Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Sáu, 2022, 01:34:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm QĐND Việt Nam  (Đọc 1380 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #160 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2022, 02:47:34 pm »


TỔNG CỤC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG - KINH TẾ

Cơ quan giúp Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với các xí nghiệp sản xuất quốc phòng, các cơ sở kinh tế của quân đội và làm tham mưu cho Nhà nước về động viên công nghiệp phục vụ quốc phòng; đồng thời trực tiếp quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh và nghiên cứu khoa học kỹ thuật trực thuộc tổng cục.

Ngày thành lập tổng cục: 3 tháng 3 năm 1989.

Ngày truyền thống: 15 tháng 9 năm 1945 (ngày thành lập Phòng Quân giới).

Ngay từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, một số xưởng chế tạo vũ khí được tổ chức ở các căn cứ đã bảo đảm một phần vũ khí cho các lực lượng vũ trang cùng nhân dân khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Cách mạng tháng Tám thành công, Phòng (sau đổi thành cục) Quân giới được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã chỉ đạo các xưởng quân giới ở các địa phương trên cả nước chế tạo một số loại vũ khí, đặc biệt là vũ khí diệt xe tăng, cơ giới, bảo đảm một phần quan trọng vũ khí cho các lực lượng vũ trang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, nhất là từ khi Đảng ta chủ trương đấu tranh vũ trang ở miền Nam, nhiều xí nghiệp quốc phòng chuyên sản xuất và sửa chữa súng, đạn của bộ binh, khí tài, súng pháo..., đã được thành lập, phối hợp với các viện nghiên cứu, các trường đại học, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước bạn về trang bị kỹ thuật, ngành quân giới đã cải tiến nhiều loại vũ khí, đặc biệt là vũ khí phòng không, chế tạo phương tiện rà phá thủy lôi, bom từ trường, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại, ngăn chặn và phong tỏa quy mô lớn của đế quốc Mỹ trên miền Bắc.

Hướng về chiến trường miền Nam, các cơ quan kỹ thuật, các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng đã nghiên cứu, chế tạo và cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài, đặc biệt là các loại vũ khí bộ binh, một số vũ khí cho pháo binh, đặc công..., đáp ứng kịp thời nhu cầu của các chiến trường.

Được sự chi viện từ miền Bắc về cán bộ, công nhân kỹ thuật, máy móc, nguyên vật liệu..., hệ thống các xưởng quân giới ở miền Nam đã hình thành, ngày càng phát triển. Tuy quy mô không lớn, các xưởng này đã sản xuất tại chỗ được một số lượng quan trọng vũ khí; trong đó có những loại vũ khí diệt địch có hiệu quả, lại dễ sử dụng, phù hợp với trình độ tổ chức và cách đánh của các lực lượng vũ trang ba thứ quân; đồng thời tích cực nghiên cứu cải tiến vũ khí thu được của địch để đánh địch, góp phần đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân, đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đất nước thống nhất, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, các cơ sở công nghiệp quốc phòng được tổ chức và từng bước đổi mới công nghệ, góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đồng thời phát huy năng lực sản xuất công nghiệp phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của đất nước.

Tổng cục Công nghiêp quốc phòng và kinh tế được thành lập (năm 1989) đánh dấu bước phát triển mới của nền công nghiệp quốc phòng nước ta trong việc bảo đảm nhu cầu trang bị cho các lực lượng vũ trang nhân dân.

Phần thưởng:
- Bốn đơn vị và tám cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
- Nhiều phần thưởng cao quý khác.





TỔNG CỤC TÌNH BÁO

Cơ quan nghiên cứu về tình hình địch, trực thuộc Đảng ủy quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Ngày truyền thống: 25 tháng 10 năm 1945.

Ngày thành lập tổng cục: 18 tháng 9 năm 1992.

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, Phòng Tình báo Bộ Tổng Tham mưu được thành lập ngày 25 tháng 10 năm 1945. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, vừa làm vừa học hỏi; vừa làm, vừa tuyển chọn lực lượng, xây dựng tổ chức..., nên chỉ trong một thời gian ngắn, Phòng Tình báo đã đặt được cơ sở ở 20 tỉnh Bắc Bộ và sáu tỉnh Trung Bộ. Ở Nam Bộ, công tác nắm địch do Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tổ chức và lực lượng tình báo có bước phát triển mới. Ngày 20 tháng 3 năm 1947, Cục Tình báo Bộ Tổng chỉ huy được thành lập. Ở Bộ Tổng Tham mưu, thành lập Phòng 2 - Quân báo. Trong thư gửi hội nghị tình báo toàn quốc ngày 10 tháng 3 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ “Tình báo là tai mắt của quân đội, trách nhiệm của nó rất quan trọng”. Binh pháp nói: “biết mình, biết địch, trăm trận đều thắng. Muốn biết địch thì phải có tình báo giỏi; muốn khỏi địch biết ta cũng phải có tình báo giỏi”.

Đầu năm 1950, trước những yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Bộ Tổng chỉ huy đã chỉ thị đưa một bộ phận của Cục Tình báo tăng cường cho Phòng Quân báo để thành lập Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu (7-1950). Một bộ phận của Cục Tình báo sáp nhập với Nha Công an để thành lập Ty Tình báo Nha Công an; tháng 5 năm 1951 tổ chức lại thành Nha. Liên lạc trực thuộc Phủ Thủ tướng.

Thực hiện chỉ thị của Bác, công tác tình báo và tổ chức tình báo đã được chấn chỉnh, thống nhất chỉ đạo trong toàn quốc, phát triển nhiều phương thức nắm địch như: điệp báo, trinh sát bộ đội, trinh sát kỹ thuật, nghiên cứu tổng hợp, khai thác tù hàng binh... Lực lượng quân báo luôn bám sát các chiến trường, phục vụ các chiến dịch, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, ngày 10 tháng 6 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định thống nhất các tổ chức tình báo và quân báo - thành lập Cục Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Các phương thức nắm địch được phát triển cả chiều rộng, chiều sâu trên các chiến trường. Vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ và thử thách quyết liệt, các lực lượng làm công tác nắm địch đã kiên cường dũng cảm, mưu trí, thu thập được nhiều tin chiến lược, chiến dịch phục vụ quân và dân cả nước đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi.

Đất nước thống nhất, các lực lượng và tổ chức tình báo từng bước được kiện toàn, nâng cao chất lượng và hiệu quả trên tất cả các mặt hoạt động phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, góp phần bảo vệ Tổ quốc, chống âm mưu diễn biến hòa bình, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, các lực lượng và tổ chức tình báo có những yêu cầu cao hơn. Để đáp ứng yêu cầu phục vụ giai đoạn cách mạng mới, ngày 18 tháng 9 năm 1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra nghị định thành lập Tổng cục Tình báo - Bộ Quốc phòng.

50 năm xây dựng và hoạt động, ngành tình báo đã trưởng thành vững chắc, lập nhiều chiến công xuất sắc, xây dựng nên những truyền thống rất vẻ vang, được Đảng, Nhà nước tin cậy, nhân dân yêu mến.

Phần thưởng:
- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Độc lập hạng nhất.
- Huân chương Quân công hạng nhất.
- Nhiều Huân chương Chiến công và các phần thưởng cao quý khác.

Trong tổng cục có 12 đơn vị và 14 cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có một đơn vị được tuyên dương ba lần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #161 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2022, 02:48:33 pm »


THANH TRA BỘ QUỐC PHÒNG

Cơ quan thanh tra quản lý nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng.

Trụ sở: nhà số 30 - phố Điên Biên Phủ - Hà Nội

Ngày thành lập: 25 tháng 1 năm 1948 (Cục Tổng thanh tra thuộc Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam).

Từ tổ chức tiền thân là Phòng Kiểm tra Bộ Tổng chỉ huy (1947). Cơ quan thanh tra quân đội đã nhiều lần thay đổi tổ chức và mang những tên gọi khác nhau: Cục Tổng Thanh tra (1948), Đoàn Thanh tra Bộ Quốc phòng (1949), Ban Thanh tra quân đội (1956), Ủy ban Thanh tra quân đội (1971), Tổng Thanh tra quân đội (1980), từ năm 1992 là Thanh tra Bộ Quốc phòng.

Các đồng chí đã từng lãnh đạo, chỉ huy cơ quan thanh tra quân đội qua các thời kỳ: Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (Tổng thanh tra quân đội-1948), Thiếu tướng Trần Tử Binh (Tổng thanh tra quân đội-1956), Trung tướng Nguyễn Đôn (Chủ nhiệm Ủy ban thanh tra quân đội-1971), Trung tướng Trần Quý Hai (Chủ nhiệm, Ủy ban thanh tra quân đội - 1973), Thượng tướng Lê Quang Hòa (Tổng thanh tra quân đội-1980), Thượng tướng Hoàng Cầm (Tổng thanh tra quân đội-1987).

Từ ngày thành lập, cơ quan thanh tra quân đội đã tổ chức hàng nghìn cuộc thanh tra, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực quân sự, quốc phòng và phục vụ cho các nhiệm vụ kinh tế, xã hội cấp thiết, theo yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, góp phần xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

Cơ quan thanh tra quân đội đã soạn thảo các văn bản pháp quy về thanh tra quân đội như: Điều lệ công tác thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam; Quy chế công tác thanh tra trong lực lượng vũ trang; Quy chế tổ chức và hoạt động thanh tra quốc phòng; thông tư hướng dẫn thực hiện pháp lệnh khiếu nại, tố cáo trong quân đội; tham gia soạn thảo pháp lệnh thanh tra Nhà nước và pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân...

Hai phái viên thanh tra quân đội đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ tại chiến trường trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước.

Phần thưởng:
Huân chương Quân công hạng nhất.
Huân chương Chiến công hạng hai và nhiều phần thưởng cao quý khác.





VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG

Cơ quan thuộc cơ cấu Viện Kiếm sát nhân dân tối cao, thực hiện chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong quân đội.

Trụ sở: nhà số 2 - phố Lý Nam Đế - Hà Nội.

Ngày thành lập: 12 tháng 5 năm 1961.

Ngày truyền thống: 26 tháng 7 năm 1960.

Các đồng chí đã từng được cử làm Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương: Thiếu tướng Lê Quang Đạo (1961 - 1962), Đại tá Lê Đình Thiệp (1962 - 1967), Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam (1967 - 1978), Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn (1978-1982).

Những năm 1946 - 1960, trong hệ thống tòa án binh các cấp đã có ủy viên công tố, thực hiện quyền công tố nhà nước. Từ năm 1961, căn cứ vào Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 và Luật tổ chức Việt kiểm sát nhân dân năm 1960, hệ thống các viện kiểm sát quân sự trong đó có Viện Kiểm sát quân sự Trung ương được thiết lập, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổng cục trực thuộc Bộ Quốc phòng, các quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn và cấp tương đương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra trong quân đội, trong việc xét xử các vụ án hình sự của tòa án quân sự; trong việc thi hành án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trong việc giam giữ, cải tạo và phạt giam kỷ luật quân nhân; chỉ đạo viện kiểm sát quân sự các cấp thực hiện các mặt công tác kiểm sát và xây dựng ngành.

Từ năm 1961 đến năm 1991, viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã tiến hành và chỉ đạo toàn ngành thực hiện hơn 6.300 cuộc kiểm sát việc chấp hành pháp luật, kiểm sát điều tra; xử lý trên 37.000 vụ án hình sự; góp phần đấu tranh phòng và chống vi phạm, tội phạm, làm trong sạch nội bộ; giáo dục cán bộ, chiến sĩ sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, trả lại cho Nhà nước và quân đội hàng tỷ đồng do hành vi vi phạm và phạm tội gây ra.

Phần thưởng:
- Huân chương Quân công hạng hai.
- Nhiều phần thưởng cao quý khác của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng.





TÒA ÁN QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG

Cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức trong quân đội thuộc cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân tối cao. Bộ phận cao nhất của hệ thống tổ chức tòa án quân sự.

Có nhiệm vụ:

+ Xét xử theo các trình tự:

- Sơ thẩm đồng thời là chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, những vụ án mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi khởi tố có quân hàm cấp tướng hoặc là người có chức vụ chỉ huy trưởng sư đoàn, cục trưởng và cấp tương đương trở lên, những vụ án thuộc thẩm quyền tòa án quân sự quân khu và tương đương nhưng Tòa án quân sự Trung ương lấy lên để xét xử.

- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của các tòa án quân sự cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị

- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các tòa án quân sự cấp dưới trực tiếp bị kháng nghị.

+ Giám đốc việc xét xử của các tòa án quân sự cấp dưới.

+ Hướng dẫn cụ thể việc áp dụng thống nhất pháp luật tại các tòa án quân sự.

+ Tổng kết kinh nghiệm xét xử của các tòa án quân sự.

+ Tổ chức thực hiện và hướng dẫn thực hiện công tác thi hành án hình sự và dân sự nảy sinh trong vụ án hình sự (năm 1993 giao công tác thi hành án dân sự cho tổ chức thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng).

Trụ sở: nhà số 25, phố Lý Nam Đế - Hà Nội.

Ngày thành lập, đồng thời là ngày truyền thống: 13 tháng 9 năm 1945.

Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời, ngày 13 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập Tòa án quân sự. Ngày 23 tháng 8 năm 1946, Chủ tịch nước ra sắc lệnh (số 163) thành lập Tòa án binh lâm thời. Ngày 25 tháng 4 năm 1947, Chủ tịch nước ra sắc lệnh thành lập Tòa án binh tối cao.

Ngày 21 tháng 2 năm 1961, Bộ Tổng Tham mưu ra quyết định (số 165) quy định tạm thời biên chế ngành tòa án quân sự, trong đó có Tòa án quân sự Trung ương.

Trước năm 1961, chỉ khi có vụ án thì Bộ trưởng Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Tư pháp cử ra chánh án và hai hội thẩm để xét xử. Cán bộ làm công tác tòa án là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy kiêm nhiệm.

Từ năm 1961 đến nay, các đồng chí đã được cử làm Chánh án Tòa án quân sự Trung ương là: Trung tướng Trần Văn Trà, Đại tá Lê Hiền, Thiếu tướng Tô Ký, Đại tá Nguyễn Đình Tùng, Thiếu tướng Trần Thế Môn, Thiếu tướng Nguyễn Trường Châu, Trung tướng Nguyễn Huân...

Tòa án quân sự Trung ương đã trực tiếp tổ chức xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng phức tạp; xét xử phúc thẩm hàng nghìn vụ án; xét xử giám đốc nhiều vụ án.

Tòa án Quân sự Trung ương đã tham gia xây dựng một số văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản có liên quan đến tổ chức và hoạt động của ngành; tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật tại các tòa án quân sự, xuất bản nhiều tập sách hệ thống hóa các văn bản cần thiết cho việc xét xử của tòa án quân sự và các văn bản khác về tuyên truyền giáo dục pháp luật, thi hành án, bồi dưỡng hội thẩm quân nhân; ban hành quy chế hoạt động các mặt của các cấp tòa án quân sự, xây dựng nhiều chuyên đề về thực hiện các trình tự tố tụng sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm; hướng dẫn xét xử các loại tội và về thi hành án.

Tòa án quân sự Trung ương đã mở nhiều lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ cho cán bộ trong ngành và bồi dưỡng hội thẩm quân nhân; giúp Tòa án quân sự Lào và Tòa án quân sự Cam-pu-chia trong việc bồi dưỡng cán bộ làm công tác xét xử và kinh nghiệm hoạt động của tòa án quân sự.

Phần thưởng:
- Huân chương Quân công hạng hai.
- Huân chương Chiến công hạng ba (khen thưởng cho phòng nghiên cứu xét xử).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM