Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Sáu, 2022, 06:39:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân - Tập 3  (Đọc 1812 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2022, 07:20:13 pm »

ANH HÙNG TRẦN NGỌC PHƯƠNG


Trần Ngọc Phương, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà, trú quán ở phường Ngô Quyền, thị xã Bắc Giang, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 7 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, thuộc đại đội 8, tiểu đoàn 2, lữ đoàn 335, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Ngọc Phương sinh ra và lớn lên sau Cách mạng tháng Tám, được sự giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa về lòng yêu đất nước, căm thù giặc Mỹ xâm lược, nên từ ngày vào bộ đội, đồng chí luôn luôn xung phong, gương mẫu trong mọi công tác, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, dù hoàn cảnh khó khăn thế nào cũng kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, lập công xuất sắc.


Đầu tháng 3 năm 1964, đơn vị đang trên đường hành quân chiến đấu thì một số đồng chí đi đầu bị vướng phải mìn, nhiều người bị thương, tốc độ hành quân chậm hẳn lại. Trần Ngọc Phương xung phong đi trước mở đường, vừa đi, vừa quan sát phát hiện và gỡ mìn, nhờ vậy, đơn vị đã đến vị trí tập kết đúng ngày giờ quy định.


Vừa tới nơi, đơn vị nhận được lệnh cấp tốc truy kích địch. Đồng chí lại xung phong đi trước dẫn đầu đơn vị. Gặp địch, Trần Ngọc Phương bình tĩnh nổ súng chiến đấu và báo về phía sau. Một tên địch ngoan cố định dùng lựu đạn chống lại, bị đồng chí lao lên, giằng lấy quả lựu đạn và nổ súng. Kết quả trận này, đồng chí đã cùng đồng đội diệt 2, bắn bị thương 2 và bắt sống 1 tên địch.


Tiếp đến trận diệt xe tăng địch ở Phú Bạ. Lần thứ nhất, địch cho 5 xe tăng tiến công trận địa phòng ngự của trung đội Trần Ngọc Phương án ngữ trên mỏm đồi, hòng đánh bật ta để mở đường tiến quân. Đồng chí làm nhiệm vụ liên lạc, đã chạy đi chạy lại như con thoi, chuyển lệnh xuống các bộ phận. Sau một thời gian giao chiến quyết liệt, bị hỏa lực ta bắn trả mạnh mẽ, địch buộc phải rút lui.


Đến 13 giờ 30, chúng lại cho một đoàn cơ giới gồm có xe tăng, xe bọc thép kết hợp với bộ binh tiến công mãnh liệt lên mong vượt qua trận địa ta, mở đường rút về Mường Khừng với âm mưu phối hợp cùng lực lượng trung đoàn xe tăng ở đây tiến công chiếm lại Cánh Đồng Chum. Đơn vị Trần Ngọc Phứơng đã bắn trả quyết liệt nhưng vẫn chưa cản được chúng.


Đoàn xe địch đã chọc thủng trận địa thứ nhất, tiến vào trận địa thứ hai. Chỉ còn mấy trăm thước nữa là chúng chạy thoát. Các xạ thủ B.40 được lệnh xuống đường tiếp cận, diệt xe tăng địch. Hai chiếc đi sau đã trúng đạn bốc cháy, nhưng cả đoàn xe vẫn không dừng lại. Bằng bất cứ giá nào, phải chặn đoàn xe địch lại! Tuy không phải xạ thủ B.40 nhưng Trần Ngọc Phương đề nghị đại đội cho mình được góp phần đánh xe tăng. Được trên đồng ý, đồng chí mượn ngay súng B.40 của một đồng đội bị thương, nhờ đồng chí đó lắp đạn hộ và hướng dẫn qua cách bắn, rồi lại lao vội xuống đường. Vừa lúc đó, 1 chiếc xe bọc thép chạy tới. Cách 20 mét, đồng chí nổ súng, đạn bay cao, trệch mục tiêu. Trần Ngọc Phương chạy vội trở về trận địa, xin thêm đạn, lần này vác theo 2 quả đạn cho chắc rồi leo lên nằm trên xác 1 chiếc tăng đã bị bắn cháy, phục chờ địch. Phát hiện một toán địch đang ẩn nấp trong rừng gần đó, đồng chí bí mật bò xuống tiếp cận, ném lựu đạn diệt cả bọn, rồi lại lên xe phục tiếp. Chỗ ẩn nấp trên xe tăng rất tốt, nhưng vì ở giữa chỗ hỏa lực ta và địch giao nhau, không bảo đảm an toàn, nên đại đội ra lệnh gọi đồng chí về. Thấy xe tăng địch đã gần tới cự ly bắn Trần Ngọc Phương xin ở lại. Nổ súng phát thứ hai vẫn không trúng, đồng chí thấy cần phải tiến gần hơn nữa và phải bắn đón đầu mới diệt được xe. Mặc dầu đã mệt, nhưng còn 1 quả đạn, Trần Ngọc Phương vẩn quyết tâm nán lại. Vừa khi ấy, 1 xe bọc thép chạy qua, đồng chí vác B.40 nhảy xuống đuổi theo, vừa định nổ súng thì có lệnh của đại đội phải tập trung tiêu diệt chiếc xe tăng đi trước. Quên hết mệt, Trần Ngọc Phương cố chạy nhanh tắt đường đón đầu chiếc xe này. Cách 10 mét, đồng chí bình tĩnh bóp cò, bắn quả đạn cuối cùng rồi mệt quá ngất đi. Quả đạn găm trúng mục tiêu, làm cho chiếc xe tăng chồm lên và bốc cháy, tất cả bọn địch trong xe đều bị tiêu diệt. Chiếc xe bị đồng chí bắn cháy nằm quay ngang giữa đường, chắn hết lối đi, khiến cả đoàn xe ùn tắc lại. Hỏa lực của ta chế áp dữ dội, buộc toàn bộ quân địch phải kéo cờ trắng xin hàng.


Ta thu tất cả đoàn xe 25 chiếc gồm cả xe tăng và xe bọc thép, trừ một số bị bắn cháy. Bọn địch trên xe bị tiêu diệt và bắt sống hoàn toàn; Thắng lợi này góp phần to lớn vào chiến dịch giải phóng vị trí chiến lược Cánh Đồng Chum, cả đơn vị đều được khen thưởng, riêng Trần Ngọc Phương được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.


Trần Ngọc Phương có tinh thần tích cực học tập cầu tiến bộ, đoàn kết, thương yêu đồng đội, xung phong đi đầu vào những chỗ khó khăn, nguy hiểm, nhận nhiệm vụ nặng nề, tạo thuận lợi cho đồng đội, trong chiến đấu, có quyết tâm cao, bình tĩnh, dũng cảm, linh hoạt, lập công xuất sắc.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Trần Ngọc Phương được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2022, 07:21:02 pm »

ANH HÙNG ĐỖ VĂN TRÌ


Đỗ Văn Trì, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Thụy Văn, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 2 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, xạ thủ trung liên thuộc đại đội 7, tiểu đoàn 2, trung đoàn 174, sư đoàn 316.


Sinh ra và lớn lên sau Cách mạng tháng Tám, nhưng quê hương của Đỗ Văn Trì sau ngày kháng chiến toàn quốc bị địch tạm chiếm. Cuộc sống ở vùng sau lưng địch rất cơ cực, đồng chí không được học hành. Mãi đến sau ngày hòa bình lập lại (1954), đồng chí mới được cắp sách đến trường dưới chế độ mới. Được giáo dục và giác ngộ nhiệm vụ của thanh niên đối với Tổ quốc, năm 18 tuổi, Đỗ Văn Trì xung phong tòng quân.


Vào bộ đội, mới được huấn luyện 1 tháng thì được cử vào quân tình nguyện đi làm nhiệm vụ vận tải, tiếp tế cho chiến trường bên nước bạn, Đổ Văn Trì rất phấn khởi, hăng hái chuẩn bị và là một trong số những người làm đơn tình nguyện đầu tiên của đại đội.


Gần 6 tháng làm nhiệm vụ vận tải, lúc mang vác lương thực, đạn dược, lúc đi cáng thương binh, gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ, Đỗ Văn Tri đều gương mẫu khắc phục, nhiều khi gặp địch, đồng chí dũng cảm chiến đấu để bảo vệ thương binh và hàng hóa, cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau đó, Đỗ Văn Trì được điều về đơn vị chiến đấu.


Tháng 7 năm 1965, đơn vị đồng chí làm nhiệm vụ phòng ngự trên đồi H3Q6 (vùng Tháp Xưa và Hua Mường - nước Lào).


Chiều 20 tháng 7 năm 1965, tổ trung liên của Đỗ Văn Trì được điều ra H3 thay cho một tổ khác của đơn vị bạn làm hỏa lực chủ yếu của mũi chính diện, chốt giữ một đầu của trận địa phòng ngự H3, có nhiệm vụ tiêu diệt địch từ phía Q6 và đồi Gỗ đánh vào.


Sáng 21 tháng 7, sau khi cho máy bay và pháo binh bắn phá dữ dội, địch cho 3 tiểu đoàn tiến vào vùng yên ngựa giữa H3 và Q6. Đồng chí báo động toàn tổ sẵn sàng chiến đấu và bình tĩnh chờ địch vào gần mới nổ súng chính xác vào đội hình của chúng. Bị bắn chặn mãnh liệt, bất ngờ, địch bị chết một số, một số bị thương, đội hình địch rối loạn phải lùi lại củng cố. Một lúc sau, chúng lại liều mạng xông lên. Lúc này, khẩu trung liên bị hỏng, Đỗ Văn Trì và xạ thủ phụ sửa chữa mãi không được. Bọn địch đã tiến vào gần trận địa, đồng chí động viên các xạ thủ B.40 và trung liên bắn mạnh để cản địch lại. Thấy một khẩu trung liên không bắn được, Đỗ Văn Trì nhảy sang giúp đỡ. Đồng chí bình tĩnh lấy thước ngắm, bắn từng loạt ngắn, chính xác vào giữa đội hình địch. Bị thương vong nhiều, nhưng ỷ vào số đông và hỏa lực mạnh, địch vẫn tràn lên. Một quả cối nổ gần hất Đỗ Văn Trì ngã xuống. Tuy bị thương vào đầu, vào tay, xương tay lòi cả ra ngoài, đồng chí vẫn bình tĩnh giao trung liên lại cho đồng đội, nhờ đồng chí bên cạnh băng lại rồi dùng lựu đạn tiếp tục chiến đấu.


Khi bị thương lần thứ hai vào bụng, Đỗ Văn Trì vẫn bình tĩnh dùng cánh tay còn lại ấn vào vết thương cho ruột khỏi lòi ra và nhờ đồng đội băng lại. Không chiến đấu được và phải vào trong hầm, Đỗ Văn Trì vẫn động viên những anh em thương binh nhẹ tiếp tục ra chiến đấu.


Trưa hôm đó, địch đổ thêm 1 tiểu đoàn nữa, cố đánh chiếm đồi H3. Tình thế thật gay go, đạn đã gần hết, chính trị viên động viên anh em thương binh đi nhặt đạn trong các chiến hào, gom lại tiếp tế cho các xạ thủ. Đỗ Văn Trì đã bị thương nặng, nhưng vẫn động viên anh em thương binh khác cùng nhặt đạn tiếp tế cho đồng đội chiến đấu. Đồng chí dùng cánh tay còn lại và hai chân lắp được ba băng đạn, chuyển lên cho anh em chiến đấu, góp phần cùng đồng đội đánh lui đợt phản công ác liệt của địch, giữ vững trận địa.


Khi đơn vị chuyển thương binh ra ngoài, vì số người khiêng thiếu, Đỗ Văn Tri đã vui vẻ nhường cáng cho đồng đội, còn mình cố đi bộ chờ cáng trở lại đón sau. Vào bệnh viện, đồng chí kiên trì chịu đựng ca mổ kéo dài 12 giờ, khong hề kêu rên.


Qua trận chiến đấu ác liệt trên đồi H3Q6, đồng chí đã tỏ rõ tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, bị thương nặng cũng không rời vị trí, kiên quyết tiêu diệt địch, quyết tâm cùng đồng đội giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong lúc thường cũng như trong khi chiến đấu ác liệt, Đỗ Văn Trì luôn luôn quan tâm chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ đồng đội, được mọi người tin yêu, cảm phục.


Đỗ Văn Trì đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Đỗ Văn Trì được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2022, 07:21:50 pm »

ANH HÙNG ĐÈO VĂN KHỔ


Đèo Văn Khổ, sinh năm 1937, dân tộc Thái, quê ở xã Chiềng La, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đội trưởng tiểu đội 2, tiểu đoàn 51, Quân khu Tây Bắc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đèo Văn Khổ xuất thân trong gia đình bần nông, ở một xã có phong trào cách mạng cao, hồi kháng chiến chống Pháp là vùng cơ sở của cán bộ và bộ đội đi về hoạt động trong thời kỳ địch tạm chiếm. Quê hương đồng chí bị địch chà đi xát lại nhiều lần, nhưng chúng không sao dập tắt được lòng yêu nước của đồng bào. Truyền thống quật cường bất khuất đó của địa phương đã thúc giục Đèo Văn Khổ cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.


Tháng 4 năm 1962, Đèo Văn Khổ nhập ngũ. Sau những năm rèn luyện gian khổ và tiểu phỉ ở Tây Bắc, năm 1965 đồng chí được cử vào quân tình nguyện chiến đấu ở chiến trường Lào.


Trong 2 năm 1965, 1966 Đèo Văn Khổ đã tham gia 6 trận chiến đấu, trận nào cũng nêu cao tinh thần ngoan cường, dũng cảm, kiên quyết đánh địch đến cùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Trong trận phòng ngự Mường Ngàn, Đèo Văn Khổ đã cùng trung đội phó và 3 chiến sĩ nhận nhiệm vụ phòng ngự chốt giữ mỏm 1 Phu-cút, phối hợp với sáu đồng chí bạn Lào. Yêu cầu của trên là phải giữ vững mỏm 1 làm bàn đạp cho chủ lực vận động tới phản công chiếm lại mỏm 2 và mỏm 3 bị mất ngày 15 tháng 3 năm 1966. Quân địch sau khi đã chiếm được hai mỏm (mỏm 2 và 3) cũng dốc sức cố chiếm nốt toàn bộ Phu-cút, do đó cuộc tranh chấp mỏm 1 rất ác liệt. Địch tập trung pháo, ngày đêm bắn phá, ngoài ra còn huy động 8 máy bay oanh tạc, mỗi ngày bắn phá vào mỏm 1 từ 6 đến 8 lần, kết hợp với nhiều đợt tiến công dữ dội bằng lực lượng bộ binh. Mặt đồi nhiều chỗ bị san bằng, công sự và chiến hào nhiều đoạn bị phá hỏng, cỏ cây bị đốt trụi. Tính ra mỗi mét vuông có 60 quả bom, đạn đại bác, rốc-két bắn vào. Lực lượng phòng ngự của ta đã bị thương vong một số.


Ngày 18 tháng 3 năm 1966, địch lại tổ chức nhiều đợt tiến công lên, nhưng đều bị đánh bật. Trong các đợt chiến đấu giằng co ác liệt với địch, đồng chí luôn luôn là tấm gương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, cổ vũ mọi người. Mỗi lúc gay go, Đèo Văn Khổ thường tranh thủ đến gặp từng người động viên, giữ vững quyết tâm và bàn kế hoạch kiên quyết giữ vững trận địa. Sau mỗi đợt đánh lui quân địch, đồng chí lại cùng bộ đội bạn kịp thời rút kinh nghiệm, đề ra kế hoạch tác chiến mới, rồi cùng nhau sửa công sự, chuẩn bị cho đợt chiến đấu tiếp sau.


Ngày 19 tháng 3 năm 1966, địch lại tập trung phi pháo bắn phá dữ dội trận địa ta. Hầu hết anh em đều bị ù tai, chóng mặt, choáng váng vì bom đạn địch. Các hỏa lực quan trọng trên trận địa như súng cối, đại liên, ĐKZ đều bị phá hủy; lực lượng ta chỉ còn lại 2 người: Đèo Văn Khổ và 1 chiến sĩ nữa với 1 trọng liên, 1 tiểu liên, phối hợp với 4 người bên lực lượng bạn còn lại. Thấy hỏa lực ta yếu, bộ binh địch mở cuộc tiến công quyết liệt, liều chết xông lên và chúng đã chiếm được một đoạn chiến hào làm bàn đạp. Kiên quyết giữ vững bằng được trận địa, Đèo Văn Khổ mưu trí, anh dũng và linh hoạt, vừa đánh vừa hô nghi binh, cổ vũ tinh thần đồng đội, vừa bán hướng này, vừa cơ động nhanh như sóc sang hướng khác, áp đảo tinh thần địch. Khẩu súng trong tay đồng chí rung lên dữ dội, trút đạn vào quân địch. Hoảng sợ trước sức tiến công mãnh liệt của Đèo Văn Khổ và hoang mang, tưởng lực lượng ta chiếm giữ trận địa còn nhiều, địch vội bỏ chạy tán loạn, rút khỏi chiến hào, bỏ lại 7 xác chết cùng một số vũ khí. Vừa lúc đó, lực lượng chủ lực của ta đã kịp vận động đến, phản công chiếm lại toàn bộ Phu-cút ngày 20 tháng 3 năm 1966.


Ngoài tinh thần kiên quyết chiến đấu, dũng cảm, mưu trí, Đèo Văn Khổ còn gương mẫu, tận tụy trong công tác, có tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, khiêm tốn, đoàn kết với bạn, dìu dắt nhau cũng lập công trong chiến đấu. Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 bằng khen, 3 giấy khen.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Đèo Văn Khổ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2022, 07:22:25 pm »

ANH HÙNG HÀ VĂN KẸP


Hà Văn Kẹp (tức Kẹt), sinh năm 1942, dân tộc Thái, quê ở xã Kỳ Tản, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 2 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chuẩn úy trung đội phó trinh sát thuộc tiểu đoàn 923, Đoàn 959 (bộ đội tình nguyện giúp Lào), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước Cách mạng tháng Tám, gia đình Hà Văn Kẹp rất nghèo khổ, đông người nhưng ruộng đất không có, phải đi vào rừng phát rẫy để sinh sống. Lớn lên trong phong trào cách mạng, được giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đồng chí tham gia hoạt động dân quân bảo vệ xóm làng từ lúc 16 tuổi. Ba năm sau (tháng 2 năm 1961), Hà Văn Kẹp vào bộ đội làm chiến sĩ trinh sát của tiểu đoàn. Ngay từ thời kỳ huấn luyện, đồng chí đã tích cực, say mê rèn luyện. Trong chiến đấu luôn luôn thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, dù khó khăn, gian khổ vẫn kiên quyết khắc phục khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Bị thương nặng và lạc đơn vị, Hà Văn Kẹp vẫn không bi quan, kiên nhẫn chịu đau, tìm đường trở về đơn vị với mong muốn tiếp tục được đi chiến đấu.


Năm 1962, Hà Văn Kẹp được cử vào quân tình nguyện chiến đấu ở Lào. Tháng 6 năm 1962, đồng chí được phân công đi xây dựng cơ sở ở vùng Mường Liệt, thuộc tỉnh Sầm Nưa, tuy gặp nhiều khó khăn, vất vả, chưa quen phong tục, tập quán, nhân dân lúc đầu chưa hiểu, còn xa lánh bộ đội, đồng chí kiên trì gần gũi nhân dân vừa giúp đỡ, vừa tuyên truyền, vận động thuyết phục. Sau 3 tháng Hà Văn Kẹp đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, xây dựng được cơ sở ở 3 bản, tổ chức một trung đội du kích thường xuyên hoạt động.


Tháng 2 năm 1964, nhận nhiệm vụ đi trinh sát Pha Cúp, một vị trí nằm sâu trong vùng địch, đường vào phải qua nhiều trạm gác, địch thường xuyên tuần tiễu, canh phòng cẩn mật, đồng chí kiên trì và động viên anh em trong tổ đi suốt 24 giờ liền, xuyên qua rừng núi hiểm trở, nước không có uống, vượt qua những đồi cỏ gianh cứa chân tay rớm máu, đột nhập vị trí địch. Nắm tình hình địch xong, để anh em ở lại tiếp tục theo dõi, Hà Văn Kẹp trở về báo cáo và dẫn đơn vị tiến vào. Lúc chiến đấu, đồng chí đi với trung đội mũi nhọn, đánh thẳng vào sở chỉ huy của địch, góp phần cùng đơn vị diệt gọn vị trí này.


Tháng 2 năm 1965, Hà Văn Kẹp dẫn đầu một tổ đi suốt 4 ngày liền xuyên qua rừng núi vào điều tra vị trí Phù Lưu, đồng chí động viên tổ kiên trì nằm lại 3 ngày đêm liền không ngủ, theo dõi nắm chắc tình hình địch, sau đó lại tiếp tục đi tìm được con đường gần nhất đưa bộ đội vào diệt vị trí này.


Tháng 3 năm 1966, đơn vị nhận nhiệm vụ tập kích sân bay Noong Khạng. Vừa đi công tác về, người còn đang mệt, nhưng thấy đơn vị đi chiến đấu rồi, Hà Văn Kẹp đã gấp rút đuổi theo đơn vị ngay. Tới nơi, do tình hình thay đổi, đơn vị chưa xác định được hướng tập kích, đồng chí xung phong dẫn một tổ bò vào trinh sát điều tra thêm. Nắm chắc được tình hình địch, đơn vị xác định được hướng tập kích và quyết định nổ súng. Ngay phút đầu Hà Văn Kẹp chỉ huy tiểu đội diệt ngay hòa điểm ĐKZ của địch rồi xung phong vào diệt 13 tên địch nữa. Từ các lô cốt, địch bắn ra dữ dội, làm cho cả tiểu đội bị thương vong, đồng chí cũng bị hai vết thương. Trận đánh kết thúc, đồng chí nén chịu, tổ chức cho anh em rút ra ngoài trước, còn mình chờ đơn vị vào đón sau. Vì điều kiện khó khăn, đơn vị chưa vào kịp, đồng chí cố bò ra ngoài, nhưng sau đó bị lạc hướng. Suốt 7 ngày, vết thương đau nhức, vừa đói, vừa khát, Hà Văn Kẹp đã kiên trì chịu đựng, vừa bò vừa xóa dấu vết, khi ra cách sân bay địch 4 ki-lô-mét thì gặp anh em trong đơn vị đi tìm cáng về.


Hà Văn Kẹp không những gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu, mà còn luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, học tập, rèn luyện, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ đồng đội sống khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 bằng khen, là Chiến sĩ thi đua năm 1965.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Hà Văn Kẹp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2022, 09:28:30 am »

ANH HÙNG MÙA A PÁO


Mùa A Páo, sinh năm 1928, dân tộc H’mông, quê ở xã Sà Dè Phin, huyện Sình Hồ, tỉnh Lai Châu, nhập ngũ tháng 1 năm 1953. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, ở bộ phận cán bộ tình nguyện giúp nước bạn Lào vận động dân tộc Mẹo tỉnh Mường Sài, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Do chính sách phản động của thực dân xâm lược Pháp, Mùa A Páo cũng như đồng bào dân tộc H’mông bị đế quốc, phong kiến bóc lột tàn nhẫn. Mãi tới cuối năm 1952, sau chiến thắng Tây Bắc, đồng bào tỉnh Lai Châu mới được giải, phóng và được hưởng độc lập, tự do. Từ đó, đồng chí tích cực tham gia công tác ở địa phương. Sau khi nhập ngũ, Mùa A Páo tham gia hoạt động tiễu phi và xây dựng, củng cố vùng biên giới Tây Bắc.


Năm 1958, bọn phản động ở Sinh Hồ gây bạo loạn, đồng chí tích cực tham gia cùng lực lượng vũ trang địa phương dập tắt ngay.


Tháng 12 năm 1965, Mùa A Páo nhận nhiệm vụ ở bộ phận cán bộ tình nguyện sang Lào giúp làm công tác vận động quần chúng trong vùng dân tộc Mẹo thuộc tỉnh Mường Sài. Lúc này, gia đình đang gặp khó khăn, nhưng đồng chí đã xác định tốt trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, đặt nhiệm vụ cách mạng lên trên, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ quốc tế của Đảng, nhanh chóng thu xếp ổn định cho mẹ già và năm con nhỏ, rồi vui vẻ lên đường công tác.


Từ tháng 12 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966, Mùa A Páo không quản khó khăn vất vả, ăn đói, mặc rét, luồn rừng, ở bụi, vượt núi, trèo đèo, lại phải luôn luôn đấu tranh với bệnh tật và âm mưu nham hiểm của kẻ thù để tìm đến nhân dân, tiến hành công tác gây cơ sở.


Cùng với cán bộ bạn, Mùa A Páo tích cực kiên trì vào rừng tìm dân (dân lúc đầu chưa hiểu nên bỏ chạy, trốn tránh cán bộ cách mạng), tuyên truyền giải thích chủ trương, chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt, làm cho nhân dân dần dần phân biệt được ai là thù, ai là bạn, yên tâm trở về ban cũ làm ăn, tin tưởng vào cách mạng, kháng chiến thắng lợi và có cảm tình tốt với cách mạng Việt Nam.


Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1966, Mùa A Páo lăn lộn với phong trào kháng chiến của địa phương, góp phần tích cực cùng bạn xây dựng được cơ sở vững vàng ở 11 bản thuộc vùng Phu-cang-đét, tổ chức 10 lớp học chính trị, đào tạo cán bộ địa phương làm nòng cốt cho phong trào du kích, thanh niên ở cơ sở các vùng Hồng-xà, Xay-a-bu-ri.


Tháng 3 năm 1966, bọn phản động ở Phu-cô, Đông-ngòn định nổi loạn, phá rối trật tự trị an ở địa phương. Đồng chí dũng cảm, trực tiếp đến tận nơi thuyết phục, phân hóa bọn chúng, cô lập những tên đầu sỏ. Cuối cùng Mùa A Páo cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân dập tắt được âm mưu của bọn nổi loạn.


Ngoài nhiệm vụ trực tiếp cùng bạn làm công tác vận động dân tộc Mẹo ở Mường Sài, đồng chí còn thường xuyên đến thăm hỏi, giúp đỡ các bạn ở đại đội 15 là đơn vị bộ đội người Mẹo ở địa phương, góp phần bồi dưỡng cho cán bộ của đơn vị những kinh nghiệm công tác lãnh đạo, chỉ huy và công tác vận động quần chúng. Đại đội 15 đã vận động được 30 gia đình vùng Tông-sơ-xem-xa-văn, Pha-đán bị tuyên truyền lôi kéo đi theo phỉ, ở lại bản cũ làm ăn và trở thành cơ sở kháng chiến. Riêng đồng chí trong đợt công tác này thuyết phục được một nhóm 3 tên phỉ mang 2 súng trường và 1 súng ngắn ra đầu thú.


Suốt thời gian công tác bên nước bạn, Mùa A Páo luôn luôn được các đồng chí bạn tin cậy, yêu mến và tín nhiệm cử vào Ban lãnh đạo vận động dân tộc Mẹo tỉnh Mường Sài.


Mùa A Páo đối với địch thì kiên quyết, dũng cảm tiến công, không bao giờ lùi bước, nhưng đối với đồng đội, nhân dân lại rất mực khiêm tốn, giản dị, đoàn kết chí nghĩa, chí tình, trong công tác luôn luôn bền bỉ, gương mẫu, miệng nói, tay làm, nên có sức thuyết phục mạnh mẽ.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 bằng khen của quân khu và của nước bạn.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Mùa A Páo được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2022, 09:29:19 am »

ANH HÙNG PHẠM HỮU THOAN


Phạm Hữu Thoan, sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Nam Tán, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung sĩ, tiểu đội trưởng đại đội 10 thông tin, tiểu đoàn 78, Cục Thông tin liên lạc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sống trong một gia đình nghèo, đầu năm 1945, bố mẹ và cả hai em đều chết đói, lúc đó Phạm Hữu Thoan mới vừa 4 tuổi, phải về ở với bà dì. Lớn lên, đồng chí hăng hái tham gia hoạt động dân quân và phong trào thanh niên ở địa phương, sau đó xung phong vào bộ đội, góp phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.


Sau 6 tháng huấn luyện tân binh, đồng chí được chuyển về Đoàn 959 làm chiến sĩ quân bưu.


Suốt 5 năm công tác ở vùng rừng núi, phục vụ chiến trường biên giới miền Tây, Phạm Hữu Thoan luôn luôn đề cao tinh thần trách nhiệm sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao. Phải hoạt động độc lập trong điều kiện rất gay go, ác liệt, khó khăn, thiếu thốn, công tác luôn luôn khẩn trương, phức tạp, Phạm Hữu Thoan rất coi trọng đoàn kết nội bộ, đoản kết với lực lượng vũ trang và nhân dân nước bạn, vượt mọi khó khăn, cùng đồng đội giữ vững mối liên lạc với trên, chủ động hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.


Từ tháng 3 năm 1963, Phạm Hữu Thoan được giao nhiệm vụ phụ trách một tổ (gồm 2 người) phục vụ Mặt trận đường số 9. Đoạn đường các đồng chí phải đi liên lạc dài 240 ki-lô-mét, xuyên qua những cánh rừng trùng điệp, nhiều dốc cao, vực thẳm, có chỗ trời mưa muốn vượt qua phải bò, địch lại thường xuyên đánh phá, Phạm Hữu Thoan không quản khó khăn nguy hiểm luôn luôn đề cao tinh thần trách nhiệm đối với mỗi công văn, tài liệu, dù trong hoàn cảnh nào, cũng quyết bảo vệ chu đáo và chuyển đúng thời gian quy định.


Cuối tháng 8 năm 1963, trời mưa nhiều, nước lũ chảy xiết, công văn tài liệu bị đọng lại bên này suối. Không thể để ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến ở chiến trường, Phạm Hữu Thoan dũng cảm dùng áo mưa gói công văn bơi vượt qua suối lũ 8 chuyến liền. Có chuyến bị nước cuốn trôi, người va đập vào đá xây xát, nhưng nghĩ đến đồng bào, đồng đội ở chiến trường, đồng chí cố hết sức vượt qua và lại đi tiếp, chuyển được công văn tới nơi kịp thời. Tính chung trong thời gian này, Phạm Hữu Thoan đã đi bộ 16.000 ki-lô-mét, vượt qua bao gian khổ, bảo đảm chuyển công văn, tài liệu tới đích an toàn và kịp thời. Có tháng, đồng chí đi liên tục 24 ngày, chuyển được 350 ki-lô-gam tài liệu, vượt qua những chặng đường nguy hiểm nhất.


Một lần đi bắt liên lạc với đơn vị bạn nhưng đơn vị bạn đã di chuyển không báo rõ địa điểm, đồng chí kiên trì tìm 3 ngày đêm liền, và nối được liên lạc. Nhiều lần bị máy bay địch oanh tạc, Phạm Hữu Thoan đã dũng cảm cùng đồng đội khuân vác, cất giấu, bảo vệ được tài liệu an toàn.


Năm 1964, Phạm Hữu Thoan được chỉ định làm tiểu đội trưởng, tháng 1 năm 1966 đồng chí làm trung đội trưởng. Phạm Hữu Thoan luôn luôn gương mẫu, xác định "coi tài liệu như xương máu, đi công tác là đi chiến đấu..." cùng anh em trong tiểu đội, trung đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Có lần, tổ Phạm Hữu Thoan công tác độc lập, chỉ có 2 người và một con dao găm, thỉnh thoảng mới mượn được con dao quắm của đơn vị bạn, nhưng 2 đồng chí đã quyết tâm và kiên trì chặt cây làm được cái lán 3 gian, phá rẫy trồng được 4.000 gốc sắn và cấy được 2 sào lúa, tự túc được 6 tháng lương thực.


Phạm Hữu Thoan còn luôn luôn đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, luôn luôn chú ý xây dựng đơn vị tiến bộ toàn diện, đoàn kết tốt với đồng đội, quan hệ tốt với đơn vị bạn và nhân dân, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, khiêm tốn, giản dị, được đồng đội và nhân dân yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 4 bằng khen và giấy khen, là Chiến sĩ thi đua năm 1965.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Hữu Thoan được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2022, 09:29:57 am »

ANH HÙNG PHẠM GIA TRIỆU


Phạm Gia Triệu, sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ ngày 14 tháng 11 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng tá bác sĩ quân y, viện phó Viện quân y 108, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Cha mẹ mất sớm, Phạm Gia Triệu được chú nuôi cho học hết trung học và sau đó, do có tinh thần tự lập và ham hiểu biết, đồng chí đi dạy học để lấy tiền học tiếp.


Trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Gia Triệu liên tục công tác ở cơ sở, có thành tích xây dựng quân y khu Đông Triều, trung đoàn 96 và Viện quân y 96. Trong các chiến dịch Biên Giới, Đường số 18, Điện Biên Phu, đồng chí nêu cao tinh thần dũng cảm, ở bộ phận quân y tiền phương, tận tụy cứu chữa, săn sóc thương binh. Có lần địch đánh vào bệnh viện, Phạm Gia Triệu cùng đồng đội vượt qua bom đạn, bảo vệ an toàn cho thương binh.


Sau khi hòa bình lập lại, Phạm Gia Triệu công tác tại các Viện quân y 108, 103, đồng chí có nhiều thành tích tham gia xây dựng chuyên khoa phẫu thuật thần kinh và chỉ đạo liên khoa ngoại Viện quân y 108 nghiên cứu có kết quả các công trình khoa học về u gai, não thất IV, u huyết quan não, chấn thương sọ não nặng. Phạm Gia Triệu có sáng kiến làm hộp dây phụ kéo tay để chụp mạch máu não một lần ba cái, thay cho máy chụp hàng loạt, nghiên cứu phương pháp mới, mổ vết thương sọ não cũ, cải tiến phương pháp mổ sọ não mở, phương pháp vá sọ não bằng kính hữu cơ, phương pháp lấy ổ máu tụ ngoài màng cứng vả phương pháp chữa viêm mu não...


Trong công tác điều trị từ năm 1961 tới năm 1966, Phạm Gia Triệu bảo đảm cứu chữa tốt các loại vết thương về sọ não, cứu sống được nhiều trường hợp nguy kịch, tỷ lệ tử vong ít.


Trong 116 vết thương sọ não nặng do hỏa khí gây nên, Phạm Gia Triệu cứu được 103 trường hợp, tỷ lệ cứu sống là 88%; 246 trường hợp chấn thương sọ, cứu được 226, tỷ lệ cứu sống 92%; 26 vết thương bỏng buốt nặng, phải điều trị bằng phẫu thuật, cứu được 24, tỷ lệ cứu sống 92,39%; 14 trường hợp mổ u não, cứu được 13, tỷ lệ cứu sống 92,8%.


Trong công tác xây dựng chuyên khoa, Phạm Gia Triệu đào tạo được 8 bác sĩ, và biên soạn một số tài liệu có giá trị như: chấn thương thần kinh, u não, vết thương do bom bi, các phương pháp chẩn đoán phù trợ về phẫu thuật thần kinh, cấp cứu ngoại khoa chấn thương.


Đối với việc chỉ đạo liên khoa ngoại Viện quân y 108, từ năm 1961 đến năm 1967, Phạm Gia Triệu có sự phối hợp chặt chẽ, xây dựng cán bộ giỏi một mặt, biết nhiều mặt, đa số các khoa ngoại đạt trình độ hiện đại trong chẩn đoán, điều trị, cũng như nghiên cứu khoa học. Các kỹ thuật mổ xẻ trong viện được nâng cao, việc xử trí cấp cứu hàng loạt làm nhanh, kịp thời, vì vậy tai nạn điều trị xảy ra rất ít.


Phạm Gia Triệu là một bác sĩ ngoại khoa giỏi, một cán bộ tổ chức chỉ huy có nhiều kinh nghiệm. Suốt thời gian phục vụ quân đội, đồng chí luôn luôn tận tụy, hết lòng vì thương binh, bệnh binh, bất cứ nhiệm vụ đến lúc nào, đồng chí cũng sẵn sàng có mặt phục vụ đến cùng, không nề hà mệt nhọc, gian khó, hiểm nguy, Phạm Gia Triệu còn là một cán bộ khoa học say mê nghiên cứu, đề ra nhiều sáng kiến có giá trị; luận án phó tiến sĩ của đồng chí trình bày các công trình khoa học về u gai, não thất IV được đánh giá cao, nhiều sáng kiến được áp dụng đạt kết quả thực tiễn tốt.


Đồng chí đã được Bác Hồ tặng bằng khen, được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Huân chương Chiến thắng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua năm 1961 - 1962.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Phạm Gia Triệu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2022, 09:36:46 am »

ANH HÙNG ĐỖ TRỌNG NGÂN


Đỗ Trọng Ngân sinh năm 1925, dân tộc Kinh, quê ở xã Quần Lạc, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 5 năm 1951. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thiếu úy, chính trị viên đại đội, thuộc tiểu đoàn 14 (cao xạ), sư đoàn 325, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước Cách mạng tháng Tám, gia đình rất nghèo; lên 9 tuổi Đỗ Trọng Ngân đã phải đi ở kiếm sống, lớn lên được cách mạng giáo dục, đồng chí căm thù bọn đế quốc và phong kiến. Năm 1951 Đỗ Trọng Ngân xung phong vào bộ đội chiến đấu giải phóng quê hương, đất nước.


Sau 1 năm công tác ở phòng quân dược Khu Việt Bắc, năm 1952, Đỗ Trọng Ngân được chuyển ra đơn vị pháo, làm nhiệm vụ cấp dưỡng. Suốt 12 năm ở công tác này, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần bền bỉ, tận tụy, gương mẫu, không ngại gian khổ, khó khăn, thức khuya, dậy sớm, tìm mọi cách bảo đảm nuôi dưỡng bộ đội chu đáo.


Thời kỳ đóng quân ở Quảng Bình, đi chợ xa 7-8 ki-lô-mét, có khi đợi đến 12 giờ đêm mới có thực phẩm, nhưng khi về đến đơn vị, Đỗ Trọng Ngân lại làm thức ăn để bảo đảm độ tươi ngon cho anh em đến 2, 3 giờ sáng mới được nghỉ.


Đồng chí còn gương mẫu và động viên tổ nuôi quân tận dụng thức ăn thừa để nuôi gà, lợn, tăng năng suất công tác, bớt người để chăn nuôi bò, do đó anh em trong đơn vị thường được cải thiện nhiều trong các bữa ăn. Khi đơn vị giết bò, lợn, Đỗ Trọng Ngân nộp thuế sát sinh đấy đủ, ngoài ra còn chú ý góp nhặt xương, da bán cho mậu dịch được 1.500 đồng góp vào công quỹ.


Tháng 11 năm 1964, đơn vị đi chiến đấu ở miền Tây Quảng Bình. Điều kiện nơi đóng quân và chiến đấu có nhiều khó khăn, Đỗ Trọng Ngân đã tích cực tim cách khắc phục, bảo đảm cho đơn vị ăn uống tốt, chiến đấu thắng lợi. Thiếu rau xanh, đồng chí vào rừng tìm kiếm thêm. Đối với những đồng chí thương binh, Đỗ Trọng Ngân đã không ngại khó khăn, nhiều lần thức suốt đêm cùng y tá, y sĩ phục vụ đồng đội chu đáo. Đồng chí còn thưởng xuyên xung phong gác thay ban đêm cho các đồng chí bị mệt.


Trong công tác cấp dưỡng, Đỗ Trọng Ngân hoàn thành một cách xuất sắc, ngoài ra đồng chí còn tranh thu học tập kỹ thuật và trở thành một pháo thủ toàn năng. Trong những trận chiến đấu ác liệt, đồng chí thường có mặt ở trận địa, bình tĩnh động viên, cổ vũ các pháo thủ và sẵn sàng làm nhiệm vụ tiếp tế đạn dược, thay thế các pháo thủ khi cần thiết.


Tháng 4 năm 1965, Đỗ Trọng Ngân được đề bạt làm chính trị viên đại đội. Là một cán bộ, đồng chí luôn luôn đi sâu, đi sát mọi người trong đơn vị nắm vững tư tưởng, nguyện vọng, tâm tư của anh em để có biện pháp giải quyết đúng đắn, kịp thời, tận tình chăm sóc chiến sĩ, nhất là đối với các đồng chí yếu đau hay gặp khó khăn.


Trong 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1965, Đỗ Trọng Ngân tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 17 trận, luôn luôn nêu cao tinh thần gan dạ, dũng cảm, chỉ huy bình tĩnh. Trong nhiều trận chiến đấu ác liệt, đồng chí luôn luôn giữ vững vị trí chỉ huy và nhiều lần bất chấp hiểm nguy, vượt qua bom đạn tới vị trí từng khẩu đội, động viên, cổ vũ anh em và giải quyết kịp thời những yêu cầu của tình hình chiến đấu.


Từ khi nhập ngũ đến khi được tuyên dương anh hùng, qua 15 năm phục vụ trong quân đội, 12 năm làm cấp dưỡng, Đỗ Trọng Ngân không những hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mà còn luôn luôn nêu cao phẩm chất của người quân nhân cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn, giản dị, đoàn kết thương yêu đồng đội, quan hệ tốt với nhân dân, nên được mọi người tin yêu, quý mến.


Đỗ Trọng Ngân đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 10 bằng khen và 12 năm liền được bầu là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967 Đỗ Trọng Ngân được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2022, 09:39:29 am »

ANH HÙNG NGÔ THỊ TUYỂN


Ngô Thị Tuyển, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xóm Kháng, tiểu khu Nam Ngạn - Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là dân quân tiểu khu Nam Ngạn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Là một thanh niên, một dân quân, Ngô Thị Tuyển nhận rõ nghĩa vụ của mình đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, luôn luôn tự nguyện, tự giác, tích cực, chủ động trong mọi nhiệm vụ được giao. Trong khi phục vụ chiến đấu, đồng chí nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, bình tĩnh gan dạ, không lùi bước trước những khó khăn, nguy hiểm, sẵn sàng xung phong nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ góp phần vào chiến thắng to lớn của quân và dân Hàm Rồng trong những ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, bắn rơi nhiều máy bay giặc Mỹ.


Ngày 3 tháng 4 năm 1965, địch cho nhiều tốp máy bay đến bắn phá ác liệt khu vực Nam Ngạn - Hàm Rồng. Vừa làm xong nhiệm vụ truy lùng bọn giặc lái Mỹ nhảy dù, Ngô Thị Tuyển gặp một chiếc tàu hải quân ta đậu ở giữa sông đang yêu cầu dân quân giúp chuyển vỏ đạn lên bờ và tiếp tế đạn xuống tàu, chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Ngô Thị Tuyển xung phong lội xuống sông, bơi ra tàu làm nhiệm vụ, mặc dù máy bay địch đang quần lượn trên đầu.


Chuyển đạn xong, Ngô Thị Tuyển lại cùng tổ dân quân gánh cơm nước ra tàu phục vụ anh em bộ đội và xin ở lại trên tàu để lau đạn cho đến hết buổi chiều. Tối hôm đó, Ngô Thị Tuyển lại tiếp tục cùng tổ dân quân đi đào trận địa, lấp hố bom, nấu cơm giúp bộ đội tới ba giờ sáng.


9 giờ ngày 4 tháng 4 năm 1965, máy bay Mỹ lại đến bắn phá ác liệt khu vực Nam Ngạn - Hàm Rồng. Không ngại hiểm nguy, Ngô Thị Tuyển xung phong gánh cơm ra trận địa cho bộ đội. Làm việc nhiều đã mệt, đồng chí được khu đội cho nghỉ, nhưng khi có đoàn xe tiếp đạn vừa tới, đồng chí lại xung phong đi vác đạn. Đang chuyển đạn gấp cho bộ đội chiến đấu thì gặp phải 2 hòm đạn đai sắt móc chặt vào nhau, anh em dùng thuổng bật ra để vác nhưng chưa được. Sợ chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến chiến đấu, Ngô Thị Tuyển ghé vai vác luôn cả 2 hòm đạn nặng 98 ki-lô-gam vượt qua đê, chuyển ra bờ sông tiếp viện kịp thời cho anh em bộ đội chiến đấu.


Chiều hôm đó, địch vẫn tiếp tục đánh phá ác liệt, khu vực cầu Hàm Rồng. Ngô Thị Tuyển dũng cảm chạy dưới bom đạn của địch như con thoi: lúc đi điều thuyền chở đạn, lúc đi đưa cơm cho bộ đội, lúc đào công sự, ngụy trang trận địa...


Ngày 26 tháng 5 năm 1965, máy bay địch lại oanh tạc khu vực Nam Ngạn. Một chiếc tàu hải quân đang chạy trên sông liền nổ súng chiến đấu. Vẳng nghe thấy tiếng gọi trên tàu yêu cầu cử người băng bó cho thương binh, Ngô Thị Tuyển chạy dọc theo bờ sông, vượt lên trước tàu rồi nhảy xuống sông bơi ra đón tàu, nhưng gần tới nơi thì tàu lại vượt qua. Bị đuối sức, phải lợi dụng sóng đẩy vào bờ nghỉ một lát cho hồi sức, đồng chí lại vùng dậy chạy đuổi vượt tàu và bơi ra. Khi lên được tàu, Ngô Thị Tuyển quên hết mệt, nhanh chóng giúp bộ đội băng bó cho thương binh và cùng các đồng chí dân quân vừa kịp chèo thuyền tới chuyển anh em vào bờ. Sau đó Ngô Thị Tuyển lại xin được ở lại, dũng cảm làm nhiệm vụ lắp đạn, phục vụ bộ đội chiến đấu trên tàu cho đến lúc trận chiến đấu kết thúc.


Trong nhiệm vụ sản xuất, hợp tác xã có 7 mẫu rau muống ở sát trận địa là nơi trọng điểm địch hay đánh phá, bà con có phần ngại đi sản xuất Ngô Thị Tuyển vận động chị em dân quân và học sinh xung phong đi làm trước để lôi cuốn bà con xã viên đi làm, nên không những đã bảo đảm chăm bón và thu hoạch rau cho hợp tác xã mà còn phục vụ được tốt các đơn vị bộ đội đóng ở địa phương.


Ngô Thị Tuyển đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng ba, được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người và 6 lần được tặng bằng khen, giấy khen.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Ngô Thị Tuyển được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 4410



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2022, 09:40:21 am »

ANH HÙNG TRẦN THỊ LÝ


Trần Thị Lý, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, vào dân quân năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là dân quân thị xã Đồng Hới, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Thực hiện nghĩa vụ của người thanh niên đối với Tổ quốc, trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, Trần Thị Lý luôn luôn có tinh thần dũng cảm, bình tĩnh, không sự khó khăn, nguy hiểm, xung phong hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.


Trong trận ngày 7 tháng 2 năm 1965, mặc dù máy bay địch đang bắn phá dữ dội thị xã Đồng Hới, Trần Thị Lý chạy đi, chạy lại trên đường phố chuyển đạt mệnh lệnh, giữ vững liên lạc giữa ban chỉ huy xã đội với các trung đội. Khi một đơn vị bố trí bên kia sông Nhật Lệ hết đạn, được lệnh, đồng chí xung phong vác một hòm đạn và chở đò vượt qua sông tiếp tế đạn kịp thời.


Cùng đơn vị dân quân dùng súng trường bắn máy bay phản lực Mỹ, Trần Thị Lý dũng cảm, bình tĩnh, chờ máy bay địch lao xuống thấp mới bắn đối đầu. Trong trận ngày 4 tháng 4 năm 1965, đồng chí vừa nổ súng xong thì bom địch cũng rơi nổ gần công sự, đất cát lấp hơn nửa người, sau khi được đồng đội kéo lên, Trần Thị Lý vẫn hiên ngang giương súng bắn máy bay địch. Sau trận chiến đấu, phát hiện thấy một hầm của nhân dân bị sập, dù rất mệt, đồng chí vẫn xung phong cùng một số dân quân lao vào đào bới, kịp thời cứu được năm người khỏi chết ngạt.


Vừa chiến đấu, vừa công tác, sản xuất, Trần Thị Lý góp nhiều thành tích xây dựng công trường muối và xây dựng cơ sở làm chiếu ở nơi bị địch thường xuyên đánh phá ác liệt, xây dựng làng mới ở những địa điểm sơ tán. Trong công tác vận động quần chúng, đồng chí đi sát nhân dân, tuyên truyền, giáo dục, động viên mọi người không sợ nguy hiểm, cảng thẳng, gian khổ, vất vả trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và sơ tán sản xuất. Trần Thị Lý gương mẫu tích cực trong phong trào thi đua sản xuất và động viên mọi người cùng tích cực lao động, đưa năng suất sản xuất muối năm 1965 là năm giặc Mỹ đánh phá rất ác liệt ở địa phương, vượt mức kế hoạch tới 100 tấn.


Trần Thị Lý trong phục vụ chiến đấu, chiến đấu và sản xuất đều gương mẫu, khắc phục khó khăn nguy hiểm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, được nhân dân yêu mến tin cậy.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 5 giấy khen, 2 bằng khen của Tỉnh ủy Quảng Bình và Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam.


Ngày 1 tháng 1 năm 1967 Trần Thị Lý được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM