Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Hai, 2022, 09:02:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn - T1  (Đọc 2133 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2022, 06:29:45 am »

Năm 1972 là năm có những diễn biến chính trị quan trọng tại Hoa Kỳ, nhất là cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38 vào tháng 11, là thời cơ thuận lợi có thể làm tiêu tan ý chí xâm lược và buộc Hoa Kỳ phải đi vào đàm phán thực chất. Tháng 10-1971, Trung ương Cục miền Nam Việt Nam để ra nhiệm vụ cho Quân Giải phóng "tranh thủ thời gian, phấn đấu hoàn thành công tác chuẩn bị, xây dựng thế tiến công chiến lược mới bằng ba quả đấm mạnh trên cả ba vùng chiến lược; tiếp đó, mở cuộc tiến công và nổi dậy rộng lớn nhằm đánh suy sụp nặng ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại cơ bản kế hoạch bình định của địch".


Tại Hội nghị Paris, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam được chỉ thị chuẩn bị cho bước quyết định vào năm 1972. Vì vậy, trong những tháng đầu năm 1972 cả hai phái đoàn đểu kiên định trong việc đòi hỏi triệt thoái quân đội Hoa Kỳ và thay thế chính quyền Sài Gòn, nhưng tỏ ra mềm dẻo và có những nhượng bộ nhất định.

Ngày 3-2-1972, ông Nguyễn Văn Tiến phát biểu tại phiên họp thứ 143, đã thể hiện sự nhượng bộ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với hai vấn đề cơ bản như sau:

"1. Vấn đề rút quân Mỹ, chấm dứt chiến bằng không quân và mọi hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam

Chánh phủ Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng không quân và mọi hoạt động quân sự ở Việt Nam, rút nhanh và rút hết toàn bộ quân đội, cố vấn, nhân viên quân sự, võ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Chánh phủ Mỹ phải đưa ra một thời hạn dứt khoát cho việc rút hết toàn bộ quân đội, cố vấn, nhân viên quân sự; võ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không kèm theo điều kiện gì. Thời hạn dứt khoát đó cũng là thời hạn thả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh (bao gồm cả những người lái máy bay Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam).

2. Vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam

Chánh phủ Mỹ phải thật sự tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Nguyễn Văn Thiệu và bộ máy áp bức, kềm kẹp của Thiệu, công cụ của chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, là trở ngại chính cho việc giải quyết vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam. Do đó, Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay, chánh quyền Sài Gòn phải chấm dứt chánh sách hiếu chiến, phải thủ tiêu ngay bộ máy áp bức, kềm kẹp nhân dân, phải chấtn dứt chánh sách bình định, giải tán các trại tập trung, trả lại tự do cho những người bị bắt vì lý do chính trị, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam quy định"1 (Tài liệu về Hội đàm Ba Lê về Việt Nam số 143, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, Hồ sơ 1469, QKVH, TTLTII).


Qua phát biểu của ông Nguyễn Văn Tiến, quan điểm giải quyết hai vấn đề căn bản của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có sự nhượng bộ rõ rệt liên quan đến vấn đề tù binh và chính quyền Thiệu. Cụ thể, hai điểm khác so với lập trường 7 điểm nêu ra ngày 1-7-1971: 1. Nếu Hoa Kỳ xác định được thời hạn rút quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh khỏi miền Nam Việt Nam thì thời điểm rút hết quân sẽ là thời điểm bắt đầu trao trả tù binh của các bên (nghĩa là không cần chờ đến khi Hiệp định được ký kết); 2. Không yêu cầu thay đổi chính thể hiện hữu ở miền Nam Việt Nam mà chỉ yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay. Đồng thời, chính thể này phải thay đổi chính sách: chấm dứt bình định, giải tán các trại tập trung, chấm dứt khủng bố dân chúng, thả các tù chính trị, bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ của dân chúng như Hiệp định Genève đã quy định năm 1954.


Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định và ủng hộ lập trường của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, phái đoàn tập trung tiến công vào chính sách theo đuổi chiến tranh và chiến thuật đàm phán cùa Hoa Kỳ. Ngày 16-3-1972, tại phiên họp thứ 146, đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Minh Vỹ lên án chính quyền Nixon:

"1. Rõ ràng chính quyền Nixon ngày càng điên cuồng đẩy mạnh những cuộc tiến công bằng không quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tiếp theo những đợt đánh phá lớn cuối năm 1971, từ đầu năm 1972 đến nay, không quân Mỹ, kể cả máy bay B-52, không ngừng tiến công, tăng cường những đợt đánh phá lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay các nguồn tin Mỹ (mặc dù còn xa sự thật) cũng nhận rằng mức độ đánh phá miền Bắc Việt Nam trong năm 1971 đã tăng gấp 5 lần so với năm 1970, thế mà chỉ từ đầu năm 1972 đến nay, số lần đánh phá miền Bắc Việt Nam đã vượt xa thời gian 10 tháng tính từ đầu năm 1971.

Thông báo đặc biệt ngày 11-3-1972 của Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nêu rõ: từ 1 đến 10-3-1972, theo số liệu đầu tiên, hơn 300 lần máy bay phản lực chiến thuật Mỹ đã ném hơn 500 bom phá và hơn 100 bom mẹ, tung ra hàng nghìn bom bi, bom mảnh nhỏ và bom xuyên, rất nhiêu loạt tên lửa, rốc két và đạn 20mm, xuống 48 điểm dân cư nằm trong 37 xã thuộc 9 huyện ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnhy Nghệ An, làm 50 người chết và hơn 110 người bị thương, thiêu hủy 70 nhà, phá hoại nhiều đồng ruộng, giết hại nhiều gia súc. Đặc biệt nghiêm trọng là máy bay Mỹ đã cố tình đánh phá mục tiêu dân cư như nông trường, hợp tác xã, trường học, cửa hàng, trạm y tề và nhà thờ Thiên Chúa giáo....

Lên án việc Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam trong những ngày đầu tháng 3 vừa rồi, tuyên bố ngày 6-3-1972 của Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu rõ: "Đây là những hành động chiến tranh cực kỳ nghiêm trọng, xâm phạm thô bạo chủ quyền và an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vi phạm trắng trợn lời cam kết của Chính phủ Mỹ về chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là sự thách thức láo xược đối với dư luận tiến bộ ở Mỹ... Những hành động chiến tranh nghiêm trọng của Mỹ chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phơi bày bản chất xâm lược ngoan cố và hiếu chiến của chính quyền Nixon và bóc trần những luận điệu hòa bình bịp bợm của họ... Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do những hành động tội ác của họ gây ra"...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2022, 06:31:25 am »

Trước sau, Mỹ vẫn ngang ngược chủ trương thương lượng trên thế mạnh. Một khi đối phương kiên quyết không chấp nhận lập trường thực dân xâm lược của Mỹ thì Mỹ tìm mọi cách để phá hoại hội nghị, đồng thời tăng cường và mở rộng chiến tranh. Điều đó rõ như ban ngày, qua thái độ của đại biểu Mỹ tại bàn Hội nghị Paris về Việt Nam:

- Tháng 9-1971, trước sự phản đối kiên quyết của đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với những cuộc ném bom của Mỹ, đại biểu Mỹ trắng trợn để lộ ra rằng, vì đối phương không chấp nhận những điều kiện phi lý về ngừng bắn của Mỹ nên Mỹ đã ném bom.

- Tháng 10 và 11-1971, đại biểu Mỹ đến Hội nghị không làm gì khác ngoài việc leo thang trong việc dùng lời lẽ khiêu khích, gọi những đề nghị đúng đắn, hợp tình hợp lý của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được dư luận thế giới kể cả dư luận Mỹ đồng tình và ủng hộ là con số không.

- Tháng 12-1971, Mỹ đã vịn vào những lý do vu vơ để bỏ họp ba tuần liên tiếp, đúng vào lúc không quân Mỹ mở những đợt đánh phá lớn trong nhiều ngày vào nhiều vùng đông dân ở miền Bắc Việt Nam

- Tháng 2-1972, sau khi chính quyền Nixon làm trái với lời cam kết của họ, đơn phương công bố các cuộc gặp riêng giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đưa ra kế hoạch 8 điểm.

- Ngày 23-2-1972, đại biểu Mỹ tỏ ý tiếp tục phá hoại Hội nghị Pari. Tiếp đó, họ lại vịn vào những lý do cực kỳ vô lý để bỏ hai phiên họp ngày 2 và 9-3-1972, trong khi máy bay liên tục đánh phá miền Bắc Việt Nam"1 (Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê, số 146 ngày 12-4-1972, Hồ sơ 1469, QKVH, TTLTII).


Tuy nhiên, trong sự lạc quan vào kết quả của chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh", ngày 23-3-1972, phiên họp thứ 147, phái đoàn Hoa Kỳ ngoan cố phá hoại Hội nghị Paris về Việt Nam bằng hành động đơn phương tuyên bố ngừng đàm phán vô thời hạn.


Đầu tháng 3-1972, sau thời gian chuẩn bị, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục miền Nam quyết định phát động chiến dịch tổng tiến công Xuân - Hè 1972. Ngày 8-3-1972, Quân ủy Trung ương Quân đội nhân dân Việt Nam gửi điện cho Trung ương cục miền Nam nêu rõ: "Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh... trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Nhiệm vụ cần kíp là đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị, binh vận và ngoại giao... tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện trên chiến trường miền Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh... bằng một giải pháp chính trị... mà Mỹ có thể chấp nhận được"2 (Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002). Ngày 10-3-1972, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn gửi thư cho Trung ương cục miền Nam và Khu ủy các khu xác định: "Mục tiêu của ta trong giai đoạn thứ nhất này là nhằm tạo ra tình hình có hai chính quyền song song tồn tại"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.33, tr.189).


Ngày 30-3-1972, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở màn cuộc tấn công chiến lược Xuân - Hè bằng các cuộc tấn công lớn từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.

Ngày 6-4-1972, Nixon ra lệnh ném bom miền Bắc Việt Nam, nhưng không thể làm giảm khí thế tiến công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Vì vậy, ngày 26-4-1972, tại Washington, trên hệ thống truyền hình, Nixon tuyên bố trở lại bàn đàm phán ở Paris:

"Căn cứ vào nhận xét thực tế của Đại tướng Abrams và sau khi tham khảo ý kiến với Tổng thống Thiệu, Đại sứ Bunker, Đại sứ Porter và những cố vấn cao cấp tại Hoa Thịnh Đốn, tôi có ba quyết định để loan báo tối nay.

1. Trước hết, tôi đã quyết định rằng chánh sách Việt hóa đã chứng tỏ đầy đủ là thành công và chúng ta có thể tiếp tục chương trình triệt thoái lực lượng Hoa Kỳ mà không làm hại cho mục tiêu tổng quát của chúng ta là đảm bảo sự tồn tại của Nam Việt Nam như là một quốc gia độc lập.

Vì vậy, tối nay tôi loan báo rằng trong 2 tháng tới 20 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ sẽ được hồi hương đưa từ Việt Nam về. Quyết định này đã được sự chấp thuận hoàn toàn của Tổng thống Thiệu và Đại tướng Abrams. Quyết định này sẽ đưa mức quân số cao nhất còn có 49.000 người vào ngày 1-7 một sự giảm quân số được nửa triệu người kể từ khi chánh phủ này nhậm chức.

2. Tôi đã cho chỉ thị Đại sứ Porter trở lại bàn Hội đàm Ba Lê ngày mai với mục tiêu duy nhất đặc biệt.

Chúng ta không trở lại Hội đàm Ba Lê... để tiến hành công việc xây dựng mưu tìm hòa bình. Chúng ta trở lại Hội đàm Ba Lê với một niềm hy vọng rằng những cuộc hội đàm xây dựng và có kết quả sẽ đưa đến một sự tiến bộ mau chóng qua mọi hệ thống có thể có được...

3. Sau hết, tôi đã ra lệnh cho lực lượng không quân và hải quân tấn công vào những căn cứ quân sự ở Bắc Việt Nam, tiếp tục tấn công cho tới khi nào người Bắc Việt Nam chấm dứt cuộc tấn công của họ vào miền Nam Việt Nam"1 (Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê, số 146 ngày 12-4-1972, Hồ sơ 1469, QKVH, TTLTII).


Cùng ngày, tại Sài Gòn, Phạm Đăng Sum - phát ngôn viên Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn phân phát cho báo chí bản tuyên bố nguyên văn như sau:

"Bộ Ngoại giao VNCH, đồng ý với Chính phủ Hoa Kỳ, đã chấp nhận đề nghị của phe cộng sản tái nhóm các cuộc Hòa đàm tại Ba Lê vào ngày 27-4-1972. Chính phủ VNCH ghi nhận phe bên kia đã nhiều lần kêu gọi mở lại các cuộc thương thuyết tại Ba Lê, nên đã chấp nhận tái nhóm vì nghĩ rằng phe bên kia sẵn sàng thảo luận nghiêm chỉnh và đúng đắn hầu có thể tiến đến một giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp hiện tại"2 (Việt Nam Thông tấn xã - số 7707 thứ 4 ngày 26-4-1972, Hồ sơ 1182, ĐIICH, TTLTII).


Ngày 27-4-1972, Hội nghị Paris về Việt Nam được mở lại với phiên họp thứ 148, nhưng cũng không có nội dung gì mới. Các bên tiếp tục tranh luận bằng các lập luận mang tính đấu tranh chính trị nhiều hơn là đàm phán các vấn đề căn bản để đi đến chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 4-5-1972, phiên họp thứ 149 vẫn không có sự tiến triển. Ngược lại, Hội nghị Paris một lần nữa bị ngưng vô thời hạn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2022, 06:34:58 pm »

Ngày 8-5-1972, tại Washington, Nixon công bố giải pháp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nội dung gồm các điểm:

"- Khi tất cả tù binh Hoa Kỳ được phóng thích;

- Khi một cuộc ngưng bắn trên toàn cõi Đông Dương có quốc tế giám sát bắt đầu có hiệu lực.

Lúc đó:

- Hoa Kỳ sẽ ngưng tất cả hành động chiến sự trên toàn cõi Đông Dương (gồm cả ngưng oanh tạc và gài mìn Bắc Việt)

- Hoa Kỳ sẽ bắt đầu xúc tiến việc triệt thoái hoàn toàn quân lực của mình ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng bốn tháng"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).

Ngày 9-5-1972, Nixon gửi thư cho Nguyễn Văn Thiệu để thông báo về tuyên bố phong tỏa các hải cảng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào 9 giờ tối cùng ngày (giờ Washington). Nội dung bức thư có đoạn:

"Tôi sẽ tuyên bố rằng tôi đã chỉ thị gài mìn tất cả các ngả vào hải cảng Bắc Việt và tôi đã ra lịnh cho lực lượng Hoa Kỳ ngăn chặn mọi sự tiếp tế cho Bắc Việt bàng đường thủy trong hải phận mà họ nói là của họ. Mọi sự tiếp tế bằng đường bộ và bằng cách khác cũng sẽ được ngăn chặn.

Tất cả tàu ngoại quốc tại hải cảng Bắc Việt sẽ được rời bến một cách an toàn trong vòng ba ngày trong những giờ còn ánh sảng mặt trời. Những chiếc neo bến lâu hơn hoặc lại gắn các hải cảng sẽ phải gánh chịu hậu quả.

Những hành động kể trên sẽ tiếp tục cho đến khi nào đạt được những điều kiện sau đây:

- Thực thi một cuộc ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Đông Dương, có quốc tế giám sát, và

- Phóng thích tất cả tù binh.

Trong diễn văn của tôi, tôi sẽ nói rằng khi nào những điều kiện nói trên được thỏa mãn, chúng ta sẽ chấm dứt những hành động vỏ lực trên toàn lãnh thổ Đông Dương và lực lượng Hoa Kỳ sẽ được triệt thoái khỏi Nam Việt Nam trong vòng bốn tháng"1 (Bản dịch thư của Tổng thống Nixon ngày 9-5-1972, Hồ sơ 1289, ĐIICH, TTLTII).


Qua tuyên bố của Nixon có thể thấy rõ chính sách đàm phán trên thế mạnh của Hoa Kỳ. Nixon đòi hỏi chỉ khi đối phương thực hiện các yêu sách của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ mới chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược. Một yêu sách mà ngay từ những ngày đầu khai diễn Hội nghị Paris về Việt Nam, các lãnh đạo cách mạng Việt Nam không chấp nhận. Ngược lại, họ đòi hỏi điều kiện tiên quyết là Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam vô điều kiện. Vì vậy, tuyên bố của Nixon vẫn bị các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam bác bỏ và tiến trình đàm phán rơi vào bế tắc.


Trong khi đó, quyết định leo thang chiến tranh của Nixon ngay lập tức bị dư luận chỉ trích mạnh mẽ. Tổng hợp của hãng thông tấn ƯPI ngày 10-5-1972, cho thấy ngay cả báo chí Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ cũng không mấy ủng hộ quyết định phong tỏa miền Bắc Việt Nam của ông ta.

Báo chí Hoa Kỳ đánh giá:

Tờ St. Louis-dispatch: "bằng cách lựa chọn mở rộng chiến tranh để thực hiện hoà bình, Tổng thống Nixon đã đọc một bài diễn văn cho ta nhớ lại những điên rồ của quá khứ... Biện pháp phong toả là một hành vi chiến tranh và dù ông Nixon nói gì đi nữa, ông không thể biện minh hành vi đó".

Tờ Philadelphia Evening Bulletin: "Ông Nixon đã chơi một ván cờ lớn và chỉ có thành công mới biện minh được cho hành vi đó".

Tờ Chicago Daily News: "Hành động của Tổng thống Nixon nêu lên viễn tưởng của một cuộc can dự toàn cầu. Dù ông đã đưa ra lý do biện minh, người ta vẫn tự hỏi liệu trò chơi có đáng không?".

Tại Anh tờ Daily Mirror gọi "sự phong tỏa là hành động kết cuộc trong tấn thảm kịch lớn của Hoa Kỳ. Ông Nixon lựa chọn sự thách thức tính toán này hơn là việc đầu hàng tức khắc. Tuy nhiên, khi sự chiến bại là một điều chắc chắn, đầu hàng đâu nhất thiết là một sự nhục nhã? Chắc chắn nó sẽ vinh dự hơn là việc gây thêm nhiều đau thương một cách vô ích cho những người dân chưa hề biết là chiến tranh nhằm mục tiêu gì".

Tại Úc, tờ Sydney Morning Heral cho rằng quyết định của ông Nixon là "một hành động tuyệt vọng trong cơn khủng hoảng"1 (Những bài báo ngoại quốc đáng lưu ý (ghi nhận từ ngày 6-5-1972 đến 12-5-1972), Ký hiệu tư liệu v.v.5341, TTLTII).


Ngày 15-5-1972, trong bài viết "Phá vỡ một số huyền thoại trong cuộc chiến tranh Đông Dương" trên nhật báo Le Monde, tác giả Georges Hourdin vạch trần toàn bộ quá trình can thiệp và các chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông cho rằng:

"Huyền thoại đầu tiên về cuộc chiến Đông Dương cần phải đả phá là việc quy lỗi cho Bắc Việt đã gây ra cuộc chiến này. Nhiều người Pháp vẫn còn nghĩ rằng cuộc tuyển cử năm 1956 do Hiệp định Genève 1954 trù liệu đã không diễn ra vì du kích quân cộng sản đã xâm nhập Nam Việt Nam hồi năm 1955. Sự thật không phải như thế. Các tác phẩm nghiên cứu của ông Devillers và Lacouture đã viết lại một cách xác thực những gì xảy ra trong khoảng thời gian rối ren này tại Viễn Đông. Qua những tài liệu trên, người ta có thể kết luận rằng:

- Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm đã không chịu tổ chức các cuộc tuyển cử như Hiệp định Genève 1954 quy định.

- Hoa Kỳ nhất quyết không muốn chế độ cộng sản được thành lập tại Nam Việt Nam.

- Với những phương pháp tàn bạo và độc tài, Tổng thống Diệm đã thúc đẩy những người không cùng quan điểm với ông chạy ra bưng biền hoặc phải lưu vong. Dưới áp lực ngày càng gia tăng, "Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam" đã ra đời hồi tháng 12-1960.

- Cùng lúc đó, hay trong những tháng đầu năm 1961, dường như các cơ quan mật vụ Hoa Kỳ cũng tìm cách gây rối loạn tại Bắc Việt.

Có một huyền thoại, theo đó, cộng sản Việt Nam được coi như những người sát hại đạo Thiên Chúa, còn Hoa Kỳ như những thập tự quân. Quan điểm trên đây hoàn toàn sai lạc... Các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ đã tàn phá nhà thờ, trong Nam cũng như ngoài Bắc. Chính sự tàn phá này đã khiến cho người nghèo, người giàu, người lương giáo kết hợp lại với nhau khăng khít hơn. Rất có thể "chính phủ liên hiệp" sau này tại miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng sự tự do tín ngưỡng của dân chúng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2022, 06:37:26 pm »

Ngoài ra, còn một huyền thoại nữa có lẽ quan trọng hơn huyền thoại trên. Nhiều người cho rằng một quốc gia dân chủ và hùng mạnh như Hoa Kỳ bắt buộc phải chiến thắng bằng quân sự trong các cuộc tranh chấp. Sự vinh quang lịch sử không xuất phát từ quân sự và trách nhiệm của Hoa Kỳ, với tư cách người lãnh đạo thế giới Tây phương, không gắn liền với sự biểu dương lực lượng. Tổng thống Nixon lập luận rằng nếu ông bỏ rơi Việt Nam, sẽ có máu đổ khắp nơi. Người ta có thể nhắc để ông thấy rằng hành động của ông hiện nay đã không ngăn được máu đổ tại Viễn Đông.


Nếu ngày nào đó Tổng thống Nixon tìm được con đường chân chính đưa tới hoà bình, hoà giải Đông và Tây phương, ảnh hưởng của ông sẽ gia tăng. Lúc đó, điều quan yếu là phải áp dụng lại các thỏa ước Genève.

Ngoài ra còn một huyền thoại cuối cùng cần phải phá vỡ: huyền thoại này cho rằng cuộc tranh chấp chỉ nằm trong giới hạn nước Việt Nam thôi. Điều đó không đúng vì còn có trường hợp của Campuchia, Lào và Thái Lan"1 (Những bài báo ngoại quốc đáng lưu ý (ghi nhận từ ngày 20-5-1972 đến 26-5-1972), Ký hiệu tư liệu vv 5343, TTLTII).


Riêng A. Harriman - Trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ thời kỳ Johnson, trong bài viết "Vì sao cuộc hòa đàm về Việt Nam thất bại" đăng trên Nhật báo The Guardian ngày 10-5-1972, cố gắng biện hộ cho Nixon bằng cách đổ hết trách nhiệm cho Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta cho rằng:


"Viễn ảnh một nên hòa bình thương thuyết chưa bao giờ sáng sủa hơn khi Tổng thống Nixon nhậm chức. Chưa đầy ba tháng qua đi, kể từ khi Hoa Kỳ đạt đến thỏa hiệp ngầm với Bắc Việt để chấm dứt oanh tạc và mở những cuộc thảo luận nghiêm chỉnh giữa bốn bên. Vào lúc đó, Bắc Việt đã tỏ thiện chí giảm cường độ vũ lực bằng cách triệt thoái gần 90% quân số - 22 trong số 25 trung đoàn khỏi hai tỉnh phía Bắc VNCH, địa bàn của những cuộc giao tranh dữ dội. Hoa Kỳ ở trong một vị thế thương thuyết thuận lợi với hơn nửa triệu quân tại Nam Việt Nam.


Tuy nhiên, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã phá hoại hòa đàm ngay từ sơ khởi. Mặc dù tháng 10-1968, ông đã đồng ý tham gia thương thuyết sau khi chấm dứt oanh tạc, ông đã phản lại cam kết và rồi gây vụ tranh luận về hình thể bàn hội nghị, nhằm phá vỡ hay ít nhất trì hoãn thương nghị cho đến lúc tân chính phủ Hoa Kỳ đáo nhậm.


Sau cùng, ngay trước ngày Tổng thống Nixon tuyên thệ, con đường thương thuyết đã được khải quang, gồm cả việc mở những cuộc tiếp xúc riêng. Dẫu thế, công việc đầu tiên của tân chính phủ là thắt chặt hơn các liên hệ với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Về phần mình, Tổng thống VNCH coi mục tiêu trước hết là củng cố vị thế cá nhân. Điều này có nghĩa là chống lại một giải pháp thương thuyết, bởi vì bất cứ thỏa hiệp nào cũng sẽ đưa đến việc gạt bỏ ông.


Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phá hoại thương nghị bằng cách từ chối gởi đại diện dự mật nghị với "Mặt trận Giải phóng miền Nam". Hai tháng sau, ông bằng lòng tiếp xúc riêng, nhưng tuyên bố không bao giờ chấp nhận một "chính phủ liên hiệp", hoặc một Đảng Cộng sản tại miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ đã gặp rất nhiều khó khăn để Bắc Việt đồng ý thương thuyết với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng nay Bắc Việt lại từ chối nói chuyện với ông.


Trong khi đó, Chính phủ Nixon tiếp tục để cho Sài Gòn có quyền phủ quyết đối với tư thế thương thảo của Hoa Kỳ. Mặc dù tuyên bố mục tiêu của Hoa Kỳ là để cho nhân dân Nam Việt Nam quyền tự quyết, Chính phủ Nixon đã giúp tạo ra "cuộc độc cử" của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự "tái cử giả tạo" của một tổng thống không được sự hậu thuẫn của nhân dân, đã một lần nữa, đánh mất một cơ hội lớn để vãn hồi hòa bình.


Tháng 7 năm qua, khi tình hình chính trị và quân sự tại Nam Việt Nam xem ra thuận lợi cho đống minh, đối phương đã đưa ra đề nghị 7 điểm. Một số điều khoản như đảm bảo an toàn cho sự triệt thoái của lực lượng Hoa Kỳ, việc phóng thích tù binh, việc cam kết không trả thù và để cho quốc tế giám sát xem ra đã thỏa mãn các đòi hỏi căn bản của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự kiện Chính phủ Nixon tiếp tục đòi hỏi những yêu sách không thực tế đã khiến Bắc Việt kết luận rằng Hoa Kỳ không nghiêm chỉnh tìm đến một giải pháp. Tổng thống Nixon đã tìm cách chấm dứt sự can dự của Hoa Kỳ qua kế hoạch "Việt hóa". Dẫu thế, cùng lắm, Chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng chỉ tồn tại nổi với việc yểm trợ của không và hải lực Hoa Kỳ. Điều này có nghĩa là chiến tranh sẽ kéo dài vô tận, với việc tham dự tiếp tục của Hoa Kỳ, khiến cho việc phóng thích tù binh không có cơ hội được thực hiện.


Hiện nay, hiển nhiên hơn bao giờ hết là không có gì thay thế được bằng việc thương thuyết một thỏa hiệp, dù phải công nhận Hoa Kỳ đang ở thế yếu nhất. Nếu Hoa Kỳ chấp nhận nguyên tắc một "chính quyền trung lập phi liên kết" tại Sài Gòn và triệt thoái nhanh chóng toàn bộ lực lượng của mình. Tôi tin rằng vẫn còn cơ hội đê đạt tới một giải pháp đúng đắn cho VNCH, một cơ hội tốt đẹp hơn cho tương lai của họ"1 (Những bài báo ngoại quốc đáng lưu ý (ghi nhận từ ngày 13-5-1972 đến 19-5-1972), Ký hiệu tư liệu vv 5342, TTLTII).


Tháng 7-1972, sự lên án mạnh mẽ của dư luận, cùng những thiệt hại nặng nề sau cuộc tổng tiến công Xuân - Hè của Quân Giải phóng, Hoa Kỳ buộc phải trở lại bàn đàm phán tại Paris. Ngày 13-7-1972, sau 10 tuần ngưng đàm phán (tính từ ngày 4-5-1972), phiên họp thứ 150 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc vào 10 giờ 35. Về nội dung, sau 3 giờ 40 phút (bao gồm cả 50 phút giải lao), phiên họp không có gì mới. Phái đoàn Sài Gòn nhắc lại đề nghị ngày 8-5-1972 của Tổng thống Nixon về một cuộc ngưng bắn tại miền Nam Việt Nam. William J. Porter lại nhấn mạnh đến khuynh hướng giảm bớt sự căng thẳng giữa Nam - Bắc Hàn và Đông - Tây Đức, ngụ ý "khuyên" cách mạng Việt Nam nên đi theo chiều hướng đó. Ngược lại, các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam mạnh mẽ tố cáo và yêu cầu Hoa Kỳ phải chấm dứt hành động chiến tranh hủy diệt ở miền Nam Việt Nam và chấm dứt ném bom, thả mìn, phong tỏa miền Bắc Việt Nam2 (Tài liệu của Nha Chính trị Âu Phi Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê về Việt Nam, số 150, Hồ sơ 1470, QKVH, TTLTII).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2022, 06:39:03 pm »

Những phiên họp sau đó, thể thức đàm phán của các bên đã cho thấy Hội nghị Paris về Việt Nam có sự tiến triển nhất định. Tại Hội nghị, các bên đã hạn chế sử dụng bàn đàm phán làm diễn đàn đấu tranh chính trị mà đi vào thảo luận các giải pháp. Đặc biệt, trong tháng 8, khi cuộc vận động bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ bước vào giai đoạn sôi động, các bên lần lượt đưa ra các tuyên bố, sáng kiến và các sửa đổi để cùng thảo luận. Ngày 14-8-1972, nhằm khai thông bế tắc, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao cho Hoa Kỳ văn kiện khẳng định lại một số nguyên tắc: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, mọi sự dính líu về quân sự ở Việt Nam, mọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam, tôn trọng quyền tự quyết và quyền độc lập thực sự của Việt Nam; phải thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 lực lượng vũ trang và 3 lực lượng chính trị, cần lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần. Nhưng về lập trường, các bên tiếp tục cứng rắn trong các đề nghị. Vì vậy, Hội nghị Paris chưa có sự thay đổi nào đáng kể.


Ngược lại, tại các cuộc đàm phán mật với Cố vấn Lê Đức Thọ, Kissinger ngày càng tỏ ra "năng nổ" với lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 19-7-1972, tại cuộc tiếp xúc mật với Cố vấn Lê Đức Thọ, Hoa Kỳ đề nghị sửa đổi một nội dung trong giải pháp 27-1-1972. Theo đó, thời gian ấn định cho ngừng bắn, triệt thoái quân đội Hoa Kỳ và quân đội các nước ngoài thuộc phe Hoa Kỳ và trao trả tù binh được sửa đổi từ "bắt đầu khi thỏa ước chi tiết về giải pháp chính trị nội bộ miền Nam Việt Nam được thỏa thuận" thành "bắt đầu khi thỏa hiệp toàn bộ được ký kết". Nhưng cũng như đề nghị ngày 27-1-1972, Hoa Kỳ vẫn muốn tách riêng vấn đề quân sự và chính trị, do đó đã không nhận được sự chấp thuận của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Tiếp đó, trong cuộc tiếp xúc mật ngày 1-8-1972, Kissinger trao cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa "đề nghị 12 điểm", thể hiện rõ sự xuống thang của Hoa Kỳ với việc chấp nhận giải quyết cùng lúc cả vấn đề quân sự và chính trị. Về giải pháp chính trị, Kissinger đề nghị hai nội dung cơ bản sau:

"1. Các chi tiết về giải pháp chính trị nội bộ miền Nam Việt Nam phải được thỏa thuận trong vòng 3 tháng sau khi nguyên tắc của giải pháp này được thỏa thuận.

2. Đương kim Tổng thống và Phó Tổng thống VNCH có thể từ chức sớm hơn trước ngày bầu cử"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).

Đồng thời, tỏ ra "sốt sắng", Kissinger nói rằng: "Nếu chúng ta (Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - BT) thỏa thuận được với nhau trước ngày 1 tháng 9 thì binh sĩ Hoa Kỳ cuối cùng sẽ rời khỏi Việt Nam trước cuối năm nay"2 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Trả lời đề nghị của Hoa Kỳ, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố "đề nghị 10 điểm" nêu cụ thể, chi tiết các giải pháp giải quyết vấn đề quân sự và chính trị cho miền Nam Việt Nam.

Tất cả quân lực Hoa Kỳ và đồng minh gồm cả cố vấn, nhân viên quân sự và kỹ thuật (không có phân biệt dưới bất cứ hình thức nào), vũ khí, đạn dược, rút ra khỏi miền Nam trong vòng một tháng. Các căn cứ quân sự cũng được hủy bỏ luôn.

- Song song với việc rút lui nêu trên, tất cả quân nhân và thường dân của các bên bị bắt sẽ được thả trong vòng một tháng.

- Một cuộc ngừng bắn tại chỗ sẽ được thực hiện tại miền Nam Việt Nam, có quốc tế kiểm soát và giám sát. Ngay sau khi có ngừng bắn thì viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho VNCH phải chấm dứt.

- Thực hiện hòa hợp dân tộc bằng cách Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay, và thành lập chánh phủ hòa hợp dân tộc lâm thời ba thành phần.

Ba thành phần này là:

- Những người thuộc "Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam".

- Những người thuộc "Chính quyền Sài Gòn (trừ Nguyễn Văn Thiệu)".

- Những người thuộc các xu hướng chính trị và tôn giáo ở miền Nam, kể cả những người vì lý do chính trị phải cư ngụ ở ngoài.

Ba thành phần trên đây đều bình đẳng và chiếm tỷ lệ ngang nhau. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam và chính quyền Sài Gòn sẽ chỉ định người của mình, và sẽ cùng nhau thỏa thuận đề nghị thành phần thứ ba. Chánh phủ hòa hợp dân tộc lâm thời này còn có đủ quyền lực về đối nội và đối ngoại, và sẽ hoạt động với những luật lệ mới.

Tổ chức tổng tuyển của tự do để tiến đến một chính phủ chính thức của miền Nam Việt Nam.

Sau đó:

a. Một diễn đàn riêng tay đôi giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn để thảo luận và thực hiện những gì Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thỏa thuận, và đồng thời thảo luận và giải quyết những gì Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa đề cập đến.

b. Một diễn đàn riêng tay ba giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lảm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn để giải quyết tiếp những vấn đề cụ thể liên quan đến hai miền Nam và Bắc Việt Nam.

c. Một diễn đàn công khai tay tư giữa Hoa Kỳ, VNCH, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời để giải quyết tiếp một số vấn đề cụ thể có liên quan đến bốn bên.

Trong quá trình đàm phán, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có trách nhiệm cùng nhau giải quyết những khó khăn. Và sau khi đạt được thỏa thuận tại các diễn đàn thì sẽ ký một hiệp nghị toàn bộ, và có thể có những hiệp nghị tay đôi, tay ba"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Ngày 14-8-1972, tiếp tục diễn ra cuộc tiếp xúc bí mật giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger. Hai bên cùng thảo luận về các quan điểm của nhau. Đến ngày 17-8-1972, tại Sài Gòn, Kissinger trình bày dự thảo đề nghị 10 điểm của Hoa Kỳ cho chính quyền Thiệu. Trong đó, các giải pháp mấu chốt cho vấn đề miền Nam Việt Nam cơ bản thống nhất với đề nghị 10 điểm ngày 1-8-1972 của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng có sửa đổi một số điểm về vấn đề rút quân, ngừng bắn và hình thức bầu cử. Cụ thể:

"- Thay vì rút hết quân đội Hoa Kỳ và đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự, phóng thích tất cả tù binh và thường dân vô tội bị bắt trong vòng 1 tháng,... thì đổi lại là trong vòng 3 tháng.

- Thay vì có cuộc ngừng bắn tại chỗ ở miền Nam Việt Nam thì có một cuộc ngừng bắn tại chỗ trên toàn cõi Đông Dương có quốc tế kiểm soát và giám sát.

Và sau đó thì Hoa Kỳ sẽ ngưng oanh tạc và gài mìn ở miền Bắc, cũng như là sẽ không có xâm nhập nào thêm của các lực lượng ngoại quốc vào bất cứ quốc gia nào tại Đông Dương.

- Thay vì chấm dứt viện trợ quân sự cho miền Nam ngay sau khi có hiệp nghị thì đổi lại là sau khi ký kết hiệp nghị, Hoa Kỳ sẽ định lại mức viện trợ quân sự cho bất cứ chánh phủ nào thành tựu tại miền Nam theo tỷ lệ những viện trợ khác cho các quốc gia khác tại Đông Dương.

- Thay vì đòi hỏi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi ngay và thành lập "chánh phủ hòa hợp dân tộc lâm thời với 3 thành phần ngang nhau để tổ chức tổng tuyển cử, thì thành lập một Ủy ban hòa giải quốc gia với 3 thành phần ngang nhau để tổ chức một cuộc bầu cử trong vòng 5 tháng sau khi ký kết Hiệp nghị toàn bộ. Trước ngày bầu cử, Tổng thống và Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn từ chức và giao quyền xử lý chánh phủ cho Chủ tịch Thượng nghị viện.

- Sau cuộc bầu cử, vị tổng thống đắc cử sẽ thành lập một chánh phủ mới gồm tất cả đại diện các lực lượng chính trị theo tỷ lệ số phiếu họ đạt được trong cuộc bầu cử tổng thống. Và Ủy ban hòa giải quốc gia sẽ lưu lại nhằm mục đích cứu xét hiến pháp để phù hợp với tình trạng hòa bình.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2022, 06:45:29 pm »

2. Về đề nghị cách đàm phán

Khác biệt duy nhất là thay vì diễn đàn riêng tay đôi giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt thảo luận và giải quyết các vấn đề quân sự cũng như những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của các vấn đề chính trị thì chỉ thảo luận về giải quyết các vấn đề quân sự và những nguyên tắc và nội dung tổng quát của các vấn đề chính trị"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Ngày 15-9-1972, trong cuộc gặp riêng, Kissinger trao cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị trên, nhưng không được chấp nhận. Đồng thời, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra bản đề nghị mới, mà ngoài việc sửa đổi thời gian ấn định rút quân, trao trả tù binh và tổng tuyển cử, nội dung cơ bản của đề nghị nhằm chi tiết hóa thành phần và nguyên tắc của "chính phủ hòa hợp dân tộc miền Nam Việt Nam":

"- Tại trung ương thì có chánh phủ hòa hợp trung ương.

- Thành lập các Ủy ban hòa hợp dân tộc với ba thành phần ngang nhau tại các đơn vị hành chánh như tỉnh, quận và xã.

- Trong lúc đó thì Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn tồn tại và quản lý hành chánh những vùng mình kiểm soát.

- Chính phủ này sẽ hoạt động theo nguyên tắc là không phe nào được lấn át hay áp lực phe khác trong chính phủ"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).

Trong cuộc đàm phán riêng ngày 16-9-1972, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục chi tiết hóa hơn nữa thành phần của chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam Việt Nam với các nội dung:

"- Chính phủ này gồm mười hai ủy viên, có một chủ tịch đoàn gồm ba người đại diện của ba thành phần; ba người này thay phiên nhau làm chủ tịch của chủ tịch đoàn trong từng thời gian nhất định.

- Chính phủ này làm việc theo nguyên tắc nhất trí.

- Trực thuộc chính phủ này có năm ủy ban: Ủy ban quân sự liên hợp, Ủy ban chính trị, Ủy ban tổng tuyển cử, Ủy ban dự thảo hiến pháp và Ủy ban đối ngoại"2 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).

Trước diễn tiến mau lẹ của cuộc đàm phán bí mật Kissinger - Lê Đức Thọ, mà chiều hướng dẫn tới sự loại bỏ chế độ Thiệu, chính quyền Sài Gòn ra sức phản đối. Mặc dù đồng ý với những nội dung cơ bản của dự thảo của Hoa Kỳ ngày 1-8-1972, ngày 27-7-1972, chính quyền Sài Gòn gửi giác thư (Memorandum) cho Nhà Trắng, cố gắng đòi hỏi một sự bảo đảm cho sự tổn tại của chế độ Thiệu:

Thứ nhất, chính quyền Sài Gòn ra điều kiện với Hoa Kỳ: "muốn có một giải pháp chính trị nội bộ" thì Quân đội nhân dân Việt Nam phải triệt thoái ra khỏi miền Nam Việt Nam - điều mà Kissinger tránh né đề cập đến trong bản dự thảo, nhằm tạo sự mập mờ nếu đề nghị được chấp thuận.

Thứ hai, đối với vấn đề ngừng bắn, chính quyền Sài Gòn đòi hỏi phi lý "rằng cuộc ngưng bắn phải bao gồm toàn cõi Đông Dương".

Cuối cùng về ấn định thời gian từ chức của Tổng thống và Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn trong cuộc bầu cử thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu vẫn khăng khăng đòi hỏi được quyền quyết định và phải tùy thuộc vào mức độ giảm tương ứng các hoạt động quân sự của cách mạng1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Ngày 17 và 18-8-1972, trong cuộc gặp với chính quyền Sài Gòn, cùng với việc thông báo dự thảo đề nghị đáp lại đề nghị ngày 1 -8-1972 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Kissinger cố gắng vỗ về Nguyễn Văn Thiệu đối với sự xuống thang của Hoa Kỳ. Ông ta nói rằng: "sở dĩ phải đáp ứng thiện chí của cộng sản là để cho qua hai tháng trước ngày bầu cử, và sau đó nếu cộng sản vẫn còn ngoan cố thì lại giải pháp 8-5-1972"2 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Ngày 31-8-1972, đích thân Tổng thống Nixon gửi thư cho Nguyễn Văn Thiệu để khẳng định quan điểm của Hoa Kỳ:

"Tôi rất vui mừng được Đại sứ Bunker trình bày đầy đủ về những quan điểm của Tổng thống đối với các cuộc thương nghị hiện đang diễn tiến mà chánh phủ ta trong thời gian gần đây đã trao đổi một số ý kiên chi tiết. Dựa trên báo cáo của Đại sứ Bunker; chúng tôi đã có một số sửa đổi trong đề nghị chính và đề nghị vẽ cách đàm phán của chúng tôi, mà Đại sứ Bunker sẽ thảo luận với Tổng thống. Tôi tin rằng những dự thảo mới của chúng tôi sẽ là một đề nghị hòa bình xây dựng, phản ánh chủ tâm của chúng ta có một giải pháp hòa bình danh dự bảo đảm được cho nhân dân miền Nam Việt Nam quyền quyết định tương lai của mình mà không bị ép buộc chấp nhận một giải pháp nào hoặc bị một sự can thiệp nào từ bên ngoài.


Đại sứ Bunker sẽ trình Tổng thống chi tiết của quan niệm của chúng tôi về vấn đề này. Xin Tổng thống tin chắc rằng Đại sứ Bunker nói nhân danh tôi.

Vào thời gian tế nhị này trong cuộc thương thuyết, tôi xin xác nhận với Tổng thống, một cách thẳng thắn và mạnh dạn về lập trường căn bản của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã không từ chối đến nay với bao nhiêu hy sinh về sanh mạng, để rồi thay đổi hướng trong những tháng cuối cùng năm nay. Giờ đây, chúng tôi sẽ không làm những gì chúng tôi đã từ chối không làm trong 3 năm rưỡi qua. Nhân dân Hoa Kỳ hiểu rằng Hoa Kỳ không thể mua hòa bình hoặc danh dự hoặc chuộc lại những sự hi sinh của mình bằng cách từ bỏ một đồng minh anh dũng. Tôi sẽ không thể làm điều này và sẽ không bao giờ làm.


Công việc chánh yếu của chúng ta giờ đây là hợp tác chặt chẽ trong tinh thần hoàn toàn chân thật và tin tưởng lẫn nhau, như chúng ta đã thành công trong những năm qua. Mục đích của chúng ta là một mục đích chung và hỗ tương. Tôi đã chỉ thị cho Đại sứ Bunker liên lạc chặt chẽ với Tổng thống, để có những cuộc thảo luận và tham khảo chi tiết và đầy đủ bất cứ trong giai đoạn nào"1 (Bản dịch thư Nixon gởi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ngày 31-8-1972, Hồ sơ 1232, ĐIICH, TTLTII).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2022, 06:48:16 pm »

Song sự vỗ về của Hoa Kỳ không làm Nguyễn Văn Thiệu nguôi ngoai. Những ngày cuối tháng 8-1972, Thiệu ngày càng tỏ ra kháng cự mạnh mẽ trước sự xuống thang của Hoa Kỳ trong đàm phán. Ông ta đã soạn và ký vào thư phản đối đề ngày 30-8-1972 để gửi Tổng thống Nixon nhưng sau đó đã không gửi đi. Bức thư có đoạn:

"I would like to extend to you warmest congratulation on your brilliant nomination by the Republican party to run again in order to continue to lead the people of the United States and to fulfill your aspirations to restore peace and stability for the world and at the same time to promote an era of development through cooperation.

I sincerely wish you a brilliant reelection.

I take this opportunity to inform you that during the two-day visit of Dr. Kissingger we have discussed in detail all the points of the Communist new peace proposal as well as the counter proposal Dr. Kissinger had submitted.

We had discussed extensively all the points in the proposals except point 4. We had not discussed point 4 because we consider it a very delicate problem which affects the life and death of more than 17 million and a half South Vietnamese. We had taken two weeks of thorough discussions to analyze point 4 and come up with a proposal which incorporates both liberal and constructive aspects an initiative to restore peace while at the same time preserving the life of our nation.

However, on August 29y just one day after we gave Ambassador Bunker our proposal, Ambassador Bunker transmitted us a Memorandum the content of which seems to flatly reject our ideas.

We deeply regret it, and we think that the ideas which we have thoroughly deliberated on for two deserve more detailed analyses.

The close relationship between our two peoples in the common cause and the special understanding between us have made me always try to fulfill what I have often said, and that is to help you to help us in order to bring back a solid peace for Vietnam in which the people of the United States have contributed a great part.

I wish that you would always remember that I consider the honor of my personal position as meaningless compared with countless great sacrifices of the combatants and peoples of the United States and Vietnam and the possibility to exchange for a just peace, important not only for 17 million and a half South Vietnamese people but also for this region of the world, provided that the great sacrifices in lives and properties of our peoples would not be in vain"1 (Lược dịch: "Tôi chúc mừng ngài vì đã được Đảng Cộng hòa đề cử tranh cử Tổng thống, để một lần nữa có cơ hội tiếp tục lãnh đạo nhân dân Hoa Kỳ và thực hiện nguyện vọng khôi phục lại hòa bình và ổn định cho thế giới và thúc đẩy một kỷ nguyên phát triển thông qua hợp tác. Tôi chân thành mong ngài tái tranh cử thành công. Nhân cơ hội này, tôi thông báo cho ngài rằng trong chuyến thăm hai ngày của Tiến sĩ Kissinger, chúng tôi đã thảo luận chi tiết tất cả các điểm trong bản đề nghị hòa bình mới của cộng sản, cũng như bản phản đề nghị của Tiến sĩ Kissinger. Chúng tôi đã thảo luận và thống nhất tất cả các điểm trong đề nghị trừ điểm 4. Bởi vì chúng tôi coi nó là một vấn đề rất tế nhị ảnh hưởng sự tồn tại của miền Nam Việt Nam. Trong hai tuần, chúng tôi đã phân tích kỹ lưỡng điểm 4 và đi đến một đề nghị để khôi phục lại hòa bình trong khi vẫn duy trì sự tồn tại của chúng tôi. Tuy nhiên, ngày 29 tháng 8, chỉ một ngày sau khi chúng tôi đưa cho Đại sứ Bunker bản đề nghị, Đại sứ Bunker trao cho tôi một Biên bản ghi nhớ nội dung (cuộc tiếp xúc mật Kissinger - Lê Đức Thọ) trong đó có vẻ thẳng thừng từ chối sáng kiến của chúng tôi. Chúng tôi rất lấy làm tiếc, và chúng tôi nghĩ rằng chúng ta cùng phải triệt để thảo luận các đề nghị. Mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đất nước trong sự nghiệp chung và sự hiểu biết đặc biệt giữa chúng ta đã làm cho tôi luôn luôn cố gắng để hoàn thành những gì tôi đã thường nói, đó là để giúp các ngài, để giúp chúng tôi mang lại một nền hòa bình vững chắc cho Việt Nam, nơi mà người dân Hoa Kỳ đã đóng góp một phần lớn. Tôi mong rằng ngài sẽ luôn luôn nhớ rằng, tôi xem xét danh dự của cá nhân là vô nghĩa so với sự hy sinh rất lớn của binh lính và nhân dân Hoa Kỳ để cho một nền hòa bình, quan trọng không chỉ cho 17 triệu và một nửa Việt Nam mà còn cho cả các khu vực. Những hy sinh lớn lao về người và của cho chúng tôi sẽ không là vô ích" (Dự thảo thư của Nguyễn Văn Thiệu gửi Tổng thống Nixon ngày 30-8-1972, Hồ sơ 1232, ĐIICH, TTLTII)).


Nhưng bỏ qua thái độ của chính quyền Thiệu, ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao cho Hoa Kỳ bản đề nghị được trình bày dưới hình thức một hiệp định sẵn sàng để ký kết, có tên là "Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII). Nội dung cơ bản của dự thảo Hiệp định gồm các điểm chính:

"1. Một cuộc ngừng bắn tại chỗ tại miền Nam Việt Nam kể từ giờ H ngày N.

2. Việc Hoa Kỳ ngừng hết mọi hành động chiến sự đối đầu với Bắc Việt, nghĩa là ngưng oanh tạc và gài mìn.

Sau khi có đình chỉ chiến sự thì:

- Tất cả lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh ở nguyên vị trí trong khi chờ đợi Ban Liên hợp quân sự bốn phe ấn định cách thức rút quân. Các quân lực này phải rút hoàn toàn (quân đội, cố vấn quản sự; nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên liên hệ đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh...) và phá hủy các căn cứ quân sự. Công việc này phải hoàn tất trong vòng 2 tháng.

- Tất cả tù binh và thường dân bị bắt phải được trao trả trong vòng 2 tháng.

- Lực lượng võ trang hai bên miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí trong khi chờ đợi Ban Liên hợp quân sự hai phe ấn định vùng kiểm soát và thể thức đóng quân. Sau đó lực lượng võ trang hai bên miền Nam bắt đầu giảm quân số và giải ngũ số quân này.

- Hai bên miền Nam phải thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm quyền tự do dân chủ, tự do cá nhân, tự do tín ngưỡng, tự do hoạt động, tự do báo chí...

- Hai bên miền Nam hiệp thương và thành lập một cơ cấu chính quyền lấy tên là Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc với ba thành phần ngang nhau. Hội đồng này phải được thành lập trong vòng 15 ngày sau khi ký kết hiệp định, và sau đó hai bên miền Nam sẽ thành lập những hội đồng ở cấp dưới. Hội đồng này sẽ hoạt động theo nguyên tắc nhất trí. Hai bên miền Nam Việt Nam phải thảo luận và ký kết một hiệp định về các vấn đề nội bộ trong vòng ba tháng sau khi ký kết hiệp định.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #87 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2022, 06:49:54 pm »

Nhiệm vụ của hội đồng là để tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 5 tháng sau khi ký kết hiệp định và hai tháng trước ngày bầu cử; đương kim Tổng thống và Phó Tổng thống VNCH từ chức.

Hội đồng này hoạt động như một siêu chính phủ cạnh Chính phủ VNCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và có nhiệm vụ khuyến khích hai bên miền Nam Việt Nam thi hành những hiệp định được ký kết, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc bảo đảm các quyền tự do dân chủ và ấn định thể thức và thủ tục tổng tuyển cử.

- Thành lập các Ban liên hợp quân sự bốn phe để kiểm soát các cuộc ngừng bắn, việc rút quân và hủy bỏ các căn cứ quân sự; và việc trao trả tù binh và thường dân bị bắt.

- Thành lập các Ban liên hợp quân sự hai phe để kiểm soát cuộc ngừng bắn tại chỗ tại miền Nam, việc giảm thiểu quân số và giải ngũ.

- Thành lập Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát gồm bốn quốc gia: Ba Lan, Hung Gia Lợi (Hungary), Gia Nã Đại (Canada) và Nam Dương (Indonesia). Ủy ban này sẽ kiểm soát và giám sát các khía cạnh quân sự và chính trị của hiệp định và sẽ giải quyết các vụ bất đồng giữa các phe trong những ban liên hợp quân sự.

- Triệu tập một hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày sau khi ký kết hiệp định. Thành phần tham dự hội nghị này gồm có: Nga Sô, Trung Cộng, Pháp, Anh, bốn phe tham dự Hội nghị Ba Lê về Việt Nam, bốn quốc gia trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và ông Tổng thư ký Liên hợp quốc"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).

Từ ngày 8 đến ngày 11-10-1972, hai phái đoàn Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thảo luận kỹ lưỡng về các điều khoản của Hiệp định. Đến ngày 17-10, tại Paris, hai bên duyệt lại lần cuối và đi đến thống nhất lịch trình ký kết Hiệp định.


Sau đó, từ ngày 19 đến 23-10-1972, Kissinger được chỉ thị thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận dự thảo hiệp định. Trong khi, tại Washington, Tổng thống Nixon ồ ạt gửi quân trang, quân dụng, vũ khí đạn dược cho chính quyền Sài Gòn2 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Tlđd). Ngày 23-10-1972, trái với cam kết, Hoa Kỳ lấy lý do Nguyễn Văn Thiệu chưa chấp nhận dự thảo nên phải tiếp tục thảo luận những vấn đề mới mà không đả động đến việc thực hiện các thỏa thuận theo thời gian đã ấn định.


Ngày 26-10-1972, phản đối việc phá bỏ cam kết của Hoa Kỳ, Chính phủ Việt Nam Dân chù Cộng hòa công bố dự thảo Hiệp định, cùng những cam kết của Hoa Kỳ trong các cuộc đàm phán mật và lên án "Hoa Kỳ đã không giữ lời hứa ký Hiệp định như đã dự trù"3 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Tlđd). Cùng ngày, qua việc trích lại tuyên bố trên trong bài diễn văn tại phiên họp thứ 164, Bộ trưởng Xuân Thủy đã cho thấy quá trình đàm phán mật thống nhất về nội dung bản dự thảo Hiệp định và ấn định thời gian ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ. Nguyên văn đoạn trích tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong bài diễn văn của Bộ trưởng Xuân Thủy như sau:

"Qua nhiều ngày đàm phán, ngày 17-10-1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ đã thỏa thuận về hầu hết các vấn đề trên cơ sở bản dự thảo Hiệp định của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ còn hai vấn đề chưa thỏa thuận được. Với thiện chí của mình, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm hết sức mình để gạt bỏ những trở ngại cuối cùng đã thỏa thuận những đề nghị của phía Mỹ về hai vấn đề cuối cùng còn lại trong Hiệp định. Trong thông điệp ngày 20-10-1972, gửi Thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng thống Mỹ hoan nghênh thiện chí của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và xác nhận rằng văn bản Hiệp định có thể xem là đã hoàn thành. Nhưng cũng trong thông điệp đó, Tổng thống Mỹ lại nêu lên một số điểm phức tạp. Với lòng mong muốn sớm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã giải thích rõ quan điểm của mình về những điểm đó. Trong thông điệp ngày 22-10-1972, Tổng thống Mỹ đã tỏ ý thỏa mãn về những lời giải thích của Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Như vậy là đến ngày 22-10-1972, văn bản Hiệp định đã được hoàn thành.


Những vấn đề chủ yếu của Hiệp định đã được thỏa thuận tóm tắt như sau:

1. Mỹ tôn trong độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định năm 1954 đã công nhận.

2. Hai mươi bốn giờ sau khi ký kết Hiệp định, ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, Mỹ chấm dứt mọi hoạt động quân sự, châms dứt ném bom và thả mìn ở miền Bắc Việt Nam. My rút hết khỏi miền Nam Việt Nam trong sáu mươi ngày quân đội và nhân viên quân sự của Mỹ và các nước ngoài đồng minh của Mỹ và của VNCH. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ được phép từng thời gian thay thế vũ khi, đạn dược, dụng cụ chiến tranh bị hao mòn hoặc hư hỏng từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng. Mỹ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ miền Nam Việt Nam.


3. Trao trả tất cả những người của các bên bị bắt và giam giữ song song với việc rút quân Mỹ.

4. Những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là: nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định trong tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế, Mỹ không cam kết với bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào ở miền Nam Việt Nam và không tìm cách áp đặt một chánh phủ thân Mỹ ở Sài Gòn; thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc; bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân; thành lập một cơ cấu chính quyền lấy tên là Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau, để đôn đốc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chánh phủ VNCH thi hành các Hiệp định đã ký kết và tổ chức tổng tuyển cử. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về việc thành lập các Hội đồng cấp dưới; vấn đề các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh; trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận, có vấn đề các biện pháp giảm số quân của các lực lượng vũ trang hai bên và phục viên số quân đã giảm; hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một Hiệp định vẽ các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, và làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng ba tháng sau khi ngừng bắn có hiệu lực.


5. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình.

6. Thành lập Ban Liên hợp Quân sự bốn bên, Ban Liên hợp Quân sự hai bên ở miền Nam Việt Nam.

Thành lập Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

Triệu tập một hội nghị quốc tế về Việt Nam trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký kết Hiệp định nay.


7. Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chánh phủ Mỹ và Chánh phủ VNCH triệt để tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào đã được các Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương và Hiệp định Genève năm 1962 về Lào công nhận: độc lập, chủ quyền, thống nhất va toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia đó. Các chánh phủ nói trên tôn trọng nền trung lập của Campuchia và Lào. Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chánh phủ Mỹ và Chánh phủ VNCH cam kết không dùng lãnh thổ của Campuchia và của Lào để xâm phạm chủ quyền và an ninh của các nước khác.

Các nước ngoài sẽ chấm dứt một hoạt động quân sự ở Lào và Campuchia, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.

Công việc nội bộ của Campuchia và của Lào do nhân dân mỗi nước này giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Nhưng vấn đề liên quan giữa ba nước Đông Dương sẽ do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trong độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.


8. Việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ tạo điều kiện thiết lập những quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi, giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ. Mỹ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ở toan Đông Dương.


9. Hiệp định nay bắt đầu có hiệu lực kể từ khi ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định nay.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #88 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2022, 08:36:09 pm »

Hai bên cũng đã thỏa thuận về thời gian biểu cho việc ký kết Hiệp định. Ngày 9-10-1972, theo đề nghị của phía Mỹ, hai bên đã thỏa thuận: ngày 18-10-1972, Mỹ chấm dứt ném bom, thả mìn ở miền Bắc; ngày 19-10-1972, hai bên ký tắt văn bản Hiệp định tại Hà Nội; ngày 26-10- 1972, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký chính thức Hiệp định tại Paris.


Ngày 11-10-1972, phía Mỹ lại đề nghị thay đổi thời gian biểu như sau: ngày 21-10-1972, Mỹ chấm dứt ném bom, thả mìn ở miền Bắc; ngày 22-10-1972, hai bên ký tắt văn bản Hiệp định tại Hà Nội; ngày 30-10-1972, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký chính thức Hiệp định tại Paris. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thỏa thuận thời gian biểu mới của Mỹ.


Ngày 20-10-1972, phía Mỹ mượn cớ còn một số điểm chưa thỏa thuận, lại đưa ra một thời gian biểu khác: ngày 23-10-1972, Mỹ chấm dứt ném bom, thả mìn ở miền Bắc; ngày 24-10-1972, hai bên ký tắt văn bản Hiệp định tại Hà Nội; ngày 31-10-1972, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hai nước ký chánh thức Hiệp định tại Paris. Với thiện chí của mình, mặc dầu phía Mỹ đã nhiều lần sửa đổi những điều đã thỏa thuận, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đồng ý với đề nghị của phía Mỹ và nhấn mạnh phía Mỹ không được đưa bất cứ lý do gì để thay đổi thời gian biểu đã thỏa thuận"1 (Hội đàm Ba Lê về Việt Nam phiên họp thứ 164, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, Hồ sơ 17719, PTTg, TTLTII).


Tuyến bố ngày 26-10-1972 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay lập tức lôi cuốn sự chú ý của dư luận. Trong khi, được phát biểu trước trong phiên họp 164 nhưng William J. Porter - Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ, đã không đọc bài diễn văn soạn sẵn mà chỉ nói vỏn vẹn ba câu: "Tôi nghĩ rằng tốt hơn hết là tôi không có bài phát biểu chính thức hôm nay vào lúc này. Tôi có thể sẽ có những nhận xét sau. Chúng tôi không thấy gì trở ngại nếu quý vị muốn đọc ngay bài phát biểu của quý vị, hoặc nếu quý vị muốn thì chúng ta có thể tạm nghỉ như thường lệ"1 (Hội đàm Ba Lê về Việt Nam phiên họp thứ 164, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, Hồ sơ 17719, PTTg, TTLTII).


Tại Hoa Kỳ, Kissinger họp báo biện minh: "vấn đề thời biểu chỉ có tính cách giả định và mọi việc đều phải có sự ưng thuận của Việt Nam Cộng hòa... chỉ còn vài vấn đề chỉ tiết trong dự thảo Hiệp định để giải quyết và chỉ cần một cuộc gặp gỡ chót thì ký ngay"2 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Đến đấy, sau hơn 4 năm tính từ tháng 5-1968, quá trình đàm phán về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đạt được kết quả to lớn với sự ra đời của bản dự thảo "Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam" (Tên tiếng Anh: "Agreement on ending the war and restoring peace in Viet Nam"). Tuy nhiên, kết quả trên lại không ra đời trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam mà hình thành sau cuộc tổng tiến công Xuân - Hè 1972 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, trong thời gian rất ngắn - 3 tháng 10 ngày (từ ngày 1-8-1972 đến 11-8-1972) bằng thời gian các bến đàm phán đi đến thống nhất vấn đề thủ tục của Hội nghị bốn bên về Việt Nam tại Paris (từ ngày 1-11-1960 đến 18-1-1969), bởi cuộc đàm phán bí mật giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger. Đây cũng là đặc điểm nổi bật của tiến trình đàm phán đi đến chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam giữa một nước nhỏ (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với một cường quốc (Hoa Kỳ). Mặc dù thất bại tại miền Nam Việt Nam, nhưng với danh dự của một cường quốc, Hoa Kỳ muốn rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự và không thể thừa nhận sự thua cuộc một cách công khai trên bàn hội nghị. Đồng thời, tự cho mình có vai trò sen đầm quốc tế, Hoa Kỳ chưa bao giờ thừa nhận xâm lược Việt Nam, mà chỉ thừa nhận tư cách "đồng minh" trong cuộc chiến tranh nội bộ giữa những người "quốc gia" và cộng sản ở Việt Nam. Vì vậy, trong đàm phán, cũng như trong các cam kết quốc tế về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Hoa Kỳ luôn cần sự đồng thuận một cách công khai của chính quyền Sài Gòn. Mà việc thúc ép chính quyền Thiệu chấp nhận dự thảo "Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam" những tháng cuối năm 1972 là sự thể hiện cụ thể.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 5070



WWW
« Trả lời #89 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2022, 08:38:03 pm »

2. Sự "lo sợ" của Nguyễn Văn Thiệu

Việc chỉ được biết thông tin về bản dự thảo và thời gian biểu cho việc ký kết Hiệp định thông qua dư luận báo chí, khiến Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra "bất phục" với Hoa Kỳ. Và "lo sợ" ký kết Hiệp định với điều khoản quy định về cuộc tổng tuyển cử trong thời điểm phần đông dân chúng miền Nam Việt Nam đang hướng lòng theo cách mạng, sẽ đồng nghĩa với việc bị mất "chiếc ghế" tổng thống. Do đó, trong thời gian từ ngày 26-10 đến ngày 7-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu cấp tốc cử ba đại sứ đi đến 12 quốc gia ở châu Á nhằm rêu rao lập trường đối với bản dự thảo Hiệp định, gián tiếp công kích Hoa Kỳ trước dư luận. Đồng thời, Nguyễn Văn Thiệu liên tục gửi công hàm cho Hoa Kỳ, nói rõ rằng: "những vấn đề cần phải giải quyết trong dự thảo Hiệp định là những vấn đề căn bản chứ không phải là những vấn đề chi tiết hay ngôn ngữ như ông Kissinger đã tuyên bố"1 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII) và đòi hỏi "Hoa Kỳ cho biết rõ về những gì Hoa Kỳ hứa hẹn với Bắc Việt theo như họ tiết lộ"2 (Tài liệu mật chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam, Hồ sơ 1231, ĐIICH, TTLTII).


Trước phản ứng quá mạnh của Nguyễn Văn Thiệu, ngày 29-10-1972, Nixon gửi thư cho Nguyễn Văn Thiệu nhằm làm giảm bớt sự công kích nhưng không có hiệu quả, trong khi dư luận ngày càng tỏ ra phản ứng mạnh trước sự tri hoãn của Nixon. Hãng UPI cho rằng Việt Nam đã đưa quả bóng sang sân của Hoa Kỳ. Hãng tin Pháp AFP nhận xét: Nixon đã bị dồn vào chân tường và buộc phải lựa chọn, hoặc ký sớm Hiệp định, bỏ rơi Thiệu, hoặc tiếp tục chiến tranh. Còn các nhân vật đối lập trong Quốc hội Hoa Kỳ đòi Nixon phải có trách nhiệm ký Hiệp định sớm, không thể để Thiệu muốn làm gì thì làm và họ cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đang thách thức lòng tự trọng của nhân dân Hoa Kỳ1 (George Aiken: Nhật ký Thượng nghị viện, Brattleboro, 1976, tr.59-60). Vì vậy, ngày 2-11-1972, để xoa dịu dư luận, Nixon tuyên bố trên truyền hình, bản dự thảo còn có những phần "mập mờ" "cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng". Đồng thời, để tỏ chứng minh với Thiệu, Hoa Kỳ không "bỏ rơi" chính quyền Sài Gòn và việc ký kết Hiệp định hoàn toàn nằm trong kế hoạch, Nixon ra lệnh cho máy bay chiến lược B.52 ném bom phía Bắc khu phi quân sự.


Ngày 7-11-1972, vượt qua các chướng ngại, Richard Nixon tái đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38. Ngay hôm sau, ngày 8-11-1972, Nixon gửi bức thư đầu tiên trong cương vị Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ răn đe Nguyễn Văn Thiệu và cũng để nói rõ kế hoạch của ông ta đối với việc ký kết Hiệp định Paris. Nội dung bức thư như sau:

"Hôm nay, sau cuộc tái đắc cử của tôi, tôi xin mở lại cuộc đối thoại giữa chúng ta về dự thảo Hiệp định để chấm dứt chiến tranh.

Trước hết, tôi phải bày tỏ sự thất vọng sâu xa của tôi về cái mà tôi xem là một sự xa cách dần dần trong mối bang giao giữa hai quốc gia chúng ta, một khuynh hướng mà chỉ có hại cho những mục tiêu chung của chúng ta và có lợi cho kẻ thù. Việc Tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu - BT) liên tục bóp méo và công kích Hiệp định là không đúng (unfair) và biểu lộ tinh thần chủ bại (self defeating). Những sự công kích này vẫn tiếp tục, mặc dù chúng tôi đã lưu ý nhiều lần, kể cả bức thư của tôi cho Tổng thống vào ngày 29-10. Những sự công kích này đã làm cho tôi ngỡ ngàng và rất lúng túng.


Trong những thơ trước của tôi cho Tổng thống và trong những lần trình bày của Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Bunker, chúng tôi đã giải thích nhiều lần tại sao chúng tôi xem dự thảo Hiệp định này là một dự thảo hiệp định đúng đắn. Chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng, nó phản ảnh những sự nhượng bộ to lớn của phía bên kia, bảo vệ độc lập của miền Nam Việt Nam và dành tương lai chính trị cho chính nhân dân miền Nam Việt Nam giải quyết. Tổng thống cũng được thông báo đầy đủ về sự tăng viện ồ ạt hiện đang diễn tiến để củng cố lực lượng VNCH trước một cuộc ngừng bắn. Tôi đã nhiều lần đưa ra những bảo đảm vững chắc đối với trường hợp Hiệp định có thể bị vi phạm. Tôi đã đề nghị gặp Tổng thống sớm ngay sau khi Hiệp định được ký kết để tiêu biểu cho sự hỗ trợ không ngừng của chúng tôi. Nơi đây, tôi sẽ không kể lại tất cả những lý lẽ giải thích và công việc đã được làm. Những công việc ấy vẫn còn có giá trị. Trong tinh thần của lá thơ này, những tố cáo một vài cộng sự viên của Tổng thống đang trở thành càng ngày càng khó hiểu.


Tuy nhiên, dù trong trường hợp nào, chúng tôi cũng quyết định đi tới trên căn bản của dự thảo Hiệp định và những sự sửa đổi mà Tướng Haig sẽ thảo luận với Tổng thống và chúng tôi quyết định đạt được từ phía Bắc Việt. Đối với những sự sửa đổi trong Hiệp định, tôi xin nói rõ nơi đây những gì chúng tôi làm được và không làm được:

- Đối với những điều khoản chính trị, chúng tôi sẽ làm yếu bớt việc dịch ra Việt văn danh từ "administrative structure" (cấu trúc hành chính) để cho thấy rõ hơn rằng Hội đồng quốc gia này (Hội đồng hòa giải quốc gia và hòa hợp dân tộc - BT) không phải là một cơ cấu chính quyền. Như Tổng thống biết, chúng tôi đã không bao giờ đồng ý việc Bắc Việt dùng danh từ "chính quyền" và chúng tôi sẽ làm hết sức để thay vào đó danh từ "hành chánh". Trong điều 9F chúng tôi sẽ cố để có được một câu để nói rõ rằng thành phần của Hội đồng này sẽ do đôi bên cử đồng nhau. Trong điều 9G, chúng tôi sẽ cố gắng giảm bớt những nhiệm vụ của Hội đồng mà hiện nay đã yếu rồi. Dù trong trường hợp nào, như chúng tôi đã giải thích cho Tổng thống nhiều lần thật rõ là Hội đồng này không có quyền hành chánh phủ.

- Đối với vấn đề lực lượng Bắc Việt tại miền Nam, chúng tôi sẽ giải quyết nó bằng hai cách. Thứ nhất, chúng tôi sẽ cố đạt được một sự triệt thoái đơn phương trên thực tế (de facto) của vài sư đoàn Bắc Việt ở vùng cực Bắc của miền Nam. Thứ hai, chúng tôi sẽ thêm vào đoạn cuối của điều 9H một lối hành văn để quy định rằng những lực lượng phải được giải ngủ trên căn bản một đổi một và họ phải trở về nơi cư ngụ của họ.

- Đối với vùng phi quân sự, chúng tôi sẽ cố đạt được trong chương 5 một lối hành văn để nói lên rằng vùng phi quân sự phải được các bên tôn trọng.

- Ở điều 15D chúng tôi sẽ nhấn mạnh vào việc hủy bỏ việc đề cập không cố ý đến "ba quốc gia Đông Dương" và thế vào đó "những quốc gia Đông Dương".

- Ngoài ra, chúng tôi sẽ cố hết sức để đạt được càng nhiều càng tốt những sự sửa đổi trong lối hành văn mà Chính phủ VNCH đã đề nghị mà thực ra có tính chất kỹ thuật.

Chúng tôi sẽ nỗ lực tối đa để ghi những sự sửa đổi này trong Hiệp định. Tuy nhiên, tôi không muốn để Tổng thống có ảo tưởng nào là chúng tôi có thể hoặc sẽ đi xa hơn những sự sửa đổi đó với mục đích cải thiện một hiệp định mà chúng tôi đã xem là rất tốt.


Đối với tôi, hình như Tổng thống có hai sự lựa chọn cốt yếu: Tổng thống có thể sử dụng sự ủng hộ của quần chúng mà những hành động vừa qua của Tổng thống đã động viên được để cho rằng đã đạt được chiến thắng quân sự mà thỏa hiệp phản ánh và đoàn kết làm việc với đồng minh mạnh nhất của Tổng thống để đem lại một chiến thắng chính trị mà những điều kiện dẫn đến mục tiêu này thật sự hiện hữu.


Tổng thống có thể lấy sáng kiến chánh trị và tâm lý bằng cách đón nhận thỏa hiệp và thi hành những điều khoản của nó một cách tích cực. Trong trường hợp này, tôi xin nhắc lại đề nghị của tôi gặp Tổng thống ngay sau khi ký kết thỏa hiệp, để nhấn mạnh sự hợp tác chặt chẽ và liên tục của chúng ta.


Sự lựa chọn khác đối với Tổng thống là tiếp tục những gì Tổng thống đang làm. Theo tôi, điều này có lợi cho đối phương và có thể có hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với hai dân tộc chúng ta và là một sự tai hại đối với Tổng thống.


Tôi xin Tổng thống nói với Đại tướng Haig liệu chúng tôi có thể xúc tiến một cách vững chắc trên căn bản này hay không. Chúng tôi đã đến chỗ mà chúng tôi cần phải biết một cách minh bạch liệu Tổng thống có hợp tác với chúng tôi trong nỗ lực mà Tướng Haig sẽ vạch ra những đường hướng chánh cho Tổng thống hay là chúng tôi phải nghĩ tới những phương thức hành động khác mà tôi tin rằng có thể sẽ tai hại cho quyền lợi hai quốc gia chúng ta.


Tôi hy vọng rằng Tổng thống và Chánh phủ VNCH sẵn sàng cộng tác với chúng tôi. Còn rất nhiều công việc chuẩn bị cần phải làm và chúng tôi tin rằng những ủy ban đặc nhiệm (task force) hỗn hợp Việt - Mỹ phải bắt đầu làm việc chung với nhau hầu chúng ta đạt được thế tốt nhất để thi hành giải pháp.


Tôi tin chắc Tổng thống đã đạt được một thắng lợi to lớn mà Hiệp định này sẽ phê chuẩn. Tôi có ý định xây dựng trên những thành quả đó. Tôi muốn được làm việc với Tổng thống và với Chánh phủ VNCH trong nhiệm kỳ thứ hai của tôi để bảo vệ tự do tại miền Nam Việt Nam trong thời bình cũng như chúng ta đã làm việc chung với nhau trong nhiệm kỳ đầu của tôi để bảo vệ nó trong thời chiến.


Trong 4 năm qua, Tổng thống và tôi đã là những đồng minh mật thiết và đồng minh quân sự. Sự liên minh giữa chúng ta đã đưa chúng ta đến chỗ mà hiện nay đối phương đang phải chấp nhận những điều kiện mà bất cứ quan sát viên khách quan nào cũng nói là không thể nào đạt được 4 năm về trước. Sự liên minh giữa chúng ta và những thành quả của nó đều dựa vào căn bản niềm tin lẫn nhau. Nếu Tổng thống tiếp tục tin tôi, chúng ta sẽ cùng nhau thành công"1 (Bản dịch thư Nixon gởi Nguyễn Văn Thiệu ngày 8-11-1972, Hồ sơ 1232, ĐIICH, TTLTII).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM