Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Ba, 2024, 02:52:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 3913 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #100 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:35:45 pm »

Hơn một tháng sau, tôi đã chuẩn bị xong bài giới thiệu. Đồng chí Nguyễn Trọng Yên, Cục trưởng và đồng chí Đoàn Chương, Cục phó dành một buổi sáng để thông qua và góp ý kiến, trước khi tôi giới thiệu cho đơn vị đầu tiên là cán bộ trung cao cấp của Tổng cục Chính trị. Anh Nguyễn Trọng Yên và anh Đoàn Chương cũng đã qua một lớp cơ bản tại Trường Đảng ở Trung Quốc, chắc hẳn các anh cũng thông cảm với tôi phải giới thiệu một vấn đề lý luận trước một đối tượng khó tính như cán bộ trung, cao cấp của Tổng cục Chính trị. Các anh rất chú ý lắng nghe và tôi thực sự ngạc nhiên, rất phấn khởi khi cả hai đều đồng ý với nội dung tôi chuẩn bị và nhắc tôi biên soạn một kế hoạch hướng dẫn nghiên cứu tài liệu này cho các đơn vị ngắn gọn, có trọng tâm, trọng điểm.


Tôi về nghiên cứu dự thảo kế hoạch hướng dẫn của Học viện Chính trị quân sự theo yêu cầu của Thủ trưởng Cục, có thể tiếp thu được một số ý nhưng chưa đạt, tôi phải viết lại để các anh thông qua. Hôm xuống trình bày kế hoạch để đồng chí Cục trưởng thông qua thì gặp anh Chính Hữu, Cục phó phụ trách khối văn nghệ, văn công cũng sắp làm việc với Cục trưởng.


Anh Nguyễn Trọng Yên có thói quen trước khi chờ đợi vào làm việc chính thức, hay tán gẫu những chuyện vui.

Hôm nay, anh hỏi anh Chính Hữu và tôi:

- Các ông có biết diễn viên văn công sướng nhất lúc nào không?
   
Chúng tôi chưa kịp trả lời thì anh nói:

- Các cô, các cậu ấy sướng nhất là lúc khán giả vỗ tay.

Tôi đế thêm:

- À, cũng như trợ lý sướng nhất là lúc thủ trưởng cấp trên thông qua cho tài liệu được giao viết!.

Các anh đều cười, anh Yên nói thêm:

- Cậu này láu cá!.

Kế hoạch hướng dẫn cho cán bộ nghiên cứu tài liệu, do tôi đã nắm vững nội dung cuốn sách, nên tôi chỉ viết ngắn gọn có hai trang, đồng chí Cục trưởng rất hài lòng, không thêm bớt một chữ nào.

Hôm tôi giới thiệu nội dung tác phẩm "Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky" tại Hội trường chính của Tổng cục Chính trị cho cán bộ trung, cao cấp của Tổng cục, Hội trường hôm đó không trống một ghế nào, có tới hơn 300 người, trongđó có cả một số cán bộ tuyên huấn của đơn vị ở gần Hà Nội và các trường trực thuộc Bộ đến nghe. Nhiều nơi mang máy ghi âm đến đặt sẵn ở bục giảng. Có lẽ đây là lần đầu tiên, cán bộ trong Quân đội được nghe giới thiệu về một tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tôi thấy rõ tinh thần ham học hỏi của cán bộ ta như thế nào và thấy trách nhiệm rất lớn đối với công việc của mình. Tuy nhiên, tôi cũng rất tự tin vì bài giới thiệu đã được cấp trên thông qua. Và bài giới thiệu của tôi trình bày gần 4 giờ đồng hồ trong buổi sáng hôm đó được cử tọa chú ý lắng nghe, không hề có một phản ứng tiêu cực nào, kể cả ngủ gật. Tôi cho đấy là một phàn thưởng rất quý giá đối với mình, vui sướng quên cả mệt. Trong lòng nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn chưa biết được phản ứng cụ thể đánh giá chất lượng của cán bộ về nội dung bài giới thiệu như thế nào.


Ngay sau đó, có hai cơ quan quan trọng nhất và đông cán bộ trung, cao cấp nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Hậu cần đã đề nghị Cục Tuyên huấn và mời tôi đến giảng. Với hai cơ quan này, tôi được biết cán bộ phần lớn có trình độ học vấn cao, nhiều cán bộ có trình độ nghiên cứu sâu, nên cũng hơi "ngại".


Được Thủ trường Cục đồng ý, tôi đến giới thiệu ở Bộ Tổng Tham mưu trước. Để phù hợp với đối tượng là cán bộ quân sự, tôi phải chuẩn bị thêm những nội dung liên hệ thực tế với những vấn đề về quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta. Tại Hội trường chính của Bộ Tổng Tham mưu, số cán bộ đến nghe cũng rất đông, hơn cả buổi giới thiệu ở Tổng cục Chính trị và tôi được biết thêm, Đại tướng Tổng Tư lệnh cũng cử thư ký riêng đến nghe. Trước một giảng viên chỉ là cấp trưởng phòng, nhưng các đồng chí cán bộ ở Bộ Tổng Tham mưu rất tập trung lắng nghe một cách trọng thị.


Buổi giới thiệu ở Tổng cục Hậu cần, cán bộ đến dự cũng chật cả Hội trường chính của Tổng cục, trong đó có rất đông cán bộ, bác sĩ được đào tạo ở Liên Xô cũng có trình độ học vấn khá cao, có trình độ ngoại ngữ. Nguyên bản tác phẩm có những thuật ngữ nếu chỉ đọc qua cũng khó phân biệt. Để giúp các đồng chí nghiên cứu tác phẩm được thấu đáo, không có sự nhầm lẫn, tôi phải tra cứu những thuật ngữ đó cả bằng tiếng Nga và tiếng Pháp để giúp các đồng chí phân biệt cho rõ trong khi nghiên cứu. Ví dụ như cụm từ "cách mạng bạo lực" và "bạo lực cách mạng"...


Qua ba buổi giảng ở ba cơ quan chủ yếu của Bộ Quốc phòng, tôi thấy có một điều rất đáng phấn khởi là các cán bộ chuyên môn, khoa học kỹ thuật của ta rất quan tâm tới chính trị, chứ không rơi vào tình trạng chuyên môn, kỹ thuật đơn thuần. Hơn nữa, tinh thần hiếu học, khao khát tri thức cũng rất nổi bật và có lẽ đây là một đặc điểm rất hiếu học của dân tộc ta.


Với nghiên cứu tác phẩm kinh điển được cán bộ trung, cao cấp trong Quân đội tiếp nhận thuận lợi, tôi rất vui thấy mình cũng đã đóng góp được phần nhỏ đáp ứng yêu cầu học tập của cán bộ ta.

Trong thời kỳ này, tôi nhớ có một số việc có liên quan đến công tác giáo dục, công tác tư tưởng trong Quân đội ta, trong đó có chức năng, nhiệm vụ của phòng tôi phụ trách.

Khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 20 về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thông thường thì hai phòng giáo dục cán bộ và chiến sĩ trong Cục Tuyên huấn phải có kế hoạch nghiên cứu quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ. Phòng giáo dục cho chiến sĩ thường phải dựa vào tinh thần nghị quyết để viết một tài liệu riêng dễ hiểu cho chiến sĩ. Nhưng lần này không thấy giao cho chúng tôi, mà do các đồng chí Thủ trưởng Cục trực tiếp viết theo chỉ thị của Tổng cục. Mới đầu tôi cũng không rõ lý do.


Nhưng khi được đọc toàn văn nghị quyết, tôi thấy nội dung toàn bộ tập trung vào vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc. Tôi nghĩ đây là một nghị quyết chuyên đề nên không nói gì về miền Nam. Quân đội đối với bất cứ nghị quyết nào của Đảng cũng đều phải tổ chức quán triệt để thực hiện gắn với nhiệm vụ của mình bằng các cuộc sinh hoạt rất nghiêm túc. Tôi suy nghĩ nếu căn cứ vào nghị quyết này để viết tài liệu thì rất khó, vì với Quân đội, việc quan trọng hàng đầu vẫn phải hướng vào nhiệm vụ chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, các đồng chí Thủ trưởng Cục Tuyên huấn phải trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ khó khăn đó trước Quân ủy Trung ương, đảm bảo cho việc quán triệt nghị quyết của Đảng được nghiêm túc, đồng thời công tác chính trị, tư tưởng với Quân đội vẫn phải hướng vào việc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #101 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:36:59 pm »

Khi tôi đọc tài liệu do các đồng chí Thủ trưởng Cục soạn thảo, được Tổng cục Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua, tôi thấy tài liệu được viết rất khéo và chặt chẽ. Phần đầu của tài liệu khẳng định những quan điểm cơ bản trong Nghị quyết số 20 của Bộ Chính trị. Đến bây giờ trong trí nhớ của tôi còn ghi rõ hai điểm trong những điểm được khẳng định:

1- Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân, Quân đội ta.

2- Xây dựng chủ nghĩa xã hội vững mạnh ở miền Bắc để miền Bắc thành hậu phương lớn, thành căn cứ địa vững mạnh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau đó, theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, một hội nghị đã được tổ chức gồm các bí thư tỉnh ủy trên địa bàn các quân khu ở miền Bắc và cán bộ chủ chốt của Bộ Quốc phòng tại Hội trường nhà khách của Bộ tại số 33 Phạm Ngũ Lão do đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì. Tôi cũng được đồng chí Cục trưởng cho đi dự thính tại cuộc họp đó. Ngày đầu nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp trình bày. Sau khi Hội nghị kết thúc, đồng chí Nguyễn Trọng Yên đưa cuộn băng ghi âm bài kết luận của đồng chí Võ Nguyên Giáp cho cả phòng nghe và giao cho một đồng chí ghi thành văn bản. Theo thiển nghĩ của tôi, tổ chức Hội nghị này là một việc làm rất cần thiết và rất xây dựng để toàn Đảng có một nhận thức đúng đắn về Nghị quyết số 20 của Bộ Chính trị và để có một nhận thức không lệch lạc, coi nhẹ đối với sự nghiệp trước mắt rất thiêng liêng của của toàn dân, toàn quân ta là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bất kỳ một việc làm nào trong công cuộc chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và việc huy động sức người, sức của đều phải nhằm thực hiện mục đích tối thượng này. Hiểu khác đi, hành động khác đi gây nên ít nhiều ảnh hưởng xấu cho việc tiến tới mục đích thiêng liêng đó là sai lầm, là không thể chấp nhận.


Có một lần, theo chỉ thị của đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo giao cho Cục Tuyên huấn thu thập tât cả các tài liệu giáo dục chính trị trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước chuyên sang bên Ban Tuyên huấn Trung ương. Việc này được giao cho phòng tôi. Sau khi thu thập đủ, thành một gói khá lớn, tôi buộc đằng sau "gácbaga" xe đạp sang nộp cho Vụ Huấn học. Khệ nệ bê gói tài liệu lên tầng hai vào phòng đồng chí Vụ trưởng, té ra lại gặp người quen. Đó là đồng chí Phan Thủy. Anh là bạn học cùng với tôi trong ba năm tại Trường Đảng cao cấp thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và lại là đồng hương cùng quê ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Thủy rất vui gặp bạn cũ và giới thiệu với tôi chị Hạnh - vợ đồng chí Tố Hữu là Vụ phó. Ngồi hàn huyên với nhau một lúc, tôi hỏi vui: "Có gì phải kiểm tra thế?", Thủy chỉ cười không nói gì. Sau đó chúng tôi cũng không nhận được ý kiến phản hồi gì về nội dung các tài liệu giáo dục cho Quân đội.


Một lần khác, tôi lại nhận được chỉ thị của Thủ trưởng Cục sang gặp đồng chí Tôn Thất Vĩ, Phó ban Tuyên huấn Trung ương để báo cáo và làm việc về vấn đề giáo dục chiến sĩ. Lúc này, Phòng Giáo dục chính trị chiến sĩ đã sáp nhập vào phòng tôi và gọi là Phòng Giáo dục chính trị và Nhà trường. Đồng chí hỏi tôi nhiều về tình hình học tập văn hóa của bộ đội. Thực ra đối với chiến sĩ khi làm nghĩa vụ quân sự, không có học thêm văn hóa nói chung, chỉ có học bổ túc văn hóa ở các lớp tập trung để bảo đảm tiêu chuẩn trình độ văn hóa cho những anh em sẽ học ở các trường đào tạo sĩ quan thôi. Anh em chiến sĩ làm nghĩa vụ quân sự bây giờ phần lớn đã tốt nghiệp cấp II, cấp III, vấn đề chất lượng học tập của anh em thế nào là do hệ thống giáo dục ngoài Quân đội chịu trách nhiệm, Quân đội không có thời gian và không thể đủ sức giáo dục văn hóa chung cho tất cả. Nghe tôi trình bày cụ thể, đồng chí không có ý kiến gì thêm.


Thời gian này một đồng chí ở miền Nam mới ra nhận nhiệm vụ, gọi tôi lên góp ý kiến về vấn đề giáo dục chính trị cho chiến sĩ. Tôi được biết anh từ khi là Chính ủy Sư đoàn 312, Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn, sau vào miền Nam làm Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy Quân giải phóng. Tôi rất thích cách nói, cách viết rất sinh động, hấp dẫn của anh có tác dụng động viên lớn đối với bộ đội. Đây là lần đầu tiên tôi được làm việc trực tiếp với anh. Anh không yêu cầu phải báo cáo gì mà chỉ trực tiếp góp ý với tôi về tài liệu giáo dục chính trị cho chiến sĩ mà Phòng Giáo dục chính trị chiến sĩ biên soạn trước đây với sự chỉ đạo của anh Đoàn Chương. Anh cho rằng cách viết như tài liệu cũ mang tính áp đặt chứ chưa khêu gợi được sự tự giác của người chiến sĩ, chưa trang bị cho họ kiến thức để tự họ rút ra những vấn đề về nhận thức và hành động cho bản thân mình, mà chỉ chốt lại những điều có tính võ đoán, ví dụ: Đặt một đầu đề "Đất nước ta giàu đẹp", hay "Nhân dân ta rất anh hùng" rồi giải thích những đầu đề đó, như vậy có vẻ áp đặt, gò ép.


Tôi tuy chưa đi sâu vào nghiên cửu việc học chính trị cho chiến sĩ vì mới nhận nhiệm vụ đó, nhưng đã từng thực hành ở đơn vị theo những nội dung tài liệu trước đây nên rất rõ lý do tại sao cần biên soạn theo cách đó.


Tôi trình bày với anh rằng: "Thời gian huấn luyện cho một chiến sĩ tân binh cả về chính trị lẫn quân sự chỉ 6 tháng,có khi do yêu cầu bổ sung cho chiến trường còn gấp hơn. Trong 6 tháng đó, phải đảm bảo cho người chiến sĩ đến chiến trường là chiến đấu được ngay. Tỷ lệ thời gian phải dành nhiều cho việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật; giáo dục chính trị được khoảng 20% thời gian. Vì vậy, nội dung giáo dục chính trị phải chốt lại những điểm cơ bản nhất và giải thích để anh em hiểu, cùng với các hình thức bổ trợ ngoài giờ khác. Nếu như phải trang bị cho anh em đủ kiến thức để chiến sĩ tự rút ra vấn đề với mình thì không thể đủ thời gian; việc đó chỉ có thể làm được khi anh em học cấp II, cấp III khi chưa nhập ngũ". Và theo tôi nghĩ, làm được như anh nói là rất tốt, nhưng thời gian khổng cho phép ta làm được như vậy. Cho nên, cách chốt lại nội dung cơ bản rồi diễn giải là phù hợp. Nghe tôi trình bày, anh không nói gì thêm.


Qua những việc tôi nhớ lại và kể ra ở trên và được nghe ý kiến từ nhiều nguồn, nhiều người lúc đó, tôi rút ra được một bài học cho riêng mình là: Người làm công tác giáo dục cần phải có một trình độ, một tác phong nghiên cứu thật tỷ mỷ, thấu đáo trước khi đưa ra một sản phẩm giáo dục của mình, đưa ra được mục đích, nội dung, phương pháp phù hợp với đối tượng, đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu của thực tiễn, không thể hời hợt, tuỳ tiện, phiến diện đại khái theo ý muốn chủ quan của bản thân. Tất cả những ý kiến khác dù đúng hay sai đều là những ý kiến phản biện có ích cho công việc của mình.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #102 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:38:24 pm »

Khoảng đầu tháng 2 năm 1975, tôi được chỉ định tham gia đoàn kiểm tra của Tổng cục Chính trị do đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Lê Quang Hòa dẫn đầu đi Quân khu 4 kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu và về mặt chính trị của Quân khu. Trước khi lên nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Hòa đã là Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Đây là lần đầu tiên tôi được đi công tác cùng đoàn với anh. Trước đó, tôi được nghe nói anh là người làm việc rất nghiêm túc, đĩnh đạc, lịch sự trong giao tiếp, kể cả đối với cấp dưới và có một trí nhớ rất tốt, kể cả tên họ cán bộ cấp dưới đã từng một lần làm việc với anh. Anh thường nói: "Thật là bất lịch sự khi có người đã từng làm việc với mình, gặp mình chào hỏi mà mình lại quên mất tên người ta!". Một nét đẹp đặc sắc không dễ gì học được.


Đây cũng là lần đầu tiên tôi được đến công tác tại Quân khu 4, lúc đó do đồng chí Đàm Quang Trung làm Tư lệnh. Các cơ quan của Bộ Tư lệnh Quân khu đặt tại một vùng bán sơn địa tại Nghệ An, có cơ ngơi rất đẹp và nổi tiếng về vấn đề cải thiện đời sống bằng các hồ nuôi cá từ sáng kiến của Tư lệnh. Cũng do đó mà chúng tôi được thiết đãi liên tục những bữa có món ăn cá tươi rất ngon, khi thì của Bộ Tư lệnh, khi thì của cơ quan cùng ngành.


Trong đoàn kiểm tra của Tổng cục Chính trị có anh Phạm Chí Nhân, có một thời trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Chính trị viên Tiểu đoàn 80 của Trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 308. (Anh Phạm Chí Nhân sau này là người chấp bút cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp "Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng"). Trong một buổi họp giữa đoàn kiểm tra với Quân khu, bất ngờ tôi và anh Nhân gặp anh Nguyễn Ích Tỷ cũng là Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 80 trước đây, nay là Tham mưu phó Quân khu. Ba anh em chúng tôi trước đây đều là cán bộ của Tiểu đoàn 80, đã lâu mới gặp nhau, tay bắt mặt mừng rất vui vẻ. Anh Lê Quang Hòa nhìn thấy hỏi:

- Ô! Các anh quen nhau à?

- Thưa anh, trước đây chúng tôi cùng chiến đấu và công tác ờ Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, tôi đáp.

Anh với tình cảm hòa chung gặp lại nhau giữa ba chúng tôi thốt lên:

- Chà! Qua hai cuộc chiến tranh gặp lại nhau đúng là quý hóa!

Làm việc tại Quân khu 4 hai ngày, đoàn của chúng tôi đi tiếp vào phía trong, tôi cũng không rõ là đi đơn vị nào nữa. Đến nơi, tôi mới biết đó là Sư đoàn 316 đang tạm trú quân tại đó. Lần này theo phân công của Trưởng đoàn, các thành viên trong đoàn phải phân công nhau xuống đơn vị, thâm nhập xuống cả tiểu đoàn, đại đội để nắm tình hình chất lượng tư tưởng, chính trị của bộ đội để về báo cáo cho Trưởng đoàn về tình hình chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. Sư đoàn 316 còn gọi là Đoàn Bông Lau, có chiến sĩ phần lớn là người dân tộc ở ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.


Tôi xuống một đơn vị, thấy có một số khá đông anh em được đi phép chưa về lại đơn vị. Theo các đồng chí cán bộ phụtrách cho biết là các anh em sắp tới sẽ về đủ. Mặc dù không ai nói ra, có thể đơn vị đang chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới.


Ngày cuối cùng có cuộc họp cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên toàn Sư đoàn để đánh giá về tình hình sẵn sàng chiến đấu về mọi mặt của đơn vị. Thượng tá Hải Bằng, Sư đoàn trưởng báo cáo chung với đồng chí Lê Quang Hòa về tình hình sẵn sàng chiến đấu và biểu thị sự tin tưởng ở sự chuẩn bị chu đáo của đơn vị mình. Sau khi nghe báo cáo bổ sung của các đơn vị, kết hợp với báo cáo trước đó của các thành viên trong đoàn kiểm tra, đồng chí Lê Quang Hòa biểu dương những việc làm tốt của đơn vị và nhắc nhở những việc cần chú ý làm tiếp.


Đoàn trở về Hà Nội, nhưng tôi cũng chưa thể hình dung được sắp tới quy mô chiến đấu của bộ đội ta sẽ như thế nào và đánh ở đâu.

Tôi lại bắt tay vào những công việc hằng ngày của một phòng chuyên môn làm công tác nghiên cứu vấn đề giáo dục cơ bản.

Chỉ vài chục ngày sau, sự phân vân của tôi về bộ đội ta sẽ chiến đấu như thế nào và ở đâu sau khi đi công tác ở Sư đoàn 316 về đã được giải đáp bước đầu: Ngày 10 và 11 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 316 đã tiến công với sức mạnh hiệp đồng binh chủng giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Và cũng đúng lúc này, tôi được tin con trai thứ ba của tôi là Đinh Cao Tài, đang học lớp 10 thuộc loại giỏi, đã được tốt nghiệp đặc cách phổ thông trung học và nhập ngũ khi mới bước vào tuổi 18 được vài tháng. Gặp Tài, tôi hỏi tại sao không thi tốt nghiệp rồi hãy nhập ngũ, Tài nói: "Lúc đó có khi không còn Mỹ để đánh nữa!".


Thì ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này đã được Bộ Chính trị chỉ đạo chuẩn bị từ những tháng cuối năm 1974. Việc chuẩn bị được tiến hành tuyệt mật cho một kế hoạch chiến lược hai năm 1975 - 1976, tranh thù thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nắm tình hình và chỉ đạo rất chặt chẽ các quân đoàn, binh đoàn chủ lực đã được thành lập trước đó hoặc vừa mới được tổ chức để tiến công trên khắp các mặt trận ở miền Nam. Tình hình các chiến trường ở miền Nam phát triển đến chóng mặt. Những tin tức chiến thắng ở Tây Nguyên, mặt trận Huế - Đà Nẵng và nhiều nơi khác dồn dập bay về làm nức lòng người. Các phòng của Cục Tuyên huấn thuộc khối tuyên truyền như các phòng: Tuyên truyền, Thông tấn quân sự, Phát thanh, Vô tuyến truyền hình luôn ở trong giai đoạn khẩn trương, hối hả, nhộn nhịp. Không khí của các cơ quan và Tổng cục Chính trị náo nức phấn khởi như ngày hội.


Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị quyết định giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa (5.1975). Và ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không để chậm! Ngày 8 tháng 4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập do Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tư lệnh và đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam làm Chính ủy. Đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo. Ngày 14 tháng 4, theo đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Bộ Chính trị đồng ý Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.


Những ngày ấy, anh em chúng tôi trong lúc làm việc cũng như khi về nghỉ ở nhà tập thể lúc nào đài thu thanh bán dẫn cũng ở bên mình để theo dõi tin tức chiến sự. Mặc dù phần lớn anh em chúng tôi đã qua trận mạc, nhưng chưa bao giờ tâm trạng luôn luôn xáo trộn như những ngày này. Lúc thì phấn khởi khi nhận được tin thắng lớn, lúc hồi hộp trước một trận tiến công quan trọng, lúc lo âu khi bộ đội ta gặp khó khăn, luôn luôn ở trạng thái bồn chồn, căng thẳng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #103 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:39:43 pm »

Ngày 30 tháng 4 là ngày anh em ở phòng tôi không ai còn bụng dạ để làm việc được nữa, dù biết rằng không đúng với kỷ luật công tác. Chúng tôi chỉ tập trung vào nghe từng chi tiết tin tức trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tin tức của Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi cũng rất thận trọng, mọi người như nín thở chờ đợi thắng lợi cuối cùng.


Mãi đến buổi phát thanh lúc 5 giờ chiều mới có tin chính thức xe tăng của ta đã tiến vào dinh Độc Lập và cờ giải phóng đã được kéo lên lúc 11 giờ 30 phút trưa và nội các của Dương Văn Minh đã đầu hàng. Tôi cảm thấy cả không gian Hà Nội vỡ òa ra, vội lấy xe đạp ra Cửa Đông theo đường ra Hồ Hoàn Kiếm để được chứng kiến nỗi sung sướng của mọi người như thế nào. Nhưng chỉ đạp được gần 100 mét, nước mắt tôi trào ra không thể ngăn nổi vìquá xúc động. Sợ mình sẽ ngất xỉu vì không kiềm chế nổi cảm xúc, tôi phải đạp xe quay trờ lại.


Hôm sau, ngày 1 tháng 5, mọi người vẫn vào cơ quan nhưng cũng như hôm 30 tháng 4, chẳng ai làm việc được cả, xúm lại kể cho nhau nghe không khí ở đường phố.

Khoảng 9 giờ sáng, đồng chí Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên triệu tập các cục phó và các trưởng phòng đến phòng làm việc của anh họp.

Vừa đến đủ để ngồi xung quanh chiếc bàn dài, chúng tôi rất bất ngờ thấy Đại tướng, Tổng Tư lệnh vẻ mặt rất hân hoan tươi vui bước vào. Cục trưởng hô "nghiêm" và báo cáo với Đại tướng là anh em đã đến đủ.


Đại tướng vẫy tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống. Với giọng nói ấm áp quen thuộc mà tôi đã được nghe khá nhiều lần, Đại tướng nói rằng, anh vừa qua thăm anh em ở Cục Tác chiến, Cục Quân báo của Bộ Tổng Tham mưu rồi đến Cục Tuyên huấn của Tổng cục Chính trị là những cơ quan làm việc vất vả ngày đêm để phục vụ chiến đấu, khen ngợi tinh thần làm việc của anh em. Tôi nghĩ vui thầm trong bụng "làm việc ngày đêm vất vả và hay được uốn nắn nữa chứ", nhưng tôi thấy một điều lạ ở vị Đại tướng lừng danh này với một sự giản dị, đặc biệt tâm sự với chúng tôi - những cán bộ cấp dưới như những người bạn, những đồng chí, đồng đội thân thiết, là ông không thể tưởng tượng được chiến thắng nhanh đến với nhân dân và Quân đội ta dù đã thấy trước, nhưng vẫn đến với mình như một giấc mơ. Tôi rất cảm động khi Đại tướng có một cảm xúc bình dị như một người bình thường trước chiến thắng vĩ đại mà lại là người có sự đóng góp rất lớn. Dường như ông đã quên mình là một trong những người lãnh đạo ưu tú nhất đã kiến tạo nên chiến thắng đó. Những lời tâm sự sao mà gần gũi, chân thành đến thế. Tôi nhớ lại những lần Đại tướng đã gây cho tôi những ấn tượng đẹp đẽ như vậy: Khi ông đến Sư đoàn 308, mỗi lúc nhắc tới Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, lần nào ông cũng rơm rớm nước mắt. Và trong cuộc gặp gỡ cán bộ Sư đoàn 308 buổi tối ở nhà nghỉ Quảng Bá sau Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh cũng vậy, khi ông hỏi về thương vong của cán bộ, chiến sĩ đơn vị tôi khi đánh Làng Cát với một thái độ thông cảm thật sự.


Vào thượng tuần tháng 5, dăm ngày sau khi giải phóng miền Nam, được sự đồng ý của Tổng cục, đồng chí Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên cùng một cán bộ của Cục Tuyên huấn đi khảo sát tình hình thực tế, chủ yếu là ở Quân khu 9 phục vụ cho những chương trình công tác lâu dài. Tôi được chỉ định tham gia, đến thứ 3 tuần sau thì lên đường. Chiều thứ 7 tuần ấy, tôi tranh thủ đi xe lửa về quê thăm vợ con. Ở nhà được tối thứ 7 và sáng chủ nhật, trong khi chơi đùa với hai đứa con gái nhỏ, tôi thấy người gây gây sốt, khó chịu. Hai cháu nhỏ thay nhau đấm lưng cho bố. Tuy vậy, tôi vẫn tranh thủ kiểm tra vở của Hạnh Mai, cháu gái lớn đang học lớp hai. Tôi phì cười khi xem bài văn của cháu tả một bác nông dân trong đó có câu:

“… Bác ấy có đôi mắt lá dăm, lông mày lá liễu...". Tôi giải thích cho cháu là "mắt lá dăm, lông mày lá liễu" là để chỉ người phụ nữ đẹp chứ đàn ông thì không phải như thế. Cháu cãi với tôi: "Con thấy cô giáo nói thế mà!".

Tôi thấy vui vui trước sự ngộ nghĩnh của con gái nhỏ của mình, muốn ở chơi lâu với các cháu rồi đi chuyến tàu tối về Hà Nội. Nhưng cơn sốt mỗi lúc một tăng, tôi quyết định phải đi chuyến tàu xế chiều để về cơ quan vì sợ lỡ việc đi miền Nam. Nhưng đêm đó tôi sốt rất cao, toàn thân đau ê ẩm, thỉnh thoảng có những cơn giật rất đau. Sáng hôm sau, tôi được đưa đến Viện Quân y 108 lúc đó vẫn còn sơ tán gần thị xã Hà Đông. Ngực tôi và phía sau lưng bên phải nổi lên những nốt phồng như phải bỏng, thỉnh thoảng lại giật giật đau co rúm người. Sau khi kiểm tra, bác sĩ cho tôi biết là tôi bị bệnh "zona vùng liên sườn". Bác sĩ hỏi tôi: "Anh có cháu nhỏ không?".


Tôi nói có, tôi mới về thăm nhà. Anh cho biết là nếu tôi tiếp xúc với các cháu thì các cháu sẽ lây bệnh nhưng dưới dạng bệnh thủy đậu. Thấy tôi có vẻ lo lắng cho con, anh giải thích là bệnh đó với trẻ con không đáng lo vì nó không giống như "zona" của người lớn. (Về sau đúng như bác sĩ nói, cả hai đứa con gái nhỏ của tôi đều bị bệnh thủy đậu).


Vì tôi phải đi bệnh viện, nên người thay tôi đi với Cục trường là đồng chí Đỗ Hữu Lâm - một trợ lý chủ chốt của phòng tôi. Nhưng "họa vô đơn chí", đi đến quá Đà Nẵng thì đồng chí Lâm bị chảy máu dạ dày nặng phải đưa vào Viện Quân y của Quân khu 5 để cấp cứu, suýt nguy hiểm đến tính mạng; do vậy, đồng chí Cục trưởng phải hủy chuyến đi và quay trở về Hà Nội.


Phải nằm viện điều trị khoảng 40 ngày, tôi mới khỏi và ra viện trở về công tác. Trước đó ít hôm, đồng chí Đồ Hữu Lâm cũng được Viện Quân y Quân khu 5 cứu sống và cũng đã trở về.

Được ít hôm sau, khoảng cuối tháng 6 năm 1975, đồng chí Cục trưởng và tôi có chuyến đi vào Quân khu 9 để khảo sát và nghiên cứu tình hình mà chuyến trước đã bị lỡ. Chúng tôi đi thẳng xuống Quân khu 9 và được xếp ở một phòng của khách sạn Ninh Kiều, lúc đó tạm gọi là Nhà khách Quân khu 9. Gọi là Nhà khách cho sang, chứ lúc đó mới giải phóng nên mọi thứ chưa được phục hồi, còn xơ xác. Ăn uống theo tiêu chuẩn "trung táo" của bộ đội còn xoàng hơn ở miền Bắc, chỉ có một món cá kho rẻ tiền và một bát canh nhạt nhẽo.


Đầu tiên, anh Yên và tôi làm việc với đồng chí Lê Văn Tưởng, trước đây là Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam, nay về nhận nhiệm vụ Chính ủy Quân khu 9. Anh Yên báo cáo với anh Tưởng ý định công tác của chúng tôi. Anh Tưởng cho chúng tôi biết qua tình hình của Quân khu, rồi giới thiệu chúng tôi sang làm việc với Cục Chính trị Quân khu. Làm việc với các đồng chí, chúng tôi thấy tình hình công việc của miền Nam mới giải phóng rất bề bộn như việc tiếp quản các cơ sở của địch, việc quản lý giáo dục các sĩ quan ngụy và ngụy quân, việc tập huấn cho cán bộ của ta để có thể làm tốt các công việc đó... và rất nhiều việc khác.


Làm việc với các đồng chí Quân khu 9, chúng tôi cũng hình dung được một phần các công việc mà Cục phải chuẩn bị các mặt công tác đối với miền Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #104 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:40:28 pm »

Vào thời gian này, Cục Hậu cần và Cục Chính trị thuộc Tổng cục Chính trị đã xây dựng một khu nhà cấp 4 ở số 32A phố Lý Nam Đế để cấp cho một số cán bộ cấp Cục và cấp phòng không có gia đình ở Hà Nội, tiêu chuẩn mỗi người một căn phòng và không phải ở nhà tập thể trong nội thành nữa. Đây là một nhu cầu mới phát sinh vì nhiều đồng chí cần có một nơi để tiếp vợ con ở quê lên thăm và tiếp bạn bè ngày thường cũng như ngày nghỉ. Mỗi phòng khoảng 25 mét vuông, trong đó có một ngăn rộng khoảng 5 mét vuông làm nhà tắm và nhà vệ sinh. Với tôi và nhiều đồng chí được nhận phòng riêng ở ngoài phố lúc đó là hạnh phúc lắm rồi. Trên thực tế, có một số chị đã lên ở hẳn với chồng trong căn phòng đó. Một số thì thỉnh thoảng vợ mới lên thăm ít hôm rồi về vì phải làm ăn ở quê, tôi cũng ở trong số đó. Nhưng với tôi, rất tiện là con trai thứ hai của tôi (Đức - thương binh) đã trúng tuyển vào học ở Khoa Văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cũng có thể thăm bố hoặc ở đó để học tập.


Ở Quân khu 9 về được ít hôm, tôi lại nhận được nhiệm vụ vào Đà Nẵng để tổ chức Hội nghị giáo dục chiến sĩ mới ở khu vực phía Nam.

Trước khi đi, chị Sương - chị dâu đồng chí Cục phó Đoàn Chương và là vợ của đồng chí Đoàn Khuê (Tư lệnh Quân khu 5) đang công tác ở Phòng Quân y của Tổng cục Chính trị gửi tôi một lá thư và một gói quà nhỏ cho chồng. Đất nước hòa bình đã lâu rồi mà vợ chồng một Tư lệnh Quân khu vẫn chưa giải quyết được việc hợp lý hóa gia đình, được sống gần nhau, có lẽ chỉ có Quân đội cách mạng mới có tình hình này.


Tôi lên máy bay ở sân bay Gia Lâm thì đã có hai vị tướng ngồi ở đó là Trung tướng Lê Đức Anh, Tư lệnh Quân khu 9và Thiếu tướng Đồng Văn Cống, Tư lệnh Quân khu 7. Tôi chào hai anh, tuy chưa làm việc với các anh bao giờ, nhưng hai anh đều chỉ vào cái ghế đối diện "ngồi ở đây cho vui" và hỏi chuyện về công tác của tôi. Chắc các anh vừa họp ở Bộ trở về. Máy bay hạ cánh ở sân bay Đà Nẵng, tôi chào hai anh rồi ra xe của Quân khu đã chờ sẵn về nhà khách, gần địa điểm tổ chức Hội nghị.


Hội nghị sơ kết công tác giáo dục chiến sĩ mới ở khu vực phía Nam do tôi chủ trì được tổ chức suôn sẻ nhờ sự giúp đỡ chu đáo của Quân khu. Hôm bế mạc, đồng chí Đoàn Khuê, Tư lệnh Quân khu cũng đến dự và phát biểu ý kiến.


Trở về Hà Nội được vài hôm, tôi lại được giao nhiệm vụ cùng một số anh em vào Quân khu 9 để kiểm tra việc giải quyết công tác chính sách đối với gia đình quân nhân ở huyện Long Mỹ - vốn là một căn cử của Quân khu 9 trong kháng chiến chống Mỹ. Khi đi, tôi cũng không rõ là tại sao lại giao cho Phòng Giáo dục chính trị, trong khi có cả một Cục Chính trị chuyên về việc này. Lấy xong giấy giới thiệu của Quân khu, chúng tôi xuống thẳng Long Mỹ, liên hệ với Huyện ủy và Huyện đội, đề nghị cho xuống một vài xã để chúng tôi làm nhiệm vụ. Song đợi đến năm hôm, chúng tôi vẫn không được cấp giấy giới thiệu, anh em không biết vì lý do gì mà bị cản trở như thế. Đến ngày thứ năm, khi có một đồng chí ở Huyện đội ra nhà khách vốn dĩ khá nhếch nhác, tôi nói thẳng với đồng chí ấy về báo cáo với các đồng chí có trách nhiệm ở Huyện ủy và Huyện đội là chúng tôi không có sự cộng tác của địa phương nên không thể làm tròn nhiệm vụ được và buộc phải trở về.


Khi tôi đi công tác lần này thì Đức - con trai thứ hai của tôi đề nghị cho phép đến ở phòng tôi ở 32A Lý Nam Đế để chuẩn bị làm luận văn tốt nghiệp sau khi học hết năm thứ 4 của Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khi mở khóa vào phòng, tôi thấy giường chiếu bừa bãi, lộn xộn, chăn màn cụng chưa được xếp gọn. Tôi để nguyên hiện trạng, định bụng về giáo dục anh chàng có nếp sống ngăn nắp. Lúc ở trường về, thấy tôi và giường chiếu vẫn lộn xộn như vậy, chàng ta hoảng hốt nhảy bổ vào xếp gọn lại giường chiếu, chăn màn. Tôi đứng nhìn và chì nói một câu ngẳn gọn: "Cậu xem có khác gì một cái chuồng lợn không?" Đức im lặng cảm thấy có lỗi.


Ở được ít hôm, tôi lại được đồng chí Cục trưởng giao cho nhiệm vụ vào Quân khu 5 và Quân đoàn 3 khi đó trú quân tại Nha Trang để truyền đạt một vấn đề về tình hình thời sự ở Trung Quốc và một vài công việc khác. Tình hình của cuộc "Đại cách mạng văn hóa vô sản" ở Trung Quốc lúc đó rất lộn xộn và quan hệ giữa ta và Trung Quốc vẫn trong tình trạng căng thẳng. Tôi làm việc ở Đà Nẵng với một đồng chí cán bộ tuyên huấn của Quân khu chỉ trong vài tiếng. Hôm sau, Quân khu có xe công tác vào Nha Trang, tôi tranh thủ đi cùng đến Quân đoàn 3. Lúc này, Đinh Cao Tài - con trai thứ ba của tôi nhập ngũ tháng 3 năm 1975 được huấn luyện cấp tốc và lên đường vào Nam, nhưng chưa được chiến đấu thì miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Tài được đơn vị chọn cho đi học lớp trung cấp của Trường Sĩ quan Không quân ở Nha Trang, chuyên ngành ra đa.


Tôi làm việc với đồng chí Chính ủy Quân đoàn Đặng Vũ Hiệp và Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn Lã Ngọc Châu trongmột buổi tối những nội dung giống như Quân khu 5. Anh Đặng Vũ Hiệp nghe tình hình thời sự về Trung Quốc có vẻ miễn cưỡng, không tin lắm ở lực lượng chống lại "Cách mạng văn hóa vô sản". Gặp Tài trông còn rất trẻ con, mặc bộ quân phục đeo phù hiệu của Quân chủng Không quân, tôi cảm thấy mừng vì con mình đã trưởng thành và đã có định hướng phấn đấu. Tôi động viên Tài cố gắng phấn đấu học tập, công tác và cho biết qua tình hình mẹ và các em ở nhà. Tài muốn tôi vào thăm các đồng chí lãnh đạo Nhà trường nhưng tôi từ chối. Ngày hôm sau, anh Đặng Vũ Hiệp và anh Lã Ngọc Châu ra Hà Nội họp, tôi đã đi nhờ xe cùng ra.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #105 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:41:36 pm »

Chỉ có mấy tháng đầu sau giải phóng miền Nam, mà tôi như con thoi vào Nam, ra Bắc với những việc như thế, không đi vào được những công việc chính của phòng. Không biêt đó có phải là ngẫu nhiên hay nằm trong ý đồ của Thủ trưởng Cục, nhưng dù thế nào cũng là tốt cho tôi. Bởi vì để giúp Tổng cục Chính trị nắm chắc tình hình miền Nam và để chỉ đạo kịp thời các công việc ở đây, Tổng cục đã tổ chức một bộ phận khá mạnh thường trực gồm hầu như tất cả các cục và các bộ phận cần thiết phải cử người vào làm nhiệm vụ thường trực dưới sự chỉ đạo của Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Hòa, làm việc trong một số ngôi nhà tại sân bay Tân Sơn Nhât. Tôi làm nhiệm vụ thường trực cho Cục Tuyên huấn, vừa làm việc vừa ở trong một căn phòng thuộc khu nhà trước đây dành cho các thành viên của Ủy ban quốc tế. Căn phòng của tôi thuộc ngôi nhà của các sĩ quan Iran ở trước đây, do ngụy quyền xây dựng làm chỗ cho Ủy ban quốc tế. Khu nhà này do một công ty Nhật Bản trúng thầu xây dựng lắp ghép bằng gỗ. Tuy nhiên, thiết bị gồm cả nội thất khá hiện đại và đầy đủ tiện nghi, sinh hoạt phù hợp với cách sống của các nước tham gia Ủy ban quốc tế. Nhà có đủ hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ, nhà vệ sinh, nhà tẳm, giường đệm, bàn ghế cho từng phòng. Nhưng thật đáng tiếc là từ khi ta quản lý và ở thì hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ bị cháy hỏng, chậu sứ, gương bị tháo gỡ lấy đi, không chỉ ở đây mà toàn bộ sân bay đều như vậy. Tôi rất tiếc khi thấy một cơ sở bệnh viện của không quân Mỹ, ngụy làm nhiệm vụ sơ cứu cho phi công của chúng rất hiện đại, một nửa ngầm dưới đất thiết bị bên trong không biết bị ai tháo gỡ hết, nhìn tan hoang không thể sử dụng được nữa. Tôi cho rằng tất cả tình trạng đáng tiếc ở trên là do sự chỉ đạo, bảo vệ, quản lý các cơ sở của địch không kịp thời, thiếu cụ thể, kỷ luật chiến trường, nhất là đối với chiến lợi phẩm dù lớn nhỏ còn chưa nghiêm, mặc dù đã có chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.


Người tôi gặp đầu tiên là đồng chí Phạm Ngọc Điển, Phó Văn phòng của Tổng cục Chính trị. Anh Điển trước đây là Trưởng ban Hành chính Phòng Chính trị của Sư đoàn 308. Sau Chiến thắng Điện Biên Phù, anh về Tổng cục Chính trị cùng đồng chí Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục. Tôi chính là người về thay thế anh Điển. Anh cho tôi biết một số tình hình anh nắm được, trong đó có những tin khá thú vị. Ví dụ như một đội viên bộ đội địa phương của ta dùng mìn đánh cháy một xe tăng địch và tiêu diệt được nhiều Mỹ. Anh ta được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng rồi anh ta bị địch bắt và phản bội cách mạng, vào làm một nhân viên trong bộ máy chiến tranh tâm lý của địch. Địch đem anh ta về nơi anh ta lập chiến tích ngày trước (cũng là quê của anh ta) định giở trò phảncông ta về mặt tuyên truyền, buộc dân làm chứng. Nhưng nhân dân ở đó nhất định không nhận anh ta là người đã đánh chiếc xe tăng và diệt tụi lính Mỹ đó. Âm mưu của bọn Mỹ, ngụy hoàn toàn thất bại. Thật ra, hành động lúc đầu của anh ta đúng là dũng cảm, thành tích đáng được tuyên dương và đã được nêu gương nhiều lần trên sóng của Đài phát thanh Giải phóng và Ha Nội, nhưng không ngờ sau đó anh ta lại phản bội. Như vậy, nhờ dân mà ta đã thấy rõ hơn mặt trận tuyên truyền chống lại đòn chiến tranh tâm lý của địch.


Người thứ hai tôi gặp là đồng chí Trần Quốc Hạnh, Phó phòng Tuyên huấn của Quân chủng Phòng không - Không quan cũng thường trực ở phía Nam. Anh Hạnh cho biết một tin mật mà các phương tiện thông tin đại chúng của ta chưa hề biết tới. Đó là ngày 3 tháng 5 năm 1975, bọn Pôn Pốt đổ bộ lên định chiếm đảo Phú Quốc nhưng lại rút lui. Đến ngày 10 tháng 5 năm 1975, chúng cho khoảng một tiểu đoàn đổ bộ đánh chiếm đảo Thổ Chu thuộc chủ quyền của ta, bắt đi và thủ tiêu hơn 500 đồng bào ta. Sau nhờ một bé trai khoảng 14-15 tuổi chạy thoát bơi ra biển được thuyền đánh cá của ta cứu báo tin. Theo lệnh cấp trên, ta phải đánh lấy lại. Lúc này, trên danh nghĩa ta và Pôn Pốt vẫn là "bạn" nên trận đánh hoàn toàn được giữ bí mật. Để bảo đảm chiến thắng, chúng ta dùng một lực lượng hải quân cùng phối hợp với trực thăng vũ trang ta thu được của Mỹ ngụy. Nhưng với loại máy bay này, các chiến sĩ không quân của ta sư dụng chưa thạo, nên phải trưng dụng một số phi công của quân đội Sài Gòn đã đầu hàng ta. Và ta đã tiêu diệt toàn bộ bọn Pôn Pốt ở đảo và chốt giữ ở đó.


Nhờ những chuyển đi công tác ở Quân khu 9, Quân khu 5 và một số anh em quen biết1(Ví dụ như đồng chí Lương Văn Cành, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 88 được bổ sung cả Tiểu đoàn cho miền Nam năm 1967, lúc này là Trưởng phòng Tổ chức của Quân khu 7 thường đến chỗ tôi chơi), nên tôi cũng không bỡ ngỡ đối với công việc thường trực. Lại được biết thêm đồng chí Vũ Quang Đạo - bạn học với tôi cùng ở một đại đội học viên trung sơ cấp ở Vân Nam - Trung Quốc năm 1950 - 1951, nay là Thư ký riêng cho đồng chí Lê Quang Hòa, nên công việc của tôi càng thêm thuận lợi. Anh Vũ Quang Đạo sau khi học ở Trung Quốc về vào chiến đấu ở miền Nam, bị thương hỏng một mắt và bị địch bắt làm tù binh đưa đi đày ở Côn Đảo, anh được trở về sau đợt trao đổi tù binh năm 1973 và tiếp tục công tác ở Tổng cục Chính trị.


Một hôm, Vũ Quang Đạo đến chỗ tôi cho biết là tôi phải chuẩn bị cho đồng chí Lê Quang Hòa một bài giảng cho khoảng hơn 300 anh em cán bộ người miền Bắc đã chiến đấu ở miền Nam, động viên anh em tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ quản giáo các sĩ quan và binh lính ngụy đã trình diện. Đồng thời, tôi cũng được anh Trần Đình Cửu, Cục trưởng Cục Cán bộ cho biết, động viên anh em tiếp tục ở lại là một việc tương đối khó khăn vì anh em phần lớn đã chiến đấu lâu ngày ở miền Nam, nay đa phần có nguyện vọng trở về miền Bắc. Nếu động viên được khoảng 80% ở lại coi như đạt yêu cầu. Tôi cũng thấy đây là một việc làm không dễ gì, trong tay lại không có tài liệu để tham khảo. Tuy nhiên, tôi thấy đây là một việc làm rất cần thiết, có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ thành quả cách mạng mà nhân dân và Quân đội ta đã đổ bao xương máu mới giành được. Trong khi đó, mặc dù Mỹ đã cút khỏiViệt Nam, chính quyềnngụy tay sai đã sụp đổ, nhưng không phải âm mưu quay trở lại của chúng đã kết thúc, vì chúng có cả một kế hoạch hậu chiến sau thất bại tại Việt Nam. Tôi cũng rất quý trọng và tin tưởngsàng vì lợi ích của đất nước, của các thể hệ con cháu mình mà nhận rõ trách nhiệm này. Tôi nhớ trong lòng một câu nói của Bác Hồ đại ý: "Cần có người cách mạng vì còn có kẻ địch phản cách mạng", và nghĩ rằng việc quản giáo những sĩ quan, binh lính của chế độ cũ để họ nhận ra lẽ phải, thấy rõ thắng lợi vừa qua của toàn đất nước cũng là thắng lợi của dân tộc, trong đó có họ để cùng toàn dân chung tay xây dựng đất nước, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người là một việc làm rất cần thiết.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #106 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:43:32 pm »

Trên tinh thần đó, tôi tập trung rất cao, cả về tình cảm và tri thức để chuẩn bị một bài giảng có chất lượng cho đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bài giảng được anh thông qua toàn bộ và được nhanh chóng in rônêô đủ cho cán bộ nghiên cứu. Sau gần một buổi sáng lên lớp với toàn văn tài liệu được sử dụng và thêm một ngày rưỡi thảo luận, lớp học đã đạt được kết quả rất tốt ngoài sự mong đợi. Theo thông báo của Cục trưởng Cục Cán bộ Trần Đình Cửu, trên 98% trong số hơn 300 cán bộ tham gia học tập tình nguyện ở lại miền Nam làm công tác quản giáo sĩ quan và binh lính ngụy. Chỉ có hơn 1% do có những việc quá cấp bách của gia đình không thể ở lại được. Đồng chí Cửu rất phấn khởi khi cho tôi biết tỷ lệ này và tôi cũng rất vui, cho đó là một phần thưởng quý giá nhất đối với mình đã có đóng góp một phần công sức vào kết quả đó.


Ngoài những việc lớn như thế tôi còn có nhiệm vụ nắm vững tình hình các đơn vị, đặc biệt là các đơn vị chủ lực của Bộcòn ở lại miền Nam về chính trị, tư tưởng để báo cáo về Cục và giúp đỡ việc triền khai các công việc trước mắt đột xuất của Cục do cán bộ của Cục cử vào làm.


Tình hình và công việc ở vùng mới giải phóng còn rất bề bộn và phức tạp. Nói chung sau khi được giải phóng, nhân dân rất quý trọng và yêu mến bộ đội ta, trừ một số vẫn còn mặc cảm ví dụ như số có quan hệ chặt chẽ với Mỹ, ngụy hoặc một số trong đồng bào công giáo di cư từ miền Bắc vào. Nhưng cũng còn một số nhỏ trong cán bộ, chiến sĩ ta đã bị lóa mắt trước vẻ phồn vinh giả tạo và hàng hóa của địch, kề cả một số ít cán bộ các ngành ở ngoài vào tiếp quản hoặc bổ sung cho Miền, nặng nề thu vén cá nhân. Một số bà con ở miền Nam từ trước được gặp lại nhau. Bên cạnh những quan hệ tình cảm trong sáng, vui mừng, cũng có những biểu hiện lợi dụng nhau, vụ lợi. Thậm chí có một số thời điểm rộ lên một dư luận miền Nam nhận "họ", miền Bắc nhận "hàng" gây nên ảnh hưởng không tốt đối với miền Bắc xã hộị chủ nghĩa. Những báo cáo tôi gửi về thường được đánh giá tốt.


Dù có bận việc, nhưng khi Cục Tuyên huấn cử người của Phòng Giáo dục vào bồi dưỡng nội dung giáo dục chính trị cho các chiến sĩ mới ở miền Nam, tôi cũng phải tổ chức và tạo điều kiện để các đồng chíấy thực hiện có chất lượng nhiệm vụ được giao và tranh thủ thêm sự chỉ đạo của đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục thường trực. Với chức năng tham mưu cho Thủ trưởng Tổng cục, tôi chuẩn bị một bài phát biểu ngắn gọn cho anh Lê Quang Hòa. Hôm khai mạc lớp bồi dưỡng, đi xe cùng anh đến lớp, tôi đưa bài phát biểu chuẩn bị sẵn cho anh,tuy anh không chỉ thị phải làm. Cầm bài phát biểu tôi đưa, anh hài hước nửa đùa nửa thật:

- Anh phát biểu hay tôi phát biểu đây?

- Thưa anh, với trách nhiệm của mình, tôi phải chuẩn bị cho anh, chỗ nào dùng được thì anh dùng, không dùng được đề nghị anh bỏ!

Anh Hòa không nói gì, vẻ mặt vui và hài lòng. Và khi tôi giới thiệu với cuộc họp, anh lên phát biểu đầy đủ những ý tôi đã chuẩn bị cho anh.

Năm 1976, tôi nhận được quyết định phong quân hàm Thượng tá sau 9 năm giữ cấp Trung tá. Trong khi đó, từ khi về công tác tại Cục Tuyên huấn, hầu như năm nào, phòng tôi cũng được khen thưởng hoặc biểu dương là một phòng đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gặp các đồng chí đơn vị cũ trước đây tôi chỉ là cấp Đại úy, Thượng úy, anh thường "thắc mắc hộ" tại sao lại chậm thế? Thực ra, có lúc tôi cũng hơi chạnh lòng thấy cấp dưới đã thăng cấp Trung tá, thậm chí Thượng tá, nhưng rồi cũng tự nhủ và nói với anh em rằng điều đó là bình thường, vì đều xuất phát từ nhu cầu, ở đơn vị cán bộ phát triển nhanh hơn là điều không có gì đáng ngạc nhiên.


Khi nhận nhiệm vụ vào thường trực cho Cục Tuyên huấn ở miền Nam, tôi có ý định tranh thủ làm một số việc có liên quan đến gia đình.

Việc đầu tiên mà tôi quan tâm là tìm gia đình người chị ruột thứ hai của tôi mà gia đình đã mất liên lạc từ năm 1954 đến nay, vì tôi chưa biết rõ gia đình này hiện nay như thế nào. Chỉ biết rằng năm 1960, mẹ tôi cho tôi biết là có một người họ xa là anh Hoàng Văn Cương, gia đình cũng vào Nam từ năm 1954, gửi bưu thiếp báo cho mẹ tôi là chị tôi đã mất từ tháng 6 năm đó. Mẹ tôi rất thương chị. Và tôi từ nhỏ đến lớn cũng rất yêu quý chị bởi sự chăm chỉ, dịu dàng, hiền hòa của chị. Đặc biệt là chị rất quan tâm săn sóc đứa em trai duy nhất hay ốm đau, yếu đuối của chị là tôi. Chồng chị (như tôi đã nói ở phần I) vốn là một đội nhất thể lại khố xanh, ngày đảo chính Nhật - Pháp (9.3.1945), Nhật đã cử thay tên giám binh người Pháp ở Phú Thọ chỉ huy trại bảo an ở tỉnh lỵ. Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, anh đã nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng và được Bộ Quốc phòng cử về làm huấn luyện dân quân ở tỉnh Nam Định. Năm 1954, quê tôi được giải phóng, khi về nhà, tôi được biết tin anh đã vào "thành" từ trước, và từ đỏ tôi hoàn toàn mất liên lạc. Đồng thời, tôi cũng muốn tìm chị ruột vợ tôi là chị Lại Thị Yên, vốn là một cảm tình của Đảng cùng theo chồng vào Nam còn sống mà tôi cũng đã biết địa chỉ.


Trước hết, để lần tìm được tin tức, tôi phải liên lạc được với chị Yên. Việc này tôi trao đổi với anh Phạm Ngọc Điển, Phó Văn phòng của Tổng cục Chính trị và nhờ anh giúp đỡ đến trước nhà của chị Yên, xem tôi có thể đến được không. Anh rất nhiệt tình giúp đỡ và báo cho tôi biết là nhà chị rất nghèo, gần chợ Bàn Cờ và có thể đến được. Anh hẹn với chị,tôi sẽ đến thăm vào sáng chủ nhật tới.


Buổi tối, khi đến đầu một con hẻm ở phố Lý Thái Tổ, có một tốp trẻ nhỏ đang vui đùa ở đó. Tôi phát hiện một cháu có những nét rất giống cậu em ruột vợ tôi, là liệt sĩ Lại Kim Lĩnh hy sinh tại Lào trong chống Mỹ. Cháu độ khoảng trên dưới 10 tuổi, tôi gọi cháu và hỏi cháu có phải là con bà Yên không, cháu bẽn lẽn gật đầu và dẫn tôi vào nhà. Đó là một căn nhà nhỏ ở cuối hẻm có gác xép, đồ đạc tuềnh toàng, chỉ có một cái phản. Chị gặp tôi rơm rớm nước mắt và giới thiệu một người đàn ông lớn tuổi ốm hom hem ngồi trên phản là chồng. Tôi không ngạc nhiên vì đã biết là người chồng trước của chị ở quê tôi vô sinh, khi vào Nam đã lấy một cô gái trẻ đã có bầu. Chị lấy anh chồng thứ hai và đã có với nhau 4 đứa con trai. Hiện nay, chị bán xôi chè, quà sáng để nuôi cả gia đình.


Chị cho biết chị ruột tôi đã mất, vẫn còn một đứa con gái cả ở đây nhưng chị không biết nó ở đâu và có lẽ vợ anh Hoàng Văn Cương biết rõ. Chị cho tôi địa chỉ nhà anh Cương ở đường Lê Quang Định. Tôi thấy việc tìm mộ chị tôi ở Sài Gòn - Gia Định mênh mông này rất khó khăn, xong tôi quyết tâm tìm kỳ được để ít nhất cũng được đến thăm chị, thắp một nén hương lên mộ chị ruột mình.


Rất may tôi gặp được đồng chí Mai Chi, Chính trị viên Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 88 đã cùng tôi đánh trận Phu Nhoi ở đường 9 - Khe Sanh, khi tôi là Chính ủy Trung đoàn. Anh Chi chuyển vào đây công tác, hiện đang là Chính trị viên Quận đội, là Ủy viên Thường vụ của Quận ủy. Nghe tin tôi vào công tác và thường trực ở đây đã đến thăm tôi. Mai Chi vốn tính tình trầm tính, sống thiên về nội tâm, cũng trạc tuổi tôi, gặp tôicũng không giấu nổi nỗi vui mừng xúc động giữa những người bạn chiến đấu đã cùng nhau trải qua những ngày tháng gian khổ, quyết liệt nhất của chiến tranh, đặc biệt là ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Anh cho biết đường Lê Quang Định thuộc quận anh đang công tác, ở gần trụ sở Quận đội. Tôi cho anh biết địa chỉ nhà anh Cương và nhờ anh xác minh xem có thể đến được không. Anh mời tôi chủ nhật đến chỗ anh chơi và anh sẽ trả lời.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #107 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:44:14 pm »

Đúng hẹn tôi đến trụ sở Quận đội, anh cho biết là gia đình đó có thể đến được. Cơm trưa xong ở chỗ Mai Chi, tôi sang nhà anh Cương, thì chỉ gặp chị Chữ vợ anh ở nhà. Hai anh chị không có con nên nuôi một người cháu gái ở miền Bắc từ lúc anh chị vào Nam. Chị Chữ cho biết là ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định thì anh Cương ra phố, trên mình chỉ mặc một bộ quần áo "pijama" rồi từ đó mất tích, có người nói anh đã di tản sang Mỹ, trước khi đi anh cũng không nói điều gì với chị.


Về gia đình này có nhiều điều bí ẩn mà cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu. Anh chị đều có họ với gia đình tôi vì mẹ anh Cương với bố tôi là hai chị em con bá con dì ruột. Bà mẹ anh vốn rất quý chị ruột tôi (đã mất mà tôi đang tìm mộ) muốn hỏi chị tôi cho anh Cương nhưng bố mẹ tôi không đồng ý vì còn có họ tương đối gần nên từ chối. Khi chị tôi mất, chính anh Cương là người đã gửi bưu thiếp báo tin cho gia đình tôi. Sau đó, anh Cương lấy một người vợ ở một làng khác xinh đẹp nhưng nghe nói chị đã có người yêu nhưng bị gia đình ép lấy anh Cương. Hai người có với nhau một đứa con gái cũng xinh đẹp như mẹ,nhưng về sau, hai người ly dị, đứa con gái ở lại với anh Cương rồi anh Cương lấy chị Chừ. Khi giặc Pháp chiếm đóng quê tôi, gia đình anh tản cư vào Cốc Nội cũng thuộc Kim Bảng, mở một quán giải khát trên đường 21 mà mỗi lần về phép tôi đều tạt vào quán của hai anh chị. Quán giải khát của hai anh chị cũng là nơi đi lại của cán bộ nhiều ngành như công an, quân giới, công nhân của các công binh xưởng... sơ tán trong các khu rừng kín đáo quanh khu vực đồn điền Chi Nê thuộc châu Lạc Thủy (lúc đó vẫn thuộc tỉnh Hà Nam). Khi quê tôi sắp được giải phóng, thì anh chị vào "thành", người ta thường gọi là "dinh tê"1 (Rời bỏ vùng tự do vào sống ở vùng Pháp tạm chiếm thời kháng chiến). Đứa con gái riêng của anh Cương ở lại và được anh Trần Lung lúc đó là Trưởng ty Công an Hà Nam nhận làm con nuôi. Khi đến tuổi trưởng thành, người con gái đó được anh Trần Lung gả cho một đại úy công an, lúc đó anh Trần Lung đã là một cán bộ cao cấp thuộc Bộ Công an. Chị Chữ cho biết người con gái riêng của anh Cương đã vào đây vài lần và cũng được chị tặng quà, tiền nhưng chị cũng phàn nàn nhiều về chuyện đã có lần lấy tiền vàng của chị lúc chị vắng nhà. Chị luôn buồn rầu về việc anh Cương bỏ đi mà không cho chị biết gì, trong khi cơ ngơi của anh chị khá lớn. Chị cho biết: Từ ngày anh Cương vào đây, anh kinh doanh vật liệu xây dựng, việc kinh doanh phát đạt nên ngoài ngôi nhà chị đang ở tuy chỉ có một tầng nhưng rất rộng rãi, còn một khu kho nữa ở gần đây. Tôi thoáng nghĩ có lẽ anh là cơ sở mật của công an, nhưng cũng không dám chắc vì thấy vấn đề phức tạp quá. Riêng với chị, tôi biết từ trước chị là một phụ nữ hiền lành, chỉ biết làm ăn chứ không quan tâm tới nhữngchuyện khác. Tôi khuyên chị cứ yên tâm kiên nhẫn chờ đợi sẽ có ngày liên lạc được với anh Cương, còn bây giờ nên chấp hành tốt chủ trương, chính sách của chính quyền cách mạng không nên nghe theo những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn xấu. Chị cho tôi địa chỉ của đứa con gái cả của chị ruột tôi và cho biết cháu Quyên lấy chồng đã lâu và đã có ba bốn đứa con rồi. Và vợ chồng nó đang sống ở một làng ngoại ô thị xã Bà Rịa.


Từ địa chỉ đó, tôi viết một lá thư cho Quyên hẹn cháu đến nhà chị Yên vào một ngày chủ nhật. Nếu gặp được cháu thì việc tìm mộ mẹ nó không còn gì khó khăn nữa. Đúng ngày đã hẹn, tôi đến nhà chị Yên mang theo nửa cân đường kính tiêu chuẩn tháng của tôi và một số viên sinh tố tôi chưa dùng mang đến làm quà cho chồng chị đang bị ốm. Ngồi chưa nóng chỗ thì một thiếu phụ gầy gò bước vào nhà. Tôi nhận ra ngay đứa cháu ruột gọi mình bằng cậu, bởi một số nét giống chị ruột tôi. Gần 30 năm cậu cháu mới gặp nhau, cháu cũng nhận ra tôi ngay không một chút ngỡ ngàng. Để cháu ngồi nghỉ một lát, tôi bảo cháu dẫn tôi đến nghĩa trang nơi có mộ của mẹ cháu.


Đi xe đò đến Gò vấp, Quyên dẫn tôi đi vòng vèo một lúc mới tới một nơi cây cối rậm rạp, vào một khu đất nhỏ có khoảng trên dưới 100 ngôi mộ nhỏ. Cháu nói đây là một nghĩa trang do một ngôi chùa ở gần đó quản lý. Nhìn qua toàn cảnh thấy rõ đây là một nghĩa trang dành cho người nghèo vì toàn bộ các ngôi mộ đều được xây rất sơ sài, kích thước nhỏ, bia mộ làm đại khái khắc chữ nguệch ngoạc cho khỏi lẫn. Tôi thắp hương cắm lên mộ và cúng, cháu ngồi cạnh mộ im lặng. Những kỷ niệmvề chị hiện lên trong trí nhớ tôi, người chị bất hạnh chết trẻ ở tuổi 40 của mình, trên bia đề ngày 18 tháng 6 năm 1960. Tôi nhớ ngày chị đi lấy chồng năm 17 tuổi, lúc đó tôi học lớp dự bị ở trường huyện mới 8 tuổi. Hôm lại mặt sau ngày cưới về nhà chồng, thấy tôi, chị nhào tới ôm em vào lòng cứ như là đi xa lắm lâu ngày mới gặp mặt. Tôi nhớ vào tháng 2 năm 1950, lúc đó tôi 21 tuổi đã là Chính trị viên Huyện đội dân quân, Huyện ủy viên, được Tỉnh ủy chỉ định đi học lớp Chính trị viên Đại đội Lê Hồng Phong ở Việt Bắc. Trước khi tôi lên đường, chị lặng lẽ trao cho tôi chiếc đồng hồ Wiler chữ nhật mạ vàng, có lẽ của chồng tặng, không nói gì. Và đó là lần cuối cùng chị em được ở bên nhau.


Trong lúc đợi cho hương cháy hết, cháu Quyên kể cho tôi nghe: Mẹ cháu có lẽ bị sốt xuất huyết, nằm ở một bệnh viện làm phúc. Lúc mất, bố cháu đi vắng xa, chỉ có cháu bên cạnh, rất lúng túng không biết lo việc tang và chôn cất mẹ thế nào thì được một người hàng xóm theo đạo Thiên Chúa di cư vào Nam năm 1954 giúp đỡ rất tận tình. Cháu cho biết là ông ta ở ngay gần đây. Tôi ngỏ ý muốn đến thăm và cảm ơn ông ta thì cháu đồng ý ngay, rồi dẫn tôi đi. Đi khoảng 200 mét thì tôi đến một căn nhà lá ở một mảnh vườn um tùm cây côi, trong đó chi có một người đàn ông đang nằm trên một cái võng. Căn nhà trông hoác, không có giường phản, bàn ghế gì hết. Tôi đến chào ông ta và tự giới thiệu tôi là cậu ruột của cháu Quyên và là em ruột của bà Truật đến cảm ơn ông đã giúp đỡ cháu lúc mẹ cháu qua đời. Ông ta vẫn nằm yên trên võng, thậm chí không mời khách ngồi, có lẽ ông ta đang có tâm trạng rất nặng nề. Tôi đứng bên cạnh võng nhìn ông ta vẫn nằm, mắt không thèm nhìn khách,lạnh lùng với một giọng buồn, đều đều nói: "Tôi không hiểu ông Tâm là người thế nào mà đối xử với bà ấy như thế. Bà ấy là một người vợ đẹp người, đẹp nết mà ông ấy không màng đến lúc ốm đau cũng chẳng thèm chăm sóc, lại đi theo một con điếm, chẳng còn ra làm sao cả!". Anh Tâm là chồng chị tôi (bố của Quyên), nhưng cháu không hề nói với tôi chuyện này, hình như cháu không muốn nhắc đến những chuyện đau buồn đấy nữa. Biết không thể nói gì thêm, một lần nữa tôi cảm ơn ông, rồi cùng Quyên ra về.


Trên đường đi, Quyên cho tôi biết thêm là bố cháu sau khi đi theo người đàn bà ấy rồi chết ở đâu cháu cũng không rõ. Còn ba đứa em trai Quyên, một đứa là Nguyễn Thượng Dân - trung úy ngụy quân, làm ở sân bay Tân Sơn Nhất đã chạy sang Mỹ hôm 30 tháng 4 năm 1975; một đứa là Nguyễn Thượng Quân - thiếu úy ngụy quân đã chết trận ở miền Trung; hai đứa này tôi đã biết chúng khi còn ở miền Bắc là hai đứa trẻ bụ bẫm, đẹp và khỏe mạnh, tôi thường dắt đi chơi. Còn đứa thứ ba là Nguyễn Khôi Việt, chị tôi sinh nó năm 1955, sau khi đã theo chồng vào Nam, vừa mới bị bắt vào lính ngụy được mấy ngày thì miền Nam giải phóng, sau khi trình diện không phải đi cải tạo. Chồng của cháu Quyên là một hạ sĩ quan ngụy làm ở sân bay, nhưng bây giờ cũng hay rượu chè, bê tha. Qua những câu chuyện cháu cho tôi biết, tuy cháu không hề có một yêu cầu giúp đỡ gì, nhưng tôi cũng hiểu là đời sống của gia đình cháu hiện nay rất khó khăn. Với việc đôn đáo hàng ngày buôn rau, chạy chợ để nuôi chồng con trong lúc này thật cực kỳ vất vả... Tôi cố suy nghĩ để có thể giúp đỡ được cháu phần nào trong lúckhó khăn này. Vì vậy, tôi lại hẹn cháu chủ nhật sau đem con và bảo Việt đến gặp tôi ở nhà bà Yên.


Đúng hẹn, tôi đến nhà chị Yên, đã thấy hai vợ chồng cháu cùng hai đứa con gái đã chờ ở đó. Quyên cho tôi biết, em trai út của cháu Nguyễn Khôi Việt được cháu báo và sẽ cùng đi với chị đến gặp tôi; nhưng đến giờ hẹn không thấy đến, cháu sợ nhỡ hẹn với tôi nên đành phải đi trước. Hai đứa con gái của vợ chồng Quyên, một đứa đầu lòng đã 12 tuổi, còn đứa út mới hơn 2 tuổi, khỏe mạnh và ngoan, khác hẳn sự gầy yếu của mẹ chúng, chứng tỏ mẹ chúng chăm nuôi con rất tốt. Tôi hỏi chuyện làm ăn của hai vợ chồng định như thế nào rồi dụ ý khuyên răn chồng nó chung sức với vợ làm ăn lương thiện nuôi con. Vợ chồng nó cho biết sẽ cố gắng dành dụm ít tiền để mua vài công ruộng cày cấy lo đủ gạo ăn, giúp thêm vào việc buôn rau quả chạy chợ của Quyên. Tôi mừng vì vợ chồng nó đã có hướng giải quyết tốt để cải thiện hơn đời sống của gia đình. Còn tôi cũng đã có hướng để giúp thêm cho các cháu. Rất may là trước đó, ta có chủ trương đổi tiền để thống nhất đồng tiền chung của cả nước, lương tháng đó tôi mới lĩnh theo đồng tiền mới. Tôi dành một nửa tháng lương cho gia đình cháu. Lần này tôi chỉ tiếc là không được gặp Khôi Việt, thằng con trai út của chị tôi để trao đổi, dặn dò nó có hướng phấn đấu cho tốt. Khoảng một tháng sau, tôi nhận được thư của Quyên báo cho tôi biết cháu đã dùng số tiền tôi tặng và thêm vào chút ít mua được 4 sào ruộng để trồng lúa. Tôi rất mừng đã giúp cháu thiết thực và chúng đã sử dụng đồng tiền được giúp có hiệu quả.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #108 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:45:53 pm »

Chương tám
ĐẾN CAMPUCHIA - NHIỆM VỤ DÂN TỘC VÀ NGHĨA VỤ QUỐC TẾ


Bắt đầu từ tháng 5 năm 1975, đã có những dấu hiệu phản bội đầu tiên của chính quyền Pôn Pốt đối với Việt Nam qua các cuộc đổ bộ của binh lính Khơme Đỏ lên đảo Phú Quốc, rồi đến đảo Thổ Chu, giết hại hơn 500 đồng bào ta.


Trước tình hình đó, phía ta đã tự kiềm chế và nhiều lần đề nghị với chính quyền Pôn Pốt cùng ta đàm phán để giải quyết xung đột một cách hòa bình. Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong năm 1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có lần sang Phnôm Pênh hội đàm với Trung ương Đảng Cộng sản Khme (KCP) và có chấp nhận một vài yêu sách của họ. Và cũng trong cuối năm 1975, để "đáp lại" thiện ý của ta, một đoàn đại biểu của chính quyền Pôn Pốt do Khiêu Xăm Phon và Iêng Xari cầm đầu đã đến Việt Nam để hội đàm với Đảng Lao động Việt Nam. Tôi cũng như nhiều đồng chí khác trong Cục Tuyên huấn không rõ nội dung của những buổi hội đàm đó là gì nhưng theo những gì chúng tôi biết hoặc tin tức qua báo chí của chúng ta, có những biểu hiện không bình thường. Ví dụ, qua bài phát biểu Khiêu Xăm Phon lời lẽ rất thiếu thân thiện, không hề có một ý tốt đẹp nào trongquan hệ lịch sử Việt Nam - Campuchia khi có chung một đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng không hề nhắc tới sự vô tư hào phóng kể cả xương máu của cán bộ, chiến sĩ ta với cách mạng Campuchia, không hề nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã một thời sáng lập và đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương...


Hay trong buổi chiêu đãi văn nghệ do Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị biểu diễn (lúc đó Đoàn Văn công do Cục Tuyên huấn chỉ đạo và quản lý). Theo anh chị em văn công kể lại, mặt chúng lạnh như tiền, không hề có một tiếng vỗ tay, một lời cảm ơn. Có lẽ trước những biểu hiện lạ lùng như vậy, Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên đã mời đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng lúc đó là Thiếu tướng đến nói chuyện. Đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng trước kia khi còn là Đảng Cộng sản Đông Dương vốn là Phó Bí thư Ban Cán sự Miền của Đảng (lúc đó gọi như vậy, từ sau Đại hội II của Đảng (1951), Campuchia và Lào mới tách ra thành Đảng riêng). Nay đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng là Phó ban Liên lạc Đối ngoại của Đảng phụ trách vấn đề Campuchia. Đồng chí Nguyễn Trọng Yên chỉ triệu tập các đồng chí là Cục phó và trưởng phòng nghiên cứu chính ở trong Cục đến dự, với hy vọng qua cuộc nói chuyện của đồng chí Hoàng có thể khai thác để nắm được thực chất tình hình bạn, phục vụ cho công tác. Tuy nhiên, đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng chỉ nói chung chung như báo chí và đài phát thanh của ta đã đưa tin chứ không có thông tin gì mới.


Song theo thời gian và thực tế tình hình diễn biến sau này, với những quan điểm, chủ trương, đường lối quái gở với chủnghĩa dân tộc cực đoan, bệnh hoạn và cực kỳ phản động của chúng, Pôn Pốt đã trở thành bọn ác quỷ ngoài sức tưởng tượng của con người.


Đối với Việt Nam, một nước có cùng cảnh ngộ như Campuchia bị chủ nghĩa thực dân xâm lược, bóc lột, thống trị, đã cùng sát cánh với nhân dân Campuchia tiến hành cuộc đấu tranh chống xâm lược giành độc lập, tự do cho đất nước, thì nay tập đoàn phản động Pôn Pốt coi "Việt Nam là kẻ thù số 1, kẻ thù truyền kiếp",... Pôn Pốt còn nói trên Đài phát thanh Phnôm Pênh: "Trong đời tôi, tôi hy vọng giải phóng Sài Gòn"... và từ cuối tháng 4 năm 1977, chúng mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới, giết hại đồng bào ta cực kỳ dã man, tàn bạo. Cuộc tiến công Việt Nam cũng là nhằm lấy cớ để thanh trừng nội bộ, giết hết những người đối lập với chúng dưới chiêu bài "làm trong sạch nội bộ nhân dân" mà thực chất là một cuộc diệt chủng vô cùng man rợ đối với chính nhân dân Campuchia. "Theo thống kê của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, sau 3 năm 8 tháng 20 ngày cầm quyền, bọn diệt chủng Pôn Pốt đã gièt hại hơn 2.700.000 người trong đó có nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo, giáo sư, sinh viên, nghệ sĩ và trí thức từ nước ngoài về"1 (Những đoạn trong ngoặc kép là tư liệu lấy trong bài tham luận của Trung tướng Lê Hai trong Hội thảo quốc tế "Việt Nam trong thế kỷ XX").


Tôi được biết, theo yêu cầu của chúng khi đàm phán với ta, có một số anh em gốc Campuchia mà ta cho về nước để như chúng nói "tham gia xây dựng đất nước" hầu như bị chúng giết sạch. Sau khi Campuchia được giải phóng, có một số chị ngườiViệt Nam có chồng là người Campuchia về nước đã sang Campuchia tìm chồng thì thấy chồng mình đã"mất tích". Còn số 300 học sinh về nước, khi chúng đón các cháu ở Snoul (Xnun) thuộc tỉnh Côngpông Chàm giáp với biên giới ta, một đồng chí cán bộ cao cấp của Quân đội ta có mặt lúc đó cho tôi biết: Khi đi vào sâu đất Campuchia khoảng gần 300 mét trong rừng, bọn lính Pôn Pốt đã xả súng liên thanh giết sạch các cháu. Các đồng chí chúng ta đã rất đau lòng nghe các cháu kêu khóc "các chú ơi cứu chúng cháu với" mà không làm gì được.


Bọn ác quỷ Pôn Pốt với chủ nghĩa dân tộc cực đoan phản động đã nhìn bạn thành thù, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới phía Tây Nam nước ta, tàn sát dã man đồng bào ta ở nhiều nơi trong các tỉnh có biên giới với Campuchia, đặc biệt là ở An Giang và Tây Ninh. Đồng thời, chúng thực hiện một chính sách diệt chủng ở trong nước còn tàn bạo hơn cả những tên bạo chúa thời trung cổ, biến xã hội Campuchia thành một trại khổ sai khổng lồ, một địa ngục trần gian rộng lớn với những hố chôn người dày đặc trên khắp đất nước. Viết đến đây, tôi nhớ khi tôi được cử sang Campuchia với tư cách là phụ trách tiền phương của Cục Tuyên huấn, khi đi công tác ở tỉnh Xiêm Riệp trong những ngày dầu tiên sau khi Campuchia được giải phóng ít hôm, ở đâu tối cũng ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết trong những hố chôn người tập thể, dưới đáy các giếng cạn, trong giao thông hào của các trận địa cũ, dưới những cái ao cạn. Sọ người và xương người có nơi chất đống, có nơi rải rác khắp mặt đất. Trong tôi trào lên một sự căm giận, một sự ghê tởm tột cùng đối với bọn dã thú mặt người, ghê tởm các dấu tích vật chất của chúng để lại và ghê tởm cả tâm hồn cực kỳ bệnh hoạn, lòng dạ độc ác của chúng nữa.


Khoảng nửa cuối năm 1976, Cục Tuyên huấn đã rục rịch về sự thay đổi nhân sự. Đồng chí Nguyễn Trọng Yên chuyển sang công tác khác. Người về thay là đồng chí Văn Phác, vốn là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân giải phóng miền Nam, trước đó đã có một thời là Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội, Cục phó Cục Tuyên huấn. Đồng chí Văn Phác chỉ ở có một thời gian ngắn, sau đó nhận nhiệm vụ làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (11.1976).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #109 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2024, 07:46:47 pm »

Cuối tháng 12 năm 1976, tôi nhận thông báo được Tổng cục Chính trị cử đi học Khóa đầu tiên của Học viện Quân chính cao cấp. Được đi học ở Học viện cấp cao nhất của Quân đội, tôi rất phấn khởi vì đó là một dịp rất tốt để nâng cao kiến thức một cách cơ bản về học thuyết quân sự của Việt Nam, mà trước kia tôi chỉ được tập huấn từng vấn đề theo kiểu "ăn đong" phục vụ cho yêu cầu của những nhiệm vụ trước mắt. Học viên tới dự khóa này có đầy đủ các cán bộ cao cấp của các đơn vị trong toàn quân từ Bắc đến Nam và các cơ quan trực thuộc Bộ đã từng có nhiều năm chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chỉ riêng việc gặp mặt và làm quen với nhau cũng đủ vui rồi. Trường được xây dựng ở khu vực Nghĩa Đô, tuy mới làm nhưng khá bề thế. Chương trình học chỉ kéo dài trong một năm từ tháng 1 năm 1977 đến tháng 1 năm 1978. Nội dung học tập khá phong phú, chủ yếu là vấn đề quan điểm, đường lối quân sự của ta và vấn đề chiến dịch; có một số vấn đề kiến thức về chiến tranh hiện đại, ví dụ như chiến tranh nguyên tử... nhưng hãy còn sơ lược. Đối tượng học viên dự học là những cán bộ đã qua hai cuộc chiến tranh liền nhau, mỗi người đều mang trong mình những kinh nghiệm chiến đấu rất phong phú còn nóng hổi của chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Riêng tổ học tập của chúng tôi cũng có nhiều thành phần khác nhau, có đồng chí là sư đoàn trưởng bộ binh, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cán bộ cao cấp của Đoàn 559 - Đường Hồ Chí Minh trên bộ, chỉ huy các "đoàn tàu không số" - Đường Hồ Chí Minh trên biển, cán bộ hậu cần, chính trị ở cấp chiến dịch và chiến lược...


Một trong những nội dung cực kỳ quan trọng mà chúng tôi nghiên cứu là tài liệu "Đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân trong giai đoạn mới". Tài liệu được in tuyệt mật nhưng không nói rõ cấp nào biên soạn và cũng không có giới thiệu ở trên lớp, chỉ đưa về tổ học tập cho cá nhân nghiên cứu và thảo luận ở tổ. Có thể nói, đây là một tài liệu được biên soạn khá công phu, dựa trên những tổng kết chiến tranh của ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.


Khoảng gần cuối khóa học, Nhà trường tổ chức cho toàn thể học viên chúng tôi hai lần về tỉnh Nam Định. Lần thứ nhất là tham quan Nam Ninh, huyện thí điểm về cơ giới hóa toàn bộ nông nghiệp; lần thứ hai là tổ chức diễn tập một tưởng định chiến dịch không có thực binh.


Trong lần tham quan việc cơ giới hóa toàn bộ nông nghiệp ở huyện Nam Ninh, Tỉnh ủy Nam Định tổ chức đón tiếp cán bộ Nhà trường và học viên khá chu đáo. Chúng tôi được bố trí ăn tại khách sạn Vị Hoàng là một khách sạn lớn nhất của thành phố Nam Định lúc đó. Đồng chí Hồng Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được chỉ định trực tiếp làm Bí thư Huyện ủy Nam Ninh để thực hiện thí điểm xây dựng huyện cơ giới hóa nông nghiệp. Đồng chí Hồng Thanh và tôi đã từng hoạt động với nhau ở Kim Bảng trong khoảng thời gian trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Công việc mới được triển khai nên kết quả về cơ giới hóa nông nghiệp ở miền Băc cũng chưa thật rõ lắm.


Lần diễn tập chiến dịch không có thực binh diễn ra trên một khu vực rộng của tỉnh Nam Định. Nhưng trên đường đi từ Hà Nội về Nam Định xảy ra một sự cố rất đáng tiếc. Chiếc xe Commăngca bị húc lùi lại đến 15 mét, may là ở quãng đường thẳng nên xe không bị lật. Giám đốc Hoàng Minh Thảo bị thương ở đầu phải cấp cứu và quay lại. Tuy nhiên, cuộc diẫn tập vẫn được tiếp tục và cũng đạt được kết quả nhât định.


Song, qua tưởng định diễn tập chiến dịch với những phương tiện chiến tranh tương đối hiện đại (có xe tăng, thiết giáp, pháo binh nặng... trong tưởng định) trên địa hình điển hình của đông quê Việt Nam là những con đường nhỏ hẹp, hai bên phần lớn là ruộng nước, có nhiều sông ngòi, tôi vẫn thấy băn khăn ở nhiều điểm chưa phù hợp cả về địch và ta. Tôi liên tưởng tới ông cha ta đời Trần đã ba lần đánh thắng quân Mông Nguyên hùng mạnh, trong đó có một vấn đề lớn đã đưa đến chiến thắnglà ta đã hạn chế được tối đa chỗ mạnh của quân Nguyên Mông là kỵ binh của chúng. Với lực lượng kỵ binh hùng mạnh, chúng đã tiến quân như vũ bão trên địa hình trung bình và đã dễ dàng thôn tính được nhiều nước châu Ầu. Riêng ở Việt Nam, sức mạnh đó đã không phát huy được. Ông cha ta đã vận dụng tài tình cả ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để đánh thắng giặc. Những trận thắng lớn thường diễn ra ở sông, biển. Các cuộc di chuyển trong các cuộc vận động rút lui, hoặc tiến công của đầu não cuộc kháng chiến hầu hết đều dùng đường sông. Phải chăng đó là mưu lược để hạn chế và triệt phá cái mạnh về kỵ binh địch của ông cha ta. Tôi nghĩ, nhân dân ta, Quân đội ta hoàn toàn có quyền tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ta đã biết phát huy một cách sáng tạo truyền thống chiến đấu và bài học kinh nghiệm khoét sâu cái yếu, hạn chế và triệt phá cái mạnh của địch, tận dụng mọi thế mạnh của ta về chính trị, quân sự, ngoại giao, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại đã đánh thắng hai đế quốc to là Mỹ và Pháp.


Chẳng mấy chốc đã đến những tháng cuối của khóa học bổ túc một năm cho cán bộ cao cấp của toàn quân. Để đánh giá kết quả học tập và khai thác những kinh nghiệm chiến đấu rất phong phú của cán bộ, Nhà trường hướng dẫn học viên làm khóa luận. Thật ra khi đó, vì là lớp cao cấp đầu tiên nên trình độ giảng viên hướng dẫn khóa luận cho mỗi học viên không có gì khác nhau lắm, có khi người hướng dẫn còn "đuối" hơn,trừ các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Nhà trường như đồng chí Giám đốc Hoàng Minh Thảo, các đồng chí phó giám đốc Nam Long, Hoàng Đan... Hơn nữa đề tài do học viên tự chọn, có những vấn đề mà người hướng dẫn chưa từng nghiên cứu nên giúp được rất ít.


Riêng tôi, tôi chọn đề tài về "Truyền thống chiến đấu trong sức mạnh chính trị tinh thần của nền quốc phòng toàn dân", một vấn đề của thực tiễn chiến đấu trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Tôi cảm nhận được rất rõ trong quá trình chiến đấu của mình, đặc biệt là thời gian tôi được chiến đấu trong đội hình của Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, sau này là Sư đoàn 308, đơn vị cơ động chiến lược được thành lập đầu tiên năm 1949 của Quân đội ta. Cả trong hai cuộc kháng chiến, đơn vị thường được giao những nhiệm vụ khó khăn nhất, lập nhiều chiến công vang dội và có một truyền thống chiến đấu rất vẻ vang. Các đơn vị bạn thường gọi vui là Sư đoàn "Anh cả Đỏ" còn địch thì đặc biệt "chăm sóc", "theo dõi" tình hình và sự di chuyển của đơn vị để phán đoán hành động của chúng ta.


Học viên chúng tôi chỉ có 12 ngày để viết khóa luận. Đề tài khóa luận là vấn đề tôi thường quan tâm suy nghĩ và đọc các tài liệu có liên quan nên chỉ trong 12 ngày tôi đã viết được một tài liệu hơn 40 trang đánh máy theo chủ đề tôi đã lựa chọn. Tôi nhớ mấy nội dung chính để tập trung công sức viết là về truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm của ông cha ta, của Quân đội ta. Tôi tập trung chống quan điểm coi thường truyền thống, coi nhẹ những gì tốt đẹp của quá khứ, tách rời quá khứvới hiện tại và tương lai, phê phán đó là tự tước bỏ một bộ phận sức mạnh tinh thần quý báu của chúng ta, một thái độ thiếu khoa học của một phương pháp luận duy tâm, siêu hình, là có tội với lịch sử, với các thế hệ con cháu mai sau.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM