Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Hai, 2022, 08:43:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Góp phần chống diễn biến hòa bình trong lĩnh vực Quân sự Quốc phòng  (Đọc 875 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2022, 05:21:44 pm »

- Tên sách: Góp phần chống diễn biến hòa bình trong lĩnh vực Quân sự Quốc phòng
- Tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng
- Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
- Năm xuất bản: 2012
- Số hoá: giangtvx, saoden
 

LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt từ khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu đến nay, các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hòa bình". "Diễn biến hòa bình" thực sự là một nguy cơ đe dọa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật... Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: "Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta".


Âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận thật sự nguy hiểm, có thể tạo nên sự mơ hồ, hoài nghi, mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào đường lối, quan điểm, sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước, gây nên rối loạn về chính trị, tư tưởng trong xã hội.


Đối với sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng thực hiện chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, hòng làm cho quân đội ta biến chất, làm suy yếu sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Điều đó ảnh hưởng và tác động tiêu cực đến sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của nhân dân ta. Trong xã hội còn có những biểu hiện nhận thức chưa đầy đủ, chưa rõ nhiều nội dung liên quan đến sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, trong điều kiện xuất hiện chiến tranh công nghệ cao..., ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức tư tưởng, tình cảm và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và công dân trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là một nội dung quan trọng và nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Điều đó góp phần tích cực vào việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.


Nhằm giúp độc giả có thêm tài liệu tham khảo theo hướng trên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách Góp phần chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng của PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hưởng. Cuốn sách tập hợp một số bài viết trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng của tác giả trong những năm gần đây, đã được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong hoạt động tư tưởng, lý luận của tác giả và đã được chỉnh sửa, cập nhật thông tin mới.


Nội dung cuốn sách bao gồm những vấn đề về bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, về xây dựng quân đội, đặc biệt là xây dựng quân đội về chính trị, các vấn đề về chiến tranh, nhất là vấn đề bản chất, tính chất, mục đích chính trị của chiến tranh trong thời đại ngày nay. Trên cơ sở khẳng định và làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quân sự, quốc phòng và với những tư liệu sinh động, các bài viết phản bác và vạch rõ tính chất thù địch, phản động và phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời phê phán những biểu hiện nhận thức không đúng, lệch lạc trên các vấn đề đó.


Hy vọng đây là cuốn sách tham khảo có giá trị, phục vụ kịp thời cuộc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, đặc biệt trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng ở nước ta trong tình hình mới.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.


Tháng 4 năm 2012
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #1 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2022, 09:09:21 am »

PHẦN THỨ NHẤT
BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM


TƯ DUY MỚI CỦA ĐẢNG
VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ "trọng yếu thường xuyên" của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong bối cảnh thế giới, đất nước có nhiều biến động phức tạp và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng cả về nhận thức, quan điểm lý luận, cũng như trong tổ chức hoạt động thực tiễn.


Quá trình đổi mới nhận thức, phát triển tư duy cũng chính là quá trình khắc phục những hạn chế của tư duy cũ, đồng thời đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, nhằm khẳng định, bảo vệ và thể hiện rõ hơn những nội dung của tư duy mới. Tư duy mới của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới thể hiện cụ thể và sâu sắc trên tất cả những vấn đề cơ bản của sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.


1. Điểm nhấn quan trọng hàng đầu trong tư duy mới của Đảng ta về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là tư duy mới về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ nhận thức Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thực thể thống nhất về tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, bao gồm toàn bộ các yếu tố địa lý, lãnh thổ, dân cư, các giá trị văn hóa - lịch sử,... và chế độ xã hội chủ nghĩa, Đại hội IX của Đảng đưa ra nội dung toàn diện về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị làn thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng đã cụ thể hoá: một là, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa1 (Xem: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.45-46).


Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội...; không để bị động, bất ngờ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.108-109, 109-110). Đồng thời đưa ra quan điểm: "Coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.108-109, 109-110).


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định và chỉ rõ: "Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng. Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.81-82).


Nội dung rộng lớn và toàn diện của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới nêu trên chi phối và quy định nội dung tư duy về lực lượng, sức mạnh; về phương thức đấu tranh; về đối tác - đối tượng; và tư duy về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Đảng ta.


Theo tư duy của Đảng, thực chất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất: bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư duy của Đảng thể hiện rõ tính chất toàn diện, thống nhất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời giữa các nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nội dung này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ nội dung khác, và ngược lại. Bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa cũng bao hàm cả bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.


Những quan điểm cho rằng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay "chỉ là bảo vệ đất nước, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia", không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng là những quan điểm thù địch, sai trái và phản khoa học. Tính chất thù địch, sai trái và phản khoa học đó thể hiện ở chỗ: thứ nhất, thực chất của những quan điểm đó là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, thủ tiêu lực lượng lãnh đạo và chế độ xã hội mà chỉ có nó nhân dân ta mới có được độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự; thứ hai, việc tách rời mặt tự nhiên - lịch sử và mặt chính trị - xã hội là điều không thể được đối với bất cứ tổ quốc nào. Những quan điểm đòi tách rời ra đó thực chất là nhằm hướng tới hủy hoại tính chất xã hội chủ nghĩa của mặt chính trị - xã hội của Tổ quốc Việt Nam, làm cho Tổ quốc Việt Nam của nhân dân ta mang tính chất khác, tính chất tư sản.


Tính chất nguy hiểm của quan điểm này thể hiện ở chỗ, không những nó làm cho chúng ta dễ rơi vào mất cảnh giác, trong thực tiễn bảo vệ Tổ quốc dễ dẫn đến chỉ chú trọng một chiều mặt bảo vệ này mà xem nhẹ, thậm chí bỏ qua mặt bảo vệ khác; mà còn làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa - mục tiêu, lý tưởng do chính lịch sử dân tộc ta, do chính nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn và phấn đấu hy sinh với biết bao mồ hôi, công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam suốt hơn tám thập kỷ qua - trong ý thức của nhân dân và của cả cán bộ, đảng viên. Thực tế, trong chúng ta không phải không có người khi nói đến bảo vệ Tổ quốc là chỉ nói đến bảo vệ đất nước, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, "không nói đến" bảo vệ chế độ; tính từ "xã hội chủ nghĩa" có vẻ như "dị ứng" trong nhận thức, tư tưởng của một số ít người.


Khẳng định sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ giữa bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là thể hiện rõ sự kiên định về con đường và mục tiêu độc lập dần tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh lịch sử mới trong tư duy của Đảng, ở đây cần phải nhận thức rõ thêm, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng hàm chứa cả việc bảo vệ chế độ và sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng cũng hàm chứa cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Điều đó phản ánh mối quan hệ, không thể tách rời giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lợi ích của Đảng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Mọi sự tách rời giữa các mặt của các mối quan hệ đó đều là không đúng với bản chất và thực chất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay và từ nay về sau, đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực tạo nên sức mạnh để dân tộc ta vững bước đi tới tương lai. Có giữ vững được độc lập dân tộc thì mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội; đồng thời chỉ có thể đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì nền độc lập dân tộc mới được bảo đảm vững chắc. Ngày nay, chúng ta nói bảo vệ đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với bảo vệ chế độ là sự kế thừa, là sự phát triển lôgích và nâng lên tầm cao mới tư tưởng của ông cha ta về bảo vệ "sơn hà" gắn với bảo vệ "xã tắc" trong điều kiện lịch sử mới, điều kiện lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình mới, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vừa là mục tiêu xây dựng vừa là mục tiêu bảo vệ. Đó là một sự biểu đạt mới về bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với bảo vệ chế độ trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Ở đây, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã được diễn đạt khác, làm cho các nội dung bảo vệ trở nên rõ ràng và cụ thể hơn, phù hợp và thích ứng hơn.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2022, 09:10:23 am »

2. Tư duy mới về đối tác và đối tượng là một nét nổi bật trong tư duy của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Bước vào giai đoạn mới của sự mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, Đảng ta có nhận thức mới và ngày càng rõ hơn về đối tượng và đối tác của cách mạng Việt Nam. Điểm nổi bật quan trọng là Đảng ta đã chuyển từ nhận thức "bạn - thù" sang nhận thức "đối tác - đối tượng"; xác định đúng vấn đề đối tác, đối tượng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Nhận thức và xử lý vấn đề đối tác và đối tượng là vấn đề đặc biệt quan trọng trong tư duy của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Nhận thức đó có thể tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau. Trong hoạch định chiến lược, sách lược cách mạng, đó là vấn đề sách lược đấu tranh; trong các hoạt động thuộc lĩnh vực quan hệ quốc tế, đó là nghệ thuật tranh thủ và phân hóa lực lượng, tập hợp lực lượng cho cách mạng; trong các biện pháp đấu tranh, đó là cách thức (phương thức) sử dụng lực lượng, xử lý tình huống để không rơi vào bị động, bất ngờ. Nhận thức và xử lý vấn đề đối tác và đối tượng là vấn đề rất phức tạp và đặc biệt nhạy cảm trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, của sự mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế hiện nay. Việc nước ta là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta trong việc mở rộng, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với bạn bè thế giới, đồng thời điều đó cũng là "thời cơ" cho những mưu toan chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, làm cho việc nhận thức và xử lý vấn đề đối tác và đối tượng càng trở nên phức tạp, khó khăn và nhạy cảm hơn. Mọi sự sơ xuất dù là nhỏ trong vấn đề này đều có thể dẫn đến những bất lợi, có hại đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta.


Đảng ta đã đúng khi khẳng định quan điểm nhất quán: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.119). Đồng thời xác định nguyên tắc phân biệt và xử lý, giải quyết vấn đề đối tác - đối tượng của cách mạng Việt Nam. Những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Trong tình hình diễn biến mau lẹ và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn nhận biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta. Trên cơ sở đó, cần khắc phục cả hai khuynh hướng mơ hồ mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và trong xử lý các tình huống cụ thể; đồng thời, "đề phòng sự thỏa hiệp có hại cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta"1 (Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Sđd, tr.52).


Tiếp tục tư duy từ Đại hội IX, Đại hội X và đến Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh quan điểm, Việt Nam "... là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.83-84). Đây là điểm rất mới trong nhận thức của Đảng ta trong hội nhập quốc tế và tư duy về đối tác, đối tượng của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.


Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm chú trọng giữ cho "trong ấm", "ngoài êm", coi đó là "kế sách" quan trọng để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới. Trong nhận thức cũng như trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta luôn chú trọng tập trung nỗ lực giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất, phát huy cao độ nội lực đất nước, giành thế chủ động trong mọi tình huống; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ; coi xây dựng là phương thức hữu hiệu để bảo vệ, chú trọng nâng cao khả năng "tự bảo vệ" của từng tổ chức, đơn vị và mỗi con người.


Quan điểm và những nguyên tắc nêu trên của Đảng ta trong xem xét và xử lý vấn đề đối tác và đối tượng là toàn diện và khoa học, cần phải được nhận thức đúng đắn và thực hiện tốt trong thực tiễn. Điều cần nhấn mạnh là, trong bối cảnh mới cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp diễn ra quyết liệt, với nội dung, hình thức và cách thức thể hiện mới, đan xen trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho việc nhận thức đối tác - đối tượng trở nên không dễ dàng, và việc bảo vệ độc lập dân tộc, an ninh quốc gia và thể chế chính trị của đất nước trở nên hết sức phức tạp, đòi hỏi việc xử lý vấn đề đối tác và đối tượng phải hết sức tỉnh táo.


Ở đây, phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải được vận dụng sáng tạo, linh hoạt. Những cái gì là "bất biến" phải kiên định, để có thể "vạn biến" được với tình hình. Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, định hướng xã hội chủ nghĩa, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, lợi ích đất nước, bản sắc văn hóa dân tộc, cuộc sống hòa bình của nhân dân... là những cái "bất biến", chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn. Dù có thể có áp lực rất mạnh từ những "luật chơi" trong quan hệ kinh tế quốc tế, những áp lực từ những quốc gia, những tổ chức quốc tế là đối tác quan trọng của chúng ta, thì vẫn không bao giờ được từ bỏ những cái "bất biến" ấy; trái lại càng phải với tinh thần chủ động tranh thủ, tận dụng những điều kiện quốc tế thuận lợi vừa phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo vệ vững chắc những cái gì thuộc về "bất biến". Không thể vì lợi ích cục bộ, nhất thời nào đó mà làm tổn hại đến lợi ích toàn cục; không để xảy ra sơ suất nào đó mà làm cho đối tác hiểu nhầm trở thành đối đầu; cũng không để đối tượng lợi dụng quá trình hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa để chui sâu chống phá cách mạng nước ta.


Những quan điểm cho rằng tư duy của Đảng về vấn đề đối tác và đối tượng là Đảng ta đã "xóa nhòa", đã "lờ đi" vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp; hoặc cho rằng, trong tình hình mới cần gì phải xác định đối tác và đối tượng, bởi tất cả các nước đã đều là bạn, đều là đối tác làm ăn với nước ta, vậy nên việc phân biệt đối tác và đối tượng chỉ là hành động dẫn đến "tự cô lập" mình mà thôi, đều là những quan điểm phiến diện, không đúng, không phù hợp với tình hình.


Tư duy của Đảng về vấn đề đối tác và đối tượng không phải là xóa nhòa vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp như người ta cố tình suy diễn, mà là sự thể hiện một tư duy đúng đắn trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, trên cơ sở lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân Việt Nam, thể hiện sự khôn khéo cần thiết trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Tư duy của Đảng về vấn đề đối tác và đối tượng cũng không phải là hành động dẫn đến "tự cô lập" mình như có người gán ghép, mà là sự cảnh giác, tỉnh táo, là phép ứng xử chính xác trong một thế giới đầy biến động trong không gian toàn cầu hóa đang ngày càng mở rộng như hiện nay. Có hiểu rõ tính chất, nội dung, đặc điểm, hình thức và sắc thái biểu hiện mới của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hiện nay, thì mới có thể thấy rõ được tính đúng đắn, khoa học và sáng tạo trong tư duy của Đảng ta về vấn đề đối tác và đối tượng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2022, 09:11:14 am »

3. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp. Đảng ta chỉ rõ: "Sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chính là sức mạnh tổng hợp. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nhân tố quyết định"1 (Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Sđd, tr.46). Quan điểm sức mạnh tổng hợp là quan điểm cơ bản của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quan điểm sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc ở Đại hội IX được Đảng ta cụ thể hóa thêm một bước tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội X và Đại hội XI của Đảng. Tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ: "Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.233).


Trong giai đoạn hiện nay, khi các lực lượng tiến bộ, cách mạng trên thế giới còn gặp nhiều khó khăn, Đảng ta tiếp tục khẳng định sức mạnh bên trong là chính, "phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc", cho thấy tầm quan trọng đặc biệt, vai trò quyết định của việc phát huy yếu tố nội lực, nhân tố bên trong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Điều đáng chú ý là, trong các nhân tố cấu thành sức mạnh bên trong, Đảng ta chỉ rõ, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định.


Tư duy mới của Đảng chỉ ra rằng, phẩm chất của đội ngũ cán bộ và đại đoàn kết toàn dân quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau trong viêç tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực cơ bản của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhưng khối đại đoàn kết dân tộc không thể được tăng cường, củng cố và phát huy đầy đủ sức mạnh nếu như không có được đội ngũ cán bộ thực sự đủ đức, đủ tài.


Sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, "những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa""1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.185) là một nguyên nhân cơ bản làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm rạn nứt, phá hủy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hủy hoại và làm suy yếu sức mạnh quốc gia, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử dân tộc đã chứng minh rõ, nếu không tạo dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực sự là "bức thành đồng", thì đó là nguy cơ mất nước trước họa xâm lăng của các thế lực bên ngoài. Vì vậy, muốn tăng cường khả năng quốc phòng, gia tăng sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, thì vấn đề cơ bản quyết định là phải củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với việc xây dựng và đào luyện đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ cả về phẩm chất và năng lực, khắc phục tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.


Trong tình hình mới, xây dựng và bảo vệ càng quan hệ chặt chẽ với nhau, xây dựng cũng là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ; bảo vệ trong xây dựng, xây dựng trong bảo vệ; bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng, xây dựng cũng là một bộ phận hợp thành của bảo vệ. Theo đó, đẩy lùi và khắc phục được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho bảo vệ; khắc phục tình trạng trên là yêu cầu đặc biệt quan trọng của bảo vệ và đó cũng là bảo vệ.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #4 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2022, 09:12:13 am »

4. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Trong điều kiện mới, tư duy về sự lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa có sự phát triển mới. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: "Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Sđd, tr.119). Tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: "Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 111). Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.83). Đây là nguyên tắc cơ bản của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và là quan điểm nhất quán của Đảng ta.


Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là điều không phải hoàn toàn mới. Cái mới ở đây là sự nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng là không thể thay thế, không thể bác bỏ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, để làm cho Tổ quốc này không những được bảo vệ vững chắc, mà còn thực sự là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trường tồn cùng dân tộc; làm cho vấn đề bảo vệ đất nước gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ và bảo vệ Đảng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cái mới ở đây còn thể hiện ở sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được thực hiện bằng những nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp; ngày càng được thể chế hóa, cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước; bằng việc phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Hiện nay, vẫn còn có quan điểm cho rằng: "không cần sự lãnh đạo của Đảng"; hoặc quan điểm có vẻ như "mềm dẻo" hơn khi cho rằng "không cần", "không nên" nói đến sự lãnh đạo của Đảng, vì như thế sẽ không phát huy được vai trò của tất cả các lực lượng, không tạo nên được sự "đồng thuận xã hội" và sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc. Các thế lực thù địch còn lớn tiếng cho rằng, hiện nay "không cần phân biệt chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, không cần chính trị, chỉ cần tiền, bỏ Đảng cũng được"1 (Diễn biến hòa bình và đấu tranh chống diễn biến hòa bình, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.95). Chúng lập luận: "Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ"2 (Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.53, 59), chúng miêu tả Đảng ta có "một bộ máy đã tạo nên một xã hội không có tự do dân chủ"3 (Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.53, 59). Chúng còn lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta để công kích, nói xấu Đảng ta, rồi "đòi" xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng. Mục đích chống phá của các thế lực thù địch là rất rõ ràng. Nếu chưa thể hạ bệ được sự lãnh đạo của Đảng thì cũng làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào đường lối, chính sách của Đảng, làm suy yếu Đảng, suy yếu sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.


Sự chống phá của các thế lực thù địch càng nói lên một sự thật là, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không ai có thể thay thế vai trò lịch sử này của Đảng. Xem nhẹ, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng là điều nguy hại đến chính sự tồn vong của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tư duy về sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc chỉ ra rằng, vấn đề cơ bản đầu tiên hiện nay là Đảng phải tự nâng mình lên ngang tầm với nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đủ sức lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, Đảng phải thực hiện nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng cần xác định đúng đắn và kịp thời đường lối, quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng quân đội nhân dân trong thời kỳ mới. Điều đặc biệt quan trọng là, phải dành nhiều công sức hơn nữa nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng, của mọi cán bộ, đảng viên; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.


Tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa có nội dung rộng lớn và toàn diện, quan hệ mật thiết và gắn bó chặt chẽ với tư duy mới của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn 25 năm đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế tăng trưởng; chính trị - xã hội ổn định; môi trường hòa bình được giữ vững; quốc phòng và an ninh được củng cố và giữ vững; sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng làm nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử đó.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #5 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2022, 09:13:34 am »

MỐI QUAN HỆ GIỮA NHIỆM VỤ QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và quá trình toàn cầu hóa, cũng như những vấn đề mới của thế giới đương đại, những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, quân sự trên thế giới, cùng với sự phát triển của công cuộc đổi mới đất nước 25 năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề rất mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Trong bối cảnh đó, Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ những vấn đề cơ bản của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sâu sắc tư duy mới của Đảng, phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra.


1. Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới được Đảng ta xác định cả trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), cả trong Chiến lược và Báo cáo chính trị: "Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.81-82).


Tư duy của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có nhiều phát triển so với vấn đề được trình bày trong Cương lĩnh năm 1991; đặc biệt là đã phát triển nhận thức "bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân" (trong Cương lĩnh năm 1991) thành "bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa", được chính thức xác định trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011).


Tư duy của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thể hiện trên những vấn đề chính: Thứ nhất, Đảng ta nhấn mạnh sự thống nhất hữu cơ giữa bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa như một chỉnh thể thống nhất; gắn chặt bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân với bảo vệ chế độ. Thứ hai, nhận thức rõ tính chất toàn diện, thống nhất và môi quan hệ chặt chẽ giữa các nội dung bảo vệ; bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn chặt với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; bảo vệ chế độ bao hàm cả việc bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Thứ ba, Đảng ta xác định "giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội" là điều kiện căn bản để xây dựng đất nước; xác định rõ: "Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.82). Thứ tư, đề cao yêu cầu "chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta".


Các vấn đề trên quan hệ chặt chẽ với nhau trong mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; chúng vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch sử mới. Tổ quốc bao gồm hai phương diện: tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, đều phải được bảo vệ trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nội dung rộng lớn và toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa bao hàm cả nhiệm vụ của quốc phòng và nhiệm vụ của an ninh trong mối quan hệ thống nhất, không tách rời nhau.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #6 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2022, 09:15:06 am »

2. Đảng ta xem xét quốc phòng và an ninh, nhiệm vụ quốc phòng và nhiệm vụ an ninh, chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh trong sự thống nhất, quan hệ chặt chẽ với nhau, xen lồng và thâm nhập lẫn nhau; khái niệm quốc phòng và khái niệm an ninh được Đảng ta nhìn nhận rộng lớn và toàn diện.

Một là, quốc phòng và an ninh đều được đặt trong mối quan hệ thống nhất cùng mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Theo tư duy của Đảng, quốc phòng là công việc giữ nước, nhưng không chỉ để nhằm chống xâm lược, chống sự phá hoại của các thế lực bên ngoài đối với đất nước. An ninh không chỉ là vấn đề giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội. Cả quốc phòng và an ninh đều hướng vào mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc trên cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là đồng nhất quốc phòng với an ninh, an ninh với quốc phòng. Đây vẫn là hai lĩnh vực có tính độc lập tương đối, phải căn cứ vào đối tượng, âm mưu, thủ đoạn, tính chất của sự việc để sử dụng lực lượng nào là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; và cả hai lĩnh vực này đều cần được tăng cường, đều được Đảng ta nhấn mạnh là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Việc nhận rõ sự thống nhất, mối quan hệ chặt chẽ và sự khác biệt giữa quốc phòng và an ninh làm cơ sở cho việc hoạch định và thực hiện chiến lược, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được hiệu quả.


Hai là, quốc phòng và an ninh quan hệ chặt chẽ với nhau cả về thế trận và lực lượng. Thế trận và lực lượng của nền quốc phòng toàn dân quan hệ chặt chẽ với thế trận và lực lượng của nền an ninh nhân dân trong thế trận và lực lượng chung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ thống nhất, tác động lẫn nhau giữa quốc phòng và an ninh được Đảng ta nhấn mạnh trong sự kết hợp sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh. Vấn đề kết hợp chiến lược quốc phòng với chiến lược an ninh trên cả phương diện tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận, cả phương diện hoạt động thực tiễn trong chiến lược chung bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta đặc biệt quan tâm: "Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.45). Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vừa phải bảo đảm sử dụng có hiệu quả mọi lực lượng, cả vật chất và tinh thần, nhằm hoàn thành thắng lợi những yẽu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vừa phải phù hợp với tính chất, đặc thù của từng lĩnh vực. Lực lượng quốc phòng toàn dân cũng như lực lượng an ninh nhân dân bao gồm toàn bộ lực lượng vật chất, tinh thần quốc gia, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đóng vai trò nòng cốt.


Nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với lực lượng và thế trận vững chắc đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu bảo vệ Tổ quốc sẽ tạo thuận lợi căn bản cho sự vững mạnh của nền an ninh nhân dân. Nền an ninh nhân dân vững chắc, đến lượt mình, lại là điều kiện tăng cường sức mạnh quốc phòng, đẩy lùi và ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn chống phá, gây mất an ninh chính trị - xã hội. Vì thế, xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân phải gắn bó với xây dựng lực lượng và thế trận an ninh nhân dân, và ngược lại.


Đó là mối quan hệ thống nhất, biện chứng, phản ánh nội dung và yêu cầu cơ bản của việc xây dựng lực lượng và thế trận của cả hai lĩnh vực này ở nước ta trong tình hình mới. Việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh trong xây dựng thế trận và lực lượng là cả vấn đề nghệ thuật trên quy mô toàn quốc, cũng như trong từng địa bàn, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể. Đảng ta xác định rõ: "Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Gắn kết quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án. Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, quan tâm đặc biệt đến các vùng, địa bàn trọng điểm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.138, 82), cả quốc phòng và an ninh đều phải gắn bó với kinh tế và đều phải kết hợp chặt chẽ với kinh tế: "Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.138, 82).


Ba là, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận của an ninh nhân dân. Hoạt động quốc phòng và hoạt động an ninh là hoạt động của cả nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, hoàn cảnh. Mọi hoạt động quốc phòng và hoạt động an ninh đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Đó là vấn đề nguyên tắc, được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh tại Đại hội XI: "Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.83), coi đó là yếu tố cơ bản quyết định bảo đảm cho nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân thực sự vững mạnh.


Trong tình hình mới, trước sự chống phá quyết liệt và tinh vi của các thế lực thù địch, trước âm mưu, thủ đoạn "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang hòng làm cho quân đội và công an mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, thì vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội và công an càng trở nên cấp bách. Đây không chỉ là sự tuân thủ nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân, mà còn là đòi hỏi bức thiết từ tình hình, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong bối cảnh lịch sử mới.


Bốn là, xây dựng quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân đủ mạnh, gắn bó với nhau đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo tư duy của Đảng, quốc phòng và an ninh vừa phải ngăn chặn được mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, vừa phải tạo điều kiện thuận lợi cho bạn bè quốc tế trong quá trình hợp tác với Việt Nam. Đồng thời, vừa phải có sức mạnh cần thiết ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, vừa phải đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu của phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc cả vũ trang và phi vũ trang trong tình hình mới. Đây còn là yêu cầu của việc giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hợp tác và quan hệ kinh tế với nước ngoài đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; là yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ "tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.46) trong tình hình mới.


Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: "Tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở đất liền, vùng trời, vùng biển và hải đảo. Giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Van kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.137, 46, 82, 45); đồng thời nhấn mạnh: "Tiếp tục hoàn thiện các chiến lược quốc phòng, an ninh và hệ thống cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Van kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.137, 46, 82, 45). Đặc biệt, Đảng ta tiếp tục khẳng định nguyên tắc, phương châm xây dựng quân đội và công an trong tình hình mới: "Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Van kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.137, 46, 82, 45); "có số lượng hợp lý, có sức chiến đấu cao"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.137, 46, 82, 45).


Tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thể hiện tại Đại hội XI là sự tổng kết và phát triển nhận thức của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay, đặc biệt là kẽ thừa, phát triển Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #7 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2022, 08:54:24 am »

XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
GẮN BÓ CHẶT CHẼ VỚI NHAU


Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đối với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Nhận thức và giải quyết đúng mối quan hệ cơ bản này thì sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thành công; ngược lại, cách mạng sẽ gặp khó khăn, thậm chí bị thất bại. Trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, căn cứ vào tình hình cụ thể trong từng giai đoạn, từng thời kỳ mà việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này co những yêu cầu và nội dung khác nhau. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn và xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược quan hệ chặt chẽ với nhau.


1. Ngay từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền nhà nước, trở thành "dân tộc", có Tổ quốc của riêng mình, thì mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã thể hiện là mối quan hệ tự nhiên, không thể tách rời. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa không tự nhiên xuất hiện, cũng không mặc nhiên đứng vững. Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa đã đưa đến sự thay đổi căn bản vị thế của các giai cấp trong xã hội. Với giai cấp vô sản, từ địa vị nô lệ, làm thuê, không có Tổ quốc "trở thành dân tộc", trở thành chủ nhân thực sự cúa Tổ quõc.


Sự xuất hiện Tổ quốc xã hội chủ nghĩa quy định tính tất yếu khách quan phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và sự gắn bó khăng khít giữa hai mặt xây dựng và bảo vệ trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân khi đã có chính quyền nhà nước. C.Mác và Ph.Ăngghen là người đầu tiên khẳng định một cách rõ ràng, giai cấp công nhân phải bảo vệ thành quả của mình. Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin kế thừa, phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới và đã đưa ra học thuyết về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm rõ hơn trên thực tiễn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.


Thực tiễn lịch sử cho thấy, sau Cách mạng Tháng Mười, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới xuất hiện thì không chỉ giai cấp tư sản Nga phản kháng lại, mà cả thế giới đế quốc chủ nghĩa đã xúm lại xâu xé nước Nga hòng tiêu diệt Nhà nước xã hội chủ nghĩa non trẻ. Chỉ dẫn của V.I.Lênin về "Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ"1 (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.37, tr.145) và chủ trương bảo vệ Tổ quốc Nga ngay từ ngày 25 tháng Mưòi năm 1917 đã giúp nhân dân Nga thời kỳ đó và nhân dân Liên Xô sau này không những thành công trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn bảo vệ được Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của mình trước mọi sự chống phá điên cuồng của kẻ thù bên trong và bên ngoài.


Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đúng đắn về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện hết sức sâu sắc trong bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 và trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến được Người đọc vào mùa đông năm 1946 khi thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam một lần nữa. Đồng thời, tư tưởng đó thể hiện sinh động trong thực tiễn quá trình Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.


Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hết sức phong phú. Sự phong phú đó không chỉ biểu hiện ở những nội dung, hình thức, bước đi của quá trình xây dựng và bảo vệ, mà còn thể hiện ở nét đặc sắc bởi tính đặc thù lịch sử của quá trình đó. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam luôn thống nhất và tạo điều kiện cho nhau phát triển. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tạo ra những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; đồng thời quá trình bảo vệ Tổ quốc lại tạo ra sự ổn định, môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng đất nước.


Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, một nửa đất nước được giải phóng, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bắt tay ngay vào xây dựng đất nước, đồng thời tiến hành một cách chủ động các hoạt động bảo vệ miền Bắc với tính chất là bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta tiến hành khôi phục kinh tế sau chiến tranh, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế miền Bắc, đẩy mạnh công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; củng cố bộ máy chính quyền nhà nước. Đại hội III của Đảng xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam ở hai miền, đẩy mạnh xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục, xây dựng quân đội chính quy, hiện đại... đó là những công việc phản ánh sinh động thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ một nửa đất nước được giải phóng. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tạo điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tinh thần cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta trong thời kỳ này.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa được đặt ra một cách trực tiếp. Sau 10 năm xây dựng và chuẩn bị mọi mặt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Bắc tự tin, vững vàng bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thực hiện phương châm "vừa sản xuất, vừa chiến đấu", nhân dân miền Bắc đã kiên cường, anh dũng chiến đấu bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm chỗ dựa vững chắc, chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam, đưa cách mạng miền Nam từng bước tiến lên, tiến tới thắng lợi hoàn toàn.


Kết thúc thắng lợi nhiệm vụ thiêng liêng của cách mạng Việt Nam là giải phóng miền Nam, giành độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta khẩn trương triển khai đồng bộ các nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước. Nhanh chóng tiến hành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, xác định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ.


Những nội dung về chính trị được tiến hành trong thời kỳ này đã mở ra một trang mới, tạo cơ sở chính trị vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những nội dung quân sự, quốc phọng được triển khai thực hiện theo yêu cầu mới. Chúng ta đã tiến hành các công việc chuyển đất nước từ thời chiến sang thời bình; tinh giản lực lượng quân đội phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ thời bình, chuyển một bộ phận sang làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng đất nước; tổ chức lại lực lượng bộ đội chủ lực theo hướng giảm thường trực, tăng lực lượng dự bị động viên, bố trí lại thế trận quốc phòng thống nhất trong phạm vi cả nước, sắp xếp lại lực lượng dân quân, tự vệ cho phù hợp yêu cầu thời bình.


Trong quá trình đổi mới đất nước, mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa tiếp tục thể hiện sinh động trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới đất nước đã đạt được thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi toàn diện; kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững.


Có được những kết quả và thành tựu trên, vấn đề có ý nghĩa quyết định là vì chúng ta đã nhận thức và giải quyết thành công mối quan hệ giữa xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #8 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2022, 08:55:51 am »

2. Quán triệt quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin; vận dụng và phát triển quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới; căn cứ vào bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng đã xác định rõ mối quan hệ thống nhất giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: "Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.10).


Đại hội VIII của Đảng khẳng định mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và chỉ rõ: "Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa".


Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục phát triển, thể hiện trong việc "Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Sđd, tr.117). Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng ra Nghị quyết chuyên đề về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", tiếp tục khẳng định quan điểm kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tại Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: "Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.110). Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006) đã phân tích sâu sắc sự phát triển nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, và đặt vấn đề: "Trong điều kiện mới, cần có nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"2 (Báo cáo Tổng kết một sô vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.146).


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng chỉ rõ quan hệ "giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa" là một "mối quan hệ lớn", cần "phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.72).


Như vậy, trong nhận thức tư tưởng lý luận, Đảng ta luôn nhận thức và không ngừng phát triển tư duy lý luận về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình.    Đảng ta đã xác định Chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đúng đắn, có giá trị lý luận và thực tiễn cao và giáo dục, quán triệt sâu sắc các nội dung của chiến lược đó cho các tầng lớp nhân dân. Điều đó phản ánh tư duy chiến lược mới của Đảng ta về chính trị, quân sự trên cơ sở bám sát thực tiễn tình hình và những yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ thống nhất, chặt chẽ với nhau, tuy nhiên trong từng giai đoạn cách mạng khác nhau, thì nội dung cụ thể và sự thể hiện mối quan hệ đó có sự khác nhau. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, nhưng lại luôn xác định nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ "trọng yếu thường xuyên". Đó là quan điểm đúng đắn và khoa học, thể hiện sâu sắc tư duy của Đảng về mối quan hệ hữu cơ này trong điều kiện lịch sử mới.


Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, không có nghĩa là coi nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là thứ yếu; xác định nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên", cũng không có nghĩa là không tập trung cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Bản chất mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thể hiện cụ thể và sâu sắc ở chỗ, trong bảo vệ có xây dựng, trong xây dựng có bảo vệ. Bảo vệ không chỉ là phòng ngừa mà trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt; khắc phục được nguy cơ tụt hậu về kinh tễ cũng là biện pháp bảo vệ, là tạo điều kiện vững chắc cho bảo vệ; bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng, xây dựng cũng là một bộ phận hợp thành của bảo vệ; xây dựng là một "phương thúc hữu hiệu" để bảo vệ Tổ quốc. "Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.82).


Những giải pháp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng nằm trong những giải pháp xây dựng đất nước; những giải pháp xây dựng đất nước còn được thể hiện trong các giải pháp bảo vệ Tổ quốc. Quốc phòng, an ninh và kinh tế ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau trong mục tiêu, nội dung, biện pháp xây dựng đất nước và cả trong mục tiêu, nội dung, biện pháp bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ không chỉ là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước, mà còn là yêu cầu sống còn của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Những nhận thức lý luận và quan điểm trên của Đảng cho thấy rõ mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ thống nhất, gắn bó chặt chẽ khăng khít với nhau, tạo điều kiện cho nhau, không thể tách rời, cần phải được kết hợp chặt chẽ trong tất cả các lĩnh vực, trong mọi cấp, mọi ngành, cả vĩ mô và vi mô, cả trung ương và địa phương. Quan điểm lý luận trên của Đảng là sự phát triển tư duy và nhận thức lý luận về quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của cách mạng xã hội chủ nghĩa, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta trong điều kiện mới.


Thế nhưng, trong tư tưởng và trong thực tế hiện nay vẫn có những biểu hiện không đúng, sai trái đối với quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đã không nhận thức đúng hoặc xuyên tạc quan điểm của Đảng về mối quan hệ cơ bản này. Thực tế hiện nay không phải không có nhận thức kinh tế đơn thuần trong phát triển kinh tế, còn có quan điểm cho rằng các đơn vị và tổ chức kinh tế chỉ làm nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, còn nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là "của riêng" lực lượng vũ trang, của riêng quân đội và công an.


Vẫn còn có những biểu hiện lệch lạc, xem nhẹ, lơ là nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ở một số cán bộ, đảng viên, như yêu cầu giảm chi phí cho quốc phòng, cho quân đội, giảm số quân thường trực đến mức tối thiểu, mà không thấy hết tầm quan trọng chiến lược của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Vẫn còn những nhận thức quân sự đơn thuần trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; cho rằng hoạt động của lực lượng vũ trang, của quân đội nhân dân chỉ thuần tuý "là hoạt động quân sự" mà không thấy hết phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội còn là để bảo vệ Tổ quốc và lực lượng vũ trang cũng cần phải tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước.


Còn có biểu hiện tư tưởng tách rời giữa xây dựng với bảo vệ khi cho rằng, ngày nay chỉ cần tập trung nỗ lực cho phát triển kinh tế, không nên nói nhiều đến bảo vệ, vì trong phát triển kinh tế đã là bảo vệ, đã có bảo vệ, hơn nữa nói nhiều đến bảo vệ, quan tâm nhiều đến bảo vệ thì "dễ bị cô lập" trong quan hệ quốc tế, "gây nhiều khó khăn cho nhiệm vụ xây dựng đất nước". Nhận thức tư tưởng này không những không đúng với thực chất của mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ, mà còn gây nguy hại đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và cả chính sự nghiệp xây dựng kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Làm sao có thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hiện thực hóa được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh khi quốc phòng, an ninh không được giữ vững, môi trường hòa bình, ổn định không được bảo đảm, kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng bị chệch hướng. Nếu chúng ta không quan tâm đúng mức đẽn bảo vệ, không thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, không làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch thì không những kinh tế sẽ không phát triển, xã hội sẽ không ổn định, mà thậm chí còn bị trượt sang quỹ đạo khác; những thành tựu của sự nghiệp phát triển kinh tế nếu có, thì cũng không thực sự phục vụ cho lợi ích của đất nước, dân tộc, lợi ích của các tầng lớp nhân dân, mà lại chỉ phục vụ cho lợi ích của một số ít người, thậm chí cho lợi ích của các thế lực thù địch. Sự chệch hướng của sự phát triển này là điều hết sức nguy hiểm bởi chúng ta không dễ dàng nhận biết được sự chuyển động của quá trình đó, và còn bởi những "lợi ích kinh tế, vật chất" sẽ làm cho không ít người bị "loá mắt", mất cảnh giác, đề phòng. Say sưa phát triển kinh tế bằng mọi giá mà không quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thì sẽ dẫn đến những hành động tự mình thủ tiêu chính những thành quả cách mạng của mình.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 891



« Trả lời #9 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2022, 08:56:33 am »

3. Trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới của cách mạng, cần phải tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ và toàn diện hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam dựng nước đi đôi với giữ nước, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm, quy luật đó vào thực tiễn cách mạng, cần nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, đó là hai mặt cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luôn gắn bó chặt chẽ, tác động lẫn nhau, tạo tiển để, điều kiện cho nhau; mọi sự tách rời hai mặt này ra đều dẫn đến những hậu quả nguy hại cho cách mạng, cần nhận thức rõ rằng, sự gắn bó giữa xây dựng và bảo vệ; giữa phát triển kinh tễ - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc là trong cùng mục tiêu thống nhất: vừa bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa giữ vững được độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Chúng ta cần thống nhất nhận thức và cụ thể hơn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn xây dựng, phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Xác định rõ, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai mặt hoạt động diễn ra trong mỗi tổ chức, mỗi con người, mỗi ngành, mỗi cấp, trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, không thể tách rời nhau. Quan điểm "tự bảo vệ" với tư cách vừa là yêu cầu, vừa là phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần phải được nhận thức đúng đắn và cụ thể hơn đúng với tầm quan trọng của nó.


Tư duy về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chỉ ra rằng, kết hợp chặt chẽ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh là sự kết hợp chặt chẽ trong một chiến lược chung thống nhất nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực của đất nước, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội phải là một bước tạo điều kiện, tiền đề để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân cả tiềm lực và thế trận, gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như trong từng kế hoạch, quy hoạch cụ thể ở các địa phương, các ngành phải vừa chú ý đến mục tiêu kinh tế - xã hội vừa chú ý đến yêu cầu của quốc phòng, an ninh, phải tính đến việc sử dụng được cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa "khi cần thiết". "Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.82).


Bản chất, yêu cầu của mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa còn chỉ ra rằng, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội cũng phải có "thế trận", có "thế trận" của nền kinh tế. Đó là thế bố trí chiến lược phát triển kinh tế trên tất cả các vùng, miền của Tổ quốc, trong tất cả các cấp, các ngành, tạo ra sự liên hoàn và phát triển nhịp nhàng của toàn bộ nền kinh tế đất nước. Đồng thời, thế bố trí chiến lược kinh tế ấy phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Thế trận đó phải đáp ứng yêu cầu trong thời bình thì mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; khi chiến tranh xảy ra thì nhanh chóng huy động sức người, sức của đáp ứng yêu cầu chiến tranh, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, quân với dân một ý chí, quyết tâm chiến thắng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM