ nhiều giờ trước khi quân ta tiến về đi ngang qua đấy. Ở đây, cả ở trong và xung quanh nhà máy, địch đã đóng một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an, và đến ngày 28/4 địch lại kéo về đây thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp. Địch lại trang bị cho phòng vệ dân sự tại nhà máy 30 súng, nhưng số súng này phần lớn nằm trong tay của quần chúng có tổ chức của ta. Đồng chí Muống rất lo lắng. Công đoàn quận Thủ Đức do đồng chí Thành Đô đại diện đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Muống phải tổ chức cho được công nhân và bằng mọi cách bảo vệ nhà máy được nguyên vẹn.

    Ngày 30/4, khi nghe xe tăng từ Biên Hòa tiến về gần đến, đồng chí Muống đã lãnh đạo quần chúng công nhân tung tin tác động, hù dọa quân ngụy và tự mình trèo lên nóc nhà treo cờ thật lớn đã chuẩn bị từ trước. Quân ngụy hoảng hốt tưởng quân giải phóng đã tiến vào nhà máy, liền tan rã bỏ chạy, có bọn bỏ cả xe chạy bộ. Đồng chí Muống đã tổ chức đội vũ trang bảo vệ và Ban tự quản nhà máy tiếp tục điều hành hoạt động bình thường, cung cấp nước cho thành phố không một giờ gián đoạn.

    Còn nhà máy điện ở Thủ Đức là do Đội biệt động Z23 đánh chiếm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở cầu Rạch Chiếc, Z23 được lệnh chiếm Nhà máy ximăng Hà Tiên, khu tồn trữ, Nhà máy Zet-cô (nay là liên hợp công trình 4) và nhà máy điện, tổ chức bảo vệ an toàn và điều khiển công nhân tiếp tục điều hành công việc. Điện ở thành phố Sài Gòn thực sự chỉ gián đoạn trong vòng 2 tiếng đồng hồ trong ngày 30/4. Tất cả các đêm và sau đó liên tục đèn vẫn sáng trưng mọi nhà, công sở và đường phố.

    Toàn bộ đất nước đang trải qua từng giờ từng phút biến thiên mà mỗi người dân đều nóng lòng muốn biết. Đồng bào Sài Gòn - Gia Định và khắp cả miền Nam Việt Nam nữa, nơi đã giải phóng cũng như nơi chưa được giải phóng, vẫn luôn theo dõi được tình hình qua làn sóng điện của Đài Phát thanh và vô tuyến truyền hình phát đi từ Sài Gòn, hầu như không đứt đoạn. Điều này quan trọng biết bao nhiêu khi ta biết rằng có cả chục triệu máy thu tin trong dân và trên hai triệu máy thu hình trên khắp miền Nam đã quen với làn sóng của “Thủ đô Sài Gòn” của ngụy.

    Nghe theo lời kêu gọi của Đài Phát thanh Giải phóng, Tổng Cục trưởng phát thanh truyền hình và điện ảnh của ngụy Lê Vĩnh Hòa cùng số đông anh chị em công nhân kỹ thuật và nhân viên đã cùng nhau ở tại nhiệm sở, bảo toàn máy móc thiết bị, giữ vững trạng thái sẵn sàng làm việc liên tục của đài.

    Sau khi Đài Phát thanh phát đi lời xin đầu hàng vô điều kiện của Dương Văn Minh, lập tức lực lượng đông đảo học sinh, sinh viên, đa số là ở trường Đại học Nông Lâm Súc ngay bên cạnh, tràn vào chiếm hết cơ sở này và cho phát đi liên tục các bài ca, nhạc cách mạng. Và xế trưa hôm 30/4 ấy, một đơn vị bộ đội đã đến. Đồng chí Chính trị viên đơn vị này tới thẳng phòng phát thanh đưa chiếc máy thu tin của mình đang mở nghe Đài Giải phóng và bảo: “Hãy truyền đi tin tức của đài này”. Thế là từ đấy, Đài Sài Gòn đã tiếp chuyển Đài Giải phóng. 18 giờ thì bộ phận tiếp quản - Đài Giải phóng B (Đài Giải phóng A đang ở căn cứ của Miền) tới nơi và nhận bàn giao toàn bộ cơ sở nguyên vẹn. Ban Chỉ huy Đài Phát thanh lúc đó gồm Thanh Nho, Ba Nhi (tức Huỳnh Minh Lý) và Nguyễn Duy Tuấn đã làm việc suốt đêm 30/4 cho chương trình phát thanh đầu tiên của “Đài Phát thanh Sài Gòn Giải phóng”. Đúng 5 giờ sáng ngày 01/5/1975, Đài Phát thanh Sài Gòn Giải phóng đã long trọng phát đi từ Sài Gòn. Giọng nói của Vương Thị Thanh Liêm và Nguyễn Hữu Phước vang lên làm rung động lòng người từ câu nói đầu tiên: “Đây là Đài Phát thanh Sài Gòn Giải phóng... phát thanh tại thành phố Sài Gòn...”.

    Đồng chí Hồ Vĩnh Thuận, hiện nay phụ trách kỹ thuật cơ sở truyền tin thành phố đã hân hoan kể lại: “Chúng tôi mừng đến rơi nước mắt khi nhìn thấy cơ sở này nguyên vẹn về với cách mạng mà nhớ lại năm 1968, chúng tôi cũng vào Sài Gòn nhưng tới Quận 5 rồi phải bật trở lại căn cứ. Có nếm mùi thất bại mới hiểu hết giá trị của thành công”.

    Cùng ngày 01/5/1975, đúng 19 giờ, buổi phát hình đầu tiên của Đài Vô tuyến Truyền hình Sài Gòn Giải phóng đã bắt đầu với biểu tượng mở màn là lá cờ Mặt trận nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh phấp phới bay và ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Cô Mỹ Hạnh và cậu Hữu Phước, vẻ mặt rạng rỡ trong trang phục Quân giải phóng, đọc thông báo của Ủy ban quân quản Thành phố, chính sách của Mặt trận và những tin chiến thắng mới nhất của quân và dân ta.

    Rất nhiều anh chị em, làm việc từ chế độ ngụy, ngày nay đã đem khả năng và nhiệt tình của mình phục vụ cho cách mạng. Có nhiều người trở thành chiến sĩ thi đua như ông Phạm Văn Có (phát xạ) ở Đài Phát thanh, anh Nguyễn Văn Hạnh (lạnh và nước) ở Đài Truyền hình... Các chị Bùi Thị Như Kha, Mỹ Thúy... cũng đã đóng góp tích cực trong nhiều công tác và chương trình của Đài.

    Còn về của cải vật chất và đời sống của nhân dân? Chúng ta tự hào biết bao rằng, ngay từ những ngày đầu, chính quyền quân quản cách mạng đã không để cho thành phố ba triệu rưỡi dân bị một ngày thiếu đói nào, ta vẫn cưu mang cho cả triệu người thất nghiệp thải ra từ bộ máy chiến tranh Mỹ - ngụy và hàng chục vạn binh lính ngụy tan rã. Đó là nhờ ta chiếm được trọn vẹn các kho lương thực thực phẩm với sự giúp đỡ của nhân dân và sự giữ gìn bàn giao chu đáo của nhân viên, công nhân làm việc tại các nơi ấy. Với số lượng thực phẩm thu được cộng với số gạo từ miền Trung, miền Tây Nam Bộ đưa lên giúp đỡ, thành phố đã đảm bảo nhiều tháng cứu trợ cho bà con nạn nhân và các gia đình khó khăn sau cuộc chiến.

    Ngay xăng dầu là vấn đề rất khó khăn, nhưng nhờ anh em công nhân ở các kho Nhà Bè đã biết tổ chức bảo vệ và bàn giao cho cách mạng. Từ ngày 29/4, chủ người nước ngoài và quản lý của các hãng đã chạy trốn, ngày 30/4 bọn gác kho cũng bỏ chạy. Anh Nguyễn Văn Dạng, công nhân thợ điện đã đi đón bộ đội về. Anh Đặng Văn Lương và Nguyễn Văn Đôi là người gác dan và thợ nguội, đã móc nối với địa phương và du kích Nhà Bè để trợ lực bảo vệ. Anh Đôi hiện nay là chiến sĩ thi đua của kho. Công nhân thành phố đã không hổ thẹn là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nhiệt tình tham gia mọi hoạt động chiến đấu, nổi dậy và bảo vệ của công.

    Riêng hệ thống ngân hàng thành phố, nhờ ta có bố trí cơ sở từ trước tổ chức bảo vệ, nên ta tiếp quản một cách trọn vẹn. Đó là đồng chí Ba Châu, hiện nay là Giám đốc Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, lúc ấy là Giám đốc ngân hàng Sài Gòn, trong chiến tranh là người trong tổ chức mật “N-2683” của Trung ương Cục do các anh Ba Phi, Bảy Kiên, Ba Dũng phụ trách chuyên làm kinh tế tài chính trong nội thành Sài Gòn. Tổ chức này đã làm ra mỗi tháng hàng tỷ đồng (tiền miền Nam lúc ấy) để nuôi bộ đội.

    Cũng như ngành bưu điện, ngành đó bảo đảm theo sự chỉ đạo của ta ngay từ ngày đầu quân quản. Cơ sở cách mạng của ta lãnh đạo khởi nghĩa chiếm giữ và bảo vệ an toàn các đường dây, máy móc, trung tâm..., giúp cho liên lạc không một giờ ngừng tắc hay trễ nải.

    Hầu như ở tất cả các nhà máy, từ những nhà máy dệt, nhà máy thực phẩm đến các nhà máy cơ khí..., công nhân đều tham gia bảo vệ nhà máy, giữ an toàn máy móc, phương tiện cho đến khi có ban quân quản chính thức đến quản lý. Ở tất cả các công sở của trung ương cũng như của thành phố, nhân viên, công chức đều giữ nguyên hồ sơ, tài liệu, phương tiện làm việc để sẵn sàng giao nộp Chính quyền cách mạng.

    Thật là một cuộc chuyển tiếp vô cùng đẹp đẽ từ một chế độ này qua một chế độ khác. Không một đổ vỡ, không một cuộc trả thù hèn mọn, rối loạn nào. Chỉ có cách mạng chân chính, chiến tranh nhân dân thực sự, toàn dân phục tùng nghĩa lớn của Đảng ta thì mới được như vậy. Lực lượng vũ trang nhân dân ta, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh anh hùng xứng đáng được khen ngợi vì chiến công rực rỡ.

    Chúng tôi sung sướng chuyển ngay đến cán bộ, chiến sĩ đảng viên, đoàn viên, nhân dân Sài Gòn bức điện khen của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta ngay trong ngày 30/4:

      “Bộ Chính trị nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn - Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, thuộc các đơn vị chủ lực, địa phương, bộ đội tinh nhuệ, dân quân tự vệ, đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng Thành phố Hồ Chí Minh, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

      Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng cùng đồng bào tiếp tục tấn công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”
1.





-----------------------------------------------------------------
1.  Tư liệu Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc phòng.
     Theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.177-178, nguyên văn là: Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn - Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, thuộc các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.
     Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc
.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM