Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Bảy, 2022, 07:12:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Liên khu II những ngày đầu Thủ đô kháng chiến  (Đọc 1100 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #50 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2022, 06:51:47 am »

Trận chiến đấu ngày 15 tháng giêng ở nhà thương Bạch Mai.

Sang đầu tháng giêng năm 1947. Nhiều đơn vị tự vệ khu phố về đóng ở Việt Nam học xá và ở phía Bạch Mai. Chúng tôi được trên phổ biến cần củng cố lại tổ chức. Chỉ giữ lại những người có khả năng chiến đấu bổ sung cho Vệ quốc đoàn, số còn lại đưa về hậu phương công tác.


Trung đội tự vệ Cửa Nam được giữ nguyên quân số đưa sang sáp nhập vào tiểu đoàn 64 đóng ở nhà thương Bạch Mai. Tôi ngày 9/1/1947 khi đưa trung đội tới nơi tôi đã thấy một số đơn vị khác có mặt ở đó. Sau này mới biết đó là trung đội tự vệ do anh Hoàng Giáp phụ trách.


Trung đội của chúng tôi được giao nhiệm vụ canh giữ, phòng thủ phía đông bắc nhà thương Bạch Mai. Hàng ngày lúc địch chưa đánh, bộ đội làm công sự, ban đêm chủ động đánh địch ở Kim Liên. Ở điểm này ban ngày địch chiếm, ban đêm địch rút. Các trung đội phải luân phiên nhau đi đánh mấy lần.


Tới ngày 15/1/1947, một trận đánh lớn đã xảy ra ở nhà thương Bạch Mai. Lần này địch huy động cả phi cơ, xe tăng, trọng pháo, bộ binh tấn công nhiều mũi. Hầu hết các điểm đóng quân ở phía nam Thủ đô chạm trán với địch. Riêng đơn vị tôi đã giáp chiến ở phía đông bắc nhà thương Bạch Mai với bộ binh địch từ lúc trận đánh bắt đầu.

Tờ mờ sáng lúc còn sương đêm, Hồng từ điểm tiền tiêu chạy về báo cáo gấp:

- Phía trước có nhiều địch tới, đề nghị ra lệnh báo động chiến đấu.

- Đợi chúng đến gần, tập trung hỏa lực bắn từng loạt chặn đứng chúng lại. "Rõ!" Nhận lệnh xong Hồng chạy biến vào trong sương sớm. Trung đội ra triển khai vị trí bố phòng, liên lạc đi báo cáo gấp với đại đội.

Tiếng súng ngoài tiền tiêu nổ, hiệu lệnh báo động toàn tiểu đoàn đã phát, tiếng tiểu liên của địch nổ ran, hàng trăm tia lửa đạn xèo qua trước mặt. Lá rụng rào rào, cành cây gẫy răng rắc. Cứ như thế chừng năm phút thì ngưng tiếng súng, lắng đi một chút, lại nghe thấy tiếng súng trường nổ, tiếp theo đó lại hàng loạt tiếng tiểu liên như lần trước rồi lại ngừng. Lần thứ ba ngoài tiếng súng trường, kèm theo tiếng lựu đạn nổ đinh tai. Quan sát tia đạn lửa có thể đoán ra địch nằm bắn, nhưng lúc tia lửa đạn thấp xuống đúng là lúc chúng tiến lên. Tiếng súng trường và lựu đạn lại nổ, hẳn là những đơn vị tiền tiêu đang chặn đánh địch. Mọi người say mê trong lửa đạn chỉ nhận biết được có thế, và đã có thêm nhiều tiếng súng trường ở phía sau bắn về phía có địch.


Đến lúc tiếng tiểu liên đã ngớt và xa dần ngoài cánh đồng, lúc đó tiếng súng trung liên và đại liên địch ở phía Kim Liên xả tới từng loạt từng tràng. Ta ẩn nấp tránh đạn địch để khỏi bị thương vong vô ích, thời gian đã khá lâu. Xa xa có tiếng máy bay kèm theo có tiếng súng đạn lớn. Máy bay tới đâu súng lớn bắn tới đó.


Khi máy bay lượn trên đầu chúng tôi (kể cả đơn vị bạn) là lúc nhà thương Bạch Mai phải hứng chịu tiếng nổ đanh tai xé óc của đạn cầu vồng. Máy bay "bà già" rất lợi hại, chúng chỉ điểm cho đạn cầu vồng bắn rất chính xác. Trận địa của ta có phần rối loạn, anh em buộc phải chạy đi chạy lại tìm chỗ ẩn nấp khi làn đạn cầu vồng của địch di chuyển.


Đã có nhiều người bị thương, tình hình rất cấp bách, đã thế lại thêm tiếng xe tăng, xe cơ giới gầm rú. Với trình độ ấu trĩ, kinh nghiệm chiến trường còn chưa có, tôi không sao đoán nổi tình hình lúc đó. Thực ra, cũng chẳng còn tâm trí nào mà ngồi phán đoán. Việc cấp cứu đưa thương binh về phía sau chiếm hết thời gian và tâm trí. Có những việc quá với khả năng, lúng túng không biết xử lý ra sao? Có những đồng chí hy sinh trong tư thế chiến đấu mặt hướng về phía trước, nhưng lại bị mảnh đạn cầu vồng sát thương từ phía sau. Cảnh tượng thật đau lòng, hạ lệnh rút lui không được, gom xác trong lúc còn đang chiến đấu cũng không xong. Loay hoay không biết làm như thế nào, đành nuốt nước mắt bỏ qua để cứu người còn sống.


Tiếng súng đã nổ ba bề bốn bên. Trước mắt, sau lưng, bên phải, bên trái chỗ nào cũng là trận địa. Đánh không được, rút không được, tôi tự cảm thấy mình vừa bất tài vừa lúng túng vừa hoang mang thụ động. Một tiếng nổ đanh ròn, tôi thoáng nghĩ: thôi thế là hết!


Lúc tỉnh lại thấy có người ngồi bên cạnh, đồng chí cứu thương hôm nào cho tôi viên kẹo ngọt, mắt còn ngấn lệ.

- Hãy còn sống! Thiện thét lên.

- Tôi có sao đâu mà cuống lên thế.

- Mồm đầy máu, thôi về trạm xá, nhân danh cứu thương, tôi ra lệnh.

Tôi định chống lại lệnh, nhưng chân tay rã rời. Với thân hình gầy còm lại kiệt sức lâu ngày, nay bị ép thổ huyết tôi không đủ sức tự đứng dậy. Một chiến sĩ và một cứu thương dìu tôi về trạm y tế tiểu đoàn. Ở đây, tôi được cụ Cư, người y tá già tiêm cho một mũi dầu long não.


Tôi đang định xin phép đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ, bỗng thấy một cáng thương đi vào, theo sau là Bích Oanh. Chị là một vệ quốc quân ở Hải Phòng bị kẹt lại Hà Nội tạm thời xin gia nhập đội tự vệ cửa Nam. Với tác phong quân nhân, chị chào xong mới báo cáo:

- Tổ tiền tiêu đã bị đạn địch bắn sập hầm. Ba đồng chí hy sinh, hai bị thương nặng. Anh Hồng khi quay về xin chỉ thị bị thương nặng hiện nay chưa biết sống chết ra sao?

Tôi ứa nước mắt thầm nghĩ: tổ tiền tiêu của Hồng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nếu cuộc chiẽn ác liệt như đã xảy ra chưa mở màn mà bộ binh của địch đã lọt được vào phía sau lưng của tiểu đoàn thì tình hình sẽ còn bi đát hơn nhiều.

Bích Oanh đưa cho tôi khẩu súng ngắn của Hồng. Tôi không nhận.

- Oanh hãy tạm giữ lại, khi nào Hồng tỉnh lại Oanh trả lại Hồng.

Vừa dứt, xe tăng của địch đã tiến đến bắn phá dữ dội. Tiếng kính vỡ, tiếng tường lở rộn người, bụi bay dày đặc. Kẻ chạy đi, người chạy lại chật cả hành lang của bệnh viện. Trạm y tế được lệnh rút về Hà Đông.

Người ta cáng Hồng đi, tôi giục Oanh đi theo, ở lại cũng vô ích, đã đến lúc phải rút lui để bảo toàn lực lượng.

Những năm chiến đấu tiếp theo tôi còn gặp lại: Châm, Đài, Oanh, Thiện, Bình, Thìn, Thuật riêng Hồng tôi không gặp lại lần nào nhưng hình ảnh Hồng cứ lặp đi, lặp lại trong trí nhớ của tôi.

Phiên hiệu của đội tự vệ Cửa Nam không còn nữa nhưng tinh thần chiến đấu của nó sống mãi với sự nghiệp chiến đấu sáu mươi ngày đêm bảo vệ Thủ đô.

NINH HỮU CẨN
Nghĩ lại và viết nhân ngày
Thương binh liệt sĩ 27 - 7
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #51 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2022, 06:53:09 am »

TRẦN THÀNH - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẦU TIÊN CỦA TIỂU ĐOÀN 77


Anh tên thật là Nguyễn Văn Thiềng. Anh chiến đấu cuối phố Nguyễn Du, tôi ở đầu phố cách nhau chưa đến 400m. Tôi nhận được tin anh hy sinh rất sớm, rất mến phục sự dũng cảm của anh và các bạn chiến đấu của anh.


Tháng 11 năm 1946, âm mưu của Pháp phá hoại các Hiệp định hòa bình đã ký kết với ta ngày càng lộ rõ. Lính mũ đỏ đã hai lần cho xe tăng chạy vòng quanh trụ sở Bộ Tổng tham mưu vừa khiêu khích, vừa như thể tập dượt cho một cuộc đánh chiếm. Số nhà 18 phố Nguyễn Du, trụ sở Bộ Tổng tham mưu của ta là một trong những mục tiêu tấn công của quân đội viễn chinh Pháp khi tiếng súng kháng chiến bắt đầu.


Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, Bộ Tổng tham mưu được lệnh chuyển ra ngoại thành. Một trung đội của tiểu đoàn 77 được điều đến thay đơn vị cảnh vệ đóng giữ nơi này. Trần Thành là người chỉ huy đơn vị ấy. Anh vừa tốt nghiệp khóa I của trường Quân chính Bắc Sơn, vốn là nơi đào tạo các cán bộ quân sự chính trị sơ cấp cho quân đội. Là một đoàn viên thanh niên cứu quốc trước ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thủ đô, sau đó là đội viên Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc thành Hoàng Diệu, học xong Trần Thành được phân công làm trung đội trưởng, lúc này vừa tròn 19 tuổi.


Nhận nhiệm vụ đóng giữ trụ sở của Bộ Tổng tham mưu, Trần Thành bắt tay ngay vào củng cố phát triển thêm công sự phòng ngự. Khu nhà số 18 phố Nguyễn Du, dài khoảng 50 thước, rộng 8 thước với những hàng hiên trước cùng khu sân rất rộng, ngoài ra một ngôi nhà gỗ với nhiều phòng ngủ của đội cảnh vệ. Từ khi tình hình giữa ta và Pháp trở nên căng thẳng, đơn vị cảnh vệ của Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu trên đường phố, đã đục tường thông từ góc phố Nguyễn Du sang ngã năm phố Hàng Kèn, và từ Nguyễn Du đến phố Duy Tân (Phố Huế hiện nay). Các tường nhà đều được đục lỗ châu mai, và những hàng chiến hào kéo dài theo những dãy tường bao quanh khu vực. Cùng với các chiến sĩ, Trần Thành vừa bố trí cho anh em củng cố thêm công sự, vừa bàn với đồng chí trung đội phó Mát Chư: đưa tiền duyên phòng ngự khu vực ra hẳn đường phố, để khi chiến đấu có điều kiện đánh trả xe cơ giới của địch. Theo anh, địch sẽ lợi dụng địa hình từ ngã năm dốc Hàng Kèn đánh thẳng vào cổng trụ sở nơi ta đóng quân. Mát Chư là một sĩ quan quân đội Nhật, tự nguyện ở lại xin gia nhập quân đội ta chống thực dân xâm lược Pháp. Mát Chư là cán bộ trường Quân chính Bắc Sơn, Trần Thành là học viên. Hai người là bạn thân cùng làm phiên dịch, cùng lao động với các học viên, biến khu chuồng nuôi ngựa của bọn Pháp thành một nhà trường có nhiều lớp học bao gồm phòng ngủ, nhà ăn khang trang. Trần Thành vừa tốt nghiệp năm thứ nhất tú tài tại trường Bưởi và Mát Chư vốn là một tiến sĩ văn học, đã không ngần ngại với cuốc, xẻng, lao động như những người nông dân. Những ngày làm việc ấy, giờ đây, giúp Trần Thành cùng anh em miệt mài củng cố trận địa bằng những hầm hào vững chắc, để có thể đương đầu với lực lượng địch mạnh hơn. Nhiệm vụ của trung đội là một nhiệm vụ nặng nề. Nơi đây vốn là trụ sở đầu tiên của Bộ Tổng tham mưu đã từng được đồng chí Hoàng Văn Thái đem hết tâm huyết và sức lực, tần tảo xây dựng nên các phòng ban, đặt ra kế hoạch tác chiến cho chiến trường Nam bộ, tổ chức huấn luyện quân đội cùng với việc xúc tiến tiêu diệt bọn phản cách mạng Việt Nam Quốc dân đảng. Chính tại nơi này, nhân dịp kỷ niệm một năm ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và chúc sức khỏe các chiến sĩ, căn dặn mọi người làm việc với tinh thần cách mạng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.


Đồng chí Võ Nguyên Giáp nguyên là Bí thư Quân ủy Hội, người anh cả của các lực lượng vũ trang cũng năm lần đến với cơ quan, nói chuyện thời sự, phổ biến chủ trương, kiểm tra công việc, khuyên khích biểu dương và chỉ dẫn bổ sung những điều cần thiết.


Đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, từ ngoại thành, tiếng đại bác đầu tiên nã đạn vào thành cổ Cửa Bắc, nơi đóng quân của Pháp, báo hiệu cho cuộc kháng chiến toàn quốc bắc đầu. Trong tiếng nổ của các loại súng lớn nhỏ, Trần Thành cùng người chỉ huy phó đến từng nơi bố trí kiếm tra lại công sự một lần cuối. Trời dần sáng, súng vẫn không ngừng nổ. Trần Thành khoan khoái khi thấy mọi người ai nấy đều đã sẵn sàng nổ súng. Nhưng rồi một ý nghĩ chợt lóe lên với câu hỏi: "Tại sao ta không đưa tiền duyên của tuyến phòng ngự ra hẳn ngoài đường và đào hầm ngay trên mặt đường cản xe cơ giới địch?". Trao đổi với trung đội phó, cán bộ tiểu đội, rồi bắt tay vào việc luôn. Khi trung đội về chiếm lĩnh trụ sở, tranh thủ thời gian, khẩn trương củng cố vững chắc thêm vị trí chiến đấu đã được đơn vị cảnh vệ ở đó trước chuẩn bị. Nay anh đưa tiền duyên phòng ngự ra hẳn đường phố, đào hầm cản xe cơ giới và làm trận địa công sự, bố trí tổ chống tăng cách cổng trụ sở 50 mét trên hướng từ ngã năm phán đoán sẽ là đường tiến quân tiếp cận chính của địch. Công tác chuẩn bị khẩn trương như ý đã bàn.


Để Mát Chư chỉ huy hai tiểu đội, đề phòng địch từ hướng Lê Văn Hưu đánh tới, Trần Thành dẫn một tiểu đội theo công sự ngang đường Nguyễn Du, bố trí tổ chống tăng cách trụ sở 50 thước. Gió lạnh hun hút trên đường phố nhưng mồ hôi ướt đẫm áo mọi người. Khi những thương binh từ phía trên được đưa về trạm y tế của tiểu đoàn 77, đóng trong khu nhà do Trần Thành bảo vệ, cũng là lúc mọi người hoàn thành đoạn công sự cuối cùng. Anh em đã ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trần Thành nghĩ đến thương binh bèn tìm gặp y tá trưởng Nguyễn Đức Hạnh, hỏi thăm tình trạng của các đồng chí thương binh. Những người bị thương không chỉ là các chiến sĩ của tiểu đoàn 77 mà còn là các chiến sĩ của đơn vị khác, gồm cả anh em tự vệ, công an xung phong. Cần phải chờ cho đẽn khi trời tối hẳn mới có thể chuyển thương binh về phía sau, vì không tiện đưa thương binh qua những lỗ đục tường xuyên từ phố này sang phố khác. Y tá Hạnh báo cho Trần Thành nhiều tin chiến sự biết được từ các thương binh. Từ Bộ Quốc phòng và Trại Vệ quốc đoàn Trung ương, rạp chiếu bóng Majestic, ta và địch đang chiến đấu ác liệt, có nơi hai bên đã giáp lá cà. Khi y tá Hạnh đã chuyển được thương binh về phía sau, Trần Thành liền đi thăm toàn khu nhà, anh sẽ chỉ huy trung đội chống giữ nếu như địch tấn công từ hai phía Hàng Kèn và Lê Văn Hưu, ập tới chiếm cổng chính và lọt vào các hào chiến đấu. Tòa nhà hai tầng với nhiều căn buồng này, hoàn toàn có thể là nơi kịch chiến. Chắc chắn địch sẽ không dám chấp nhận trận chiến ở nơi này khi đêm đến. Ý nghĩ ấy khiến Trần Thành phấn chấn: mình sẽ cùng đơn vị giam chân địch tại đây càng lâu càng tốt. Các đơn vị đóng từ Chợ Hôm đến tận Ô Cầu Dền gồm tự vệ, công an và cả trung đội Vệ quốc đoàn của C3 d77 bố trí chặn địch. Họ sẽ có thời gian vừa củng cố công sự, vừa tìm diệt các ổ tác chiến của địch. Tuy nhiên, Trần Thành vẫn lo lo, đơn vị anh thiếu nhiều vũ khí. Mỗi tiểu đội chỉ có 5, 6 khẩu súng trường. Hỏa lực chính của trung đội trông cậy vào khẩu trung liên với 200 viên đạn. Nếu đánh giáp lá cà, số lựu đạn do công binh của ta sản xuất có tên là lựu đạn Phan Đình Phùng hiển nhiên là một vũ khí lợi hại. Và quả bom ba càng kia sẽ đánh trả đòn đột kích của xe tăng địch.


Một ngày qua đi, thương binh từ các nơi vẫn tiếp tục được đưa về trụ sở của Bộ Tổng tham mưu cũ. Y tá Hạnh bận bịu luôn tay. Nhìn những lần bông băng trên người thương binh ứa máu, Trần Thành khẽ nói với y tá Hạnh: "Thiếu người quá, sao đồng chí không báo cho bọn mình? Dù sao bọn mình cũng có thể rút đôi ba người phụ giúp đồng chí". Y tá Hạnh lắc đầu: "Tôi lo được, để anh em canh chừng bọn Pháp. Đồng chí đã biết tình hình số nhà 63 phố Hàng Kèn chưa?". Trần Thành gật đầu. Ở ngôi nhà 63 phố Hàng Kèn nằm bên sườn trụ sở Bộ Tổng tham mưu, địch đã bí mật đưa quân đến đây lập ổ tác chiến phục sẵn từ những ngày trước khi nổ súng. Chúng treo cờ Trung Hoa dân quốc trước cửa để ta không nghi ngờ. Từ sáng ngày 20, chúng dùng tiểu liên bắn vào các đơn vị của ta di chuyển trên đường Bà Triệu - Hàng Kèn.


Trần Thành thực sự vui mừng như chính mình đã tiêu diệt ổ tác chiến ấy, khi được tin đại đội trưởng Nguyễn Văn Ngọc dẫn một trung đội thanh toán xong cái tổ quỷ này. Trần Thành yên tâm. Cái gai nhọn bên sườn anh đã được nhổ. Thương binh đưa về ngày một nhiều. Sau những suy nghĩ anh quyết định phổ biến với toàn trung đội: "Nhiệm vụ của chúng ta không chỉ trấn giữ nơi này, không cho địch dễ dàng tiến xuống các khu dưới mà còn phải chiến đấu đến cùng, để bảo vệ các đồng chí của chúng ta bị thương nặng đang nằm tại đây". Quyết định của Trần Thành được toàn thể trung đội hứa thực hiện bằng được.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #52 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2022, 06:53:51 am »

Ngày 22 xe tăng địch từ phía Lê Văn Hưu tiến vào đầu phố Nguyễn Du, và từ phía ngã năm Hàng Kèn (Bà Triệu - Nguyễn Du) chúng thập thò đưa từng toán nhỏ bắn thăm dò nơi trung đội chốt giữ. Cả hai phía, chúng đều bị đánh lui. Nhưng Trần Thành hiểu, đó chưa phải là đòn quyết định của địch. Khi chưa rảnh tay tại Bộ Quốc phòng, Trại Vệ quốc đoàn Trung ương, rạp chiếu bóng Majestic, trường Hàm Long, nhà Lamy, chúng chưa thể ồ ạt tấn công vào nơi này. Ý nghĩ ấy khiến Trần Thành càng thấy nhiệm vụ mình thêm nặng nề. Anh cần phải chống giữ nơi này bằng toàn bộ tinh thần và sức lực của mình, để xứng đáng với những đồng chí đang chống giữ ở các vị trí phía trên. Đêm đến, anh cử một số đội viên giúp y tá Hạnh cùng các chị cứu thương đưa thương binh về ngõ Quỳnh, Chùa Sét.


Sáng ngày 23, số thương binh còn đọng lại gần ba chục người. Nếu không có gì trắc trở, đêm nay mới có thể đưa hết số anh em thương binh về phía sau. Sự chờ đợi dường như làm dài thêm những lo âu. Trời mờ sáng Trần Thành giục anh em ăn hết những nắm cơm các chị phụ nữ Liên khu II đem từ Bạch Mai lên tiếp tế để lấy sức chiến đấu ngay, khi cần. Linh tính báo cho Trần Thành biết, sau trận đánh thăm dò hôm qua, hôm nay địch có thể không còn đùa giỡn với anh. Linh tính của Trần Thành không nhầm: 8 giờ 30 phút súng nổ từ phía Lê Văn Hưu rền lên. Như cùng một lúc, xe tăng địch tiến vào ngã năm Hàng Kèn. Được biết ngã tư phố Lê Văn Hưu - Duy Tân đã có một đơn vị tự vệ cùng sinh viên cứu quốc, vũ trang bằng một khẩu đại liên đang bắn cản địch, Trần Thành tập trung chú ý vào phía sau đường Bà Triệu. Theo anh, địch dễ dàng xông tới từ phía ấy, cách cổng trụ sở không xa. Quả nhiên, địch dùng súng cối bắn vào tuyến phòng ngự của trung đội Trần Thành, mở đường cho một chiếc xe tăng dẫn bọn lính mũ đỏ xông tới. Như vậy là bọn chúng đã chiếm lại ngôi nhà số 63 dốc Hàng Kèn (phố Bà Triệu ngày nay), uy hiếp một bên sườn của trận địa ta. Dựa vào các công sự phía sau các tường bao, Trần Thành chỉ huy anh em dùng trung liên, súng trường chặn địch. Bọn lính mũ đỏ lùi lại. Chúng đã phát hiện hỏa lực của ta không nhiều, nên lại hò nhau theo chiếc xe tăng xông tới. Xe tăng địch như một chiếc lô cốt biết đi, lừng lững tiến tới cách trụ sở 50 thước, bất chấp lựu đạn của ta tới tấp ném ra. Chúng đã quyết định đánh một đòn với tất cả sức mạnh vốn có. Chỉ 50 thước nữa chiếc xe tăng sẽ húc đổ cổng trụ sở. Chúng có thể tiến sâu vào sân, Trần Thành có thể lệnh cho đơn vị rút lên ngôi nhà hai tầng chống trả, nhưng còn anh em thương bình, sao đây? Không thể để chúng tung hoành. Phải đánh đổ ngay chiếc xe tăng kia. Một đội viên đã được học cách đâm bom ba càng, đang nhìn Trần Thành chờ lệnh. Thời gian không cho phép tính toán nhiều hơn. Tình thế đòi Trần Thành một quyết định. Lập tức anh ra hiệu cho người đội viên: "Đánh!". Như chiếc lò xo, người đội viên bật khỏi giao thông hào xông ra, nhưng anh không kịp thực hành những bài học của mình về đâm bom ba càng, một loạt tiểu liên đã đốn ngã anh. Không chờ lệnh trung đội, một đội viên khác thay người bạn vừa hy sinh xông ra. Anh vừa cúi mặt nhặt chiếc bom ba càng, chưa kịp vươn người tiếp cận chiếc xe tăng thì đã gục xuống. Trong một loáng, chứng kiến sự hy sinh của hai chiến sĩ1 (Trong tổng kết chiến thuật của Quân khu Thủ đô về trận đánh, không thấy nhắc đến sự hy sinh của hai chiến sĩ này), chứng kiến chiếc xe tăng đang lăn xích tiến tới, Trần Thành không chần chừ, lao tiếp ra đường. Anh né người, chụp lấy chiếc cán bom ba càng. Bằng một động tác mạnh mẽ và chính xác, anh đâm bom vào đúng khối thép tưởng như không gì cản trở đường tiến của nó. Một tiếng nổ, khói bom trùm lên chiếc xe tăng. Cái lô cốt bằng thép di động ấy chững lại bất động, xích chiếc xe tăng bung ra. Nhưng Trần Thành không kịp quay về công sự. Bọn lính mũ đỏ xối đạn về phía anh. Cánh tay trái của anh đã bị thương nặng. Bọn lính mũ đỏ hò nhau xông tới. Trần Thành rút lựu đạn bên lưng. Với cánh tay phải còn nguyên vẹn, anh chồm dậy, quay ngoắt lại, vung quả lựu đạn về phía những tên địch đang sấn đến. Lại một tiếng nổ, những tên mũ đỏ gục xuống, Trần Thành cũng cùng gục xuống đè lên xác những tên Lê dương tàn ác. Cảnh tượng ấy diễn ra gần như trong chớp mắt. Đứng trong giao thông hào, Mát Chư nhìn thấy từng động tác của Trần Thành. Không phải một mà là hai quả lựu đạn đã được Trần Thành ném liền một lúc. Không phải một toán nhỏ mà có gần 20 tên mũ đỏ gục xuống vì hai quả lựu đạn cuối cùng của người trung đội trưởng thân yêu đã từng cùng ở trường Bắc Sơn với Mát Chư 6 tháng tại một đồn điền của Pháp, tỉnh Bắc Ninh. Sự đau xót mất một người đồng chí, xen lẫn lòng căm thù của cán bộ chiến sĩ dâng lên. Bỗng tên đại úy địch đứng sau chiếc xe bọc thép khác hô bọn lính tiến lên cướp xác bọn đã gục ngã. Mát Chư liền nhanh chóng chớp lấy cơ hội trả thù cho người trung đội trưởng thân yêu của mình. Anh hạ lệnh cho khẩu trung liên nhả đạn. Tên đại úy bị trọng thương giơ hai tay lên trời như than thân trách phận trước khi đổ sập xuống mặt đường. Bốn tên mũ đỏ khác liều chết chạy tới toan cõng người chỉ huy của chúng quay về, cũng bị khẩu trung liên cho chịu chung số phận với những tên đã ngã, khi đã tiến sát cổng Bộ Tổng tham mưu cũ. Lúc đó là 10 giờ 30 phút. Bị giáng một đòn nặng nề địch vẫn cố tấn công, không phải để chiếm lĩnh trận địa mà là để dùng một chiếc xe bọc thép khác kéo chiếc xe bị đánh đứt xích quay lui.


Tuy nhiên, khoảng 12 giờ, một bộ phận quân địch cũng lọt được vào ngôi nhà gỗ góc phía tây. Mát Chư đã dồn lực lượng đón đánh, không cho chúng tiến đến ngôi nhà có anh em thương binh đang nằm. Cuộc chiến đấu không cân sức vẫn đủ ngăn được địch tiến tới mục tiêu chúng định đánh chiếm. Những quả lựu đạn lọ mực Phan Đình Phùng hất địch không cho chúng hò hét giục nhau xông tới. Một số anh em thương binh, trước tình hình ấy đã đề nghị y tá Hạnh băng bó vết thương để họ xông ra. Biết Trần Thành đã hy sinh nhưng y tá Hạnh vẫn tin ở sức chiến đấu của đơn vị, nên không đồng ý với đề nghị thiết tha ấy. Đến 3 giờ chiều, địch dồn dập câu súng cối vào vị trí của trung đội. Một mảnh đạn đã văng cắm vào ngực Mát Chư. Anh quỵ xuống như người trung đội trưởng của mình, anh không đứng dậy được nữa. Lúc này, các tiểu đội trưởng, không ai bảo ai, chỉ huy những đội viên còn lại tiếp tục ném lựu đạn cho đến khi trời tối dần. Địch không còn cách nào khác, lặng lẽ rút lui. Y tá Hạnh lần lượt chuyển thương binh về phía sau. Sau khi nhẩm tính, trung đội Trần Thành đã bắn và giết được 45 tên địch, trong đó có một tên đại úy và đánh hỏng một chiếc xe tăng. Mười tám chiến sĩ trong trung đội cùng với mười hai tự vệ đã hy sinh trong gần một ngày chiến đấu. Trung đội đã mất đi hai người chỉ huy: Trần Thành và Mát Chư.


Chiến công của trung đội Trần Thành, cùng tấm gương hy sinh anh dũng vô cùng lẫm liệt của anh, giữ được trụ sở cơ quan quan trọng hàng đầu của Tống hành dinh là Bộ Tổng tham mưu và bảo vệ được một số lượng đáng kể thương binh chưa kịp chuyển đi, làm thất bại cuộc tấn công quy mô bằng một binh lực có ưu thế áp đảo của địch là phần đóng góp sáng giá vào thắng lợi chung to lớn của cuộc chiến 60 ngày đêm của quân và dân Thủ đô, mở đầu thành công của cuộc kháng chiến toàn dân chống Pháp. Trần Thành, người anh hùng đầu tiên của tiểu đoàn 77 đã đặt viên gạch đầu cho truyền thống của tiểu đoàn sau này.


Ngay đêm ấy, tại một làng ngoại ô, người anh của Trần Thành được tin em trai mình hy sinh. Anh không khóc. Anh đã ngất lịm. Khi tỉnh dậy anh nhìn ánh đèn dầu nơi căn buồng nhớ lại đứa em kém anh bốn tuổi với khuôn mặt trắng trẻo, yêu thích thể thao như ham mê đọc sách. Từ năm lớp nhất, đứa em đã dám đánh Tây khi bọn chúng bắt nạt bạn bè của nó.


Một năm sau, tháng 2 năm 1947, trên núi rừng Việt Bắc, một lớp học chính trị Trung ương mở cho các cán bộ trung cấp được lấy tến là lớp học Trần Thành.

Trường Quân chính Bắc Sơn lấy gương hy sinh của Trần Thành để phát động phong trào thi đua luyện quân lập công thành nề nếp trong các khóa huấn luyện của nhà trường.

Tiểu đoàn 77, từ viên gạch truyền thống đã phát huy truyền thống anh hùng cách mạng khi đứng vào đội hình của trung đoàn 48 (trung đoàn Thăng Long); và khi nằm trong đội hình đại đoàn Đồng Bằng với danh hiệu Đống Đa kiên cường.

Đại tá LÊ NGỌC TẤN
(Nguyên chính trị viên đại đội 3 tiểu đoàn 77)
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #53 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:43:43 am »

TUỔI TRẺ CHÚNG TÔI NGÀY ẤY


Tính chi li ra, lúc kháng chiến bùng nổ tôi mới 17 tuổi. Nếu có ai hỏi tại sao tôi xung phong vào Đội cứu thương mặt trận Liên khu II Hà Nội, tôi cũng chỉ biết trả lời: đó là do tinh thần hăng hái của tuổi trẻ bắt nguồn từ lòng căm thù quân Pháp xâm lược đất nước mình.


Là con của một gia đình công giáo toàn tòng ở thị xã Hà Đông, khi tiếng súng kháng chiến nổ ở Hà Nội đêm ngày 19/12, tôi ở lại Thủ đô phục vụ chiến đấu, không kịp về nói một lời với bố mẹ và chia tay với bốn đứa em nhỏ. Tôi cũng chẳng biết gia đình đi tản cư hướng nào. Hơn tám năm sau, hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tôi mới gặp lại gia đình và cũng đến khi đó tôi mới biết bom đạn của giặc Pháp đã cướp đi của tôi hai đứa em trai.


Mọi việc bắt đầu từ những việc tai nghe mắt thấy trong những ngày trọ học ở Hà Nội.

Một thời gian sau khi tham gia giành chính quyền ở thị xã Hà Đông, nghe lời khuyên của chị Phúc (tức chị Tạ Thị Thọ, vợ đồng chí Nguyễn Khang sau này), tôi trở lại cuộc đời học sinh trung học ở trường Đồng Khánh Hà Nội. Đối với tôi, chị Thọ là một người bạn lớn, chị đã giới thiệu tôi vào đoàn thể phụ nữ cứu quốc Hà Đông từ mùa hè năm 1944 và dìu dắt tôi trong từng bước hoạt động. Sau Tổng khởi nghĩa, chị bảo tôi nên tiếp tục đi học. Chị nói: Nước nhà độc lập rồi, rất cần cán bộ có trình độ học vấn đề xây dựng đất nước. Em còn rất trẻ... Tôi đã nghe lời chị.


Tháng 9/1946, năm học mới của trường Đồng Khánh khai giảng cũng là lúc không khí Hà Nội đã băt đầu căng thẳng. Theo Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), quân Pháp đã vào Thủ đô ta được nửa năm và hành động khiêu khích ngang ngược của chúng trên đường phố ngày càng tăng. Chiều tối, chị em chúng tôi trọ học ở dưới Phương Liệt ngại không dám lên trung tâm thành phố. Xe Jeep của bọn tây mũ đỏ phóng như điên trên khắp ngả đường Thủ đô.


Một ngày chủ nhật cuối tháng 10, về Hà Đông tình cờ gặp chị Thọ, tôi ngỏ ý không muốn tiếp tục đi học ở Đồng Khánh nữa, mà có ý định cùng mấy đứa bạn đến bệnh viện Bạch Mai học lớp cứu thương. Tôi nói: Không khí ở ngoài đó như sắp đánh nhau đến nơi rồi, chúng em ngồi học cũng không yên, tâm trí cứ để đâu đâu học không vào... Chị Thọ suy nghĩ một lát rồi nói: Đúng đấy Hồi ạ, Cụ Hồ đã sang tận Pháp để đàm phán, mình muốn hòa bình nhưng nó ép mình nhiều quá, tức nước ắt vỡ bờ, em quyết định như thế là đúng, chị không phản đối, để chị liệu lời nói với ông bà.


Thế là từ tháng 11/1946, tôi xin vào học ở một lớp cứu thương ngắn ngày do bệnh viện Bạch Mai tổ chức.

Đây là quyết định đánh dấu một bước ngoặt của cả cuộc đời tôi. Bạn bè mới, công việc mới và tâm tư tình cảm cũng dần dần có những thay đổi, khác hẳn với những ngày ngồi trên ghế trường trung học. Lớp khá đông, nhưng một nhóm mấy chị em chúng tôi vẫn ở với nhau dưới Phương Liệt, gần Ngã Tư Vọng. Trong nhóm có Đỗ Thị Tài, cô bạn mới quen nhưng chóng thân. Sau này, trong kháng chiến cũng như khi đã cùng nhau leo đến bậc thang "cổ lai hy", mỗi lần gặp nhau là một dịp cùng ôn lại "mọi thứ chuyện ngày xửa ngày xưa".


Học chuyên môn không khó lắm vì mới ở trình độ cứu thương, chưa phải y tá nhưng những ngày đầu thật không đơn giản. Làm hô hấp nhân tạo thế nào, băng bó thế nào (nhất là nẹp chân)... vừa phải khẩn trương, đúng động tác, vừa phải tránh cho thương binh không thêm phần đau đớn. Ngại nhất là học tiêm. Những ngày đầu cầm ống tiêm, cảm giác thật khó tả, nhất là chuẩn bị tiêm "veine". Tối về mấy đứa chúng tôi lại trở lại với cuộc sống của cái tập thể nhỏ bé của mình ở Phương Liệt, cuộc sống của những cô gái mới lớn, lại mới xa nhà. Năm ấy trời rét sớm. Thủ sẵn mấy quả ô mai, mấy cái ngô nướng chúng tôi chui vào chăn thủ thỉ với nhau những chuyện của cái tuổi bé không còn là bé mà lớn cũng chưa ra lớn! Tài nó biết tôi đã có bạn trai, đang làm việc tại cơ quan ở phố Nguyễn Du, nó cứ giục tôi lên thăm. Hồi lớp cứu thương mới bắt đầu, thỉnh thoảng tôi còn từ Phương Liệt lên, cùng anh đi dạo quanh hồ Hale, gần nơi anh ở. Nhưng rồi từ khoảng giữa tháng 12, tình hình căng thẳng, cơ quan anh chuyển ra ngoại thành. Chúng tôi bặt tin nhau từ đấy, cho mãi đến hè năm 1948...


Sau vụ quân Pháp đốt phá trạm thông tin ở phố Tràng Tiển và gây ra vụ xung đột ở ga Hàng Cỏ, đặc biệt là sau vụ Yên Ninh - Hàng Bún và Lò Đúc, tình hình Thủ đô căng thẳng đến mức ai cũng cảm thấy cuộc xung đột toàn cục có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Lớp cứu thương chưa học hết chương trình nhưng chúng tôi được lệnh dừng lại, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến.


Tất cả chị em chúng tôi được phân công về bốn trạm cứu thương ở mặt trận Ô Cầu Dền, Liên khu II Hà Nội. Tôi về nhận nhiệm vụ ở trạm số 4, đặt ở một ngôi nhà rất to đối diện với Chợ Mơ. Phụ trách trạm là chị Thưởng, y sĩ bệnh viện Bạch Mai, tuổi đời lớn hơn lại có chuyên môn, đối với chúng tôi chị là trạm trưởng đồng thời cũng như người chị cả. Ít ngày sau có thêm mấy anh sinh viên được bổ sung về trạm. Anh Tiên, anh Phan học y, anh Hưng học thú y, anh Tiềm học Luật, nhưng tất cả đều xung phong về trạm cứu thương phục vụ chiến đấu. Ngay từ buổi đầu mấy đứa đã chú ý đến anh Phan, một sinh viên trắng trẻo, đẹp trai, có vóc dáng người Âu. Chúng tôi gọi luôn anh là Phan lai. Anh chỉ cười không phản đối. Sự có mặt của các anh không chỉ làm cho không khí của trại thêm đầm ấm mà còn làm cho chúng tôi thêm tự tin. Trên thực tế mấy anh sinh viên y khoa đã góp phần giải quyết kịp thời nhiều ca thương binh nặng.


Sau mấy vụ xảy ra ngày 17 tháng 12, mặc dù đã được báo trước, thế mà tiếng súng toàn thành phố đêm 19 vẫn khiến chúng tôi bất ngờ. Khoảng 8 giờ tối hôm đó, đèn đột nhiên tắt rồi tiếng đại bác, tiếng súng lớn nhỏ vang lên, nhất là trên phía trung tâm thành phố. Với nhiều chị em chúng tôi, đây là lần đầu tiên nghe tiếng súng.


Chỉ chừng một tuần sau, địch đã theo đường Hàng Bài, Phố Huế thọc xuống Ô Cầu Dền. Đối với Liên khu II , trận địa ngã tư Ô Cầu Dền có tầm quan trọng đặc biệt vì nó chặn bước tiến của địch khi chúng đánh xuống căn cứ của Liên khu ở nam thành phố. Suốt ba ngày (26 đến 28/12) địch dốc sức phá ụ chướng ngại trên ngã tư nhưng đều bị đánh lui, khống vượt qua được. Ngày chúng dùng pháo và chất nổ phá ụ, đêm ta đắp lại. Trận địa của ta đứng vững mãi đến trung tuần tháng 1. Ngay từ những ngày đầu địch đánh xuống trạm cứu thương của chị Phi ở sát ngay mặt trận, đã phải đối mặt với quân địch sớm hơn chúng tôi. Công việc cấp cứu của các trạm từ cầu Dền đến Liên Phái hết sức khẩn trương. Chúng tôi ở các trạm Chợ Mơ và Quỳnh Lôi thường được phân công lên hỗ trợ cho các trạm trên, đồng thời cũng để thực tập cho quen với công việc. Thú thật là lần đầu tiên len lỏi chui qua những bức tường đục sẵn chạy thông dọc hai bên dãy phố để tiếp cận mặt trận giữa tiếng bom đạn chát chúa và cũng là lần đầu tiên tiếp xúc với vết thương, với máu... tôi cũng hoảng. Nhưng rồi, tình thương yêu và lòng cảm phục tinh thần hy sinh chịu đựng của anh em thương binh cộng với tinh thần trách nhiệm của người cứu thương, hộ lý, đã giúp tôi nhanh chóng vượt qua mọi nỗi đắn đo sợ hãi. Hơn nữa, gương làm việc hết mình vì thương binh của các anh chị em khác đã động viên khuyên khích làm cho tôi tự tin hơn và quen dần với công việc. Những thử thách đầu tiên qua đi.


Chỉ qua ít ngày sống trong thực tế chiến đấu đã giúp cho tôi sáng ra nhiều điều, những điều trước đây ngoài tầm hiểu biết của tôi về đất nước, về tinh thần và ý chí của những con người bình thường trước họa ngoại xâm. Trong trạm cứu thương, ngoài các chị phụ trách và số đông anh chị em học sinh chúng tôi, còn hai đối tượng khiến tôi suy nghĩ và rút ra những kết luận bổ ích cho tuổi trẻ còn rất thiếu kinh nghiệm sống của mình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #54 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:44:25 am »

Đối tượng thứ nhất là một số chị em mà hồi đó thường được gọi là ả đào, cô đầu, một thành phần xã hội bị coi là thấp hèn. Thời Pháp, dù ở Bạch Mai, Khâm Thiên hay Ngã Tư sở, thiếu gì những phụ nữ sống bằng nghề buôn phấn bán hoa. Cách mạng mới thành công, vì nhiều lý do khác nhau, nhiều chị chưa kịp hoàn lương thì kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ. Các chị không chịu tản cư mà ở lại kháng chiến, coi đây là một thời cơ thuận lợi để làm lại cuộc đời. Số đông các chị tham gia đội quân hỏa thực (sau này trong kháng chiến ta gọi là chị nuôi), chăm lo bữa ăn không chỉ cho thương binh mà cho cả chúng tôi trong trạm cứu thương. Ngoài việc lo tìm kiếm lương thực thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày, các chị còn tự nguyện trực tiếp phục vụ chiến đấu. Giữa cảnh bom đạn, trong khoảng cách gang tấc giữa cái sống và cái chết, các chị vẫn bình tĩnh xông lên, vực thương binh dậy, khiêng cáng anh em về phía sau. Tâm sự với các chị, mới biết môi trường chính trị - xã hội Thủ đô lúc đó đã giúp các chị suy nghĩ và tự xác định hướng đi một cách hết sức tự nguyện. Cùng chung sống, cùng phục vụ các anh em thương binh, bọn trẻ chúng tôi bảo nhau sớm tạo lên bầu không khí chan hòa với các chị. Không một chút thành kiến hay phân biệt đối xử, trái lại vừa thấy thương yêu, vừa cảm phục các chị trong bước ngoặt đổi đời. Những năm sau này, đôi lần gặp lại, thật vui mừng được biết rất nhiều chị đã trải qua tôi luyện trong kháng chiến và trở thành những cán bộ gắn bó với cách mạng, có chị đã phải vượt qua những thử thách quyết liệt, những hoàn cảnh hết sức éo le để đứng vững.


Một đối tượng thứ hai mà bọn trẻ chúng tôi khó quên là anh em sinh viên. Ai cũng biết, dưới chế độ cũ và cả trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, đại học đâu đã là phổ cập. Sinh viên đại học, dù học y, dược hay học luật phần lớn là các cậu ấm cô chiêu, con ông cháu cha. Vậy mà kháng chiến bùng nổ, các anh tự nguyện xung phong vào các trạm cứu thướng để rồi cùng ăn uống kham khổ thiếu thốn như mọi anh chị em khác, cũng thức đêm trực trạm và cũng khiêng cáng, chăm sóc thương binh từ miếng cơm thìa cháo, cũng giặt giũ quần áo cho anh em. Hơn nữa, với mọi thành viên trong trạm, các "ông cử, ông đốc tương lai" ấy sống rất chan hòa và đặc biệt là không hề nao núng lùi bước trước bom đạn địch.


Tôi nhớ mãi câu chuyện vui giữa anh Phan lai với tôi. Mặc dù đã biết chắc là anh hơn tôi mấy tuổi (anh đã học đại học), vậy mà tôi cứ cố tình làm ra vẻ đành hanh đòi làm chị, còn anh Phan cứ quyết đòi làm anh. Tranh luận chẳng ai chịu ai, cuối cùng anh Phan hòa giải: "Thôi thế này: lúc chị biết bò thì tôi biết lẫy vậy". Thế là mọi người lăn ra cười và thống nhất kết luận: Chị Hồi là chị, anh Phan là em, vì kém chị Hồi bốn tháng tuổi, các cụ xưa có câu: Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò. Anh Phan thấy mình bị "hố" đành chịu. Sau này anh trở thành một nhà khoa học có tên tuổi, giáo sư đầu một ngành của giới y học. Vậy mà (trước khi anh mất năm 1997) mỗi lần có dịp gặp nhau trong những hội nghị chuyên môn anh lại đùa, chắp tay ra vẻ cung kính "Xin chào bà chị!"


Tết Đinh Hợi năm ấy (1947) đối với chúng tôi là một cái tết rất đặc biệt, không những lần đầu tiên ăn tết xa nhà mà lại cái tết trong khói lửa, giữa lúc mặt trận Ô Cầu Dền - Bạch Mai đang gặp khó khăn.

Trước tết chừng một tuần, địch mở đợt tiến công mới, nhưng chúng không tiến theo hướng cũ mà đi vòng đánh chiếm ngã tư Trung Hiền hòng vây gọn lực lượng ta từ Chợ Mơ lên phía bắc. Nhưng do trên đã dự kiến trước tình hình, nên từ khoảng đầu trung tuần tháng 1/1947 được sự yểm trợ của anh em tự vệ, các trạm cứu thương của chúng tôi đã chủ động chuyển dần xuống Giáp Bát - chùa Sét, hướng về phía Thanh Trì trước khi ta lui quân khỏi chiến tuyến Ô Cầu Dền. Tất cả thương binh được bảo vệ an toàn trước khi chuyển tiếp về tuyến sau.


Còn khá đông đồng bào ở lại vùng phía nam làng Tám - Tương Mai - Tân Mai. Một số bà con đã tản cư về Văn Điển - Hà Đông nay thấy chiến sự chưa lan tới phía nam sông Sét, sông Lừ, nên trở lại xem nom nhà cửa và thờ cúng tổ tiên hoặc đi nhà thờ nhân dịp tết. Bà con, nhất là các mẹ, thương chúng tôi lắm, lo cho thương binh đủ mọi thứ để ăn tết kể cả mứt, bánh chưng... Không biết chị Thưởng kiếm được ở đâu một cành đào rất xinh, làm cho trạm của chúng tôi mang không khí tết thực sự, dù là tết thời chiến, giữa tiếng bom đạn luôn từ xa vọng về. Đêm 30, còn mấy anh thương binh nhẹ ở trạm, chúng tôi phân công nhau đi tìm quần áo mới thay đồng loạt cho các anh. Các chị nuôi chuẩn bị chiêu đãi thêm các anh một bát miến gà lúc giao thừa. Chị Thưởng tự đảm nhiệm thức đêm 30 để trực trạm. Sau khi đã thu xếp cho thương binh đi ngủ, chúng tôi trở về căn nhà bà con dành cho nữ nhân viên trạm. Ánh nến leo lét làm cho mấy gian nhà đã rộng lại càng rộng thêm. Không ai nói một lời và chúng tôi đều hiểu rằng lúc này một nỗi buồn da diết vì nhớ nhà đang bị dồn nén trong lòng từng đứa trong bọn con gái chúng tôi. Như thông cảm lòng nhau, không cần giấu giếm có đứa quay mặt vào tường khóc thút thít. Mắt tôi cũng ứa lệ. Nhớ mẹ quá. Không biết mấy đứa em bây giờ ăn tết ở đâu?


Chị Thưởng bỗng mở cửa vào. Thoáng nhìn, chị đã hiểu tất cả. Chị gọi mấy đứa lên ngồi trực với chị cho vui. Mấy đứa khác đi ra phía chùa Sét xem lễ. Có đứa rủ tôi đến nhà thờ làng Tám, tôi không đi. Trời tối và rất rét. Chỉ bực một nỗi không buồn ngủ. Trời sắp sáng. Đêm giao thừa qua đi. Sáng mồng một, chúng tôi chọn những bộ cánh diện nhất đến nhà bà con quanh vùng chúc tết. Những tiếng cười trong trẻo hồn nhiên lại vang lên. Tuổi trẻ thật lạ, vui đấy buồn đấy. Con gái thật mau nước mắt, dễ khóc lại cũng dễ cười.


Chỉ mấy ngày sau tết chúng tôi đã được đọc thư của Bác Hồ gửi vào chúc tết chiến sĩ Thủ đô, do cơ quan chính trị mặt trận Hà Nội chuyển đến. ông cụ gọi bộ đội, công an, tự vệ là các em, động viên các em "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Nghe thật cảm động. Lòng Người thương yêu chiến sĩ thật bao la. Những lời thư của Bác đến với chúng tôi đúng vào những ngày tết đầu tiên của Hà Nội kháng chiến, có sức cổ vũ kỳ lạ. Lãnh tụ cùng bộ thống soái tối cao theo dõi và chỉ dẫn từng bước đi của chiến sĩ bảo vệ Thủ đô. Thoáng một cái, thế mà đã 5 tuần.


Cùng với thư Bác, chúng tôi còn nhận được tờ báo của mặt trận Hà Nội. Gọi là báo, nhưng đúng ra chỉ là một bản tin, được in đơn sơ mộc mạc, có điều là sao mà lúc này nó lại đáng quý đến thế! Đọc nó, chúng tôi được biết các trận đánh của anh em ta trong hơn một tháng qua như thế nào, nhất là trận ở Bắc Bộ phủ, đêm đầu tiên. Tin tức trên tờ báo cũng như những mẩu chuyện anh em thương binh kể về những trận đấu trí, đấu lực với địch trong từng căn nhà, trên từng góc phố... Đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho chúng tôi rất nhiều.


Những ngày sau tết, thương binh chuyển về trạm ít hơn trước, khiến chúng tôi đỡ lo về nạn thiếu thuốc và bông băng. Nhớ lại tháng trước, khi còn ở tuyến trên, nỗi day dứt khôn nguôi đối với chúng tôi là quá thiếu phương tiện cứu chữa, từ thuốc gây mê, gây tế, thuốc sát trùng đến bông băng. Băng còn có thể giặt, luộc, phơi khô để dùng lại còn các thứ khác đành chịu. Mỗi lần có đợt bổ sung về nhất là thuốc và bông băng chiến lợi phẩm, chị Thưởng lại phân phổi ngay cho các tổ. Trong tay chị chẳng bao giờ có một lượng dự trữ đáng kể.


Khoảng trung tuần tháng 2, chị em cứu thương của mặt trận Liên khu II Hà Nội được điều đi các đơn vị khác. Buổi chia tay thật lưu luyến, bịn rịn. Nhắc đến mấy chị đã ngã xuống trên đường phố Bạch Mai, chúng tôi không cầm được nước mắt. Các chị ra đi giữa tuổi thanh xuân, không kịp một lời từ biệt gia đình và người thân.


Tôi về nhận công tác ở khu bộ Chiến khu XI (Hà Nội), chỗ anh Tạ Hoàng Cơ. Vừa làm công tác, tôi vừa được giao nhiệm vụ chăm sóc thuốc thang cho chị Phi, trạm trưởng trạm cứu thương Ô Cầu Dền. Bệnh nặng, thuốc men thiếu, chị qua đời giữa lúc chiến sự đã lan rộng ra ngoại thành Hà Nội.


Đến nay hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Bọn con gái chúng tôi ngày ấy, sau khi đã cùng toàn dân trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, nay hầu hết đã nghỉ hưu, ngày ngày vui bên đàn cháu nhỏ. Cuộc sống riêng tư của mỗi người chuyển biến theo nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng chúng tôi đều tự hào đã sống xứng đáng với Thủ đô những ngày đầu kháng chiến, đã cùng nhau trải qua những thử thách quyết liệt đầu tiên của cuộc đòi - thử thách giữa cái sống và cái chết. Mỗi lần có dịp gặp lại nhau biết bạn bè kẻ còn người mất, cùng ôn lại những kỷ niệm của 60 ngày đêm Hà Nội khói lửa, chúng tôi càng khẳng định một điều trước sau vẫn tâm đắc: con đường đã chọn khi bước vào đời là con đường hoàn toàn đúng đắn.

LÊ MINH (tức ĐÀO THỊ HỒI)
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #55 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:46:40 am »

CHỊ GIẦN


Kính viếng hương hồn liệt sĩ Bùi Thị Giần,
hy sinh ngày 1 tháng 2 năm 1947
tại trại Hàn Lăn, làng Hoàng Mai - Hà Nội


Làng Thịnh Yên (còn có tên gọi là Chùa Vua) đứng vào ngôi vị thứ tám trong số các "đơn vị làng" của nội thành Thăng Long từ trước thời giặc Pháp sang xâm lược. Thời đó làng được gọi với cái tên đầy đủ (thường dùng trong các đơn từ hoặc văn sớ tế lễ) là: "Hà Thành đệ bát hộ, Thịnh Yên thôn", làng năm ở trong cái góc thước thợ của hai con đường gối nhau, là cuối Phố Huế với đầu đường Trần Khát Chân bây giờ.


Trước Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945), tuy làng ở cách Phố Huế chỉ có "một bước chân" mà vẫn giữ nguyên vẹn mọi tập tục sinh hoạt rất cổ sơ của một làng xóm Việt Nam, đặc biệt là đối với việc ma chay, cưới xin, giỗ chạp và đình đám tế lễ thần thánh. Với đầy đủ mọi quy tắc nghiêm ngặt của mỗi "đơn vị làng" ở nước Việt Nam ta thời bấy giờ.


Phố 339 bây giờ chính là đường cái làng ngày ấy, còn phố Thịnh Yên bây giờ thì khi ấy chỉ là một dãy ao, chuôm... kè bờ, trải dài suốt từ Phố Huế vào đến "Trại Ngựa" (nơi đang là trường PTTH Đoàn Kết hiện nay).

Dân làng, đàn ông không có nghề gia truyền, ai hợp với việc gì thì tự ý đi làm việc ấy. Còn đàn bà thì nối nghiệp theo hai nghề: bánh bèo bánh chưng và bún chả.

(Bánh chưng, bún chả thì ở Hà Nội bây giờ vẫn còn nhưng không còn là "đặc sản" của riêng làng Thịnh Yên như xưa nữa. Duy có bánh bèo là vắng bóng hoàn toàn, có chăng nó chỉ còn lại trong nỗi nhớ tiếc âm thầm của không nhiều các "cây cao bóng cả" của đất Hà Nội cổ, nay vẫn đang còn sống...).

Chị Giần là một trong những cô gái chưa chồng ở làng Thịnh Yên thời ấy.

Nói đến chị Giần, người cùng làng thời ấy nhớ ngay đến cái tên gọi âu yếm và kính trọng mà bà con dành cho chị: "cô Tú Giần". Mới chỉ cách có hơn 50 năm mà "thời ấy" với "thời nay" đã khác nhau xa lắm, đặc biệt là ở sự học hành ở giới các bà các chị. Thời bấy giờ "gái làng" mà biết đọc, biết viết (chữ quốc ngữ) đếm chưa hết mười đầu ngón tay. Số người có bằng "sép phi" chỉ được hai, ba. Bằng "đip lôm" không có ai. Đến trình độ "tú tài" thì chỉ có một người duy nhất, đó là chị Giần.


Gia đình chị ở ngay bên lề đường cái làng (con đường ấy sau đổi tên là phố 339), phía số lẻ, gồm mười ba nóc nhà. Nhà chị mang số 9. Đó là một ngôi nhà tường bua quét vôi trắng, mái lợp lá gồi, có cửa vào ở chính giữa, chia nhà thành hai bên, mỗi bên một gian. Gia đình tôi ở bên này lề đường. Nhà số 4.


Như vậy, ngẫu nhiên mà hàng chục năm ròng, chỉ trừ nhũng ngày nghỉ học, còn thì ngày nào chị cũng phải đi qua nhà tôi đúng hai lần. Tôi nói "đúng" là vì tôi thấy hầu như chưa lần nào tôi nhìn thấy chị ra đứng hoặc bước qua cái bậu cửa ngôi nhà số 9 ấy, nếu không phải đi học và đi học về.


Hình như người làng tôi thời ấy rất quý trọng chữ, nên trong làng có hai người rất được tôn trọng, vì nể, là chị Tú Giần và thầy giáo Phú. Cũng phải nói thêm rằng ở làng tôi khi ấy, đàn ông và con trai cũng có hàng chục người là tham, phán, ký, thông và học sinh bậc tú tài..., song bà con vẫn cứ dành thiện cảm của mình cho thầy giáo Phú và cô Tú Giần, mỗi khi cần viết một lá đơn, một tờ thư hay là giải thích về nghĩa lý về một câu "tiếng Tây" nào đấy có liên quan tới họ. Và có lẽ, xuất phát từ mối quan hệ cùng với sự nể trọng của dân làng, mà một ông già tóc bạc, và một cô gái trẻ măng lại trở nên rất tương đồng trong phong cách ăn mặc và ứng xử. Cùng đoan trang, mực thước, cùng ôn tồn nhã nhặn. Con người lúc nào cũng lành lặn, sạch sẽ, ngay ngắn, đàng hoàng...


Ấn tượng của tôi về chị Giần thật sâu sắc. Đã trải qua hơn 50 năm trời, mà mỗi khi nhớ đến chị, tôi vẫn hình dung được rất rõ một cô gái mảnh mai có gương mặt sáng sủa, thanh thoát. Có mái tóc dài mà luôn luôn kẹp gọn, buông sau gáy xuống lưng. Quần áo mùa hè bao giờ cũng là vải phin màu trắng, còn về mùa đông thì chỉ có chiếc áo dài trắng được thay bằng chiếc áo màu xanh rêu. Còn đôi guốc dưới chân thì bốn mùa vẫn cứ mang nước sơn màu sữa, cùng đôi quai da láng đen, như thế. Với chiếc cặp da dầu màu nâu sẫm đã sờn góc, ôm trước ngực, chị đi. Bước chân thư thái đều như đếm, vẻ mặt bình thản, mắt luôn luôn nhìn thẳng... Kể có đến hàng ngàn, hàng vạn lần chị đã đi qua cửa nhà tôi, vậy mà chưa một lần nào tôi được trông thấy chị nhìn vào nhà mình.


Cứ như vậy, hai nhà ở hơi chếch nhau một chút, phía đối diện, chỉ cách có khoảng mươi thước đường chim bay, mà tôi không khi nào dám làm quen với chị. Đối với tôi khi ấy, chị là một "thần tượng" thật gần gũi mà cũng thật xa vời. Tôi thực sự cảm thấy rất "run" mỗi khi, vì lẽ gì đó không tránh khỏi phải đi ngược chiều qua chị trên con đường làng không lấy gì làm rộng rãi ở ngay trước cửa nhà chúng tôi khi ấy. Đó là những năm trước Cách mạng Tháng Tám.


Sau Cách mạng Tháng Tám một thời gian, thì giặc Pháp gây hấn ở Hải Phòng, cả Hà Nội sục sôi căm giận, ra sức chuẩn bị kháng chiến. Giới học sinh thời nào cũng vẫn là những con người mẫn cảm nhất đối với thời cuộc. Lúc ấy tôi đã vào bộ đội, nhưng thình thoảng vẫn được tạt qua nhà. Một lần bất ngờ "chạm trán" chị mà không kịp tránh. Chị cười với tôi và hỏi:

- Cậu vẫn khỏe đấy chứ?

Lần đầu tiên được nhìn thấy chị cười và nghe chị hỏi, tôi luống cuống vội trả lời như một cái máy:

- Dạ thưa chị em vẫn khỏe ạ!

Lúc này tôi mới dám nhìn và cảm thấy yên tâm, trên gương mặt nhẹ nhõm thanh thoát của chị vẫn còn ánh lên nét cười thân ái. Chị lại hỏi:

- Mũ của cậu không thấy gắn sao. Cậu là chiến sĩ (thời gian ấy cái từ "chiến sĩ" chưa hề có ý phân biệt là chỉ huy hay lính trơn), sao tròn hay sao vuông?

Nghe chị hỏi, thật giản dị và thân mật, tôi cảm thấy mạnh dạn ra, nên cũng cười đáp:

- Em đeo sao... bầu dục chị ạ!

Chị mở to cặp mắt xinh đẹp ra nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi:

- Thật à, là bộ đội gì thế cậu?

Nhìn thái độ ngạc nhiên và nghe giọng nói chân thật của chị, tôi bỗng hối hận, vội vã trả lời chị với ngụ ý nhận lỗi:

- Em nói láo thế mà chị cũng tin. Em là quân tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu chị ạ!

- Nghĩa là...

- Là... Tự vệ chiến đấu í mà!

Chị lại cười:

- Cậu chuyện trò đến hay, cứ như đánh bùn sang ao ấy. Thế hôm nay trốn trại về thăm u được lâu không?

- Em đứng gác một hơi bốn giờ liền, nên chạy nhông một tý cho đỡ cuồng cẳng, rồi lại về gác tiếp ngay đây chị ạ.

- Sao mà gác tham thế. Em định tranh hết phần mọi người à?

- Đâu có, nhóm em có ba mống thì một tên bị "bạn gái" đến bắt cóc từ sáng sớm, đến bây giờ vẫn chưa thả. Chỉ còn em với Nguyễn Đôn, đành chia nhau ra mà cõng.

- Cậu nói Nguyễn Đôn nào thế. Có phải Đôn "nhạc sĩ " không?

- Đúng nó đấy. Thế ra chị cũng quen biết rộng rãi nhỉ?

Tôi thoáng thấy hai gò má chị ửng lên. Chị lắc đầu, nghiêm mặt bảo tôi:

- Cậu Đôn là em của Loan. Loan là bạn học ngồi cùng bàn với chị, cậu ạ!

Tôi ngượng quá vội vàng thanh minh:

- Chị hiểu lầm ý em, em chỉ muốn nói...

Chị nhẹ nhàng đặt một tay lên vai tôi, ngăn lại:

- Không cần phải giải thích, chị có trách cậu đâu. Chỉ có điều, chị muốn chị em chúng mình là những người được gia đình cho ăn học hẳn hoi, nên cố tránh nói năng tùy tiện, em ạ! Kẻo người đời có cớ chê cười cha mẹ chúng ta.

- Em hiểu, em xin lỗi chị!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #56 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:47:38 am »

Sau lần gặp ấy tôi lại trở về với vị trí của mình. Cho mãi tới khi trận chiến lùi về tới Ô Cầu Dền, thì bất ngờ tôi lại được gặp chị trong một tình huống khá đặc biệt: Vừa đổi gác xong, tôi đang ngồi sau một khóm chuối, ăn nốt suất cơm nắm còn lại, chợt nghe có tiếng động, vội ngẩng lên nhìn thấy một cô gái đang gắng sức nâng vai một liệt sĩ lên khỏi mặt đất, chập chuội lết đi từng bước rất khó khăn. Thấy vậy, tôi vội vàng tọng nốt cục cơm cuối cùng vào đầy cả mồm rồi chạy tới giúp. Thì ra người con gái ấy là chị Giần.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Trời ơi, sao chị lại ở đây?

Gặp tôi chị tỏ ra mừng rỡ, đứng thẳng người lên vừa cười vừa thở hổn hển, nói:

- Chị đi kiếm ít rau, được đầy một bao tải su hào, chưa già lắm đâu, đang định vác về thì phát hiện ra anh này nằm trong một cái rãnh sâu giữa hai luống su hào. Chị phải bỏ cả bao tải rau lại đấy, hì hục mãi mới tha được anh ấy tới đây.

- Em hỏi tại sao chị lại ở đây cơ mà?

- Ồ... tại sao ư? Cậu bảo chị không ở đây thì ở đâu bây giờ?

Chợt nhận ra sự vô lý của mình, tôi vội vàng nói:

- Em xin lỗi chị. Nhưng... em nghĩ, giá như chị tản cư thì hợp lý hơn.

- Có nghĩa rằng các cậu có thể đánh trận mà không cần đến sự giúp đỡ của ai hết. Phải thế không?

- Không phải như vậy, ý em chỉ muốn nói: Chị được sinh ra là để làm nhũng việc khác cơ, chứ không phải những việc như thế này!

Chị cười, ánh mắt lấp lánh vẻ trẻ trung, tinh nghịch:

- Cũng như cậu sinh ra chỉ để đánh Tây thôi phải không?

Tôi tức mà không biết cãi thế nào, đành cúi xuống ôm lấy xác người đồng đội không quen, vác lên vai rồi bảo chị:

- Thôi em không đủ lý sự để đôi co với chị. Để em đưa cậu này về tuyến sau cho, chị quay trở lại mà mang rau về.

Từ hôm ấy ngày nào hai chị em cũng gặp nhau. Đã biết khu vực tiểu đội tôi trấn giữ, chị giữ lại phần cơm của chúng tôi rồi tự mình mang đến phát cho từng đứa.

Chỉ mới qua hai ba lần nhận phần cơm do chị phát, cậu Minh "mù" đã tranh thủ lúc nghỉ kéo tôi ra một góc vắng tra khảo:

- "Nàng" là thế nào với cậu khai thật đi?

- Hỏi vớ vẩn, bà ấy là chị, thế thôi.

- Thì ai chẳng biết là chị cậu, nhưng mà chị như thế nào chứ?

- Là chị gái, con ông bác, được chưa?

- Bịa, tớ cóc tin!

Tôi nghe cậu ta nói thế bèn nổi máu tự ái, đáp:

- Thì việc ấy có liên quan gì đến hòa bình thê giới đâu, ai khiến cậu phải hỏi?

Câu chuyện đã dừng lại ở đấy, nhưng tôi hiểu rằng nó chưa thể kết thúc...

Quả nhiên, dù không muốn để tâm theo dõi mà chẳng hiểu vì sao cứ mỗi lần chị Giần xuất hiện là y như rằng tôi hết sức quan tâm đến từng cử chỉ, dáng bộ cùng lời ăn, tiếng nói của Minh đối với chị. Và tôi luôn luôn phát hiện ra những điều rất không vừa ý. Chẳng hạn: Mỗi khi nhận nắm cơm từ tay chị Giần trao cho, bao giờ cậu ta cũng làm điệu bộ trịnh trọng, lịch sự khác đời, bằng cách đưa cả hai bàn tay thư sinh rất nhẵn nhụi và luôn luôn được chăm chút cẩn thận ra đỡ nắm cơm, rồi sẽ cúi đầu một cái rất điệu, miệng nói: "Xin vô cùng cảm ơn đồng chí. Đồng chí tốt quá"! Hoặc: "Trời ơi, hôm nay lại có cả su hào luộc nữa cơ ạ? Các đồng chí giỏi quá"! v.v... để rồi, khi mà chị Giần chào mọi người về, thì Minh đã tìm sẵn được một việc cần thiết mà lại hết sức đơn giản nào đó để có thể đàng hoàng nói chuyện tay đôi với chị để chị phải biết tới cậu ta. Tỉ như: "Xin lỗi, tôi muốn phiền đồng chí một chút được không ạ"? Thế là chị dừng bước vui vẻ trả lời "Vâng đồng chí cứ cho biết, tôi sẽ giúp"!


Cứ như thế, khi thì cậu ta nhờ chị kiếm cho chiếc bút chì, nếu không có cái nguyên thì chỉ cần một mẩu thôi cũng được. Khi thì vài tờ giấy trắng "to hay nhỏ đều rất quí". Khi lại là một chiếc manh-xơ-lam hoặc chiếc nhíp nhổ râu v.v...


Không nghĩ được cách nào tốt hơn, tôi hùng hổ đi tìm chị. Hai chị em gặp nhau, tôi chưa kịp mở miệng nói được câu gì về nỗi tức đang chứa đầy ứ trong lòng thì chị đã cười bảo:

- Quần áo của cậu tả tơi cả rồi, mà cũng bẩn như ma ấy. Trốn vào trong kia đi ngủ một giấc, vứt quần áo ra để chị mang đi giặt, hơ lên bếp chỉ nửa giờ là khô rồi vá lại cho.

- Thôi, không cần, chị cứ kệ, mặc em.

Chị lại cười bảo:

- Kệ cậu thì dễ thôi, nhưng người ta cười vào mặt chị, biết chưa?

- Đứa nào dám cười chị, lại thằng... (tôi kịp thụt ngay lưỡi lại không dám nói hết)!

Chị ngẩn người ra, đăm đăm nhìn tôi rất lâu, rồi nhẹ nhàng bảo:

- Cậu có còn là trẻ con nữa đâu. Hãy sống bằng lý trí minh mẫn của mình em ạ. Đừng có nghĩ ngợi lung tung. Thôi, đi vào trong kia, vứt quần áo ra đây, ngủ đi một giấc. Chị bảo mà...

Tôi bị cứng họng đành hậm hực "thi hành mệnh lệnh" mà lòng thì vẫn chưa yên.

Từ sau hôm mặt trận Ô Cầu Dền bị vỡ chúng tôi lui về "bám trụ" ở làng Hoàng Mai. Kể từ hôm ấy, chị Giần cùng với một cô gái rất trẻ nữa có tên là Toàn, đã nhập hẳn vào quân số của đơn vị chúng tôi, chuyên trách việc tìm kiếm lương thực, thực phẩm và nấu ăn cho cả trung đội. Công việc tuy được thu hẹp rất nhiều nhưng thực ra thì lại vất vả hơn. Vì trước đấy chị làm đội trưởng đội thu gom lương thực, thực phẩm cho cả mặt trận Ô Cầu Dền, phải quản lý công việc của hơn hai chục chị em. Hàng ngày họ phải đi thu nhặt tất cả những thứ đồng bào khi tản cư còn bỏ lại mà anh em chiến đấu đang cần đến, mang về giao cho chị. Chị có nhiệm vụ thu nhận rồi ghi chép tỉ mỉ, chính xác mọi thứ của từng nhà. Với ý thức: Khi cuộc chiến tranh kết thúc sẽ nộp trình sổ sách lên để Nhà nước căn cứ vào đấy mà thanh toán trả cho mọi người...


Thấy chị quyết định như vậy, tôi biết chỉ vì có tôi đang chiến đấu ở đây chị chưa thể yên tâm rút theo mọi người được. Tôi bàn với chị:

- Tất cả các bà, các chị khác đã ra khỏi vòng chiến đấu hết rồi. Chị ở lại nguy hiểm lắm!

- Thế cậu cùng các anh em trong trung đội thì sao?

- Chúng em khác chứ chị!

Chị khẽ phác một nét cười rất ý nhị, nói:

- Khác vì các cậu là đàn ông phải không? Nếu chỉ vì lý do ấy thì cậu nên tản cư một thời gian, tìm lại sách học của bọn trẻ lớp 3, đọc kỹ lại lịch sử nước nhà thời quân Hán, Tống sang xâm lược. Chị thấy điểu ấy là cần đấy!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #57 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:48:37 am »

Bị chị mắng khéo, tôi cảm thấy rất oan mà không thể nào minh giải được. Đã có lúc tôi rất muốn "làm ra vẻ giận dỗi" với chị, nhưng rồi không dám. Chỉ vì: Cũng kể từ hôm chị chính thức trở thành người của trung đội thì cậu Minh "mù" không còn phải kiêng dè gì nữa. Cậu ta cứ đàng hoàng quẩn quanh chỗ chị đang làm việc, với tư thế "hữu nghị, trong sáng" tuyệt vời, là giúp đỡ đồng đội trong những công viêc nặng, không thích hợp với đàn bà con gái! Tỉ như bổ mấy khúc củi nhiều mẩu, hoặc xách giúp mươi thùng nước sạch "để các cô ấy có nước nấu cơm..." v.v... thử hỏi tôi mà giận dỗi chị thì có khác nào bảo ngầm cậu ta "dũng cảm tiến lên"! Không thể được... Tôi quyết định dứt khoát là phải chặn đứng ngay âm mưu của cậu Minh lại.


Tôi rất lo cho chị mà không tìm ra cách nào cởi bỏ được nỗi lo lắng của mình. Trong khi ấy thì tình hình chiến sự đang diễn ra rất khẩn trương, bọn Pháp vây ép chúng tôi từ nhiều phía. Đêm 31/1/1947 xe tăng của chúng nổ máy ầm ì không ngớt, cả ở phía Vọng lẫn phía nghĩa địa Hợp Thiện. Gần sáng gác xong lạnh quá, tôi không muốn về ngủ lại, mà đi thẳng sang chỗ chị với ý định sẽ mạnh dạn hỏi thẳng chị một vài điều. Chị đã dậy và đang chuẩn bị nấu ăn. Thấy tôi đến chị ngạc nhiên hỏi:

- Cậu đến sớm thế, chắc là có việc gì quan trọng, phải không?

Vốn là một gã con trai vụng về, tôi lúng túng công nhận:

- Vâng em cần... hỏi chị một việc. Cô Toàn đâu ạ?

- Cậu muốn gặp Toàn ư? Con bé đang ngủ, chờ lát nữa được không?

- Không em chẳng có việc gì liên quan đến cô ấy mà phải gặp. Em muốn nói chuyện tay đôi chỉ có hai chị em mình với nhau.

Chị ngẩn mặt nhìn tôi, rồi hỏi, giọng lo ngại:

- Có việc gì mà nghiêm trọng thế? Cậu làm cho chị sợ quá! Chờ một chút, để chị nhóm xong cái bếp đặt chảo nước, rồi chị em ta sẽ nói chuyện, được không?

- Vâng để em giúp chị.

Tôi nói và nhanh nhẹn quàng súng qua vai, đang ngơ ngác tìm cái đòn gánh và đôi thùng để đi ra giếng, thì ánh pháo hiệu xanh, đỏ từ bốn phía vút lên, rồi tiếp tục đến các loạt súng thi nhau nổ. Tôi hất súng ra khỏi vai, nắm chắc trong tay hét:

- Tây tấn công! Em ra vị trí đây. Chị với cô Toàn nếu thấy súng nổ gần thì cứ nhằm hướng chùa Sét mà rút lui!

Tôi chạy thẳng đến vị trí chiến đấu của mình, vừa kịp nghe thấy tiếng tiểu đội trưởng quát:

- Nguyễn Hồng đã có mặt chưa?

- Có.

Đến tận sáng bạch thì mới thấy bóng dáng bọn chúng xuất hiện. Trận chiến đấu ngay từ phút đầu đã tỏ ra không cân sức. Lực lượng địch quá đông, mà lại được xe tăng, thiết giáp hộ tống. Lực lượng của ta trong trận này rải ra trên toàn tuyến là bao nhiêu thì tôi không biết. Riêng ở khu vực trại Hàn Lân chỉ thấy có trung đội của chúng tôi, vừa được bổ sung đủ người và súng đạn: Kể cả ban chỉ huy cùng với các tiểu đội viên là 34 tay súng. Tất cả đều đã qua thử thách, chí ít cũng là dăm trận. Đồng đội đứng kề bên tối là Minh "mù" và Thủy "lùn"...


Nghe tiếng súng, chúng tôi nhận biết quân địch đã từ ba hướng: Ngã Tư Vọng - Bạch Mai - Vĩnh Tuy dồn đến tấn công chúng tôi. Dập dờn ở ngã tư Trung Hiền một lúc, xe tăng của chúng bắt đầu rú lên xông tới nhả đạn điên cuồng. Nguyễn Ngọc Long và Phạm Cảnh (hai anh đều là thợ mổ lò lợn) đã được trung đội cử ra chờ sẵn, nhất loạt lao ra... hai tiếng nổ rùng rợn vang lên, lệnh tấn công của trung đội chúng tôi được phát ra từ sự bốc cháy của một thiết giáp và một xe tăng địch. Tôi nhìn thấy Minh "mù" đứng phắt lên nổ súng tới tấp vào lũ bộ binh của địch đang nhốn nháo náo loạn đằng sau chiếc xe tăng bốc cháy. Phát hiện được chính xác vị trí của chúng tôi, quân địch tập chung hỏa lực dội vào, đồng thời nhanh chóng cho quân sĩ xông lên áp sát chúng tôi. Sau chừng nửa giờ xung xát, địch bị ta diệt khoảng 20 tên, còn bên ta cũng có bảy anh em vừa hy sinh vừa bị thương. Đợt chiến đấu tạm ngừng, ta tranh thủ chuyển anh em bị thương và hy sinh về phía sau, đồng thời củng cố lại trận địa và bổ sung đạn dược. Phía địch câm lặng khá lâu. Chị Giần cùng cô Toàn đeo cơm bò ra phát cho từng đứa chúng tôi. Nhận nắm cơm ai cũng ngạc nhiên và cảm động. Không hiểu hai chị làm cách nào để có thể nấu, rồi nắm được cơm trong vòng lửa đạn tơi bời như thế?


Khoảng độ hai giờ chiều địch mở đợt tấn công mới, hình như chúng biết được rằng bên ta đã hết bom ba càng, nên chúng đã nhất tề tấn công tổng lực: Xe tăng và thiết giáp hung hổ lao thẳng vào trận tuyến của ta, nhanh chóng vượt qua trận "mưa" lựu đạn và ét xăng crếp, rồi khựng lại giữa đường, quay vòng khẩu 13ly2 trở lại nhằm thẳng vào chúng tôi, phối hợp với khẩu 13ly2 ở ngã tư Trung Hiền cùng nhả đạn điên cuồng!


Bị bất ngờ, chúng tôi tổn thất khá nặng; chỉ mới chừng nửa giờ chiến đấu mà đã có thêm hơn chục cậu thương vong. Trung đội trưởng gào lên át cả tiếng trọng liên nổ:

- Tất cả chú ý... bộ binh địch!

Chúng tôi hiểu ra ngay, lập tức bỏ qua sức ép của hai chiếc xe tăng đang nã súng từ hai phía, mà hướng súng về phía lính địch đang nhấp nhô tiến đến. Năm mươi thước, bốn mươi rồi ba mươi thước... sau tiếng hô gay gắt của trung đội trưởng: Bắn!... chúng tôi nhất loạt bóp cò. Ngay từ loạt đạn đầu, tôi nhìn thấy đã có năm, sáu tên đổ kềnh xuống giãy giụa. Anh em hét lên say sưa tiếp tục bắn khiến bọn chúng luống cuống nổ súng loạn xạ, và lại thêm ba tên nữa ngã gục, bọn địch vội vã chạy giật lùi, không dám vác theo những tên trúng đạn. Bị những tên chỉ huy ngăn lại, lũ lính địch chững lại cách quân ta khoảng chừng 50 mét. Ta bắn cầm chừng kìm địch lại, không cho chúng nhích lên. Hai bên giằng co cho đến lúc trời đã xế chiều, thì giặc Pháp thay đổi cách đánh: chúng dùng hỏa lực súng cối, dội vào trận địa của ta khiến số thương vong tăng lên đột ngột rất bất ngờ. Biết không còn đủ khả năng tiếp tục chiến đấu, trung đội trưởng sai liên lạc về truyền lệnh và dẫn đường cho tổ nuôi quân rút trước, rồi hạ lệnh cho các tiểu đội thay nhau kìm chặn địch, luân phiên vừa đánh vừa rút về hướng chùa Sét. Đến được chùa Sét thì trời đã gần tối, điểm lại lực lượng: trung đội chỉ còn mười anh em còn chiến đấu được. Cho đến 7 giờ tối mà vẫn chưa thấy chị Giần cùng cô Toàn về. Không nén được nỗi lo lắng, tôi biết rằng nếu có xin phép chưa chắc đã được, nên cứ tự ý lẳng lặng một mình quay trở lại Hoàng Mai. Địch đã thu quân về trụ lại ở trại Hàn Lân. Trên dọc đường tôi không hề gặp một trở ngại gì. Luồn lách mãi mới vào được ngôi nhà của tổ cấp dưỡng ở. Không gian vắng lặng, không một tiếng động nhỏ, tôi dừng lại một phút cố lắng tai nghe ngóng rồi dè dặt tiến vào sân, thì trời ơi, tôi nhìn thấy hình khối hai người ôm nhau ngồi im lặng trên bậc hiên giữa cửa chính của ngôi nhà. Tôi lập tức móc ngón trỏ vào lẫy cò, khẽ quát:

- Ai, ngồi im!

Một trong hai bóng người từ từ ngẩng đầu lên. Tôi dễ dàng nhận ra cặp kính cận thị ánh lên trong đêm trên gương mặt Minh "mù". Điều phát hiện quá bất ngờ khiến tôi sững người ngạc nhiên, vội kêu lên:

- Minh "mù"! Sao cậu lại có mặt ở đây?

Minh không đáp, cậu ta chỉ nhìn tôi thoáng một cái đã lại cúi xuống, gục đầu lên vai một người, dáng phụ nữ, đang ngồi trong lòng cậu ta, chân dang sang hai bên, mặt ấp lên một bên vai của Minh. Dưới chân hai người, trên mặt sân còn một người nữa đang nằm. Tôi ngượng quá, hồi hộp hỏi:

- Chị Giần với cô Toàn đâu?

Đến lúc này, Minh như người bị dao đâm trúng ngực, cậu ta đột ngột hực lên một tiếng rợn người, rồi bật khóc một tiếng tức tưởi như xé ruột. Tôi lập tức hiểu ra ngay mọi sự, vội buông khẩu súng, nhào tới vồ lấy cô gái trong lòng Minh mà tôi tin chắc đó là chị Giần. Không ngờ Minh kháng cự quyết liệt, cậu ta nghiẽn răng kèn kẹt, ghì chặt chị Giần trong lòng, khiến tôi không sao dằng ra được. Cả hai đứa đều gắng sức thở hồng hộc. Thế rồi đột nhiên, không biết là do từ giác quan nào bị tác động mà chỉ thoáng cái, tôi đã tỉnh ngộ rằng mình đã hành động không đúng. Tôi lập tức buông rời hai tay, rồi khuỵu xuống bên cạnh Minh, quờ tay sang lặng lẽ nắm tay lấy một bàn tay đã lạnh cứng của chị Giần đang thõng xuống, nâng lên phủ vào ngực mình và cắn chặt vành môi cố ngăn không cho tiếng khóc bật ra...


... Mãi quá nửa đêm, hai chúng tôi: Cậu Minh khư khư ôm chị Giần trước ngực, còn tôi thì vác cô Toàn trên vai, cùng lầm lũi lần mò bước trong đêm, dưới màn mưa đông gió buốt, trên quãng đường ổ gà ngập ngụa bùn, từ sau trại Hàn Lân (Hoàng Mai) về hướng chùa Sét.


Chị Giần cùng cô bé Toàn của chúng ta đã vĩnh viễn ra đi, mang theo trên thân thể hàng chục hố sâu do mảnh đạn găm vào, mà trong đêm tối chúng tôi không phân biệt được đó là mảnh lựu đạn hay là mảnh súng cối của bọn thực dân xâm lược Pháp, bên cạnh chảo cơm lớn chưa kịp chín!

Đó là đêm 1/2/1947.

Hà Nội, ngày 1/12/1998
NGUYỄN VĂN HÓNG
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #58 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:50:02 am »

NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN Ở THỦ ĐÔ
(Hồi ức của một thanh niên học sinh Hà Nội)


Từ đầu tháng 10/1946 ở Hà Nội, những vụ khiêu khích của lính Pháp xảy ra ngày càng nhiều: Chiếc xe Jeep đang đi bỗng chồm lên vỉa hè đâm vào khách bộ hành, tên lính say rượu đập phá cửa hàng, những phát súng bắn vào nhà dân thường, quân đội Pháp đòi chiếm đóng sở Tài chính... Tình hình căng thẳng. Người dân Hà Nội, nhất là những thanh niên tự vệ, thấy căm hờn sôi sục trước những hành vi ngang ngược của bọn lính đê hèn đã quỳ gối đầu hàng và dâng Đông Dương cho phát xít Nhật năm 1940, đã nấp sau lưng quân đội Đồng minh để nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Nhưng theo lời kêu gọi của Chính phủ, mọi người cố nén lòng, và âm thầm chuẩn bị kháng chiến.


Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban hành chính khu Chợ Hôm (thuộc LKII Hà Nội), ủy ban bảo vệ của phố Lê Văn Hưu được thành lập. Đội tự vệ của chúng tôi, sau một thời gian tạm ngừng sinh hoạt, bắt đầu hoạt động trở lại và nằm trong ủy ban bảo vệ. Chúng tôi có chừng hai mươi người, gồm các anh em học sinh, công nhân, viên chức, đa số chưa quá hai mươi tuổi, do anh Trần Thịnh chỉ huy. Chúng tôi góp tiền mua sắm vũ khí: mỗi người một quả lựu đạn Nhật kiểu lọ mực, ngoài ra tự túc thêm một con dao găm; toàn đội chỉ có một khẩu tiêu liên Sten và một súng trường mút-cơ-tông. Ban ngày, chúng tôi đi làm hoặc đi học, tối về lại họp toàn đội nghe giải thích tình hình trong nước và quốc tế, rồi phân công nhau bí mật canh gác đường phố. Bộ đội chính quy thì đội mũ có ngôi sao vàng trên nền đỏ tròn, còn anh em tự vệ chúng tôi thì có ngôi sao vàng trên nền đỏ hình quả trám. Vì vậy chúng tôi được bà con dân phố đặt tên cho là "chiến sĩ sao vuông", còn bọn Pháp gọi chúng tôi là "Việt Minh ca-rê".


Chiều ngày 30/11/1946, tôi đi làm về sớm hơn mọi ngày và nhận được lệnh chuẩn bị. Cùng một lúc, tiếng búa đục tường vang lên từ khắp các sân nhà, những lỗ giao thông nối liền sân nhà này với sân nhà khác được mở ra nhanh chóng. Khi cần làm nhiệm vụ tác chiến, chúng tôi có thể đi từ đầu phố đến cuối phố mà không phải ló mặt ra đường.


Tám rưỡi tối rồi mà chưa có lệnh mới. Tôi mò cửa nhìn ra ngoài, phố xá vắng tanh, ướt át dưới mưa phùn. Các nhà hai bên đường đều đóng cửa. Hai dãy cây long não chạy dài theo hè phố, như những thân người khổng lồ đứng im lặng dưới ánh sáng của những ngọn đèn điện.


Cách nhà tôi chừng hai mươi mét, hai bóng người đang lúi húi dưới chân chiếc cột đèn xi măng cốt sắt. Tôi lại gần hơn: Ngọ và An, hai đội viên trong "tổ phá hoại", đang đào lỗ để chuẩn bị chôn mìn. Sáu mắt nhìn nhau, ba nụ cười thông cảm. Tôi rẽ vào trụ sở ủy ban bảo vệ, anh trưởng ban đi họp chưa về, mấy anh em thiếu niên liên lạc đang khẽ ôn lại một bài hát mới. Tôi đến vọng gác đặt tại căn nhà hai tầng ở đầu phố. Trên tầng gác, Huy và Vạn nai nịt gọn gàng, đang cắm cúi sao chép những truyền đơn bướm viết bằng tiếng Pháp. Mở cửa sang buồng bên tôi nhận ra Luyện đang đứng gác, mắt luôn nhìn về phía con đường từ Nhà hát lớn chạy về đây.


Quay về nhà, tôi mặc nguyên cả quần áo tranh thủ nằm một lúc. Khi em liên lạc đẽn gọi tôi thì đã gần 12 giờ đêm. Cầm lựu đạn trong tay, tôi đi sang trụ sở bằng con đường giao thông mới mở lúc chiều. Tôi cố nén sự hồi hộp, chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Nhưng không, mới chỉ có lệnh ngủ tập trung tại trụ sở để sẵn sàng đối phó với những bất trắc có thể xảy ra đêm nay mà thôi.


Tình hình căng thẳng vẫn kéo dài. Anh em tự vệ các phố ra sức đào hố, xẻ đường, chôn cọc, đắp ụ, để chặn đường giao thông của địch khi tác chiến. Lính Pháp vẫn tăng cường khiêu khích, khủng bố. Những nơi anh em tự vệ làm công trình phòng ngự giữa ban ngày, chúng đem xe đến cướp xẻng, cuốc, bắt cóc tự vệ.


Ngày 9/12/1946, mặc dù bị chính phủ ta phản đối, bọn Pháp cứ cho xe cam-nhông chở lính xuống Tương Mai với lý do đi tập bắn, rồi khi quay về đến phố Bạch Mai lại khiêu khích bắn liên thanh vào rạp hát Lạc Thành Đài. Anh em tự vệ phố Duy Tân đã bố trí trên ban công các nhà hai bên đường, khi xe chở lính Pháp về gần đến Chợ Hôm, anh em đã cho bọn chúng nếm mùi súng trường, lựu đạn của tự vệ.


Chúng tôi rất phấn khỏi trước thành tích của đội bạn nhưng vẫn phải thi hành lệnh của cãp trên là cố tránh những cuộc va chạm với lính Pháp. Vì vậy, chúng tôi quyết định làm công sự vào ban đêm.

Đêm 11/12/1946, chúng tôi bắt đầu đào hố để chôn hai hàng cọc gỗ lớn ngang đường. 8 giờ 30 tối, đường phố vắng tanh. Chúng tôi yên lặng rời trụ sở, nhanh nhẹn tiến về địa điểm đã định. Ngọ leo lên cột đèn tháo cầu chì. Ngọn đèn điện chiếu sáng chỗ chúng tôi định đào vụt tắt. Khoác khẩu Sten và cầm hai băng đạn, Ngọ lên tầng gác một nhà ở bên đường, cùng với An làm nhiệm vụ bảo vệ. Từ mặt đường, bắt đầu vang lên tiếng cuốc, thuổng. Trong bóng tối, nhũng tia lửa lóe lên, những mảnh đá và nhựa đường bắn lên mặt chúng tôi, chui vào tóc, vào cổ, vào túi áo. Chúng tôi cặm cụi đào, thỉnh thoảng lại có một câu pha trò và những tiếng cười khúc khích.

- Xe! Tiếng gọi của một anh tự vệ gác ở đầu phố. Biết hiệu, chúng tôi mang theo xẻng, cuốc rút vào mấy nhà lân cận đã mở cửa sẵn. Tiếng máy ô tô đến gần, ánh đèn pha rọi sáng mặt đường. Một chiếc xe Jeep tiến đến, đi qua chỗ chúng tôi đang đào dở rồi quặt sang phố khác. Khi tiếng máy ô tô im hẳn thì tiếng gọi "Lạc!" từ trạm gác cuối phố vọng về. Chúng tôi lại kéọ nhau ra mặt đường, tiếp tục công việc.

Cứ như thế, chúng tôi chơi "ú tin" với những xe Jeep và cam-nhông của Pháp. Có lần chúng đỗ xe và đi tìm. Nhưng phố xá vẫn vắng tanh, nhà nào cũng như nhà nào, cửa đóng im ỉm. Còn chúng tôi, sau khi rút vào nhà, đã chui qua lỗ giao thông chuồn sang nhà khác rồi còn đâu!


Đêm đã khuya, hai dãy hố đã đào xong, chúng tôi chia tay nhau về nghỉ, vui sướng vì đã làm tròn nhiệm vụ một cách thú vị.

Sau những ngày phải nén bực tức để tránh va chạm với lính Pháp, chúng tôi được lệnh: cho kháng cự khi cần thiết. Công trình phòng ngự của phố tôi được làm tiếp giũa ban ngày.

Hai giờ chiều ngày chủ nhật 15/12/1946, toàn bộ lực lượng tự vệ phố tôi được huy động ra mặt đường. Chúng tôi đã mượn thêm dụng cụ và vũ khí của các phố lân cận. Việc bảo vệ giao thông giao cho bốn anh em khỏe mạnh biết sử dụng tương đối thạo những vũ khí hiện có, gồm hai khẩu Sten và hai khẩu mút-cơ-tông. Mọi người phấn khởi bắt tay vào nhiệm vụ. Tiếng cưa cây soàn soạt, tiếng cuốc thuổng bổ xuống đá chan chát. Phố xá mọi khi im lìm, chiều nay nhộn nhịp hẳn lên.


Từ phía Nhà hát lớn thành phố, một chiếc xe Jeep lao tới nhưng buộc phải dừng lại trước những cành lá rậm rạp của hai cây to ở đầu phố vừa bị ngả xuống chắn ngang đường. Tên lính Pháp trên xe bước xuống, nhìn chúng tôi một lúc, rồi chiếc xe lại nổ máy quay đi hướng khác.


Một lát sau, một tên sĩ quan Pháp, súng lục đeo bên hông, từ từ đi trên hè phố, tiến về phía chúng tôi. Chúng tôi vẫn tiếp tục công việc của mình, nhưng tiếng cười nói im dần. Hai bên đường, từ bốn gốc cây, bốn chiếc mũ sắt từ từ chuyển động, bốn nòng súng đen ngòm chĩa về phía tên Pháp. Hắn dừng lại một lúc xem chúng tôi đào, đưa mắt nhìn quanh một lượt, rồi lại từ từ bước đi. Bốn nòng súng lặng lẽ tiễn đưa hắn. Tiếng cười nói của chúng tôi lại nổi lên để chào mừng thắng lợi đầu tiên, và cũng để báo cho hắn biết rằng: những người hôm qua còn tạm phải làm ngơ trước hành vi ngang ngược của bọn hắn, hôm nay đã sẵn sàng "tiếp đón" bọn hắn một cách đích đáng.


Ngọn lửa chiến đấu vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân Hà Nội, thỉnh thoảng lại bùng lên với những tiếng súng của anh em tự vệ trả lời những hành động láo xược của bọn lính Pháp đi khiêu khích hoặc phá những công trình phòng ngự của ta. Cuộc xung đột giữa lính Pháp và anh em tự vệ phố Hàng Than ngày 17/12/1946 nhắc chúng tôi phải tăng cường cảnh giác và sẵn sàng hơn nữa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #59 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2022, 06:50:45 am »

Chiều ngày 19/12/1946, sau khi đi làm về, tôi dự cuộc họp thường lệ của anh em tự vệ trong phố. Tan họp về nhà, tôi nói lại với cha tôi lệnh chuẩn bị của ủy ban bảo vệ, rồi bắt đầu thu xếp.

Tôi lặng lẽ giở bọc giấy tờ và quần áo đã soạn từ hôm trước ra xem lại. Tôi ngẩn ngơ, tiêng tiếc, vì phải bỏ lại nhiều thứ quá: này quyển "kỷ niệm đời học sinh" ghi những lời tạm biệt của các bạn thân trước lúc chia tay cuối năm học, này những quyển truyện và những tập thơ văn mà tôi gìn giữ mãi. Mang đi thì sợ nặng, mà để lại thì không biết lúc trở về có còn hay không? Bất giác tôi đưa mắt nhìn quanh nhà: căn nhà nhỏ mọi khi luôn luôn ồn ào tiếng cười nói, hôm nay lặng lẽ quá. Trước tình hình ngày càng căng thẳng, gia đình tôi đã phải tản cư về quê từ ba hôm nay rồi, chỉ còn cha tôi và tôi cùng hai em ở lại, giường tủ bàn ghế và nhiều thứ khác còn bỏ lại cả.


Tôi mặc quần áo, đi giầy, rồi khoác thêm chiếc bờ-lu-dông da, chụp cái mũ cát - két lên đầu, thắt con dao găm vào dây lưng. Tôi mở ngăn kéo lấy quả lựu đạn nhặt để lên mặt tủ cho khỏi quên, rồi lấy một chiếc chăn dạ mỏng bọc những giấy tờ vào quần áo định mang theo cùng với số lương khô mới lĩnh, buộc dây đeo lên lưng.


Bên chiếc bàn con, cha tôi vẫn ngồi im lặng, tay phải chống cằm. Từ lúc đi làm về, nghe tôi nói lại lệnh chuẩn bị của ủy ban bảo vệ, ông cụ cứ mặc nguyên cả quần áo dài nhưng vẫn chưa chuẩn bị gì thêm cả. Có lẽ cụ còn lưu luyến, chưa muốn rời bỏ căn nhà này, khu phố này và cả cái thành phố này nữa. Từ bao năm rồi, gia đình tôi đã sống tại đây. Cuộc sống đoàn tụ, những kỷ niệm êm đềm... Thế mà mấy ngày nay, gia đình đã phải ly tán, đến nay lại sắp phải rời bỏ nơi này. Có lẽ tình cảm đối với những người thân, đối với căn nhà quen thuộc đang day dứt tâm hồn cụ. Thỉnh thoảng cha tôi lại tựa lưng vào thành ghế, vẻ mặt trầm ngâm.


Đèn điện vụt tắt. Tiếng đại bác nổ vang trời. Một cảm giác vừa sôi nổi vừa bâng khuâng tràn ngập lòng tôi: Thế là đã đến giờ đi chiến đấu, làm nhiệm vụ mong đợi từ lâu, nhưng cũng là lúc phải lưu luyến chia tay với những người thân.


Một phút im lặng thoáng qua, tôi lại gần từ biệt cha tôi. Biết nói gì đây? Mẹ tôi và các anh chị tôi giờ này đã ở nơi xa, hai em trai tôi đang ở ngoài vọng gác, chỉ còn người cha thân yêu đang đứng bên tôi.

- Con đi, thầy nhé!

Tôi cố giữ giọng nói cho bình thường, để khỏi làm cho cụ xúc động. Tôi nhìn mặt cha tôi lần cuốỉ cùng, rồi nhìn lại cảnh nhà một lượt. Hai kim dạ quang trên chiếc đồng hồ Jaz chỉ 8 giờ 05 phút. Tay cầm lựu đạn, lưng đeo bọc quần áo, tôi vội vàng chui qua lỗ đục tường sang trụ sở.


Ba giờ sáng. Sau khi hoàn thành trận tấn công đầu tiên vào một ổ chiến đấu của bọn Pháp ở giữa phố, chúng tôi được lệnh canh gác bảo vệ cho đồng bào trong phố tản cư nốt. Từ hai bên phố, những người còn lại lần lượt tập trung về trụ sở tự vệ để đi theo người hướng dẫn ra khỏi thành phố.


Đứng ở cửa sau của căn nhà cuối phố, tôi làm nhiệm vụ chỉ đường cho những đồng bào đi chậm còn tụt lại sau, để khỏi đứt liên lạc. Trời sáng sao mờ mờ. Gió hơi lạnh. Tiếng súng xa xa vọng lại, khi thưa thót, khi dồn dập. Là người cuối cùng tiễn chân những người ra đi đêm nay, tôi thấy lòng nao nao lưu luyến. Dòng người đang đi kia là cha, mẹ, anh, em của chúng tôi, bây giờ ra đi biết ngày nào gặp lại? Người xách bị, người khoác tay nải, ai nấy đi trong yên lặng, như ngậm ngùi vì phải bỏ lại tất cả gia tài cơ nghiệp.


Bỗng tôi nhận ra bóng dáng cha tôi, vai khoác chiếc tay nải đựng quần áo. Vẫn cái áo the thâm, cái quần trắng, chiếc khăn xếp và đôi giầy Gia Định, y như chiều hôm qua, lúc cha tôi đi làm về. Nhận ra tôi, cha tôi dừng lại, se sẽ dặn dò, khuyên tôi yên tâm "làm việc nước", rồi cho tôi biết địa chỉ nơi tản cư và hẹn sẽ nhắn tin cho tôi luôn. Nhìn cha tôi rảo bước khuất dần cùng đoàn người tản cư, lòng tôi se lại và ước mong ngày đoàn tụ.


Người cuối cùng đã đi khuất, tôi quay về trụ sở thì gặp Luyện đang đứng bên người yêu. Là nữ học sinh, Tuyết cũng sục sôi ý chí đấu tranh của tuổi thanh niên, nhưng gia đình còn mẹ già em dại, Tuyết không thể ở lại cùng Luyện và các anh chị em tự vệ. Mẹ và em đã đi xa rồi mà Tuyết vẫn dùng dằng chưa nỡ chia tay. Tôi yên lặng nhẹ nhàng đi vào trong nhà, để đôi bạn trẻ được tự do tâm sự thêm vài phút nữa.


Từ đêm 19/12/1946, anh em tự vệ chúng tôi bắt đầu thoát ly gia đình, sống tập trung thành một đơn vị, có người chỉ huy, có người lo việc cứu thương và cấp dưỡng. Cũng như các đội bạn, chúng tôi lưu động chiến đấu trong phạm vi khu phố mình, khi quân Pháp từ phía Bờ Hồ tấn công xuống thì chúng tôi vừa đánh vưa lui dần xuống phía Bạch Mai, rồi sau lại luồn trở lại đánh du kích phía sau lưng địch.


Sau mười ngày chiến đấu chặn địch không cho chúng tiến xuống phía nam Hà Nội, ngày 30/12/1946 chúng tôi được lệnh tập trung về chỉ huy sở của tự vệ LKII ở Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách Khoa Hà Nội) để phiên chế lại các đơn vị. Chúng tôi cùng một số anh em khác được tập hợp lại thành đội tự vệ Duy Tân do anh Hoàng Giáp làm đội trưởng.


Ngày 19/1/1947, đội tự vệ Duy Tân và hai đội tự vệ khác (cùng thuộc LKII) được phiên chế thành một đại đội Vệ quốc quân mang số hiệu đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 64 trung đoàn 37 (sau này đổi là trung đoàn 66 chủ lực của Liên khu III). Chúng tôi được lệnh hành quân về đóng tại Nhà thương Vọng (nay là bệnh viện Bạch Mai). Từ đó, ngày 19/1 trở thành một ngày kỷ niệm không phai mò trong tâm trí chúng tôi.


Kháng chiến chống Pháp thành công, tôi được phép về thăm Hà Nội. Phố cũ vẫn còn nguyên, nhưng bà con dân phố năm xưa ra đi, nay hầu hết đã làm ăn sinh sống ở nới khác. Tôi ngồi nói chuyện với ông Yến là hàng xóm cũ. Ông kể cho tôi nghe những đổi thay của bà con dân phố cũ, ông nhắc đến cha tôi đã từ trần trước đấy ba năm. Tôi cũng kể lại với ông những kỷ niệm về cái đêm tôi chia tay cha tôi và bà con dân phố khi Thủ đô bắt đầu anh dũng kháng chiến.


Hình ảnh những ngày kháng chiến đầu tiên ở Hà Nội sẽ còn đọng mãi trong tâm trí tôi. Chỉ là một trong muôn ngàn người dân Hà Nội thủa ấy nhưng tôi luôn thấy lòng tha thiết nhớ nhung mảnh đất thân yêu, ở đó tôi đã lớn lên và cùng các bạn trẻ bước vào đời theo con đường tươi sáng mà cuộc Cách mạng Tháng Tám đã chỉ ra.

NGUYỄN HỌP
Nguyên chiến sĩ đội tự vệ
Phố Lê Văn Hưu - Liên khu II Hà Nội
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM