Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Sáu, 2022, 05:59:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay  (Đọc 566 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 679



« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2022, 06:27:19 am »

Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần của Mỹ, được công bố ngày 30-9-2001, tức là sau 11 tháng 9, vẫn khẳng định: "Hiện có khả năng một đối thủ quân sự có cơ sở nguồn lực đáng gờm nổi lên ở châu Á. Miền duyên hải Đông Á - từ vịnh Bengan đến biển Nhật Bản - tiêu biểu cho một khu vực đặc biệt mang tính thách thức". Như vậy, cho dù Trung Quốc không còn bị công khai gọi là "đối thủ chiến lược", Báo cáo Đánh giá quốc phòng vẫn hàm ý Trung Quốc khi đề cập những thách thức đối với nước Mỹ. Trong khi đó, "có những khoảng cách rất lớn ở chiến trường châu Á. Mật độ bố trí căn cứ của Mỹ và cơ sở hạ tầng trên tuyến đường đó thấp hơn so với những khu vực quan trọng khác. Mỹ cũng có ít sự bảo đảm hơn đối với việc tiếp cận các cơ sở ở khu vực này"1 (Thông tấn xã Việt Nam, "Báo cáo Đánh giá quốc phòng bốn năm một lần", Tài liệu tham khảo số 11-12-2002, tr.9). Đây là những lý do khiến bản báo cáo đã đưa vị trí của Đông Á lên trước châu Âu. Báo cáo khẳng định sự cần thiết phải tái cơ cấu lực lượng của Mỹ để có thể đối phó hữu hiệu với các thách thức ở Đông Á và đề nghị tăng cường sức mạnh hải, lục, không quân cho khu vực Đông Á, Tây Nam Á và Trung Đông.


Ba là điều chỉnh chính sách đối với bán đảo Triều Tiên. Mỹ vẫn theo đuổi những mục tiêu không đổi ở bán đảo Triều Tiên, bao gồm duy trì ổn định, không phổ biến hạt nhân, hoà giải trên bán đảo Triều Tiên và củng cố liên minh an ninh Mỹ - Hàn1 (Joel Wit, "The United States and North Korea", Policy Brief #74, 3-2001, http://www.brookings.org). Vì vậy, mặc dù chỉ trích chính sách của chính quyền Clinton, chính quyền Bush cũng không có sự lựa chọn chính sách nào phục vụ lợi ích của Mỹ ở bán đảo Triều Tiên tốt hơn là duy trì đối thoại, tiếp xúc và can dự với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Tuy nhiên, sự khác biệt thể hiện ở cách tiếp cận cứng rắn hơn của chính quyền Bush.


Đúng vào lúc Mỹ đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc chiến ở Irắc, khủng hoảng hạt nhân xảy ra trên bán đảo Triều Tiên sau khi Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đưa ra tuyên bố không từ bỏ việc phát triển vũ khí hạt nhân và yêu cầu các thanh tra vũ khí hạt nhân phải rời Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Như vậy, Mỹ lại đứng trước một tình thế khó khăn mới. Tình hình hiện nay có những điểm giống với cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu những năm 1990. Cuộc khủng hoảng hạt nhân thời kỳ đó đã được tạm thời giải quyết với Hiệp định khung năm 1994. Theo hiệp định này, phía Mỹ đồng ý dàn xếp việc cung cấp hai lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ và 500.000 tấn dầu nặng mỗi năm cho đến khi lò phản ứng nước nhẹ đầu tiên hoàn thành nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Đổi lại, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên sẽ cho phép quốc tế thanh sát hai cơ sở hạt nhân đang hoạt động, đồng ý không tái chế các chất thải từ lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon.


Sự sụp đổ của Hiệp định khung năm 1994 đặt chính quyền Bush trước những sự lựa chọn khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ đang tập trung vào vấn đề Irắc. Tình hình trước mắt còn diễn biến phức tạp. Tuy vậy, ít có khả năng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Triều Tiên như tinh thần của Học thuyết chiến tranh phòng ngừa. Khác với Irắc, bán đảo Triều Tiên là nơi đan xen lợi ích của nhiều nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, Nga và Nhật Bản. Sự có mặt của nhân tố vũ khí hạt nhân cùng với lợi ích của các đồng minh của Mỹ ở khu vực này làm cho khả năng xảy ra chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên vào thời điểm hiện nay là thấp. Mặt khác, xét từ cách tiếp cận cứng rắn và thực dụng của chính quyền Bush, cũng ít có khả năng chính quyền Bush chịu thoả hiệp nhanh chóng với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, chấp nhận những yêu cầu mà Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đưa ra. Giải pháp Mỹ gây sức ép đối với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên thông qua Liên hợp quốc để tiến tới một thoả thuận mới có thể chấp nhận được với các bên là hai miền Triều Tiên, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Sự cải thiện gần đây trong quan hệ giữa các nước lớn cũng như sự chia sẻ lợi ích của các nước lớn ở khu vực này cho thấy Mỹ có thể tìm được sự đồng thuận của các nước lớn khác trong vấn đề Triều Tiên để phục vụ mục tiêu chính sách cao nhất của Mỹ là ngăn không cho Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên có được vũ khí hạt nhân và không phát triển các loại tên lửa tầm xa.


Bốn là điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á. Từ sau sự kiện 11 tháng 9, Đông Nam Á càng trở nên quan trọng đối với Mỹ. Mỹ coi đây là mặt trận thứ hai chống khủng bố chủ yếu vì hai nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất, ở Đông Nam Á tập trung một số nước có cộng đồng Hồi giáo đông đảo và Hồi giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền chính trị khu vực. Thứ hai là sự tồn tại của một số nhóm Hồi giáo cực đoan, có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda ở khu vực này. Hơn nữa, nhìn về lâu dài, tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á cũng phục vụ mục tiêu lâu dài của Mỹ là kiềm chế Trung Quốc.


Mỹ thúc đẩy mạnh quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, với một số nước Đông Nam Á, điển hình là Inđônêxia và Philippin. Tháng 1-2002, sau khi chiến dịch "Tự do bền vững" ở Ápganixtan đã loại bỏ được Taliban và tiêu diệt được phần lớn cơ sở của Al Qaeda, cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ bước sang giai đoạn 2 với tuyên bố điều 650 quân trong lực lượng chống khủng bố của Mỹ sang Philippin để hỗ trợ và đào tạo lực lượng của Philippin tiêu diệt Abu Sayyaf, một nhóm khủng bố mà Mỹ cho là có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda1 (Rensselaer Lee and Raphel Perl, "Terrorism, the Future, and U.S. Foreign Policy", CRS Issue Brief for Congress, 26-3-2002). Trong khi đó, Philippin đồng ý cho Mỹ sử dụng không phận Philippin và tiếp cận các căn cứ quân sự Mỹ trước đây tại Philippin là Subic và Clark. Tổng thống Bush đã cam kết viện trợ kinh tế và quân sự cho Inđônêxia trị giá hơn 700 triệu USD để đổi lại sự hợp tác của nước này trong chiến dịch chống khủng bố. Quốc hội Mỹ bỏ qua các điều khoản cấm viện trợ vũ khí cho Inđônêxia. Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho Inđônêxia để đổi lại sự ủng hộ của nước này đối với cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ. Vai trò của Inđônêxia, với tư cách là một nước có số dân theo Đạo Hồi đông nhất thế giới, cũng rất quan trọng đối với Mỹ vì tăng cường hợp tác với những nước Hồi giáo ôn hoà là một thành tố chính sách quan trọng của Mỹ khiến cho cuộc chiến chống khủng bố không trở thành "cuộc xung đột giữa các nền văn minh".


Việc Mỹ tăng cường sự hiện diện và mở rộng hợp tác quân sự đối với khu vực Đông Nam Á vì mục tiêu chống khủng bố đã làm tăng thêm tính phức tạp và khó lường trong môi trường an ninh khu vực. Sự cải thiện trong quan hệ Mỹ - Trung từ sau sự kiện 11 tháng 9 có tính chất sách lược hơn là chiến lược. Trong quan hệ Mỹ - Trung, sự nghi ngờ về mục tiêu và ý đồ giữa một siêu cường đang mưu cầu vị trí độc tôn và bá quyền thế giới với một cường quốc đang trỗi dậy còn rất lớn. Bởi vậy, những hành động tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ cho dù với mục tiêu công khai chống khủng bố, ở Đông Nam Á và Trung Á, những khu vực sân sau của Trung Quốc, không khỏi khoét sâu những nghi kỵ và mâu thuẫn lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.


Tóm lại, châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương là hai khu vực chiến lược chủ yếu của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, vị trí của châu Á ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược an ninh của Mỹ vì ở đây tồn tại những thách thức lớn nhất đối với lợi ích của Mỹ. Đặc biệt, sự trỗi dậy của Trung Quốc trở thành một quan ngại an ninh dài hạn đối với Mỹ bởi khả năng nước này thách thức vị trí siêu cường và vai trò lãnh đạo của Mỹ trong tương lai. Trong khi đó, khu vực này vẫn thiếu vắng một cơ chế hợp tác an ninh hữu hiệu, một cơ chế Mỹ có thể dựa vào để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực. Chính vì vậy, giới hoạch định chiến lược, đặc biệt là giới quân sự của Mỹ, ngày càng chú trọng hơn đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược toàn cầu từ châu Âu sang châu Á đã bắt đầu manh nha từ dưới chính quyền Clinton. Dưới chính quyền Bush, tư duy đối ngoại hiện thực chính trị của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh đã đẩy quá trình này thêm một bước. Tuy nhiên, sự kiện ngày 11-9-2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tạo ra một bước ngoặt mới trong chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ. Do ưu tiên trong những năm tới là cuộc chiến chống khủng bố, Mỹ cần sự hợp tác của các nước lớn khác trong đó có Trung Quốc. Việc cải thiện quan hệ của Mỹ với Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố không có tính chất lâu dài. Một khi nguy cơ của chủ nghĩa khủng bố quốc tế bị đẩy lui, những mâu thuẫn chiến lược khó có thể dung hoà giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ lại bộc lộ rõ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM