Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 09 Tháng Mười Hai, 2023, 03:42:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam  (Đọc 2379 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:07:51 am »

* Đảo Cát Bà

Đảo Cát Bà nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25km. Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất nằm trong một quần thể gồm 367 đảo. Về mặt hành chính, đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng.


Khu vực đảo có tọa độ 106°52 - 107°07 kinh Đông, 20°42 - 20°54 độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300km2. Dân số 8.400 người (năm 1996). Xung quanh đảo có các đảo nhỏ khác như: Hòn Cát Ông, Hòn Cát Đuối, Hòn Mây, Hòn Quai Xanh, Hòn Tai Kéo,...


Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trong tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long. Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc là Các Bà. Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận có tên là đảo Các Ông. Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của Các Bà.


Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới. Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng.


Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lỵ huyện Cát Hải. Trước năm 1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957, thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn của huyện Cát Bà mới thành lập.


Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70m so với mực nước biển. Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía Đông Nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.


Về khí hậu, Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Cụ thể là: Lượng mưa 1.700 - 1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8. Nhiệt độ trung bình 25-28°C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc). Độ ẩm trung bình 85%. Dao động của thủy triều 3,3 - 3,9m. Độ mặn nước biển từ 0,930% (mùa mưa) đẽn 3,111% (mùa khô).


Đảo Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía Tây Nam có vịnh Cát Gia với một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp. Đường xuyên đảo Cát Bà dài 27km, có nhiều đèo dốc quanh co, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình.


Ở Cát Bà có động Trung Trang nằm cách thị trấn 15km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người. Động Hùng Sơn cách thị trấn 13km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên động Quân Y vì trong chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi. Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung Trang. Cát Bà có các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh, v.v... Đây là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Ở đây có thể xây dựng những "thủy cung" để con người được trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô đỏ.


Cát Bà có rừng quốc gia được thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1986 theo Quyết định số 79/CP của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Gồm các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rừng trên cạn, hệ sinh thái rừng ngập mặn.


Vườn quốc gia Cát Bà nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 35 hải lý về phía Đông. Bắc giáp xã Gia Luận, Đông giáp vịnh Hạ Long, tây giáp thị trấn Cát Bà và các xã Xuân Đàm, Trân Châu, Hiền Hào. Tổng diện tích tự nhiên của vườn là 15.200ha. Trong đó có 9.800ha là rừng núi và 5.400ha là mặt nước biển. Toàn bộ vườn quốc gia Cát Bà là một vùng núi non hiểm trở có độ cao < 500m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50-200m. Đảo Cát Bà chủ yêu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.


Vườn quốc gia Cát Bà gồm có 5 nhóm đất chính: Nhóm đất trên núi đá vôi là loại đất phong hóa màu nâu đỏ hoặc nâu vàng phát triển trên đá vôi và sa thạch, tầng đất > 50cm, pH = 6,5-7, phân bố dưới tán rừng, rải rác trong vườn. Nhóm đất đồi feralit màu nâu vàng hoặc nâu nhạt phát triển trên sản phẩm đá vôi ít chua hay gần trung tính. Trong nhóm đất này còn có loại feralit màu trắng xám hay màu nâu vàng phát triển trên diệp thạch sét chua vùng đồi trọc, tầng đất mỏng, cấu tượng xấu, nhiều đá lẫn, đất khô rời rạc. Nhóm đất thung lũng cạn phát triển trên đá vôi hoặc sản phẩm đá vôi, tập trung ở các thung lũng, được rừng tự nhiên che phủ. Nhóm đất thung lũng ngập nước, phát triển chủ yếu do quá trình bồi tụ, mùa mưa thường ngập nước, tầng đất mặt trung bình hoặc mỏng. Nhóm đất bồi tụ ngập mặn do sản phẩm bồi tụ ở cửa sông, phát triển trên vùng ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long.


Với rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng,... Cát Bà là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển thế giới. Chính vì vậy, ngày 2 tháng 12 năm 2004, Cát Bà được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.


Động, thực vật ở Cát Bà có gần 60 loài được coi là các loài đặc hữu và quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam như: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng, voọc quần đùi trắng và các loài thực vật như chò đãi, kim giao, lá khôi, lát hoa, dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật. Ngoài ra còn 8 loài rong, 7 loài động vật đáy cũng cần được bảo vệ.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:08:30 am »

* Một số đảo lớn ven bờ ở Thanh Hóa

Vùng biển Thanh Hóa có nhiều đảo nhỏ với điều kiện tự nhiên và tiềm năng tương đối thuận lợi để phát triển các ngành khai thác hải sản và phát triển du lịch, một số đảo lớn ven bờ còn có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh. Đó là hòn Nẹ, hòn Mê, đảo Nghi Sơn...


Hòn Nẹ là tên chỉ hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Biển Đông. Đảo Nẹ nằm thuộc hải phận tỉnh Thanh Hóa, nó nằm cách đất liền huyện Hậu Lộc khoảng 6km về phía Đông, cách bờ biển Hoằng Hoá khoảng 5km về phía Đông Bắc và cách bờ biển Nga Sơn khoảng 6km về phía Nam. Hòn Nẹ nằm ở tọa độ 19°54'46" độ vĩ Bắc và 106°00'32" độ kinh Đông.


Trên hòn Nẹ có đền thờ Long Vương. Hàng năm vào ngày 15 tháng 5 âm lịch là ngày "Trời đất giao hoà", dân chài ven biển Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa lại tổ chức các đoàn thuyền rồng ra đảo làm lễ hội cầu mưa thuận gió hoà, sóng yên biển lặng.


Cũng tại Hòn Nẹ, vào tháng 7 năm 1964, các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã chọn làm nơi phục kích để đánh đuổi sự khiêu khích và vi phạm chủ quyền của tàu khu trục Maddox trong "sự kiện vịnh Bắc Bộ".

Đảo Nghi Sơn là xã đảo mà trên bản đồ địa lý Việt Nam ghi là Cù Lao Bãi Biện hay Biện Sơn. Hòn đảo này như một cánh tay khổng lồ chìa ra biển, ôm gọn trong lòng nó một vụng nước vái độ sâu thích hợp làm nơi cho tàu thuyền ẩn náu mỗi khi bão gió. Nghi Sơn cách Sầm Sơn 40km đường biển, cùng nằm trên một vĩ độ với Sầm Sơn nhưng khí hậu mùa hè trong lành mát mẻ hơn nhiều.


Đảo Nghi Sơn có khu thành cổ trên núi Ngọc như thành Đồn, thành Hươu, thành Ngọc. Trong khu thành cổ này, người ta đã phát hiện ra những mũi tên đồng, những mảnh gốm vỡ có tuổi thọ từ rất xa xưa. Dưới chân núi Ngọc, hãy còn giếng Ngọc, ghi dấu ấn một thiên bi tình sử thời Âu Lạc. Tương truyền khi An Dương Vương cùng con gái bị Triệu Đà đuổi đến đây, được thần Kim Quy hiện lên mách bảo, ông đã quay lại chém Mỵ Châu rồi rẽ nước đi ra biển. Trọng Thủy đến giếng Ngọc biết rõ sự tình, bèn nhảy xuống giếng tự tử. Máu Mỵ Châu hoà vào nước biển, trai biển nào ăn được biến thành ngọc trai. Ngọc trai mò được ở vùng biển này, chỉ có rửa nước giẽng Ngọc mới trong sáng. Thành Ngọc vẫn còn lại vòm cổng và hai khẩu súng thần công đặt ở đây từ vương triều Nguyễn do một viên chánh lãnh binh và một toán lính tráng trông coi.


Ngoài ra, ở Nghi Sơn còn có đền thờ Trần Quý phi (còn gọi đền Vua Bà hay đền Rắn). Trần Quý phi là vợ Long Vương. Bà là nhân thần, bảo hộ, che chở cho ngư dân trên Cù Lao Bãi Biện vượt sóng gió trùng khơi, mang về những khoang cá đầy, tạo dựng cuộc sống bình yên giữa mênh mang trời biển luôn luôn ẩn chứa những tai hoạ. Năm 1789, Nguyễn Huệ lấy Biện Sơn làm căn cứ hải quân hợp cùng các đạo quân trên bộ thần tốc kéo ra Thăng Long. Lúc cất quân nhà vua đã đến đền thờ Trần Quý phi khẩn cầu mong được phù hộ. Đại thắng quân Thanh, nhà vua đã quay lại tạ thần. Hoàng đế Khải Định sắc phong bà làm Thượng đẳng thần tối linh. Ngày 22 tháng 4 âm lịch hàng năm, nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao Trần Quý phi.


Lần theo dấu vết những hiện vật đào được, người ta xác định từ thời Lý trên đảo Nghi Sơn đã có người đến sinh cơ lập nghiệp. Ngót một nghìn năm, người dân đảo muốn vào đất liền phải đi thuyền vài giờ. Năm 1937, một viên quan dòng dõi nhà Nguyễn là Tôn Thất Cơ bị vua Bảo Đại giáng chức đày đến Nghi Sơn. Ông đã dạy dân cắt tóc ngắn, học chữ quốc ngữ, xây giếng nước ăn. Năm 1939, ông đã cùng dân mở đường mòn qua núi vào đất liền. Con đường ấy ngày nay đã được mở rộng thành đường ô tô. Ông Tôn Thất Cơ chết trên đảo trong sự thương tiếc, quý trọng của nhân dân. Hiện nay, đền thờ và mộ chí ông vẫn được chăm nom hương khói và bảo quản chu đáo.


Đảo Hòn Mê thuộc huyện Tĩnh Gia, nằm ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa và cách đất liền 11km. Hòn Mê có diện tích 420ha và xung quanh có hơn 10 đảo nhỏ. Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió trong năm là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. Trên đảo hiện nay vẫn chưa có dân định cư. Tuy nhiên, do nằm khá gần đất liền nên hoạt động khai thác hải sản ở đây rất nhộn nhịp.


Theo kết quả điêu tra mới đây, khu vực quanh đảo Hòn Mê đã ghi nhận được 440 loài sinh vật biển thuộc 165 giông bao gồm 133 loài thực vật phù du, 46 loài động vật phù du, 8 loài rong biển, 56 loài san hô, 141 loài động vật đáy và 55 loài cá san hô. Các rạn san hô đang bị suy thoái nghiêm trọng, nhiều nơi chỉ còn lại nhóm san hô dạng khối thuộc giống Porites và có độ phủ không cao, bình quân dưới 30%. Các loài sinh vật biển cần được bảo vệ trước hết là nhóm san hô tạo rạn, tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm và một số loài rong biển. Các khảo sát về hệ sinh vật trên đảo còn thiếu, tuy nhiên qua khảo sát sơ bộ cho thấy rừng mưa nhiệt đới trên đảo được bảo tồn khá tốt với độ phủ cao. Trên đảo có rất nhiều khỉ và một số loài động vật khác như sơn dương, chồn và sóc.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:09:04 am »

* Đảo Cồn Cỏ

Đảo Cồn Cỏ (còn gọi là Hòn Cỏ, Con Cọp, Hòn Mệ...) là một đảo ở Biển Đông, thuộc tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam, cách đất liền từ 13 đến 19 hải lý, nằm án ngữ ở cửa ngõ phía Nam và là một điểm để phân định đường cơ sở trong vịnh Bắc Bộ. Diện tích của đảo khoảng 2,2km2. Về mặt hành chính, đảo Cồn Cỏ đồng thời là huyện Cồn Cỏ.


Cồn Cỏ cách Mũi Lay 27km về phía Đông, có vị trí ở 17°10' vĩ Bắc và 107°21' kinh Đông. Trước khi thành lập huyện đảo Cồn Cỏ, đảo thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh và do Tỉnh đội Quảng Trị quản lý. Huyện Cồn Cỏ được thành lập theo Nghị định số 174/2004/NĐ-CP ngày 1 tháng 10 năm 2004 với diện tích 2,2km2. Dân số: khoảng 400 người. Tỉnh Quảng Trị đã làm lễ ra mắt huyện đảo này ngày 18 tháng 4 năm 2005.


Theo các nhà khảo cổ học với những phát hiện mới nhất, ở khu vực Bến Nghè của đảo đã tìm thấy nhiều công cụ đá của con người thời đá cũ cách đây hàng vạn năm. Trong thời gian của những thế kỷ đầu Công nguyên, Cồn Cỏ đã từng là địa bàn cư dân Chăm Pa đặt chân đến. Trong khoảng thế kỷ XVII - thế kỷ XVIII, trên con đường giao lưu buôn bán, cư dân Đại Việt cũng đã coi Cồn Cỏ là một điểm dừng. Những phát hiện khảo cổ học ở khu vực Bến Tranh trong tháng 7 năm 1994 đã ghi nhận điều đó. Tương truyền rằng, dưới thời nhà Nguyễn, Cồn Cỏ là nơi đày ải của những người có tội. Ở đây, bộ đội đảo khi khơi một giếng cũ (không rõ được đào từ thời nào) đã tình cờ phát hiện một bộ hài cốt cùng với xích cùm bằng sắt.


Cồn Cỏ ẩn chứa trong lòng những tiềm năng du lịch hết sức phong phú và đa dạng. Gần như là hải đảo duy nhất có hệ sinh thái đa dạng lại không quá cách xa bờ, Cồn Cỏ hoàn toàn đủ điều kiện để hình thành du lịch biển, đảo. Trải qua hàng thế kỷ hoạt động của núi lửa giữa biển khơi đã tạo ra một Cồn Cỏ có giá trị về địa chất và sinh thái cảnh quan như một bảo tàng tự nhiên độc đáo với các thềm đá bazan kỳ vĩ, các bãi tắm nhỏ hoang sơ được tạo thành từ vụn cát, san hô, sò điệp... Nước biển ở đây rất trong và ấm (ít khi xuống dưới 21°) đã ban cho Cồn Cỏ những mùa tắm kéo dài. Rừng trên đảo cũng là hệ sinh thái khá hiếm của đảo núi lửa ở Việt Nam... Đó là loại rừng nhiệt đới với ba tầng cây cỏ và dây leo làm cho Cồn Cỏ thực sự là hòn đảo xanh với thảm thực vật phong phú. ở đây có những khu rừng xanh tốt trên thềm san hô cổ - một hệ sinh thái đặc biệt trên nền đất khô.


Cồn Cỏ là hòn đảo nằm trong chuỗi địa danh lịch sử nổi tiếng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như hàng rào điện tử Mắc Namara, địa đạo Vịnh Mốc, cầu Hiền Lương, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ Đường 9... Cồn Cỏ là đảo Anh hùng nổi tiếng của thời đánh Mỹ đã từng được Bác Hồ gửi thư khen, được mệnh danh là chiến hạm không bao giờ đắm trên Biển Đông, vẫn còn đây những tên đất, tên bến, tên người, những di tích trận địa, chòi canh, câu hát "Cồn Cỏ có con cá đua là con cua đá"... của quân dân ta một thời máu lửa.


Đảo Cồn Cỏ có nhiều tiềm năng phát triển dịch vụ - du lịch - lâm - nông - thủy sản; trong đó dịch vụ - du lịch là mũi nhọn. Khi được đầu tư phát triển chắc chắn Cồn Cỏ sẽ nhuận sắc, lên hương trở thành một điểm du lịch kỳ thú và hấp dẫn. Những tiềm năng sẽ trở thành hiện thực sống động để Cồn Cỏ xứng danh là hòn đảo Thanh niên - đảo du lịch xinh đẹp.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #23 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:10:04 am »

* Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm là một cụm đảo xã đảo Tân Hiệp, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15km. Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.


Cù Lao Chàm là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An. Bản đồ Tây phương xưa thường ghi Cù Lao Chàm với tên "Champello" lấy từ tiếng Nam Ấn (Autronesian) "Pulau Champa". Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm.


Cù Lao Chàm có địa hình đồi núi và thảm thực vật đã được tái tạo xanh tốt, nhiều loài quý hiếm. Các bãi biển cát vàng sạch mịn với những khối đá làm nên nhiều cảnh quẤn Độc đáo. Phía Đông của đảo sườn núi dốc đứng, bên dưới sóng biển mạnh mẽ tạo nên cảnh quan hùng vĩ. Các rạn san hô ở khu vực biển Cù Lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ.


Tháng 10 năm 2003, Khu Bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm được thành lập để giữ gìn sinh vật hoang dã trên đảo, là một trong 15 khu bảo tồn biển của Việt Nam vào thời điểm 2007.

Cù Lao Chàm hiện có 135 loài san hô trong đó có 6 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở vùng biển Việt Nam, 500 thảm rong và cỏ biển, 202 loài cá, 4 loài tôm hùm và 84 loài nhuyễn thể. Nơi đây còn là nơi tụ cư của chim yến, tổ của chúng gọi là yến sào là một món ăn quý, bổ dưỡng chỉ dành cho vua chúa. Cù Lao Chàm còn có hang Tò Vò, hang Khô - nơi yến làm tổ trên vách đá cheo leo.


Cù Lao Chàm là một địa điểm du lịch có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên phong phú. Đến Cù Lao Chàm, du khách có thể tham quan phòng trưng bày "Văn hoá thiên nhiên, con người Cù Lao Chàm - báu vật từ đáy biển"; tham quan chùa Hải Tạng - ngôi chùa tồn tại đã gần 300 năm trên đảo; tham quan giếng cổ, Lăng Ông hay đi lặn san hô (lặn nông), xem cá nhiều màu sắc ở bãi Bấc, Hòn Dài; tham gia vượt biển tham quan làng chài bãi Hương, hoặc xuổng tắm biển ở bãi Ông hoặc bãi Chồng. Cũng trong dịp này, du khách có thể chọn các loại hình thể thao biển như lướt ván, dù bay, chèo thuyền kayak, thả diều, đua thuyền..., thưởng thức các món đặc sản tươi rói vừa đánh bắt từ biển lên.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:11:10 am »

* Huyện đảo Lý Sơn

Đảo Lý Sơn, còn gọi là Cù Lao Ré, là huyện đảo được tách ra từ huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu từ khi đó. Huyện đảo Lý Sơn có diện tích tự nhiên khoảng trên 9,9km2, gồm đảo Lớn và đảo Bé, dân số hiện nay khoảng trên 20.400 người. Tổng chiều dài đường bờ biển trên 25km. Nằm ở vị trí tiền tiêu của Tổ quốc nên đảo Lý Sơn có vị trí rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền an ninh biển, đảo, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ đất liền.


Hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa đã tắt từ thời tiền sử. Người dân trên đảo sống nhờ vào đánh bắt hải sản và trồng tỏi. Đảo Lý Sơn có một thắng cảnh thiên nhiên độc đáo với năm ngọn núi nhô cao giữa vùng trời biển bao la, đứng trên một trong số các đỉnh núi này nhìn xuống xung quanh đểu là trời biển bao la, thu tầm ngắm lại một chút là những cánh đồng tỏi hành xanh mơn mởn như một bức thủy mặc. Trên đỉnh của các ngọn núi là những thảm rừng, gần dưới chân là nhà cửa, đường sá và những cánh đồng xanh tươi bốn mùa. Bờ biển Lý Sơn rất đẹp, ở đây không có bãi biển thích hợp cho tắm, nhưng là nơi rất lý tưởng cho những ai thích ngao du dưới đáy biển, quan sát cá bơi lội, san hô, bắt ốc... Ven bờ biển từ chùa Hang đến hang Câu là một cảnh tượng hùng vĩ; một bên là vách núi sừng sững, một bên là trời biển mênh mông.


Truyền thuyết dân tộc Kor kể rằng, đảo Lý Sơn là một phần của vùng núi Trà Bồng trôi dạt về phía Biển Đông sau trận giao tranh dữ dội của Thần Nước và người anh hùng Doang Đác Tố, chủ làng Tali Talok.

Thật ra, theo các nhà địa chất, hòn đảo Lý Sơn được hình thành cách đây vài triệu năm do vận động phun trào nham thạch của các núi lửa phủ lên nền những nếp gấp tạo sơn đã bắt đầu nâng những lớp đá trầm tích nhô khỏi mặt nước biển. Chính các lớp trầm tích nền đảo và san hô phát triển trên bề mặt là cơ sở cho việc hình thành nhiều hang động, cổng đá do tác động xâm thực của nước biển trong thời kỳ biển tiến ở khu vực hòn Thới Lới, nơi vận động tạo sơn theo kiểu xếp nếp đã đẩy các lớp trầm tích đáy biển nhô cao hơn cả trong hệ thống đảo Lý Sơn. Còn vết tích núi lửa là những khối nham thạch nhiều hình dạng chưa kịp phân hủy, cũng như lớp đất đỏ bazan màu mỡ phủ hầu hết khắp đảo, tạo điều kiện cho sự đa dạng và tươi tốt của hệ thực vật che phủ.


Lý Sơn có tiềm năng văn hóa vô cùng phong phú, là một bảo tàng sống động của kho tàng truyền thuyết, truyện kể, dân ca, lễ hội đua thuyền tứ linh đầu xuân, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 2 và tháng 3 (âm lịch), các tín ngưỡng dân gian theo mùa, tục thờ cá Ông... Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệu quan trọng để chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam như sắc chỉ của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến đội Hoàng Sa mà tộc họ Đặng đã giữ hơn 170 năm qua. Tộc họ Đặng cũng đã làm lễ dâng tài liệu quý này cho sở văn hóa tỉnh. Đến đảo Lý Sơn, chúng ta còn được nghe nhiều câu chuyện kể về Hải đội Hoàng Sa, về những người con đất đảo anh hùng một đi không trở lại để bảo vệ Hoàng Sa thân yêu của Tổ quốc.


Chùa Hang là hang động lớn nhất trong hệ thống hang động ở đảo Lý Sơn. Hang đá này được tạo thành từ một vách đá dựng đứng, cao gần 20m ở ngọn núi Thới Lới, do bị nước biển xâm thực trong thời kỳ biển tiến. Hang có bề ngang 30m ăn sâu trên 25m vào núi theo kiểu hàm ếch ngoài cửa cao 15m, thấp dần vào phía trong, ở đó có những kỷ đá, giường đá rất đẹp. Trước cửa hang là những cây bàng phễu cổ thụ, cành lá sum suê. Chùa Hang là nơi thờ Phật nên còn có tên chữ là Thiên Khổng Thạch Tự, nhưng nơi đây cũng kết hợp thờ 7 vị tiền hiền làng Lý Hải.


Đình làng và nhà thờ tiền hiền Lý Hải tọa lạc tại thôn Đông - xã Lý Hải, được xây dựng vào năm 1820 và trùng tu 4 lần, nhưng vẫn còn nguyên những nét kiến trúc chủ đạo ban đầu. Đây là ngôi đình làng cổ nhất và cũng là nơi duy nhất các lễ hội, sinh hoạt văn hóa (tế xuân thu nhị kỳ, tế tiền hiền, đua thuyền, vật,...) được duy trì liên tục cho đến nay ở Quảng Ngãi.


Ngoài chùa Hang, đình làng Lý Hải, Lý Sơn còn có hang Câu, miếu Bà Chúa Ngọc, Âm Linh Tự, dinh Bà Roi, giếng vua; những hiện vật bằng đá, gốm sứ Trung Hoa, Chăm, Sa Huỳnh Đại Việt. Đặc biệt, trong lòng đất Lý Sơn còn ẩn chứa nhiều di chỉ văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm mà các hiện vật gồm xương động vật, đồ gốm, hài cốt người cổ có niên đại cách chúng ta khoảng 2 - 3 nghìn năm.


Lễ khao lề thế lính là một lễ hội được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàng trăm năm nay. Thời gian đầu khi mới thành lập Đội Hoàng Sa, hàng năm người của đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này gọi là "thế lính". Lễ khao lề thế lính là một lễ hội độc đáo với truyền thống uống nước nhớ nguồn nhằm ghi nhớ công ơn người xưa hay nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về.


Lễ hội được tổ chức tại Âm Linh Tự (một di tích được xếp hạng quốc gia) vào các ngày 18, 19, 20 tháng 4 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn không chỉ của huyện mà còn của cả tỉnh Quảng Ngãi. Với hình thức tổ chức rất công phu nhiều công đoạn, song đặc biệt hơn cả là hình thức thả thuyền giấy ra biển ngụ ý mãi duy trì việc ra biển như trước và có lẽ vì thế mà lễ hội có tên là khao lề thế lính. Vào những ngày này, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ Hải đội Hoàng Sa (dân nơi đây gọi là Mộ gió).


Ngày nay, lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam, du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của đất nước.


Lý Sơn nằm trong hệ thống các đảo tiền tiêu về phía biển, có vị trí quan trọng trong việc bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa phải gắn với yêu cầu về quốc phòng, trong đó đặc biệt lưu ý các tư liệu liên quan đến chủ quyền của Tổ quốc đối với không chỉ đảo Lý Sơn mà cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Để khơi dậy và phát triển những tiềm năng của đảo, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, sự nỗ lực cố gắng của nhân dân địa phương, nhiều công trình trọng điểm trên đảo đã và đang được xây dựng, đặc biệt là việc xây dựng tuyến đường phía Đông Nam đảo Lý Sơn. Công trình này không những có ý nghĩa về chính trị, quốc phòng - an ninh mà còn tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện Lý Sơn phát triển, đáp ứng khát vọng bao đời nay của nhân dân trên đảo.


Khai thác hải sản là một trong hai nghề chính và là thế mạnh của nhân dân đảo Lý Sơn. Hiện nay cả đảo có khoảng trên 400 tàu thuyền lớn bé chuyên hành nghề khai thác và dịch vụ thu mua hải sản với hơn 3.500 lao động tham gia. Cùng với làm biển, nghề nông trở thành nghề chính của bà con. Nơi đây được mệnh danh là "Vương quốc tỏi", tỏi ở đây thơm ngon, có tác dụng chữa bệnh cao, hương vị rất đặc trưng. Ngày 31 tháng 3 năm 2009, tỏi và hành của địa phương đã chính thức mang thương hiệu Lý Sơn. Đây là điều kiện thuận lợi để tăng giá trị kinh tế trong sản xuất kinh doanh tỏi, hành, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trên đảo.


Tháng 7 năm 2009, trên đảo Lý Sơn đang xây dựng tượng đài Hải đội Hoàng Sa. Tượng đài được thiết kê dựa trên tư liệu chính sử về Hải đội Hoàng Sa và lời kể lại của nhân dân ở huyện Lý Sơn. Tượng đài chọn ba nhân vật "tam nhân đồng hành" giong buồm ra Biển Đông là thể hiện sự vững chắc, sức mạnh trước sóng gió.


Nhân vật trung tâm của cụm tượng đài là vị cai đội chỉ huy đứng chính diện, tay phải chỉ ra phía trước Biển Đông thể hiện sự khẳng định chủ quyền biển và hải đảo của Tổ quốc, tay trái đặt trên tấm thẻ bài có khắc dòng chữ "Vạn lý Hoàng Sa" và "Vạn lý Ba Bình" với dòng lạc khoản ghi "Minh Mạng thứ 17 - năm Bính Thân 1836".


Đứng cạnh vị cai đội là hai dân binh: một dân binh tay trái cầm giáo và một dân binh vác lưới đồng hành cùng vị cai đội giong buồm ra Biển Đông thực thi nhiệm vụ cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Phía sau cụm tượng là dòng chữ do Bộ Công của triều đình dâng lên vua Minh Mạng phê chuẩn khẳng định quần đảo Hoàng Sa là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của đất nước, với dòng chữ "Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu".


Ba nhân vật của tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải cao 4,5m và năm thẻ bài (mỗi thẻ bài cao hơn 2,2m), chất liệu làm bằng đá xanh Thanh Hóa có tổng trọng lượng gần 40 tấn. Cụm tượng đài nằm trong dự án bảo tồn di tích lịch sử Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #25 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:12:27 am »

* Đảo Phú Quý

Đảo Phú Quý (còn gọi là Cù Lao Thu hay Cù Lao Khoai Xứ) là một đảo nhỏ với diện tích 16km2 thuộc huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120km về hướng Đông Nam, cách quần đảo Trường Sa 540km về phía Tây Bắc, cách thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 150km (về phía Nam), cách Côn Đảo 330km (về phía Đông Bắc) và cách thành phố Vũng Tàu 200km (về phía Đông). Ngoài đảo chính, chung quanh đảo Phú Quý còn có Hòn Đá Cao hướng Tây - Bắc, Hòn Đỏ hướng Đông - Bắc và Hòn Tranh, Hòn Hải hướng Tây Nam.


Thời xa xưa, đảo Phú Quý ngoài tên Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu còn có tên gọi: Cỗ Long, Thuận Tịnh. Từ niên hiệu trị thứ 4 (1844), vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể cho triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận. Hiện nay, Phú Quý là một huyện đảo xa của tỉnh Bình Thuận.


Là một hòn đảo nằm biệt lập giữa trùng dương nhưng dấu tích phát hiện được cho thấy đảo đã được khai phá tạo lập cuộc sống từ rất sớm. Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân đã tìm thấy những mộ vò lớn. Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như rìu, bôn và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo. Điều này phù hợp với những giai thoại được lưu truyền rằng trước khi có sự khai phá thiên nhiên của những con người từ lục địa, ở đây đã có một giống người "Thượng" sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển. Trải qua những biến thiên của lịch sử, Phú Quý là nơi hội tụ của nhiều luồng dân di cư từ lục địa ra với nhiều thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó người Kinh đóng vai trò chủ thể.


Cùng với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là khi kỹ thuật đóng thuyền buồm phát triển mạnh, nhiều chiếc thuyền vượt được khơi xa thì cũng là lúc có nhiều người từ lục địa đặt chân lên đảo. Cùng với những phần mộ còn sót lại trên đảo, sự tích công chúa Bàng Tranh chứng tỏ người Chăm đã có mặt ở đảo này. Sự tích kể rằng: Bàng Tranh là một công chúa xinh đẹp vì chống lệnh vua cha bị kết tội phản nghịch nên bị đày ra đảo tự sinh sống.


Mặt khác, trong thời kỳ phong kiến, nhiều người dân do không chịu nổi sự hà khắc của chế độ nên đã tìm đường ra đảo lập kế sinh nhai. Người Kinh có mặt ở đảo cũng từ rất sớm. Lúc bấy giờ, vào một thời điểm mà triều đại phong kiến Việt Nam đang trượt nhanh trên con đường mục nát, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi. Ở các tỉnh miền Trung lúc bấy giờ, những người cùng khổ hoặc phải bán vợ đợ con hoặc phải phiêu dạt đi khắp nơi để kiếm sông. Và Phú Quý là một điểm đến an lành mà họ đã tình cờ bắt gặp. Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1672), rất nhiều ngư dân thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung, hoặc chạy giặc lánh nạn, hoặc đi tìm nguồn cá, thuyền của họ vượt sóng trùng dương đã gặp phải những trận cuồng phong khốc liệt và xiêu bạt cập đảo Phú Quý. Cùng với người Kinh, một số người Hoa cũng hoà nhập vào cộng đồng cư dân ở Phú Quý. Vào thế kỷ XVII, một số quan lại nhà Minh sau khi chống nhà Thanh thất bại, đã phải trốn ra nước ngoài. Từng đoàn thuyền vượt biển tiến về phía Nam, trong số đó có hàng chục thuyền đã quyết định dừng chân lập nghiệp ở Phú Quý. Người Hoa đến đây sống dựa vào các ngành nghề như dệt tơ lụa, buôn bán. Quá trình phát triển về sau, một số người do làm ăn trở nên giàu có đã lần lượt tìm vào các thành phố lớn ở đất liền, chỉ một số ít còn lại trên đảo.


Vào thời Lê Hiển Tông - Cảnh Hưng (1740 - 1786), nhà Lê đã tổ chức trên đảo thành từng hộ bạch bố đến đội bạch bố rồi dần dần trở thành ấp và làng. Tuy số dân lúc bấy giờ chưa đông đúc nhưng Phú Quý có đến 14 làng và 1 ấp.


Mỗi làng được lập trên cơ sờ một nhóm nhỏ ngư dân, đôi lúc chỉ có từ 10 đến 12 tránh đinh và thường mang những tên cũ của địa phương trước khi đến đây lập nghiệp: Thoại Hải, Thế Hanh, Thế An, Hội Thiên, Hội Hưng, Hương Lăng, Mỹ Xuyên, Phú Ninh, An Hoà, Hải Châu, Thượng Hải, Triều Dương, Hội An, Mỹ Khê và ấp Quý Thạnh. Từ niên hiệu Đồng Khánh - Nguyễn Cảnh Tông năm thứ 1 (1886), toàn đảo được tổ chức thành 11 làng và đến năm 1930 do sự sáp nhập hai làng Phú Ninh vào Phú Mỹ và Hương Lăng vào Quý Thạnh nên chỉ còn lại 9 làng: Long Hải, Phú Mỹ, An Hoà, Hải Châu, Thương Hải, Quý Thạnh, Triều Dương, Mỹ Khê và Hội An. Hiện nay, đảo được chia làm 3 xã: Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh.


Trên đảo Phú Quý có chùa Linh Quang là di tích lịch sử cấp quốc gia tọa lạc trên một đồi cao tại thôn Mỹ Khê, xã Tam Thanh. Chùa được xây dựng vào thời Cảnh Hưng thứ 8 đến nay đã có hơn 250 tuổi. Chùa còn lưu giữ các sắc phong của triều Nguyễn ban. Vạn An Thạnh nằm ở xã Tam Thanh thờ "ông Nam Hải" ở đây cũng có một số sắc phong mà các vua triều Nguyễn ban tặng. Đền thờ Bà Chúa Ngọc và vạn Thương Hải là 2 di tích lịch sử cấp tỉnh vừa mới được công nhận có 5 sắc phong thần cho Bà Chúa Ngọc và còn một số hiện vật tế tự quý như: chiếc đỉnh đồng, chân đèn và chuông đồng, ba sắc phong cho Thần Nam Hải và 2 sắc phong thần cho Bắc Trấn đô đốc Bùi Quận Công. Đình làng Triều Dương còn lưu giữ nhiều di vật quý giá như: các câu đối, hoành phi viết bằng chữ Hán Nôm; 5 sắc phong của các vua triều Nguyễn phong tặng cho Thành Hoàng bổn cảnh. Đây là di tích lịch sử cấp tỉnh.


Vào khoảng tháng 10 năm 1941, một con cá "ông" trôi dạt vào đảo. Theo tài liệu của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Thuận, đây là con cá voi đầu tiên trôi dạt vào đảo được người dân mai táng trọng thể, từ đó người dân Triều Dương lấy ngày 15 tháng 1 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ cá ông, gọi là ngày giỗ cố.


Đảo Phú Quý trong một thời gian dài đã sống trong điều kiện khép kín tự cung tự cấp với những hoạt động kinh tế như trồng trọt, đánh bắt hải sản, một số ngành nghề thủ công như dệt vải, đan võng, ép dầu... Trong đó, ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo.


Xung quanh đảo Phú Quý có các đảo lân cận như: Hòn Tranh, Hòn Đen, Hòn Giữa, Hòn Hải, Hòn Đồ Lớn...

Hòn Tranh là đảo cách cảng Phú Quý khoảng 600m, nằm phía Đông Nam đảo Phú Quý vâi diện tích gần 40ha. Trước đây Hòn Tranh là một hoang đảo chủ yếu là cỏ tranh, sau được nhân dân khai phá trồng hoa màu, hiện nay đảo này đang được trồng rừng phục hồi môi trường. Tuy chưa có dân cư sinh sống nhưng trên đảo có trạm ra-đa quan sát biển của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam.


Hòn Đen là đảo nằm ở phía Đông Bắc, cách Phú Quý khoảng 100m. Đảo này gồm toàn đá mẹ bazan chưa phong hóa, vào những lúc nước ròng có thể lội bộ giữa Phú Quý và Hòn Đen. Hòn Trứng là đảo nằm phía Tây Bắc, cách Phú Quý 3km. Đây là điểm tựa của nhiều loại ghe thuyền neo đậu để tránh bão gió.


Hòn Giữa là một dãy gành đá bén nhọn nằm cạnh Hòn Đen, nằm vắt ngang như một nhịp cầu nối liền Hòn Đen và Hòn Đỏ. Hòn Đỏ nằm phía Đông Bắc đảo Phú Quý. Đảo có tên là Hòn Đỏ vì ở đây toàn là đá màu đỏ.

Hòn Hải cách đảo Phú Quý 70km. Đảo có hình dạng là một khối đá vuông cạnh mọc thẳng đứng. Tại đây là đường cơ sở Ao để tính lãnh hải của Việt Nam trên vùng biển Đông Nam.

Hòn Đồ Lớn nằm phía Đông Nam và cách Phú Quý 60km. Đây là hòn đảo mới hình thành năm 1923 do hoạt động phun trào dưới lòng Biển Đông. Lúc đầu có dạng hình tròn với đường kính 40m, trên mặt có cát trắng và xung quanh có cạnh bậc thang thoai thoải.


Từ rất lâu Phú Quý nổi tiếng với các loại hải sản quý hiếm. Năm 1935, thương lái Phan Thiết, Trung, Nam Bộ đi ghe bầu ra Phú Quý mua cá khô, tôm hùm, các loại ốc... bán sang Cao Miên. Từ thập kỷ 90 thế kỷ XX, với sự nỗ lực của chính quyền, nhân dân địa phương cùng sự hỗ trợ mạnh mẽ của tỉnh và trung ương, Phú Quý thật sự đổi thay. Nghề đánh bắt hải sản với các phương tiện đánh bắt hiệu quả đã làm tăng thu nhập của người dân.


Ngoài sự phát triển về ngành hải sản mũi nhọn, Phú Quý con được biết đến là một quần đảo có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái biển. Là một huyện đảo có khí hậu trong lành, biển ở xung quanh, nước trong xanh thấy rõ địa hình, địa vật dưới độ sâu 5 - 7m bằng mắt thường. Đặc biệt quanh đảo có một thảm thực vật rạn san hô rất đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại. Phú Quý có nhiều bãi tắm, như vịnh Triều Dương, bãi Doi Dừa, bãi Nhỏ Gành Hang, bãi dọc cái doi Mộ Thầy, nhất là bãi vịnh Triều Dương rất rộng, toàn là cát trắng mịn không có đá lộ đầu, trên bờ có rặng dừa và rừng dương rợp bóng, lại có nhiều nước ngọt. Không chỉ có phong cảnh đẹp mà con người Phú Quý lại cần cù, chất phác và hiếu khách.


Với điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, Phú Quý là điểm đến tham quan du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái biển, du lịch thể thao, câu cá trên biển và du lịch văn hóa lịch sử. Chương trình hoạt động du lịch Phú Quý gắn với chương trình du lịch biển Trường Sa; đồng thời gắn liền với các tour du lịch của toàn tỉnh Bình Thuận và xem việc tham quan du lịch nghỉ dưỡng tại Phú Quý là một bộ phận trong các chương trình tham quan du lịch của các đoàn khách trong và ngoài nước.


Những năm vừa qua, trung ương và tỉnh Bình Thuận đã quan tâm đầu tư kinh phí để xây dựng các công trình dân sinh kinh tế và thực hiện một số cơ chế chính sách thu hút đầu tư phát triển khu kinh tế Phú Quý. Tuy nhiên tình hình kinh tế Phú Quý những năm qua chưa được quan tâm đầu tư xây dựng, nên du lịch Phú Quý vẫn còn ở dạng tiềm năng. Để phát huy tiềm năng kinh tế du lịch biển đảo trong thời gian tới cần có nhiều chính sách thông thoáng thu hút đầu tư, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, cung ứng điện, nước, xử lý nước thải, vệ sinh môi trường đảm bảo thông tin liên lạc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về định hướng kinh tế du lịch, đi đối với phát triển các ngành nghề khác, nhằm tạo điều kiện phục vụ cho sự phát triển kinh tế du lịch.


Với tiềm năng kinh tế sẵn có, du lịch Phú Quý nếu được đánh thức và khai thác đúng hướng, nhất định con đường xây dựng và phát triển kinh tế du lịch Phú Quý sẽ có bước đột phá và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trong những năm tới.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #26 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:13:10 am »

* Hòn Tre, Hòn Tằm

Hòn Tre là đảo lớn nhất trong vịnh Nha Trang với diện tích trên 3.000ha, nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5km về phía Đông, cách cảng cầu Đá 3,5km. Đây là nơi hội tụ tất cả những lợi thế vẽ mặt tự nhiên và xã hội của thành phố Nha Trang nói riêng và tỉnh Khánh Hoà nói chung. Đảo Hòn Tre có vị trí tương đối biệt lập, với bãi tắm thiên nhiên đẹp, thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển.


Cấu tạo địa chất chỉ có đá chồng lên đá để tạo thành đảo Hòn Tre với đỉnh cao 395m. Những mảng đất ít ỏi kẹt giữa khe, hốc, hang đá trên đảo được người dân trồng xoài, mãng cầu, mít; phần trên cao gần đỉnh là rừng nguyên sinh ít cây cổ thụ, nhiều bụi lùm và dây leo; có nhiều khỉ, sóc, ít kỳ đà và trăn. Trên đảo có nhiều khe suối nhỏ là nguồn cung cấp nước ngọt sinh hoạt cho người dân Hòn Tre.


Ngoại trừ khu trung tâm chiếm khoảng 3km sát mép biển phía Đông, 8km còn lại của Hòn Tre còn rất hoang sơ. Vì cấu tạo nhiều đá tảng nên dưới chân núi giáp biển chỉ có đá nhẵn nhụi bởi được sóng biển gột rửa qua bao đời nay. Trên đảo có những công trình tôn giáo như miếu Bà Chúa Xứ, dinh Ông Nam Hải, miếu Bà Thượng, tịnh xá Phước Hải. Những công trình tôn giáo ở Hòn Tre đậm "bản sắc biển khơi", dinh Ông Nam Hải có thờ bộ xương "ông" cá voi dài 9,4m, ngang 3,8m nặng gần 5 tấn. Ngoài Tết cổ truyền, đảo nhỏ này mỗi năm có 4 lễ hội theo âm lịch người về dự rất đông: Lễ hội vía Bà Chúa Xứ vào ngày rằm tháng 2, Lễ vía Ông Nam Hải ngày 26 tháng 4, Lễ cúng rằm tháng 7 ở tịnh xá Phước Hải và ngày 9 tháng 9 Lễ vía bà Thượng Động.


Ngoài những công trình tôn giáo, khi đi vòng quanh đảo còn có 3 địa danh đều nằm sát mép biển, được người dân đảo rất yêu thích: Đuôi Hà Bá, Bãi Chén và Động Dừa. Bãi Chén có phong cảnh hữu tình, với vô số hòn đá lớn nhỏ giống như những chiếc chén úp kéo dài khoảng 2km. Bãi Chén không chỉ có phong cảnh đẹp hoang sơ, mà còn là nơi tắm lý tưởng nhất Hòn Tre vì đây là nơi hiếm hoi có ít cát. Hiện nay, theo quy hoạch, đảo bao gồm 2 khu vực chức năng:


Khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn bao gồm: Khu du lịch Con sẻ tre, Vinpearl resort & spa, Khu du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl, Công viên văn hóa Vinpearl, Công viên văn hóa Hòn Tre, Khu du lịch sinh thái, sân gôn Vinpearl. Giao thông đối ngoại của phân khu chủ yếu thông qua 2 cảng du lịch tại Vũng Me và tuyến cáp treo Vinpearl.


Khu Đầm Bấy bao gồm khu vực du lịch thế giới biển (dự án hiện có) và Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy (dự án đế xuất). Đây sẽ là một khu làng du lịch sinh thái hoàn chỉnh với các khu nghỉ dưỡng, trung tâm văn hóa - thương mại và đặc biệt các khu dân cư du lịch sinh thái được phát triển từ các khu dân cư hiện có tại Đầm Bấy và Bích Đầm. Tiêu chuẩn tiện nghi của khu Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy ở mức thấp hơn so với quần thể các dự án du lịch cao cấp tại khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn, nhưng có nét đặc trưng riêng. Đó là hoạt động du lịch có sự tham gia tích cực của các hộ dân cư một cách có tổ chức dưới hình thức các khu dân cư du lịch sinh thái.


Mô hình quy hoạch đề xuất sẽ kiểm soát được sự phát triển tự phát của các khu dân cư, giữ gìn cảnh quan tự nhiên và đảm bảo vệ sinh môi trường; nâng cao đời sống cho cư dân bằng nguồn thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái; góp phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sông cho cư dân thông qua việc tham gia vào hoạt động du lịch một cách có tổ chức; tạo ra một mô hình du lịch mang sắc thái riêng, thân thiện với môi trường tự nhiên và xã hội hiện có.


Hòn Tằm (đảo Thủy Kim Sơn) là một đảo rộng hơn 110ha, cách thành phố Nha Trang 7km về phía Đông Nam. Tên gọi Hòn Tằm cũng mang ý nghĩa tượng hình do người dân chài thuở xa xưa đặt vì hòn đảo trông giống như một con tằm màu xanh lục, đầu hướng về phía Đông. Từ Hòn Tằm, có thể nhìn thấy cả thành phố Nha Trang về hướng Bắc và bán đảo Cam Ranh về phía Nam.


Cách đây 10 năm, Hòn Tằm là một hoang đảo, còn bây giờ nơi đây trở thành một khu du lịch sinh thái biển hấp dẫn. Dự án đầu tư khu du lịch đảo được xây dựng trên tổng diện tích hơn 10ha, diện tích khai thác mặt nước khoảng 57,5ha, với 2 khu liên hoàn là khu A và khu B. Hòn Tằm có các sân chơi: bóng đá, bóng chuyền trên bãi cát. Ngoài việc tham quan, tắm biến, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ, du khách còn có thể tham gia các loại hình giải trí hấp dẫn như leo núi, thám hiểm rừng, chèo thuyền, bơi thuyền buồm, câu cá, săn bắt dưới nước hoặc thể hiện lòng can đảm bằng các môn thể thao cảm giác mạnh như bay dù, lướt ván, mô tô nước... và đặc biệt khám phá thế giới dưới đáy đại dương bằng các tour lặn biển. Nằm về phía Tây Nam Hòn Tằm là bãi Thiên Nga rất hoang sơ với thảm cát óng mịn và những gộc đá. Nơi đây đang được đầu tư để xây dựng đường leo núi, đường đua xe đạp địa hình, nuôi một số loài chim, thú và tổ chức cho du khách săn bắn...
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:14:15 am »

* Xã đảo Long Sơn

Long Sơn ]à một xã đảo trực thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây là một xã đảo duy nhất trong cả nước trực thuộc thành phố. Về vị trí địa lý: phía Đông giáp sông Dinh, phía Nam giáp xã Tân Hải, huyện Tân Thành, phía Bắc và phía Tây giáp biển.


Long Sơn có diện tích 92km2, trong đó có đến 54km2 là đất liền, còn lại là đất ngập mặn. Xã được bao bọc bơi kênh rạch, sông biển. Xã đảo Long Sơn gồm 1 đảo chính nằm men theo triển của núi Nứa, đoạn cuối của dãy núi Phước Hoà đâm ra biển và nhiều đảo nhỏ. Xã gồm 11 thôn với tổng diện tích đất là 92km2, trong đó, diện tích đất đã được sử dụng tính đến năm 2003 là 57km2. Toàn xã có 13.558 nhân khẩu.


Long Sơn vốn nổi tiếng với di tích Nhà Lớn, nơi đã được công nhận là di tích văn hóa lịch sử vì những công trình kiến trúc cỗ và những phong tục tập quán xưa cũ khá độc đáo vẫn còn được người dân ở đây lưu giữ lại. Nhà Lớn Long Sơn, hay dân gian còn gọi là đền Ông Trần là một quần thể kiến trúc nghệ thuật theo lối cổ bề thế, uy nghi đã thu hút khá đông khách du lịch đến tham quan. Nhà Lớn còn là nơi tập trung sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của tín đồ tin theo đạo Ông Trần. Khu Nhà Lớn là một tập hợp quần thể kiến trúc khép kín với nhiều công trình như: dãy nhà phố, chợ, lâu đài, nhà máy đèn... Không chỉ nổi tiếng với những công trình kiến trúc, đạo Ông Trần còn nổi tiếng với những phong tục tập quán khá đặc sắc và mang biểu trưng của nhiều đạo giáo khác nhau: đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Nho, đạo thờ ông bà tổ tiên... Đặc biệt, tín ngưỡng đạo Ông Trần không có kinh kệ, chuông mõ, cũng không có ăn chay hay kiêng kị gì, chỉ có lời dạy của Ông Trần được truyền khẩu trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác.


Đạo Ông Trần có tục lệ tổ chức ma chay, cưới hỏi, lễ lạt đơn giản và tiết kiệm. Xưa kia, việc cưới xin cho người trong đảo thường được tổ chức vào ngày 30, mồng 1 và 15, 16 hàng tháng, không tính ngày giờ, không đặt ra những lễ nghi tục lệ phiền phức; khi tổ chức chỉ nấu xôi chè cúng ông bà, không cỗ bàn linh đình. Đám tang cũng đơn giản, người chết bó chiếu đặt trong một quan chung bằng tre, gỗ sơn đỏ và khiêng đi chôn ngay trong ngày, có kéo dài lắm cũng không quá 24 tiếng; không chôn theo hàng lối, không bia mộ nhân thân và xả tang ngay tại huyệt.


Bên cạnh di tích Nhà Lớn, hiện nay, xã đảo Long Sơn còn được nhiều du khách yêu thích ẩm thực biết đến với đặc sản hào. Trải dài hàng chục ki-lô-mét tuyến sông Dinh nằm bao quanh xã đảo là những bè hào nối tiếp nhau. Vài năm trở lại đây, cùng với con tôm, bãi muối thì nghề nuôi hào đang đem lại nguồn thu nhập khá lớn, góp phần làm thay đổi cuộc sống cho người dân xã đảo. Không những vậy, để phát huy thế mạnh của xã đảo, gần đây, nhiều khu du lịch đã được xây dựng nhằm khai thác những tiềm năng của xã đảo bằng hình thức kết hợp giữa du lịch sinh thái, ẩm thực với du lịch về nguồn. Khi kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân trên đảo ngày càng được cải thiện, các mặt y tế, giáo dục và sinh hoạt văn hoá cũng được nâng lên.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #28 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2022, 07:15:05 am »

* Côn Đảo

Côn Đảo là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Côn Đảo hay Côn Sơn là tên của hòn đảo lớn nhất trong quần đảo này. Sử Việt trước thế kỷ XX thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn. Tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp là Poulo Condor. Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Côn Đảo cũng là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai từ chữ "Pulau Kundur" nghĩa là "Hòn Bí". Người Âu châu phiên âm là "Poulo Condor", sử Việt thì gọi là "Đảo Côn Lôn" có thể cũng từ "Kundur" mà ra. Riêng tên tiêng Miên của đảo là "Koh Tralach".


Côn Đảo có kinh độ 106°36 Đông và vĩ độ 8°36 Bắc. Khu vực đảo Côn Đảo gồm 16 hòn đảo với tổng diện tích 76km2, bao gồm: Côn Đảo, Hòn Côn Lôn Nhỏ, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, Hòn Bông Lan, Hòn Vung, Hòn Ngọc, Hòn Trứng, Hòn Tài Lớn, Hòn Tài Nhỏ, Hòn Trác Lân, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Tre Lớn, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Anh, Hòn Em.


Côn Đảo nằm ở vị trí thuận lợi trên đường hàng hải nối liền Âu - Á, vì vậy Côn Đảo được người phương Tây biết đến rất sớm. Năm 1294, đoàn thuyền của nhà thám hiểm người Ý Marco Polo, gồm 14 chiếc trên đường từ Trung Hoa về nước bị một cơn bão nhấn chìm mất 8 chiếc, số còn lại đã dạt vào trú tại Côn Đảo. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI có rất nhiều đoàn du hành của châu Âu ghé qua thăm Côn Đảo. Cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, các nhà tư bản Anh, Pháp đã bắt đầu để ý đến các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt với dụng ý xâm chiếm Côn Đảo.


Năm 1702, năm thứ 12 đời chúa Nguyễn Phúc Chu, Công ty Đông An của Anh đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài và cột cờ. Sau 3 năm, ngày 3 tháng 2 năm 1705 xảy ra cuộc nổi dậy của người Mã Lai Macassar (lính đánh thuê của chính quyền Anh), đoàn quân Anh phải rời bỏ Côn Đảo. Ngày 28 tháng 11 năm 1783, Bá Đa Lộc trong chuyến đem hoàng tử Cảnh và vương ấn của chúa Nguyễn Ánh về Pháp, tự đứng ra đại diện cho Nguyễn Ánh để ký với Bá tước De Mantmarin, đại diện cho vua Louis XVI của Pháp, Hiệp ước Versailles. Đó là văn kiện đầu tiên của nhà Nguyễn nhượng cho Pháp chủ quyền cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn. Để đổi lại Pháp giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1.200 lính, 200 pháo thủ, 250 lính Phi để chống lại nhà Tây Sơn. Tương truyền, trong đợt thứ 3 bị Tây Sơn truy sát, Nguyễn Ánh đã trốn ra Côn Lôn, sống ẩn dật mấy tháng trời ở đây. Vì thế, hiện nay ở đảo Côn Sơn có một ngọn núi cao gọi là núi Chúa; đền thờ thứ phi của Nguyễn Ánh là Hoàng Phi Yến ở làng An Hải và miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải con của thứ phi Hoàng Phi Yến tại làng Cỏ Ống.


Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng chiếm đóng bán đảo Sơn Trà, chuẩn bị đánh Huế. Tháng 4 năm 1861, Pháp đánh chiếm Định Tường. Chính trong thời gian này, Pháp khẩn cấp đặt vấn đề chiếm đóng Côn Đảo vì sợ Anh chiếm mất vị trí chiến lược quan trọng này. 10 giờ sáng ngày 28 tháng 11 năm 1861, Bonard (thủy sư đô đốc Pháp) hạ lệnh xâm chiếm Côn Lôn. Trung úy Hải quân Pháp Lespès Sebastien Nicolas Joachim lập biên bản: "Tuyên cáo chủ quyền" của Pháp tại Côn Đảo. Ngày 14 tháng 1 năm 1862, chiếc tàu chở hàng (Nievre) chở một số nhân viên ra đảo, họ có nhiệm vụ tìm vị trí thuận lợi dựng trạm hải đăng Côn Đảo, nhằm chống chế nếu có nước nào phản kháng hành động tuyên bố chủ quyền. Ngày 1 tháng 2 năm 1862, Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo để giam giữ những tù phạm đặc biệt nguy hiểm như: tù phạm chính trị, tử tù..., nơi đây thời Pháp thuộc đã giam giữ những nhân vật cộng sản và những người ái quốc chống lại chính phủ thuộc địa. Địa điểm nổi tiếng nhất trong khu nhà tù này là "chuồng cọp".


Côn Lôn trước khi thuộc Pháp, thuộc tỉnh Hà Tiên, sau tỉnh Vĩnh Long quản lý. Ngày 16 tháng 5 năm 1882, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh công nhận quần đảo Côn Lôn là một quận của Nam Kỳ. Tháng 9 năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục chế độ nhà tù của Pháp và đổi tên quần đảo Côn Lôn thành hải đảo Côn Sơn. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập tỉnh Côn Sơn. Ngày 24 tháng 4 năm 1965, Việt Nam cộng hòa đổi tỉnh Côn Sơn thành cơ sở hành chính Côn Sơn, trực thuộc Bộ Nội vụ và chức tỉnh trưởng được đổi thành đặc phái viên hành chính. Sau Hiệp định Paris, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lại đổi tên quần đảo này một lần nữa là Phú Hải. Các trại tù đều được ghép thêm chữ Phú. Giai đoạn này số tù nhân lên đến 8.000 người. Với chế độ tàn bạo của nhà tù, khoảng 20.000 người Việt Nam đã chết và được chôn cất tại nghĩa trang Hàng Dương.


Ngày 1 tháng 5 năm 1975, Côn Đảo được giải phóng. Tháng 5 năm 1975, Côn Đảo được gọi là tỉnh Côn Đảo. Tháng 1 năm 1977, trở thành huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang. Tháng 5 năm 1979, trở thành quận Côn Đảo thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Tháng 10 năm 1991 đến nay là huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.


Hiện nay Côn Đảo là một huyện có chính quyền một cấp, thông qua các cơ quan chức năng huyện, trực tiếp đến địa bàn dân cư, không có các cấp phụ thuộc như xã, phường hay thị trấn. Dân số tính đến cuối năm 2003 là 4.466 người, thuộc 9 khu dân cư.


Tại Côn Đảo có nghĩa trang Hàng Dương là nơi chôn cất hàng vạn chiến sĩ cách mạng và người yêu nước Việt Nam qua nhiều thế hệ bị tù đày, kéo dài từ năm 1862 đến năm 1975, trong nhà tù Côn Đảo của chính quyền thuộc địa Pháp và sau này là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Họ đã chết dưới sự tàn bạo của cai ngục và hoàn cảnh sống khác nghiệt tại nhà tù. Hiện nay, nghĩa trang Hàng Dương đã được đầu tư tôn tạo trên diện tích khoảng 20ha, và được chia làm 4 khu:


Khu A: Gồm 688 ngôi mộ (có 7 mộ tập thể), trong đó 86 mộ có tên và 602 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1945 trở về trước. Nơi đây có mộ của liệt sĩ cách mạng Lê Hồng Phong và nhà yêu nước Nguyễn An Ninh.


Khu B: Gồm 695 ngôi mộ (có 17 mộ tập thể), trong đó 275 mộ có tên và 420 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1945 đến năm 1960. Nơi đây có mộ của nữ anh hùng Võ Thị Sáu và anh hùng Cao Văn Ngọc.


Khu C: Gồm 372 ngôi mộ (có 1 mộ tập thể), trong đó 329 mộ có tên và 43 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1960 đến năm 1975. Nơi đây có mộ của anh hùng Lê Văn Việt.

Khu D: Gồm 148 ngôi mộ, trong đó 11 mộ có tên và 137 mộ khuyết danh. Đặc biệt mộ khu D được quy tập các mộ từ Hòn Cau và Hàng Keo về.

Hiện nay, Côn Đảo là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam, được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên (rừng và biển).
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 229


« Trả lời #29 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2022, 06:46:03 am »

* Đảo Phú Quốc

Đảo Phú Quốc hay còn gọi là Đảo Ngọc, là đảo lớn nhất của Việt Nam. Tên gọi Phú Quốc do ngươi Hoa đến đây lập nghiệp đặt, có nghĩa là "vùng đất giàu có". Đảo nằm trong vịnh Thái Lap, phía Tây Nam nước ta, trải dài từ vĩ độ: 9°53' đến 10°28' độ vĩ Bắc và kinh độ: 103°49' đến 104°05' độ kinh Đông. Mũi Đông Bắc của đảo cách quốc gia láng giềng Campuchia 4 hải lý. Đảo cách thành phố Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang khoảng 62 hải lý về phía Đông và cách thị xã Hà Tiên khoảng 25 hải lý.


Đảo Phú Quốc có hình tam giác, cạnh đáy nằm ở hướng Bắc, nhỏ dần lại ở phía Nam. Nếu tính đường chim bay theo hướng Bắc - Nam thì chiều dài lớn nhất của đảo là 49km. Nơi rộng nhất trên đảo theo hướng Đông - Tây nằm ở khu vực Bắc đảo với chiều dài là 27km. Chu vi của đảo Phú Quốc tổng cộng khoảng 130km. Tổng diện tích của Phú Quốc là 56.500ha. Có người ví hình dáng đảo giống như một con cá đang bơi, đầu hướng về phương Bắc.


Vùng đảo Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc lớn nhất và cao nhất (đỉnh núi Chúa là điểm cao nhất tới 603m). Địa hình thiên nhiên đảo Phú Quốc thoai thoải chạy từ Nam đến Bắc với 99 ngọn núi đồi. Phần các vùng biển quanh đảo nông có độ sâu chưa đến 10m. Tuy nhiên, cụm đảo nhỏ của cảng An Thới bị ngăn cách hẳn với phần mũi phía Nam của đảo Phú Quốc bởi một eo biển có độ sâu tới hơn 60m. Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác tạo thành huyện đảo Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Đảo gồm 8 xã và 2 thị trấn, trong đó thị trấn Dương Đông ở phía Tây Bắc của đảo là thủ phủ của huyện đảo.


Phú Quốc có nhiều nghề truyền thống của cư dân nhưng nổi tiếng nhất là nghề sản xuất nước mắm và nghề trồng hồ tiêu. Nước mắm Phú Quốc và hồ tiêu Phú Quốc là hai mặt hàng nổi tiếng thế giới lâu nay. Ngoài hai nghề này, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Phú Quốc là khai thác hải sản và dịch vụ du lịch.


Đảo Phú Quốc nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào vùng vịnh Thái Lan, xung quanh biển bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm sau. Mùa khô: Đảo Phú Quốc chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 4m/s. Khi gió đông bắc mạnh, tốc độ đạt từ 20 đến 24m/s. Mùa khô có độ ẩm trung bình 78%. Nhiệt độ cao nhất 35°C vào tháng 4 và tháng 5. Mùa mưa: Đảo Phú Quốc là cửa ngõ đón gió mùa tây - tây nam, tốc độ gió trung bình 4,5m/s. Mùa mưa mây nhiều, độ ẩm cao, từ 85 đến 90%. Lượng mưa trung bình là 414mm/tháng. (Cả năm trung bình là 3.000mm). Trong khu vực Bắc đảo có thể đạt 4.000mm/năm; có tháng mưa kéo dài 20 ngày liên tục.


Như vậy, về điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu trên đảo Phú Quốc thuộc loại nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều,...), tuy nhiên do nằm trong vùng vị trí đặc biệt của vịnh Thái Lan nên ít bị thiên tai. Chính vì điều kiện khí hậu như vậy nên Phú Quốc có được một nguồn tài nguyên vô giá là rừng nhiệt đới, trong đó có rất nhiều giống, loài đặc hữu. Đây là vốn quý nhất để phát triển du lịch sinh thái trên hòn đảo này. Bên cạnh rừng, vì bản thân Phú Quốc là một hòn đảo và là đảo lớn, cho nên những nguồn tài nguyên khác như: tài nguyên biển, tài nguyên đất, tài nguyên nước,... ở đây có tiềm năng lớn để khai thác phát triển kinh tế.


Lịch sử của đảo được bắt đầu từ năm 1671, khi một người Hoa có tên là Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình cùng binh sĩ và một số sĩ phu (khoảng 400 người) lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, đoàn thuyền Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn. Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur, Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681.


Năm 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.


Ngoài ra ông còn lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Trai). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán, tức người Khmer), sau đổi thành Căn Khẩu (Càn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Trai cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có).


Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc được với Quốc Chùa Nguyễn Phúc Chu. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức Tổng binh cai trị đất Căn Khẩu. Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh. Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan.


Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên. Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu). Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị. Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông - Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam), nói chung là toàn bộ vùng biển ven duyên quanh đảo Phú Quốc, Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ vương sáp nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.


Trước năm 1975, dân số trên đảo chỉ hơn 5.000 người. Sau năm 1975, dân số trên đảo tăng lên nhanh chóng do hiện tượng di dân. Đến năm 2003, theo thống kê của tỉnh Kiên Giang, dân cư sinh sống trên đảo đã lên đến trên 79.800 người, với mật độ trung bình là 135 người/km2, thấp hơn mật độ trung bình của cả nước 253 người/km2.


Phú Quốc được xem là nơi phát tích của đạo Cao Đài. Ngày nay trên đảo có một thánh thất Cao Đài ở thị trấn Dương Đông. Trên đảo có duy nhất một nhà thờ đạo Thiên chúa ở thị trấn An Thới, đó cũng là nơi trước đây tập trung dân di cư từ miền Bắc vào năm 1954. Ở đảo Phú Quốc, vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, người dân thường đi chùa tại thị trấn Dương Đông. Vào ngày này, sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá nhộn nhịp.


Phú Quốc được xác định là một khu du lịch quốc gia Việt Nam. Tại đây có nhiều thắng cảnh đẹp như: Bãi biển Phú Quốc, thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang vừa được hãng tin ABC News bình chọn đứng đầu trong số 5 bãi biển đẹp và sạch, nhưng còn ít người biết tới trên thế giới. Đứng đầu trong danh sách các "bãi biển tiềm ẩn" chính là Bãi Dài của đảo Phú Quốc. Bãi biển này được xem là "tuyệt vời" nhất trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm.


Ở Phú Quốc có khu di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc (nhà lao Cây Dừa). Trước kia nơi đây là một trong những trại giam lớn của chính quyền Việt Nam cộng hòa để giam giữ tù chính trị, bộ đội giải phóng và nhân dân trong chiến tranh.


Cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân của Trung Hoa Quốc dân đảng thua trận trước Quân giải phóng Trung Quốc, rút chạy dạt sang Việt Nam. Lực lượng nay có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra đóng tại phía Nam đảo Phú Quốc một thời gian trước khi quay về Đài Loan theo Tưởng Giới Thạch.


Tận dụng nhà cửa có sẵn của trại lính Quốc dân đảng, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40ha, gọi là "Căng Cây Dừa" (trại Cây Dừa). Trại gồm 4 khu nhà giam A, B, C, D. Các tù binh cộng sản bị Pháp bắt từ các chiến trường Trung, Nam, Bắc Việt Nam bị tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc. Số tù binh này gồm khoảng 14.000 người, đa số từ nhà tù Đoạn Xá (Hải Phòng). Cũng như các nhà tù khác trong chiến tranh Đông Dương, tù nhân cộng sản tại trại Cây Dừa sinh hoạt đấu tranh chống khủng bố, đàn áp và tổ chức vượt ngục. Sau hơn 1 năm ở trại, có 99 tù nhân bị chết, 200 người vượt ngục. Tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ, Pháp trao trả cho phía Việt Nam dân chủ cộng hòa hầu hết tù binh ở trại này.


Cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một trại giam ở địa điểm Căng Cây Dừa cũ, với diện tích rộng 4ha, đặt tên là trại huấn chính Cây Dừa, còn gọi là nhà lao Cây Dừa. Trại tù có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão. Ngày 5 tháng 1 năm 1956, 598 người tù từ trại Trung tâm huấn chính Biên Hòa được đưa đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống tàu vận tải Hắc Giang của hải quân chở từ Sài Gòn về đến Phú Quốc, về sau còn có thêm một số tù chính trị thuộc diện "Việt Cộng" hoặc "thân Cộng" cũng được đưa đến trại huấn chính Cây Dừa.


Trong 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1956, có khoảng 100 tù nhân vượt ngục, trong đó có một số người bị bắn chết khi vượt rào. Các ông Phạm Văn Khỏe (em ruột của ông Phạm Hùng) và Mai Thanh (Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy Rạch Giá) cũng vượt ngục trong thời gian này. Thấy tình hình bất ổn, năm 1957, chính quyền Sài Gòn đưa số tù chính trị ở "Trại huấn chính Cây Dừa" về đất liến và đày một số ra nhà tù Côn Đảo.


Đến năm 1966, một trại giam rộng hơn 400ha được xây dựng ở thung lũng An Thới đảo Phú Quốc, cách "Căng Cây Dừa" cũ 2km. Trại giam gồm 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu A, B, C, D, với trên 400 nhà giam, được gọi là trại giam tù binh cộng sản Việt Nam/Phú Quốc, thường được gọi là trại giam tù binh Phú Quốc.


Trong chiến tranh Việt Nam, tù binh chiến tranh ở trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống... Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6-1967 đến tháng 3-1973), trại giam tù binh Phú Quốc có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.


Năm 1995, Khu di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích cấp quốc gia. Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc gồm có tượng đài hình nắm tay, là biểu tượng của sự đàn áp khốc liệt và tinh thần hiên ngang vùng lên phá xiềng của tù binh Phú Quốc, nghĩa trang liệt sĩ và khu trại giam tù binh Phú Quốc được phục dựng.


Phú Quốc có vườn quốc gia được thành lập theo Quyêt định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 8 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn quốc gia Phú Quốc bao gồm địa phận khu bảo tồn thiên nhiên Bắc đảo, khu vực núi Hàm Rồng, Gành Dầu và Cửa Cạn. Vườn có ranh giới hành chính thuộc các xã: Gành Dầu, Bãi Thơm, Cửa Cạn và một phần các xã cửa Dương, Hàm Ninh, Dương Tơ và thị trấn Dương Đông thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.


Vườn quốc gia Phú Quốc trải dài từ 10°12' đến 10°27' vĩ Bắc và từ 103°50' đến 104°04' kinh Đông. Tổng diện tích 31.422ha, bao gồm: khu bảo vệ nghiêm ngặt 8.603ha, phân khu phục hồi sinh thái 22.603ha, phân khu hành chính và dịch vụ 33ha.


Vườn quốc gia Phú Quốc có chức năng bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo, nguồn gen động thực vật rừng quý hiếm và có giá trị, các sinh cảnh rừng tự nhiên độc đáo của rừng trên đảo; duy trì và phát triển độ che phủ của thảm thực vật rừng để đảm bảo chức năng phòng hộ rừng đầu nguồn, cung cấp nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt của nhân dân, phát triển bền vững kinh tế, xã hội của huyện đảo Phú Quốc; góp phần củng cố an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh cho tuyến phòng thủ Tây Nam Việt Nam.


Vườn quốc gia Phú Quốc đã thu hút nhiều khách du lịch nhờ cảnh đẹp thiên nhiên và những bãi biển hoang sơ, hơn nữa Phú Quốc rất có tiềm năng về du lịch sinh thái được chính quyền cho là một chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế một cách bền vững, giảm thiểu những tác động của du lịch với môi trường tự nhiên.


Ngày nay, huyện đảo Phú Quốc đang được đầu tư phát triển theo hướng dịch vụ và du lịch biển; hệ thống đường giao thông trên đảo đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt là các tuyến vận chuyển hành khách từ đất liền ra đảo bằng cả đường hàng không lẫn hàng hải nên thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM