Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Trọn bộ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Bảy, 2022, 08:34:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bắc Hải Vân Xuân 1975  (Đọc 1590 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:41:15 am »

- Tên sách: Bắc Hải Vân Xuân 1975
- Tác giả: Xuân Thiều
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 1977
- Người số hóa: vnmilitaryhistory


I. Kể chuyện từ khu nhà thuộc về người chiến thắng

Kể lại những điều hiểu biết về chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở Trị Thiên - Huế cho một nhà báo nghe, tôi chợt nhớ cách vài hôm trước đây có một tin vắn đăng trên báo Nhân dân. Tin về tên bại tướng Lâm Quang Thi đã xin được chân bồi bàn ở một tiệm rượu bên Mỹ. Tôi khoe cái tin này với các bạn bè trong phòng tác chiến chúng tôi. Lạ thay, không ai bình luận gì cả. Có anh đọc xong đoạn tin, tủm tỉm cười. Có anh ghé mắt nhìn qua một tý rồi dửng dưng làm việc mình. Có anh còn phũ phàng gạt tờ báo ra, chặc lưỡi coi như chuyện Lâm Quang Thi làm bồi bàn là tất nhiên, tin này có gì mà quan tâm. Riêng tôi, tôi lại thấy thú vị. Thoạt tiên tôi bỗng buồn cười cho một kiếp người. Sau đó, tôi để trí tưởng tượng của mình bay đến một thành phố xa lạ, ồn ào, với những ngôi nhà cao tầng, với những dòng người và xe nườm nượp hối hả. Trong một khách sạn trang trí lòe loẹt, có một anh chàng bồi bàn da vàng đang chạy bắng nhắng giữa đám khách da trắng trong tiếng nhạc giật cuồng loạn, tiếng dao dĩa cốc tách va vào nhau, tiếng cười nói la hét, huýt sáo của những người say:

- Ê bồi. Thêm một "Mác-ten"! Cho nhiều Sô-đa vào!

- Ê ông lỏi da vàng! Sâm banh mau lên!

- Này! Vang trắng còn nữa không?

Hắn quay cuồng bận rộn, luôn mồm: thưa ông, thưa cô thưa ngài,... Hắn đang học cách bưng khay làm sao cho đi đứng thật uyển chuyển như múa. Ở Mỹ, nhìn người da vàng hầu bàn, không ai ngạc nhiên. Dù sao thì với hình dáng nhỏ bé, tóc đen, mũi tẹt với màu da vàng đục, với cách phát âm tiếng Anh còn cứng, hắn cũng trở nên một thứ lạ mắt. Còn lạ mắt hơn là khi khách hàng biết được rằng hắn vốn là tên tướng bại trận ở Việt Nam, một tướng ba sao cơ đấy. Người ta thích gọi hắn hầu bàn nhất là tụi sĩ quan hoặc lính tráng sống sót ở Việt Nam trở về. Hoặc vì tò mò để nghe thằng da vàng nói năng ngô nghê cho vui. Hoặc vì muốn hả dạ, để thằng tướng xưa kia biết thế nào là hầu hạ kẻ khác. Hoặc vì thương hại, tội nghiệp anh chàng. v.v.. Có điều là hầu như ai cũng gợi chuyện với hắn:

- Thế nào? Anh bạn người Việt Nam à? Di tản sang chăng?

- Thưa ngài, vâng.

- Hồi ở bên nước, đằng ấy làm nghề gì?

Hắn chỉ muốn quát vào mặt người đối thoại rằng, mày hỏi xỏ tao hả, mày coi thường tao hả? Tao đã từng là cấp tướng, gọi một tiếng là hàng trăm thằng như thứ mày chạy đến hầu hạ. Tao từng cụng ly thân hữu với các tướng lĩnh cao cấp Hoa Kỳ: Oét-mô-len, A-bra-ham,... Tao đã từng... chợt nhìn cái khay bưng trên tay, hắn sực tỉnh, hiểu ra thân phận mình lúc này. Hắn cười gượng:

- Dạ, làm nhì nhằng thôi ạ!

Hắn ỡm ờ đánh trống lảng, cố quên cái quá khứ xấu xa nhục nhã đi. Nhưng quá khứ chưa xa. Một bước ngoặt cuộc đời xảy ra cách đây sáu bảy tháng sao gọi là xa được? Hắn chưa quên thời kỳ vàng son của hắn - thời kỳ còn là trung tướng Lâm Quang Thi tư lệnh phó quân đoàn 1, quân khu 1, tư lệnh tiền phương vùng bắc Hải Vân - người chỉ huy cao cấp nhất ở Huế. Nói bước ngoặt cuộc đời cũng là thi vị hóa, chứ cái nghề làm tướng của Lâm Quang Thi thực chất cũng chỉ là anh bồi bàn cho thằng Mỹ mà thôi. Nhưng kệ thây cuộc đời hắn. Cuộc đời làm tướng tay sai của hắn có gì mà quan tâm? Sở dĩ đọc xong cái tin kia, tôi thấy thú vị có thể do cá tính của tôi, một thứ cá tính không biết nên khen hay nên chê. Tôi là trợ lý phòng tác chiến quân khu, nhưng anh em hay trêu tôi là người mơ mộng. Công việc ở phòng tác chiến là một công việc đòi hỏi tính cụ thể, chuẩn xác, khoa học, vậy mà anh em đùa như thế, nghe ra dễ bị mếch lòng, song tôi biết không ai có ý châm biếm chế giễu mình. Thú thật, chẳng qua thỉnh thoảng tôi cũng nổi hứng làm đôi bài thơ (thơ tôi là loại thơ vườn đến nỗi gửi sang báo Quân giải phóng Trị Thiên - Huế, cũng thường được góp ý kiến chứ ít khi được đăng. May phúc mà được đăng thì hầu như ban biên tập đã phải sửa đến nửa bài rồi). Tôi lại vốn là người đa cảm. Nghe một tiếng chim kêu thống thiết giữa trời hoàng hôn, nhìn những đợt sóng vỗ hoài vào ghềnh đá cam chịu, tôi thấy lòng mình chợt buồn, nỗi buồn của một người cô đơn. Đang đi giữa rừng bỗng thấy phía trước mở ra một thung lũng đầy nắng và hoa mua tím, tôi chỉ muốn reo lên. Cái cảm giác vui vẻ tràn dâng trong người khiến tôi chỉ muốn trở thành trẻ nhỏ, chạy tung tăng giữa nắng, ngắt những cánh hoa, đặt lên lỗ hổng nắm tay, dùng tay kia đánh một cái bốp. Cánh hoa này rách đã có cánh kia, lo gì. Mỗi cánh hoa là một tiếng nổ. Tiếng pháo tuổi thơ đấy!


Đầu óc tôi rất dễ liên tưởng. Đang vẽ bản đồ chiến lệ trận tập kích đồi 235 chợt nhớ tới chúng bạn thân hy sinh trong trận ấy, thế là nước mắt cứ giàn giụa. Ngồi gói thủ pháo với anh em, tôi là người đầu tiên nhắc tới chuyện gói bánh chưng, bánh tét, và lẽ dĩ nhiên chính tôi cũng đâm ra nhớ nhà...


Ừ nhỉ! Tôi là người hay liên tưởng. Bởi vậy, đọc xong cái tin vắn về tên bại tướng Lâm Quang Thi đã thành anh bồi bàn kia, tôi lẳng lặng rời bàn làm việc, đi ra hành lang lầu hai, tỳ tay vào lan can, nhìn ra toàn khu Mang Cá, nơi cách đây không lâu còn là sào huyệt của tên bại tướng Lâm Quang Thi. Nói cho đúng hơn, không phải sào huyệt của riêng hắn mà của hàng lô hàng lốc tướng tá ngụy khác. Chẳng hạn như tên trung tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân đoàn 1, tư lệnh quân khu 1 - một thứ người hùng kiểu Mỹ, một tay đại bợm đầu cơ chính trị và ma mãnh gian ngoan trong mánh khóe đề cao uy tín cá nhân. Với dáng người gày gò xấu xí nét mặt lúc nào cũng lạnh như tiền, hắn rất ít nói; chỉ nói lúc cần quyết định, cần ra lệnh. Hắn không bao giờ nhắc đến cái tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), quê hương hắn với những cù lao Minh, cù lao Bảo với những kênh rạch và những nếp nhà lợp bằng lá dừa nước, dù để khoe khoang cái cơ nghiệp đại địa chủ của cha hắn mà hắn đã ăn xài thỏa thuê. Lúc còn trẻ tuổi, hắn cũng không bao giờ nói ra là bằng cách nào mà hắn cuỗm được vợ một tay đại úy về làm vợ mình. Ấy thế, nhưng hắn vẫn để cho người ta biết hắn còn mang một mảnh đạn trong phổi. Một mảnh đạn của Việt cộng nhức nhối trong người lúc hắn còn là trung úy. Và đáng lý hắn được giải ngũ, thì hắn tình nguyện ở lại quân đội thề chống cộng suốt đời, và hắn đã ở lại với ba nguyên tắc sống nổi tiếng bỉ ổi. Một là, bằng mọi giá phải làm vừa lòng cố vấn Mỹ, kể cả cố vấn cấp trên lẫn cố vấn đồng cấp (có lần hắn đã cõng một cố vấn Mỹ bị thương chạy thoát chết, và vì thế hắn được thăng chức rất nhanh). Hai là, biết và dám nướng quân: thí quân lúc cần thiết cho một mục đích nào đó (tất nhiên là vì mục đích cá nhân). Thí quân không hề thương tiếc, không mảy may động lòng. Ba là, biết hướng về binh lính, mà tìm cách vỗ về phỉnh nịnh họ, vì họ là những con vật hy sinh. Với ba nguyên tắc sống tàn bạo và bỉ ổi ấy hắn dám gạt bỏ ngay những ham muốn này để phục vụ cho ham muốn khác. Vì thế, hắn đã gây được ấn tượng giật gân cho mọi người chung quanh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #1 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:41:59 am »

Ở Đà Nẵng, hắn vẫn thường bay trực thăng ra Huế, đáp xuống cái khu Mang Cá này để kiểm tra, đôn dốc, để ra lệnh, hội họp. Để cho mọi người phải hiểu rằng hắn là tư lệnh quân đoàn 1, tư lệnh quân khu 1, người có quyền sinh quyền sát trong khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi.


Bà con ở Huế vẫn nhắc tới Ngô Quang Trưởng với mùa hè năm 1972, khi ta tiến công giải phóng Quảng Trị, đuổi địch đến sông Mỹ Chánh. Hồi đó, Ngô Quang Trưởng được phái đến thay Hoàng Xuân Lãm đã bị gọi ra tòa. Tên tướng gian ngoan này đã lớn tiếng trên đài phát thanh Huế tuyên bố tử thủ, quyết tâm bảo vệ cố đô đến giọt máu cuối cùng. Giữa cái thành phố đã rã rời hoảng loạn, tiếng nói của hắn ít ra cũng vỗ về trấn an được phần nào tụi ngụy quân, ngụy quyền. Tiếc thay, hồi đó ta chưa đủ mạnh để giải phóng được Thừa Thiên - Huế, nên bỗng nhiên, lời nói dóc của hắn hóa ra ứng nghiệm. Một số người nhẹ dạ tâng bốc hắn, cả đàn cả lũ tụi ác ôn đề cao hắn và hắn cũng biết cách đi bách bộ dọc đường Trần Hưng Đạo để đám thanh niên nuôi ria mép nửa say nửa tỉnh trong các quán rượu, quán cà phê đổ ra đường đứng nghiêm chào hắn, hò hét suy tôn hắn là bậc anh hùng.


Bà con ở Huế nhắc tới năm 1972 để giễu hắn năm 1975 này. Giễu hắn vì "bé cái nhầm", hắn lại huênh hoang tuyên bố "... dẫu có chết, hắn cũng sẽ sẵn sàng chết trên đường phố Huế". Buồn cười thay, hôm 25 tháng 3 năm 1975 không có xác chết nào trên đường phố Huế cả, và hắn vẫn sống mạnh khỏe ở Đà Nẵng, chỉ phải uống một ly rượu mạnh, để tự trấn an tinh thần mình.


Dưới trướng Ngô Quang Trưởng, ngoài Lâm Quang Thi ra còn nhiều tên khác : Tên thiếu tướng tư lệnh phó quân dân phụ trách các tiểu khu (tức là phụ trách bình định) Hoàng Vinh Lạc, tên đại tá tham mưu trưởng quân đoàn 1 Hoàng Mạnh Đán, tên đại tá Hy tham mưu trưởng quân đoàn 1 tiền phương, tên đại tá Duệ tiểu khu trưởng Thừa Thiên, tên chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh, tên chuẩn tướng Bùi Thế Lân và tên đại tá Nguyễn Thành Trí chánh, phó tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến, tên chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng tư lệnh sư đoàn dù, tên đại tá Dũng, lữ trưởng lữ đoàn 1 thiết kỵ, tên... Ồ, nhiều tên khác không thể kể hết. Những tên tướng tá bại trận ấy đã có một thời vênh váo vào ra khu Mang Cá này, cái hang ổ đầu não dùng để chỉ huy toàn bộ quân ngụy ở Trị Thiên - Huế mà chúng còn gọi là bắc Hải Vân. Giờ đây, thằng thì đã cao chạy xa bay sang nước ngoài, thằng thì vào các trại cải tạo của ta, và có thằng đã xanh cỏ. Tôi đã bắt gặp chúng nó rạng ngày Bộ tư lệnh quân khu về đóng ở Mang Cá. Chúng phơi mặt ra trên những tấm ảnh vương vãi khắp sàn nhà, cầu thang, hố xí những chiến sĩ của sư đoàn 325, 324 của trung đoàn 6 đã lôi chúng từ những quyển "an-bom" lưu niệm, từ những khung ảnh treo tường, từ những ngăn kéo, ô bàn, ô tủ, v.v.; và sau khi chửi thề chửi đổng vài câu đã xé đôi, xé ba, xé tư, ném tung ra đất cho những khuôn mặt béo phì đầy hãnh tiến của một thời, tha hồ ngắm đế giầy đế dép cao su Quân giải phóng. Cùng vương vãi với những khuôn mặt nhớp nháp ấy là cờ xí, quần áo rằn ri, kê-pi, bê-rê.. mũ đồng; là những huy hiệu tạp nham mang hình chim ưng, trâu điên, hổ vằn, ngựa trắng,...; là súng đạn các loại, là giấy tờ, tài liệu, báo chí bay tung lên như bươm bướm mỗi lần có trận gió qua; là chân dung tên bán nước Nguyễn Văn Thiệu bị gạch chéo hoặc bị chọc thủng mắt; là dây thép gai, vỏ đồ hộp mang nhãn hiệu Mỹ, Đài Loan hoặc Nhật Bản.


Bây giờ, tất cả những thứ rác rưởi ấy đã được thu dọn từ lâu. Khu Mang Cá đã trở thành doanh trại Quân đội  nhân dân Việt Nam. Bộ tham mưu chúng tôi làm việc ở đây. Cục chính trị ở kia và đằng sau chúng tôi là Cục hậu cần, Cục kỹ thuật.


Lúc này, vừa vào đầu giờ làm việc của buổi sáng, doanh trại trang nghiêm. Các chiến sĩ vệ binh đứng gác, vài chiếc hon-da tắt máy dắt bộ qua cổng. Phía ngoài cầu Kho là áo màu, là xe cộ nổ máy, là cuộc sống bình thường của nhân dân. Tiếng súng đã tắt, vĩnh viễn tắt rồi. Một cuộc sống hòa bình đang mở ra... Bất giác, tôi ngước nhìn lên và bắt gặp lá cờ đỏ sao vàng đang uốn lượn trên cột cờ giữa sân. Cái màu đỏ như có hơi thở ấy đang phập phồng in lên những đám mây màu xà cừ.


"Đã ba mươi năm..." - Tôi thầm kêu lên. Đã ba mươi năm, kể từ ngày tôi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên. Hồi đó, tôi chỉ là một chú bé con bận quần xà lỏn chạy đi "coi" người lớn giành chính quyền ở huyện. Bây giờ tôi đã đến bốn mươi, lác đác vài sợi tóc bạc. Ba mươi năm, qua hai cuộc kháng chiến ác liệt để hôm nay lá cờ đỏ sao vàng bay lượn trên cột cờ khu Mang Cá như một sự khẳng định chiến thắng. Niềm tự hào trào dâng trong lòng, tôi đưa tay lên chấm những giọt nước mắt ứa ra trên mi, chỉ sợ ai trông thấy.


Với một tâm trạng xúc động như thế, tôi cứ lững thững đi dọc hành lang, xuống cầu thang, đi dọc hành lang tầng dưới - nơi có những bao cát xếp chồng lên nhau thành một bức tường bảo vệ. Có thể quên đi cái hang ổ của tụi ngụy xưa kia, bởi vì khu Mang Cá bây giờ gợi lại cho tôi cái cảm giác quen thuộc của khu doanh trại quân đội ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định - những khu doanh trại do Pháp xây để lại cổ lỗ xấu xí nhưng được cái chắc chắn, vững chãi. Lại vẫn cờ, khẩu hiệu, ảnh Hồ Chủ tịch trang trí ở các phòng. Lại vẫn những cán bộ bận quân phục "ga-bác-đin" hoặc vải chéo xanh, quân hàm đeo trên ve áo, ngồi làm việc hoặc đi lại bận rộn. Lại vẫn phích nước, ấm chén - và có khi còn có cái ống điếu thuốc lào bằng "đuya-ra" máy bay Mỹ - đặt trên bàn uống nước, lại vẫn những dãy giường cá nhân, chăn màn xếp gọn ghẽ vuông góc và những chiếc hòm gỗ giản dị vừa là tủ vừa là bàn đêm.


Cuộc sống của một doanh trại ổn định tạo nên cái không khí quen thuộc. Dấu tích của đội quân chiếm đóng và đội quân đánh thuê còn lại trên những chiếc tủ, chiếc bàn bằng kim loại nặng nề, trên những chiếc ghế dựa có bánh xe, có trục xoay di chuyển tiện lợi, trên những chiếc quạt hai cánh của hãng "Giê-nê-rôn Ê-léc-tơ-rích" Mỹ, to tổ bố, cao lênh khênh đặt ở góc phòng.


Không - tôi tự cãi mình - dấu tích của chúng còn khá nhiều, rải rác đó đây từ câu viết bậy trong hố xí đến lá cờ sọc dưa dùng làm giẻ lau xe đạp Nhưng tập trung hơn cả, có lẽ là khu nhà hầm "trung tâm hành quân". Đây là một thứ nhà hầm hình chữ nhật, khá rộng lớn, đắp nổi bằng nhiều tầng bao cát xếp dày, đạn đại pháo 130 ly không xuyên thông, có hàng rào thép chống đạn B.40 bao quanh. Nhà "trung tâm hành quân" này bây giờ trở thành một thứ bảo tồn để nghiên cứu, để nhìn vào đó càng tự hào về chiến thắng của ta.


Một ý nghĩ ham muốn xem lại chợt đến, mặc dù tôi đã quá quen thuộc với ngôi nhà này, tôi quay về phòng tác chiến mượn cái chìa khóa. Chẳng vì nhà này do phòng tác chiến chúng tôi quản lý. Đấy là nơi chúng tôi chứa tất cả mọi thứ tài liệu quân sự của địch và tất nhiên cũng là nơi thuận tiện để chúng tôi cất hon-đa, xe đạp mỗi lần đi phép hoặc đi công tác xa không cần đến. Tính tôi hay hình dung ra như thế, khi mở khóa đánh tách một cái, là tôi hình dung ra tên đại tá Hy đang đứng thẳng người giơ tay lên vành mũ kê-pi chào bọn quan trên Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi, v.v.. Hắn đứng chào ngay cạnh cửa hành lang nơi có dán bản quy định cho tất cả các sĩ quan đi vào "trung tâm hành quân". Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ khôi hài : "...Riêng tớ thì được miễn chứ!". Cái hành lang tối lờ mờ bỗng chốc sáng bừng lên khi tôi ấn vào công tắc bên tường. Liên tiếp các buồng khác được sáng đèn. Một mùi mốc vì thiếu hơi người. Những dãy bàn ghế trống không. Vẫn treo nguyên trên tường là các bản theo dõi, thống kê, quy định nhiệm vụ sĩ quan trực chiến, các loại bản đồ được đánh dấu bằng bút chì màu. Chúng nó vẫn còn kia chăng? Những tên sĩ quan tham mưu trực tác chiến, tình báo, trực không quân, trực pháo binh, công binh, thông tin, sĩ quan trực hải quân, tiếp liệu, v.v.., những tên đeo hoa mai trên ve áo, tóc râu đều sức dầu thơm còn ngồi sau những chiếc bàn kia chăng? Thực ra, tôi đã gặp chúng trong các trại cải tạo, đang đánh trần ra chặt gỗ dựng nhà, hoặc đang im lặng nghe bài giảng vỡ lòng đầu tiên: thế nào là nước Việt Nam, thế nào là đế quốc Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #2 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:42:30 am »

Thực ra trước đó nữa tôi đã gặp chúng giơ tay đầu hàng dọc con đường xuống cảng Tân Mỹ bên cạnh ngổn ngang xác xe tăng, xe giép, xe vận tải các loại - cái thì chổng kềnh dưới ruộng, cái thì bẹp gí, vỡ mặt, cái thì cháy ra màu gỉ đỏ. Thực ra bạn bè tôi đã tóm được chúng trên các nống cát dưới Hà Thanh, Hà Úc, Tư Hiền - những tên ngoan cố nhưng bất lực không thể chạy ra biển trong lúc tàu bè ngoài khơi bị trúng đạn pháo ta bốc cháy.


Bây giờ chúng không thể nào còn ở trong ngôi nhà hầm này nữa, mà tôi vẫn tưởng tượng ra chúng. Nhưng lạ chưa, chúng trở nên bất động y như người trong cuốn phim dùng thủ thuật cho đừng hẳn lại. Khuôn mặt thằng nào cũng trở nên cứng đờ như đắp bằng thạch cao. Phải chăng cái ảo giác này là do từ cái không khí chết lặng của căn phòng mà thời gian dường như đã chấm dứt, đã dừng hẳn theo tờ lịch treo tường chỉ rõ ngày 25-3-1975.


Tôi đứng trước những tấm bản đồ ở buồng chỉ huy được thiết kế như những cánh cửa tủ xếp chồng lên nhau. Tấm bản đồ miền Nam Việt Nam đã được gạch xiên và khoanh viền lại bằng bút chì than ở toàn bộ Tây Nguyên, ở Tam Kỳ, Quảng Ngãi và Quảng Trị - đánh dấu những vùng đất đã mất vào tay quân ta. Đấy là lần ghi cuối cùng của tên sĩ quan tham mưu trực chiến, sau đó chắc hắn không còn đầu óc nào mà ghi vào bản đồ nữa, hắn lo thu xếp vợ con gia đình và thu xếp lấy cái thân hắn. Nhưng chỉ mới chừng ấy thì nhìn lên bản đồ, cũng đã thấy Huế - Đà Nẵng trơ ra như một cù lao, lọt thỏm giữa những vòng vây thít chặt.


Tôi lần lượt mở những cánh cửa tủ khác. Những tấm bản đồ Trị Thiên - Huế mỗi cái có một tác dụng theo dõi riêng cũng lần lượt hiện ra. Hầu như bản đồ nào cũng được ghi chép, đánh dấu vào những ngày đầu của chiến dịch. Sau đó, hoặc vì tự lừa dối để trấn an tinh thần ngay trong bộ tư lệnh tiền phương của chúng, hoặc vì không đủ minh mẫn sáng suốt để làm việc, chúng đành bỏ.


Giờ đây, trên tấm bản đồ bố trí lực lượng của chúng đã chết lặng tất cả ký hiệu những đơn vị, những sân bay, hải cảng, những căn cứ, sở chỉ huy chi khu quân sự, v.v. Đã chết lặng tất cả binh quân chủng của đội quân tay sai ngoại bang: bộ binh, pháo binh, dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp, không quân, hải quân, cảnh sát, ... Đã chết lặng trên màu xanh bút chì những phiên hiệu quen thuộc: lữ 2 dù, lữ 147, 258, 369 thủy quân lục chiến, trung đoàn 1, 3, 51, 54 thuộc sư 1 bộ binh, liên đoàn biệt động 15, 14, liên đoàn bảo an 913, 914, lữ 1 thiết kỵ, thiết đoàn 20, v.v.. Có điều là những ký hiệu biểu thị lực lượng của chúng quả là dầy đặc, chen chúc trên bản đồ từ Thanh Hội - Long Quang qua Tích Tưởng - Như Lệ về tây Hải Lăng, tây Phong Diễn kéo xuống đường 12, đường 14, vào tận Lăng Cô, Hải Vân. Hãy tưởng tượng xem hơn bốn chục tiểu đoàn với trang bị hiện đại của Mỹ cùng với năm vạn dân vệ, phòng vệ dân sự, tất cả gồm mười một vạn tay súng đã từng hoành hành trên mảnh đất Trị Thiên nhỏ bé này. Cảm giác của ta trở nên lạnh tanh, rợn người vì sự va chạm của sắt thép; cảm giác của ta trở nên chật chội khó thở vì đi đâu cũng vấp phải thằng người cầm súng. Vùng trời bị rạch nát vì những đường bay của hàng trăm phi vụ, những đường đạn đại bác cháy bỏng không gian. Chen trong tiếng sóng vùng biển, trên các cảng Mỹ Thúy, Thuận An, Tư Hiền là tiếng động cơ của các loại tàu chiến và tiếng nổ đầu nòng của đại bác tầm xa...


Sức mạnh của chúng hiển nhiên phơi bầy ra như thế, vậy mà chỉ trong vòng hai mươi ngày (từ ngày 5 tháng 3 năm 1975 đến ngày 25 tháng 3 năm 1975) đã tiêu tan. Điều gì đã khiến cho một đạo quân hùng hùng hổ hổ như vậy bỗng nhiên bị đè bẹp một cách nhanh chóng?


Bất giác, tôi lật thêm một cánh cửa tủ, và trước mắt tôi là cái bản đồ ghi chép theo dõi lực lượng của ta. Những ký hiệu kèm theo mũi tên đỏ từ Trường Sơn thọc xuống, từ phía bắc ép vào. Quả thật, thằng địch hiểu ta không sai mấy : Sư đoàn 324, sư đoàn 325 thuộc quân đoàn 2 tiến công từ Mỏ Tàu vào đến núi Kim Sức, Lưỡi Cái; Trung đoàn 271 ở La Sơn, trung đoàn 6 ở núi Chúc Mao, đèo Sơn Na, trung đoàn 4 và phía sau là trung đoàn 46 ở tây Phong Điền, lữ xe tăng 203 ở A Lưới, tiểu đoàn 3 ở nam Cửa Việt, tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 10 ở tây Hải Lăng, tiểu đoàn 21, tiểu đoàn 5 ở Lăng Cô, Hải Vân, v.v... Tất nhiên chúng có sai một số chi tiết như có chỗ chúng đã đặt cả sư 308, sư 341 vào vùng Gio Linh- Cam Lộ. Đấy lại là chuyện khác, chuyện về công tác nghi binh tài giỏi của ta. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng không làm sao hiểu rõ và ghi chép được những biểu hiện đầy đủ về sức mạnh. Sức mạnh của ta đâu chỉ riêng những sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn từ bàn đạp Trường Sơn thọc xuống mà còn hàng chục vạn nhân dân đang làm ruộng, đốn củi, buôn bán, học hành, còn cả những người lính tỉnh táo trong hàng ngũ chúng. Sức mạnh của họ đều là những trái bom hẹn giờ. Sức mạnh đâu chỉ trong khẩu AK cầm tay, trong những viên đại pháo 130 ly, trong những chiếc T54, trong các loại A72, tên lửa... mà sức mạnh còn trong trái tim, khối óc những người làm chủ vũ khí chiến đấu. Sức mạnh không chỉ ở lực mà còn ở thế nữa - cái thế ta đã giành phần ưu từng bước và vừa qua đã đến điểm áp đảo kẻ địch. Sức mạnh còn là sự tổng hợp của ba thứ quân, sự chặt chẽ của ba mũi giáp công, sự nhịp nhàng giữa tiến công và nổi dậy, sự uyển chuyển của đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao,...


Kẻ địch không làm sao hiểu nổi sức mạnh của ta, nên đã từ bàng hoàng, hốt hoảng đến tan rã nhanh chóng. Tan rã và thất bại hoàn toàn.

Tôi lần lượt đóng những cánh cửa tủ lại, để cho những tấm bản đồ quân sự của một bộ tư lệnh bại trận nằm yên cùng với tờ lịch trên tường dừng hẳn trong ngày 25 tháng 3 năm 1975. Ngôi nhà "trung tâm hành quân" này trở nên một thứ nhà mồ. Dấu tích của một đạo quân tay sai của đế quốc Mỹ, một đạo quân gần 11 vạn tay súng ở Trị Thiên - Huế này đã chôn vùi trong đó.


Ngoài sân, nắng đã lên màu mật ong xua tan cái giá rét mấy hôm nay. Có tiếng cười tiếng nói chuyện vui vẻ ở tam cấp nhà Bộ tham mưu. Tôi thấy đủ mặt các đồng chí trong Bộ tư lệnh quân khu: thiếu tướng Lê Tự Đồng, thiếu tướng Hồ Tú Nam, đại tá Dương Bá Nuôi, đại tá Nguyễn Chi, đại tá Trần Văn Ân,... cạnh đó còn có đồng chí thượng tá tham mưu trưởng, người đã mất cánh tay phải trong trận Thanh Lam Bồ hồi chống Pháp và suýt mất nốt cánh tay trái trong chiến dịch 1972 ở Quảng Trị. Đồng chí thượng tá cục trưởng chính trị, một cán bộ vui tính mà chúng tôi hay gọi đùa là "nhà thơ mũi mác". Và một số cán bộ khác nữa. Có lẽ vì nắng ấm và vì câu chuyện trong giờ giải lao quá vui vẻ, nên ai cũng cười nói rất tươi, nét mặt đỏ au. Bây giờ đã xóa hẳn dấu chân của tụi Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi, Hoàng Vinh Lạc,... Trên sân Mang Cá này là những con người đại biểu của chiến thắng. Chợt nhớ tới những ngày Bộ tư lệnh quân khu phải nương nhờ trên đất Mường Noòng bên nước bạn, những ngày về đứng chân trong khu rừng Cao Bồi trên biên giới Việt Lào. Những ngày mà anh em ở cơ quan Bộ tư lệnh chúng tôi mỗi bữa chỉ được một lạng gạo, chủ yếu sống bằng rau rừng mà vẫn đinh ninh một lời hứa son sắt, một lời thề nhất định có ngày sẽ trở về với Huế. Chao ôi, niềm tin của chúng ta thật là mãnh liệt!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:14:07 am »

II. Sự tích niềm tin vào thắng lợi cuối cùng

Dĩ nhiên, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của chúng ta không phải vô căn cứ. Chúng ta đã thắng từ năm 1945, 1954, 1960, 1965, 1968, 1972, 1973,... thắng từng bước - những bước chắc chắn, vững vàng như thế đứng Trường Sơn. Nhưng trước mùa xuân 1975, chúng ta vẫn thường tự hỏi, bao giờ thì thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi vĩnh viễn; bao giờ thì ước nguyện cao cả của chúng ta là đất nước được thống nhất mở ra sau đại thắng của cách mạng Việt Nam? Bao giờ đấy hở thời gian?


Không ai tiên đoán được ngày 10 tháng 3 năm 1975 ta giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Mê Thuột buộc địch sau đó phải rời bỏ toàn Tây Nguyên. Không ai tiên đoán được ngày 25 tháng 3 năm 1975 nhiều mũi tiến công đã bao vây chia cắt rồi chọc thủng vào Huế, cắm cờ lên cửa Ngọ Môn. Không ai tiên đoán được chỉ bốn hôm sau ngày 29 tháng 3 năm 1975 chúng ta lại tiêu diệt cả một đạo quân: hàng chục vạn tên ở Đà Nẵng. Lại càng không thể tiên đoán được cái ngày rực rỡ nhất của dân tộc ngày 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lá cờ vinh quang của ta đã phấp phới bay trên dinh "Độc Lập" sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.


Còn nhớ buổi chiều nắng nỏ ấy, tôi đang quét dọn vệ sinh ngoài đường, chợt thấy nhiều anh em chạy từ sân vào nhà trong tiếng gọi nhau í ới : "Sài Gòn giải phóng rồi! Sài Gòn giải phóng rồi!". Chúng tôi đứng im lặng vòng quanh chiếc đài bán dẫn nghe cô phát thanh viên với giọng xúc động khác thường đọc bản tin chiến thắng. Sau này tôi mới nhớ ra là giữa lúc tiếng vỗ tay hoan hô trong đài cứ vang vang, không hiểu sao anh em chúng tôi ngồi im như tượng. Cho đến khi có một người bạn khóc lên vì sung sướng, mọi người mới sực tỉnh và hầu như ai cũng lau nước mắt. Bây giờ là đến không khí hả hê.

- Trời ơi, tuyệt quá! Thiệt không ngờ!

Thiệt không ngờ! Đấy là một tiếng reo. Không ngờ sự việc vĩ đại ấy lại xảy ra ngày hôm nay, xảy ra mau lẹ như thế? Thốt lên hai tiếng không ngờ vì cảm giác của ta vẫn còn gắn chặt với những ngày cách đây chưa xa. Những ngày còn chịu bom chịu pháo trong những khu rừng sũng nước lầy lội, những ngày phải chôn cất bạn bè, băng bó cho đồng đội. Những ngày chia nhau nửa bánh lương khô, nhường nhau hớp nước trong bi đông để đương đầu với một đội quân tay sai nước ngoài hàng triệu tên. Chao ôi! Chỉ trong thời gian ngắn như thế ta đã đè bẹp hoàn toàn một đạo quân hàng triệu tên với trang bị hiện đại của Mỹ. Thốt lên hai tiếng không ngờ, vì thực ra không ai tiên đoán được cái mốc cụ thể của thời gian xảy ra sự kiện lịch sử. Không tiên đoán được nhưng lại rất tin vào ngày thắng lợi hoàn toàn. Dường như ai cũng linh cảm được điều đó đã tới gần, tới mỗi lúc một gần. Tất yếu lịch sử sẽ như thế. Y như dòng sông nào cũng chảy về biển cả, như trái cây trên cành còn xanh tất một ngày kia sẽ chín... Có thể kể ra hàng trăm hàng nghìn câu chuyện về niềm tin này. Trong hơn hai mươi lăm năm bộ đội, tôi đã nhiều lần chứng kiến giây phút cuối cùng của đồng đội hy sinh, nhiều lần tiễn biệt bạn bè đi làm nhiệm vụ và cẩm chắc sẽ không trở về. Trong những lời trăng trối, những lời dặn dò thật nhất ấy, tự đáy lòng nhất ấy bao giờ cũng lấp lánh niềm tin tất thắng.


Bây giờ không phải vì thắng lợi hoàn toàn rồi ta muốn nói thế nào thì nói, ta tha hồ lý lẽ về niềm tin, ta tha hồ biện luận về sự tiên tri của ước mơ. Đành rằng, cơ sở niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của chúng ta là dựa trên tính lô gích của xu thế phát triển xã hội. Nếu ở xa một chút, đứng ngoài rìa cuộc sống một chút mà ngắm nhìn, mà cảm thụ, ta dễ thấy cuộc chiến đấu thật đẹp đẽ, thật lãng mạn. Và với một tấm lòng thành thật, ta sẵn sàng tin vào thắng lợi cuối cùng, một niềm tin còn dễ dãi còn quá mau lẹ. Hãy giáp mặt với cuộc sống, hãy giáp mặt với cuộc chiến đấu khốc liệt có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, ta mới thấy hết giá trị của niềm tin. Có được niềm tin vào thắng lợi cuối cùng quả là một thứ vàng đã thử lửa. Ở chiến trường Trị Thiên - Huế, tôi chưa phải là chiến sĩ lâu năm nhất, có nhiều anh lăn lộn từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám. Tuy vậy, đã qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, tôi thấy những thử thách ở chiến trường đối với ý chí chiến đấu của người chiến sĩ thật khắc nghiệt. Giờ đây lớp người chúng tôi còn lại không nhiều, nhưng ít ai dám nói mạnh rằng, suốt bao nhiêu năm vào sống ra chết, không có trường hợp nào hoàn cảnh nào đã có thể ảnh hưởng tới niềm tin sắt đá của mình, dù chỉ trong chốc lát. Hiển nhiên là có những kẻ dao động ngả nghiêng, những người giảm sút lòng tin, thoái thác nhiệm vụ, trốn tránh chui rúc vào những nơi an toàn. Thậm chí có những người mất hết lòng tin, trụy lạc và suy thoái đã trở thành những tên phản bội, chạy sang hàng ngũ địch, làm hại cách mạng. Số người này không nhiều nhưng cũng không phải ít. Lịch sử sẽ lướt đi trên đầu họ như lớp sơn màu quét lên vết bẩn trên bàn. Họ là những kẻ chiến bại, không có gì đáng nói tới. Đáng nói đến là những người đã chết, những người còn sống hôm nay - những người đã đứng vững qua bao nhiêu thử thách để trở thành người chiến thắng.


Quả thật, niềm tin không chỉ là khái niệm, trừu tượng nữa, mà đối với chúng tôi, có khi hầu như quá cụ thể đến nỗi mình có thể nắm bắt được, sờ thấy được. Nó hiện lên trên khuôn mặt từng người khi nổ súng, giữa trận B.52, lúc đói khát, bệnh tật, lúc lọt giữa vòng vây, khi nằm hầm bí mật dưới mũi thuốn đi xăm của thằng địch... Nó còn hiện lên khuôn mặt từng người qua từng bước thăng trầm của cuộc chiến đấu ròng rã ba mươi năm nay. Ba mươi năm chiến đấu với những kẻ thù hung ác và tàn bạo nhất của loài người tiến bộ. ôi! Thời gian! Qua bao nhiêu thắng lợi và đau thương, thời gian hôn lên trán ta những nếp nhăn của tuổi tác, nhưng đồng thời như một phép nhiệm mầu - thời gian ưu ái dành cho ta sự rắn rỏi chín chắn trong suy tư củng cố bồi đắp niềm tin cho ta, dành cho ta sự tích lũy cần thiết về ý chí và năng lực để chiến thắng hoàn toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #4 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:15:07 am »

Lớp người tóc muối tiêu chúng tôi, khi rỗi rãi ngồi uống nước trà tán chuyện với nhau, thường gặp nhau ở một cảm giác chung. Hầu như ai cũng ngạc nhiên không hiểu sao mình còn sống nổi tới ngày hôm nay. Có anh còn nói đùa rằng mình sống như vậy là có lãi. Đấy là một cách nói để so sánh với những người bạn đã hy sinh khi còn trẻ. Dẫu sao, chúng tôi cũng còn thời gian để lập gia đình sinh con đẻ cái. Con cái chúng tôi đã có đứa trưởng thành. Ở cơ quan quân khu bộ, khối trường hợp hai cha con là đồng đội đồng chí của nhau. Rõ ràng là hai thế hệ, đấy là chưa kể trường hợp cá biệt, ba thế hệ cùng có mặt ở chiến trường. Thế mới biết thời gian để chiến đấu đã quá dài, thời gian đủ để sinh sôi hai hoặc ba lớp người. Lớp người đi trước giàu sức sống, giàu nghĩa tình. Lớp người trẻ tuổi đi sau sung sức và nhạy cảm. Hai lớp người hòa chung tiếng súng chiến đấu, hòa chung lời ca truyền thống cách mạng. Những lúc nằm đu đưa trên võng trong rừng, những lúc ngồi quây quần bên ngọn lửa đêm, chúng tôi - lớp người đi trước và lớp người đi sau thường kể về những tên đất, tên người quen biết, tâm sự với nhau về vết sẹo trên mình, về những ấn tượng mạnh mẽ cuộc đời chiến sĩ. Tất cả những tâm sự, những nỗi niềm của chúng tôi đều là những kỷ niệm vui buồn gắn chặt với mảnh đất Trị Thiên - Huế thân yêu. Những lúc tâm hồn dễ rung động nhất, dễ nhạy bén nhất ấy, chúng tôi chợt hiểu ra rằng, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng không phải từ ý muốn chủ quan hoặc từ một sự truyền bá nào. Mà chính là từ những kỷ niệm chiến đấu mình tích lũy được và đã biến thành ý chí và tình cảm của bản thân. Mỗi người có những kỷ niệm riêng đã trở thành vốn liếng tình cảm riêng, nhưng đồng thời lại có những kỷ niệm chung của cả vùng đất.


Sau ngày Huế được giải phóng, rất nhiều đồng bào tới thăm bộ đội. Phổ biến nhất là các bà mẹ từ năm mươi tuổi trở lên. Hôm tôi đến công tác ở một đại đội thuộc trung đoàn Phú Xuân cũng gặp một bà mẹ cỡ tuổi như vậy đến thăm. Bà mẹ tóc đã có vài sợi bạc, ăn mặc khá lịch sự, dắt một cháu gái cỡ tám tuổi. Bà xưng hô với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị bằng mẹ và con rất tự nhiên, nhưng khi thấy tôi thì bà gọi tôi bằng cậu và tự xưng bằng chị. Kể cũng phải. Điều đáng chú ý là lúc bà mẹ tặng quà cho đơn vị. Bà lấy trong làn ra một cái khay khảm bạc và đặt lên trên đó hai tút thuốc lá Cáp-tăng, rồi với một dáng dấp kính cẩn, bà nâng cái khay lên ngang tầm mắt y như người ta đang rượu lúc cúng tế. Chính trị viên đại đội - một thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi, tỏ ra hết sức lúng túng và ngượng ngùng. Cuối cùng anh ta cũng đỡ lấy cái khay và kêu lên : "Cảm ơn mẹ! Mẹ đừng làm thế".


"Đừng làm thế", nghĩa là đừng dâng một cách kính cẩn như vậy. Riêng tôi, tôi lại hết sức xúc động vì đã bắt gặp lại hình ảnh này trong buổi lễ thành lập chi đội Trần Cao Vân lực lượng vũ trang đầu tiên của Thừa Thiên - Huế cũng như trong các buổi úy lạo bộ đội Nam tiến. Đi theo các đoàn đại biểu của mặt trận Việt Minh tỉnh và thành phố là các cô gái cỡ hai mươi. Các cô bận áo dài nâu, tay bưng một cái khay trên đó đặt một lá cờ và một cây kiếm. Sau lời chúc mừng của đại biểu là lễ dâng kiếm dâng cờ. Các cô gái bước tới, tay nâng cái khay lên ngang tầm mắt. Anh đại biểu Vệ quốc đoàn trịnh trọng đến nhận tặng phẩm tượng trưng cho nhận một lời thề danh dự, thề hy sinh chiến đấu cho Tổ quốc. Đấy là chuyện ngày xưa. Nhưng, phải chăng bà mẹ hôm nay là một trong những cô gái đi úy lạo Vệ quốc đoàn ngày xưa. Chắc hẳn người mẹ cũng hết sức xúc động vì đã tìm lại được bóng dáng mình thời con gái. Ngày xưa, đến thăm anh Vệ quốc quân đội mũ ca-lô đeo ngôi sao vàng thêu bằng kim tuyến, vai quàng xiên chiếc chăn đơn. Bây giờ tới thăm anh Giải phóng quân đội mũ tai bèo khoác ba lô con cóc... Cái gạch nối thời gian ở giữa là 30 năm. Ba mươi năm sau, người con gái đã có cháu gọi bằng bà ngoại. Ba mươi năm... Bây giờ tôi có cảm giác như chợt sực tỉnh: thế là mình đã trở về với Huế rồi, trở về thực sự rồi. Tôi đã đứng đây; trong ngôi nhà mà cách vài hôm còn là dinh tỉnh trưởng ngụy. Cờ ta đang bay trên cột cờ thành nội bên kia sông. Huế hoàn toàn yên tĩnh: ngoài kia, xe cộ và đủ các hạng người đi lại bình thường. Những nét mặt vui vẻ hân hoan, những nét mặt ngỡ ngàng và cũng có những mái đầu cúi xuống. Dẫu sao, tất cả đều yên tĩnh, đều trở lại bình thường... Các quân đoàn đang đánh sâu vào trong kia. Ba mươi năm... Những anh Vệ quốc quân chúng tôi và những anh chiến sĩ Giải phóng - lớp đàn em chúng tôi đều đã trở về với Huế thân yêu. Ôi, nào phải ba mươi năm nín lặng đâu mà là ba mươi năm bão táp. Ta đã làm gì để hôm nay có thể nói với Huế rằng, niềm tin tất thắng của ta là chính xác hỡi người anh em?


Ba mươi năm là câu chuyện dài của một đời người. Ba mươi năm chiến đấu càng là câu chuyện quá dài của một vùng đất. Ba mươi năm chiến đấu cho niềm tin có ngày hôm nay thành sự thật là cả một sự tích lạ kỳ...

Câu chuyện về những sự tích kỳ lạ của vùng đất Trị Thiên - Huế muốn chép lại phải hàng pho sách, mà kỷ niệm của từng người trong anh em chúng tôi chỉ là những mảnh rời rạc. Thực sự, kỷ niệm rời rạc của từng người đều gắn chặt với những giai thoại đã thành truyền thuyết của hai cuộc chiến đấu chống Pháp và chống Mỹ trên đất Trị Thiên chúng ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #5 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:16:15 am »

Khi Trị Thiên - Huế đã được hoàn toàn giải phóng, khi chúng tôi đã thực sự về với Huế rồi, tâm trạng chúng tôi đôi lúc bất chợt xúc động quay về với nỗi khôn nguôi của mình : những kỷ niệm vui buồn cuộc đời chiến sĩ. những bước thăng trầm của cách mạng Trị Thiên - Huế. Những lúc được chút thời giờ rỗi rãi, hoặc đi bách bộ trong khu Mang Cá, hoặc ngồi trong quán nước bên bờ sông Hương, hoặc lên đường đạp xe đi công tác xuống các đơn vị, chúng tôi lớp người ngoài bốn mươi thường nhắc tới chuỗi ngày quá khứ. Từ câu chuyện anh em tự vệ đường phố Huế đem rơm trộn ớt đốt nhà Mô-ranh, hi vọng làm cho giặc Pháp cố thủ ở đấy sặc khói không chịu được phải mò ra, đến chuyện những anh Vệ quốc quân thuộc chi đội Trần Cao Vân chúng tôi dàn ra trên những tuyến chiến hào phòng ngự quá sơ sài ở đèo Phước Tượng, Mũi Né với súng trường "mút-cơ-tông" và mã tấu, để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ từ bờ biển Cảnh Dương lên. Thời kỳ hào hùng và ngây thơ ấy được gợi lại với giọng điệu vui vẻ pha đôi chút châm biếm. Để sau đó, câu chuyện của chúng tôi lại trở nên nghiêm chỉnh khi nói về một thời kỳ tự hào và quật khởi. Đấy là câu chuyện về phong trào "ôm hè" - tay không giết giặc khởi đầu từ những đội du kích Ba Lăng - Quảng Xuyên, đã nhanh chóng lan khắp nông thôn Bình Trị Thiên. Đấy là những chiến công lẫy lừng ở Thanh Lam Bồ, Dương Hòa, Thanh Hương, Đồng Dương, Ba Dốc, Xuân Bồ,... và nhất là những đòn tiến công sấm sét trong chiến dịch mùa xuân năm 1954, phối hợp với Điện Biên Phủ. Trong câu chuyện của chúng tôi có cảnh tượng xác lính Pháp trôi đầy sông Dương Hòa, có lửa bom na-pan ném xuống Kê Môn - Đại Lược, có tiếng reo vui khi kéo khẩu pháo 75 ly lấy được của giặc Pháp trong trận Ba Dốc, có những chuyến đò đêm từ Ba Lòng xuống Trầm; có những cuộc hành quân vượt phá Tam Giang. Chuyện gợi lại hồi đánh Pháp của chúng tôi thường không thể bỏ qua những ngày đói cơm đói muối, chấy rận đầy người; những bộ quân phục bằng vải "xi-ta", những khẩu súng "tuyn", súng "mát". Lại càng không thể không nhớ tới những đêm lửa trại ở Phong Chương, ở Cùa; những ngày luyện tập nghỉ ngơi ở vùng biển Mỹ Lợi, Mỹ Á,... cuối cùng, một người bạn trong số chúng tôi nhắc lại cảm giác của mấy tên Pháp tù binh. Đấy là những cảm giác hốt hoảng sợ hãi thường xuyên ám ảnh đầu óc tụi lính thực dân. Tưởng như trên đất Trị Thiên, nơi nào chúng đi, chúng dừng cũng có lửa sẵn sàng bốc cháy ngay từ dưới chân. Trong như trong từng cơn gió Lào cuốn theo cát bụi, có sức mạnh vô hình nào đó có thể cuốn luôn cả tụi chúng ra tuốt Thái Bình Dương. Chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao mảnh đất có nhiều cồn cát vàng cồn cát trắng; có nhiều đầm nhiều phá, có cố đô yên tĩnh trầm mặc - cái xứ có nhiều cô gái duyên dáng nghiêng đầu dưới chiếc nón bài thơ, mảnh đất dịu hiền là thế mà không một chỗ đứng ấm chân, một bước đi thanh thản cho đội quân xâm lược nước ngoài.


Thực dân Pháp đã cuốn xéo và những truyền thuyết về chín năm đánh Pháp thì vẫn ở lại với nhân dân ta, ở lại với chúng tôi. Đế quốc Mỹ giàu có và hợm hĩnh đã vào thay chân thực dân Pháp mà không chịu coi trọng những sự tích kỳ lạ của vùng đất này. Trong anh em chúng tôi, có người tập kết ra Bắc, người ở lại tiếp tục xây dựng phong trào. Lúc này, câu chuyện thuộc về người ở lại. Đây là những câu chuyện đau lòng dưới thời Mỹ - Diệm với những vụ thảm sát Hướng Điền, Vĩnh Lộc, với cảnh tượng xác người bị đâm, bị chém, bị bóp cổ, bị dìm nước nổi lềnh bềnh trên các con sông khắp Trị Thiên: sông Thạch Hãn, sông Vĩnh Định, sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương,... Những người bị giết chỉ có cái tội là dám đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Có những kỷ niệm đau buồn không được ai nhắc tới vì người mang kỷ niệm đã chết. Trong chúng tôi, không ai có thể nhớ hết các đồng chí trong đảng bộ Trị Thiên đã hy sinh trong thời kỳ đen tối ấy như thế nào đâu. Bây giờ là sự im lặng vĩnh viễn của đất. Chúng tôi bảo nhau, hãy trân trọng nhắc tới những đồng chí đã nằm trong đất thay bằng thắp một nén nhang để báo tin rằng chúng tôi đã làm tròn nhiệm vụ trả thù. Câu chuyện chúng tôi nói về một đồng chí có tuổi có tên nay đã hy sinh. Hồi đó đồng chí đã phải sống những năm cô độc trong rừng, râu tóc dài như người vượn, ăn rau ăn củ rừng, vài ba tháng lại xuôi vùng Đá Bạc quét lớp muối đọng trong các hốc đá, làm quen với chim, quên mất tiếng nói và tập được lối đi như con heo con cọp để xóa dấu tích quanh hang hốc mình ở. Để một ngày kia bắt liên lạc được với Đảng với nhân dân mà chiến đấu! Cuộc chiến đấu được nhen lên khởi đầu từ những đốm lửa hắt hiu như thế.


Ôi, nhớ sao mùa xuân 1960, mùa xuân chúng tôi lại bắt đầu xây dựng chiến khu. Thời kỳ đó, chúng tôi mở đường mòn xuyên rừng mà đi. Có lẽ khó quên cái cảnh chui qua cống rãnh đường 9, đóng bè chuối vượt sông Thạch Hãn rồi lần mò đi đêm này qua đêm khác. Những khẩu súng, viên đạn có khi nằm giữa bó củi để ô tô chở về dưới Ba Lòng, Mai Lĩnh hoặc vô tận Nam Đông, Khe Tre, ... Khi con người tỉnh ngộ thì khẩu súng, viên đạn tự khắc biết cách đi tới nơi cần tới. Để có đường dây đầu tiên của cách mạng, để có những đơn vị đầu tiên của Trị Thiên. Đấy là thời kỳ chúng tôi im lặng phát rẫy tự nuôi mình, im lặng đi vào nhân dân trên A Lê Thiêm, A Lê Lốc, miền tây Hương Hóa. Để một thời gian ngắn sau đó, chúng tôi đã đàng hoàng uống rượu doác nhắm với thịt nai nướng cùng các pả1 (nghĩa là cha (tiếng Vân Kiều)), các a-ăm2 (nghĩa là cha (tiếng Pa Cô)) trong các bản làng Vân Kiều, Pa Cô giải phóng, đàng hoàng cùng nhân dân lập các tuyến phòng thủ bằng chông thò, cạm bẫy để bảo vệ các xu3 (Xu: xóm (tiếng Pa Cô)), các chòi. Vùng rừng đã đỏ lửa cùng với những trận chiến đấu nổi tiếng của Vai, của Kan Lịch.


Trong anh em chúng tôi, có người hoạt động ở cơ sở trong thành phố đã kể về nỗi kinh hoàng của địch khi tiếng tăm của anh bộ đội Giải phóng từ trên rừng bay về. Cùng với tiếng tăm ấy, màu sắc lá cờ Mặt trận giải phóng khi xuất hiện là thắp sáng niềm tin cho đồng bào ta từng để thương để nhớ đến người đi tập kết năm xưa. Đồng chí hoạt động cơ sở trân trọng nhắc lại ngày bà con thành phố Huế xuống đường, trận xuống đường đầu tiên. Những chiếc xe tăng Mỹ mang tên Ngô Đình Khả cùng với cái ký hiệu ngoáo ộp : đầu lâu đặt trên hai xương chéo - tượng trưng cho cái chết, đã chồm lên. Dùi cui báng súng của đủ các loại sắc lính đã bổ xuống. Máu người Huế đổ dưới xích xe tăng Mỹ, dưới sự tàn bạo của Mỹ. Và sau đó là triều đình họ Ngô sụp  đổ. Nhân dân Trị Thiên đã nhất tề đứng dậy đồng khởi. Câu chuyện đồng khởi thật giản dị, một đêm nào đó, tiếng mõ vang lên từ đầu thôn đến cuối thôn, nhân dân ùa ra châm lửa đốt hết hàng rào trói, buộc, cắt tung kẽm gai, bắt hết bọn tay sai ác ôn. Sáng mai dậy cờ giải phóng bay khắp thôn, và nhân dân cầm súng (những khẩu súng hôm qua còn trong tay kẻ địch) đề giữ lấy vừng đất, khoảng không gian cùng những con người vừa được tự do.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #6 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:17:01 am »

Năm 1965 là thời kỳ rực rỡ của Trị Thiên, thời kỳ đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Từng tiểu đoàn, rồi từng trung đoàn bộ đội Giải phóng được thành lập. Chúng tôi đã về đứng chân ở giáp ranh - cái thế chiến lược quan trọng của dải đất miền Trung, cái thế sẵn sàng đổ lên đầu quân địch những đòn sấm sét. Kỷ niệm về những ngày ấy là những kỷ niệm đẹp đẽ còn lưu lại trong trí nhớ chúng tôi như một thời vàng son. Chúng tôi từng tắm mát ở phá Tam Giang, từng đạp xe đi từ Phò Trạch về tận Sịa. Đã về Trương Lưu, Đông Đỗ xây dựng làng chiến đấu chống càn; đã sang Mỹ Lợi ăn cam, ra Gio Lễ, Cam Bình hái chè nấu nước... Chiến tranh đặc biệt của Mỹ đã thảm bại trong thời vàng son của chiến trường Trị Thiên chúng tôi. Và chiến tranh cục bộ bắt đầu khi xuất hiện những thằng Mỹ bằng xương bằng thịt với xe tăng M.48, với đại bác 175 ly, với máy bay các loại A, loại F, với chất độc hóa học bom rải thảm, với bình xăng đặc ném lên mái tranh, với súng phun lửa phụt vào địa đạo. Ở Việt Nam nói chung và ở Trị Thiên ta nói riêng, đứng về mặt toán học mà nhận xét, dường như có một công thức sau đây : những sự tích chiến công kỳ diệu tỷ lệ thuận với cường độ tội ác và tàn bạo của kẻ địch. Bấy giờ là thời kỳ chúng tôi thực hiện khẩu hiệu "nắm lấy thắt lưng Mỹ mà đánh". Câu chuyện của chúng tôi kể về anh xã đội phó Nguyễn Viết Phong đã chỉ huy một tổ du kích quần nhau với hàng tiểu đoàn Mỹ ở ngay sát nách căn cứ Phú Bài và Ấp Năm. Nguyễn Viết Phong đã thắng lợi vẻ vang. Sự tích này thay cho lời kết luận về sức mạnh Mỹ, rồi những sự tích thắng Mỹ vang dội khác lại xảy ra ở Gio An, ở Phong Chương, Động Tòa, khách sạn Hương Giang,v.v. Anh bạn hoạt động cơ sở nội thành lại kể về người Huế liên tiếp xuống đường dùng đá, chai cháy ném vào cảnh sát, đốt nhà thông tin Mỹ, phá hàng rào kẽm gai của Mỹ, tự ý rào đường Duy Tân. Còn chúng tôi thì kể chuyện đường 9, mảnh đất đẫm máu mà sẽ còn là nỗi kinh hoàng từ cả trong giấc chiêm bao của tên lính Mỹ nào may mắn sống sót. Tụi lính cổ da thuộc sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, tụi lính dù thuộc sư đoàn 101 Mỹ đều đã no đòn ở đấy. Chắc hẳn nỗi khiếp sợ của lính Mỹ còn lưu truyền lại đời con đời cháu. Vết thương này là ở khe Sanh. Cánh tay kia bỏ lại trên cao điểm 2-11. Thằng Uy-li am này chết vì cối 82 ly. Thằng Đắc-uyn nọ tử thương vì B.41.


Giống như tụi lính Pháp trước kia, những tên lính Mỹ bắt đầu ngạc nhiên về mảnh đất nom dịu hiền này, chúng cảm thấy không yên ổn, hoàn toàn không yên ổn. Chúng đến đây bằng những thằng người hung hãn, và ra về trong những túi ni lông.


Rồi câu chuyện của chúng tôi trở nên rôm rả hẳn lên, sinh động hẳn lên khi nói về mùa xuân 1968, về trận tập kích chiến lược tết Mậu Thân.

Trong câu chuyện này, sự tích kỳ lạ nhất là nghệ thuật giữ bí mật bất ngờ. Chúng tôi xuýt xoa ôn lại với nhau về công tác chuẩn bị chu đáo từ trên rừng đến dưới đồng bằng và trong thành phố. Chợt nhớ ơn các đồng chí địa phương đã lo cho chúng tôi từ bát gạo, cái hầm, con thuyền, đến những đồng chí giao liên được gọi là "hoa tiêu" dẫn chúng tôi đi về thành phố. Chợt cảm ơn và kính cẩn nhắc tới những đồng đội trên đường hành quân bị pháo vùi bom dập, bị sóng nước cuốn trôi, thân chịu chết chứ không hề kêu la một tiếng cố giữ cho cuộc hành quân bí mật. Khó mà tưởng tượng được nhiều mũi tiến quân khổng lồ với lỉnh kỉnh trang bị, vượt qua hàng đồn bốt địch, vượt qua bao nhiêu xóm làng, sông ngòi, kênh rạch, dưới tầm kiểm soát của các loại phương tiện trinh sát trên không, dưới mặt đất của địch mà vẫn giữ được bí mật tuyệt đối cho đến giờ nổ súng. Kỷ niệm về trận tập kích Mậu Thân trong anh em chúng tôi mỗi người một vẻ, nhưng đều gắn chặt với dáng tự hào của lá cờ Giải phóng bay chót vót trên cột cờ thành nội trong hai mươi lăm ngày đêm. Hai mươi lăm ngày đêm ở lại thành phố Huế với những trận chiến đấu đẫm máu, ác liệt. Thành phố rung chuyển trong tiếng bom, tiếng đại bác cùng tiếng súng các loại. Đất dưới chân nóng bỏng. Không khí sặc mùi lưu huỳnh. Cửa Đông Ba và con đường Mai Thúc Loan đã trở thành những chốt thép, nơi bộc lộ đến tột cùng lòng quả cảm của chiến sĩ Giải phóng. Máu đồng đội chúng tôi đã thấm xuống đường phố Huế, để Huế đi vào lịch sử. Để khi trở lại Trường Sơn, nhớ về Huế, chúng tôi nhớ từng khuôn mặt bạn bè khi mờ khi tỏ; nhớ những ánh mắt rụt rè trìu mến các chị, các em; nhớ những sinh viên học sinh, những anh chị tự vệ công nhân tay quàng băng đỏ đã sát vai với chúng tôi nổ súng. Nhớ con đò chở đạn qua sông, nhớ chiếc xe ca chở thương binh về hậu cứ. Nỗi nhớ của chúng tôi dính chặt vào những phút đè bẹp quân thù trên núi Tam Thai, trên cầu Lò Rèn, cầu Bạch Hổ; những lúc giải phóng nhà lao Thừa Phủ, lùng địch ở Phú Cam, bao vây bắt sống bọn ác ôn tay sai vón lại trên Cồn Hến. Nỗi nhớ của chúng tôi còn da diết hơn, là nỗi nhớ tội ác kẻ thù : chúng đã sả súng vào hàng ngàn người tay không đi đòi quyền tự do ở ngã ba quận lỵ Phong Điền. Chúng đã giội bom xuống những khu phố đông dân trong thành phố Huế.


Câu chuyện tiếp nối của chúng tôi gợi lại những ngày không thể quên được sau đó, những ngày giặc Mỹ tập trung gần bảy chục tiểu đoàn đủ các loại sắc lính để phản kích chúng tôi, để bình định cấp tốc nông thôn. Đấy là thời kỳ tụi kỵ binh bay tác yêu tác quái bằng đủ các thứ trực thăng hiện đại mà nhân dân gọi chúng bằng những cái tên nôm na : u-ti-ti, rọ, gáo, lép, v.v... Những loại trực thăng ấy đã bắn vào từng lùm cây, soi từng khuôn mặt ngoài đường làm một thứ ngoáo ộp dọa nạt những ai yếu bóng vía. Câu chuyện hả hê là của những người không yếu bóng vía, những chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi đã cho chúng phơi mặt hàng ba chục chiếc trong một trận A Lưới.


Kỷ niệm về thời kỳ đó của chúng tôi là những kỷ niệm vượt muôn vàn khó khăn gian khổ. Bây giờ có thể xót xa nói lại với nhau về những cảnh đói cơm lạt muối lả người, những cảnh sốt rét ác tính chết nhanh trong chốc lát, về những trận lũ tai quái, về những trận bom B.52 tàn khốc. Thế mà các chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi, những người lính xanh xao vì đói cơm thiếu ngủ, vì sốt rét bệnh tật đã đánh cho bọn kỵ binh bay, bọn lính dù và thủy quân lục chiến những đòn trí mạng ở Ca-cô-va, Tam Tanh, A Giơi, A Bia, 935. Sức mạnh được nhân lên gấp bội là sức mạnh con người đứng giữa tột cùng gian khổ để giành lại quyền sống, giành lại thế đứng chân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #7 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:17:35 am »

Anh bạn hoạt động cơ sở còn kể về nỗi xót xa ở đồng bằng : Đồng bào ta bị chúng nhốt sau tầng kẽm gai, xóm làng ta bị chúng đem máy xúc máy ủi về san bằng. Những người chết nằm dưới mồ không yên, những người còn sống ngồi trong trại tập trung mái tôn nóng bỏng, mỗi bước đi đều có mũi súng rê theo, căm thù muốn nổ con mắt... Nhưng chính cái bối cảnh khốc liệt của nông thôn đồng bằng như thế, mới xuất hiện những sự tích kỳ lạ về những người con gái anh hùng của Trị Thiên : Nguyễn Thị Lài, Trần Thị Tâm,... Nhớ lại những năm 1969-1970, dường như ngay anh em chúng tôi cũng ngỡ ngàng tự hỏi, làm sao ta vẫn là ta - đứng vững và chiến thắng, trưởng thành và dày dạn. Nhớ lại những năm ấy chúng tôi thường xúc động ứa nước mắt : một chút tủi thân, một chút tự hào. Thời kỳ khó khăn đã qua đi, và chúng tôi có dịp làm ăn lớn vào mùa xuân năm 1971, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - ngụy. Một người bạn từng đi qua Bản Đông, Huội San, Sê Pôn đã đưa ra một nhận xét sau đây : Trên những đồi cỏ tranh ngút ngàn thường có những đám cỏ xanh tốt trội hẳn lên. Đấy lạ chưa, cái màu xanh trội hẳn lên kia lại có hình dáng người. Đấy là dấu vết những tên lính ngụy xấu số đã nằm lại trên đất Lào trong lãng quên.


Câu chuyện của chúng tôi, bắt sang mùa hè 1972 lúc nào không biết. Chúng tôi nói về những trận tiến công, đập vỡ hệ thống phòng ngự kiên cố dầy đặc ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đầu Mầu, Quán Ngang, Hương Hoa rồi đến trận giải phóng thị xã Đông Hà, trận chiến đấu có tính chất quyết định để sau đó lực lượng của ta ào ào tiến công, đẩy chúng về bên kia sông Mỹ Chánh. Thực ra kỷ niệm của chúng tôi về mùa hè 1972 không phải ở những trận tiến công mà là những ngày giành giữ từng tấc đất từng ngôi nhà trong thành cổ Quảng Trị. Bây giờ đã ba năm qua mà dấu tích khốc liệt còn lưu lại trên những bức tường rỗ tổ ong, trên những mái tôn trở thành tấm lưới sàng đá cuội, trên phố xá đổ nát, trên bờ thành sạt đi từng quãng. Kỷ niệm của chúng tôi là ở những lúc chia nhau sự sống, sự chết, chia nhau từng hỏa điểm và từng viên đạn tiến công : chia nhau một bánh lương khô, vài ba ngụm nước lúc chờ giặc tới; chia nhau những trận bom trận pháo, chia nhau cả từng lúc chợp mắt giữa hai đợt tiến công.


Chúng tôi bảo nhau, sau này khi ta dựng nhà, xây công viên lại trên thị xã Quảng Trị, hãy nhắc nhở con em ta mở từng nắm đất ra mà xem. Đâu chỉ là đất mà còn là cái gì thiêng liêng hơn nữa. Dẫu không cố tình nói cho văn vẻ thì sự thật trần trụi vẫn như thế : nhà đã mọc lên, hoa đang tươi thắm trên xương máu chiến sĩ...


Phải nói chắc với nhau rằng, sự hy sinh tổn thất của ta trong chiến dịch này là lớn. Nhưng sự hy sinh lớn lao ấy cùng với sự hy sinh lớn lao trong cả nước đã làm nên chiến thắng 1972, giáng một chùy nặng nề vào đầu óc ngoan cố của tập đoàn Ních-xơn - Kít-xinh-giơ, khiến chúng phải ký vào Hiệp nghị Pa-ri về Việt Nam. Khiến chúng phải thừa nhận điều mà chúng không muốn : độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; khiến chúng phải chịu rút quân về nước sau bao năm gây tang tóc cho nhân dân Việt Nam. Ở Trị Thiên, sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ rồi sư đoàn dù 101 lần lượt xuống tàu về nước. Gút-bai! Xin vĩnh biệt mảnh đất dịu hiền mà gai góc này đã để lại trong lòng từng tên Mỹ những kỷ niệm không vui. Có luyến tiếc chăng, hẳn là chúng chỉ luyến tiếc tuổi thanh xuân bị chôn vùi, bị phí phạm ở đây, vì quyền lợi bọn tư bản độc quyền, bọn ngồi trong Nhà trắng và Lầu năm góc.


Câu chuyện của chúng tôi lúc này bỗng nhiên quay ngược trở về thời kỳ Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, ... Để nói với nhau một điều hẳn không phải là thừa : quả thật, trên dải đất Việt Nam chúng ta, chỉ có chỗ cho bè bạn, không có chỗ cho bất kỳ một đội quân xâm lược nước ngoài nào, thuộc bất kỳ màu da nào, cả trước đây, bây giờ và sau này mãi mãi.


Những tên xâm lược nước ngoài lần lượt đến rồi lần lượt ra đi, mà cuộc chiến đấu của nhân dân ta vẫn còn phải tiếp tục. Đấy là nỗi đau của một dân tộc. Những người đã cầm súng chiến đấu hàng mấy chục năm là những người khát khao hòa bình nhất. Chúng tôi cũng vậy khi hai sắc cờ đã mọc lên trên tuyến tiếp xúc dài hàng trăm ki-lô-mét, chúng tôi vẫn ước ao hai bên ngồi lại với nhau, xóa bỏ hận thù trong mối tình hòa hợp dân tộc. Nhưng ngay sau đó chúng tôi có thể châm biếm về sự mơ hồ này của một số người trong anh em chúng tôi. Bởi vì chúng tôi đã có những kỷ niệm đau xót ở Bồ Điền, Hiền Sĩ- Nam Phổ Cần, ở Cửa Việt. Bạn bè chúng tôi, nhiều đứa đã ngã xuống những nơi đó do những cuộc tiến công lấn chiếm của chúng. Sự ngoan cố của kẻ thù khiến chúng tôi thêm tỉnh ngộ. Trên những tuyến tiếp xúc, chúng tôi sẵn sàng chia chén nước chè, điếu thuốc với binh lính phía bên kia, song cũng biết chuẩn bị sẵn sàng những điểm xạ để khi cần phải giáng trả những đòn trừng phạt đối với những kẻ say mê thuốc súng : Điều chúng tôi hiểu sâu xa trong những ngày sau đó là ta phải mạnh, phải mạnh hơn nữa. Có sức mạnh mới chủ động trong mọi tình huống.


Câu chuyện về kỷ niệm của chúng tôi trong thời gian này là câu chuyện về mở đường Trường Sơn, về huấn luyện đơn vị, về việc tách một số đơn vị chủ lực thuộc quân khu Trị Thiên ra thành lập quân dân cơ động, về những trận đánh trả bọn lấn chiếm, về việc tiếp tục xây dựng cơ sở ở nông  thôn đồng bằng và thành phố, về việc củng cố vùng giải phóng hậu phương.


Những năm 1973 - 1974 chưa xa, chưa quên trong trí nhớ chúng tôi. Bây giờ, đất nước đã hoàn toàn giải phóng, ngồi với nhau giữa thành phố Huế, chúng tôi hoàn toàn tâm đắc với nhau về thắng lợi Hiệp nghị Pa-ri. Hiệp nghị Pa-ri nằm trong hồ sơ lưu trữ các bên hữu quan là những điều khoản, những quy ước, những chữ ký; nhưng với chúng ta là thời gian, là cơ hội. Dưới ánh sáng lãnh đạo của Đảng, biết làm chủ thời gian, biết nắm lấy cơ hội, sẽ có tất cả. Có lẽ mãi sau này, cùng với thử thách của thời gian, mỗi lúc chúng tôi càng thấu hiểu thêm, càng thấm thía thêm ý nghĩa điều đó.


Tất cả những tâm sự, những kỷ niệm của anh em chúng tôi vừa ôn lại chỉ là những mảnh rời rạc trong hàng pho sách chép về sự tích kỳ lạ của vùng đất Trị Thiên. Tuy nhiên, kỷ niệm rời rạc của chúng tôi đều y như những dấu chân đã in trên một chặng đường dài. Cùng quân dân Trị Thiên - Huế, chúng tôi đã đi trên chặng đường dài đầy gian truân như thế để làm một cuộc chuẩn bị cho thắng lợi cuối cùng khởi đầu từ những ngày mùa xuân năm 1975 lịch sử.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #8 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 07:19:03 am »

III. Cuộc chuẩn bị ba mươi ngày - cuộc chuẩn bị ba mươi năm

Vâng, đang nói về mùa xuân năm 1975. Nhắc tới mùa xuân, ta chợt có cảm giác thanh thản nhẹ nhõm, dẫu đang ở trên rừng. Tưởng như ngửi thấy mùi thơm hoa phong lan phảng phất trong tiếng hót ngọt ngào chim khướu, trong tiếng róc rách suối chảy. Tưởng như có thể say sưa ngắm những ré nắng xuân xuyên qua đám sương màu lam...


Thực ra, mùa xuân ở Trị Thiên bao giờ cũng là một mùa xuân ẩm ướt, buồn tẻ. Nếu như ở vùng đất hanh khô, mùa xuân đến mang theo cái không khí hiu hiu mát dịu - cái không khí mơ màng của hơi sương, thì ở đây - trời vẫn mưa, một thứ mưa lai rai dai dẳng. Đất đỏ miền tây Quảng Trị dính bết vào dép cao su, còn ở miền tây Thừa Thiên, thứ đất pha lá mục, nom dễ đi, nhưng hễ giẫm chân vào là nước đen tứa ra từ các kẽ chân, vừa bẩn vừa ngứa.


Chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi chào đón mùa xuân năm 1975 trên những nẻo rừng sũng nước như thế. Chúng tôi đã quen với rừng hàng vài chục năm nay, hàng mươi năm nay hoặc ít ra hàng dăm bảy tháng nay. Có gì mà phải bực bội với mùa xuân đẫm nước ở cánh rừng miền tây Trị Thiên? Rất giản dị và yêu đời là chiến sĩ. Chúng tôi lọc ra niềm vui qua cái buồn của thời tiết, trong những sinh hoạt bình thường : mùa này, măng đang ngọt. Còn nấm mối thì có thể bất thần nhú lên ở một đám đất ẩm ướt ngay cạnh ta. Mùa xuân, chuối rừng khoe hoa đỏ chót, hoa lim màu tím rụng vào những hốc đá đầy nước. Mưa, ừ thì có ướt át nhớp nháp thật đấy, nhưng nếu qua suối rửa ráy tinh tươm, bước lên những bậc dốc lát bằng gỗ chẻ, vào trong nhà giũ áo mưa roàn roạt rồi hơ tay lên bếp lửa thì coi như đã gửi lại cái mưa gió ngoài rừng. Ở đây, dưới mái lán lợp lá đoác, lá gồi, chiến sĩ ngồi hong tay nghe củi nổ lép bép trong tiếng gió giũ nước mưa đọng lên lá xuống suối, trong tiếng thác đổ xa xa... Để tâm hồn nhẹ nhõm và chợt nhớ về những miền quê xa xôi, về những kỷ niệm tuổi thơ, về những buồn vui cuộc đời chiến sĩ. Hoặc nếu thích cuộc sống sôi nổi ồn ào thì hãy lao vào những trận đánh bài "tiến lên" vừa hò hét vừa trêu chọc lẫn nhau. Có thể bị vẽ râu hoặc beo tai bóp mũi gì đó nếu thua cuộc, nhưng không sao, chỉ đùa vui thôi mà - đời lính bao giờ cũng hướng về niềm vui, hướng về chiến thắng.


Mùa xuân năm 1975 đến với chiến sĩ Trị Thiên có gì khác ngoài những niềm vui bình dị. Có gì khác năm 1974 và những năm trước kia? Thực ra, mối quan tâm trước tiên đối với chiến sĩ chúng tôi khi mùa xuân đến là điều có liên quan tới sứ mệnh của mình. Năm nay sẽ mở chiến dịch ở đâu? Làm ăn ra sao? Ước nguyện sâu xa của người cầm súng là tự trả lời mình trước lúc lên đường nhập ngũ.


Anh chiến sĩ sẵn sàng bên khẩu đại liên trên chốt Long Quang, o du kích nằm trong hầm bí mật giữa trằm Bầu Bông vùng Phong Hòa, anh bộ đội địa phương gác nơi hòn Rẫm bên kia cửa Tư Hiền, cũng như chúng tôi - những cán bộ đã lớn tuổi công tác ở cơ quan quân khu - đều nghĩ về mùa xuân năm 1975 như hướng về ước mơ của mình. Chúng tôi nghe thời gian đi trong tiếng tắc kè điểm giờ, trong tiếng gà gọi sáng, trong khi bóc tờ lịch hàng ngày. Còn nghe tiếng thời gian đi khi nhìn mái tóc lốm đốm bạc của đồng chí chỉ huy, khi bất chợt tính với nhau rằng, thế là Bác Hồ đã đi xa được sáu năm. Sáu năm không có thơ mừng xuân của Bác, nhưng dường như lúc nào lời di chúc của Bác cũng văng vẳng bên tai : "... Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người . Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn...". Giữa ngày xuân, chiến sĩ chúng tôi chợt băn khoăn, vì chưa thực hiện được trọn vẹn lời di chúc của Bác. Thưa Bác, thế là một mùa xuân nữa lại đến, mùa xuân năm 1975. Bất giác thấy Bác vẫn đi trước hàng quân, cổ vũ chúng tôi, vẫy gọi chúng tôi. Tâm tư và ước ao của chúng tôi vẫn hướng về một trận thắng lớn. Chúng tôi nghe ngóng, phán đoán, thăm dò. Trí tưởng tượng của người lính chúng tôi tha hồ bay bổng, tha hồ tính toán về mùa chiến dịch sắp tới.


Một buổi tối ở trung đoàn Phú Xuân - chiến sĩ cảnh vệ tên là Tứ vừa theo một cán bộ trung đoàn ra công tác ở Quân khu về, sau khi tắm táp giặt giũ xong, đã hào phóng ném ra bao thuốc lá Tam Đảo và gói chè Ba Đình cho cả tiểu đội quây quần lại, người chủ cuộc vui tung ra một tin mới:

- Sắp làm ăn to rồi các cậu ạ!

- Sao? Nói đi! Bọn tớ cũng biết cách giữ bí mật chứ? Thề! - Đám lính trẻ xích lại gần nhau hơn. Trong màn thuốc lá tỏa ra bàng bạc, trong tiếng xuýt xoa vì bát nước trà nóng, những ánh mắt mở to vui vẻ chờ đợi. Tứ bèn kể với các bạn, bằng nét mặt quan trọng, bằng giọng nới tự tin. Câu chuyện của anh ta bắt đầu từ cuộc họp của người cán bộ trung đoàn ở Quân khu. Tất nhiên anh ta không được phép biết nội dung, song cứ xem cung cách tổ chức hội nghị tuyệt mật, cung cách tất bật của các cán bộ chủ trì về họp, hết làm việc với tham mưu lại đến với chính trị, hậu cần,... chắc hẳn là cuộc họp có tính chất giao nhiệm vụ quan trọng. Anh ta còn xem mặt, bắt hình dong, thấy đồng chí thủ trưởng của mình chợt vui vẻ, chợt bần thần tỏ ra nhiều lo lắng suy nghĩ là biết anh đang có nhiều điều cân nhắc tính toán.


Câu chuyện của anh kể về nhiều hiện tượng chuẩn bị chiến dịch: xe cộ chạy rần rần đi sâu vào trong kia, rất nhiều xe chở quân, toán tụi lính trẻ da dẻ đỏ au, quần áo mới cứng. Xe chở dầu máy và phụ tùng xe tăng của các đội sửa chữa. Xe chở đạn các cỡ hòm lớn hòm bé vô thiên lủng. Gặp những anh lính lái xe hay tán dóc, chỉ cần mời điếu thuốc lá làm quen là anh ta sẵn sàng phun ra cho biết, xe đang chở hàng gì, vào tận đâu. Theo Tứ - anh chiến sĩ thạo tin cho biết thì ở Quân khu đang có nhiều cuộc tập huấn : tập huấn quân sự, chính trị và binh vận. Quan trọng hơn cả là có một cuộc tập trung hàng ngàn cán bộ địa phương và du kích để tổ chức các đội vũ trang công tác. Có đến hàng trăm đội. Những đội này sẽ về phát động quân chúng nổi dậy ở đồng bằng phối hợp với chủ lực giải phóng nông thôn.

- Các cậu có nhớ con Lưu giao liên Phong Điền nữa không? Chính hắn nói với tớ và còn hẹn mời tớ về cái thôn Thế Chí Đông của hắn bên kia phá Tam Giang ăn cá biển. Thế có bốc không? Của đáng tội con bé cũng xinh, chỉ phải cái hơi ngắn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 827



« Trả lời #9 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 07:19:46 am »

Trong tiếng cười vui, Tứ tiếp tục kể thêm về dấu hiệu mùa chiến dịch sắp tới. Xuỵt! Các cậu có biết không, cánh trinh sát sư đoàn 325 đi chuẩn bị chiến trường gần tháng nay rồi đấy. Chúng nó đang làm ăn ở đường 12. "Thằng" trung đoàn 101 đang bò ra huấn luyện. "Thằng" trung đoàn 18 nghe đâu đã bí mật rời tuyến tiếp xúc, giao các chốt lại cho cánh bộ đội địa phương Quảng Trị. Lạ lùng nhất là "thằng" 95 - trung đoàn chủ công của sư 325 lại đang tổ chức ăn tết. Chính mắt anh ta trông thấy 95 gói bánh chưng, mổ bò mổ lợn chia về cho các đại đội : Gặp anh lính 95 nào là biết ngay, mặt mũi phởn phơ như bắt được của. Anh nào cũng chạy nhắng lên để chuẩn bị tết. Sao lại ăn tết sớm thế? Ăn tết "Quang Trung" để làm cái gì thế? Làm cái Mậu Thân nữa chăng? Tiếng bàn cãi khe khẽ nổi lên:

- Ồ không đời nào lặp lại cái Mậu Thân thứ hai nữa. Trong quân sự kỵ nhất là cái lặp lại. Mất hết cả yếu tố bất ngờ.

- Không, cậu ơi! Chính vì nghĩ như cậu nên có khi lặp lại mới bất ngờ.

Anh chiến sĩ thạo tin xua tay:

- Tớ biết chắc chắn là trung đoàn 95 ăn tết sớm để hành quân vào Tây Nguyên. Tuyệt mật đấy! Một thằng đồng hương nói lại với tớ, và dọa nếu để lộ ra là mất cái đội mũ tai bèo.

Đám lính trẻ xầm xì thán phục người đồng đội chỉ đi một chuyến công tác mà lượm được ối tin quan trọng. Và họ bắt đầu làm "tham mưu con". Thoạt tiên, họ tính với nhau về sự phân bố lực lượng quân đoàn 2 - quả đấm nặng cân nhất của chiến trường Trị Thiên : Vậy là, "thằng" sư 304 vẫn ngồi trong Thượng Đức, (trung đoàn 9 ở lại ngoài Cam Lộ thì đã có trung đoàn 3 thuộc sư 324 thay thế) "thằng" sư 324 đang xoay trần ra huấn luyện ở vùng A Lưới. "Thằng" sư 325 cũng rút ra khỏi tuyến tiếp xúc phòng ngự, "thằng" lữ xe tăng 203 tuy ở rải rác nhiều chỗ thật, nhưng đối với hắn thì lo quái gì, cơ động nhanh như chớp. Còn mấy anh chàng lữ 164 pháo binh, lữ 209 công binh, sư 673 cao pháo thì không phải không tính đến, nhưng các anh chàng ấy sẽ có mặt ngay nơi nào bộ binh cần đến. Tóm lại là toàn quân đoàn 2 đã được rảnh tay chuẩn bị giao cho các tuyến tiếp xúc lại cho địa phương. "Thằng" trung đoàn 271 ở Mỏ Tâu, La Sơn, "thằng" trung đoàn 4 ở tây Phong Điền. "Thằng" tiểu đoàn 14 tây Hải Lăng, "thằng" tiểu đoàn 13 ở Thanh Hội, Long Quang, v.v. Còn trung đoàn 6 chúng mình?


Đám lính trẻ mới sực nhớ ra chính họ cũng vừa được rút ra khỏi tuyến tiếp xúc, đang tranh thủ củng cố huấn luyện. Phải coi như trung đoàn 6 là lực lượng cơ động của Quân khu. Nhưng sẽ được ném vào đâu?
Điều đáng chú ý là tất cả lực lượng đều đang chuẩn bị tại chỗ, sao lại điều trung đoàn 95 đi Tây Nguyên? Điều một trung đoàn cứng được huấn luyện chu đáo đi nơi khác, tất là nơi đó phải quan trọng, phải là chiến trường chủ yếu. Vậy thì Trị Thiên ta là chiến trường phối hợp nhưng mức độ quan trọng của chiến trường phối hợp phải như thế nào mới tập trung hàng trăm đội công tác để tung về nhằm giải phóng nông thôn. Khó nghĩ là đường 12 - con đường chọc thủng vào phía tây thành phố Huế. Định giải phóng Huế chăng? Hay chỉ là giương đông kích tây giáng một đòn ở Quảng Trị. Đám lính trẻ làm "tham mưu con" thường có nhiều ý kiến, và bao giờ họ cũng tự đặt mình vào vị trí tư lệnh quân khu, tư lệnh chiến dịch chẳng hạn. Có anh còn cả gan làm Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh để tính toán mọi kế hoạch, mọi cách làm ăn trong mùa xuân năm nay.


Cuối cùng thì cái vai trò mà anh ta "dám làm" kia cũng chấm dứt, khi người trung đội trưởng nổi hiệu còi, ra lệnh tắt đèn đi ngủ.

Họ kết thúc buổi trà lá vui vẻ, thu vén ca bát, giũ chiếu mắc màn để làm một giấc ngon lành của anh chiến sĩ bình thường. Một cậu đứng giữa nhà, vươn vai, vặn xương kêu răng rắc rồi đủng đỉnh nói:

- Dù sao thì chúng mình cũng chuẩn bị đi thì vừa! Chuẩn bị cái đầu cho cứng, cặp tay chân cho khỏe vào mà húc.

- Ồ chuẩn bị là việc cấp trên, cánh lính chúng mình thì quái gì mà chuẩn bị. Cứ lệnh một cái là a-lê hấp, nhào dô luôn.

- Bậy, cấp trên có cái chuẩn bị của cấp trên, thằng lính có phần chuẩn bị của nó. Thí dụ: như cánh ta đang học quân sự đây này, phải làm sao đừng quỵ xuống vì sốt rét này, rồi phải làm đường, làm kho đạn, kho gạo này? Ồ, ối công việc... - Cuộc tranh luận nho nhỏ này cũng dễ nhất trí. Khi chiến sĩ đã manh nha được mùa chiến dịch sắp tới, hầu như ai cũng hiểu được mình phải làm gì để đảm bảo thắng lợi. Có điều là trong những dòng suy nghĩ miên man về chiến dịch sắp tới, xen lẫn với hình ảnh những người thân, hình ảnh quê hương thường hiện về lúc đã ấm trong chăn, các chiến sĩ chợt sực nhớ về một mùa xuân nữa đến.
Một cậu lớn tuổi nhất tiểu đội lên tiếng hỏi khẽ:

- Năm tới là năm Mão phải không các cậu?

- Ừ năm nay là Giáp Dần, năm tới là Ất Mão.

- Vậy là năm cầm tinh con mèo. Nghe đâu thằng Thiệu tuổi chuột. Cái giống chuột, vốn kỵ mèo nhất. Không chừng năm tới, Thiệu sẽ kềnh cũng nên.

Mẩu chuyện sinh hoạt của tiểu đội cảnh vệ sở dĩ tôi biết được là do Tứ kể lại. Cũng không riêng Tứ mà anh em trong tiểu đội mỗi người góp một câu nhân hôm tôi xuống chơi với anh em, sau ngày Huế giải phóng. Biết tôi là trợ lý ở phòng tác chiến, đám lính trẻ muốn khoe cái tài làm "tham mưu con" của họ, và để tôi xác minh những điều họ nhận định là đúng. Họ chỉ thừa nhận có hai điểm phán đoán chưa chính xác. Một là, hướng trọng điểm của chiến dịch tưởng là đường 12 hóa ra đường 14. Hai là, tưởng đánh chắc tiến chắc không ngờ lại thực hiện bao vây chia cắt lớn và áp dụng lối đánh thần tốc chọc thủng vào tung thâm địch.

Tôi cười:

- Các cậu sai những điều cơ bản nhất rồi, còn gì. Vậy là chưa đủ trình độ làm tư lệnh chiến dịch.

Anh em cười xòa.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM