Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 11 Tháng Tám, 2022, 10:10:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay  (Đọc 1072 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« vào lúc: 11 Tháng Tư, 2022, 03:59:53 pm »

- Tên sách: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
- Tác giả: Lê Linh Lan - Nguyễn Thu Hằng - Lê Đình Tĩnh
- Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
- Năm xuất bản: 2004
- Người số hóa: giangtvx, saoden


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về chiến lược toàn cầu của Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Về chiến lươc an ninh của Mỹ hiện nay do tập thể các tác giả thuộc Học viện Quan hệ quốc tế biên soạn.


Trên cơ sở trình bày những điểm chính trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ kể từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cuốn sách đi sâu phân tích bối cảnh tình hình thế giới và nước Mỹ sau "cuộc tấn công khủng bố vào toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc ngày 11 tháng 9" dẫn đến sự điều chỉnh chiến lược an ninh của chính quyền Bush hiện nay. Phần trọng tâm của cuốn sách tập trung vào những nội dung cơ bản của chiến lược an ninh khu vực của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh và nhất là Chiến lược an ninh quốc gia mới do Tổng thống Bush chính thức công bố vào ngày 20 tháng 9 năm 2002. Cuốn sách còn có phần phụ lục in toàn văn bản dịch "Chiến lược an ninh quốc gia của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" để bạn đọc tiện tra cứu và tham khảo khi theo dõi và nghiên cứu tình hình quốc tế và nước Mỹ.


Trong cuốn sách này, các tác giả đã cố gắng mạnh dạn phân tích và đưa ra những ý kiến riêng về một chủ đề đã và đang được giới nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới quan tâm và có thể thấy rằng các ý kiến cũng còn khác nhau. Để tôn trọng chính kiến của các tác giả, chúng tôi cố gắng giữ nguyên những đánh giá và phân tích trong sách để bạn dọc tham khảo và coi đây là ý kiến đánh giá, phân tích của riêng các tác giả.

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 12 năm 2003
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #1 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2022, 04:00:34 pm »

LỜI MỞ ĐẦU


Chiến tranh lạnh kết thúc một lần nữa lại đem đến cho Mỹ cơ hội thực hiện tham vọng bá chủ thế giới, tham vọng Mỹ đã nuôi dưỡng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ theo đuổi chiến lược đối ngoại "can dự và mở rộng" với mục tiêu bao trùm là duy trì ưu thế, vai trò lãnh đạo của Mỹ và ngăn không cho một cường quốc hoặc một nhóm nước nào đe dọa vị trí của Mỹ. Dưới hai nhiệm kỳ của chính quyền Clinton, chiến lược an ninh của Mỹ, một bộ phận trong chiến lược toàn cầu "can dự và mở rộng", cũng nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược lâu dài bá chủ thế giới của Mỹ.


Chính quyền Cộng hoà ở Mỹ hiện nay với một đội ngũ hoạch định chính sách an ninh và đối ngoại gồm những nhân vật bảo thủ, chủ trương ngoại giao dựa trên ưu thế sức mạnh của Mỹ, đã có những bước điều chỉnh mạnh mẽ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng. Sau khi diễn ra sự kiện 11-9-2001, một trong những trọng tâm của chiến lược an ninh quốc phòng dưới chính quyền Bush là triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia nhằm bảo vệ toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ trước những thách thức tên lửa đạn đạo. Đổ thực hiện kế hoạch này, tháng 12-2001, Tổng thống Bush đã tuyên bố đơn phương rút ra khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM) mà Mỹ đã ký với Liên Xô cũ năm 1972. Một hướng điều chỉnh quan trọng khác với những hệ luỵ to lớn đối với châu Á là sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược an ninh quân sự dưới chính quyền Bush sang châu Á, nhằm đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những điều chỉnh này đã và đang có những tác động quan trọng đối với quan hệ của Mỹ với các nước trên thế giới nói chung và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng.


Trong khi chính quyền Bush còn chưa hoàn tất quá trình điều chỉnh chính sách an ninh và đối ngoại, cuộc tấn công khủng bố vào toà nhà Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc ngày 11-9-2001 cùng với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Ápganixtan nhằm tiêu diệt mạng lưới Al-Qaeđa và trùm khủng bố Bin Laden đã tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Mỹ về an ninh, dẫn đến những điều chỉnh quan trọng trong chiến lược đối ngoại và an ninh của Mỹ.


Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu những điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ dưới chính quyền Bush là hết sức cần thiết. Cuốn sách về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu chung về chiến lược của Mỹ, một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng hàng đầu của chúng ta. Thông qua việc nghiên cứu những điều chỉnh trong chiến lược an ninh của chính quyền Bush, cuốn sách cũng sẽ đưa ra dự báo hướng triển khai chính sách an ninh của Mỹ nói chung.


Trên thế giới, và đặc biệt ở Mỹ, có nhiều công trình nghiên cứu, sách và tài liệu về chiến lược an ninh của Mỹ và các bài tạp chí chuyên khảo và báo chí về những điều chỉnh gần đây dưới chính quyền Bush. Ở nước ta, Vụ châu Mỹ (Bộ Ngoại giao) gần đây cũng có hai công trình nghiên cứu khoa học có giá trị là dự báo chiến lược đối ngoại của Mỹ trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI và chính sách châu Á - Thái Bình Dương của chính quyền Bush, trong đó đã phần nào đề cập khía cạnh an ninh trong chiến lược đối ngoại của Mỹ. Tuy nhiên, hiện ở ta còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này. Do đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu điều chỉnh chiến lược an ninh Mỹ đầu thế kỷ XXI sẽ là một đóng góp thiết thực vào công tác nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung và đặc biệt là nghiên cứu về Mỹ.


Mục tiêu chủ yếu của cuốn sách về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay là nhằm đánh giá những điều chỉnh chủ yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ trong năm đầu dưới chính quyền của Tổng thống Bush, tác động của những điều chỉnh này đối với chính trị quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ đó, các tác giả cuốn sách cũng sẽ đưa ra cỉự báo chiều hướng triển khai chiến lược an ninh của Mỹ trong thời gian tới.


Cuốn sách sẽ tập trung chủ yếu vào những điều chỉnh chiến lược an ninh chung cũng như đối với các khu vực chủ yếu dưới chính quyền Bush. Việc nhìn lại và đánh giá chiến lược an ninh dưói chính quyền Clinton là nhằm đúc rút những yếu tố kế thừa trong chiến lược an ninh của chính quyền Bush con. Mặc dù khái niệm về an ninh đã trở nên toàn diện hơn, bao gồm cả an ninh kinh tế, môi trường, con người, v.v... cuốn sách chủ yếu chỉ tập trung vào khía cạnh an ninh truyền thống, tức an ninh quân sự, đối với hai khu vực chủ yếu là châu Âu và Đông Á - Thái Bình Dương.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #2 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2022, 06:57:33 am »

CHƯƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
VÀ LỊCH SỬ CHIẾN LƯỢC AN NINH CỦA MỸ


1. Khái niệm an ninh và sức mạnh quốc gia

1.1. An ninh quốc gia

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nhận thức an ninh gần như chỉ xoay quanh vấn đề chiến tranh và hoà bình. Lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của các quốc gia trên thế giới cũng thường gắn liền với các cuộc chiến tranh. Các quốc gia dân tộc ở châu Âu được hình thành hầu hết từ các cuộc chiến tranh liên miên trong khi ở các khu vực khác trên thế giới, chiến tranh cũng được dùng làm phương tiện xác lập sự thống trị của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Bất kể vì nguyên nhân gì, hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai cũng đủ cho thấy tại sao an ninh thường được hiểu là đi liền với chiến tranh xâm lược và khả năng quốc phòng. Do đó, theo nghĩa hẹp truyền thống, an ninh quốc gia có nghĩa là bảo vệ đất nước và dân chúng chống lại kẻ thù bên ngoài. Khái niệm về an ninh nói chung là an ninh quân sự và việc bảo đảm an ninh đối với các quốc gia thường đi liền với tăng cường sức mạnh quân sự.


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh lạnh và chính sách đối đầu, chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường Xô - Mỹ càng nhấn mạnh khía cạnh quân sự trong việc bảo đảm an ninh của một nước. Sự ra đời của các tổ chức hợp tác quân sự như NATO, SEATO và việc ký kết các liên minh quân sự tay đôi giữa Mỹ với các nước ở châu Á cũng thể hiện rõ xu hướng coi trọng an ninh quân sự của các nước trong thời kỳ chiến tranh lạnh.


Tuy nhiên, từ những năm 1970, khái niệm về an ninh nói chung cũng như an ninh quốc gia trở nên rộng hơn, bao gồm cả khía cạnh kinh tế. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 lần đầu tiên đặt Mỹ và các nước phương Tây đứng trước tình thế bị đe dọa rối loạn trong nước do tình trạng thiếu nguồn cung cấp năng lượng. Hơn nữa, sau thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã tương đối suy yếu cả về quân sự, chính trị lẫn kinh tế, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Wood tồn tại từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Cũng trong giai đoạn này, nhân tố kinh tế đã trở thành một bộ phận cấu thành của khái niệm an ninh quốc gia1 (Amos A. Jordan và nhóm tác giả, American National Security, The Johns Hopkins University Press, tái bản lần thứ 5, năm 1999, tr.3). Khái niệm an ninh toàn diện (comprehensive security) - theo đó an ninh được nhận thức không chỉ từ khía cạnh quân sự, mà còn bao gồm cả kinh tế, chính trị, xã hội - đã xuất hiện chính trong thời kỳ này.


Cùng với sự khôi phục và phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, sự phân hoá trong xã hội ở các nước này ngày càng cao dẫn đến việc hình thành các tổ chức tội phạm hoạt động trong phạm vi một nước và các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia. Từ giữa những năm 1970, các hoạt động khủng bố do các tổ chức tội phạm thực hiện như cướp máy bay, đánh bom, bắt con tin... ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ tàn khốc. Thêm vào đó, nhiều vấn đề toàn cầu nổi lên đe dọa sự sống còn của loài người, đó là các vấn đề về môi trường, thiên tai với mức tàn phá lớn, bệnh dịch thế kỷ AIDS, nạn buôn lậu ma tuý và các tội phạm xuyên quốc gia khác. Những vấn đề mới nảy sinh này không thay thế, mà tồn tại song song cùng với những vấn đề an ninh truyền thống làm cho môi trường an ninh ngày càng thêm phức tạp. Chính vì vậy, nội hàm của khái niệm an ninh quốc gia ngày nay trỏ nên có tính toàn diện, bao gồm cả an ninh kinh tế, an ninh môi trường, xã hội, văn hoá, an ninh con người, an ninh giới, v.v...


Bên cạnh những thay đổi trong quan niệm về nội hàm của an ninh quốc gia, nhận thức về tính chất của an ninh quốc gia cũng có những thay đổi to lớn. An ninh quốc gia, như bản thân hàm ý của cụm từ này, không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia dân tộc đơn lẻ. An ninh trong một thời đại toàn cầu hoá và phụ thuộc lẫn nhau mang tính quốc tế cao. Xung đột, bất ổn định ở một nước hay một khu vực có tác động lan toả và ảnh hưởng đáng kể đến an ninh của các nước khác. Chính vì vậy, ngày nay khái niệm an ninh quốc gia ngày càng trở nên gắn bó với an ninh khu vực và thậm chí là an ninh toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu đe dọa an ninh và thịnh vượng của nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ sự gắn bó giữa an ninh quốc gia và an ninh thế giới.


An ninh quốc gia là một khái niệm trung tâm trong luận điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị, một trong những trường phái lý luận có ảnh hưởng nhất ở các nước phương Tây và đặc biệt là ở Mỹ. Bên cạnh chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa hiện thực chính trị là trường phái lý luận rất có ảnh hưởng đối với giới hoạch định chính sách ở Mỹ. Trong khi quan điểm thế giới của Clinton và chính quyền Đảng Dân chủ thiên về chủ nghĩa tự do, thì thế giới quan và cách tiếp cận của chính quyền Bush lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn của chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, nhận định này cũng có tính chất tương đối, bởi xét cho cùng, chính sách an ninh đối ngoại của Mỹ chịu sự chi phối của những quan điểm cạnh tranh khác nhau trong nội bộ giới hoạch định chính sách của Mỹ cũng như ảnh hưởng của các nhóm lợi ích, đấu tranh cho những lợi ích đa dạng, đôi khi mâu thuẫn nhau. Vì vậy, cho dù thiên về chủ nghĩa hiện thực hơn, chính sách của chính quyền Bush cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do và chính sách thiên về tự do của chính quyền Clinton cũng có những thành tố hiện thực.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #3 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2022, 06:58:11 am »

Những nhà lý luận của chủ nghĩa hiện thực cho rằng hệ thống quốc tế luôn ở trong tình trạng vô chính phủ theo nghĩa là không có một quyền lực vượt lên trên các quốc gia, và chính vì vậy, các quốc gia phải dựa vào sức mạnh của mình để bảo vệ an ninh và tăng cường vị thế của mình trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia có chủ quyền là những tác nhân chủ đạo và là chủ thể chính của hệ thống quốc tế. Các chủ thể phi quốc gia khác như các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức khủng bố bị đặt xuống hàng thứ yếu. An ninh - thực chất là sự tồn vong - là mục tiêu cơ bản của các quốc gia và bởi vì rốt cuộc một quốc gia không thể dựa vào các cam kết của các quốc gia khác để bảo đảm cho nền an ninh quốc gia của mình, nên họ rất nhạy cảm với vị trí tương đối của họ. Các quốc gia dân tộc thường xuyên ở trong trạng thái ganh đua và cạnh tranh và sự thay đổi địa vị, sức mạnh, quyền lực là một trong những nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, có ba vấn đề chủ đạo. Thứ nhất, các quốc gia theo đuổi lợi ích, chứ không phải hoà bình. Nếu chiến tranh, xâm lược và các biện pháp cưỡng ép bằng sức mạnh khác phục vụ lợi ích của họ thì tìm kiếm hoà bình chỉ còn là ảo tưởng. Thứ hai, sức mạnh chính trị và quân sự là những yếu tố chủ đạo của quyền lực. Nó có ý nghĩa thiết yếu đối với một nền quốc phòng vững mạnh. Sức mạnh kinh tế cũng được coi trọng, dù không phải do tự thân nó, mà chính bởi vì nó có thể được chuyển đổi thành sức mạnh quân sự và chính trị. Kinh tế Mỹ cần phải mạnh và có sức cạnh tranh cao chủ yếu để có thể cung cấp những công nghệ cao cấp cần thiết cho những thế hệ vũ khí tiếp theo, và để duy trì sự ủng hộ chính trị cao đối với một ngân sách quân sự to lớn và các cam kết toàn cầu khác. Thứ ba, trong khi các vấn đề khác như thương mại và nhân quyền quan trọng hơn trước kia, chiến tranh và xảm lược vẫn nằm ở trung tâm chương trình nghị sự quốc tế1 (Bruce W. Jentleson, Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: Động lực của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI, W.W Norton&Company, 2000). Cuộc chiến tranh vùng Vịnh Pécxích 1990-1991 cho thấy rõ điều này. Những cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ là những cuộc chiến tranh tệ hại nhất ở châu Âu kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những năm 1990 châu Phi đã phải trải qua nhiều xung đột hơn bất cứ thập kỷ nào trước đó trong lịch sử. Tiến bộ trong tiến trình hoà bình ở Trung Đông không loại trừ mối đe dọa về một cuộc chiến tranh lớn ở đó. Khu vực phi quân sự ở bán đảo Triều Tiên vẫn là một trong những điểm căng thẳng nhất trên thế giới.


Như vậy, sức mạnh, quyền lực và an ninh quốc gia là những phạm trù then chốt trong quan điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị. An ninh quốc gia gắn liền với sức mạnh quốc gia. Quan điểm chủ đạo này của các nhà hiện thực đã bị chỉ trích vì không chú ý thích đáng đến các vấn đề quan trọng khác liên quan mật thiết đến an ninh của một quốc gia, như vấn đề khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố. Hơn thế nữa, do đặt sức mạnh ở vị trí trung tâm, khái niệm cân bằng quyền lực luôn gắn với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực. Các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng cân bằng lực lượng - theo đó các quốc gia luôn có xu hướng tập hợp lực lượng để cân bằng - đối trọng lại sự thống trị của một quốc gia mạnh hơn. Kenneth Waltz, nhà lý luận tân hiện thực nổi tiêng của Mỹ cho rằng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh nhìn chung trở nên lỏng lẻo hơn và có xu hướng quay lại cân bằng quyền lực cổ điển. Với sự kết thúc của trật tự hai cực, Mỹ, với tư cách là siêu cường mạnh nhất, sẽ nhận thấy các quốc gia khác dần tách xa ra khỏi Mỹ; Đức ngày càng gắn bó với Liên minh châu Âu (EU) và xích lại gần Nga; Nga xích lại gần Đức và Nhật Bản. Như vậy, cân bằng quyền lực giữa các nước lớn tiếp tục là luật chơi chủ đạo của các quốc gia trong thế giới quan của các nhà hoạch định chính sách và chiến lược gia theo chủ nghĩa hiện thực.


Khác với trường phái hiện thực, cá nhân là đơn vị phân tích chủ yếu của các nhà lý luận tự do kinh điển. Quốc gia - dân tộc đóng một vai trò tối thiểu trong xã hội tự do, chủ yếu làm trọng tài phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Trong lĩnh vực quốc tế, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng có thể tạo ra một sự hoà hợp lợi ích giữa các quốc gia cho dù chiến tranh là thực tế tồn tại trong nhiều thế kỷ. Vì vậy, trong khi các nhà hiện thực chủ nghĩa có quan điểm bi quan về khả năng xảy ra chiến tranh trong một thế giới mà các quốc gia luôn tăng cường sức mạnh nhằm bảo vệ an ninh và giành ưu thế của mình trong quan hệ với các nước khác, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, khả năng xảy ra chiến tranh thấp hơn bao giờ hết, bởi kinh tế phát triển đã làm cho cái giá của chiến tranh trở nên quá cao và chiến tranh không còn phục vụ lợi ích kinh tế. Hờn thế nữa, những nhà tự do còn lập luận rằng những nước dân chủ thường không gây chiến tranh. Sự tồn tại và phát triển của các thể chế quốc tế tạo nên những ràng buộc, luật chơi được quốc tế công nhận giữa các quốc gia có thể góp phần giải quyết xung đột một cách hoà bình và thúc đẩy hợp tác.


Trên thực tế, sự lựa chọn chính sách của các quốc gia ngày nay, đặc biệt là Mỹ, gần với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, lấy sức mạnh làm trung tâm và lợi ích quốc gia là cơ sở để giải thích chính sách của một quốc gia1 (James E. Dougherty và Robert L. Pfaltzgraff, Jr., Contending Theories of International Relations, a Comprehensive Survey, Addison-Wesley Educational Publishers Inc. 1997, tái bản lần thứ 4, tr.14). Điều này được giải thích bởi tính trường tồn của chủ nghĩa hiện thực, xuất phát chủ yếu từ sự gần gũi của chủ nghĩa hiện thực với quan niệm về thế giới của giới lãnh đạo1 (Paul R.Viotti-Mark V.Kauppi, Lý luận quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, 2001, tr.90). Tại Mỹ, những người theo chủ nghĩa hiện thực nổi tiếng như Henry Kissinger hay Brzezinski đều là những cố vấn an ninh quốc gia có ảnh hưởng không chỉ trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà ngay cả trong thời điểm hiện nay. Cho dù đã không còn ở chính trường, Kissinger và Brzezinski vẫn là những nhân vật rất có ảnh hưởng đối với chính quyền Mỹ. Gần đây, Tổng thống Bush đã bổ nhiệm Henry Kissinger làm Chủ tịch Ủy bẤn Độc lập đánh giá nguyên nhân của sự kiện 11-9-2001.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #4 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2022, 06:58:46 am »

1.2. Sức mạnh quốc gia

Với quan niệm truyền thống coi an ninh quốc gia đi liền với quốc phòng, sức mạnh quốc gia chủ yếu được đánh giá trên cơ sở sức mạnh về quân sự. Sức mạnh là một khái niệm tương đối, mang tính so sánh giữa nước này với nước khác, do đó các nhân tố về địa lý như diện tích lãnh thổ, dân số, tài nguyên, khả năng kinh tế, thể chế chính trị mạnh đều là những nhân tố quan trọng được tính đến khi xem xét sức mạnh của một quốc gia, vì xét cho cùng, đó là những nhân tố đóng góp vào khả năng quốc phòng của quốc gia đó.


Trước những năm 1970, sức mạnh kinh tế quan trọng ở chỗ nó có thể chuyển đổi thành sức mạnh quân sự. Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng tăng kéo theo mức độ dễ tổn thương của các nèn kinh tế, an ninh kinh tế trở thành một phần quan trọng của an ninh quốc gia. Sức mạnh kinh tế của một nước thể hiện ở mức độ công nghiệp hóa, ở năng suất và hiệu quả sản xuất, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập theo đàu người, trình độ khoa học kỹ thuật... Từ thực tế của các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 và những xáo trộn về tiền tệ thời kỳ này, có thể nói, sức mạnh kinh tế và an ninh kinh tế liên quan đến khả năng điều chỉnh và thích nghi với những biến động về kinh tế và trong quan hệ kinh tế quốc tế.


Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, khi quan niệm về an ninh trở nên toàn diện hơn, khái niệm sức mạnh quốc gia cũng có những thay đổi. Sức mạnh quốc gia không chỉ bao gồm sức mạnh cứng (hard power) như sức mạnh quân sự, kinh tế. Sức mạnh mềm (soft power), theo cách gọi của học giả nổi tiếng của Mỹ Joseph S.Nye, bao gồm những yếu tố như ảnh hưởng, sức thu hút của thể chế chính trị, mô hình phát triển, ảnh hưởng về văn hóa, v.v...1 (Joseph S.Nye, The Paradox of American Power, Oxford University Press, 2002, tr.9). Bởi vậy, các quốc gia không bắt buộc phải sử dụng sức mạnh cứng, như quân sự và kinh tế, để cưỡng ép các nước khác thực hiện mục tiêu của mình. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia ngày nay, sức mạnh quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tập hợp lực lượng, hay nói cách khác, vào sức mạnh chính trị. Trong từng trường hợp khác nhau, sức mạnh chính trị có thể là sức mạnh của thể chế, là sức mạnh của chính nghĩa, hay cũng có thể là sức thuyết phục của một chính sách. Nhìn rộng hơn, sức mạnh chính trị bao gồm cả yếu tố văn hoá. Một quốc gia mạnh là quốc gia có thể mở rộng ảnh hưởng về lối sống, các giá trị văn hoá. Những yếu tố của sức mạnh mềm đặc biệt trở nên quan trọng trong thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Theo Joseph Nye: "Sức mạnh cứng sẽ luôn còn quan trọng trong một thế giới của những quốc gia dân tộc đang kiểm soát nền độc lập của mình, nhưng ý nghĩa của sức mạnh mềm sẽ ngày càng tăng khi người ta phải giải quyết những vấn đề liên quốc gia bởi việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi một sự hợp tác đa phương"1 (Thông tấn xã Việt Nam, Tin tham khảo Chủ nhật, 24-11-2002, tr.22).
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #5 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2022, 08:29:52 am »

2. Chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh

Chiến lược "ngăn chặn cộng sản" bắt đầu chín muồi từ năm 1946-1947. Ý tưởng ngăn chặn được George Kennan2 (Những quan điểm chủ yếu trong bài báo này đã được đề cập trong một bức điện dài 8000 từ gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ năm 1946 của George Kennan), Đại biện Mỹ tại Mátxcơva đưa ra trong bài "Nguồn gốc hành động của Liên Xô" đăng trên Foreign Affairs số 7-1947. Trong bài báo nổi tiếng này, Kennan lập luận rằng chính sách đối ngoại của Liên Xô dựa trên ba trụ cột: chủ nghĩa đế quốc truyền thống của nước Nga; hệ tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa cộng sản và sự nghi kỵ của Stalin1 (Robert D. Schulzinger, U.S Diplomacy since 1900, Oxford University Press, 1998, tr. 209). Theo Kennan, chủ nghĩa cộng sản và sự lãnh đạo của Stalin không có tính chất bền vững, chỉ có chủ nghĩa bành trướng của Nga là yếu tố bất biến. Tuy nhiên, cũng theo Kennan, cho đến khi nước Nga tự từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, Mỹ cần phải sử dụng mọi biện pháp có thể để "ngăn chặn" Liên Xô trong phạm vi khu vực Đông Âu, nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô vào lúc đó.


Ý tưởng ngăn chặn cộng sản được chính thức hoá thành chiến lược ngăn chặn cộng sản bởi "học thuyết Truman". Tháng 3-1947, Tổng thống Mỹ Truman quyết định viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm mục đích ngăn chặn những rối loạn bên trong do ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Không chỉ dừng lại ở đó, Truman đã tuyên bố nước Mỹ cam kết sẽ hỗ trợ cho bất cứ chính phủ nào mà ở đó phong trào cộng sản phát triển mạnh, đe dọa chính quyền đương nhiệm2 (Robert D. Schulzinger, Sđd, tr.208). Thực chất, đây là sự khởi đầu của một cuộc thập tự chinh chống cộng sản trên phạm vi toàn cầu, nguồn gốc gây ra cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập kỷ sau.


Mục tiêu chiến lược của Mỹ được nêu trong một tài liệu tối mật của Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) năm 1950 với tên gọi NSC 68. Bản NSC khẳng định đến năm 1955, Liên Xô mới có khả năng trở thành một thách thức quân sự đối với Mỹ. Và để chuẩn bị đối phó với thách thức này, nước Mỹ cần nhanh chóng tăng ngân sách quân sự, từ 13 tỷ USD/năm lên tới 50 tỷ USD/năm để duy trì ưu thế quân sự của Mỹ. Điều này đã tạo ra cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đưa thế giới hơn một lần đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh thế giới.


Chiến lược "ngăn chặn cộng sản" của Truman đã trở thành chiến lược đối ngoại chung của Mỹ trong hơn 40 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù dưới các đời Tổng thống khác nhau của Mỹ, phương thức và biện pháp thực hiện chiến lược này có khác nhau1 (Chiến lược đối ngoại của Mỹ trong những năm 1990, Vụ châu Mỹ, Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 1995). Dưới thời Tổng thống Eisenhower (1953-1960), dựa vào ưu thế về vũ khí nguyên tử, Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh lạnh lên một mức cao hơn, thể hiện ở học thuyết Eisenhower với chính sách "đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản", "bên miệng hố chiến tranh" và chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt". Dưới thời Kennedy, đứng trước việc Liên Xô chế tạo thành công bom khinh khí (1953), phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (1957), phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh và Nhật Bản, Tây Âu hoàn thành việc tái thiết kinh tế sau chiến tranh, bước vào chu kỳ phát triển mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách với Mỹ, Mỹ đã phải điều chỉnh chiến lược theo hướng hoà hoãn với Liên Xô nhằm tập trung đối phó với phong trào giải phóng dân tộc và khoét sâu mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược quân sự được điều chỉnh từ "trả đũa ồ ạt" sang "phản ứng linh hoạt" nhằm đối phó với cả ba loại hình chiến tranh: chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cục bộ ở các khu vực và chiến tranh toàn cầu bằng vũ khí hạt nhân. Và chính quyền Mỹ đã áp dụng chiến lược này vào Việt Nam. Sau khi Kennedy bị ám sát năm 1963, Johnson lên nắm quyền, áp dụng chiến lược phản ứng linh hoạt ở mức cao hơn, tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.


Bước vào những năm 1970, sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở Việt Nam đã làm phá sản chiến lược phản ứng linh hoạt và buộc Mỹ phải điều chỉnh mạnh mẽ chiến lược an ninh. Hơn nữa, thất bại ở Việt Nam đẩy Mỹ vào khủng hoảng, chia rẽ trong nội bộ Mỹ sâu sắc. Kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. Những nhân tố này đòi hỏi Mỹ phải điều chỉnh chiến lược để có thể kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam, và thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài lãnh đạo thế giới. Ngày 25-7-1969, tại Guam, Học thuyết Nixon ra đời với khẩu hiệu "Vì hoà bình và răn đe thực tế". Về can dự quốc tế và bảo vệ đồng minh, Nixon nêu: "Mỹ không thể - và sẽ không - vạch ra mọi kế hoạch, thiết kế mọi chương trình, thi hành mọi quyết định và thực hiện tất cả việc bảo vệ các quốc gia tự do trên thế giới. Mỹ sẽ giúp những nơi nào thực sự mang lại kết quả và được xem là lợi ích của nước Mỹ". Mục tiêu chủ yếu của chiến lược này là rút ra khỏi Việt Nam trong danh dự thông qua chương trình Việt Nam hoá chiến tranh. Yêu cầu chiến lược lớn hơn là quay về củng cố trong nước cả về kinh tế, chính trị và xã hội, nắm lại đồng minh và tiếp tục kiềm chế Liên Xô bằng những biện pháp khác. Mỹ chủ trương, một mặt, sử dụng lực lượng đồng minh và chư hầu, mặt khác, hoà hoãn với Liên Xô, tranh thủ Trung Quốc, về mặt quân sự, học thuyết Nixon chủ trương "răn đe thực tế" và về đối ngoại chủ trương "chính sách mới vì hoà bình".


Thời kỳ đầu, chính quyền Carter (1977-1980) quay vào củng cố nội bộ, khắc phục khủng hoảng. Bên ngoài, tiếp tục hoà hoãn với Liên Xô, củng cố đồng minh và theo đường lối cơ bản của chính quyền trước. Tuy nhiên từ năm 1978, do tình hình quốc tế phát triển theo hướng bất lợi cho Mỹ với việc Liên Xô triển khai tên lửa tầm trung, đưa quân vào Ápganixtan, dưới sức ép của các lực lượng cánh hữu, chính quyền Carter đã quay trở lại chính sách chạy đua vũ trang, gây căng thẳng, đẩy mạnh "việc chơi" con bài Trung Quốc, ngừng quá trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và Cuba. Đầu năm 1980, Carter công bố học thuyết Carter về Trung Đông, đưa ra khả năng Mỹ sử dụng vũ lực để can thiệp và bảo vệ lợi ích sống còn của mình ở khu vực này.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #6 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2022, 08:30:38 am »

Năm 1983, Reagan lên nắm quyền, tiếp tục thực hiện chiều hướng chiến lược từ dưới thời kỳ Carter. Reagan điều chỉnh chiến lược an ninh theo hướng đẩy cuộc chạy đua vũ trang lên đến mức cao nhất trong lịch sử nước Mỹ, kế hoạch quân sự 1600 tỷ USD, SDI, hiện đại hoá bộ ba vũ khí chiến lược lẫn vũ khí thông thường nhằm giành ưu thế quân sự so với Liên Xô. Tuy nhiên, do chính sách kinh tế của Reagan đã biến nước Mỹ từ một chủ nợ thành con nợ và phải đối phó với những vấn đề cơ cấu nặng nề, như thâm hụt ngân sách, thương mại, vào nhiệm kỳ thứ hai, Reagan đi vào hoà hoãn với Liên Xô, nối lại đàm phán về giải trừ quân bị và vũ khí chiến lược. Hoà hoãn Xô - Mỹ cuối những năm 1980 với đỉnh cao là việc ký Hiệp ước INF tháng 11-1987 cùng với cải thiện quan hệ Xô-Trung đã mở đường cho sự kết thúc của chiến tranh lạnh


Mặc dù ngăn chặn Liên Xô là mục tiêu bao trùm của chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ đã triển khai chiến lược ngăn chặn khác nhau ở những khu vực có lợi ích địa chiến lược khác nhau.

Đối với khu vực châu Âu, dựa trên sự đánh giá tầm quan trọng về địa chiến lược của Tây Âu, năm 1947, vài tháng sau khi học thuyết Truman ra đời, Mỹ đã thực hiện kế hoạch Marshall nhằm vực dậy các nền kinh tế châu Âu bị tàn phá sau chiến tranh. Do tầm quan trọng của châu Âu đối với cả Liên Xô và Mỹ, trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, châu Âu luôn là trọng điểm chiến lược trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng của hai bên. Với kế hoạch Marshall, châu Âu đã phục hồi về kinh tế, đồng thời Mỹ cũng đã xác lập được vị trí lãnh đạo ở đây. Về an ninh, Mỹ và các nước Tây Âu đã ký kết Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vào ngày 4-4- 1949 tại Washington, thành lập liên minh an ninh quân sự tập thể quan trọng và toàn diện nhất giữa Mỹ và Tây Âu. Mục tiêu chủ yếu của NATO có thể tóm gọn là nhằm "duy trì sự có mặt của Mỹ, ngăn chặn Liên Xô ở châu Âu và kiềm chế Đức". Kế hoạch Marshallvà sự hợp tác về an ninh chính trị của Mỹ và Tây Âu trong NATO đã giúp cho quan hệ Mỹ - Tây Âu trở nên gắn bó mật thiết, và NATO đã trở thành trụ cột cho chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Âu.


Khu vực châu Á ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai không được coi là khu vực trọng điểm chiến lược như châu Âu. Tuy nhiên, từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công và phong trào giải phóng dân tộc phát triển ở khu vực này, nhất là ở Việt Nam, Mỹ đã chú trọng hơn đến khu vực. Sự ra đời của Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tháng 8-1948, và đặc biệt là sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tháng 10-1949, đã làm cho Mỹ vô cùng lo ngại trước ảnh hưởng ngày càng lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Tại Nhật Bản, uy tín của Đảng Cộng sản cũng tăng nhanh. Trong các cuộc bầu cử năm 1948 và 1949, Đảng Cộng sản Nhật Bản đã giành được 3 triệu phiếu và 35 ghế trong nghị viện1 (Đào Huy Ngọc (chủ biên), Lịch sử quan hệ quốc tế 1870-1964, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1976, tr. 94). Tình hình này đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính toán chiến lược của Mỹ ở Đông Á, và đặc biệt là trong ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Nhật Bản. Ở châu Á, chiến lược ngăn chặn của Mỹ được triển khai theo ba hướng chủ đạo.


Thứ nhất, Mỹ đảo ngược chính sách kiềm chế Nhật Bản thời kỳ ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mục tiêu ban đầu của Mỹ là biến Nhật Bản thành một nước phi quân sự, kiềm chế sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn có thể dẫn đến việc Nhật Bản tái vũ trang. Trong quá trình chuẩn bị thiết lập một vành đai an ninh nhằm ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, Mỹ không thể bỏ qua vị trí chiến lược then chốt của Nhật Bản. Mỹ muốn biến Nhật Bản thành tiền đồn chống chủ nghĩa xã hội ở châu Á. Cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ tháng 6-1950 càng đẩy Mỹ đi nhanh đến thực hiện điều chỉnh chiến lược này. Sự chuyển hướng ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Nhật, mục tiêu biến Nhật Bản thành thành trì chống cộng sản ở châu Á trong chiến lược toàn cầu đã khiến Mỹ sớm thúc đẩy việc chấm dứt chiếm đóng Nhật Bản, quay ra hỗ trợ Nhật Bản tái thiết kinh tế và ký kết Hoà ước San Francisco và "Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật". Hiệp ưóc an ninh Mỹ - Nhật vào tháng 9-1951 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc Mỹ duy trì quân đội trên đất Nhật Bản ngay cả sau khi Nhật Bản đã được trao lại chủ quyền và sự chiếm đóng của lực lượng đồng minh, mà đại diện chủ yếu là Mỹ, chấm dứt vào tháng 4-1952. Chính sách của Mỹ với Nhật Bản từ cuối những năm 1940 - đầu những năm 1950 đã trở thành một bộ phận trụ cột của chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở châu Á.


Thứ hai, cùng với việc thiết lập liên minh an ninh Mỹ - Nhật, nền tảng chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương, Mỹ cũng chủ trương xây dựng một vành đai phòng thủ ở khu vực, ký hiệp ước hợp tác an ninh với Hàn Quốc năm 1953, Thái Lan năm 1954, với các nước như Philippin, Ôxtrâylia, thành lập khối SEATO năm 1954. Với việc thành lập những liên minh an ninh song phương với các đồng minh ở khu vực, Mỹ đã xây dựng được một hệ thống an ninh hình nan quạt, trong đó Mỹ ở vị trí trung tâm, chi phối quan hệ với các đồng minh.


Thứ ba, ở Đông Nam Á, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ bắt đầu hỗ trợ Pháp quay trở lại Đông Dương. Tuy nhiên, trong những năm đầu, Mỹ chưa tích cực quan tâm đến khu vực này. Chỉ đến khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, Mỹ mới thay đổi chính sách đối với khu vực. Chiến tranh lạnh manh nha ở châu Âu giữa Mỹ và Liên Xô là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Mỹ ủng hộ Pháp quay lại áp đặt chế độ thực dân ở Đông Dương. Để bảo vệ lợi ích sống còn của mình ở châu Âu, địa bàn ưu tiên số một của Mỹ, Mỹ đã dung túng thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam. Sự thay đổi chính sách của Mỹ cũng bắt nguồn từ nỗi lo ngại về sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này. Tháng 2-1950, chính quyền Truman viện trợ quân sự 18 triệu USD cho Pháp để chống lại phong trào Việt Minh ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam. Với cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 có sự tham gia của Mỹ, Mỹ đã mở rộng chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ châu Âu sang châu Á và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là đỉnh cao của chiến lược này. Vì vậy, cho dù chiến tranh lạnh đã không trở thành chiến tranh nóng giữa hai siêu cường ở trung tâm nền chính trị quốc tế, hai cuộc chiến tranh đẫm máu đã diễn ra chính ở châu Á và Mỹ đã là một trong những tác nhân trực tiếp của những cuộc xung đột này.


Tóm lại, với chiến lược ngăn chặn, Mỹ đã đạt được mục tiêu bao trùm là thiết lập và duy trì vị trí lãnh đạo trong thế giới tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, từ sau thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã suy yếu tương đối. Đồng thời, các nền kinh tế châu Âu và Nhật Bản lúc này đã phục hồi và trở thành những đối thủ cạnh tranh của Mỹ. Trong bối cảnh này, Mỹ đã phải điều chỉnh chiến lược theo hướng giảm cam kết với bên ngoài, tăng cường hợp tác và chia sẻ trách nhiệm với đồng minh, quay vào củng cố bên trong thông qua học thuyết Nixon. Tuy nhiên, những đường hướng cơ bản của chiến lược ngăn chặn vẫn được Mỹ theo đuổi. Cùng với những rạn nứt trong quan hệ giữa Mỹ và đồng minh trên lĩnh vực kinh tế, cộng thêm tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970, Mỹ đã nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của an ninh kinh tế. Mặc dù vậy, với mục tiêu bao trùm đối đầu với Liên Xô, chiến lược an ninh thiên về khía cạnh quân sự vẫn là nét nổi bật trong chính sách của Mỹ suôt thời kỳ chiến tranh lạnh.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #7 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2022, 08:33:00 am »

3. Chiến lược an ninh của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh

3.1 Thách thức và cơ hội đối với Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Thực tế cho thấy sau chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, và chính những cơ hội và thách thức này đã tạo một khoảng cách giữa tham vọng cực kỳ to lớn của Mỹ với khả năng biến nó thành hiện thực.


Thứ nhất, sự tan rã của Liên Xô, siêu cường cạnh tranh toàn diện với Mỹ về ý thức hệ, kinh tế, chính trị và quân sự, đương nhiên đã tạo ra cho Mỹ lợi thế là siêu cường duy nhất. Với sự sụp đổ của Liên Xô, về cơ bản môi trường quốc tế trở nên thuận lợi hơn cho việc thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới của Mỹ. Nước Nga đang trong giai đoạn chuyển đổi khó khăn, phải mất nhiều năm nữa mới có thể thách thức vị trí của Mỹ. Trung Quốc tuy đang trên đà phát triển mạnh, nhưng sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc còn phải mất nhiều thập kỷ nữa mới có thể ngang tầm với Mỹ. Tuy là một trung tâm kinh tế phát triển, Tây Âu cũng chưa thể trở thành một thực thể chính trị an ninh thống nhất, với một tiếng nói chung. Nhật Bản vẫn là một cường quốc không toàn diện.


Chiến tranh lạnh kết thúc không những không làm Mỹ suy giảm tiềm lực, trái lại, gạt bỏ được đối thủ đáng gờm nhất của Mỹ là Liên Xô. Với lợi thế này, tham vọng lãnh đạo thế giới của Mỹ không ngừng được củng cố. Đây có thể nói là yếu tố rất quan trọng đối với những điều chỉnh chiến lược của Mỹ.


Thứ hai, với sự tan rã của Liên Xô và sự thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, mô hình phát triển kinh tế thị trường và các giá trị dân chủ phương Tây trở thành sự lựa chọn của một số nước trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội to lớn để Mỹ khuếch trương và truyền bá mô hình kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền theo kiểu phương Tây. Kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền cũng trở thành ngọn cờ mới tập hợp lực lượng trong bối cảnh chất keo dính và ngọn cờ tập hợp lực lượng "chống cộng sản" không còn nữa. Đây là lợi thế lớn đối với Mỹ và chiến lược "can dự và mở rộng" chính là nhằm tận dụng lợi thế này để mở rộng nền dân chủ kiểu Mỹ.


Những cơ hội lớn này là cơ sở cho chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, và ngược lại, chiến lược mới của Mỹ cũng nhằm mục tiêu khai thác và duy trì những thuận lợi mới cơ bản này.

Bên cạnh những cơ hội to lớn sau sự kết thúc của chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước một môi trường chiến lược thay đổi cơ bản. Thách thức chủ yếu từ Liên Xô trước đây không còn, nhưng nước Mỹ đứng trước những thách thức đa dạng, phức tạp hơn trước, xuất phát từ ngay chính nước Mỹ. Nhiều học giả Mỹ cho rằng, tuy nước Mỹ đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nhưng nước Mỹ ra khỏi chiến tranh lạnh trong tình trạng mình đầy thương tích.


Thách thức từ bên trong. Những thách thức lớn nhất đối với nước Mỹ trong thời kỳ mới xuất phát chính từ bên trong nước Mỹ. Kinh tế Mỹ trì trệ và giảm sút sức cạnh tranh, nợ liên bang trầm trọng, thâm hụt cán cân buôn bán và ngân sách Mỹ lên đến mức báo động. Thời điểm Clinton lên cầm quyền, nước Mỹ gặp khó khăn về kinh tế. Điều này lý giải vì sao người hùng chiến tranh vùng Vịnh G. Bush không thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống lần hai. Cuộc chạy đua vũ trang tốn kém của chính quyền Reagan đã làm cho nền kinh tế Mỹ gặp phải những khó khăn trầm trọng. Mặc dù là siêu cường duy nhất còn lại nhưng sức mạnh tổng hợp của Mỹ đã giảm một cách tương đối, từ chỗ chiếm khoảng 50% GDP của thế giới trong những nam 1950, 40% những năm 1970, 27% năm 1994, nay chỉ còn chiếm khoảng 23-25% GDP thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm liên tục trong những năm 1940 (4,7%), 1950 (3.9%), 1960 (2,9%), 1980 (0,9%). Năm 1989, thâm hụt thương mại của Mỹ lên tới 108 tỷ USD, thâm hụt ngân sách liên bang 152 tỷ USD. Mức sống của người dân không được cải thiện kể từ năm 1973. Nợ liên bang tăng lên gấp 3 lần trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Tỷ lệ tiết kiệm chỉ đạt, mức 2,5% GNP1 (Stephen J.Solarz, "Of Victory and Deficits", in America's Purpose: New Visions U.S. Foreign Policy, edited by Owen Harries, The National Interest, 1991, tr.90). Những trung tâm kinh tế như Tây Âu, Nhật Bản nổi lên mạnh mẽ, thách thức vị trí của Mỹ.


Về chính trị nội bộ, sự sụp đổ của Liên Xô làm cho nước Mỹ mất đi cơ sở tạo nên sự nhất trí rộng rãi về một mối đe dọa rõ ràng, cụ thể đối với nước Mỹ. Ở mức độ nào đó có thể nói, với sự biến mất của kẻ thù chủ yếu, nước Mỹ rơi vào tình trạng bị động, trong một thế giới mới mà nước Mỹ chưa xác định được rõ ràng những lợi ích cơ bản của mình, thách thức đối với những lợi ích đó để từ đó xây dựng một chiến lược mới cho thời kỳ mới. Tương tự như những thời kỳ trước khi chiến tranh kết thúc và nước Mỹ bước vào một giai đoạn chiến lược mới, trong lòng nước Mỹ đang diễn ra một cuộc tranh luận gay gắt về vai trò của Mỹ trên thế giới. Cuộc tranh luận truyền thống giữa chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa quốc tế đã trở thành sự giằng co giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế mới. Sự đấu tranh giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế mới trong lòng nước Mỹ chứng tỏ một thực tế là ngay chính nước Mỹ cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò lãnh đạo thế giới và xác lập bá quyền của mình. Trong giới lãnh đạo cũng như công chúng Mỹ, cuộc đấu tranh giữa hai trường phái biệt lập và quốc tế vẫn chưa chấm dứt. Trong một cuộc thăm dò ý kiến nàm 1997, chỉ có 13% cho rằng họ muốn nước Mỹ đóng vai trò nổi trội trong các vấn đề quốc tế, trong khi 74% muốn Mỹ chia sẻ quyền lực với các nước khác. Những cuộc thăm dò ý kiến công luận khác cũng có những kết quả tương tự. Nhìn chung, đối với những người dân Mỹ bình thường, 55 đến 66% số người được hỏi cho rằng những gì đang diễn ra ở châu Âu, châu Á hay châu Phi, ít hoặc hầu như không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999). Giáo sư Huntington đã nhận xét: "Mỹ không có cơ sở chính trị nội bộ để tạo dựng một thế giới đơn cực cho dù đa số giới tinh hoa Mỹ có thể bỏ qua hoặc lấy làm tiếc về điều đó"1 (Samuel Huntington, "The Lonely Superpower", Foreign Affairs, Vol. 78. No. 2, tháng 3/4-1999). Đây cũng là một thách thức đối với việc hoạch định và triển khai chiến lược đối ngoại của Mỹ trong thời kỳ mới.


Thách thức từ bên ngoài. Một khác biệt căn bản trong môi trường chiến lược mới đối với nước Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh là tính chất phức tạp, không rõ ràng của những thách thức đối với nước Mỹ.

Thách thức thứ nhất là trên bình diện quốc tế, thế hai cực mất đi, quá trình phát triển không đồng đều giữa các quốc gia có thể sẽ tạo ra những trung tâm quyền lực mới. Như Paul Kennedy đã viết: "Cho đến nay, của cải và quyền lực, hoặc sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự trong hệ thống quốc tế luôn có tính tương đối và chúng ta phải nhìn nhận theo cách đó, và tất cả mọi xã hội đều có xu hướng dứt khoát phải thay đổi, cho nên cán cân quốc tế không bao giờ đứng yên"2 (Paul Kennedy, Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1994). Vị trí sức mạnh đem đến cho Mỹ nhiều quyền uy, nhưng đồng thời cũng khiến cho Mỹ có nhiều kẻ thù. Mỹ có thể đóng vai trò đầu tàu trong một loạt vấn đề, nhưng cũng có thể bị thế giới còn lại tập hợp chống lại sự thống trị hay sức ép của Mỹ trên nhiều vấn đề khác, chẳng hạn như vấn đề nhân quyền. Điều quan trọng hơn là các trung tâm quyền lực khác đều tìm cách vươn lên, do đó mâu thuẫn với mưu đồ chiến lược bá chủ thế giới của Mỹ. Trung Quốc, với những thành tựu trong công cuộc cải cách và những tiềm năng to lớn về kinh tế, chính trị và quân sự, có khả năng thách thức vai trò và giá trị Mỹ trong tương lai. EU thúc đẩy các nỗ lực độc lập trong quan hệ với Mỹ và tạo dựng cho mình vị thế là một cực trong một thế giới đa cực. Nga cũng đang nỗ lực tìm cách khôi phục lại vị trí và ảnh hưởng của mình với tư cách là một cường quốc. Do đó, vấn đề chủ yếu đối với Mỹ trong thời gian tới là ngăn chặn khả năng xuất hiện một siêu cường, hay một nhóm nước liên kết với nhau, có khả năng thách thức vị trí lãnh đạo của Mỹ.


Thách thức thứ hai là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các cuộc xung đột cục bộ, xung đột tôn giáo, sắc tộc, nạn khủng bố quốc tế có chiều hướng gia tăng và do vậy, ở một chừng mực nào đó, đe dọa đến an ninh của Mỹ, trước hết là các công dân Mỹ. Tổng thống Clinton cũng đã thừa nhận thế giới ngày nay "vẫn còn bị đe dọa bởi những thù hận và những hiểm hoạ mới... Trật tự thế giới cũ không còn, thế giới trở nên kém ổn định hơn"1 (Diễn văn nhậm chức của Clinton, ngày 21-1-1993, USIS). Đông đảo các nước phương Nam bị các nước đế quốc, các công ty xuyên quốc gia bóc lột nặng nề, tiếp tục chìm đắm trong nghèo nàn, lạc hậu, khiến cho khoảng cách giữa các nước đang phát triển và các nước công nghiệp phát triển ngày càng tăng. Tình trạng khó khăn về kinh tế, mất ổn định về chính trị, rối ren về xã hội, cùng với những mâu thuẫn tiềm tàng về tôn giáo, sắc tộc, làm cho nhiều khu vực trên thế giới ở trạng thái dễ bùng nổ xung đột, gây nhiều khó khăn cho việc thiết lập trật tự thế giới của Mỹ.


Thách thức thứ ba là từ phía các đồng minh của Mỹ. Sự sụp đổ của Liên Xô làm Mỹ mất đi ngọn cờ tập hợp lực lượng. Trong các nước đồng minh của Mỹ, xu hướng ly tâm phát triển. Mâu thuẫn giữa Mỹ với các trung tâm kinh tế khác ngày càng gay gắt. Giờ đây Mỹ đã mất ngọn cờ tập hợp lực lượng là "mối đe dọa cộng sản". Thực ra, xu hướng ly tâm đã xuất hiện ngay từ trong thời kỳ chiến tranh lạnh khi so sánh lực lượng giữa Mỹ và các nước đồng minh Tây Âu và Nhật Bản có những chuyển biến quan trọng. Sự phục hồi kinh tế và những thập kỷ phát triển ngoạn mục đã đưa các nước Tây Âu và Nhật Bản nổi lên thành những trung tâm kinh tế cạnh tranh gay gắt với Mỹ. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, vai trò an ninh chính trị của các đồng minh của Mỹ cũng ngày càng trở nên độc lập với Mỹ. Đây là một thách thức lớn đối với Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Một mặt, Mỹ vẫn cần đến sự ủng hộ của đồng minh để đối phó với những thách thức an ninh đa dạng trong kỷ nguyên toàn cầu hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau. Mặt khác, xu hướng độc lập, ly tâm trong các đồng minh ngày càng gia tăng, tạo ra thách thức mới đối với Mỹ trong việc dựa vào các liên minh đa phương và song phương để triển khai chiến lược toàn cầu. Bên cạnh đó, trong khi phải mò mẫm để tìm con đường đi mới cho thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, Mỹ phải xử lý những mâu thuẫn cố hữu giữa các thế lực tư bản chủ nghĩa quốc tế, đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn mới nảy sinh trong một nền kinh tế toàn cầu mà các nguy cơ khủng hoảng cơ cấu và chu kỳ vẫn thường trực.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #8 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2022, 08:34:13 am »

3.2. Mục tiêu và lợi ích chiến lược an ninh

Với Mỹ, cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, một trong những cơ sở xây dựng chiến lược là lợi ích quốc gia của Mỹ trước mắt cũng như lâu dài là lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh. Lợi ích lâu dài và xuyên suốt của Mỹ vẫn là "lãnh đạo thế giới", giữ vững vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, phổ biến giá trị và lối sống Mỹ trên toàn thế giới. Lợi ích chiến lược của Mỹ sau chiến tranh lạnh là duy trì vị trí siêu cường số 1 trong một thế giới có nhiều trung tâm quyền lực (first among equals), từ đó thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, ngăn chặn không để cho bất cứ một nước nào có thể trở thành đối thủ có khả năng đe dọa vị trí, vai trò và nền an ninh của Mỹ. Clinton cho rằng "sự lãnh đạo của nước Mỹ trên thế giới chưa bao giờ quan trọng hơn lúc này"1 (W. J. Clinton, Chiến lược an ninh quốc gia: sự cam kết và mở rộng 1995-1996, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997). Dường như kế tục sự tự tin của chính quyền Bush vào khả năng lãnh đạo thế giới của Mỹ, đặc biệt là sau khi Liên Xô sụp đổ và Mỹ chiến thắng trong chiến tranh vùng Vịnh, Tổng thống Clinton khẳng định: "Được hỗ trợ bởi một nền quốc phòng có hiệu quả và một nền kinh tế mạnh mẽ hơn, dân tộc chúng ta (Mỹ) sẽ sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp mọi nơi"2 (Diễn văn nhậm chức của Clinton, ngày 21-1-1993, USIS). Đây chính là mục tiêu bao trùm và xuyên suốt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.


Do đó, củng cố vị trí siêu cường duy nhất, ngăn không cho bất cứ cường quốc nào nổi lên thách thức vai trò lãnh đạo thế giới vẫn luôn là mục tiêu an ninh chiến lược lâu dài của Mỹ.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #9 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2022, 08:35:45 am »

3.3 Chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Sự định hình chiến lược mới của Mỹ được bắt đầu ngay từ những năm đầu tiên thời kỳ sau chiến tranh lạnh dưới chính quyền Bush (cha). Chiến lược "vượt trên ngăn chặn" là điều chỉnh đầu tiên dưới chính quyền Bush. Nội dung của chiến lược "vượt trên ngăn chặn" được công bố trong bản báo cáo về chiến lược an ninh quốc gia mới tháng 3-1990, trong đó khẳng định mục tiêu của Mỹ là vượt trên ngăn chặn, tìm kiếm sự hoà nhập của Liên Xô vào hệ thống quốc tế với tư cách là một thành viên có tính chất xây dựng, đưa Liên Xô vào một mối quan hệ ngày càng có tính chất hợp tác, đặt cơ sở cho mối quan hệ sâu sắc hơn, thúc đẩy tự do dân chủ và cải cách chính trị-kinh tế ở Liên Xô.


Tuy nhiên, đứng trước tình hình biến đổi nhanh chóng ở các nước Liên Xô và Đông Au, chính quyền Bush lại một lần nữa phải điều chỉnh chiến lược. Khái niệm "trật tự thế giới mới"với ý đồ sử dụng Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc làm cơ sở pháp lý cho vai trò lãnh đạo của Mỹ đã được Mỹ thử nghiệm trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh tháng 1-1991. Trong bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia công bố tháng 8-1991, Bush đã nhấn mạnh mục tiêu "trật tự thế giới mới" và vai trò lãnh đạo không thể thiếu được của Mỹ. Liên hợp quốc là trung tâm chính trị ngoại giao chủ chốt trong trật tự thế giới mới của Bush. Vai trò của Mỹ được khẳng định là vai trò lãnh đạo trong cả việc xây dựng và duy trì "trật tự thế giới mới". Cùng với cuộc khủng hoảng vùng Vịnh tháng 8-1990, nhận thức của Mỹ về những mối đe dọa của các cuộc xung đột khu vực tiềm tàng trở nên sâu sắc hơn. Mỹ cho rằng đe đoạ an ninh từ phía Liên Xô không còn nữa và bắt đầu chuyển trọng tâm chiến lược quân sự từ việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh toàn cầu thời kỳ chiến tranh lạnh sang chiến lược phòng thủ khu vực.


Một trong những tài liệu chiến lược quan trọng, đặt cơ sở cho sự hình thành chiến lượ an ninh dưới chính quyền Clinton là bản Đánh giá từ dưới lên trên (Bottom Up Review) tháng 9-1993, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo đảm tính sẵn sàng về quân sự để:

• Răn đe việc sử dụng vũ khí hạt nhân, sinh học, hoặc vũ khí hóa học chống lại nước Mỹ, lực lượng và đồng minh của Mỹ;

• Ngừng hoặc chí ít làm chậm lại sự phổ biến những loại vũ khí giết người hàng loạt;

• Răn đe, và khi cần thiết, làm thất bại ý đồ xâm lược ở các khu vực quan trọng đối với Mỹ;

• Có khả năng đánh và thắng hai cuộc xung đột khu vực gần như đồng thời,... trong khi giảm thiểu thương vong của Mỹ;

• Chuẩn bị cho các lực lượng tham gia một cách có hiệu quả vào các chiến dịch duy trò hòa bình đa phương và can thiệp đơn phương, có thể bao gồm các hoạt động gìn giữ hòa bình, viẹn trợ nhân đạo, chống buôn bán ma túy và chống khủng bố;

• Thúc đẩy các giá trị dân chủ ở các nước khác trên thế giới;

• Duy trì ưu thế về công nghệ (Charles W.Kegley, Jr & Eugene R. Wittkopf, World Politics: Trend and Transformation, Sixth Edition, St. Martin’s Press, 1997).

Tren cơ sở xác định lợi ích bao trùm của Mỹ trên thế giới là thiết lập và duy trì sự lãnh đạo trên tất cả các mặt, năm 1995 chính quyền của Tổng thống Clinton đã đề ra chiến lược đối ngoại mới của Mỹ, còn gọi là chiến lược "can dự và mở rộng", trong đó sức mạnh của Mỹ được xây dựng hết sức toàn diện, bao gồm tất cả các mặt: quân sự, kinh tế, chính trị tư tưởng. Đây cũng chính là quan điểm an ninh toàn diện của Mỹ. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược an ninh mới của Mỹ dựa trên đánh giá toàn diện về an ninh cũng như sức mạnh quốc gia xuất phát từ những thay đổi cụ thể của tình hình thế giới. Như vậy, cho dù quyết tâm tập trung vào kinh tế như một "tia lade", chiến lược của chính quyền Clinton vẫn chú trọng đến sức mạnh quân sự . Về cơ bản, Clinton cho rằng an ninh của nước Mỹ gắn với việc ngăn chặn và giải quyết các cuộc xung đột khu vực cũng như việc "mở rộng" cộng đồng các nền dân chủ tự do. Như vậy, cơ sở tư tưởng chính sách an ninh đối ngoại của Clinton là sự kết hợp giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực. Hay như cách gọi của chính Clinton, chính sách của ông ta là "chủ nghĩa hiện thực dân chủ".


Bảo đảm an ninh quân sự Mỹ được dựa trên việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức không chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Để xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, Mỹ dựa vào sự răn đe của cả vũ khí thông thường và hạt nhân, trong đó vũ khí thông thường đặc biệt chú trọng kỹ thuật cao.


Năm 1997, Clinton đã đưa ra Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ XXI của Mỹ. Trong bản Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia này, Mỹ đã khẳng định: lợi ích quốc gia và nguồn lực hạn chế của Mỹ cho thấy sự cần thiết phải sử dụng vũ lực một cách lựa chọn. Mục tiêu trước hết của các lực lượng Mỹ là răn đe và đánh bại việc đe dọa sử dụng vũ lực có tổ chức chống lại Mỹ và lợi ích của Mỹ: "Quyết định có hay không và khi nào sử dụng vũ lực trước hết phải được chỉ đạo bởi lợi ích quốc gia Mỹ đang bị đe dọa - dù là lợi ích sống còn, lợi ích quan trọng hay nhân đạo về thực chất - và bởi liệu cái giá và sự mạo hiểm của việc Mỹ can thiệp có tương xứng với những lợi ích đó hay không. Khi những lợi ích bị đe dọa có tính chất sống còn, Mỹ sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ những lợi ích này, kể cả đơn phương sử dụng vũ lực khi cần thiết". Theo bản báo cáo, những lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ bao gồm:

1. Bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và nhân dân Mỹ.

2. Ngăn chặn sự nổi lên của các liên minh thù địch hay bá quyền khu vực.

3. Bảo đảm tiếp cận không hạn chế đối với những thị trường chủ chốt, nguồn cung cấp năng lượng và các nguồn lực chiến lược.

4. Răn đe và đánh bại khi cần thiết các cuộc xâm lược chống đồng minh và bạn bè của Mỹ.

5. Bảo đảm tự do hàng hải, đường sắt, vũ trụ và những đường giao thông huyết mạch.

Chiến lược quân sự bên ngoài nước Mỹ được dựa trên việc duy trì quân đội ở hai khu vực quan trọng là châu Âu và châu Á. Ở châu Âu, Mỹ tiếp tục thực hiện ráo riêt chính sách mở rộng NATO sang phía đông, phát triển ảnh hưởng của Mỹ và phướng Tây ở khu vực này, bó hẹp hơn nữa ảnh hưởng của Nga. Ở châu Á, tháng 2-1995 Mỹ công bố bản Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba, trong đó quyết định duy trì lực lượng quân sự trong khu vực tương đương với châu Âu, khoảng 100 ngàn quân1 (U.S. Department of Defense, United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region, tháng 2-1995). Quan hệ của Mỹ với Nhật Bản cũng được điều chỉnh cân bằng hơn. Tuy chiến lược "can dự và mở rộng" là chiến lược an ninh toàn cầu và Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba là một phần của chiến lược lớn, những dàn xếp về an ninh quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương chỉ thật sự có định hướng rõ ràng sau khủng hoảng eo biển Đài Loan đầu năm 1996, kéo theo là sự điều chỉnh quan hệ an ninh Mỹ - Nhật ngay sau đó2 (Hisahiko Okazaki, "China: A Function of the Japan-US Alliance", Asia-Pacific Review, Vol. 3, No. 4, Spring-Summer 1996).
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM