Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Chín, 2022, 03:30:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Góp phần chống diễn biến hòa bình trong lĩnh vực Quân sự Quốc phòng  (Đọc 627 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 01:52:31 pm »

TRUNG VỚI ĐẢNG, HIẾU VỚI DÂN - SỰ THỐNG NHẤT TRONG BẢN CHẤT, TRUYỀN THỐNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


Tướng Xalăng, trong cuốn sách Đông Dương đỏ, xuất bản tại Pari năm 1975, nói về Quân đội nhân dân Việt Nam, đã viết: "Quân đội của họ, gồm những người được tuyển mộ trong lớp thanh niên hăng hái - trước kia toàn là người tình nguyện - được nước Pháp dâng cho Điện Biên Phủ bằng cả hai tay, nay lại được nước Mỹ biếu không Sài Gòn và một số lượng dụng cụ chiến tranh khổng lồ đáng giá nhiều tỷ đô la, đã trở thành bộ máy chiến tranh không gì sánh kịp....


Họ là những người mà sĩ quan Pháp vẫn coi là đối thủ đáng kính trọng. Người Mỹ từng coi thường họ và hiển nhiên họ đã đánh bại người Mỹ, tuy sức mạnh về số lượng và kỹ thuật vượt hơn họ nhiều lần. Họ là cái bảo đảm cho cả một Đông Dương đỏ"1 (Điện Biên Phủ, nhìn từ phía bên kia, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.176).


Phẩm chất quan trọng hàng đầu của quân đội ta, cội nguồn sức mạnh của "bộ máy chiến tranh không gì sánh kịp" ấy là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sự hy sinh chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam của quân đội ta. Hơn bảy thập kỷ xây dựng, trưởng thành và chiến thắng, Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là một quân đội anh hùng, đã thể hiện đầy đủ và xuất sắc phẩm chất trung - hiếu đối với Đảng, với nhân dân, được Đảng và nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.


Quân đội là một tổ chức vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định; trung thành với giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó là phẩm chất cơ bản, yêu cầu cốt tử đối với mọi quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, giáo dục và rèn luyện, là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vấn đề tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân là phẩm chất quan trọng hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh và tuyên dương: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.435).


Phẩm chất trung với Đảng, hiếu với dân luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập song hành gắn với việc thực hiện mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội. Hai phẩm chất này quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau trong bản chất và truyền thống của quân đội ta, không thể tách ra một cách biệt lập, càng không hề mâu thuẫn nhau như sự bịa đặt và cố tình xuyên tạc của các thế lực chống đối, thù địch. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ, lòng trung thành với Đảng của quân đội ta còn được biểu hiện ở sự hiếu với dân; hiếu với dân còn biểu hiện ở sự trung thành tuyệt đối với Đảng.


Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, trung với Đảng là phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó, là phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Trung với Đảng bao hàm cả việc tuyệt đối trung thành với quốc gia, dân tộc, với Tổ quốc và nhân dân. Phạm trù "trung với Đảng" có nội hàm rộng lớn hơn nhiều và khác hẳn về bản chất so với phạm trù "trung quân" - trung với vua, với dòng họ đương quyền (tuy có gắn với "ái quốc"), một giá trị trong xã hội phong kiến. Còn quân đội do giai cấp tư sản tổ chức, xây dựng thì sự trung thành của quân đội ấy là thực hiện đường lối đối nội, đối ngoại phản động của nhà nước tư sản, đường lối chống lại nhân dân lao động trong nước và thực hiện xâm lược, nô dịch các quốc gia, dân tộc khác.


Những quan điểm cho rằng, "quân đội đứng ngoài chính trị", "quân đội phi giai cấp"; rằng, "quân đội chỉ là công cụ bạo lực của nhà nước, không cần sự lãnh đạo của Đảng" chỉ là những thủ đoạn dối lừa, thực chất là nhằm "phi chính trị hoá" quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu, vô hiệu hóa công cụ bạo lực sắc bén này, làm cơ sở tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu của quân đội Liên Xô (cũ), một nguyên nhân dẫn đến chế độ xã hội chủ nghĩa ở đó sụp đổ là ví dụ sinh động còn nóng hổi tính thời sự minh chứng cho âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội các nước xã hội chủ nghĩa của các thế lực phản động. Vì vậy, trong khi khẳng định phẩm chất quan trọng hàng đầu của quân đội ta là trung với Đảng, thì đồng thời phải tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta của các thế lực thù địch.


Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, một quân đội của dân, do dân, vì dân, hiếu với dân là một phẩm chất quan trọng hàng đầu. Trong lịch sử nhân loại, hiếm có một quân đội nào trên thế giới lại có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhân dân như Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ trong bản chất, mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân là mối quan hệ thống nhất và bền chặt. Nguồn sức mạnh vô địch của Quân đội nhân dân Việt Nam là từ nhân dân, dựa trên nền tảng sức mạnh tổng hợp quốc gia, sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.435), nhân dân là "nền tảng", là "cha mẹ" của bộ đội. "Quân với dân như cá với nước" là cách thể hiện rất độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Phẩm chất hiếu với dân của quân đội phản ánh thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu, công tác của quân đội, được quy định bởi sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng của nhân dân và quân đội. Bao trùm nhất của lòng hiếu với dân của quân đội ta là "vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ", vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó vừa là mục tiêu chiến đấu, vừa là phương châm hành động của tất cả cán bộ, chiến sĩ quân đội trong mọi giai đoạn cách mạng; ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, quân đội ta không có mục đích tự thân nào khác.


Chỉ có quân đội cách mạng mới có thể có đầy đủ nguồn sức mạnh từ nhân dân, nguồn sức mạnh vô tận, không bao giờ cạn kiệt, bảo đảm sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội, thể hiện ưu thế hơn hẳn so với quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Chính vì vậy, tăng cường mối quan hệ quân - dân luôn luôn là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tất cả các giai đoạn cách mạng; đồng thời đó còn là đòi hỏi của việc không ngừng củng cố, bồi đắp phẩm chất hiếu với dân của quân đội. Hiếu với dân không chỉ biểu hiện ở những thành tích huy hoàng của quân đội trong chiến đấu chống kẻ thù của đất nước, của nhân dân, mà còn biểu hiện ở tình cảm "thương yêu dân", "kính trọng dân", ở hành động giúp đỡ dân, bảo vệ dân, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân, luôn giữ nghiêm kỷ luật trong quan hệ với dần, không đụng đến "cái kim, sợi chỉ" của nhân dân... được nhân dân yêu mến, tin tưởng, "đi dân nhớ, ở dân thương". Nội hàm và ý nghĩa khái niệm "hiếu với dân" của quân đội ta là rất rộng lớn và sâu sắc, chỉ có thể có được ở quân đội cách mạng, quân đội của dân, do dân, vì dân.


Trung với Đảng, hiếu với dân không phải dừng lại ở phạm vi thái độ, tình cảm, mà điều quan trọng là phải thể hiện ở hành động cách mạng cụ thể, ở sự sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không hoàn thành tốt nhiệm vụ, sợ hy sinh, ngại khó khăn gian khổ, không vượt qua được những thử thách khắc nghiệt trong chiến tranh cũng như trong thời bình, những cám dỗ của đời thường, mà sao nhãng tay súng, mất cảnh giác hoặc vi phạm kỷ luật... thì chưa thể nói số cán bộ, chiến sĩ ấy đã tận trung với Đảng, tận hiếu với dân. Rõ ràng là, sự trung - hiếu của quân đội đối với Đảng và nhân dân không phải chỉ là ở sự trung - hiếu của một tổ chức thuộc lực lượng vũ trang, mà sự trung - hiếu ấy phải thấm vào trong từng trái tim, khối óc, trong tình cảm cách mạng của mọi quân nhân, ở sự giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, ở hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Để quân đội hoàn thành phận sự trung với Đảng, hiếu với dân, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải xây dựng quân đội "thực sự là quân đội cách mạng", "quân đội vô địch", như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giáo huấn. Một quân đội dù có trung thành bao nhiêu, nhưng nó sẽ lập tức bị tiêu diệt nếu không được trang bị đầy đủ và huấn luyện chu đáo, lời cảnh báo đó của V.I.Lênin càng có ý nghĩa đặc biệt âối với việc xây dựng quân đội ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.


Vì thế, trong khi nhấn mạnh phẩm chất trung với Đảng, hiếu với dân của quân đội, thì đồng thời phải xây dựng quân đội thực sự vững mạnh, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Mối quan hệ này cần được quán triệt sâu sắc và thực hiện một cách khoa học trong suốt quá trình xây dựng quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.37), phải "săn sóc", chăm lo đời sống vật chất - tinh thần cho bộ đội.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 01:54:02 pm »

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh thế giới và trong nước có những biến động to lớn và sâu sắc. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa kinh tế; những diễn biến phức tạp, khó lường của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, của tình hình chính trị, quân sự trên thế giới; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta; sự phát triển mới của tình hình kinh tế - xã hội đất nước... làm cho nội dung, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta có bước phát triển mới. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là "bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.81-82).


Nội dung, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đã đặt ra nhiều vấn đề rất mới đối với việc xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nói chung, củng cố, bồi dưỡng phẩm chất trung với Đảng, hiếu với dân của quân đội nói riêng. Trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng quân đội ta có đủ sức mạnh, đáp ứng mọi yêu cầu của phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cả vũ trang và phi vũ trang, vừa có khả năng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh; vừa phải sẵn sàng chiến thắng địch trong điều kiện chiến tranh, cả chiến tranh thông thường và chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. Đây là yêu cầu bức thiết, là nội dung cụ thể của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta, và còn là sự biểu hiện tập trung lòng trung - hiếu của quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân trong giai đoạn cách mạng mới.


Theo đó, vấn đề quan trọng trước hết là cần tập trung mọi nỗ lực nhằm củng cố, giữ gìn và phát huy hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", tăng cường tình đoàn kết quân - dân.

Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề giữ vững và phát huy phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", đặc biệt là phẩm chất trung với Đảng, hiếu với dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong chiến tranh ác liệt, gian khổ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của quân đội ta đã tạo được hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" hết sức tốt đẹp trong lòng nhân dân; làm cho mối quan hệ quân dân gắn bó, tạo nên sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù. Trong lao động hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những tác động nhiều mặt của tình hình thế giới, trong nước, từ mặt trái của kinh tế thị trường đã đặt ra những vấn đề rất mới đối với việc phát huy hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", tăng cường tình đoàn kết quân dân.


Thực tế trong quá trình xây dựng và trưởng thành của quân đội, có không ít trường hợp mà hành động của một số cán bộ, chiến sĩ đã làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân. Hình ảnh tốt đẹp của quân đội trong con mắt nhân dân bao giờ cũng thông qua những việc làm và hành động cụ thể của mọi quân nhân, từ vị chỉ huy cao nhất của quân đội cho đến người lính.


Trong giai đoạn hiện nay, mỗi quân nhân đều phải thực sự là người tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân bằng chính việc làm của mình, phải ra sức giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đi đến đâu đều phải được dân yêu mến, tin tưởng; trong quan hệ với nhân dân, không được đụng đến "cái kim, sợi chỉ" của dân, càng tuyệt đối không làm điều gì phương hại đến lợi ích của nhân dân, củng cố mối quan hệ với nhân dân, trước hết và trực tiếp là với nhân dân ở địa phương nơi đơn vị đóng quân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội không những phải tích cực tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng mà còn phải tham gia tích cực và có hiệu quả trong các nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị - xã hội ở các địa bàn, nhất là trên các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tham gia xóa đói, giảm nghèo; phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và phòng chống các tệ nạn xã hội... Trong thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào và ở đâu, cán bộ, chiến sĩ quân đội đều phải ra sức phát huy truyền thông tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", "vì nhân dân quên mình", thật sự là người chiến sĩ của quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.


Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội luôn là nhân tố quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng quân đội ta nói chung, xây dựng quân đội ta về chính trị nói riêng. Đảm bảo cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; đồng thời có đủ sức mạnh để làm tròn phận sự trung thành của mình là yêu cầu cơ bản, cốt lõi của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tất cả các giai đoạn cách mạng. Có giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thì mới có thể xây dựng quân đội thực sự vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Đồng thời, chính sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị, yêu cầu bồi dưỡng phẩm chất trung thành của quân đội đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa chủ thể lãnh đạo và đối tượng lãnh đạo trong quá trình xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cần phải được nhận thức đầy đủ và đúng đắn.


Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, để Đảng có thể nắm chắc quân đội trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, đòi hỏi Đảng phải tự nâng mình lên ngang tầm với nhiệm vụ; đồng thời phải có nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp. Điều có ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là phải chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo toàn quân; xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên cả về phẩm chất, năng lực và tác phong công tác theo tinh thần Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị về "tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng; thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam"; tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội thực sự là "hạt nhân", là "nòng cốt" trong xây dựng quân đội.


Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đặt ra một cách gắt gao phải xây dựng quân đội ta thực sự vững mạnh, có sức chiến đấu cao, đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để quân đội thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Quân đội càng tiến lên chính quy, hiện đại, nhiệm vụ càng nặng nề thì càng cần phải giữ vững và phát huy phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, xứng đáng là một hình ảnh cao đẹp, một biểu tượng giá trị của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #32 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 01:55:38 pm »

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG - LÝ LUẬN VỚI VẤN ĐỂ
XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỀ CHÍNH TRỊ


Trong xây dựng quân đội "Phải lấy chính trị làm gốc"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.398). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định như vậy. Hiện nay, chúng ta cũng nói khá nhiều đến xây dựng quân đội về chính trị, làm cơ sở để xây dựng quân đội ta trên các mặt khác. Tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề đòi hỏi phải thực hiện tổng hợp các giải pháp đồng bộ, thống nhất và toàn diện, có căn cứ khoa học vững chắc trên tất cả các mặt công tác trong quân đội.


Tuy nhiên, công tác tư tưởng, lý luận trong thời gian qua còn có những bất cập, còn chưa thể hiện tốt vai trò quan trọng của mình đối với vấn đề "gốc" và "cơ sở" này của quá trình xây dựng quân đội. Mặt yếu kém, bất cập của công tác tư tưởng là còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao, phương pháp chưa linh hoạt, chưa tạo được sự thống nhất cao và thông suốt đối với một số vấn đề trong đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu của cách mạng.


Công tác tư tưởng và công tác lý luận có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau trong cùng một mặt trận: mặt trận tư tưởng, lý luận, trong cùng một công tác chung: công tác tư tưởng, lý luận. Công tác tư tưởng sẽ kém hiệu quả, tính chiến đấu sẽ không cao, nếu như những nội dung mà công tác này truyền tải đến con người khống được luận giải một cách thuyết phục, có cơ sở khoa học. Công tác lý luận sẽ kém giá trị, thậm chí có hại nếu như nó không rõ phương hướng tư tưởng. Công tác lý luận trong bất kỳ trưòng hợp nào đều là sự phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và là một lĩnh vực của cuộc đấu tranh ấy. Sự gắn kết giữa tư tưởng và lý luận trong cùng một công tác, một mặt trận là sự gắn kết hai mặt của một vấn đề trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc.


Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong điều kiện mới đặt ra một loạt vấn đề mới về lý luận và thực tiễn: Những nhân tố nào chi phối và quyết định đến quá trình xây dựng quân đội về chính trị? Xây dựng quân đội về chính trị là xây dựng cái gì, với những nội dung nào? Phương hướng, yêu cầu, nguyên tắc và những giải pháp cơ bản nào để nâng cao hơn nữa chất lượng xây dựng quân đội về chính trị?... Đó là những vấn đề hết sức cơ bản, mà công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội trong tình hình mới phải giải đáp.


Một là, công tác tư tưởng, lý luận góp phần tích cực xây dựng quân đội thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước.

Xây dựng quân đội, đáp ứng mọi yêu cầu của phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cả vũ trang và phi vũ trang trong tình hình mới là đòi hỏi bức thiết của tình hình. Nói đến quân đội là nói đến công cụ bạo lực, là nói đến một lực lượng vũ trang. Do đó, chức năng chiến đấu với phương thức vũ trang là nổi trội và cơ bản đối với bất cứ quân đội nào. Quân đội ta cũng vậy, chức năng chủ yếu của nó là chiến đấu, nhiệm vụ chủ yếu của nó là đánh thắng. Trước bối cảnh mới, nhất là với sự xuất hiện của loại hình chiến tranh mới, chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao, mà kẻ phát động chiến tranh lại có ưu thế vượt trội về kinh tế, khoa học, quân sự và đặc biệt về vũ khí công nghệ cao... thì nhiệm vụ đánh thắng của quân đội ta càng trở nên nặng nề hơn.


Đây là vấn đề rất mối, đặt ra rất gay gắt đối với việc xây dựng quân đội nói chung, xây dựng quân đội về chính trị nói riêng. "Chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.218) và đánh thắng. Tình hình đó đặt ra cho công tác tư tưởng, lý luận nhiệm vụ hết sức nặng nể. Nó không chỉ làm rõ những nội dung, yêu cầu và biện pháp xây dựng quân đội đáp ứng với tình hình trên, mà điều quan trọng là phải xây dựng, tăng cường nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội ta. Xây dựng chính trị - tinh thần của quân đội, làm cho chính trị - tinh thần thực sự là nhân tố quyết định thắng lợi của quân đội ta trong chiến tranh, kể cả trong chiến tranh kiểu mới có sử dụng vũ khí công nghệ cao, phải là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiện nay.


Gắn kết với nhiệm vụ trên, xây dựng quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh nhuệ về chính trị..., thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng là vấn đề bức thiết đặt ra đối với công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội.


Quân đội là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Trong lịch sử xây dựng và trưởng thành của mình, quân đội ta đã từng thể hiện như vậy. Cái mới hiện nay là ở nội dung và yêu cầu cụ thể đối với lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong điều kiện mới. Lực lượng chính trị tin cậy không chỉ là trung thành, mà còn phải thực sự tinh nhuệ về chính trị, là một lực lượng chiến đấu của Đảng trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Công tác tư tưởng, lý luận phải đi tiên phong và đóng vai trò nòng cốt của quân đội trong cuộc đấu tranh ấy; đồng thời chủ động xây dựng, làm cho quân đội biết chiến thắng kẻ thù trong điều kiện tác chiến phi vũ trang, trong đấu tranh chính trị - tư tưởng.


Sự phân tích trên vừa cho thấy vai trò quan trọng, nhiệm vụ nặng nề của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; đồng thời chỉ rõ tính cấp thiết nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận, đặng có thể đưa ra những giải đáp thỏa đáng, có sức thuyết phục đối với vấn đề xây dựng quân đội về chính trị. Luận chứng những nội dung, làm rõ những yêu cầu và biện pháp... của việc xây dựng quân đội về chính trị có căn cứ khoa học vững chắc cả về lý luận và thực tiễn không chỉ là đòi hỏi bức thiết của tình hình, mà còn là điều kiện căn bản, bảo đảm tính hiệu quả và sức sống của chính công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới.


Hai là, tích cực, chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái và âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch.

Chống các quan điểm sai trái và âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội là một yêu cầu quan trọng trong quá trình xây dựng quân đội ta về chính trị. Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua, công tác tư tưởng, lý luận chưa phê phán mạnh và đấu tranh kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, những quan điểm mơ hồ, sai trái, còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Trong bối cảnh mới của sự mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, vấn đề đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trở nên hết sức phức tạp.


Tính phức tạp của vấn đề không chỉ phản ánh ở những nội dung, tư tưởng của các quan điểm đó, mà còn thể hiện ở thái độ trong chính chúng ta đối với cuộc đấu tranh. Không phải không có tư tưởng e ngại rằng, nếu quá kiên quyết đấu tranh sẽ gây ra "những bất lợi" cho quá trình hợp tác kinh tế của nước ta với nước ngoài. Sự e ngại này không phải là không có cơ sở. Nhưng để cho sự e ngại này phát triển đi đến thiếu kiên quyết đấu tranh, không dám "phê phán mạnh" thì lại là một sai lầm hữu khuynh. Chúng ta cũng không rơi vào "tả khuynh", vì điều đó cũng không có lợi cho sự nghiệp cách mạng. Nhưng chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch phải là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận hiện nay như Đảng ta đã khẳng định trong nhiều nghị quyết, đặc biệt là trong Nghị quyết Đại hội XI.


Trên mặt trận tư tưởng, lý luận, các thế lực thù địch coi việc chống phá quân đội ta về chính trị là một hướng tiến công quan trọng. Chúng ta đã rõ, "phi chính trị hóa" quân đội, thực chất là phá chính trị của quân đội ta, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm cho quân đội ta trở nên "vô hồn", xa ròi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lái chính trị của quân đội ta theo hướng chính trị khác, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tính nguy hiểm của âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội đã rõ. Tính nguy hiểm ấy còn thể hiện ở chỗ, nó hằng ngày, hằng giờ thẩm thấu vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ quân đội, làm cho ta không dễ dàng nhận biết đâu là âm mưu của chúng, đâu là những thiếu sót, khuyết điểm của chúng ta. Hơn nữa, âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội lại được ngụy trang hết sức tinh vi dưới cái vỏ có vẻ "khách quan": nào là, quân đội chỉ cần đặt dưới sự quản lý, điều hành của Nhà nước, không cần sự lãnh đạo của Đảng nữa, vì đó là yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền!?; nào là, quân đội chỉ là của quốc gia, không thuộc về giai cấp, đảng phái nào!?, v.v...


Tình hình đó có thể dẫn đến sự ngộ nhận, mơ hồ về mục đích thực sự của âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội; hoặc chí ít cũng làm mất cảnh giác đối với âm mưu này. Rõ ràng, đấu tranh chống âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta của các thế lực thù địch thực sự là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp của công tác tư tưởng, lý luận hiện nay.


Không vạch rõ được tính chất phản động về chính trị và tính chất phản khoa học của các quan điểm ấy, thì cuộc đấu tranh chống âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta của các thế lực thù địch không thể đạt kết quả mong muốn, ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng quân đội về chính trị. Thậm chí, nếu chỉ hô hào chung chung, thì vô hình trung, sự hô hào ấy có thể trở thành sự "tuyên truyền không công" cho âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch. Vì vậy, nâng cao tính đảng, tính chiến đấu, tính khoa học; nâng cao sự nhạy bén và sắc sảo trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội là yêu cầu đặc biệt quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận đối với vấn đề xây dựng quân đội ta về chính trị trong giai đoạn hiện nay.


Biện chứng của quá trình xây dựng quân đội ta về chính trị đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống". Phải trên cơ sở kết hợp "xây" và "chống", trong đó lấy "xây" làm chính, cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, tạo môi trường, nếp sống, lối sống lành mạnh có văn hóa; lấy cái tích cực, cái tốt đẩy lùi cái tiêu cực cái xấu. Vì vậy, công tác tư tưởng, lý luận chẳng những phải luận giải một cách thuyết phục những vấn đề về "xây" trong quá trình xây dựng quân đội về chính trị; mà còn đấu tranh một cách sắc bén, có hiệu quả trong vấn đề "chống" những gì cản trở, phương hại và phá hoại đến quá trình đó, nhất là âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 01:57:57 pm »

CHÍNH ỦY, CHÍNH TRỊ VIÊN VỚI VIỆC
NÂNG CAO GIÁC NGỘ MỤC TIÊU, LÝ TƯỞNG CHIẾN ĐẤU
CỦA QUÂN ĐỘI HIỆN NAY


Giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu luôn là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu đối với bất cứ quân đội nào để đảm bảo quân đội luôn trung thành tuyệt đối và chiến đấu vì sự nghiệp của giai cấp tổ chức ra nó. Quân đội nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; ngoài lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, quân đội ta không có mục đích tự thân nào khác. Hơn bảy thập kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó; vấn đề giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho quân đội luôn được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, quân đội của dân, do dân, vì dân.


Giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu là công việc hệ trọng của Đảng trong quá trình xây dựng quân đội ở tất cả các giai đoạn cách mạng. Việc Đảng ta thiết lập chế độ công tác chính trị trong quân đội, xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên là nhằm trực tiếp hướng vào thực hiện có hiệu quả công việc hệ trọng đó, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện.


Với tư cách là người chủ trì về chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng và nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Vai trò của chính ủy, chính trị viên trong giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội xuất phát trực tiếp từ nhiệm vụ xây dựng quân đội, tầm quan trọng của việc xây dựng, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội; và từ vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của chính ủy, chính trị viên.


Trong vấn đề này, vai trò đặc biệt quan trọng của chính ủy, chính trị viên được thể hiện cụ thể là: thứ nhất, trực tiếp định hướng chính trị, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ quân đội theo mục tiêu, lý tưởng và đường lối, quan điểm của Đảng; thứ hai, thường xuyên giáo dục, xây dựng, rèn luyện và hoàn thiện các phẩm chất của người quân nhân cách mạng, xây dựng quân đội vững mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; thứ ba, trực tiếp tổ chức đấu tranh giữ vững trận địa tư tưởng vô sản và mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phá hoại quân đội ta của các thế lực thù địch. Giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là công việc trực tiếp thường xuyên, liên tục, không khi nào ngừng nghỉ của đội ngũ chính ủy, chính trị viên. Trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, yêu cầu, nội dung cụ thể của việc giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu có sự khác nhau.


Hiện nay, việc giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội chịu sự tác động sâu sắc bởi những diễn biến phức tạp, khó lường của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên thế giới; những thuận lợi, khó khăn, phức tạp của tình hình đất nước. Tác động của quá trình toàn cầu hóa, mặt trái của kinh tế thị trường, cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch làm cho việc giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội gặp nhiều khó khăn, thách thức mới. Trong sự tác động đó, cùng với sự thay đổi, biến động của các nấc thang giá trị thì những yếu tố ngoại lai, lai căng có điều kiện xâm nhập, phát triển, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tư tưởng, văn hóa xã hội. Chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, lối sống thiếu lý tưởng, thờ ơ các vấn đề chính trị - xã hội, "những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội", "tự diễn biên", "tự chuyển hóa", lối sống vì đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, các tệ nạn xã hội... có điều kiện phát triển. Những "nọc độc" về chính trị, tư tưởng thâm nhập vào bằng nhiều con đường, với nhiều hình thức tinh vi khác nhau, làm cho tư tưởng, đạo đức, lối sống con người dễ bị nhiễm độc. Vấn đề bảo vệ chế độ, giữ vững nền tảng tư tưởng xã hội, sự lãnh đạo của Đảng và định hướng xã hội chủ nghĩa - những yếu tố quyết định sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu - đặt ra một cách gắt gao hơn.


Những khó khăn và thách thức mới đối với việc giác ngộ mục tiêu, lý tưởng của quân đội không chỉ thể hiện ở việc xác định nội dung giáo dục, cần phải tập trung nội dung cụ thể nào; mà còn thể hiện ở chỗ, làm thế nào để những nội dung truyền tải, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trở nên sống động và thuyết phục nhất, biến thành tư tưởng, tình cảm, ý chí quyết tâm và hành động cách mạng của họ trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ quân đội, trong điều kiện đó, trước hết và trực tiếp cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề chính sau:

Một là, nâng cao hiệu quả giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là nội dung cơ bản có tầm quan trọng hàng đầu trong giáo dục, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ. Cán bộ, chiến sĩ quân đội không thể có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, không thể hiểu sâu sắc mình hy sinh, chiến đấu vì ai, chiến đấu vì mục tiêu gì nếu họ không được giáo dục đầy đủ cần thiết những nội dung cơ bản trên. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận cách mạng tiên tiến và khoa học, là ngọn đuốc soi đường cho cuộc đấu tranh giải phóng giành độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta; là cơ sở giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội.


Trong tình hình hiện nay, việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho quân đội gặp không ít khó khăn, phức tạp. Tình trạng thờ ơ, xem nhẹ, hình thức, kém hiệu quả, "làm cho xong" trong giáo dục và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở một số người, cả người học và người đi giáo dục, cả chiến sĩ và cán bộ diễn ra ở không ít đơn vị; thậm chí có lúc, có nơi việc giáo dục và học tập này chỉ mang tính đối phó.


Họ không thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa quyết định của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc nhận thức và nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đối với sự vững chắc về lập trường tư tưởng và bản lĩnh chính trị của người quân nhân cách mạng. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.256).


Trong bối cảnh đó, việc đổi mới nội dung, chương trình, cách thức, biện pháp giáo dục là những vấn đề quan trọng mà chính ủy, chính trị viên cần thực hiện tốt; tuy nhiên, điều quan trọng là cần đi sâu hơn vào động cơ, thái độ, tình cảm của đối tượng giáo dục. Vì thế, ở đây cần nhấn mạnh, chính ủy, chính trị viên phải thực sự nêu cao tinh thần gương mẫu, tính mô phạm trong học tập, rèn luyện, trong giác ngộ mục tiêu, lý tưởng; đồng thời phải làm tốt công tác chính trị tư tưởng, thắp lên ngọn lửa nhiệt tình, say sưa học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho việc học tập trở thành một quá trình tự thân, tự giác của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Không đạt được điều đó thì việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể đạt hiệu quả mong muốn.


Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là để nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước lại là cơ sở cho cán bộ, chiến sĩ quân đội hiểu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là mối quan hệ biện chứng, thống nhất trong nội dung có tầm quan trọng đặc biệt này, chính ủy, chính trị viên cần thực hiện tốt trong quá trình giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ quân đội.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 01:59:14 pm »

Hai là, giáo dục sâu sắc nhiệm vụ cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, nghĩa vụ, trách nhiệm; ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao của quân nhân.

Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu không phải là một cái gì xa vời, chung chung, trừu tượng, mà luôn biểu hiện cụ thể trong nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ, ở việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội và nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Vì thế, giáo dục nhiệm vụ cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, nghĩa vụ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của quân nhân là nội dung đặc biệt quan trọng, phản ánh tính chính trị - thực tiễn của việc nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội.


Trong giai đoạn hiện nay, chính ủy, chính trị viên cần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ nhiệm vụ của cách mạng, những thuận lợi, khó khăn, phức tạp của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức sâu sắc mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Những nhiệm vụ như huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch; xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tham gia xây dựng đất nước, xóa đói giảm nghèo; làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh... là những nội dung cụ thể phản ánh chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong điều kiện mới, cần phải được chính ủy, chính trị viên giáo dục sâu sắc, phù hợp với từng đơn vị, từng đối tượng.


Mỗi đơn vị, mỗi đối tượng cán bộ, chiến sĩ có đặc điểm, nhiệm vụ cụ thể riêng, chính ủy, chính trị viên phải căn cứ vào từng đơn vị và đối tượng phụ trách mà thực hiện nội dung, biện pháp giáo dục phù hợp. Giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu bao giờ cũng biểu hiện cụ thể ở hành động cách mạng thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, ở việc hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Không thể nói là đã giác ngộ cao về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về nhiệm vụ cách mạng khi cán bộ, chiến sĩ quân đội không quyết tâm phấn đấu học tập, rèn luyện, công tác và chiến đấu, không hoàn thành tốt các nhiệm vụ hằng ngày của bản thân mình.


Vì vậy, chính ủy, chính trị viễn cần phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ quân đội nhận thức sâu sắc nhiệm vụ của quân đội, nhiệm vụ của đơn vị, chức trách, nhiệm vụ của quân nhân; đồng thời phải chú trọng xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết, kỷ luật, tích cực, chủ động thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Đơn vị không vững mạnh toàn diện, cán bộ, chiễn sĩ không hoàn thành tốt nhiệm vụ thì không thể nói việc giáo dục, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ quân đội đã được nâng cao và có hiệu quả.


Ba là, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhất là âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta của các thế lực thù địch.

Nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhất là âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta của các thế lực thù địch là yêu cầu đặc biệt quan trọng và là vấn đề cấp thiết hiện nay. về vấn đề này, chính ủy, chính trị viên phải thực sự là lực lượng nòng cốt trong chỉ đạo, tổ chức và trực tiếp tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng vô sản trong quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.


Các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta. Những luận điệu chống phá quân đội ta được chúng đưa ra liên tiếp với nhiều hình thức tinh vi khác nhau đã và đang gây nhiều nguy hại, khó khăn đối với việc xây dựng quân đội nói chung, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội nói riêng. Điều đó dễ gây nên sự dao động, hoài nghi nhất định về mục tiêu chiến đấu, sự thiếu yên tâm phục vụ quân đội, thiếu bản lĩnh chính trị vững vàng trước những khó khăn phức tạp và trong thực hiện nhiệm vụ ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội. Nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội không thể đạt được hiệu quả cao, nếu trận địa tư tưởng vô sản không được giữ vững, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch không bị phá sản, thất bại.


Trong cuộc đấu tranh này, chính ủy, chính trị viên phải thực sự là nòng cốt cho toàn quân. Vai trò nòng cốt đó thể hiện ở chỗ: một là, tổ chức lực lượng, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ đấu tranh; hai là, xác định nội dung, yêu cầu, biện pháp đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn và từng loại quan điểm sai trái, thù địch; ba là, trực tiếp tham gia đấu tranh. Đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái đòi hỏi phải nâng cao tính chiến đấu, tính khoa học và thuyết phục để chẳng những tạo cơ sở đập tan mọi luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, mà còn trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức và lập trường cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Chính ủy, chính trị viên phải biết kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng; đồng thời phải tạo ra được khả năng miễn dịch, sức đề kháng cao và trình độ đấu tranh cho cán bộ, chiến sĩ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.


Người đi giáo dục trước hết phải được giáo dục. Hành trang cơ bản trong giáo dục, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đối với chính ủy, chính trị viên phải là trình độ cao về sự giác ngộ, là tấm gương mẫu mực về sự trung thành và phấn đấu không biết mệt mỏi vì sự thắng lợi của mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 02:00:59 pm »

MỐI QUAN HỆ GIỮA NHIỆM VỤ BẢO VỆ VÀ NHIỆM VỤ THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


Bàn về mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ và nhiệm vụ tham gia xây dựng Nhà nước của quân đội ta, thực chất là bàn về mối quan hệ giữa quân đội là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng, của Nhà nước với Nhà nước là thiết chế chính trị, đại biểu quyền lực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, là tổ chức quản lý quân đội. Đây là vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được luận giải cụ thể trên cơ sở khoa học. Ở đây, phân tích mối quan hệ này trên các vấn đề cơ bản sau:


Một là, bảo vệ và tham gia xây dựng Nhà nước là hai nhiệm vụ quan hệ mật thiết và thống nhất trong bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quân đội là một hiện tượng chính trị - xã hội, là công cụ bạo lực của một giai cấp, một nhà nước nhất định, nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp và nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng quân đội. Quân đội ta là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Chức năng chính trị - xã hội của quân đội ta, theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: chiến đấu, công tác và lao động sản xuất. Việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó vừa bảo đảm cho quân đội ngày càng mạnh lên vừa góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng. Nội dung cụ thể của chức năng phản ánh bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội ta, được biểu hiện và thông qua việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng.


Bất cứ quân đội nào cũng đều phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhà nước đã tổ chức ra và nuôi dưỡng nó. Ngay quân đội tư sản cũng vậy. V.I.Lênin nhấn mạnh: "Ở bất cứ đâu quân đội thường trực cũng trở thành công cụ của thế lực phản động, tôi tớ của tư bản trong cuộc đấu tranh chống lại lao động, cũng là tên đao phủ đối với tự do của nhân dân"1 (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.137).


Đối với quân đội ta, chiến đấu để giải phóng dân tộc, chống xâm lược, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân; bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước của dân, do dân, vì dân... là những nội dung cụ thể thể hiện nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước, phản ánh chức năng chiến đấu của quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đội quân cách mạng thực hiện nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập"1 (Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1989, tr.115), "bảo vệ đồng bào, giữ gìn Tổ quốc", "sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.435).


Điều quan trọng ở đây cần phải làm rõ là vấn đề quân đội ta tham gia xây dựng Nhà nước! Cần nhận thức rằng, quân đội là lực lượng tham gia. Ý nghĩa của việc tham gia đã nói lên phạm vi, mức độ có giới hạn và tính chất của việc quân đội xây dựng Nhà nước. Tham gia xây dựng Nhà nước là phải theo chức năng, nhiệm vụ của quân đội, chứ tuyệt nhiên không phải là theo tư tưởng "súng đẻ ra chính quyền", về nội dung tham gia xây dựng Nhà nước, trước hết cần phải hiểu bản thân việc thực hiện chức năng chiến đấu, bảo vệ chính quyền và bảo vệ chế độ đã hàm chứa trong đó những nội dung xây dựng Nhà nước; thứ hai, quân đội ta khi mới thành lập là nhằm trực tiếp đáp ứng nhu cầu đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, giành chính quyền về tay nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng. Hai vấn đề trên đã phản ánh phần nào nội dung nhiệm vụ tham gia xây dựng Nhà nước của quân đội ta.


Quân đội ta là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, là quân đội của dân, do dân, vì dân, ngoài chức năng chiến đấu, còn có chức năng công tác và lao động sản xuất. Tham gia xây dựng Nhà nước còn là sự thể hiện chức năng công tác và cả lao động sản xuất của quân đội ta. Nội dung cụ thể của việc quân đội tham gia xây dựng Nhà nước là: tham gia xây dựng hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở; tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của chính quyền, của chế độ; tham gia thực hiện và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh của Nhà nước, trên từng địa bàn và phạm vi cả nước. Đương nhiên, trong từng nhiệm vụ cụ thể đó, vai trò của quân đội không như nhau; trong xây dựng, củng cố quốc phòng, quân đội là lực lượng nòng cốt.


Như vậy, mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ và nhiệm vụ tham gia xây dựng Nhà nước của quân đội ta là mổỉ quan hệ biện chứng, thống nhất, phản ánh bản chất, chức năng, nhiệm vụ của quân đội cách mạng, quân đội của dân, do dân, vì dân.


Hai là, bảo vệ và tham gia xây dựng Nhà nước đều nhằm làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân, vì dân.

Mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Nhà nước của Quân đội nhân dân Việt Nam là mối quan hệ trong chức năng của quân đội với tư cách là một công cụ - công cụ bạo lực chủ yếu - của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và tham gia xây dựng Nhà nước là thực hiện chức năng nhiệm vụ của lực lượng chính trị tin cậy, của công cụ bạo lực chủ yếu của Nhà nước. Đây là vấn đề thuộc về nguyên tắc.


Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đó còn thống nhất với nhau trong mục đích hướng tối, trong định hướng hoạt động của quân đội. Cả hai nhiệm vụ bảo vệ và tham gia xây dựng đều nhằm mục đích giữ vững và củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước; tăng cường sức mạnh và hiệu lực quản lý của Nhà nước, làm cho Nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.


Nhiệm vụ bảo vệ và nhiệm vụ xây dựng Nhà nước quan hệ chặt chẽ với nhau, các nội dung bảo vệ và xây dựng xen lồng lẫn nhau; việc tách ra đâu là nhiệm vụ bảo vệ, đâu là nhiệm vụ tham gia xây dựng Nhà nước của quân đội ta là có tính chất tương đối.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2022, 02:01:43 pm »

Trong bối cảnh lịch sử mới của đất nước, một yêu cầu rất cao là phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chống lại có hiệu quả chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc và nền văn hóa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra hết sức nặng nề đối với quân đội ta.


Hơn lúc nào hết, quân đội phải thực hiện và góp phần tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; giữ vững môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại. Quân đội ta còn phải tích cực góp phần xây dựng địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, xây dựng "thế trận lòng dân", xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc; tham gia vận động, giúp đỡ quần chúng nhân dân thực hiện xóa đói giảm nghèo, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của Nhà nước, của chính quyền địa phương, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở trên phạm vi cả nước cũng như trên từng địa bàn...


Những nội dung cụ thể trên vừa phản ánh nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ; vừa thể hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng Nhà nước, xây dựng chế độ của quân đội ta. Thực hiện các nhiệm vụ đó là quân đội góp phần hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống; góp phần nâng cao hiệu lực tổ chức xây dựng và quản lý của Nhà nước; góp phần làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh.


Ba là, quân đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và tham gia xây dựng Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.


Quân đội ta bảo vệ và tham gia xây dựng Nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ khác là thực hiện nhiệm vụ mà "Đảng và Chính phủ giao cho quân đội"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.376). Điều đó có nghĩa là quá trình quân đội tham gia xây dựng Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; dưới sự điều tiết và quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: "Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân..."2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.83). Đây là nguyên tắc cơ bản của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng quân đội, là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Không đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước thì việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cũng như nhiệm vụ tham gia xây dựng Nhà nước của quân đội sẽ mất phương hướng, dẫn đến những hậu quả nguy hại.


Như vậy, quân đội tham gia xây dựng Nhà nước không phải là sự tham gia một cách tuỳ tiện, tuỳ hứng, không phải là làm thay chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân và của các ngành khác. Trái lại, sự tham gia của quân đội còn phải nhằm góp phần làm cho các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các cấp, các ngành thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình trong xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.


Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước là yêu cầu khách quan để quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ và tham gia xây dựng Nhà nước, xây dựng chế độ của mình với tư cách là lực lượng chính trị tin cậy, là công cụ bạo lực chủ yếu của Nhà nước. Sự quản lý của Nhà nước trong việc quân đội tham gia xây dựng chính Nhà nước biểu hiện ở chỗ: Nhà nước xác định nội dung, phạm vi, yêu cầu, phương pháp, hình thức tham gia và tạo những điều kiện cần thiết để quân đội thực hiện tốt chức năng, phát huy tốt vai trò của mình, tham gia có hiệu quả nhất vào quá trình xây dựng Nhà nước.


Gần 70 năm qua, sự lớn mạnh và trưởng thành của Nhà nước ta, sự vững chắc và phát triển của chế độ ta có đóng góp rất quan trọng của quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân giao cho. Truyền thống tốt đẹp đó đã và đang được tiếp tục phát huy trong điều kiện lịch sử mới. Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng đòi hỏi quân đội phải phát huy hơn nữa truyền thống tốt đẹp đó, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ và tham gia xây dựng Nhà nước.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #37 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2022, 10:10:23 am »

TRÍ THỨC QUÂN ĐỘI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI


"Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.81). Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức như hiện nay, vai trò của trí thức càng trở nên quan trọng.


Đội ngũ trí thức quân đội là một bộ phận của đội ngũ trí thức nước nhà, là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, trí thức quân đội có sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, có đóng góp xứng đáng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước. Trên lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đội ngũ trí thức đã góp phần quan trọng khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển lý luận, cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước trong xác định đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tham gia tích cực, có hiệu quả vào việc nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng; tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng.


Trong chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một "mũi đột phá", là nội dung trọng yếu. Chúng ra sức lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại, tuyên truyền các quan điểm thù địch, sai trái, nhằm phá vỡ trận địa tư tưởng vô sản, thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn trực tiếp tiến công vào những người tích cực đấu tranh, hòng làm cho những người đấu tranh dao động về tư tưởng, mất nhuệ khí, không dám đấu tranh. Đòn tiến công này thật sự nguy hiểm và gây nhiều khó khăn cho chúng ta trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận.


Yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới đòi hỏi đội ngũ trí thức quân đội, đặc biệt là trí thức khoa học xã hội và nhân văn phải tích cực và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, phải thật sự là một lực lượng nòng cốt, tiên phong của quần đội trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận. Tính chất và vai trò nòng cốt, tiên phong của đội ngũ trí thức quân đội trong vấn đề này thể hiện ở chỗ: thứ nhất, họ là những người tham gia tổ chức và triển khai cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong quân đội; thứ hai, với cương vị công tác của mình, họ trực tiếp đấu tranh tư tưởng, lý luận trên bục giảng, trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, lý luận, trong giáo dục cán bộ, chiến sĩ, và đặc biệt là trên các phương tiện thông tin đại chúng.


Vai trò nòng cốt, tiên phong đó là khách quan do đặc điểm nhiệm vụ và trình độ lý luận, trình độ tư tưởng của đội ngũ trí thức quy định. Vấn đề quan trọng đặt ra là, trên thực tế vai trò đó có phát huy tốt hay không; từng trí thức, đặc biệt là những trí thức khoa học xã hội và nhân văn có học vị, học hàm cao có ý thức rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của mình trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hay không.


Thời gian qua, đội ngũ trí thức quân đội đã thể hiện rõ vai trò của mình trong đấu tranh tư tưởng, lý luận, chống các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch. Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn của quân đội có khá nhiều bài đăng báo, tạp chí trong và ngoài quân đội đấu tranh kịp thời, sắc bén, vạch trần nhiều âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng chống phá ta trên các vấn đề về hệ tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo..., gây "tiếng vang" nhất định trong quân đội và ngoài xã hội. Điều đó đã góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ quân đội vào chế độ và sự lãnh đạo của Đảng. Đó là kết quả quan trọng thể hiện vai trò nòng cốt, tiên phong của đội ngũ trí thức quân đội trong đấu tranh tư tưởng, lý luận.


Trong bối cảnh mới của sự mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch càng trở nên hết sức phức tạp và đặc biệt nhạy cảm.


Chúng ta phải chủ động tiến công, phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Phải "Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ tự diễn biến ở cả trung ương và các ngành, các cấp"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.45).


Đó là yêu cầu, là một nhiệm vụ chủ yếu của trí thức quân đội trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Để đội ngũ trí thức quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy tốt vai trò của mình trong tình hình mới, trước hết cần thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ trí thức quân đội.

Phải có "một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong"1 (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.32), lời giáo huấn này của V.I.Lênin cần phải được nhận thức sâu sắc hơn trong tình hình mới. Chúng ta đã có "một lý luận tiền phong", nhưng điều quan trọng là cần phải nắm chắc, hiểu đúng, hiểu rõ thực chất những vấn đề cơ bản của lý luận ấy, đồng thời biết vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới.


Trong thực tiễn, các quan điểm thù địch, sai trái được các thế lực thù địch tung ra có thể trắng trợn, cũng có thể được che giấu kín đáo, hoặc ngụy trang dưới những cái vỏ có vẻ "khoa học", "khách quan", làm cho chúng ta khó nhận biết thực chất và rất khó đấu tranh. Vì thế, bên cạnh việc vạch rõ thực chất phản động, phản cách mạng, tính chất hại dân, hại nước của các quan điểm thù địch, sai trái, cần phải làm rõ tính chất phản khoa học của các quan điểm ấy một cách có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục. Điều đó chỉ có thể có được khi đội ngũ trí thức quân đội có được sự vững chắc về lý luận, có trình độ lý luận đủ tầm.


Hiện nay có một thực tẽ là, việc vận dụng lý luận vào đấu tranh tư tưởng, lý luận, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn chưa được sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải ý thức rõ ràng hơn đối với vấn đề nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ trí thức quân đội. Trình độ lý luận là "cốt vật chất" cho việc nâng cao năng lực đấu tranh. Không có trình độ lý luận thực sự vững chắc thì đội ngũ trí thức quân đội không thể hoàn thành được vai trò tiên phong, nòng cốt của mình. Sức thuyết phục, tính chiến đấu và giá trị của bài đấu tranh phụ thuộc quyết định trực tiếp vào người cầm bút, vào phẩm chất, năng lực của chính người trí thức quân đội, phụ thuộc vào trình độ lý luận của bản thân họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.273). Học tập lý luận là học tập theo lý luận chân chính ấy. Sự "chân chính" của lý luận vừa được thể hiện trong nội dung lý luận, vừa thể hiện trong phương pháp nghiên cứu, vận dụng lý luận, được phản ánh sâu sắc trong mục đích của lý luận là áp dụng vào thực tiễn cách mạng, thực tiễn cuộc sống, thực tiễn đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.


Trong tình hình mới, Đảng ta chỉ rõ: "Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị. Xây dựng và thực hiện quy định mọi đảng viên có trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.257). Đối với trí thức quân đội, yêu cầu về việc học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị đặt ra càng phải cao.


Để nâng cao trình độ lý luận của đội ngũ trí thức quân đội, vấn đề tự học tập, tự nâng cao trình độ lý luận phải là nhu cầu tự thân, là sự phấn đấu, rèn luyện thường xuyên của mỗi trí thức. Quân đội, các đơn vị trong toàn quân, đặc biệt là các nhà trường và viện nghiên cứu của quân đội cần tạo điều kiện, có chính sách khuyên khích tinh thần tự học tập, tự nâng cao trình độ lý luận của đội ngũ trí thức; quán triệt tốt hơn quan điểm của Đảng: "Chú trọng phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia đối với các chuyên ngành nghiên cứu, giảng dạy lý luận"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.48-49) trong bồi dưỡng đội ngũ.


Phải kiên quyết khắc phục tình trạng "xem thường" lý luận, "dị ứng" với lý luận, chạy theo mục đích thực dụng trong hoạt động thực tiễn; đồng thời phải khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn, không bám chắc vào thực tiễn cách mạng sôi động của đất nước, thực tiễn thế giới trong hoạt động lý luận. Đồng thời, phải kiên quyết khắc phục căn bệnh lười học lý luận trong một số trí thức quân đội. Lười học lý luận, hoặc học lý luận một cách hình thức, mang tính chất "trang trí", "cốt có chứng chỉ" để thuận lợi cho con đường công danh, thì không thể trở thành trí thức quân đội thực sự có trí tuệ, thực sự có năng lực. Không thể vin cớ do "quá bận rộn", "quá nhiều việc" mà không chịu học tập, không tự bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như những vấn đề về tình hình thế giới, đất nước, nhiệm vụ cách mạng. Lười học lý luận là một biểu hiện suy thoái, và từ sự suy thoái này dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị không phải là không thể xảy ra. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xem nhẹ, "bị bỏ qua", thì sẽ tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện và phát triển trong xã hội những lý thuyết, những quan điểm cơ hội, thực dụng, phi mácxít.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #38 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2022, 10:11:14 am »

Hai là, tổ chức, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho đội ngũ trí thức quân đội đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Đấu tranh tư tưởng, lý luận là trách nhiệm của tất cả trí thức quân đội, đặc biệt là trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, mỗi người có chuyên ngành, chức trách, cương vị khác nhau nên cách thức thực hiện và tham gia đấu tranh có sự khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả, cần tổ chức lực lượng đấu tranh trực tiếp có tính chuyên trách gồm các nhà khoa học, các chuyên gia trên các lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn. Thông qua hoạt động có tổ chức này sẽ góp phần rất quan trọng nâng cao năng lực đấu tranh cho toàn bộ đội ngũ trí thức quân đội, trước hết là trí thức khoa học xã hội và nhân văn.


Bồi dưỡng cho trí thức quân đội những vấn đề lý luận, thực tiễn cần thiết, những vấn đề liên quan đến trình độ, năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận. Theo đó, cần quán triệt và tổ chức thực hiện tốt quan điểm của Đảng: "Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, những vấn đề cần bổ sung và phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Sđd, tr.46, 48); "Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân; những vấn đề đặt ra trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong thời kỳ mới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Sđd, tr.46, 48). Đồng thời, vận dụng phù hợp các kết quả nghiên cứu đó vào quá trình công tác và trực tiếp đấu tranh tư tưởng, lý luận của đội ngũ trí thức quân đội.


Cần tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ trí thức quân đội phát huy trí tuệ và sự sáng tạo trong nghiên cứu lý luận, trong hoạt động khoa học theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X của Đảng: "Tạo môi trường dân chủ, loại trừ việc hạn chế tự do tư tưởng, tăng cường thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và các tập thể khoa học trong nghiên cứu lý luận"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Sđd, tr.49). Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh thêm: "Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những công hiến của trí thức. Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.241-242). Không có "môi trường dân chủ", không "khuyến khích tìm tòi, sáng tạo", không thực sự "trọng dụng trí thức" thì chúng ta không thể có được những chuyên gia giỏi lý luận, không thể có được những "chuyên gia giỏi đấu tranh"; năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận của đội ngũ trí thức quân đội không thể cao.


Ba là, nâng cao trình độ, năng lực gắn với bồi dưỡng tinh thần và ý thức trách nhiệm cho đội ngũ trí thức quân đội trong đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Trong tình hình mới, đấu tranh tư tưởng, lý luận là vấn đề đặc biệt khó khăn và rất nhạy cảm. Sự nhạy cảm đó vừa là do nội dung vấn đề có nhiều gai góc về lý luận và cả về thực tiễn, vừa chịu sự chi phối, quy định của không khí chính trị, quan hệ chính trị, sự có lợi hay không có lợi khi viết bài đấu tranh ở từng thời điểm cụ thể. Có thể cùng một nội dung, cùng một bài viết, cùng một cách thể hiện thì thích ứng với thời điểm này, nhưng có thể lại không phù hợp, không có lợi ở thời điểm khác.


Những khó khăn đó đòi hỏi đội ngũ trí thức quân đội vừa phải có trình độ đấu tranh vừa phải có bản lĩnh và dũng khí đấu tranh. Năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận của đội ngũ trí thức quân đội, do đó, phải gắn chặt chẽ với phẩm chất chính trị, với tinh thần, ý thức trách nhiệm và dũng khí đấu tranh của bản thân họ.


Kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới đất nước mà nhân dân ta đang phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng; niềm tin vào lẽ phải, vào chính nghĩa, vào tiền đồ tương lai tốt đẹp của dân tộc, sức mạnh của đất nước, vào đường loi, quan điểm của Đảng; tinh thần phấn đấu một lòng một dạ vì nước, vì dân, vì sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc... là phẩm chất chính trị cơ bản cần có của trí thức quân đội trong cuộc đấu tranh quyết liệt này. Nắm rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch thể hiện ở những quan điểm thù địch, sai trái, hiểu thực chất những quan điểm ấy, vững vàng về lý luận, có đủ trình độ và biết đấu tranh... là những yêu cầu cơ bản về năng lực đấu tranh của họ.


Trong cuộc đấu tranh này, đội ngũ trí thức quân đội, đặc biệt là những trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội cần phải có lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm cao và dũng khí đấu tranh. Đó là vấn đề rất quan trọng và tối cần thiết. Song, điều quan trọng nữa là phải có trình độ, năng lực đấu tranh, phải biết đấu tranh, biết bác bỏ, làm "phá sản" âm mưu, thủ đoạn của những kẻ tung ra các quan điểm thù địch, sai trái. Làm được điều đó, đội ngũ trí thức quân đội còn góp phần quan trọng củng cố niềm tin, nâng cao tinh thần cảnh giác, tình yêu quê hương đất nước, yêu chế độ của cán bộ, chiến sĩ quân đội, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận chung của Đảng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #39 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2022, 10:12:36 am »

PHẦN THỨ BA
CHIẾN TRANH NGÀY NAY PHẢI CHĂNG LÀ
"SỰ ĐỤNG ĐỘ GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH"


BÀN VỀ MỤC ĐÍCH CHÍNH TRỊ CỦA CHIẾN TRANH


Thế kỷ mới đã bước vào được hơn một thập kỷ. Nhiều vấn đề mới và cấp bách đang đặt ra trước loài người, đòi hỏi phải có sự lý giải thỏa đáng. Việc làm rõ mục đích chính trị của các cuộc chiến tranh đã và đang được nhiều học giả bàn luận. Những cuộc chiến tranh đã qua trong lịch sử, đặc biệt là các cuộc chiến tranh diễn ra vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XI là những "chất liệu" thực tế cho phép chúng ta dựa vào đó có thể chỉ ra bản chất thực sự của các cuộc chiến tranh ở thế kỷ XXI.


Trong lịch sử chiến tranh nhân loại, những thành tựu khoa học, kỹ thuật mới nhất của thời đại đều được sử dụng vào lĩnh vực quân sự, vào việc chẽ tạo vũ khí, trang bị, khí tài phục vụ cho chiến tranh. Ngày nay, những thành tựu tiên tiến của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin được khai thác triệt để vào việc hiện đại hóa vũ khí, trang bị, tăng lên một cách nhảy vọt hàm lượng kỹ thuật, công nghệ của các phương tiện chiến tranh. Người ta ngày càng nói nhiều đến chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin, chiến tranh điện tử, điều khiển, chiến tranh kỹ thuật số... với tư cách là những mũi nhọn đặc trưng của các cuộc chiến tranh trong tương lai.


Sự phát triển vũ khí, trang bị tất yếu dẫn đến sự thay đổi về phương thức tiến hành chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, cách đánh và cả sự biến đổi về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Đội hình chiến đấu hình khối chỉ thích hợp thời vũ khí gươm đao, cung tên, đội hình này tỏ ra bất lợi và nhanh chóng bị tan rã khi có máy bay, đại bác. Lực lượng đông đảo về quân số sẽ ngày càng không còn là ưu thế trong điều kiện của chiến tranh công nghệ cao. Cảnh tàn sát, tiêu diệt sinh lực lẫn nhau giữa các bên tham chiến sẽ nhường chỗ cho sự đối kháng thông tin, làm suy sụp ý chí đối phương trong các cuộc chiến tranh hiện đại.


Tất cả những thay đổi ấy dù diễn ra hết sức sâu sắc, mà hiện nay chúng ta chưa có thể tiên lượng và phân tích hết được, cũng không có nghĩa là dẫn đến sự thay đổi về nguồn gốc, bản chất, tính chất của chiến tranh. Luận điểm chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực vẫn giữ nguyên giá trị. Vũ khí công nghệ cao dù có hiện đại như thế nào chăng nữa nhưng chúng vẫn chỉ là phương tiện, công cụ để tiến hành chiến tranh, chứ không phải là xóa đi mục đích chính trị của chiến tranh.


Tuy nhiên, những thay đổi có tính chất cách mạng về vũ khí, trang bị và cách đánh, phương thức tiến hành chiến tranh, cùng với những thủ đoạn mới tiến hành chiến tranh của kẻ gây chiến là hết sức tinh vi và xảo quyệt, làm cho có người lầm tưởng rằng những vấn đề cơ bản của chiến tranh như nguồn gốc, mục đích, tính chất của chiến tranh đã có sự thay đổi căn bản, chiến tranh hiện đại mất đi bản chất chính trị của nó mà chỉ còn là sự đọ sức về khoa học, công nghệ! Vì thế, việc nhận thức đâu là mục đích chính trị thực sự của chiến tranh trở nên không đơn giản chút nào.


Hiện nay, không phải không có người còn nhận thức sai lầm rằng dường như luận điểm chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực không còn giá trị, đã mất đi ý nghĩa thực tiễn của nó!? Hậu quả tất yếu của sự nhận thức sai lầm ấy sẽ dẫn đến thái độ không đúng đối với chiến tranh. Kẻ phát động chiến tranh, gây ra chiến tranh thì có thể được xem là "người đi cứu nhân dân", là "hợp pháp", "chính nghĩa"; còn các quốc gia dân tộc bị tiến công lại bị quy cho là nguyên nhân chủ yếu sinh ra chiến tranh.


Đây là vấn đề đặc biệt nguy hiểm. Sự lẫn lộn trong xem xét tính chất, đâu là chính nghĩa, đâu là phi nghĩa của chiến tranh không những bị chi phối bởi lập trường giai cấp, mà còn là hệ quả trực tiếp của việc nhận thức mơ hồ mục đích chính trị của chiến tranh, của việc "tước đi" bản chất thực sự của chiến tranh. Điều này càng trở nên trầm trọng khi kẻ gây chiến tranh lại có một lực lượng "đồng minh" đông đảo đa quốc gia và núp dưới danh nghĩa tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh: Liên hợp quốc. Vì thế, vấn đề đặt ra là cần phải khẳng định bản chất thực sự của chiến tranh, làm rõ mục đích chính trị cụ thể mà chiến tranh kế tục là gì, có điều gì mới.


Về mặt lý luận, V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh và vạch rõ bản chất, mục đích chính trị của chiến tranh. Người viết: "Chiến tranh chẳng qua chỉ là chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục thực hiện cùng những mục đích do cũng các giai cấp đó theo đuổi với những phương pháp khác mà thôi"1 (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.32, tr.356, 102), "Chiến tranh là sự phản ánh của chính sách đối nội mà nước đó đã thi hành trước đây"2 (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr.361). Nghiên cứu về bản chất Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, V.I.Lênin viết: "Chính toàn bộ đường lối chính trị của toàn bộ hệ thống các quốc gia ở châu Âu, trong những mối quan hệ kinh tế và chính trị của các quốc gia đó, mới là cái cần phải xem xét để hiểu được rằng điều tất nhiên, không thể tránh được là hệ thống ấy đã gây ra cuộc chiến tranh hiện nay"3 (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.32, tr.356, 102).


Luận điểm lêninnít về chiến tranh vẫn là cơ sở phương pháp luận khoa học cho phép chúng ta lý giải bản chất, mục đích chính trị của các cuộc chiến tranh hiện đại.

Muốn xác định mục đích chính trị cụ thể của chiến tranh cần phải xem xét đường lối chính trị của các bên tham chiến: kẻ phát động chiến tranh và người chống lại cuộc chiến tranh đó. Cuộc chiến tranh do phương Tây phát động chống Nam Tư năm 1999, chống Ápganixtan năm 2002, chống Irắc năm 2003 là những ví dụ sinh động cho thây mục đích chính trị thực sự của Mỹ và NATO khi tiến hành chiến tranh chõng các quốc gia độc lập có chủ quyền. Điều đó được biểu hiện trên hai vấn đề chủ yếu: mục đích chiến lược cơ bản và mục đích chính trị cụ thể, trực tiếp.


Mục đích chiến lược cơ bản của Mỹ là đứng ra làm vai trò điều khiển, thao túng tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới, kiến tạo trật tự thế giới mới đơn cực cho Mỹ chi phối, xác lập "giá trị" của Mỹ trên toàn hành tinh; đối với NATO, đó là việc mở rộng, bành trướng về phía Đông, tiến tới nhất thể hóa châu Âu. Mục đích chiến lược cơ bản ấy được thực hiện thông qua nhiều biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại... và đặc biệt là sử dụng vũ lực. o nơi nào dùng những biện pháp phi quân sự không đạt được mục đích thì Mỹ lại sử dụng vũ lực. Vậy là, việc phát động chiến tranh chống một quốc gia dân tộc nào đó, ở nơi nào đó là biện pháp "cần thiết" để thực hiện những nhiệm vụ của mục tiêu chiến lược. Rõ ràng, tham vọng trở thành bá chủ thế giới là chính trị mà các cuộc chiến tranh do Mỹ phát động kế tục.


Mục đích chiến lược cơ bản ấy quy định mục đích chính trị cụ thể, trực tiếp của từng cuộc chiến tranh. Mục đích chính trị cụ thể của từng cuộc chiến tranh vừa là sự biểu hiện mục đích chiến lược cơ bản trong từng trường hợp cụ thể vừa phản ánh tính đặc thù, riêng biệt của mục đích chính trị trong từng cuộc chiến tranh.


Mục đích chính trị cụ thể của các cuộc chiến tranh có nhiều nét mới. Đối với bên tiến công, đó là "cưỡng bức ý chí" đối phương, đập tan ý chí, buộc đối phương phải phục tùng ý chí, chấp nhận điều kiện của mình. Đây là vấn đề cơ bản của chiến tranh chứ không phải là tiêu diệt sinh lực đối phương. Vấn đề tiêu diệt sinh lực và chiếm đóng hoàn toàn lãnh thổ nước đối phương không đặt ra trực tiếp, ở cuộc chiến Kôsôvô, mục đích cụ thể của Mỹ và NATO tuyên truyền công khai là đè bẹp ý chí phản kháng của nhân dân Nam Tư, buộc Chính phủ Nam Tư chấp nhận điều kiện do Mỹ đưa ra, đòi hạ bệ tổng thống, thực chất là đòi thay đổi thể chế chính trị, biến Nam Tư thành nước nằm trong quỹ đạo của Mỹ.


Như vậy là, cho dù mục đích cụ thể của từng cuộc chiến tranh có khác nhau đi nữa, nhưng đều là sự tiếp tục đường lối chính trị đối nội, đối ngoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Vì thế, phương pháp luận khi xem xét nguồn gốc, bản chất, tính chất của các cuộc chiến tranh hiện đại vẫn là phải xem xét bản chất giai cấp và đường lối chính trị của quốc gia tiến hành chiến tranh, phải "nghiên cứu chính trị được tiến hành trước chiến tranh, chính trị đang dẫn đến và đã dẫn đến chiến tranh" như V.I.Lênin đã từng dạy.


Nếu mục đích chính trị của kẻ phát động chiến tranh là "áp đặt ý chí" của mình cho đối phương, thì việc chống lại sự "áp đặt ý chí" ấy là mục đích chính trị trực tiếp của các quốc gia dân tộc bị tấn công nhằm chống lại kẻ thù, bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình. Đó là cuộc chiến tranh để khẳng định và bảo vệ "quyền dân tộc tự quyết" - như V.I.Lênin nói - của các quốc gia dân tộc chống chủ nghĩa cường quyền mới của chủ nghĩa đế quốc.


Nhiều học giả dự đoán rằng, trong tương lai nếu một cuộc chiến tranh nổ ra giữa hai nước thì sẽ có thể dẫn đến sự can thiệp của cả cộng đồng quốc tế. Với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống truyền thông và các phương tiện thông tin hiện đại, và với những lợi ích đan xen, ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc, cuộc chiến tranh xảy ra giữa hai nước trong một thời gian rất ngắn sẽ tập trung sự chú ý của cộng đồng thế giới. Do quan điểm, lập trường và lợi ích khác nhau sẽ hình thành một sự "tập hợp lực lượng" của các bên tham chiến. Điều đó càng làm cho cuộc chiến tranh không chỉ có tính chất nội bộ của riêng hai nước, mà có thể xuất hiện các liên minh quốc gia chống lại nhau. Mục đích chính trị của cuộc chiến tranh vẫn lấy mục đích chính trị của "quốc gia chủ thể" làm trục xoay.


Cuộc chiến tranh hiện đại trong tương lai không chỉ là sự phản ánh chính trị cụ thể của các bên tham chiến, mà còn thể hiện những mâu thuẫn của thời đại, cuộc đãu tranh của các lực lượng chính trị đối lập nhau mang tính toàn cầu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM