Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Mười Một, 2022, 09:38:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam  (Đọc 1304 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #40 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:52:11 am »

Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, được thành lập ngày 1 tháng 6 năm 2001 theo Quyết định số 85/2001/QĐ-TTg, trên cơ sở mở rộng và chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn. Đây là một trong bảy vườn quốc gia của Việt Nam vừa có diện tích trên cạn vừa có diện tích biển.


Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trong vịnh Bái Tử Long, sát cạnh Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long. Từ truyền thuyết đến chính sử, cũng như từ huyền thoại đến hiện thực, đều chứng tỏ vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long là một thể thống nhất, với nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và tự nhiên nổi trội.


Đồng thời những lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đã tạo cho vườn quốc gia những giá trị đặc sắc riêng có, nơi lưu giữ những đặc trưng của hệ sinh thái biển - đảo vùng Đông Bắc, môi trường và cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Đây chính là những tiềm năng và lợi thê cho việc phát triển du lịch sinh thái để hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên và cải thiện sinh kế cho người dân đang sông ở vùng lõi và vùng đệm của vịnh Bái Tử Long. Qua quá trình hoạt động, vườn quốc gia đã và đang triển khai thành công nhiều biện pháp bảo tồn, tăng cường quản lý bảo vệ, nghiên cứu khoa học và gìn giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có loài rùa biển.


Bãi cát Cồn Trụi nằm cách cảng Minh Châu khoảng 500m và nằm về phía bên trái là nơi làm tổ và đẻ của loài vích - một trong những loài rùa biển được bảo vệ cấp toàn cầu. Tại đây, năm 2004, các nhà khoa học đã phát hiện 2 ổ trứng vích, năm 2007 phát hiện 1 ổ và cứu hộ thả về biển 1 rùa mẹ. Đây là một bãi cát thường xuyên thay đổi khi bồi, khi lở, độ dốc lớn rất nguy hiểm đối với mọi hoạt động của con người. Nếu phân tích một cách khoa học, ta thấy loài rùa biển tuy chậm chạp nhưng rất thông minh, vì chúng đã chọn một nơi ít người đến và rất an toàn cho việc sinh sản. Do điều kiện thủy triều biến động lớn nên trong khu vực vịnh Bái Tử Long, rùa biển chỉ làm tổ vào buổi đêm trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm và đặc biệt là những đêm con nước cường vào lúc nửa đêm, nhất là vào những đêm có dông tố. Do độ biến động của thủy triều rất lớn nên chỉ những tổ trứng được đẻ vào đêm có mức nước cao nhất mới có khả năng tự tồn tại và nở ra rùa con. Trường hợp rùa đẻ vào con nước kém các tổ trứng sẽ rất dễ hỏng do bị ngập nước hoặc lở bãi, vì vậy nếu phát hiện phải kịp thời cứu hộ đưa lên chỗ an toàn. Và đương nhiên, việc cứu giúp sự sinh nở không phải là việc dễ dàng.


Hàng năm, đến mùa sinh đẻ, vào tháng 3 đến tháng 9 cao điểm vào tháng 7 thì rùa mẹ nặng nhọc bò lên bãi cát, đến chỗ cho là an toàn, nó bắt đầu dùng hai chân trước như hai mái chèo bối cát hất về phía sau để làm tổ. Khi nửa thân trước đã ngập trong hố, thì hai chân sau mới tiếp tục bới cát thành một hố tròn vo, dưới to, trên nhỏ, sâu đến 50 - 70cm. Lúc này rùa mẹ bắt đầu rặn đẻ. Từng quả trứng mềm to mỏng tròn như quả bóng bàn lần lượt rơi xuống. Mỗi lứa rùa đẻ hai, ba chục thậm chí đến cả trên trăm quả trứng. Đẻ xong, nó lấp cát đầy cẩn thận rồi chậm chạp quay đầu, lê lết tấm thân mỏi mệt quay về biển với đôi mắt giàn giụa nước mắt của một người đau đẻ. Trong điều kiện tự nhiên, sau khoảng 45-60 cùng lắm là 72 ngày sau thì trứng nở, người ta đã xác định được tỷ lệ rùa con sống sót chỉ là 1/1.000. Đang đào mà hố sập, nó bỏ ngay, đi tìm chỗ khác hoặc đêm sau lại bò lên đào cát làm tổ và đẻ. Rùa chỉ đẻ vào ban đêm, khi thủy triều lên cao nhất, đặc biệt khi trời có dông thì chắc chắn sẽ có rùa đẻ. Rùa con khi được nở ra trong tổ, chúng chờ nhau 1 vài ngày để cùng chui lên mặt đất, cuống quýt hối hả bò xuống nước và bơi ra xa bờ để tránh sự rình rập nguy hiểm từ các thiên địch như: chim, rắn, kỳ đà, các thú dữ khác... Đây là giai đoạn đầu đời của mỗi chú rùa con để ghi nhận những thông tin cần thiết và sau đó khoảng 20-30 năm khi đến tuổi trưởng thành chúng quay về nơi "chôn nhau cắt rốn" để thực hiện thiên chức làm mẹ lần đầu tiên trong đời, đây là một đặc điểm sinh học lý thú của các loài rùa biển.


Để giup rùa mẹ chuyển trứng tới nơi an toàn, những người làm việc trong khu bảo tồn phải rất công phu, không quản ngại vất vả, sánh ngang với công việc của những bà đỡ, bà mụ. Trước hết phải tuần tra trên bãi liên tục trong đêm, ít nhất 2 giờ một lần để phát hiện kịp thời việc sinh nỏ ngay khi việc đó đang bắt đầu. Sau đó, trong vòng 6 tiếng đồng hồ sau khi trứng được sinh ra từ rùa mẹ, phải chuyển ngay đến chỗ an toàn và ổn định, tạo một tổ mới để đưa trứng vào ấp. Phải làm như vậy là vì, phôi trứng đã phát triển ngay từ khi còn trong bụng rùa mẹ và chỉ tạm ngừng phát triển khi rùa đẻ trứng trong khoảng thời gian ngắn, sau thời gian đó phôi lại tiếp tục phát triển, đến lúc này chỉ cần một vận động nhẹ lắc quả trứng là các mạch máu trong phôi sẽ bị đứt và phôi bị chết.


Trong những năm qua, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN đã phối hợp với vườn quốc gia Bái Tử Long, chính quyền và nhân dân xã Minh Châu triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn rùa biển. Những hoạt động thiêt thực đó đã góp phần nâng cao nhận thức người dân, tích cực tham gia bảo tồn biển và rùa biển, đồng thời đã tiến hành một số hoạt động cụ thể như bảo vệ tổ trứng rùa, cứu hộ rùa mẹ lên bãi đẻ... góp phần bảo vệ rùa biển vịnh Bái Tử Long khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #41 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:53:23 am »

* Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển, đảo thuộc thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Tên gọi Hạ Long đã thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, thời Bắc thuộc khu vực này được gọi là Lục Châu, Lục Hải. Các thời Lý, Trần, Lê vịnh mang các tên Hoa Phong, Hải Đông, An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn hay Lục Thủy. Tên Hạ Long (rồng đáp xuống) mới xuất hiện trong một số thư tịch và các bản đồ hàng hải của Pháp từ cuối thế kỷ XIX.


Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.500km2 bao gồm gần 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của vịnh có diện tích 334km2 quần tụ dày đặc 775 hòn đảo. Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôi của vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau; quá trình tiến hóa castơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể.


Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27 - 29°c và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16 - 18°C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15 - 25°C. Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ 2.000mm - 2.200mm. Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5 - 4m/ngày. Độ mặn trong nước biển trên vùng vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn. Mực nước biển trong vùng vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt.


Trong số gần 2.000 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, những đảo này có quy mô từ vài chục đến hàng ngàn héc-ta tập trung chủ yêu ở phía Đông và Đông Nam vịnh Hạ Long. Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước, bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn).


Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích 434km2, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm) là di tích danh thắng quốc gia đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng. Địa hình Hạ Long là đảo, núi xen kẽ giũa các trũng biển, là vùng đất mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên những vẻ đẹp tương phản, kết hợp hài hòa, sinh động các yếu tố: đá, nước và bầu trời. Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Có chỗ đảo quần tụ lại nhìn xa ngỡ chồng chất lên nhau, nhưng cũng có chỗ đảo đứng dọc ngang xen kẽ nhau, tạo thành tuyến chạy dài hàng chục ki-lô-mét như một bức tường thành. Đó là một thế giới sinh linh ẩn hiện trong những hình hài bằng đá đã được huyền thoại hóa. Đảo thì giống khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người) đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng) đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng) phía xa là hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); đảo lại lúp xúp như mâm xôi cúng (hòn Mâm Xôi) rồi hai con gà đang âu yếm vòn nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái) đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất (hòn Lư Hương) đảo khác tựa như nhà sư đứng giữa mặt vịnh bao la chắp tay niệm Phật (hòn Ông Sư) đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa) mà nhìn từ hướng khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn nên dân chài còn gọi là hòn Ông, v.v...


Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái. 14 loài thực vật đặc hữu và khoảng 60 loài động vật đặc hữu đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vật quần cư tại vịnh.


Vịnh Hạ Long có từ xa xưa do những kiến tạo địa chất. Tuy nhiên, trong tâm thức của người Việt từ thời tiền sử với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, một số truyền thuyết cho rằng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn rồng tới hạ giới. Đàn rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc chặn bước tiến của thuyền chiến giặc. Đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đã đâm vào các đảo đá và va chạm với nhau vỡ tan tành.


Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà cổ ngày nay, với bãi cát dài trên 15km).


Có truyền thuyết lại cho rằng, từ thuở dựng nước, khi đất nước có giặc ngoại xâm, một con rồng đã bay dọc theo sông xuôi về phía biển và hạ cánh xuống ở vùng ven biển Đông Bắc làm thành bức tường thành chắn bước tiến của thủy quân giặc. Chỗ rồng đáp xuống che chở cho đất nước được gọi là Hạ Long.


Những kết quả nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và văn hóa học cho thấy sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau bao gồm văn hóa Soi Nhụ trong khoảng 18.000 - 7.000 năm trước Công Nguyên, văn hóa Cái Bèo trong 7.000 - 5.000 năm trước Công Nguyên và văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 3.500 - 5.000 năm.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #42 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:54:11 am »

Tiến trình dựng nước và truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam trong suốt hành trình lịch sử cũng khẳng định vị trí tiền tiêu và vị thế văn hóa của vịnh Hạ Long qua những địa danh mà tên gọi gắn với điến tích còn lưu truyền đến nay, như núi Bài Thơ, hang Đầu Gỗ, Bãi Cháy, v.v... Hiện nay, vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờ những điều kiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn vẽ du lịch, nghiên cứu khoa học, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy đối với khu vực vùng biển Đông Bắc Việt Nam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung.


Từ hơn 500 năm về trước trong bài thơ Lộ nhập Vân Đồn, Nguyễn Trãi đã lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là "Kỳ quan đá dựng giữa trời cao". Năm 1962, Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam đã xếp hạng vịnh Hạ Long là di tích danh thắng cấp quốc gia đồng thời quy hoạch vùng bảo vệ. Năm 1994 vùng lõi của vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị thẩm mỹ (tiêu chuẩn vii), và được tái công nhận lần thứ 2 với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất - địa mạo (tiêu chuẩn viii) vào năm 2000. Cùng với vịnh Nha Trang của Việt Nam, vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất trên thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003. Hiện nay vịnh Hạ Long đang được dự kiến để xếp vào 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới.


Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số gần 2.000 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm về trước, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình carxtơ bào mòn, phong hóa gần như hoàn toàn tạo ra một vịnh Hạ Long độc nhất vô nhị, với hàng ngàn đảo đá nhiều hình thù, dáng vẻ khác nhau lô nhô trên mặt biển, trong một diện tích không lớn của vùng vịnh.


Vùng tập trung các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm phần lớn vịnh Hạ Long (vùng lõi), một phần vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát Bà (vùng đệm). Hệ thống đảo ở vịnh Hạ Long dày đặc, trong đó có một số đảo tiêu biểu như: Hòn Con Cóc, đảo Tuần Châu, hòn Ngọc Vừng, đảo Ti Tốp, hòn Kiến Vàng, đảo Khỉ,...


Hòn Con Cóc nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12km về phía Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long. Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m. Hòn Trống Mái nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5km. Đây là cụm gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh.


Đảo Ngọc Vừng nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34km, thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ Long. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m2. Đảo Ngọc Vừng rộng 12km2, có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Đồn từ thế kỷ XI và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn. Phía Đông của đảo có bãi cát trắng dài tới hàng ki-lô-mét. Khu vực này tương truyền trước kia có nhiều ngọc trai, đêm đêm phát sáng cả một vùng trời biển, nên có một số đảo mang tên đảo Ngọc như đảo Ngọc Vừng (ngọc phát sáng) hay Minh Châu (ngọc châu, ngọc sáng).


Đảo Ti Tốp, thời Pháp thuộc mang tên hòn Cát Nàng, nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14km về phía Đông. Đảo được đặt tên Ti Tốp từ khi Hồ Chí Minh đến thăm vịnh Hạ Long cùng với nhà du hành vũ trụ người Nga Gherman Titov, vào năm 1962. Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng nằm dưới chân.


Ở vịnh Hạ Long những hang động ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử. Theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ XX khẳng định rằng hầu hết các hang động đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển.


Hang Sửng Sốt, hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh Hạ Long, được người Pháp đặt tên "Grotte des surprises" (động của những kỳ quan). Đây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Nằm ở vùng trung tâm của vịnh với hệ thống bao gồm bãi Ti Tốp - hang Bồ Nâu - động Mê Cung - hang Luồn - hang Sửng Sốt. Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với mực nước biển hiện tại. Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m. Hang được chia thành 2 ngăn chính.


Hang Sửng Sốt được phát hiện khá sớm trên vịnh Hạ Long (cuối thế kỷ thứ XIX). Tên của hang mãi đến năm 1946 mới được xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng do một số đoàn thám hiểm đã đến đây. Năm 1999, Ban Quản lý vịnh Hạ Long đã đầu tư tôn tạo hang Sửng Sốt. Hệ thống đường đi, ánh sáng để du khách có thể quan sát và cảm nhận được vẻ đẹp của những khối nhũ, măng đá trong lòng hang. Ánh sáng được thiết kế phù hợp với kiến trúc hang đồng thời hài hoà với ánh sáng tự nhiên từ phía cửa hang.


Đường lên hang Sửng Sốt quanh co uốn lượn dưới những tán lá rừng, với những bậc đá ghép cheo leo, khúc khủyu. Hang được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn thứ nhất như một nhà hát lớn rộng thênh thang với trần hang được phủ bằng nhũ đá, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá, mở ra một thế giới của cổ tích. Ngăn 2 cách biệt với ngăn 1 qua một lối đi hẹp. Bước vào lòng ngăn này, động mở ra một khung cảnh mới khác lạ hoàn toàn với lòng ngăn rộng có thể chứa được hàng ngàn người. Trong lòng ngăn 2 của hang Sửng Sốt có những hình tượng được gắn với truyền thuyết Thánh Gióng: cạnh lối ra vào là khối đá hình chú ngựa, thanh gươm dài và trong lòng hang có những ao hồ nhỏ như vết chân ngựa Gióng.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #43 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:54:54 am »

Động Thiên Cung cách thành phố Hạ Long khoảng 8km. Qua khảo cứu, đảo Vạn cảnh có đỉnh cao 189m, hình dáng như một chiếc ngai ôm hai hang động là hang Đầu Gỗ nằm chênh vênh trên cao và động Thiên Cung ở cách mép nước không xa. Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng 100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá rừng.


Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển. Động có tiết diện hình tứ giác chiều dài hơn 130m, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn. Đó là 4 cột trụ to lớn giữa động mà từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành; những thạch nhũ mang hình tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ múa hát; trần hang với những điêu khắc người, chim, hoa, muông thú đang dự tiệc, hoàn toàn do bàn tay nhào nặn của tạo hóa tác thành qua hàng vạn năm. Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng.


Hang Đầu Gỗ còn gọi là hang Giấu Gỗ, một hang động với những nhũ đá tráng lệ. Tên gọi hang Đầu Gỗ (tập trung gỗ) có từ sau khi tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy ba quân giấu các cọc gỗ lim tại đây trước khi đem đóng xuống lòng sông Bạch Đằng để bày thế trận cùng thủy quân đánh úp, đốt cháy đoàn thuyền tải lương thực của giặc Nguyên Mông vào mùa xuân năm 1288. Hiện các nhà khảo cổ còn tìm thấy rất nhiều khúc gỗ và mẩu gỗ vụn còn sót lại trong động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Đầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cuốn Merveilles du Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu về các danh thắng nổi tiếng thế giới đã mệnh danh hang Đầu Gỗ là động của các kỳ quan.


Cửa hang Đầu Gỗ ở lưng chừng vách núi và trong lòng hang được chia thành 3 ngăn chính. Ngăn phía ngoài hình vòm cuốn tràn ánh sáng tự nhiên, với trần hang như một bức tranh khổng lồ vẽ phong cảnh thiên nhiên hoang sơ với những đàn voi, những chú hươu sao, sư tử trong những tư thế sinh động. Phía dưới là rừng măng đá, nhũ đá nhiều màu với nhiều hình thù tùy theo trí tưởng tượng của từng người. Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo. Qua ngăn thứ nhất, vào ngăn thứ 2 bằng một khe cửa hẹp lòng hang mở ra với ánh sáng chiếu vào mờ ảo, những bức tranh đá trở nên long lanh hơn và những chùm hoa đá lúc ẩn lúc hiện. Tận cùng hang là một chiếc giếng nước ngọt và những hình tượng bằng đá như đang diễn tả một trận hỗn chiến kỳ lạ.


Năm 1917, hang Đầu Gỗ được vua Khải Định lên thăm và cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long nói chung và hang Đầu Gỗ nói riêng. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa động tuy chữ đã bị mài mòn.


Ngoài ra, ở vịnh Hạ Long còn có hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung với nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu; hang Hanh cách thị xã Cẩm Phả 9km về phía Tây, là một hang động đẹp và dài nhất so với các hang động hiện có trên vịnh Hạ Long, với chiều dài 1.300m chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển; hang Trinh Nữ với tảng đá hình cô gái đứng xõa mái tóc dài hướng ra biển và đối diện với nó là hang Trống (hay hang Con Trai) với bức tượng chàng trai hóa đá quay mặt hướng về phía hang Trinh Nữ; rồi hang Tiên Long, Ba Hang, hang Luồn, động Tiên Ông, động Tam Cung, động Lâu Đài, Ba Hầm, v.v... đều được thiên nhiên kiến tạo nhiều đường nét, cảnh sắc tuyệt đẹp.


Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với 2 hệ sinh thái điển hình là hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển ven bờ. Trong mỗi hệ lớn lại có nhiều dạng sinh thái nhỏ.

Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long rất đặc trưng, phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tim, cọ Hạ Long, khổ cử đại nhung, móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng. Một số tài liệu khác mở rộng danh sách thực vật đặc hữu của Hạ Long lên 14 loại, bao gồm cả những loại đã được người Pháp khám phá và đặt tên gắn với địa danh từ trước như sung Hạ Long, nhài Hạ Long, sóng bè Hạ Long, giềng Hạ Long, phất dụ núi, phong lan Hạ Long... Danh sách những loài thực vật đặc hữu khác tại vịnh Hạ Long rất có thể còn được bổ sung nhiều hơn, do chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đầy đủ, toàn diện về thực vật trên tất cả các đảo trong khu vực vịnh và vùng lân cận. Chẳng hạn loài trúc mọc ngược mà mấy năm gần đây các nhà khoa học mới phát hiện ra trên một số đảo đá của vịnh Hạ Long, một giống trúc có cành chĩa xuống đất, khác các giống trúc thông thường chĩa cành lên trời.


Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long có 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú. Ở vùng này còn có loại khỉ thân nhỏ, hiện được nuôi theo phương pháp đặc biệt tại đảo Khỉ.


Hệ sinh thái biển và ven bờ chủ yếu là các thảm thực vật xanh mọc trên đảo đá vôi. Hệ sinh thái biển và ven bờ của vịnh Hạ Long bao gồm trong đó hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển với những điểm đặc thù:

- Hệ sinh thái đất ướt: Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn trên vịnh, bao gồm 20 loài thực vật ngập mặn; là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển, 200 loài chim, 10 loài bò sát và 6 loài khác. Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô được tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò, có 232 loài san hô đã được tìm thấy. Rặng sinh thái đáy cứng, san hô là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng, 130 loài hai mảnh vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua. Dạng sinh thái hang động và tùng, áng ở vịnh Hạ Long rất tiêu biểu và hiếm nơi có được. Đặc biệt khu vực Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Dạng sinh thái đáy mềm là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển với 5 loài, là nơi sống của 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác. Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn chủ yếu là sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao...

- Hệ sinh thái biển: Thực vật phù du ở vịnh Hạ Long có 185 loài. Động vật phù du vùng Hạ Long - Cát Bà có 140 loài. Động vật đáy qua thống kê sơ bộ vùng Hạ Long có đến 500 loài, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể, 200 loài giun nhiều tơ, 13 loài da gai. Động vật tự du đã xác định được 326 loài phân bố trong vịnh Hạ Long.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #44 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:55:33 am »

Theo đánh giá của các nhà khoa học đến nay hệ thực vật trong vùng vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ. Trong tổng sô 347 loài thực vật đã biết, có 16 loài đang nằm trong danh sách sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau.


Trên các đảo tại vịnh Hạ Long có nhiều loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là các loài cư trú trong hốc đá, và có tới 60 loài động vật đặc hữu. Hải sản Hạ Long được khai thác và nuôi trồng bao gồm bào ngư, hải sâm, sá sùng, tôm, cá, mực (mực ống, mực nang, mực thước), bạch tuộc, sò huyết, trai và điệp nuôi lấy ngọc. Theo tài liệu của Phân viện Hải dương học Hải Phòng, trong 1.151 loài động vật tại Hạ Long thì đã có tới gần 500 loài cá, 57 loài cua. Đây là nguồn động vật phong phú có giá trị kinh tế cao cần được bảo tồn và phát triển.


Về di chỉ khảo cổ và chứng tích lịch sử ở vịnh Hạ Long: Năm 1937, ông Vũ Xuân Tảo đã tình cờ phát hiện được một chiếc rìu đá trên đảo Ngọc Vừng. Phát hiện này đã gây xôn xao các nhà khảo cổ học Pháp thời ấy, bước đầu xác định Hạ Long không chỉ là kỳ quan thiên nhiên mà còn là cái nôi của người tiền sử. Những nghiên cứu từ phía các nhà khảo cổ học Andecxen người Thụy Điển và chị em nhà Colani người Pháp sau đó đã cho thấy những công cụ đá, đồ đựng bằng gốm, đồ trang sức bằng đá và xương được phát hiện, thu thập ở Hạ Long đều thuộc thời đại hậu kỳ đá mới. Những di chỉ khảo cổ tại vịnh Hạ Long ban đầu được các nhà khoa học Pháp xếp vào khái niệm văn hóa Danhdola (Danhdola là tên đảo Ngọc Vừng do người Pháp đặt).


Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, các nhà khoa học Việt Nam và các chuyên gia khảo cổ học Liên Xô đã tiến hành nhiều cuộc thám sát điều tra trên diện rộng, quy mô lớn trong khu vực vịnh Hạ Long và vùng lân cận. Những cuộc khảo sát năm 1960 đã phát hiện tại di chỉ Tấn Mài trên vùng vịnh những mảnh ghè của người vượn và tiếp đó là khai quật được những mũi tên đồng từ thời Hùng Vương. Những kết quả nghiên cứu đó đã cho phép khẳng định về một nền văn hóa Hạ Long cách nay khoảng từ 3.500 - 5.000 năm.


Từ 1960 đến nay, sự thám sát và nghiên cứu rộng mở về khảo cổ học, văn hóa học tại trên 40 địa điểm, bao gồm trong đó Đồng Mang, Xích Thổ, Cột 8, Cái Dăm (thành phố Hạ Long); Soi Nhụ, Thoi Giếng (Móng Cái); Hà Giắt (Vân Đồn); hòn Hai Cô Tiên,... đã đưa đến kết luận quan trọng chứng minh cho sự tồn tại của người tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long lùi xa hơn nữa. Không chỉ có một văn hóa Hạ Long từ khoảng 3 - 5 thiên niên kỷ trước, còn có nền văn hóa Soi Nhụ cách ngày nay trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, phân bố rộng trong khu vực vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long với các di chỉ tiêu biểu tại Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long. Các di vật còn lại chủ yêu là sản phẩm đã được sử dụng làm thức ăn như ốc núi (cyclophorus) và ốc suối (melania), một số hóa thạch của nhuyễn thể nước ngọt và một số công cụ lao động thô sơ tích tụ cấu tạo thành tầng văn hóa. Các nhà khoa học nhận thấy, phương thức sống chủ yếu của cư dân Soi Nhụ là bắt sò ốc, hái lượm, đào củ, đào rễ cây, biết bắt cá nhưng chưa có nghề đánh cá. So sánh với các cư dân văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn đương thời thì cư dân Soi Nhụ sống gần biển hơn nên chịu sự chi phối từ biển nhiều hơn.


Bên cạnh nền văn hóa Soi Nhụ không thể không nói đến Văn hóa Cái Bèo, cách ngày nay 7.000 - 5.000 năm trước Công Nguyên, được coi như giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ trước đó và văn hóa Hạ Long về sau. Di chỉ khảo cổ Cái Bèo tập trung chủ yếu thuộc đảo Cát Bà (Hải Phòng) và Giáp Khẩu, Hà Gián thuộc vịnh Hạ Long. Văn hóa Cái Bèo là một trong những bằng chứng chắc chắn về sự đương đầu với biển khơi từ rất sớm của người Việt cổ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa đá cuội truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á. Phương thức cư trú và sinh sống của người cổ đại Cái Bèo ngoài săn bắt hái lượm đã có thêm nghề khai thác sản vật từ biển.


Trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ - Cái Bèo - Hạ Long trên khu vực vịnh Hạ Long chứa đựng những giá trị nhất định, cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân loại. Những đặc điểm của nền văn hóa này chưa được giải mã toàn diện và những kết quả thám sát khảo cổ học trong những năm gần đây vẫn tiếp tục hé lộ những bất ngờ mới mà một trong số đó là sự phát hiện di chỉ Đông Trong vào năm 2006. Trong một hang động tại Đông Trong, các nhà khảo cổ học phát hiện được di cốt người tiền sử, rìu đá, mảnh nồi gốm, trầm tích nhuyễn thể được sử dụng làm thức ăn và hàng trăm hạt chuỗi làm từ vỏ ốc, là một trong ba khu vực trên vùng vịnh Hạ Long tìm thấy di cốt người tiền sử.


Vịnh Hạ Long là nơi gắn liền với những trang sử của quân dân Việt Nam trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước với những địa danh như Vân Đồn, nơi có hải cảng cổ tại miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ XII. Thương cảng Vân Đồn với đặc điểm là có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu và kín gió, giúp cho thuyền bè neo đậu an toàn, không bị gió bão uy hiếp, đã khiến khu vực này trở nên sầm uất trong thông thương với khu vực và nhiều nơi trên thế giới.


Bên cạnh thương cảng Vân Đồn, tại vùng vịnh Hạ Long còn có núi Bài Thơ lịch sử, nơi lưu lại bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông hoàng đế khắc trên đá từ năm 1468, nhân chuyến tuần du vùng biển phía Đông; và bút tích của chúa Trịnh Cương năm 1729. Bãi Cháy phía bờ Tây của vịnh, tương truyền gắn với sự tích những chiến thuyền chở lương thực của quân Nguyên - Mông bị quân dân nhà Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đốt cháy, dạt vào làm cháy cả cánh rừng trong khu vực. Trên vịnh còn có hang Đầu Gỗ, nơi còn vết tích hiện vật là những cây cọc gỗ được Trần Hưng Đạo cho đem giấu trước khi đóng xuống lòng sông Bạch Đằng và cách vịnh không xa là cửa sông Bạch Đằng, chứng tích của hai trận thủy chiến trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc. Hàng trăm đảo, hang động, nhũ đá trong vịnh Hạ Long được đặt tên theo các huyền thoại, truyền thuyết, hoặc theo trí tưởng tượng dân gian phong phú của cộng đồng cư dân nơi đây.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #45 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:56:30 am »

Về phong tục và văn hóa, ngư dân làng chài cửa Vạn trên vùng vịnh Hạ Long hiện nay còn lưu giữ những câu hát giao duyên cổ xưa, đó là lối hát đúm, hò biển và hát đám cưới. Hát đám cưới của Hạ Long không kém gì lối hát của người quan họ Kinh Bắc và đám cưới của cư dân vạn chài cũng khá đặc biệt vì theo phong tục chỉ được tổ chức trong những ngày rằm. Đây là lúc trên vịnh có trăng sáng, cá ăn tản, vì vậy mà người dân chài không đi đánh cá nghỉ việc vui hội.


Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng.


Vịnh Hạ Long có các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí... Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long bao gồm tham quan vịnh ban ngày, buổi chiều ngắm hoàng hôn trên vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh vịnh và câu cá mực. Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác. Dự kiến đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước, trong đó vịnh Hạ Long là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang. Đây là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan biển, đảo.


Vịnh Hạ Long là vịnh kín ít chịu tác động của sóng gió, có hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn bên cạnh cảng nước sâu Cái Lân (Hạ Long) và Cửa Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng. Mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân với 7 cầu cảng, công suất hơn 14 triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn.


Ngoài ra, vùng biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển vịnh Hạ Long nói riêng chứa đựng nhiều hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học, trữ lượng hải sản lớn. Vùng vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại... Đây sẽ là tiềm năng vô cùng to lớn để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, góp phần nâng cao đời sống người dân vịnh Hạ Long.


Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia. Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá - lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999). Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ).


Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển. Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đề xuất thành lập một khu bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long.


Ngày 21 tháng 12 năm 1991, Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên nhiên thế giới. Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới.


Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii), theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.


Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Giáo sư Tony Waltham, chuyên gia địa chất học trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi carxtơ vịnh Hạ Long. Giáo sư đã gửi bản báo cáo về giá trị địa chất vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long. Ngày 25 tháng 2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của giáo sư Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, ỦY ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long.


Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ Long về giá trị địa chất hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản Thế giới tại Paris. Tháng 12 năm 1999, tại hội nghị lần thứ 23 Hội đồng Di sản Thế giới họp tại thành phố Marrakech của Marôc, Hội đồng Di sản Thế giới đã đưa việc thẩm định hồ sơ để công nhận giá trị địa chất vịnh Hạ Long vào năm 2000.


Tháng 3 năm 2000, Giáo sư Erery Hamilton Smith chuyên gia của tổ chức IUCN được cử đến Hạ Long để thẩm định. Tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản Thế giới tại Paris đã chính thức để nghị Ủy ban Di sản Thế giới công nhận vịnh Hạ Long là Di sản Thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất địa mạo, theo tiêu chuẩn viii của UNESCO "là ví dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sử trái đất, bao gồm bằng chứng sự sống, các tiến triển địa chất đáng kể đang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn".
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #46 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2022, 06:56:57 am »

Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất, địa mạo.


Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận vịnh Hạ Long là Di sản Thế giới lần thứ 3, dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng vịnh; cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới cũng đang xếp vịnh Hạ Long Việt Nam vào những thứ hạng cao.


Hạ Long, Hải Phòng và Hà Nội là các thành phố trung tâm quan trọng của sự phát triển kinh tế ở miền Bắc Việt Nam. Sự phát triển kinh tế của các khu đô thị này, cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các khu vực phía Nam Trung Quốc kể cả Hồng Kông, đều dẫn đến sự gia tăng về sức ép của con người tới vịnh Hạ Long. Khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng hiện có mức tăng trưởng rất nhanh về sự phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt về mặt giao thông, tàu biển, khai thác than và các ngành du lịch, dịch vụ.


Từ năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng việc xây dựng cảng mới ở vùng vịnh Hạ Long có thể dẫn đến sự gia tăng về giao thông đường biển trong khu vực và phát triển cơ sở hạ tầng của du lịch sẽ là các mối đe dọa đối với vịnh, ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sự khai thác và đánh bắt tận diệt thủy sản cũng mang lại những đe dọa nghiêm trọng. Có những ý kiến cho thấy cần tiếp tục xem xét một cách thận trọng về sự phát triển trong vùng vịnh thông qua cơ cấu quản lý vì các giá trị quan trọng về mặt môi trường cho toàn vùng.


Hiện nay, sự phát triển mở rộng đô thị và sự gia tăng dân số cơ học, việc xây dựng bến cảng và nhà máy; các hoạt động du lịch và dịch vụ, rác thải trong sinh hoạt và chế xuất, hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đã không chỉ còn là nguy cơ, mà sự ô nhiễm môi trường và sự biến đổi cảnh quan của vịnh Hạ Long đã ở mức báo động. Do ô nhiễm, tình trạng những bãi san hô ở đáy biển sâu của vịnh Hạ Long đang trụi dần đi mà gần đây các nhà môi trường Việt Nam mới phát hiện ra. Mặt nước trong xanh của vịnh đang ngày càng đục dần, bồi lắng khiến các nhà khoa học lên tiếng cảnh báo nguy cơ vịnh Hạ Long có thể bị "đầm lầy hóa". Thêm vào đó, do khu vực vịnh Hạ Long có hàng ngàn hòn đảo mà phần lớn là núi đá vôi, nguồn nguyên liệu xây dựng tốt lại thuận tiện cho khai thác nên rất dễ bị tư nhân lợi dụng, gây biến dạng cảnh quan.


Ý thức về bảo vệ môi trường di sản của khách du lịch và của cộng đồng địa phương còn chưa cao, chưa xây dựng được hình ảnh, thương hiệu du lịch Hạ Long hiện đại, văn minh và lịch sự. Việc giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong mỗi người dân; sự hạn chế các khu lưu trú nghỉ dưỡng trên các đảo; nỗ lực kiểm soát theo tiêu chuẩn du lịch sinh thái và quy định bảo tồn di sản đối với cả mặt nước vùng đệm của di sản, đang là những vấn đề lớn đặt ra nhiều thách thức với chính quyền địa phương.


Trong những động thái nhằm ngăn chặn sự tác động tiêu cực của con người đến thiên nhiên vùng vịnh Hạ Long, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã cấm các loại xuồng máy cao tốc phục vụ du khách trong khu vực vịnh để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh cũng thực hiện di dời các hộ dân sinh sống trên các vạn chài vào đất liền để bảo vệ môi trường nước của vịnh Hạ Long; đồng thời cấm bốc dỡ than đá trong khu vực di sản để chống ô nhiễm bụi than và bùn than cho vịnh theo khuyến cáo của UNESCO. Tại vịnh, một số người dân đã có ý thức tự nguyện giữ gìn cảnh quan, thông qua việc lập tổ hợp tác tự nguyện thu gom và xử lý rác thải.


Sự tương đồng về cảnh quan, địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, cũng như những giá trị văn hóa, khảo cổ của toàn vùng, bao gồm không chỉ vịnh Hạ Long mà còn cả quần đảo Cát Bà và vùng biển đảo vịnh Bái Tử Long khiến những nghiên cứu khoa học địa chất, khảo cổ, văn hóa và những hoạt động du lịch, khai thác hải sản, v.v... không còn bó hẹp trong phạm vi vùng vịnh. Đã có những ý kiến cho rằng cần xem xét việc mở rộng ngoại biên của khu vực bảo tồn, không chỉ giới hạn trong diện tích nhỏ hẹp của vùng vịnh Hạ Long hiện nay mà còn bao quát cả vùng biển đảo có những yếu tố đồng dạng, kéo dài từ quần đảo Cát Bà lên sát biên giới Việt - Trung. Với chiều dài khoảng 300km và chiều rộng khoảng 60km, toàn bộ khu vực này có thể được nhìn nhận và bảo tồn như một vùng sinh thái đặc biệt về biển của Việt Nam.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #47 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2022, 06:28:07 am »

* Vũng Mới

Vũng Mới là vịnh nằm phía Đông huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định. Phía Bắc vịnh được giới hạn bởi mũi Mét (mũi Xuân Thạnh), phía Nam được giới hạn bởi mũi Nước Ngọt. Vịnh được chia ra làm hai phần bởi núi Gò Dưa (núi Quả Phụ) và núi Cấm (núi Kê Khê). Trong vịnh có một số đảo nhỏ như: hòn Đụn (đảo Đồn), hòn Nhàn, hòn Tranh (đảo Quy) và nhiều rạng san hô. Phía Tây là các làng chài nằm trên các bãi cát trắng. Trong các bãi cát trắng này có một bãi cát kéo dài từ Tân Phụng đến mũi Nước Ngọt gọi là Bạch Sa Động (động cát trắng). Trên Bạch Sa Động có một gò đất nhô cao gọi là Gò Son nơi có những viên sỏi màu đỏ. Vịnh là nơi neo đậu ghe thuyền và là ngư trường gần bờ của ngư dân vùng này. Ngày nay trong vịnh còn lại một số xác tàu chìm, đó là những tàu của Nhật bị chìm trong chiến tranh. Vịnh còn được biết đến với di tích Mũi Rồng (Vi Rồng Đá Chém) và ngọn hải đăng Hòn Nước nằm trên núi Gò Dưa chiếu sáng cho vịnh.


Hải đăng Hòn Nước (còn gọi là hải đăng Vũng Mới) là ngọn hải đăng trên vùng biển Bình Định, Việt Nam. Nó có tác dụng chỉ vị trí đỉnh Gà Gô thuộc dãy Gò Dưa của thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, đồng thời giúp tàu thuyền hoạt động trên vùng biển Bình Định xác định vị trí của mình, tránh đá ngầm và xác định hướng đi. Tọa độ địa dư của hải đăng là: 14°16'8"N - 109°10'8"E. Với tầm hiệu lực ban ngày là 21 hải lý, ban đêm là 18 hải lý. Tháp đèn cao 16,2m được xây bằng đá có màu xám sẫm, độ cao của tâm sáng so với mực nước biển là 62,5m. Đèn phát ra ánh sáng trắng, chớp đơn theo chu kỳ 5 giây. Đèn chính là loại đèn APRB 251 DC, đèn phụ là loại HD300.


Hải đăng Vũng Mới được xây dựng từ thời Pháp thuộc trên vịnh Vũng Mới, hoạt động trong nhiều năm. Sau đó bị chiến tranh và thiên nhiên hủy hoại và trở thành một phế tích. Mãi đến những năm 90 nó mới được xây dựng lại, hoàn thành vào năm 1997 và được đặt tên mới là hải đăng Hòn Nước theo tên của hòn đảo nhỏ trong vịnh Vũng Mới.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #48 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2022, 06:28:43 am »

* Vũng Rô

Vũng Rô là một vịnh nhỏ thuộc xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, nằm tiếp giáp với biển Đại Lãnh thuộc vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. Vũng Rô có diện tích 16,4km2 mặt nước, được 3 dãy núi cao che chắn là Đèo Cả, Đá Bia và Hòn Bà từ 3 phía Bắc, Đông và Tây.


Phía Nam vịnh là đảo Hòn Nưa cao 105m, trên đảo có ngọn đèn biển lớn.

Nhìn trên bản đồ Phú Yên, ở góc Đông Nam có một bán đảo hình dáng như đầu con chim với chiếc mỏ nhọn. Bán đảo ấy được hình thành bởi núi Vũng Rô làm cho bờ biển cao và dốc, ghềnh đá ngổn ngang tạo ra nhiều mũi, phía Đông có mũi Mao, mũi Ba, phía Nam có mũi La. Các bán đảo này ôm lấy Vũng Rô, tạo nơi đây thành một cảng biển tốt, để tàu thuyền neo đậu, tránh bão, đánh bắt cá.


Vũng Rô có cả thảy 12 bãi nhỏ: bãi Lách, bãi Mù U, bãi Ngài, bãi Chùa, bãi Chân Trâu, bãi Hồ, bãi Hàng, bãi Nhỏ, bãi Chính, bãi Bàng, bãi Lau, bãi Nhãn. Phía Nam Vũng Rô là hòn Nưa, cao 105m, có hình dáng giống như cây trụ chia đôi cánh cửa vào Vũng Rô. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi là Trụ tự. Trong lòng vịnh có nhiều loại tôm cá trú ngụ. Dưới đáy biển còn có nhiều loại san hô rất đẹp và độc đáo.


Cảng Vũng Rô là một cảng biển quốc tế, vận tải hàng hóa tổng hợp của Việt Nam nằm trong Vũng Rô. Vũng Rô sâu tới 21m, lại có núi Đá Bia che chắn gió từ phía Đông Bắc đã tạo ra điều kiện tự nhiên lý tưởng cho cảng Vũng Rô. Cảng có thể tiếp nhận tàu biển trọng tải đến 5.000 tấn.


Cảng Vũng Rô được xây dựng từ năm 1966 bởi chính quyền Việt Nam Cộng hòa làm một cảng quân sự. Nơi đây, đêm 5 tháng 6 năm 1968, tiểu đoàn 14 đặc công tỉnh đội Phú Yên (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) đã tấn công căn cứ quân sự của quân đội Hoa Kỳ gây một số thiệt hại về người và khí tài.


Vũng Rô xưa kia là một địa chỉ tiếp nhận vũ khí bí mật từ miền Bắc chuyển vào qua những chuyến tàu Không Số lịch sử. Từ năm 1964 đến năm 1965, Vũng Rô đã tiếp nhận 4 chuyến tàu cập bến an toàn, đưa được hàng ngàn tấn vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Vũng Rô đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.


Vũng Rô là một trong những vịnh đẹp nổi tiếng không chỉ của Phú Yên mà là của cả khu vực ven biển miền Trung. Từ đèo cả đi xuống thôn Vũng Rô, theo đường bộ về phía Bắc khoảng 10km, chúng ta sẽ đến Bãi Môn, một thắng cảnh tự nhiên thuộc xã Hoà Tâm - huyện Tuy Hoà. Bãi tắm rộng hàng chục héc-ta, trải dài trên bờ cát trắng mịn màng dài hơn 3km, độ dốc thoai thoải dần ra xa, với làn nước trong xanh, lặng sóng, là nơi lý tưởng để tắm biển, ở Bãi Môn có một con suối nước ngọt mát lạnh, nước trong veo rất thú vị.


Vượt qua đèo Cả, toàn cảnh Vũng Rô đẹp hút hồn hiện ra. Nhìn sang ngọn Thạch Bi Sơn (núi đá Bia), một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra Biển Đông, mới thấy rõ sự hài hoà của thiên nhiên khi kết tinh giữa biển và núi. Đi hết đèo Cả, chúng ta sẽ bắt gặp cảnh tàu thuyền tấp nập tạo nên một màu sắc đặc trưng của cư dân sống cùng với biển. Đó là bãi biển Đại Lãnh, từng được liệt vào danh thắng đất nước từ thời Minh Mạng và được khắc vào đỉnh đồng ở Huế. Có lẽ đây là bãi biển du lịch hiếm hoi của nước ta chưa bị ô nhiễm môi trường và còn giữ được nguyên vẻ tinh khiết của biển. Trước khi ra tới bãi biển, từ trên núi những dòng nước ngọt chảy xuống tạo ra nét riêng cho Đại Lãnh. Với điều kiện tự nhiên và tiềm năng vốn có của vùng biển, đảo này, tổ chức du lịch thế giới (OWT) đã đánh giá Đại Lãnh - Vũng Rô là một trong những thắng cảnh đẹp nhất ở châu Á và vùng Viễn Đông.


Hiện nay, Vũng Rô đang được Nhà nước đầu tư xây dựng thành Khu Du lịch Tổng hợp của quốc gia. Tỉnh Phú Yên đang đầu tư mở tuyến đường nối Vũng Rô với khu Công nghiệp Hoà Hiệp, sân bay Tuy Hoà và thành phố Tuy Hoà phục vụ cho phát triển vùng kinh tế Đông Tác - Vùng Rô. Khi các công trình xây dựng cầu cảng của cảng biển Vũng Rô hoàn thành, nơi đây sẽ chuyển động và trở thành giấc mơ đổi đời của hàng vạn nông dân, ngư dân Phú Yên.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #49 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2022, 06:29:40 am »

* Vịnh Xuân Đài

Xuân Đài là một vịnh nhỏ nằm dưới chân dốc Găng thuộc địa phận các xã Xuân Thọ, Xuân Thịnh và thị trấn Sông Cầu của tỉnh Phú Yên. Vịnh Xuân Đài có diện tích mặt nước khoảng 130km2, được tạo thành nhờ dãy núi Cổ Ngựa chạy dài ra biển độ 15km (bán đảo Xuân Thịnh) bao bọc lấy vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông trông giống hình đầu con kỳ lân. Theo sách Địa chí Phú Yên, thì vịnh Xuân Đài được mô tả: "nhờ dãy núi Cổ Ngựa thôn Tuy Phong chạy dài ra biển độ 15km, bao bọc phía ngoài đầm Cù Mông và tại vũng Trung Trinh được nối liền với một dãy núi khác chạy ra biển giống như hình một con kỳ lân. Đủ là vùng đất thuộc xã Xuân Thịnh".


Khi đi đường bộ lên đến đỉnh dốc Găng nằm trên quốc lộ 1A, chúng ta có thể nhìn thấy quang cảnh của vịnh này với rừng dừa bao bọc khu vực bờ của vịnh và vòng cung núi bao bọc khu vực vịnh Xuân Đài. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn thủy hài hòa và thơ mộng. Từ đèo Nại, một dãy núi chạy xuống phía Đông bao bọc vịnh Xuân Đài. Bờ vịnh, do ảnh hưởng của dãy núi, nên chỗ thì nhô ra, chỗ lại lõm vào, tạo thành nhiều vũng. Tên của từng vũng đểu có ý nghĩa riêng biệt.


Vũng Mắm: Có lẽ thuở trước dân ở vùng này đa số làm nghề muối mắm để làm kế sinh sống.

Vũng Dông: Trước kia là một gò cát pha, dông thường đào hang cư trú. Cư dân thường làm bẫy, bắt để dùng làm thức ăn cho gia đình và bán lại cho khách.

Vũng Chào: Dân vùng này làm nghề lưới cản, thường được các loại cá to như cá bò, cá ngừ. Ghe buồm từ các nơi đến mua đem bán nơi xa, người dân phải tiếp đón lái buôn với thái độ niềm nở chào mời.

Vũng La: Nằm về phía biển Nam Hải, có hai mỏm núi nhô ra nên cá thường vào ẩn trú. Mỗi lần có mẻ cá dạt vào, ngư dân hô hoán la to, báo hiệu cùng nhau đem thuyền lưới ra bắt, lệ ấy thành quen. Trước đây vũng La như một ốc đảo, những hôm mưa to gió lớn đường bộ không có lối đến, còn đường biển thì không dám vượt qua vì thuyền ghe nhỏ bé không đủ sức di chuyển. Ngày nay, con đường từ Trung Trinh đến vũng La dài 14,5km được mở, các loại ô tô đều đi được dễ dàng. Đời sống của người dân nơi đây ngày càng được cải thiện.


Phía Bắc vũng La có bãi cát nằm sâu vào giữa hai hòn núi nhô ra, từ mỏm núi này đến mỏm núi kia dài chừng 600m, bãi cát này có tên là bãi Ôm, nơi bãi Ôm không có nhà cửa, vắng vẻ, chỉ nghe tiếng sóng vỗ quanh năm. Tương truyền, ngày trước có nhiều đôi trai gái đưa nhau đến bãi này vui sống tự nhiên, nếu đôi nào còn giữ theo lễ giáo ắt bị trời đánh. Cũng theo truyền thuyết, đây là nơi trú ẩn một thời gian của nhân vật huyền thoại có sức mạnh: chàng Lía. Lại có giai thoại kể rằng: Nguyễn Ánh, khi dừng quân ở đây, nhìn núi non hùng vĩ, ông đã "giậm non, thể biển" nếu còn chân mạng đế vương thì xin trời đất, thánh thần chứng giám. Ông giậm mạnh bàn chân phải xuống ngay tảng đá làm tảng đá lõm sâu dấu chân ông. Ngày nay, dấu bàn chân ấy vẫn còn lưu trên một tảng đá ở vũng La.


Ở đây còn lưu truyền câu chuyện gành Tướng, vũng Mê. Vào ngày mùng hai Tết năm ấy là ngày kỵ Hà Bá, một ngư dân đi đánh chài vào lúc chiều tối, phát hiện hai ông lão râu tóc bạc phơ, tướng mạo phương phi đang đánh cờ trên gành đá, ông hốt hoảng buông tay chài. Hai ông lão nhìn ông và nói: "Ta là thiên tướng nhà trời, thấy phong cảnh hữu tình nên xuống đánh cờ, ngươi đã trông thấy thì không được kể với bất cứ ai, ta sẽ cho ngươi sống đến trăm tuổi, nếu kể "ắt phải chết" rồi biến mất. Mãi đến năm ông chín mươi mốt tuổi, nhân dịp cúng lăng, ông vô tình kể lại câu chuyện xảy ra cách đây bốn mươi năm. Đêm ấy, trong giấc ngủ chập chờn, ông thấy hai thiên tướng xuất hiện, bảo ông đã phạm lời nguyền. Ông tỉnh giấc, gọi con cháu kể lại giấc mơ rồi nhắm mắt ra đi. Ngày nay, trên tảng đá to của gành vẫn còn hình dấu bàn cờ.


Dốc Xuân Đài án ngữ trên con đường từ Bắc vào Nam, cho nên muốn ra Quy Nhơn hay vào Phú Yên đều phải leo lên dốc Xuân Đài mà đi, không có con đường nào khác. Dốc cao, hiểm trở; mùa mưa thì trơn trượt do đất sỏi thấm ướt; mùa nắng nóng leo lên được tới đỉnh dốc cổ họng khô rát, mà trên đỉnh thì không có giếng nước nào để uống.


Từ phía Nam đi ra, bắt đầu từ Chí Thạnh, đến gần dốc Vườn Xoài chừng 3.000m có con đường đất rẽ trái đi về hướng Tây Bắc độ một cây số thì đến chân dốc (Xuân Đài). Dốc ngược theo triền núi cao khoảng 500m. Leo lên dốc như thể ta bước từng cấp một lên đỉnh Yên Tử, hai bên có nhiều cây cổ thụ tán lá che phủ cả con đường đi vào một vùng rộng lớn. Đỉnh dốc phía Bắc có vườn cam nổi tiếng thơm ngon, đã từng tiến vua cùng với xoài Đá Trắng, xuống khỏi dốc, đi ngược về phía Nam gần 7km thì tới ngã ba Triều Sơn, nơi trước kia triều đình nhà Nguyễn có đặt hai khẩu thần công để bảo vệ vịnh Xuân Đài.


Ngày nay, Xuân Đài là một trong những vịnh được các chuyên gia đánh giá là có tiềm năng du lịch lớn nhất nhì miền Trung với cảnh sắc hữu tình, có nhiều đảo, bãi tắm rất đẹp và hoang sơ. Xuân Đài còn nổi tiếng vì có nhiều loại hải sản ngon, quý như ghẹ Sông Cầu, tôm hùm, cá mú... Nơi đây đang được quy hoạch để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao nước, du lịch sinh thái biển.


Trong thời kỳ mở đất, bản doanh của Văn Phong rồi sau này là trấn thủ Nguyễn Phúc Vinh đều đặt tại vịnh Xuân Đài, bởi địa thế hiểm trở, là cửa khẩu rất tốt, nối kết giữa đất liền và ngoài biển, đầu mối giao lưu giữa Phú Yên với bên ngoài. Khi Phú Yên còn là vùng đất "Kimi" thì Xuân Đài được xem là chốt ngăn chặn sự quấy nhiễu của quân Chăm Pa, là con đường tiếp viện và vận chuyển lương thực cho quân Đại Việt rất thuận lợi cũng như nhận được sự tiếp tế nhanh chóng từ Quy Nhơn vào.


Chính vì vị trí chiến lược quan trọng, nên tại đây đã xảy ra trận huyết chiến giữa quân Tây Sơn và nhà Nguyễn. Đó là vào năm Ất Mùi (1775), Tống Phước Hiệp huy động toàn lực quân chúa Nguyễn tiến công quân Tây Sơn, đại bản doanh đóng tại Xuân Đài và ông sai Võ Tánh đánh lên La Hai, cắt đứt đường tiếp viện từ Vân Canh vào. Theo lịch sử, thì vịnh Xuân Đài còn là nơi Nguyễn Ánh tập kết thủy binh đánh vào Phú Yên, là nơi dưỡng quân trên đường tiến ra đánh phủ Quy Nhơn. Xuân Đài còn là nơi đặt kho đê thu nạp lúa gạo từ các nơi khác trong vùng chuyển đến để cung cấp cho quân Nguyễn Ánh. Vì vậy tại nơi đây còn có một địa danh gắn liền đến sự kiện này, đó là đèo Vận Lương cách phía Bắc thị trấn Sông Cầu khoảng 6km.


Năm Tân Dậu (1861), trong chuyến vi hành từ Phú Yên đẽn Bình Thuận để xem xét tình hình các địa phương về việc giao thông đi lại, làm ăn của dân chúng, hai ông Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Cấp đã ghi nhận rằng dốc Xuân Đài là dốc rất hiểm trở có lợi thế quan trọng trong xây dựng thế trận.


Vịnh Xuân Đài có một vị trí chiến lược quan trọng về mặt quân sự, nên trong thế chiến thứ hai, Xuân Đài là một trong những địa điểm "nhân chứng" của cuộc chiến tàn khốc này. Đó là vào tháng 4 năm 1945 tàu hải quân của Nhật Hoàng tiến vào vịnh đánh chiếm để làm bàn đạp tiến sâu vào đất liền, nhưng đã bị phi cơ Đồng Minh bắn chìm giữa vịnh. Thân tàu chìm khuất dưới làn nước sâu, chỉ còn nhô lên cột cờ tàu và đài quan sát. Đây là chứng tích của một thời kỳ chiến tranh ác liệt trong lịch sử của dân tộc ta.


Hiện nay, vịnh Xuân Đài đang được đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quân sự - quốc phòng để xây dựng khu vực này trở thành khu kinh tế tổng hợp, năng động gắn liền với thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM