Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Hai, 2022, 01:15:34 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biển Đông yêu dấu  (Đọc 1017 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #10 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 06:35:22 am »

Các trận động đất ở biển cũng có thể gây ra trong nước biển những vận động đột biến và thường đưa lại những kết quả phá hoại quy mô lớn, đó là sóng thần. Sóng thần khi đã xảy ra thì thật là khủng khiếp. Bức tường nước cao hàng chục mét sừng sững tiến vào và kéo mọi thứ gặp trên đường về đại dương. Sau khi con sóng thần đi qua thì đáy biển, bờ biển và toàn bộ cảnh quan ven biển đổi thay hình dạng rất khó khôi phục. Hiện nay con người chưa có giải pháp gì để chống lại sóng thần ngoài việc đặt các trạm quan sát, dự báo, rồi nếu có xảy ra thì chỉ có một cách là cao chạy xa bay để tránh như câu ngạn ngữ dân gian "tránh voi chẳng xấu mặt nào".


Còn nguồn nhiệt ở tâm quả đất tuy nhỏ nhưng cũng có thể gây tăng nhiệt độ địa phương trong một số vùng biển sâu vì ở đó bề dày lớp vỏ đại dương của quả đất mỏng hơn bề dày vỏ lục địa. Cần nói thêm rằng nguồn nhiệt này chịu tác động của sự quay của quả đất, đây chính là nguyên nhân của các hoạt động địa kiến tạo, sinh ra các đứt gãy sâu, các vòm nâng, hố sụt cũng như núi lửa, v.v...


Cụ Tản Đà, một thi sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ hai mươi, trong bài thơ Thề non nước cũng đã nói đến hiện tượng tuần hoàn của nước trong tự nhiên:

   "...Non cao có biết hay chưa
   Nước đi ra biển lại mưa về nguồn..."

Bây giờ thì tôi hiểu hiện tượng này rõ ràng hơn trước. Dưới tác dụng của mặt trời, nước biển bốc hơi, lọc muối trả lại đại dương, còn phần nước ngọt thì bay lên không trung thành mây. Gió đưa mây vào lục địa. Gặp lạnh, hơi nước tụ lại thành những giọt nước, rơi xuống thành mưa. Nước mưa một phần thấm xuống đất, một phần chảy vào sông suối đi ra biển và một phần bốc hơi bay trở lại vào khí quyển. Cái chu kỳ kỳ vĩ này góp phần tạo ra sự cân bằng năng lượng, sự giao lưu vật chất, làm cho sự sống bảo toàn, sinh sôi, nảy nở, trong đó vai trò của biển thật là lớn lao. Các vấn đề lý, hóa, sinh của biển vô cùng rộng, đó là những lĩnh vực nghiên cứu mà thế hệ chúng tôi cũng như các thế hệ mai sau nữa tha hồ vùng vẫy nếu chúng tôi có đầy hoài bão, nhiệt tình.


Bác Bình thì nói nhiều về hiện tượng quả đất nóng dần lên. Các hoạt động công nghiệp và nạn cháy rừng thải vào không khí một lượng khí carbonic mỗi ngày một lớn. Khí này tạo thành một nắp đậy cả bầu khí quyển làm cho nhiệt được giữ lại. Hiện tượng đó được gọi là hiệu ứng nhà kính và đó là nguyên nhân của sự thay đổi khí hậu toàn cầu mà loài người đang chứng kiến. Quả đất nóng lên, băng ở Bắc Băng Dương và Nam Băng Dương cũng như ở đỉnh các dãy núi cao trên lục địa tan ra, làm cho nước biển dâng cao. Các nhà khoa học dự báo nếu cuộc đấu tranh hạn chế khí thải không thành công thì đến cuối thế kỷ này các thành phố, làng mạc ven biển trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam bị ngập nước đến hai mươi phần trăm. Diện tích đất ở, đất trồng trọt sẽ thu hẹp lại, dẫn đến đói kém. Nạn phá rừng vô ý thức làm cho đồi núi xác xơ. Nước mưa không bị giữ lại làm cho lụt lội, lũ quét xảy ra càng nhiều. Các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc và Lào lại xả lũ khi nước dâng cao làm cho thiệt hại càng thêm nghiêm trọng. Ngay sau lũ lụt là hạn hán. Lượng nước ngầm giảm, nước mặn xâm nhập càng sâu vào đất liền. Các ruộng lúa, vườn cây ăn quả không còn. Bao nhiêu là tai họa rình rập con người, mà tiếc thay những tai họa đó lại chính do sự vô ý thức của con người gây ra. Bảo vệ môi trường, bảo vệ biển, giữ cho khí quyển, thủy quyển sạch sẽ đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại. Đó là tiếng kêu cấp cứu của Quả Đất hiện nay.


Sáng hôm sau tàu Bình Minh đi vào vùng biển sâu hơn 100 mét nước. Trên lát cắt địa chấn, tức là biểu đồ sóng đàn hồi ghi được dọc theo tuyến khảo sát của con tàu, có thể thấy mặt các tầng đất nghiêng càng ngày càng nhiều về phía đông và phía đông nam. Phần đáy biển bị ngập chìm tới độ sâu 200 mét nước kéo dài từ bờ biển gọi là thềm lục địa. Sau đó độ sâu nước biển tăng nhanh, tạo thành một dốc nghiêng, gọi là sườn lục địa. Ở cuối dốc, nước biển có thể sâu đến ba, bốn nghìn mét. Góc nghiêng giảm dần để đáy biển dần dần trở lại gần như nằm ngang, đất đá trầm tích hiện đại trải rộng, tạo thành đồng bằng biển sâu. Trên mặt đồng bằng này có vô số những hòn quặng sắt, quặng mangan, có hòn nặng đến cả trăm kilôgam. Sau này khi công nghệ biển phát triển cao người ta có thể dùng tàu xúc để khai thác chúng.


Hiểu biết về thềm lục địa là điều vô cùng cần thiết để phân chia ranh giới biển giữa các quốc gia có biển. Trước đây hơn nửa thế kỷ, các nước ven biển chỉ quan tâm tới vùng nước gần bờ, nơi hoạt động đánh bắt hải sản thường được tiến hành nhộn nhịp và tàu bè đi lại nhiều nên cần phải bảo vệ. Khoảng biển từ bờ đến 12 hải lý (19km) được gọi là vùng lãnh hải, nước ngoài không được xâm phạm. Tại sao lại là 12 hải lý? Ông Thiệp giải thích có lẽ vào giai đoạn đó đại bác đặt trên tàu có tầm bắn không đến khoảng cách này, tức là không thể gây nguy hại đến lãnh thổ đất liền của một quốc gia ven biển. Ngày nay thì tình hình đã thay đổi.


Hầu hết các vấn đề pháp lý liên quan đến việc sở hữu các tài nguyên ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài vùng lãnh hải đã nổi lên từ 1945 đến nay. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ra đời năm 1982 mà Việt Nam đã ký và quốc hội ta đã phê chuẩn ngày 23 tháng 6 năm 1994 quy định rằng tất cả các quốc gia ven biển có các đặc quyền trên một thềm lục địa rộng tối thiểu hai trăm hải lý (mỗi hải lý dài 1,61km) bất luận độ sâu hay địa chất của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển như thế nào. Như vậy trong vòng 200 hải lý (322km) quyền pháp lý đã trở thành nhu cầu mặc nhiên và không được vượt ra xa hơn. Ra khỏi ngoài vùng đó biển được coi là tài sản chung của nhân loại. Giữa hai nước có vùng biển chung, nếu trong quá khứ lịch sử chưa được phân chia rõ ràng thì có thể thỏa thuận thông qua đàm phán dựa trên công ước biển nói trên, trong đó giới hạn phân chia là đường trung tuyến nối các điểm cách đều từ hai bờ hoặc đảo thuộc lãnh thổ của hai quốc gia mà tôi đã có dịp nói qua trong các chương trước. Các khái niệm kiểu như vậy còn rất nhiều và rất rắc rối, tôi nghe ù cả tai. Tôi sẽ bổ sung sau vậy. Tôi chỉ kể sơ lược vài điều cho các bạn nghe mà thôi để các bạn có thể hiểu ít nhiều về việc phân chia ranh giới biển giữa nước ta và các nước xung quanh. Đây là một vấn đề vô cùng phức tạp, chưa chắc thế hệ chúng ta có thể giải quyết xong và còn tiềm ẩn biết bao nhiêu tai họa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #11 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 06:36:37 am »

Tàu về Đà Nẵng tránh bão. Huyền thoại về các con tàu không số. Những hải cảng miền Trung

Ngày thứ năm, trong lúc chúng tôi đang ăn cơm chiều thì nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo cơn bão số 5 đã vượt qua Philippines, đổ bộ vào biển Đông. Tiếng cô phát thanh viên trong trẻo, rõ ràng, nhưng vẫn không giấu được nỗi lo âu. Năm nay bão về sớm và cơn nào cũng mạnh. Đường đi phức tạp, đang hướng về phía tây bắc lại quay ngoắt về phía đông nam rồi lại đổi hướng trở lại, như hổ vờn mồi, đe dọa những người đánh cá gan góc, liều lĩnh bám biển. Tôi ước ao một ngày nào đó có thể phát minh ra một phương pháp có khả năng điều chỉnh đường đi của bão, cho nó loanh quanh ở những vùng không có các hoạt động kinh tế hoặc cho đổ bộ vào các vùng cằn cỗi, không có ngươi ở. Tại sao lại không được nhỉ? Có điều chắc chắn là cần rất nhiều năng lượng nên ý tưởng đó chưa có tính khả thi trong điều kiện hiện nay.


Tâm bão còn cách chúng tôi 150km nhưng nước đã cồn lên, tạo thành những lớp sóng nhỏ dồn dập và bầu trời cứ mỗi lúc một đục nhờ như sữa. Lũ chim biển hình như có giác quan cảm nhận bão nhanh hơn người nên đã quang quác gọi nhau bay về những nơi biển còn yên tĩnh. Sau một lúc hội ý và điện đàm với sở chỉ huy trên bờ, con tàu Bình Minh quyết định thu thiết bị, tạm ngừng khảo sát để vào bờ tránh bão. Tuy tôi đã ít nhiều quen với biển nhưng lần này thì cảm thấy nôn nao, cả vùng bụng như có ai bóp chặt, đẩy ngược tất cả những gì chứa đựng trong dạ dày lên cổ. Đầu choáng váng, tay chân bủn rủn, cứ tưởng như sắp gục ngã không thể nào đứng vững được. Ông tôi cho tôi nhấp mấy ngụm nước nóng, ngậm một lát mứt gừng và bảo tôi nhắm mắt lại, thở thật sâu. Tôi bỗng thấy tiếc nuối những giờ phút được sống trên đất liền, cơ thể sảng khoái, đi lại dễ dàng. Như nhận ra ý nghĩ ấy qua con mắt lờ đờ của tôi, ông vuốt ve mái tóc tôi và âu yếm nói với tôi rằng sự dấn thân, dù cho bất cứ công việc gì, từ những ham muốn đơn giản đến những lý tưởng cao siêu đều tự đặt mình vào những tình huống khắc nghiệt. Biển Đông đâu có phải lúc nào cũng hiền hòa, thơ mộng như mấy ngày qua. Sẽ có những ngày mưa như trút nước, gió rít rùng rợn, sóng cồn nổi lên như núi. Cháu nhìn xem, ngay trong lúc này, cơn bão lớn đang chuẩn bị đe dọa chúng ta. Nhưng các bác trong nhóm nghiên cứu khí tượng thủy văn lại đang bận rộn đưa máy móc ra để đo tốc độ gió, cường độ sóng. Và những con thuyền bé nhỏ, đơn sơ của dân đánh cá lại đang lợi dụng hướng gió, đè sóng để thoát khỏi vùng hiểm nguy. Với khối óc thông minh, con người trở nên mạnh mẽ khi qua tôi luyện trong những thử thách của cuộc đời. Đừng bi quan, ngã lòng khi chỉ mới nôn nao, say sóng. Mọi thứ rồi sẽ quen dần.


Đúng như ông tôi nói, tất cả những người làm việc trên tàu chẳng làm sao cả. Họ đi lại, cười nói, vận hành máy móc, tuy điều khiển con tàu có vất vả hơn, ít nhiều có vẻ không bình thường, nhưng đâu vào đấy. Và bản thân tôi đến sáng hôm sau, sau một giấc ngủ li bì, bồng bềnh như đưa võng tôi cũng tỉnh táo trở lại. Tôi còn trẻ, chắc đó cũng là một nhân tố quan trọng để gió bão, sóng triều phải nhường bước.


Sau sáu giờ tàu chạy liên tục, bờ biển miền Trung đã dần dần hiện ra trước mặt. Trước tiên là những vệt xanh thẫm của các đỉnh núi Phú Túc, Bà Nà thuộc dãy Trường Sơn là là ở sát chân trời. Sau đó núi cao dần lên, rồi các ngôi nhà cao tầng xuất hiện và cuối cùng là màu trắng của các bãi cát viền quanh bờ. Tôi nhớ lại bài giảng địa lý nói về chứng cứ của quả đất tròn mà ngươi xưa đã phát hiện cách đây nhiều thế kỷ. Người quan sát đứng trên bờ nhìn ra biển, trước tiên thấy cột buồm rồi tiếp sau là cánh buồm và sau cùng là con thuyền đang hướng vào bờ. Bây giơ tôi cũng đang chứng minh quả đất tròn theo một chu trình ngược lại và điều này làm tôi vô cùng hưng phấn.


Phía tay phải tôi xa xa về phía nam đã có thể nhìn thấy các đảo thuộc nhóm cù lao Chàm, đối diện với phố cổ Hội An. Trên trời có vô số những chấm đen, bay vun vút, tạo thành một quang cảnh đầy kỳ thú. Nhóm các chú nghiên cứu sinh vật biển nói đó là các đàn chim yến, một đặc sản của biển miền Trung. Có hai loại chim yến: chim yến hàng và chim yến đen. Cả hai đều có thuộc tính là dùng nước bọt làm tổ trong các hốc đá hiểm trở của các đảo hoang vắng, trong đó loài yến hàng cho tổ trắng hoặc hồng, cánh to, có giá trị nhất. Tổ yến là một loại thức ăn bổ dưỡng cao cấp, ngày xưa chỉ dành cho vua chúa, công hầu. Từ "yến" để chỉ tiệc vua ban có lẽ bắt nguồn từ món yến sào, sản phẩm của loài chim quý hiếm này.


Ở nước ta từ Quảng Bình đến Kiên Giang đều có loài chim yến sinh sông. Tổ yến được khai thác từ một đến ba lần trong một năm, sản lượng hiện nay đạt khoảng 4.000kg. Công nhân khai thác tổ yến là những con người rất thông minh và dũng cảm. Tới mùa thu hoạch, họ xa nhà hàng tháng, treo mình trên các chiếc thang tre mảnh mai để nhặt từng tổ yến, giữ gìn cho chúng nguyên vẹn, không bị vỡ nát. Có thế giá trị xuất khẩu mới cao. Người ta bảo trong các nhà hàng Tàu ở Hồng Kông, Thượng Hải, Đài Bắc, Tokyo giá một cân yến sào bằng giá cả cân vàng, chẳng biết sự thật đến đâu, chắc chắn là rất đắt rồi.


Thiên nhiên quả là rất ưu ái đối với nước ta. Ngày nay các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm nuôi chim yến thành công. Người ta cho chim làm tổ trên tường nhà gồ ghề, xây dựng riêng cho mục đích nuôi chim yến công nghiệp. Trong tương lai khi nghề nuôi chim yến phát triển, sản lượng chắc chắn sẽ tăng vọt và biết đâu nước ta lại có thêm một loại hàng hóa đặc sản, mang thương hiệu Việt Nam, đứng đầu thế giới. Các bạn có tự hào về điều đó như chúng tôi không?


Cù lao Chàm còn là một địa điểm du lịch tuyệt vời nhưng hiện nay mới bắt đầu được chú ý. Khách có thể đi thuyền máy nhỏ từ Hội An ra, dạo chơi trên các bãi biển còn rất hoang sơ, nhặt các loại vò sò đầy màu sắc, tắm biển, hóng gió, câu cá và tối đến tổ chức đốt lửa trại liên hoan, ca hát, nhảy múa tới lúc nào chán thì thôi. Rồi trải chiếu trên cát mà nằm ngắm sao trời, thả tâm hồn bay bổng theo những ý thơ và ngủ như người dân đi biển chuyên nghiệp, hưởng cái thú vị của không khí mát lành cho tới sáng. Trên các đảo nhỏ nằm rải rác trên một diện tích rộng trong tương lai có thể sẽ xây dựng thành những điểm dịch vụ cho nghề cá, tổ chức các trạm nuôi hải sản giá trị cao hoặc đặt các trạm phát điện bằng gió, bằng năng lượng mặt trời để cung cấp cho nhu cầu tại chỗ mà không cần dùng đến các máy phát điện diesel như hiện nay. Bao nhiêu là tiềm năng kinh tế đang chờ khai thác.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #12 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 06:37:39 am »

Các chú thủy thủ nói đường con tàu Bình Minh đang đi là con đường mà năm 1858 hạm đội liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo vào đánh phá Đà Nẵng với mục tiêu chiếm một vị trí đầu cầu để tấn công kinh đô Huế từ phía nam. Những loạt đại bác nổ vang rền, gieo đau thương chết chóc trên cửa biển xinh đẹp này, mở đầu một cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân phẩm, giành lại tự do cho dân tộc ta kéo dài mãi đến mùa xuân 1975 mới chấm dứt. Thống chế Lê Đình Lý, tướng Nguyễn Tri Phương đã cùng với nhân dân Quảng Nam chiến đấu kiên cường suốt hai năm trời mới buộc được chúng rút quân sau khi để lại những bãi tha ma, thánh giá nghiêng ngả với hàng trăm xác thủy quân Âu châu trên bán đảo Sơn Trà. Hai nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của ta trong trận chiến đấu không cân sức ấy mà người Quảng Nam gọi là các nghĩa trũng hiện vẫn còn lưu dấu tại Đà Nẵng, cách không xa thành Điện Hải cổ xưa.


Và cũng theo con đường này lúc 9 giờ sáng ngày 08-3-1965 đại đội đầu tiên của Lữ đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đã đổ bộ lên bãi biển Phú Lộc, quận Liên Chiểu ngày nay. Từ đó Đà Nẵng trở thành một căn cứ lớn nhất của quân đội Mỹ, và chúng đã biến vùng nông thôn trù phú của hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi trở thành hoang mạc.


Nhưng người chiến thắng cuối cùng lại vẫn là nhân dân ta. "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo", những câu sang sảng trong Bình Ngô Đại cáo từ thời Lê lại một lần nữa vang lên, minh chứng cho chủ nghĩa anh hùng và lòng yêu tự do thiết tha trong truyền thống yêu nước của dân tộc ta trường tồn mãi mãi.


Nhưng đường vào Đà Nẵng không phải chỉ có bóng quân xâm lược. Cũng giống như các con đường biển khác kéo dài suốt từ Bắc chí Nam, đây còn là con đường của bao nhiêu tàu buôn các nước từ hàng nghìn năm lui tới giao lưu, đem hàng hóa nước ngoài tới Chămpa, Đại Việt, chở hàng hóa Việt Nam đến các dân tộc khác. Và cùng với hàng hóa là văn hóa được giao thoa, là tình hữu nghị được thiết lập, tạo ra sự liên kết, hỗ trợ bền vững giữa các quốc gia, và chúng ta đang tiếp tục sự nghiệp đó hiện nay. Như vậy, giá trị của biển không phải chỉ có tài nguyên mà còn là những con đường hàng hải thuận lợi, là giao thông vận tải biển, là phương tiện để đất nước ta trở thành một trong những con rồng ở Thái Bình Dương nếu chúng ta biết khai thác, sử dụng biển một cách hợp lý.


Tối hôm ấy cơn bão số năm đã đuổi kịp chúng tôi. Sóng dâng trắng xóa bờ bãi. Cây cối, nhà cửa oằn mình trong từng cơn gió giật. Thiên nhiên thật là kỳ bí, khi thì như thiên thần, khi thì hơn cả quỷ dữ.

Chúng tôi tạm trú tại khách sạn Hàn Giang trông ra con sông đưa nước từ Trường Sơn đổ vào biển Đông, ở đây tôi gặp một người quản lý nước da ngăm đen, nhanh nhẹn, đã một thời là người anh hùng trên biển. Các xoáy nước vần vũ ngoài cửa sổ, các đám mây đen hối hả kéo đi dày đặc trên bầu trời. Tất cả những cảnh tượng này gợi nhớ những kỷ niệm của bốn mươi năm trước. Với giọng trầm trầm của người đi biển, bác giám đốc khách sạn trước kia là một trong những người chỉ huy tàu 99 huyền thoại kể cho chúng tôi nghe một trong những kỳ tích của con đường Hồ Chí Minh trên biển ngày xưa.


Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, những ngày bão lớn được xem là một cơ hội chứ đâu có phải chỉ là hiểm nguy. Trong lúc tàu chiến của giặc lo đi tránh bão thì những con tàu không số của ta lại ra khơi, chở súng đạn, thuốc men, và cán bộ vào chiến trường. Rất nhiều con tàu đã lập những chiến công lớn, nhiều anh hùng được tuyên dương công trạng, nhưng cũng không ít những con tàu cùng những chiến sĩ kiên cường của nó đã nằm lại ở biển Đông.


Con tàu mang ký hiệu 99 đã nhiều lần xuất phát từ Hải Phòng đi các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nam bộ thành công, là một trong những con tàu anh hùng đó. Chuyến đi vào Phú Yên đầu tiên ghi sâu, không bao giờ phai trong những kỷ niệm của các chiến sĩ. Đó là một chiều giá buốt cuối năm 1965, ở Đồ Sơn, nơi đặt sở chỉ huy của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Quanh chiếc bàn rộng trên trải một tấm bản đồ với chi chít những mũi tên xanh, đỏ, những con tàu tí xíu gấp bằng giấy, những lá cờ Mỹ và những chấm đỏ xen kẽ nhau, mô tả tình hình chiến sự biển Đông, bác gặp tư lệnh quân chủng, Đô đốc Nguyễn Bá Phát để nhận nhiệm vụ.


Bác Phát là người quê ở ngoại ở Đà Nẵng, mảnh đất mà bây giờ chúng tôi đang đứng. Tàu 99 lần này sẽ chở vũ khí vào Vũng Rô, nằm kề sát đường sắt và Quốc lộ 1, nơi địch đóng dày đặc nên chúng rất chủ quan, cho rằng quân cách mạng có gan cóc tía cũng không dám đặt chân đến đó. Các chiến sĩ trên tàu 99 gồm những người rất dày dạn sóng gió, đặc biệt có nhiều chiến sĩ giải phóng quân quê gốc Bình Định, Phú Yên vừa mới vượt Trường Sơn đi bộ ra Bắc nhận hàng. Tư lệnh bắt tay từng người, chào tạm biệt, chúc con tàu lập công xuất sắc.


Tàu rời Bãi Cháy giữa mùa gió chướng, biết đâu cũng đã đi đúng con đường mà tàu Bình Minh đã đi qua. Trong đêm tàu rẽ sóng chạy vòng ra vùng biển quốc tế rồi hướng về phía nam. Ngày tiếp nối đêm, xung quanh chỉ toàn là trời nước mênh mông. Gió tăng dần lên cấp bảy, cấp tám, sóng dâng cao, con tàu trở nên mong manh như chiếc lá. Trong đoàn có vài người không được khỏe, nôn mửa hết mật xanh đến mật vàng nhưng không ai rời vị trí của mình.


Khi vượt qua vĩ tuyến 17* (Giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam Bắc theo Hiệp định Genève - ND), tàu 99 bắt gặp các tàu đánh cá của ngư dân miền Trung. Mạn đầu tàu nào cũng vẽ hai con mắt thật to như để dẫn đường. Tàu 99 đổi biển số, hòa vào với họ, chạy trong vùng biển luôn luôn bị các hải thuyền của ngụy quân kiểm soát. Những người lính ngụy này phần lớn là lính quân dịch nên chỉ cần một ít quà như thuốc lá, đồ nhậu là họ cho qua. Hơn nữa cũng chẳng nghĩ có thể có tàu của quân cách mạng hoạt động ở vùng này.


Đến ngày thứ ba thì tàu vào địa phận Đà Nẵng và nhận được điện báo tin có một phái đoàn quân sự Mỹ đang đi thị sát cụm rađa cù lao Ré với nhiều tàu chiến đi tuần tra, bảo vệ vòng trong, vòng ngoài. Khoảng năm giờ sáng, bình minh vừa hé rạng đã thấy một máy bay từ phía đất liền bay lại, lượn vòng trên tàu 99 rất lâu rồi bay đi. Tiếp ngay đó đồng chí trực trên đài quan sát phát hiện hai chấm đen đang hướng tới con tàu của chúng ta. Đó là hai tàu chiến địch. Rõ ràng là Mỹ đã nhận ra con tàu 99, một con tàu đáng nghi vấn. Tàu 99 nhanh chóng thay số hiệu, dùng lưới đánh cá phơi ngụy trang đồng thời chuẩn bị vũ khí sẵn sàng chiến đấu. Hai tàu địch lố nhố đầy sỹ quan, cười nói oang oang, chạy song song kẹp tàu 99 vào giữa, dùng ống nhòm quan sát tàu ta để kiểm tra. Giờ phút đấu trí cực kỳ căng thẳng. Tàu 99 vẫn chạy ung dung. Các chiên sĩ ta ai vào việc nấy, vui vẻ mỉm cười, thỉnh thoảng lại đưa tay vẫy chào tàu địch để xua tan sự nghi ngờ của chúng. Vì quá chủ quan và bất ngờ nên sau hai giờ hù dọa theo kiểu rất anh chị, có lẽ chúng cho rằng tàu 99 là tàu đánh cá thực sự, tiếng nói của thủy thủ lại rặt giọng địa phương nên chúng kéo còi tăng tốc, quay về hướng khác.


Tàu 99 lại tiếp tục hành trình và chiều hôm sau thì đổi hướng, quay mũi vào bờ. Những đỉnh núi xanh của Trường Sơn thân thương đã lờ mờ hiện ra ở phía tây. Vài chiếc máy bay tuần tra của địch bay qua bay lại như đang đi dạo, ngắm cảnh nắng chiều trên vịnh. Trời tối dần. Ta dùng đèn pin tìm liên lạc trên bờ theo ám hiệu đã hẹn trước nhưng tuyệt nhiên không lời đáp. Chắc là có vấn đề gì đó đã xảy ra vì tàu vào bị trễ hẹn bốn ngày. Đành phải cho tầu chạy trở ra hải phận quốc tế cho an toàn và liên lạc trở lại. Lúc đi ra không gặp trở ngại gì nhưng ngày hôm sau khi đi vào lại gặp một khu trục hạm nhỏ của quân Mỹ trên đường ra Hạm đội 7. Vì tàu 99 hơi lớn so với các tàu đánh cá gần bờ khác nên không lọt qua được con mắt cú vọ của chúng. Trong trường hợp này thì phải chiến đấu thôi. Khu trục hạm chạy theo một đoạn, vòng lên phía đầu rồi áp sát vào gần mạn tàu 99. Hai tên sỹ quan ra lệnh thả cầu để sang kiểm tra trực tiếp. Đúng lúc ấy một loạt đạn B40 nổ xé trời, lao thẳng vào đúng phần giữa buồng lái và máy nổ của khu trục hạm. Chỉ trong mười phút khu trục hạm chìm nghỉm, địch không kịp phản ứng một tí gì thì đã bị tiêu diệt gọn.


Tàu ta đi ra hay tiếp tục đi vào? Quay ra thì an toàn hơn nhưng có thể bị Hạm đội 7 đón bắt dễ dàng, hơn nữa lại lỡ hẹn với bộ phận quân giải phóng trên đất liền. Tiếp tục đi vào thì nhiều rủi ro nhưng lại là điều mà quân địch không ngờ tới vì chúng không nghĩ được đối phương lại liều lĩnh đến như vậy. Hơn nữa địch cũng không hiểu mục đích của tàu ta là gì. Sau khi cân nhắc kỹ, tàu 99 chọn phương án hai, chuyển hướng chạy về phía Cam Ranh, căn cứ hải quân lớn nhất của Mỹ để tạo thêm tính bất ngờ hơn nữa rồi sau đó quay lại Vũng Rô khi trời bắt đầu tối. Trong lúc đó toàn bộ lực lượng hùng hậu của địch lại được huy động tỏa ra khơi truy lùng tàu 99. Hôm sau Đài tiếng nói Hoa Kỳ đưa tin một tàu lạ xâm phạm hải phận miền Trung đã bị khu trục hạm Mỹ bắn chìm trong khi giao chiến.


Ra đến hải phận Phú Yên tàu 99 bình tĩnh, khôn khéo chạy từ từ vào giữa vịnh rồi tắt máy, thả trôi để không gây tiếng động. Một chiếc thuyền nhỏ được thả xuống, chèo vào bờ, tìm bến. Thời gian bò đi chậm chạp theo từng tiếng tích tắc của cây kim giây của chiếc đồng hồ trong buồng lái. Rồi niềm vui ập đến đột ngột. Đã có tín hiệu ánh sáng từ phía bờ. Tiếp sau là một chiếc thuyền nan cập mạn tàu. Các chiến sĩ ôm nhau nghẹn ngào, xúc động. Mệnh lệnh cấp trên - bốc dỡ 80 tấn vũ khí trong ba giờ để tàu rời Vũng Rô ngay trong đêm - là điều không thể thực hiện được. Lại phải xin chỉ thị cấp trên. Cuối cùng được lệnh cho phép tàu ở lại, ngụy trang giấu kín, bốc hàng xong tối mai trở ra. Lại thêm một ngày đấu trí với địch, giữ tàu an toàn, thần kinh căng thẳng như chuẩn bị đứt tung bất cứ lúc nào.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #13 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 06:38:32 am »

Hôm sau khi mặt trời chìm sau Đèo Cả, những ánh sáng cuối cùng đã tắt trên nền trời xa, tàu được dỡ bỏ ngụy trang, cập bến. Xa xa những ánh đèn pha của các đồn bót địch vẫn đều đặn quét đi quét lại giữa màn đêm. Hàng trăm dân công và chiến sỹ giải phóng quân hồ hởi, hối hả lên tàu đưa hàng lên bờ. Niềm vui không tả xiết qua giọng thì thầm đặc âm sắc Phú Yên. Thế là cả một bộ máy kìm kẹp của chính quyền ngụy, của quân đoàn lính Nam Hàn, cả hạm đội Mỹ với máy bay, đại bác, tàu chiến canh gác nghiêm mật vẫn không hay biết gì về hoạt động của tàu 99. Hai giờ sáng tàu bốc hàng xong. Các thủy thủ chia tay đồng bào, đồng chí trong niềm quyến luyến, nghẹn ngào. Tàu 99 lại rẽ sóng ra khơi, trở về miền Bắc để rồi lại tiếp tục nhận các nhiệm vụ nặng nề, vinh quang khác mà không phải lúc nào cũng thắng lợi như lần này.


Bác nhấp một ngụm nước, nhìn chúng tôi một lượt rồi nói tiếp: "Các câu chuyện về biển Đông đâu có phải chỉ có sóng gió bão bùng, tài nguyên giàu có, cảnh trí thơ mộng mà còn bao nhiêu là sự tích anh hùng, là hy sinh, gian khổ của bao thế hệ người Việt để bảo vệ nó, với tư cách là người chủ chân chính, hợp pháp của vùng biển này. Hiện nay chúng ta chưa sung sướng như nhân dân nhiều nước khác nhưng chúng ta đang hạnh phúc vì đã có một Tổ quốc thống nhất, độc lập, không còn là một dân tộc nô lệ đến mức tên nước cũng bị xóa sổ trên bản đồ thế giới như trước 1945. Cơn bão lớn đã đi qua, chân trời tương lai của nước mình đã rộng mở nhưng vẫn còn bao nhiêu thách thức do chính sự ấu trĩ, sự bảo thủ, giáo điều, nóng vội, tả khuynh, hữu khuynh của chính mình gây ra. Tham vọng của kẻ thù bên ngoài vẫn chưa chấm dứt. Thế hệ của các cháu sẽ vượt qua các thách thức đó một cách kiêu hãnh như lớp người đi trước".


Bác giám đốc ngừng lời. Một không khí vừa trang nghiêm vừa xúc động tràn ngập cả căn phòng và tôi càng thấy yêu biển, yêu tổ quốc biết bao.

Trong những ngày tàu Bình Minh dừng ở Đà Nẵng chúng tôi rất may mắn được gặp tiến sĩ Trương Đình Hiển, người đã cùng các cộng sự của mình có công phát hiện những cảng nước sâu ở miền Trung, đưa nó vào dây chuyền của guồng máy kinh tế thống nhất chung cả nước. Kết hợp công tác, bác Hiển đưa chúng tôi đi tham quan một số cảng đã và đang được xây dựng ở vùng này. Từ Thừa Thiên đến Bình Định có đến 12 cửa biển và vũng vịnh có thể xây dựng thành cảng lớn: Chân Mây, Đà Nẵng, Kỳ Hà, Dung Quất, Sa Kỳ, Cửa Đại, Trà Cầu, Sa Huỳnh, Tam Quan, An Dũ, Đề Gi, Nhơn Hội, Quy Nhơn. Trên thế giới này rất ít quốc gia có được một ưu thế tương tự. Hệ thống cảng biển của ta từ Móng Cái đến Hà Tiên và các khu kinh tế duyên hải trong các năm gần đây đã được chính phủ ta đặc biệt chú ý nhằm tạo ra thế chiến lược cho phát triển kinh tế - xã hội trong thế kỷ 21. Cùng với hệ thống đó, các cảng miền Trung trở thành một điểm nối của con đường thịnh vượng đang được mở ra cho cả tiểu vùng Mê Kông, bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Nam Trung Quốc và nối cả khu vực này với năm châu, bốn biển.


Xe đưa chúng tôi vượt đèo Hải Vân qua đường hầm dài rất hiện đại vừa mới xây dựng xong cách đây mấy năm một cách nhanh chóng. Cũng tiếc là không được đi theo con đường cũ để được ngắm "Thiên hạ đệ nhất hùng quan", một cửa ải cổ xây dựng trên đường phân chia ranh giới hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam và xem cầu Rôgiê, nai bộ đội Liên khu năm trong kháng chiến chống Pháp đã hất đổ nhiều đoàn tàu quân sự địch xuống biển. Toàn cảnh mây trắng, núi xanh, biển biếc kết nối với nhau thành một quang cảnh hài hòa, đã làm rung động bao nhiêu tâm hồn các thế hệ văn nhân trong quá khứ khi họ có dịp bước đến chốn này.


Vịnh Chân Mây nằm ở đông nam tỉnh Thừa Thiên, có độ sâu nước biển tự nhiên từ 10 đến 14m, rộng 6km2 và không bị sa bồi vì nằm xa các cửa sông. Mặt vịnh được che chắn các hướng gió đông bắc - tây nam, giúp cho tàu lớn đến 80.000 tấn có thể vào ra an toàn. Cảng biển dài khoảng 14km, công suất 70 triệu tấn/năm, mặt bằng kho bãi rộng trên 70km2. Cảng nằm cạnh đường sắt, đường xa lộ Bắc-Nam, đường tải điện xuyên Việt 500 KV, hệ thống cáp quang quốc tế, thông với các nước phía tây qua đường 9, lại cách không xa thành phố Huế, sân bay Phú Bài, cảng Cửa Việt, cảng nước sâu Hòn La (Quảng Bình) ở phía bắc, thành phố và sân bay quốc tế Đà Nẵng ở phía nam. Do đó, nó là một cảng nước sâu rất lý tưởng để giúp cho vùng Bắc Trung Bộ nghèo nàn cất cánh. Một khu kinh tế - thương mại có dáng vóc hiện đại đang hình thành, nối với hai khu du lịch Bạch Mã, Lăng Cô, làm cho du khách từ phía bắc tới, trước khi lên đèo Hải Vân, không còn có cảm giác đi vào một vùng hoang vắng.


Quay trở vào phía nam, chúng tôi ghé thăm khu công nghiệp Dung Quất và cảng nước sâu ở đây, nơi đang xây dựng cơ sở vật chất của một khu vực hiện đại của thế kỷ 21 trên một diện tích rộng hàng chục km2, cảng Dung Quất có độ sâu tự nhiên 10-20 mét nước, diện tích mặt nước rộng được các nhánh núi vươn ra biển như những bàn tay che chắn gió từ hai hướng đông bắc - đông nam. Tàu có trọng tải đến 200 nghìn tấn có thể vào đây dễ dàng, neo đậu quanh năm. Công suât của cảng có thể đạt đến 100 triệu tấn/năm. Cảng được nối với một hệ thống đường sắt, đường bộ, đường hàng không tỏa khắp cả nước, nối với Lào, Campuchia, Thái Lan ở phía tây và hệ thống đường hàng hải quốc tế ở phía đông.


Trước đây không lâu đây là vùng không mấy ai biết đến, rất nghèo nàn, cằn cỗi. Dân địa phương gọi vùng này là "dũng quít" (Vũng Quít). Khi người Mỹ đến, vì không quen với lối phát âm của người Quảng Ngãi nên từ vũng Quít nghe ra thành Dung Quất. Họ ghi vào bản đồ, thế là trở thành tên dùng hiện nay mặc dù nó không mang một ý nghĩa gì cả.


Cảng Dung Quất cùng với những cảng lớn hiện có cũng như hàng chục thành phố, bãi tắm, nhà nghỉ sẽ là những hạt ngọc minh châu tỏa sáng cả một vùng biển đã từng là cửa ngõ của một nền văn minh Chămpa nổi tiếng. Chỉ trong vòng 10 đến 20 năm nữa, các sản phẩm công nghiệp lọc hóa dầu, vật liệu xây dựng, điện, điện tử, đóng tàu, cơ khí, chế biến nông lâm hải sản, công nghiệp kỹ thuật cao, hàng may mặc, da giày và các hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, các khu nghiên cứu thực nghiệm sinh học, hải dương học và các khoa học khác, các khu trung tâm thương mại - tài chính, các trường dạy nghề, đại học và các khu du lịch, thể dục thể thao sẽ biến đổi hoàn toàn bộ mặt miền Trung. Tôi thích nhất là công nghiệp đóng tàu biển. Cách đây 20 năm nước ta chỉ mới đóng được canô chạy sông, thế mà đến nay Việt Nam đã có thể đóng tàu hàng trăm nghìn tấn, bán cho Anh, Nhật và nhiều nước khác. Thật là một bước nhảy vọt không ngờ.


Phía nam Dung Quất, thành phố Vạn Tường đang ra đời làm cho vùng đất sỏi đá trơ trọi, trước đây 10 năm chỉ thấy dứa dại, xương rồng, các loại cây gai còi cọc này trở thành một đại công trường tầm cỡ lớn nhất đất nước. Chỉ trong 5 năm nữa ai đến Vạn Tường thăm lại chiến trường xưạ, đến Sơn Mỹ gặp hậu duệ của các nạn nhân của quẤn Đội Mỹ, Hàn Quốc, hoặc tìm lại các lối đi mà chị Thùy Trâm, người bác sĩ anh hùng nổi tiếng thế giới đã đặt chân, chắc chắn sẽ thấy một vùng đất hoàn toàn hiện đại, kéo dài suốt từ Chu Lai ở Quảng Nam đến bãi biển Sa Huỳnh ở Nam Quảng Ngãi.


Xe tiếp tục đưa chúng tôi vào đất dừa Bình Định. Thành Đồ Bàn, nay đã thành phế địa, chỉ còn lưu lại ngọn tháp Cánh Tiên thanh tú. Đường quốc lộ tách ra một nhánh chạy về hướng đông đến đầm Thị Nại và thành phố Quy Nhơn. Cách đây hơn 50 năm ông tôi đã viết về thành phố này với một tâm trạng nhớ nhung day dứt khi tập kết ra Bắc:

   ... Ta nhớ làm sao bãi Quy Nhơn
   Dừa thẹn thùng soi bóng chập chờn
   Đảo vắng bềnh bồng nơi xa thẳm
   Trên bờ tháp cổ đứng cô đơn...
   Bây giờ tôi mới có dịp đến chiêm ngưỡng cảnh này.


Đầm Thị Nại thuộc Nhơn Hội là khu vực hoàn toàn kín gió. Nếu xây dựng một kè chắn cát thì có thể nạo vét đáy vịnh cho tàu có trọng tải đến 50.000 tấn vào ra, tạo thành một cảng biển sâu có công suất qua cảng 50 triệu tấn/ năm. Cảng Nhơn Hội nối với Tây Nguyên, Campuchia qua đường 19, nối với Lào, Thái Lan qua đường 14. Cùng với khu kinh tế Nhơn Hội với mặt bằng 12.000ha có độ cao từ 10 - 12m không bị lũ lụt đe dọa, vùng này sẽ là một khu công nghiệp - thương mại quốc tế và du lịch, dịch vụ lớn. Sự ra đời của hệ thống cảng nước sâu từ Thừa Thiên đến cực nam Trung Bộ sẽ tạo nên một bước ngoặt lịch sử để đưa miền Trung phát triển kịp với các tỉnh khác ở hai đầu đất nước, xóa bỏ sự mất cân bằng kinh tế giữa các địa phương, tạo điều kiện để các vùng phối hợp, liên kết với nhau, sử dụng thế mạnh của nhau, đưa cả nước tiến nhanh tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hòa nhập vào thị trường thế giới.


Trên đường xe quay về Đà Nẵng cả đoàn tham quan cùng cất tiếng hát giữa tiếng vỗ tay nhịp nhàng và nụ cười rạng rỡ: "Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời lòng ta mê say...". Tiếng hát bay qua các làng xóm còn nghềo, các đụn cát còn vắng màu xanh, mở ra trước mắt tôi một tương lai tràn đầy hy vọng.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #14 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2022, 06:42:33 am »

Tàu lại ra khơi, hướng tới Trường Sa

Sau năm ngày thần bão tố ra oai trên biển, nhận chìm một số tàu đánh cá, cướp đi sinh mạng của khoảng 50 ngư dân, cơn bão số năm đổ bộ vào Quảng Bình. Hàng loạt đê biển kéo dài từ chân đèo Hải Vân đến Hà Tĩnh bị phá hủy, đất trên bờ bị xói lở, kéo theo nhà cửa, cây cối, mồ mả xuống biển. Các đầm nuôi tôm của nhân dân bị nước mặn tràn vào làm cho độ mặn của nước tăng đột ngột và tôm cá chết hàng loạt. Bão còn gây ra mưa lớn trên đầu nguồn, nước lũ tràn về nhận chìm tất cả làng xóm, ruộng đồng, cướp đi mọi nguồn sống của con người trên đường nó đi qua. Tôi cũng đã nhiều lần tham gia quyên góp giúp đỡ nhân dân vùng bị lũ lụt nhưng chưa bao giờ tôi hình dung được hết những thảm họa mà thiên nhiên hàng năm đưa lại cho dải đất miền Trung vô cùng đẹp đẽ nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt này. Gian truân rền đúc con người, câu nói tôi học trong bài giảng văn từ hồi lớp 6 thật là đúng và tôi bây giờ cũng hiểu được một phần vì sao người miền Trung lại cần cù, anh dũng, thông minh, kiên cường trước mọi thử thách.


Chị Minh Hải, cô Thu làm việc trong nhóm nghiên cứu thiên tai và các tai biến địa chất ngày đêm cặm cụi thống kê từng chi tiết nhỏ những diễn biến của các cơn bão, các vụ lở đất, những tàn phá do chúng đưa lại, phân tích tìm ra các quy luật, xây dựng các mô hình dự báo cung cấp cho Nhà nước và toàn xã hội. Lần đầu tiên tôi biết tới một ngành khoa học mang đậm tính nhân văn và có giá trị lớn lao. Các nhà khoa học này làm việc lặng lẽ, xã hội ít người biết đến, nhà nước cũng ít khi chú ý động viên, khen thưởng họ. Họ chỉ sống bằng đồng lương ít ỏi, cuộc sống chật vật gieo neo nhưng lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm đã giúp họ tìm thấy sự say mê, sáng tạo. Trên đất nước ta có biết bao nhiêu con người sống thầm lặng, làm việc hết mình trong những lĩnh vực vô danh để phục vụ nhân dân mà không kêu ca, đòi hỏi, thật đáng kính trọng. Tôi học thêm được một bài học làm người.


Tàu Bình Minh lại ra khơi. Bác Khoản, bác Ái, bác Hiệp tiến hành đo từ trường và trường trọng lực trên tuyến khảo sát mới nối từ Đà Nẵng ra Trường Sa. Hai trường vật lý này của vỏ quả đất đều chứa hai thành phần chính gọi là trường bình thường và trường dị thường sau khi đã loại bỏ các nhiễu. Trường bình thường là trường lý thuyết dựa trên giả thiết quả đất là một môi trường đồng nhất, đẳng hướng, nó có thể được tính theo các công thức toán học tương ứng với các điều kiện cho trước. Thế nhưng trong thực tế thì lòng đất lại chứa các lớp đất có tính chất vật lý khác nhau, vật chất cấu thành mỗi lớp có mật độ cũng như chứa một lượng hạt sắt có từ tính không như nhau, hình dạng lớp đất cũng chỗ cao, chỗ thấp, chỗ dày, chỗ mỏng. Sự sai khác này tạo ra một trường không giống với lý thuyết nên phần trường này gọi là trường dị thường. Từ trường cũng như trường trọng lực của quả đất chính là tổng của trường bình thường và trường dị thường. Công việc của các bác là đo các trường thật của khu vực nghiên cứu rồi tách phần dị thường ra, từ đó suy đoán độ sâu cũng như các thuộc tính khác của lớp đất hay vật thể địa chất nói chung đã tạo ra trường dị thường đó. Tôi đã hiểu ra rồi. Đó là cách gián tiếp nghiên cứu các lớp đất đá dưới sâu mà ta quan tâm.


Bác mở máy tính và gõ vào bàn phím một số lệnh. Những số liệu được máy tính xử lý cho hiện lên trên màn hình dưới dạng những biểu đồ, bản đồ, đưa lại những thông tin bổ ích bổ sung cho các kết quả khảo sát địa chấn, giúp cho các nhà khoa học hiểu tốt hơn cấu trúc lòng đất.


Sau khi nạp các dữ liệu riêng rẽ của từng loại tham số vật lý đo được vào máy xử lý chuyên dụng và khởi động một phần mềm đặc biệt, trước mắt chúng tôi hiện ra những tấm ảnh màu như đã có một nhà nhiếp ảnh vô hình chụp các lớp đá từ đáy biển tới độ sâu năm, sáu cây số dọc theo tuyến đường con tàu Bình Minh đi qua. Khoa học kỹ thuật hiện đại thật là kỳ diệu. Trên tấm ảnh này tôi thấy được các tầng thềm nghiêng thoai thoải từ bờ kéo dài về phía đông rồi đột ngột bị đứt đoạn như bị một nhát kiếm siêu hình chém đứt. Các bác gọi đó là những đứt gãy sâu và nó giống như một kẽ nứt khổng lồ. Theo đứt gãy này nếu có dầu mỏ, khí đốt hình thành ở dưới sâu thì chúng sẽ chảy ngược lên các lớp đá bên trên có độ xốp tốt hơn theo nguyên tắc thẩm thấu và mao dẫn, rồi tích tụ lại thành mỏ. Nhưng cũng có thể các loại khí độc hại khác cũng lên theo, làm các mỏ mất giá trị.


Tôi cứ tưởng các lớp đá chìm dần liên tục về phía đông nhưng không phải như vậy. Sau đứt gãy vừa nói trên là một đới nâng giống như một dãy núi ngầm, kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam và các bác đặt tên cho nó là đới nâng Tri Tôn. Trên dãy này các lớp đá trầm tích hình thành cách đây vài chục triệu năm lại trầm đọng tiếp. Vượt qua đới nâng này lại gặp một loạt đứt gãy sâu khác, làm cho các lớp đất đá sụt xuống rất nhanh để chuyển ra thành vùng trũng sâu mà ngày nay dù đã được trầm tích lấp đi rất nhiều, mực nước ở đây vẫn sâu trên vài nghìn mét, kéo dài sang tận phía bờ Tây Philippines. Vùng này là một ngư trường rất rộng, nơi đánh bắt cá của những tàu lớn, làm việc dài ngày, không những của Việt Nam mà còn của nhiều nước khác trong khu vực.


Trên tàu Bình Minh, ở khoang gần phía đầu mũi có đặt các máy dò tìm các đàn cá bằng sóng siêu âm. Các chú kỹ sư thủy sản làm việc trong bộ phận này còn rất trẻ, mặc những bộ áo liền quần màu vàng, giống như trang phục của thợ lặn. Trên tường dán rất nhiều ảnh của các loài cá khác nhau. Các chú trên tàu bắt cá như một trò chơi làm tôi hết sức thích thú. Họ buộc hai sợi cước dài khoảng năm mươi mét vào đuôi tàu, đầu mút có buộc lưỡi câu và một nhúm lông gà trắng. Tàu chạy, lông gà nhảy lên nhảy xuống, cá thu tưởng mồi, nhảy lên đớp và cứ như vậy có ngày bắt được cả chục con, dài đến cả mét, vừa để nghiên cứu sinh học, vừa để bổ sung chất tươi và dự trữ thực phẩm cho đoàn. Có lúc tàu chạy qua những vùng đầy rong biển, nơi kiếm ăn của loài cá chuồn, chúng thấy động bay vút lên, rơi xuống sàn tàu, giãy đành đạch. Cá chuồn có hai vi rất dài, nên khi phóng lên khỏi mặt nước với một tốc độ rất cao, chúng có thể bay xa hàng vài chục mét. Thịt cá chuồn rất ngon, nấu với mít non trở thành món đặc sản. Chẳng thế mà ở Quảng Nam có câu hát dân gian "Ai về nhắn với họ nguồn, mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên".


Biển Đông có hàng nghìn loài cá. Chị Diễm Quỳnh là sinh viên ngành hải sản nhiều lần say sưa kể cho tôi nghe về các loài cá biển, giúp tôi hình dung biển Đông là một kho báu, chứa đựng bao nhiêu giá trị. Các ám tiêu san hô và các đàn cá lớn nhỏ, màu sắc sặc sỡ là một kho gien rất quý, đầy hấp dẫn để các nhà khoa học nghiên cứu, khám phá. Cá cơm trắng muốt, con lớn nhất cũng chỉ bằng ngón tay út bơi thành đàn hàng vạn con, khi cuộn tròn thành một quả bóng khổng lồ, khi kéo dài, bẹt ra như một chiếc đĩa bay, nhào lộn liên tục trong làn nước xanh lục như các nghệ sĩ. Cá cơm, cá trích, cá chim, cá thu là nguyên liệu làm các loại nước mắm nổi tiếng như nước mắm Vạn Vân, Nam Ô, Phan Thiết, Phú Quốc. Cá đuối hình như chiếc diều, da lưng màu xám nhưng da bụng lại trắng toát, khi di chuyển uốn lượn như chim vỗ cánh. Điều đặc biệt là trong cái đuôi dài, nhỏ nhắn mỗi khi vung lên như một ngọn roi thì sinh vật nào bị đánh cũng sợ hết hồn vì dòng điện cực mạnh phát ra chẳng biết theo cơ chế nào. Nếu cá đuối hình dáng gần như một hình thoi cân đối thì thân cá hố lại bẹt và dài ngoẵng đến vài mét, da phủ một lớp nhũ trắng như bạc. Mùa xuân, ngày nào nhiều sương mù thì chợ miền Trung đầy loại cá này. Hấp dẫn nhất đối với tôi là các chú cá heo, đầu láng như bôi dầu. Đứng trên boong thỉnh thoảng tôi cũng thấy vài đàn cá heo đùa nghịch, đuổi theo phía đuôi tàu, khi lặn xuống, khi nổi lên, nhanh nhẹn như những diễn viên xiếc. Một hiện tượng kỳ lạ nhất mà tôi được thấy là có những chú cá trích nửa thân trắng bóng khi gặp đàn cá heo đến gần thì hốt hoảng nhảy lên khỏi mặt nước loạn xạ, nhiều con chui thẳng vào mồm cá heo mở rộng đến mức có thể nhìn thấy màu hồng trên vòm lợi. Chú cá heo gặp may, sau khi nuốt con mồi tươi rói như từ trên trời rơi xuống một cách ngẫu nhiên lại ngẩng đầu lên cao, há mồm chờ đến lượt chú cá trích khác. Không biết ai đã dạy loài cá này có cách săn mồi nghệ sĩ đến vậy.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #15 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2022, 06:43:10 am »

Các chú nói vùng này cũng có nhiều cá mập, loài cá hung dữ nhất đại dương. Loài cá này có con dài đến hàng chục mét, nặng vài tạ, răng sắc nhọn như dao kiếm. Tất cả các tầng nước đều thuộc vương quốc của chúng. Tốc độ bơi rất nhanh nên khi con mồi bị đuổi thì gần như không thể nào chạy thoát. Nhưng không phải loài cá nào cũng sợ nó đâu. Ngược lại có những loại lại sống thân thiện với chúng nữa là khác. Các chú cá nhỏ này bơi theo hàng đàn rất nhanh nhẹn, thu nhặt những vụn thịt rơi ra từ mồm cá mập, thỉnh thoảng lại còn xỉa răng cho chúng như được thiên nhiên phân công làm việc này vậy.


Loài cá to nhất ở biển Đông phải kể đến là cá voi. Đó là loài động vật có vú, đẻ con và nuôi con bằng sữa mẹ. Loài này theo các nhà khoa học thì xưa kia sống trên cạn, sau đó mới chuyển xuống sống ở môi trường nước. Nhưng tôi lại nghĩ tại sao không đặt giả thiết ngược lại rằng những loài động vật có vú trước kia cũng sống trong môi trường biển, thở cả bằng mang và bằng phổi, sau đó chuyển lên sống trên cạn. Riêng cá voi, cá heo, bò biển vẫn tiếp tục sống dưới nước như tổ tiên của chúng? Cá voi nặng hàng tấn, chỉ ăn cá con và sinh vật phù du, rất thân thiện với con người. Dân đánh cá kể rằng khi thuyền bị đắm, cá voi bơi đến kê lưng đỡ thuyền để cứu người khỏi chết đuối và đưa họ vào bờ. Vì vậy người dân sống ở ven biển kiêng gọi tên cá voi mà gọi là cá ông và không bao giờ đánh bắt. Khi cá voi chết, giạt vào bờ, mọi người vớt lên, tổ chức lễ tang rất trọng thể, xương cá được gom lại đưa vào thờ trong các đền. Phong tục này cũng nói lên người Việt ta sống rất có đạo đức, ai giúp được việc gì đều biết ơn một cách chân thành. Hàng năm vào mùa xuân các làng chài đều cúng tế cá ông, múa "bá trạo" diễn tả các động tác chèo thuyền, đánh bắt cá rất vui vẻ.


Cá voi tuy rất lớn nhưng bơi rất nhanh vì có thân hình thuôn, giống như một giọt nước dài, một mẫu hình gặp ít trở lực nhất khi bơi trong nước so với các mẫu hình khác. Tàu ngầm hạt nhân kiểu mới nhất được chế tạo theo hình mẫu và tỷ lệ thân cá voi, tốc độ nhanh hơn 20-25% so với tàu ngầm cũ. Người ta còn phát hiện cá voi bơi nhanh vì nhờ một chất dịch nhầy trên da. Khi bơi nhờ tác dụng trơn của dịch này mà giảm bớt lực cản do ma sát với nước. Các nhà khoa học sản xuất ra loại dầu nhơn mô phỏng theo loại dịch cá voi để quét lên thân tàu thuyền có thể tiết kiệm được 13% công suất của máy. Trên thế giới phong trào chống đánh bắt cá voi rất mạnh, đặc biệt là ở châu Âu, nhằm bảo vệ loài này khỏi bị tuyệt chủng. Tuy vậy một số nước vẫn cố tình đánh bắt một số lượng lớn để lấy thịt và mỡ, đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của chúng.


Cá và sinh vật biển nói chung không chỉ là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho loài người mà còn là nguyên liệu để sản xuất các loại thuốc chữa bệnh. Dầu cá thu là loại dược phẩm rất phổ biến để bồi dưỡng sức khỏe. Khi nào về Hà Nội tôi sẽ gặp giáo sư Phan Lệ Thủy để nhờ bà giảng giải thêm về chủ đề này rồi tôi sẽ kể tỉ mỉ cho các bạn nghe sau.


Về hình dáng cá, nhờ sự chọn lọc tự nhiên hàng triệu năm, nhiều loại đã đạt đến tiêu chuẩn tối ưu xét về khí động học nên trở thành một mô hình mẫu cho các nhà thiết kế phương tiện nổi, tàu thủy, máy bay nghiên cứu, mô phỏng để sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao, giảm ma sát tối đa, tăng tốc độ dịch chuyển. Trường họp cá voi mà tôi đã kể trên kia là một ví dụ. Gần đây, việc nghiên cứu hình thức vẫy đuôi liên tục của cá đã giúp các nhà khoa học phát minh ra loại máy đẩy mới - máy bàn quẫy. Bàn quẫy được lắp sau đuôi của tàu thuyền đáy bằng, thông qua một cơ cấu truyền động làm cho nó quẫy lên xuống liên tục, đẩy thuyến tiến lên phía trước. Ưu thế của loại tàu thuyền lắp loại máy này là khi đi vào các vùng nước nông, nhiều cỏ rong chúng vẫn vượt qua thật dễ dàng, trong lúc các tàu dùng loại máy có cánh quạt bị vướng, không thể chuyển động được. Thiên nhiên quả là một trường học lớn mà đến nay ta vẫn chưa biết khai thác hết.


Vùng biển sâu chắc chắn còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn. Mới đây một người đánh cá Indonesia tên là Lahma buông tấm lưới dài khoảng 100m ở ngoài khơi đảo Sulawesi. Sau ba phút ông nhận thấy lưới có dấu hiệu bắt được rất nhiều cá. Hai cha con vất vả lắm mới kéo được lưới lên thì trời ơi, ông thấy một con cá to rất lạ, nặng đến 50kg, hai mắt như có lân tinh sáng quắc, lại có hai chân, thật là đáng sợ. Các nhà khoa học cho biết đó là cá Vây tay, tức là cá có cặp vây phát triển như cánh tay người, có thể dùng để đi lại trên nền đất cứng. Cá Vây tay sống cách đây 360 triệu năm, tưởng rằng chúng đã tuyệt chủng cùng với khủng long vì lâu nay chỉ còn gặp dưới dạng hóa thạch. Loại cá này cũng thở bằng mang và cả bằng phổi, sống ở độ sâu từ 200 đến 1000 mét nước. Thật là một đối tượng sống để nghiên cứu khoa học, xác định sự tiến hóa của sinh vật, quý giá vô cùng. Biết đâu vùng biển sâu của ta cũng còn lưu giữ các loài cá quý hiếm tương tự?


Với mức độ hiểu biết con rất sơ sài hiện nay, trữ lượng cá ở biển Đông được đánh giá đạt khoảng 3 triệu tấn, trong đó cá tầng trên nhiều hơn cá tầng đáy. Đối tượng khai thác đa dạng, sản lượng hàng năm có thể đạt 1,5 triệu tấn, nhiều loại có giá trị dinh dưỡng lớn và là mặt hàng xuất khẩu hàng năm thu về nhiều tỷ đôla. Hoạt động đánh bắt cá có thể tiến hành quanh năm, các bãi cá quan trọng tập trung ở gần bờ, đáy biển tương đối bằng phẳng, rất thuận tiện khi dùng lưới quét cho năng suất đánh bắt cao. Những vấn đề về công nghệ đánh bắt, về sinh học biển để làm sao vừa khai thác được nhiều mà vẫn phát triển được đàn cá còn rất rộng, tha hồ cho những ai yêu ngành sinh học và thủy sản vẫy vùng.


Tàu đi xa hơn về phía đông nam. Nhóm nghiên cứu độ sâu đáy biển sử dụng máy dò âm học có độ chính xác cao để làm việc. Đây là loại máy dùng sóng âm thanh rất gọn nhẹ để đo thời gian sóng đi từ mặt nước đập thẳng đứng xuống đáy biển rồi quay lại theo nguyên lý phản xạ. Nước biển là một môi trường tương đối đồng nhất, tốc độ truyền sóng âm trong môi trường này khoảng 1.500 mét/giây và gần như không đổi. Máy có khả năng đo thời gian với sai số dưới một phần nghìn giây nên độ sâu đo được rất chính xác. Trước đây ta không có loại máy như vậy nên các nhà nghiên cứu phải dùng dây dọi để đo. Phương pháp thủ công này mất rất nhiều thời gian, lại có độ chính xác thấp vì dây có thể bị xoắn, bị gấp khi gặp vật cản hoặc không ở vị trí thẳng đứng khi gặp các dòng nước ngầm. Số liệu đo độ sâu được đưa lên bản đồ. Bản đồ độ sâu nước biển này vô cùng cần thiết cho ngành đánh bắt hải sản, cho vận tải biển và cho hải quân, giúp cho người đi biển biết các luồng lạch, các trở ngại, các dãy đá ngầm để tránh các hiểm nguy. Bản đồ này vài năm phải đo hiệu đính lại vì đáy biển nhiều nơi bị thay đổi do xói lở, sa bồi.


Ngày hôm sau tàu chạy cắt qua vĩ tuyến 16. Mặt đáy biển bắt đầu nâng lên dần về phía đông nam. Ông Dân thông báo tàu Bình Minh chuẩn bị đi vào vùng biển Trường Sa. Tiếng coi vang lên ba hồi dài tạo nên sự phấn chấn lạ thường trong mỗi tâm hồn chúng tôi, những người sắp biết thêm một vùng đất xa xôi, thiêng liêng của Tổ quốc.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #16 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2022, 06:44:10 am »

Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa là một chủ đề rất được quan tâm đối với bất cứ ai là người Việt Nam nên tất cả các bác, các chú làm việc trên tàu đều yêu cầu các ông lớn tuổi nói rõ hơn các vấn đề có liên quan mà báo chí ít khi đề cập.


Tối hôm đó trong lúc tàu Bình Minh neo đậu giữa biển Đông để nghỉ ngơi sau hai ngày làm việc vất vả, chúng tôi quây quần trên boong lộng gió, vừa ăn mực nướng dưới trăng, vừa nghe các ông kể chuyện. Tiến sĩ Tuấn treo tấm hải đồ biển Đông lên thành tàu và trình bày những điều bác biết về Trường Sa. Đúng là một vấn đề phức tạp, khá khô khan nhưng lại rất trọng đại, thiết thân đối với nước ta nên tôi chép lại nguyên văn để các bạn cùng biết.


Biển Đông rộng khoảng 2.940.000km2 và là một trong những biển lớn nhất trên thế giới. Phần lớn biển Đông nằm trên một thềm nông, bị nhiều cồn, bãi đá, đảo nhỏ và các bãi ngầm chia cắt. Gần một nửa diện tích biển Đông nằm trên đồng bằng biển thẳm, trải rộng ra tới độ sâu 5.000 mét nước ở máng Palawan, nằm ở phía tây bờ biển Philippines. Tùy theo cách phát biểu về hình thái đáy biển sẽ dẫn đến hai nhận thức khác nhau về nguyên tắc phân chia biển Đông. Nếu xem đồng bằng biển thẳm ở biển Đông là phần đại dương biển thẳm, nằm giữa các thềm lục địa của Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei thì mỗi nước có thềm lục địa riêng của mình chẳng có gì phải bàn cãi, tranh chấp. Trong trường hợp này Hoàng Sa - Trường Sa là phần kéo dài tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Còn nếu coi biển Đông là một phần của lục địa châu Á, nằm bên lề của Thái Bình Dương to rộng ở phía cực đông thì các nước trong vùng có cùng chung một thềm lục địa và việc phân chia lại phải dựa trên các nguyên tắc pháp lý khác.


Quần đảo Trường Sa nằm ở đông nam biển Đông cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 600 hải lý, tức là khoảng 1.000km và cách Việt Nam 200 hải lý (320km). Theo luật biển quốc tế, thềm lục địa của Nam Trung Quốc chỉ có thể rộng 320km nên vùng biển Trường Sa không có quan hệ gì với Trung Quốc. Trên nhiều bản đồ quốc tế, vùng này còn mang các tên nói lên những mối hiểm nguy khi tàu thuyền đi qua như "Khu vực nguy hiểm", "Cụm đảo nguy hiểm" vì có rất nhiều dãy đá ngầm đâm thẳng từ miền đồng bằng biển thẳm lên rồi đột ngột tụt xuống tới độ sâu vài nghìn mét nước. Cho đến nay chưa ai biết đích xác quần đảo Trường Sa có bao nhiêu đảo, bao nhiêu bãi ngầm, bãi cạn. Năm 1992, Cục Tình báo trung ương Mỹ xác định có 191 địa điểm có tên riêng trong quần đảo Trường Sa nhưng không nói chúng có hoàn toàn nổi cao hơn mặt nước hay không. Một công trình khoa học khác công bố năm 1979 thì mô tả nhóm đảo Trường Sa "là một chuỗi trải rộng gồm 200 đá san hô, rạn san hô, cồn cát và bãi ngầm".


Một số nhà địa chất cho rằng Trường Sa và Hoàng Sa trong thơi xa xưa là một tiểu lục địa nối liền với phần đất của nước ta ngày nay. Trong quá trình vận động của vỏ quả đất, tiểu lục địa này bị phá vỡ, những gì còn lại chính là những đảo nhỏ của hai quần đảo này. Một số khác lại cho rằng các đảo nhỏ là phần đỉnh của các núi lửa cổ nằm ở phần cực đông của thềm lục địa Đông Dương. Những đỉnh này khi bị nước biển dâng cao, nhận chìm xuông tới độ sâu vài ba chục mét nước, trở thành những địa điểm thích hợp cho san hô phát triển. San hô cứ lớp này chết đi lớp khác lại sinh ra, nâng cao lên, dần dần tạo thành các đảo san hô như ta thấy ngày nay. Để bảo vệ cho lập luận này có thể lấy đảo Thuyền Chài làm ví dụ. Đảo Thuyền Chài nằm ở phần phía nam quần đảo Trường Sa, hình giống như một chiếc thuyền đang rẽ sóng đi về phía đông bắc, trùng với hướng gió mùa. Thuyền Chài là một đảo chìm, mặt đảo là một bãi san hô chỉ nổi trên mặt biển khi nước ròng. Lúc này đảo có dạng một đảo san hô vòng, khép kín hai hồ nước bên trong, dài tới 34km, rộng 5-6km. Khi nước thủy triều lên thì toàn bộ đảo bị chìm trong nước biển, chỉ có những ngôi nhà cao của bộ đội đồn trú ở đây là con nổi trên mặt nước, giống như cảnh ta thường thấy ở những vùng đang bị ngập lụt.


Một đặc điểm của Trường Sa là hình thù các đảo thay đổi theo mùa. Đảo Trường Sa Lớn có một bãi cát trắng rộng hàng nghìn mét vuông, vào tháng Tư bãi này nằm ở phía tây nam, sang tháng Mười thì dịch chuyển sang phía đông nam đảo và quá trình này được lặp lại trong năm tiếp theo. Đảo Sơn Ca có hai doi cát lớn, rộng khoảng 300m2 bồi lở thất thường, khi thì ở phía đông, khi thì ở phía tây. Đảo Sinh Tồn có hai doi cát phía đông và phía tây, di chuyển thường xuyên theo mùa. Tất cả sự thay đổi này đều có nguyên nhân từ gió. Gió to, cát không có gì che chắn, cuốn bay mù mịt, làm ta có cảm giác gió được ông trời giao xúc cát từ nơi này đổ sang nơi khác để làm cho quang cảnh luôn đổi thay kỳ ảo. Thêm vào đó thủy triều và các dòng nước ngầm cũng góp phần vào công trình vĩ đại này.


Từ thế kỷ mười chín trở về trước quần đảo Trường Sa do các vua, chúa nhà Nguyễn quản lý. Các đội thủy quân của triều đình hàng năm đi kiểm tra các đảo, thu nhặt các sản vật, cứu tàu thuyền trong nước và nước ngoài bị đắm. Một sách xưa ghi lại rằng vào tháng Mười năm 1714, cách đây gần 300 năm, ba thuyền buôn từ các nước xa lạ dong buồm đi qua biển Đông thì gặp bão lớn. Thuyền bị gió đánh tơi tả, lại va vào đá ngầm chìm nghỉm. Tất cả người trên thuyền bám vào các mảnh gỗ còn sót, ngoi ngóp giữa lúc biển đang lên cơn thịnh nộ. May mắn làm sao, lúc đó họ gặp đội thủy quân của chúa Nguyễn đang đi tuần tra vớt lên đưa vào đất liền. Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ra lệnh cấp cho họ cơm nước nhưng họ không biết dùng đũa nên phải dùng tay bốc. Người họ vừa to vừa cao, tay chân dài nên áo dài, quần dài của chúa ban cho cũng không mặc được. Còn guốc mộc thì chỉ để làm đồ chơi, chân đi đất bị đau, nhăn nhó thật là khổ sở. Mắt xanh, mũi lõ, râu ria xồm xoàm, bọn trẻ con, phụ nữ trông thấy sợ hết hồn luôn. Chúa cho mời một linh mục đến tiếp xúc mới biết họ là người Hà Lan, một quốc gia xa nước ta hàng vạn dặm, thuyền đi mất nửa năm mới tới nơi. Họ là một dân tộc rất giỏi nghề đi biển, đã chiếm được một vùng đất của Ấn Độ làm thuộc địa, xây dựng một thương điếm trên bờ Ấn Độ Dương. Từ đó họ đi lại giữa châu Âu và châu Á buôn bán hàng hóa, chở lụa là gấm vóc, hạt tiêu, đồ sứ, đồ gốm, trầm hương... từ phương Đông về cho các vua chúa và quý tộc phương Tây, chở vũ khí, đồng hồ quả lắc, ống nhòm, la bàn, bình lọ thủy tinh... sang bán cho các nước mà họ gọi là Viễn Đông, ở miền Nam, thuyền của họ thường ghé Hội An và ở miền Bắc họ thường đến Vân Đồn, Phố Hiến. Những người bị nạn tiếp tục được chúa Nguyễn chu cấp các điều kiện sống, chờ tàu thuyên các nước châu Âu đi ngang qua hải phận Việt Nam thì gửi họ về quê hương.


Sau khi chiếm được nước ta vào cuối thế kỷ 19, Pháp tiếp tục quản lý các đảo Trường Sa - Hoàng Sa và không có nước nào trong khu vực tranh chấp. Những yêu sách bắt đầu xuất hiện từ sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, đặc biệt từ cuối năm 1960, lần lượt là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #17 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2022, 06:44:46 am »

Yêu sách của Trung Quốc đặc biệt mang tính chất nối tiếp các tham vọng của các vua chúa phong kiến cũ, muốn chiếm toàn bộ biển Đông, trừ một dải rất hẹp sát bờ, bắt buộc phải để lại cho các nước khác, vì có muốn cũng không thể nào chiếm giữ được. Lý lẽ của Trung Quốc là biển Đông thuộc Trung Quốc từ thời nhà Hán, cách đây gần 2.000 năm. Những đồ vật cổ và xương người có nguồn gốc Trung Quốc tìm thấy ở đây được viện dẫn làm căn cứ. Họ lờ đi những tư liệu sách vở viết trong các triều đại khác nhau, nhất là của triều đại nhà Thanh (cách đây khoảng 200 năm) nói rõ rằng biên giới cực nam của Trung Quốc là bờ biển đảo Hải Nam.


Bình luận về việc này, luật sư người Mỹ Brice M. Claget đã viết rằng "các yêu sách của Trung Quốc hoàn toàn bất hợp lý, đối lập sâu sắc với những nguyên tắc cơ bản nhất của luật pháp quốc tế và sẽ bị bác bỏ bởi bất kỳ một tòa án nào khi áp dụng Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển hay tập quán quốc tế". Ông còn viết "thật là mỉa mai, yêu sách của Trung Quốc đòi chiếm hữu quần đảo Trường Sa lại hoàn toàn dựa vào sự bành trướng do đế chế Trung Nguyên (các triều đại phong kiến Trung Quốc cổ đại) tiến hành, vốn đã từng xâm lược và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam ngày nay". Các báo chí quốc tế khác còn viết "nêu căn cứ vào cổ vật và xương người thì cả quả đất này đều thuộc Trung Quốc". Từ ba thế kỷ gần đây nhất chỉ có Việt Nam là nước quản lý thực sự quần đảo này. Trước năm 1975 quần đảo Trường Sa thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Phước Tuy và quẤn Đội Sài Gòn đã đồn trú tại đây. Sau khi miền Nam được giải phóng, bộ đội ta lại tiếp tục canh giữ vùng này, trừ đảo Ba Bình bị Đài Loan lợi dụng tình hình phức tạp ở Việt Nam sau Hiệp định Geneve (1954) đã cho quân chiếm đóng bất hợp pháp từ năm 1956, và đến nay vẫn duy trì đội quân đồn trú của họ đông đến 1000 người trên đảo. Hiện nay Trường Sa là một huyện của tỉnh Khánh Hoa, còn Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.


Ngày 14-3-1988 các pháo hạm của Trung Quốc đã tấn công vào một đoàn tàu tiếp tế của Việt Nam, đánh đắm ba tàu và giết chết gần 70 chiến sĩ của ta. Sau đó họ chiếm một số bãi ngầm, tôn tạo bãi đá Chữ Thập thành một đảo nhân tạo hoàn chỉnh, có cả sân bay để làm căn cứ lâu dài.


Trận đánh tại đảo Colin* (Tên tiếng Anh: Collins Reef/Johnson North Reef) một cồn san hô ở hướng đông nam, nối với Đá Gạc Ma, một phần của cồn Union (chú thích - BTV))  xảy ra cách đây hai mươi năm thật là bi tráng. Khi các chiến sĩ hải quân ta đang canh giữ đảo thì bất ngờ pháo hạm Trung Quốc xuất hiện, khiêu khích, rồi đổ bộ lên đảo, giật cờ Việt Nam hòng chiếm đóng đảo vì họ biết lực lượng của ta rất nhỏ, trang bị thô sơ. Chiến sĩ Trần Văn Phương bất chấp lưỡi lê Trung Quốc kể cổ, đạn bắn xả vai vẫn hiên ngang giữ cờ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh anh dũng, táo bạo đá văng súng địch để bảo vệ đồng đội, bảo vệ cột mốc chủ quyền. Các chiến sĩ Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông... cũng "một tấc không đi, một ly không rơi", tử thủ để bảo vệ đảo. Tên tuổi của những anh hùng này tất cả nhân dân ta cần phải biết và lưu truyền mãi mãi. Tàu vận tải nhỏ HQ 604 của ta đến ứng cứu bị bắn chìm, các chiên sĩ hầu hết bị hy sinh. Tàu HQ 505 bị bắn trọng thương. Chính trong giây phút nguy kịch ấy thuyền trưởng Phan Huy Lễ mưu trí lái tàu HQ 505 lao hẳn lên đảo. Nhìn lá cở đỏ sao vàng trên nóc tàu tiếp tục tung bay hiên ngang trước những làn đạn xối xả của bọn xâm lược, các chiến sĩ coò sống tuy bị thương lại tiếp tục chiến đấu kiên cường và cuối cùng đã chiến thắng. Bây giờ mỗi lần tàu thuyền của ta đến đây đều giành một phút mặc niệm, thả hương hoa xuống biển và tên tuổi những chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ đảo được ghi rạng rỡ trong lịch sử QuẤn Đội Nhân dân Việt Nam, bên cạnh hàng vạn anh hùng, liệt sĩ khác.


Tới năm 1992 Trung Quốc đã chiếm 6 bãi ngầm, Philippines chiếm 8, Malaysia chiếm 3, Đài Loan vẫn chiếm đảo Ba Bình, Việt Nam giữ 24, vừa đảo vừa bãi ngầm. Đến năm 2003, Trung Quốc phê chuẩn Nghị định thư về An ninh khu vực Đông Nam Á, cam kết sẽ sử dụng giải pháp hba bình để giải quyết bất đồng, giữ nguyên hiện trạng để không làm phức tạp thêm tình hình. Tuy nhiên họ lại đưa 2000 quân đến đóng trên 9 đảo ngầm, xây dựng sân bay, công sự, các căn cứ phòng không, các bến tàu nhân tạo đủ sức tiếp nhận tàu vận tải 4000 tấn nhằm tạo điều kiện để mở rộng khu vực chiếm đóng, từng bước thực hiện tham vọng chiếm đoạt toàn bộ biển Đông. Trung Quốc còn dàn dựng màn kịch ký hợp đồng thăm dồ dầu khí với một công ty Mỹ bé tí xíu, không có tên trong danh sách các công ty dầu thế giới trên một vùng rộng lớn phía đông nam Côn Sơn, thậm chí còn đòi các mỏ Thanh Long, Lan Đỏ - Lan Tây của ta. Gần đây nhất chính phủ Trung Quốc còn tổ chức tập trận và quyết định thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Hải Nam để quản lý hành chính Hoàng Sa và Trường Sa, gây nên những phản ứng chính đáng của cả dân tộc Việt Nam, nhất là tầng lớp học sinh, sinh viên.


Nhân dân ta rất yêu chuộng tự do, hoa bình, mong muốn được sống bình yên và hữu nghị với các dân tộc khác. Vì vậy Chính phủ ta luôn biết kiềm chế, tiếp tục kiên trì chủ trương giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, giữ cho biển Đông mãi mãi về sau là một vùng biển thái bình. Với thiện chí đó Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã hợp tác cùng thăm dò dầu khí một số vùng Đông Bắc và Nam Trường Sa với Trung Quốc, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia. Nhưng cần phải khẳng định rằng nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam là những nguyên tắc thiêng liêng mà bất cứ thế hệ người Việt nào cũng kiên quyết bảo vệ. Điều cần lưu ý là hiện nay một số người xấu, yêu nước dởm, lợi dụng tình hình để bôi nhọ chế độ ta, họ không hề đề xuất được một giải pháp nào, có một hành động nào giúp giữ gìn lãnh thổ mà chỉ rêu rao nhà nước ta dâng đất cho nước ngoài. Cần cảnh giác cao với những luận điệu này để không bị họ lừa dối nhằm thực hiện các mục tiêu đen tối của họ.


Trong đêm khuya bầu trời như cao hẳn lên với ngàn sao lung linh khảm ngọc. Biết có cách nào nhanh nhất để tôi gửi đến các bạn những điều vừa lĩnh hội được cùng những tình cảm của mình trong lúc này không?

Khoảng 10 giở sáng ngày tiếp theo, chúng tôi đã bắt đầu nhìn thấy Trường Sa Lớn, bây giờ đã trở thành huyện lỵ của huyện đảo Trường Sa. Cảnh trí đã khác xa những gì tôi được biết qua sách báo xuất bản trước kia mà tôi đã đọc. Trước khi đến đây tôi hình dung Trường Sa là một vùng chỉ có nắng, gió, bão, san hô, cát sỏi và nước mặn hoặc nước lợ. Cây cối chỉ có ba loại sống lưa thưa là cây phong ba, cây bão táp và cây bàng vuông. Chỉ nghe cái tên cũng đã thấy khắc nghiệt rồi. Cây phong ba đặc biệt nhiều ở đảo Song Tử Tây. Nhìn từ xa, lá và hoa phong ba không khác gì cây hoa sữa nên đến mùa trổ hoa lính đảo gốc Hà Nội như tìm thấy lại hương vị thủ đô giữa biển Đông. Cây bão táp thô nhưng mềm mại, uốn cành ra phía biển, hứng lấy những lớp sóng và gió mặn liên miên mà vẫn xanh tươi. Cây bàng vuông xù xì, lá to, bóng tỏa xum xuê. Hoa bàng vuông màu trắng, mỏng manh và chỉ nở về đêm như chỉ để tặng riêng cho nhũng anh bộ đội gác đảo trong những đêm dài, vắng bóng trăng sao. Khi hoa bàng tàn, quả xanh xuất hiện, lớn dần theo từng ngày, hình vuông rất lạ mắt. Đến đảo Nam Yẽt ta lại gặp những bóng dừa cao vút thân nghiêng điệu đà trên mé biển. Ngoài dừa, không biết từ lúc nào, cây nhàu cũng được di thực đến đây mà ngày nay những chùm quả đã sum suê. Nhiều bạn chắc còn chưa biết đến trái nhàu là nguyên liệu điều chế ra thần dược Noni có khả năng chữa được nhiều bệnh hiểm vì chứa rất nhiều loại vitamin và khoáng chất vi lượng. Thật là những ví dụ điển hình cho sự thích nghi của sự sống đối với môi trường, một biểu trưng của tinh thần bất khuất và tình yêu đối với sự yên bình.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #18 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2022, 06:45:25 am »

Trong nhiều năm liền các anh bộ đội hải quân và các nhà khoa học đã cần cù mang đất từ đất liền ra để cải tạo cát, thử nghiệm trồng phi lao, nhàu, mù u, hoa sữa, bàng thường, đa, si... và cuối cùng tìm được loài cây tra rễ chùm, chịu được gió bão. Cây tra có đặc điểm là dễ chiết, mỗi năm có thể chiết hàng nghìn cành, trồng rất nhanh. Nhờ có cây xanh che gió, các vườn rau, các giàn bầu bí, các vườn hoa xuất hiện. Rễ cây lại giữ được nước mưa nên các giếng đào trước đây may mắn lắm mới gặp nước lợ, nay được ngọt hóa. Chim chóc có chỗ trú, cảnh trí vui hẳn lên. Môi trường lại tiếp tục được cải thiện, nhiều giống cây trước đây không sống được dần dần lại thích nghi.


Chúng tôi lên bờ giữa vòng tay chào đón thân thương của hàng trăm người lính đảo và vô cùng xúc động khi đứng trước bia chủ quyền ghi tên đảo dưới ngôi sao vàng lớn rạng rỡ.

Trường Sa Lớn chưa đông người, nhưng ngày nay ngoài bộ đội đã có một số gia đình thanh niên đến lập nghiệp. Thị trấn đã có một công viên xanh, đường đi lại lót bê tông, nhà ở quy hoạch vuông vắn, môi trường sạch đẹp. Giữa đảo có hội trường và sân bóng đảm bảo một cuộc sống tinh thần dễ chịu. Cầu cảng được xây dựng bằng bê tông kiên cố, khi triều cường có thể đón được các tàu lớn hàng nghìn tấn cập bến.


Bên cạnh đó là một khu nhà khách tương đối khang trang để đón tiếp ngư dân ghé nghỉ ngơi hoặc tránh bão.

So với trước đây 5 năm, đời sống trên đảo cũng đã được cải thiện rất nhiều. Từ nơi ăn ở, vui chơi đến công sự bảo vệ đảo đều được xây dựng kiên cố, không còn cảnh tạm bợ như xưa. Các vườn rau lang, rau muống, rau cải, mồng tơi xanh mướt, các giàn bí, giàn bầu trĩu quả, hàng năm cung cấp hàng tấn rau xanh giúp người sống trên đảo thoát khỏi những cơn bệnh do thiếu vitamin gây ra. Những chú lợn béo tròn nhờ được nuôi bằng cá tươi, ụt ịt, chạy rông trên đảo. Tiếng vịt gọi nhau quang quác. Tiếng gà gáy trưa. Tiếng chó sủa đêm. Tất cả những âm thanh ấy kết hợp với nhau làm cho ta sống trên đảo mà cứ như ở trong một làng quê. Các bể chứa nước mưa lớn, đủ dùng để ăn uống quanh năm. Buổi sáng trên bãi biển hàng trăm người tập thể dục nhịp nhàng theo tiếng nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ban ngày nếu trời yên biển lặng anh em lại dắt nhau đi bắt cá, bắt tôm cua, nhặt ốc để cải thiện. Buổi chiều các trận bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn giao tranh sôi nổi. Buổi tối trừ những lúc làm nhiệm vụ, các chiến sĩ ta lại quây quần bên chiếc tivi nghe thời sự, xem các chương trình ca nhạc, văn nghệ đặc biệt là theo dõi chương trình Chúng tôi là chiến sĩ của VTV3.


Cái khó khăn lớn nhất là thiếu vắng tình cảm gia đình và chữa trị các bệnh nguy cấp. Thư từ có khi hàng năm mới nhận được. Người thân ở quê khi đau ốm không được trực tiếp chăm sóc, trông nom. Con cái không được trực tiếp dạy dỗ. Khi nào mạng internet phủ sóng đến đây thì khoảng cách giữa đất liền và Trường Sa mới được rút ngắn. Các cư dân trên đảo lúc đó có thể tiếp xúc với gia đình, nói chuyện, nhìn thấy nhau qua màn hình bất kỳ vào giờ nào, và những thông tin đa dạng trên toàn thế giới có thể cập nhật qua một máy tính xách tay gọn nhẹ. Sống trên đảo khi đau ốm nặng giá như có một bệnh viện đa khoa, đầy đủ bác sĩ thì yên tâm biết bao. Các anh lính trẻ thì nói xa nói gần rằng ước gì có đại diện của một nửa nhân loại thì cuộc đời trên đảo sẽ rất hoàn hảo. Hiện nay tất cả những điều nói trên còn là mơ ước, nhưng là mơ uớc trong tầm tay nếu các cơ quan hữu quan có sự quan tâm đầy đủ.


Cuộc sống trên các đảo nhỏ còn khó khăn hơn rất nhiều. An Bang là một ví dụ. Đảo này từng được gọi là "lò nung vôi thế kỷ" vì chỉ có cát trắng, san hô. Nhiệt độ thường xuyên gần 40°c. Hình dáng An Bang giống như một chiếc chìa khóa khổng lồ. Mũi chìa khóa là một doi cát. Tháng Tư đến tháng Bảy hàng năm, doi cát chuyển dịch từ bờ Tây sang bờ Nam. Đến tháng Tám thì lại nằm ở bờ Đông và tháng Mười hai lại trở về vị trí cũ. Chung quanh đảo có dòng nước chảy xiết, khi sóng to, gió lớn tàu tiếp tế đến cũng khó có thể tiếp cận với đảo. Dưới cái nắng chói chang, sóng gió bất thường, bằng các phương tiện hết sức thô sơ, các chiến sĩ ta đã chuyển hàng vạn tấn sắt thép, xi măng đến đảo để xây dựng đèn biển, nhà ở, pháo đài. Bên cạnh các chiến sĩ còn có các nhà khoa học quan trắc khí tượng, các cán bộ của trạm hải đăng. Họ sống gần như biệt lập giữa trùng dương, ngày đêm làm việc không mệt mỏi để thông báo hướng gió, cấp gió, dự báo thời tiết cho mọi hoạt động trên biển. Đêm đêm từ ngọn tháp cao 25 mét họ phát luồng ánh sáng xuyên suốt màn đêm đen kịt để các tàu thuyền cách đó 20km cũng nhận ra họ đang ở đâu, nên đi theo hướng nào cho an toàn, thuận lợi. Họ âm thầm phục vụ không những cho lợi ích của Việt Nam mà còn cho nhân loại, qua đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước ta.


Gian khổ nhất là những người sống, làm việc trên các đảo chìm và ở các trạm khoa học - dịch vụ, gọi là các nhà giàn DK. Gọi là đảo chìm vì hầu hết ngày đêm bị nước phủ kín, chỉ nhô lên khi thủy triều xuống, tức là vào lúc nước ròng.


Trên các đảo chìm đó ta xây các công trình lâu bền, cao như ngôi nhà ba tầng để ăn ở, canh gác hải phận và nghiên cứu, phục vụ các nhu cầu sản xuất trong vùng. Thức ăn, nước uống phải dự trữ đủ cho nửa năm, đề phòng các bất trắc. Sóng có thể dâng nước lên đến tầng hai nên không gian sinh hoạt vô cùng chật chội, ẩm ướt. Trên quần áo, đồ dùng, thiết bị và cả trên da thịt lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, đầy muối. Giàn DK do những cán bộ ngành dầu khí xây dựng. Đó là một loại nhà sàn, đặt trên các chân đế làm bằng cọc sắt thép, cắm sâu xuống đáy biển. Sàn cách mặt nước khoảng mười mét nhưng lúc triều cường hoặc sóng lớn, nước biển cũng có thể tràn vào nhà dễ dàng. Cũng có lúc sóng quá mạnh, chân đế lâu ngày bị rỉ không chịu đựng nổi, giàn bị đổ sụp, người chết không tìm thấy xác. Đó là chưa kể trường hợp bị kẻ thù giấu mặt đánh lén.


Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữa thời bình vẫn còn biết bao hy sinh. Những người làm việc ờ Trường Sa cũng như ở biên cương, hải đảo khác quả là những chiến sĩ thép, những anh hùng của thơi đại. Họ xứng đáng được thướng các loại huân chương cao quý gấp nhiều lần những người khác. Không có lòng yêu nước thiết tha, không có lý tưởng cao đẹp luôn chói sáng tâm hồn thì không thể nào sống, làm việc và cảm thấy hạnh phúc trong những điều kiện khắc nghiệt như vậy. Những ai luôn hằn học với cuộc đời, luôn thấy xã hội đầy một màu đen tối mặc dù họ không làm được một việc nhỏ nào để đất nước trở nên hùng cường, văn minh, nếu một lần được đến đây chắc chắn sẽ được dịp nhìn lại chính xác bản thân mình, để sẽ phải tự vấn lương tâm.


Trong tương lai khi ta có đủ điều kiện đầu tư thì Trường Sa chắc chắn sẽ có các trung tâm dịch vụ biển, các cảng cá, nhà máy sản xuất nước đá, nhà máy chế biến hải sản, các nhà hàng du lịch và các ngành sản xuất khác. Và xa hơn nữa, chúng ta có thể lấn biển, xây dựng nhiều đảo nổi, bắc cầu nối các đảo, xây dựng sân bay, nhà máy điện chạy bằng sức gió và bằng năng luợng mặt trời, bằng thủy triều, bằng sóng biển, dùng điện để lọc nước mặn thành nước ngọt thì sẽ tạo được môi trường sống tốt hơn, cư dân sẽ đông đúc hơn. Một thành phố lớn sẽ ra đời trên biển Đông với bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu chuyên ngành chẳng khác gì trên đất liền. Các cuộc thi hoa hậu, các trận đá bóng quốc tế, các buổi biểu diễn văn nghệ giao lưu giữa các dân tộc và những khu du lịch hiện đại với những khách sạn tiện nghi mọc từ các bãi ngầm sẽ là các kỳ quan mới của đất nước. Những ý nghĩ ấy chứng tỏ các ông, các bác cùng đi với tôi trên con tàu Bình Minh thật là những con người yêu đời và vô cùng lãng mạn.


Hôm sau chúng tôi rời Trường Sa với bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Chúng tôi hát vang bài ca mới học gửi anh chiến sĩ Trường Sa: "Chúng ta hát bài ca/ một bài ca hay nhất/ gửi Trường Sa thân yêu/ cả niềm tin quê ta/ Chúng ta hát bài ca/ một bài ca hay nhất/ gửi các anh chiến sĩ/ đang canh giữ đảo xa! Vì quê hương các anh đã xa nhà/ Ở đảo xa chắc tay súng ngày đêm/ để quê nhà yên ấm/ thơm hương lúa đồng xanh/ để khăn quàng tươi thắm/ vui tiếng hát trẻ thơ". Tiếng hát vang xa, hòa trong gió và được gió mang đi khắp đảo.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 518



« Trả lời #19 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2022, 06:46:11 am »

Kho báu chìm dưới biển

Tàu Bình Minh đưa đoàn nghiên cứu đi khảo sát quanh các đảo. Điều gây cho tôi nhiều ấn tượng là trên đường đi, tôi nhìn thấy nhiều xác tàu. Có lẽ đó là những tàu bị đắm không quá lâu nên khung sườn vẫn còn nguyên vẹn. Gần đảo Phan Vinh mang tên người anh hùng của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, về phía tây vành đai san hô, khi nước triều thấp có thể lội bộ ra xem một xác tàu hoen rỉ. Không biết con tàu xấu số này của ai, chìm từ bao giờ, có ai còn sống sót không vì chẳng có một thông tin gì còn sót lại. Đồ đạc trên tàu nếu có thì cũng đã được những người trước kia đến đây thu nhặt hết rồi. Trên khung sắt đen ngòm có rất nhiều con hàu, những con sinh sau bám vào lưng những con đã chết, tạo thành, những chùm hoa biển. Chú Dũng phát hiện một điều lý thú mà đến nay chưa ai giải thích được: con hàu tiết ra chất gì mà có thể kết dính thân nó với chất sắt thân tàu chắc chắn đến nỗi phải dùng đến máy mài mới làm sạch được, ở Hà Nội, chúng tôi có nghe nói đến nhóm nghiên cứu do giáo sư Phái đứng đầu đã từng sản xuất được loại keo dán các thanh sắt làm dầm cầu mà không cần phải bắt bu lông. Chắc chắn loài hàu này chẳng học hành gì ráo mà cũng cha truyền con nối từ triệu năm về trước sản xuất ra loại keo chất lượng còn cao hơn sản phẩm của con người thông minh tạo ra. Tôi sẽ nói với giáo sư để bà tiếp tục nghiên cứu vấn đề hấp dẫn này. Nếu chúng ta biết được thành phần chất keo loài hàu tiết ra, biết được công thức và cơ chế sản xuất hoặc biết phương pháp tách chiết chất này, thì chắc chắn sẽ làm ra được loại keo sinh học tuyệt vời, rẻ tiền và đa dụng. Thế mới biết thiên nhiên giành cho con người những kho báu nhưng chỉ có học thức mới có thể tìm được câu thần chú "Vừng ơi, mở cửa ra!".


Ở đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Núi Le, mỗi nơi đều có thể gặp từ một đến bốn xác tàu kiểu như vậy. Khoang tàu trở thành cung điện dành riêng cho các loài cá nhỏ, tôm, cua, được trang trí bằng vô số các cành rong rêu đủ màu sắc, phất phơ uốn lượn giữa khối nước trong vắt. Các chú kể rằng khi triều cường cũng có những chú cá to lớn chui vào để bắt mồi rồi bị mắc kẹt khi nước triều lui. Dân chài bắt được, mổ bụng ra đôi khi còn tìm thấy chiếc nhẫn vàng, chiếc đồng hồ đeo tay, những di vật của những người quá cố. Chỉ nghe thôi đã đủ phát khiếp.


Dọc biển Đông còn rất nhiều nơi có những xác tàu như thế, nhất là trên những con đường hàng hải cổ xưa. Tàu chìm, mang theo những của cải bị cát, bùn do những dòng nước ngầm mang đến vùi lấp nên vẫn con gần như nguyên vẹn. Đó là những kho báu được giấu kín, và là đối tượng của ngành khảo cổ học đại dương.


Trong lịch sử nước ta còn ghi lại biết bao nhiêu trận chiến xảy ra trên biển, trên các cửa sông, trong các vịnh suốt từ Bắc chí Nam. Và còn biết bao nhiêu sự kiện khác đã chìm vào quên lãng liên quan đến hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước gần xa. Chắc rằng các sự kiện đó còn để lại dấu tích trong lớp bùn, cát đáy biển như gươm, giáo, cung nỏ, súng thần công, khiên, giáp, mũ mão cũng như các đồ dùng sinh hoạt, các loại hàng hóa, chiến lợi phẩm vùi theo cùng tàu thuyển bị đắm. Biết đâu một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm lại được ấn tín của An Dương Vương khi rẽ nước đi vào biển Đông để không bị rơi vào tay Triệu Đà; giáp trụ của bộ tướng Toa Đô khi bị đuổi chạy khỏi Chiêm Quốc hồi thế kỷ mười ba, Thần cơ sang pháo của Hồ Nguyên Trừng sáng chế, gươm báu của quân tướng Tây Son trong đầm Thị Nại, v.v... và các bia ký, tượng vàng, tượng đá tạc vua chúa, thánh thần ở các đền miếu, thành quách xây dựng gần bờ biển bị sụt lớ, cuốn trôi theo sóng nước thuộc các triều đại của vương quốc Phù Nam, Chân Lạp, Champa, Đại Việt ngày xưa. Mới cách đây vài năm thôi ở vùng biển Thừa Thiên - Quảng Nam chúng ta đã vớt được hàng chục khẩu đại bác cổ phòng vệ bờ biển thuộc thế kỷ 18-19 và chắc chắn sẽ còn tìm thấy ở các vùng biển khác. Đúng là một kho tư liệu vô giá mà ta phải kiếm tìm để bổ sung cho lịch sử của dân tộc.


Các công ty tìm kiếm cổ vật của châu Âu có cả một danh sách ghi lại các con tàu viễn dương bị mất tích dài dằng dặc. Trên vùng biển Đông, tàu Kemphaan 100 tấn của công ty Đông Ấn Hà Lan bị đắm ở Đàng trong (từ Quảng Bình trở vào) ngày 22-10-1633 với toàn bộ hàng hóa và 18 khẩu đại bác; tàu Alblasserdam mất tích ngày 14-7-1735; tàu Keizerin trọng tải 200 tấn chở đồ gốm sứ mất liên lạc ở vùng biển Trung bộ từ ngày 29-10-1636; tàu Gouden Leeuw, 330 tấn, chìm tại vùng đảo ngoài khơi vịnh Bắc bộ năm 1674, v.v... mà đến nay không ai biết chính xác vị trí tàu chìm ở đâu.


Vào những năm cuối thế kỷ 20, chuẩn bị bước sang thiên niên kỷ mới, tin tìm được kho báu ở gần Cù lao Chàm (Hội An - Quảng Nam) đã khuấy động cả dư luận không những ở Việt Nam mà còn cả ở châu Âu, châu Mỹ. Tàu không biết tên, bằng gỗ tếch, một loại gỗ rất cứng của Trường Sơn, dài 30m, chở đầy đồ gốm, sản xuất cách đây 500 năm tại làng Chu Đậu, một làng gốm nổi tiếng bên tả ngạn sông Thái Bình. Trên tờ Mercury tháng Sáu năm 2000 có đăng lời bà Dessa Goddar, giám đốc ngành nghệ thuật Á châu của một tổ chức ở San Francisco nói lên ý nghĩa của phát hiện này như sau: "Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta thường nghĩ là đã hoàn toàn biến mất".


Trước kia một vài sản phẩm gốm của Đại Việt có ghi thời gian ra đời và nơi sản xuất là Chu Đậu được tìm thấy ở vài bảo tàng châu Âu nên người ta mới biết đến làng gốm Chu Đậu của Việt Nam vốn đã mất tăm, mất tích cách đây 300 năm. Lần này không những chúng ta tìm lại được gốm Chu Đậu mà còn với khối lượng hàng nghìn sản phẩm, cổ vật trục vớt được ở Cù lao Chàm cho thấy con tàu đã mua gốm từ một thương cảng nào đó ở đồng bằng Bắc bộ và đang trên đường chở đi tiêu thụ ở thị trường các nước phía nam thì bị chìm. Ngày nay các bạn có thể nhìn thấy các cổ vật này trưng bày trang trọng trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và nhiều bảo tàng khác trên thế giới.


Điều quan trọng là cùng với khám phá này, các nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm ra được làng Chu Đậu thuộc tỉnh Hải Dương, phục hồi lại được dòng sông cổ, tìm lại được thương cảng từ lâu đã không còn, nối liền với phố Hiến và kinh thành Thăng Long. Các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đến làng, khai quật được rất nhiều lò gốm hoang phế, chốn vùi trong lòng đất với vô số kiểu dáng, hoa văn, màu sắc men độc đáo. Các sản phẩm gốm, sành sứ cao cấp, chất lượng ngang hàng với các sản phẩm cùng thời của Trung Hoa, Nhật Bản. Một doanh nhân tâm huyết với đồ gốm bỏ tiền đầu tư, xây dựng xưởng, đường sá, khôi phục lại một ngành thủ công mang tính văn hóa lâu đời. Cháu chắt chút chít của những nghệ nhân làng Chu Đậu ngày xưa bây giờ lại được đào tạo trở thành những nghệ nhân mới, kiến thực rộng và đầy tài hoa, tiếp tục đưa ra thị trường thế giới những sản phẩm truyền thống được nâng cấp ngang tầm thời đại. Một dòng gốm nổi tiếng được hồi sinh làm rạng rỡ cho văn hóa Việt.


Tháng 6-1997, ở Cà Mau trong một chuyến đi biển, một gia đình câu được một con cá mú khá to, dài gần nửa mét, nặng 20kg. Trong bụng cá, lẫn lộn với thức ăn có một mảnh gốm sứ. Cuộc săn lùng tàu đắm bắt đầu và cuối cùng tìm được chiếc tàu cổ, chìm ở hải phận huyện Trần Văn Thời, ở độ sâu 36 mét nước. Các nhà khoa học thuộc Hội khoa học lịch sử và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xác định con tàu tìm thấy ở Cà Mau là con tàu chở hàng từ Trung Quốc đến các thị trường Tây Á.


Con tàu đắm phát hiện ở Bình Thuận là con tàu thứ 5 được Việt Nam khai quật khảo cổ học thành công. Sau khi tìm được con tàu ở Cà Mau, sau Tết 2001 lại có tin đồn về một con tàu dài 20 sải tay, nằm ở đáy biển thuộc huyện Tuy Phong cách Phan Thiết khoảng 60km về phía đông. Các thợ lặn lấy lên từ độ sâu 40 mét nước được 61.000 hiện vật, chủ yếu là đồ sứ Chương Châu, Phúc Kiên và một số khác từ Quảng Đông, Trung Quốc. Con tàu xác định được đóng trong thế kỷ 19. 17.000 hiện vật được bán đấu giá tại Melbourne, Australia, thu được 1,2 triệu đô la Mỹ. Hiện nay ở Việt Nam cũng đã có những đơn vị chuyên nghiệp đi tìm và khai quật tàu đắm.


Việc tìm kiếm nói chung là khó khăn, vì kích thước tàu nhỏ, phần lớn bằng gỗ, lại chìm dưới cát, bùn, các phương pháp vật lý ứng dụng trong khảo cổ học trên đất liền không sử dụng được hoặc hiệu quả thấp. Cho đến nay các phát hiện đều dựa vào các thông tin từ những người đánh cá. Hy vọng trong tương lai công nghệ đánh bắt hải sản và khảo cổ học tân tiến hơn có thể góp phần tìm ra các kho báu này mà từ lâu biển cả vẫn giữ gìn để trả lại cho chúng ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM