Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Giêng, 2022, 12:48:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung tướng Khuất Duy Tiến - Hành trình của người Anh hùng  (Đọc 222 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #10 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:32:34 pm »


*

*        *

Sau giải phóng miền Nam, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 điều chỉnh thế bố trí chiến lược. Các đơn vị chủ lực lui dần ra khỏi thành phố. Cơ quan Bộ Tư lệnh Quân đoàn chuyển về thị xã Thủ Dầu Một. Sư đoàn 10 đứng chân ở Phú Lợi, Sư đoàn 320 đóng quân ở căn cứ Đồng Dù. Tư lệnh Vũ Lăng một buổi cho gọi Khuất Duy Tiến lên và nói:

- Bộ Tư lệnh quyết định đưa cậu lên làm Chánh văn phòng. Ý cậu thế nào?

Khuất Duy Tiến điềm tĩnh trả lời:

- Nhiệm vụ nào cấp trên giao tôi quyết hoàn thành.

Khuất Duy Tiến trên cương vị mới nhanh chóng nắm bắt và triển khai mọi công việc ở văn phòng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3. Tháng 10 năm 1977, bọn phản động Pôn Pốt tiến hành chống phá Việt Nam điên cuồng. Chúng hô hào: “Đánh Việt Nam đến người Khơ Me cuối cùng” và xua quân vượt biên giới tấn công lấn chiếm lãnh thổ nước ta. Những người lính lại nắm chắc tay súng lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Toàn bộ Quân đoàn 3 có mặt ở biên giới Tây Ninh. Tư lệnh Kim Tuấn (thay Vũ Lăng làm Tư lệnh) lập tức đưa Khuất Duy Tiến trở lại trưởng phòng tác chiến để xây dựng các phương án đánh địch.
 
Tháng 3 năm 1978, thấy cuộc chiến đấu còn có thể kéo dài, Khuất Duy Tiến được cử đi học bổ túc ở Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) khi ông vừa nhận cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 320. Chấp hành mệnh lệnh, Khuất Duy Tiến lên đường đi học mặc dù trái tim và khối óc của ông dường như vẫn còn ở lại với đồng chí đồng đội nơi biên giới Tây Nam.

Mới nhập học được ba tháng, một hôm Tư lệnh Kim Tuấn ra Hà Nội tìm xuống Học viện gặp Khuất Duy Tiến nói:

- Tiến ơi! Sư đoàn 320 sau khi cậu đi mới gần hai tháng trời mà thương vong gần 2.000 người. Tôi đã báo cáo Quân ủy, điều cậu về làm Sư đoàn trưởng, ý cậu thế nào?

- Báo cáo anh, lúc này việc chiến đấu là cần kíp. Tôi xin chấp hành mệnh lệnh.

Trở lại chiến trường Tây Nam, Khuất Duy Tiến lập tức xuống với bộ đội, tìm hiểu, nắm bắt ngọn ngành mọi diễn biến, lắng nghe cấp dưới, bằng vào những kinh nghiệm kinh qua hai cuộc chiến tranh ông cùng với lãnh đạo Sư đoàn đã từng bước đề ra những phương án tác chiến để giảm thiếu thương vong và chủ động trên chiến trường đánh quân Pôn Pốt. Với phương châm tác chiến hiệu quả, với sự chiến đấu anh dũng kiên cường, với tinh thần giúp bạn thoát khỏi sự diệt chủng của bè lũ Pôn Pốt, những người lính quân tình nguyện Việt Nam đã bằng máu xương của mình, cứu nhân dân bạn, cứu đất nước bạn, góp phần tạo nên những trang vàng cho hai dân tộc Việt Nam-Campuchia.

Đất nước Campuchia còn nóng mùi thuốc súng thì phía Bắc quân Trung Quốc đã tràn sang nước ta. Theo mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, toàn bộ Quân đoàn 3 lập tức hành quân với đầy đủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện vận tải và thông tin liên lạc ra Bắc sẵn sàng chiến đấu. Mỗi người chiến sĩ quân đoàn lại sẵn sàng lên tuyến đầu đánh giặc. Cuộc hành quân thần tốc bằng đủ các loại phương tiện: máy bay, ô tô, tàu hỏa, đường thủy ra tập kết ở Thái Nguyên. Đây cũng là một cuộc hành quân lịch sử của quân đoàn. Sư đoàn trưởng Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm giữ chức Tham mưu trưởng quân đoàn. Với kinh nghiệm làm công tác tham mưu nhiều năm, nhất là kinh nghiệm cơ động lực lượng trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh, cơ quan quân đoàn đã làm kế hoạch một cách hết sức khoa học, sát thực tế để mọi lực lượng vận hành nhịp nhàng, không chồng chéo, không đứt quãng với lực lượng ba sư đoàn bộ binh, một lữ đoàn pháo binh, một lữ đoàn cao xạ, một lữ đoàn xe tăng với gần 100 chiếc, các cơ quan quân đoàn bộ, các phân đội hậu cần trực thuộc với cự li cuộc hành quân dài 3.000km.

Đặt chân lên mảnh đất Thái Nguyên, hàng vạn bộ đội với khối lượng trang bị kỹ thuật khổng lồ lập tức chặt tre, đốn gỗ xây dựng doanh trại, ổn định nơi ăn chốn ở, sẵn sàng nhận nhiệm vụ lên biên giới đánh giặc. Năm 1980, quân đoàn tổ chức trọng thể Lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng và Huân chương Hồ Chí Minh. Cùng thời gian này, Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn Xe tăng 273, Trung đoàn 7 Công binh lần lượt vinh dự được đón nhận danh hiệu Anh hùng.

Những năm 1981, 1982, để chuẩn bị chiến trường theo hướng A1, A2, quân đoàn đã huy động lực lượng nhân lực, vật lực mở mới và sửa chữa nâng cấp 7 tuyến đường với tổng chiều dài 285km. Tiêu biểu là tuyến đường CĐ30 từ phố chợ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang kéo đến Thiềng, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn dài 47km. Những tuyến đường người chiến sĩ Quân đoàn 3 mở vươn dài trên các triền núi, vượt qua sông sâu, vực thẳm phục vụ kịp thời các hoạt động quốc phòng và đời sống nhân dân.

Tháng 12 năm 1983, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 3.

Trên cương vị mới, xác định rõ trọng trách của mình, Khuất Duy Tiến đã cùng với tập thể Đảng ủy chấp hành nghiêm chủ trương chiến lược của cấp trên, lãnh đạo các đơn vị toàn quân đoàn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Đầu năm 1985, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên tuyến biên giới phía Bắc diễn ra quyết liệt trong đó địa bàn Quân khu 2 là một trọng điểm.

Tháng 9 năm 1985, Quân đoàn 3 được lệnh cơ động toàn bộ Sư đoàn 31 đi phối thuộc cho Quân khu 2 chiến đấu bảo vệ biên giới thay phiên phòng ngự cho Sư đoàn 313 và Sư đoàn 356 trên tuyến Vị Xuyên - Hà Giang. Sau lễ xuất quân, các khối hành quân của Sư đoàn tiến thẳng lên biên giới dưới sự chỉ huy của Sư đoàn trưởng Trần Tất Thành. Sư đoàn 31 nhanh chóng vào vị trí chiến đấu và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao.

Cũng trong thời gian này, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, Quân đoàn 3 đã điều động một tiểu đoàn xe tăng của Lữ 273 vào chiến đấu trong đội hình Bộ Tư lệnh 479 - Quân khu 7 ở Campuchia và tổ chức điều động đoàn công tác sang nước bạn Lào giúp tổ chức xây dựng Trường đào tạo hạ sĩ quan.

Trên các hướng chiến trường, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, người chiến sĩ Quân đoàn 3 luôn có mặt nơi tuyến đầu đánh giặc và thực hiện các nhiệm vụ Quốc tế.

Tháng 4 năm 1987, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng quyết định di chuyển Quân đoàn 3 vào Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1987, Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ chính thức bằng văn bản cho Quân đoàn 3 di chuyển toàn bộ đội hình vào Khu 5, thời gian hoàn thành trong năm 1988. Đứng trước bước ngoặt lớn, khối lượng công việc khổng lồ, nhiệm vụ nặng nề, hàng vạn bộ đội, hàng nghìn xe, thiết bị kỹ thuật, súng pháo lớn phải vượt qua chặng đường trên 1,500km với các loại phương tiện, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy qua 16 tỉnh thành trong điều kiện cả nước khó khăn là một thách thức lớn của cán bộ chiến sĩ Quân đoàn.

Phát huy truyền thống anh hùng, luôn biết dựa vào nhân dân, cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 3 trong cuộc hành quân lịch sử trở lại vào Tây Nguyên đã được nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hết lòng giúp đỡ. Trên dưới một lòng, Đảng bộ và chính quyền các tỉnh, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên mở rộng vòng tay đón người chiến sĩ. Những tiếng nói thân tình, ấm áp luôn vang lên: “Tây Nguyên là căn cứ vững chắc của cả nước, nên phải xây dựng Tây Nguyên vững chắc cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Quân đoàn 3 ở Tây Nguyên để cùng nhân dân các dân tộc xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng”.

Cuộc hành quân trở lại Tây Nguyên đã nâng cao thêm kinh nghiệm và bản lĩnh cho mỗi cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 3, viết tiếp truyền thống sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ khó khăn nào, thực hiện thắng lợi bất cứ mệnh lệnh nào mà cấp trên giao phó. Cuộc hành quân của toàn bộ Quân đoàn 3 từ miền Bắc vào Tây Nguyên là cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của quân đội ta trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Sau khi ổn định vị trí đóng quân cho các đơn vị trong các quân đoàn, Tư lệnh Quân đoàn Khuất Duy Tiến được điều về giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #11 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:34:33 pm »


*

*        *

Vị tướng trận chia tay Quân đoàn 3 - cái nôi nuôi dưỡng, rèn luyện ông từ một chiến sĩ Đại đội 9 - Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 48 trở thành Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320; Tư lệnh Quân đoàn 3 với bao tình cảm, nghĩa nặng tình sâu đặc biệt là với hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh trên chiến trường. Vị tướng trận như cảm thấy ý nghĩa hơn, thiêng liêng hơn trên cương vị mới.

Khi đọc những dòng Hồi ký của vị tướng trận, chúng tôi đã quá xúc động trước mẩu đối thoại ngắn của ông với Tổng Tham mưu trưởng Đoàn Khuê:

- Đồng chí về nhận công tác mới đã về qua nhà chưa? Con cái, mức sống gia đình ra sao?

Vị tướng bao nhiêu năm trận mạc trả lời:

- Thưa anh, tôi được bốn con, hai trai, hai gái, còn phải nuôi hai cháu: một cháu đại học năm thứ 2, một cháu học lớp 10. Tiền lương eo hẹp, vợ tôi phải nuôi thêm lợn, phải nấu xôi bán thêm buổi sáng, các cháu phải tranh thủ vào cơ quan xin nước vo gạo, cơm thừa, lấy cây chuối và rau nuôi lợn. Vất vả nhưng vui, các cháu ngoan, học hành tốt, gia đình êm ấm.

Gia đình người lính bao gồm cả gia đình những vị tướng lừng danh trên chiến trường của chúng ta luôn giản đị đến thắt lòng.

Tôi vẫn luôn thấy ở vị tướng trận Khuất Duy Tiến một phong thái giản dị, khiêm nhường ấy. Cấp trên của ông, đồng đội của ông cũng đều như vậy. Chính điều này đã giải thích tại sao những người lính của nhân dân Việt Nam anh hùng luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược. Họ luôn biết thu xếp thật bình dị, nhẹ nhàng, đơn sơ nhất gia đình mình, cá nhân mình, để dành toàn bộ trí tuệ, kể cả máu xương của mình cho nghĩa lớn, cho Tổ quốc non sông.

Trên cương vị Cục trưởng Cục Quân lực khi đất nước ta vẫn ở trong tình trạng “vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh”, Khuất Duy Tiến đã nhanh chóng nhập cuộc. Bằng nhũng điều đã tích lũy được trong hai cuộc kháng chiến, bằng trái tim nhiệt huyết, tầm nhìn chiến lược mới, vị tướng trận mau chóng thấy rõ một điều phải tham mưu cho Bộ Quốc phòng quyết định điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội một cách khoa học hơn, phù hợp hơn với nhiệm vụ quân sự - quốc phòng họp với khả năng đảm bảo các mặt của đất nước, trên nền tảng điều chỉnh thế bố trí chiến lược, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân. Vị tướng trận càng hiểu hơn quân đội ta phải xây dựng theo hướng chính quy hiện đại, kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, tiếp tục phát triển dân quân, tự vệ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường xây dựng lực lượng dự bị, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nền khoa học, quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thực hiện đầy đủ chính sách hậu phương quân đội. Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực của đất nước. Đây cũng là quan điểm và phương hướng lâu dài của quân đội ta.

Những đề án lớn được tiến hành khoa học, cụ thể, sát với từng nhiệm vụ. Trước mỗi đề án quan trọng mang tính chiến lược - chiến dịch, dài hạn, ngắn hạn đều được thảo luận thống nhất trong Cục và thâm nhập lấy ý kiến cơ quan Bộ, Ngành, Quân khu, Quân đoàn, Quân Binh chủng để chắt lọc và làm thí điểm trước khi báo cáo Bộ thực hiện.

Những chuyển biến lớn, phù hợp với xu thế phát triển chung trên nguyên tắc nâng cao sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong việc xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đã ngày càng ổn định vững chắc.

Kết quả, qua hai năm (1990 - 1991) vận hành cơ chế mới, Cục đã lần lượt hoàn thành các nội dung của kế hoạch giảm quân số điều chỉnh biên chế, tổ chức lực lượng vũ trang thời kì đổi mới.

Tiếp tục thực hiện phương hướng giảm quân số, chấn chỉnh tổ chức theo Quyết định của Bộ quốc phòng, trong năm 1989 đã giải thể 12 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn, 3 trung đoàn, 1 tiểu đoàn thuộc các quân khu, quân đoàn, tổng cục. Tổ chức mới và giao thêm nhiệm vụ cho các trung tâm, nhà máy sản xuất quốc phòng gắn với kinh tế; thành lập các công ty, tổng công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Thực hiện kế hoạch bảo đảm trang bị của Bộ Quốc phòng theo phương hướng: Phát huy tinh thần tự lực, tận dụng mọi tiềm năng trang bị kĩ thuật hiện có và khả năng bảo đảm của Nhà nước; từng bước cân đối đồng bộ đơn vị chủ yếu và trang bị kĩ thuật chủ yếu.

Căn cứ chủ trương trên, đã tập trung ưu tiên kiện toàn biên chế, trang bị cho các đơn vị đang làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, bảo đảm một bước cho các đơn vị dự bị động viên, kết hợp chỉ đạo tập trung các loại vũ khí, trang bị thu hồi của các đơn vị giải thể đưa vào kho những loại còn sử dụng tốt, tổ chức niêm cất, thanh lý các loại không còn sử dụng được.

Đồng thời chỉ đạo sửa chữa và sản xuất quốc phòng, tập trung mũi nhọn vào những chủng loại vũ khí trang bị quân đội đang cần mà ta có thể đảm đương được. Do đó công tác trang bị từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng động viên trong tình huống cần thiết.

Thông qua thực hiện giảm quân số, chấn chỉnh biên chế tổ chức, bộ phận chính sách kết hợp với nhóm thông tin tư liệu bước đầu đã khai thác tập hợp từ năm 1945 - 1991 được 660.000 liệt sĩ đăng ký qua máy tính điện tử, phân cấp quản lý qua các địa phương, tạo điều kiện cho khâu giải quyết chính sách.

Từng bước vượt qua trở ngại, bỡ ngỡ ban đầu (việc nhiều người ít, rối bận, sót việc...) thông qua buổi giao ban, chấn chỉnh, họp rút kinh nghiệm đã chuyển Cục thành bộ máy thuần nhất, vận hành nhịp nhàng ăn khớp, năng động, hiệu quả, nội bộ đoàn kết, nhất trí cao, phấn khởi, tin tưởng; tạo đà tiến vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VII.

Thực hiện nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về tiếp tục điều chỉnh lực lượng và thế bố trí chiến lược - kế hoạch tổ chức lực lượng từ năm 1991 - 1995. Từ đó, xác định phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang là: “Tiếp tục giảm quân số thường trực, tăng cường xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân lự vệ, thực hiện một sự cân đối mới giữa ba thứ quân, kết hợp xây dựng quân đội về chính trị, quân sự và chính quy; sắp xếp lại hệ thống nhà trường theo hướng đại học hóa đội ngũ sĩ quan và nhân viên kỹ thuật, nâng cao một bước chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Bảo đảm trang bị kỹ thuật theo hướng bảo quản và sử dụng những cái đã có; đồng thời cải tiến, mua sắm, hiện đại hóa một số phương tiện vũ khí thật cần thiết. Đổi mới một số chính sách đối với quân đội cho phù hợp với thời bình và kinh tế thị trường, nâng cao một bước đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội”.

Căn cứ vào phương hướng và đặc điểm tình hình cụ thể, Cục Quân lực triển khai có hiệu quả từng mặt công tác lớn. Trong thời gian từ 1991-1994, trên cơ sở chuẩn bị của Cục Quân lực và các Cơ quan liên quan, bước đầu soạn thảo ban hành chức danh các khối chiến đấu. Đây là một cố gắng lớn tuy còn một số chi tiết, nội dung đã ban hành chưa thật chuẩn xác, cần phải hoàn chỉnh thêm.

Do tổng quân số đã giảm tới mức tương đối ổn định, Nhà nước ban hành chính sách mới đối với quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng; đồng thời cải cách chế độ tiền lương, nên số lượng, chất lượng hạ sĩ quan chỉ huy và nhân viên chuyên môn kỹ thuật ngày một tốt hơn. Để đảm bảo chất lượng đào tạo, Bộ Quốc phòng đã bổ sung một số tiêu chuẩn về chiêu sinh, thực hiện chế độ tuyển sinh, xác định bậc học, cấp học theo quy chế đào tạo của Nhà nước; cải tiến nội dung chương trình và thời gian đào tạo trên từng cấp học, ngành học (đòi hỏi phải soạn thảo thống nhất, đồng bộ chức danh trần quân hàm hơn chức vụ trong toàn quân). Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1991, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Cục Quân lực chủ trì cùng với Cục Quân huấn tổ chức nghiên cứu thực nghiệm sư đoàn bộ binh mang vác các loại vũ khí, trang bị, vật chất trong biên chế của từng loại phân đội, từng cá nhân hành quân từ vị trí tập kết đến tuyến triển khai chiến đấu; điều chỉnh hợp lý số quân theo biên chế, bảo đảm đủ sức mang vác hết cơ số đạn dược và lượng vật chất quy định.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #12 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:35:26 pm »


Qua thời gian thực nghiệm tại Sư đoàn 325 Ọuân đoàn 2 đạt kết quả tốt. Trong hội nghị tổng kết, đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Văn Đức kết luận: “Cuộc thực nghiệm đạt kết quả rất tốt, dựa vào thực nghiệm đã xác định được quân số trang bị cho từng loại phân đội của sư đoàn bộ binh mang vác phù hợp với các loại trang bị hiện có với tầm vóc người Việt Nam”. Cục Quân lực hoàn thiện biểu biên chế “Sư đoàn bộ binh mang vác” trình bộ Tổng Tham mưu ban hành gồm: sư đoàn bộ binh mang vác thời bình, sư đoàn bộ binh mang vác thời chiến.

Ngày 3 tháng 12 năm 1991, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 495/QĐ-QP ban hành “Chế độ quản lý trang bị kỹ thuật”. Đây là văn bản do Cục Quân lực cùng các cơ quan chức năng của Tổng cục Kỹ thuật soạn thảo gồm 11 Chương 63 Điều; bổ sung hoàn thiện nhiều nội dung từ việc nghiên cứu cải tiến, thiết kế chế tạo, mua sắm, sản xuất chuyển ra khỏi biên chế và dự trữ, là văn bản thiết yếu giúp người chỉ huy, cơ quan và đơn vị thực hiện quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày một chặt chẽ hơn. Lập kế hoạch động viên là một trong những nội dung thiểt yếu của công tác động viên quân đội. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hành kế hoạch động viên, năm 1990, được sự chỉ đạo của Bộ chuyển đổi phương thức từ “các địa phương giao nguồn cho đơn vị thường trực tiếp nhận tự xếp sắp biên chế (tròn khâu), chuyển giao cho đơn vị thường trực khi có lệnh”. Phương thức này được áp dụng từ năm 1992, qua thực tế cho thấy đã rút ngắn được thời gian bàn giao và hoàn thiện biên chế đơn vị nhanh, sát với thực tế, giúp cho đơn vị thường trực nhận quân và điều chỉnh đơn vị nhanh, thuận lợi (làm cơ sở để xây dựng Pháp lệnh về Lực lượng dự bị động viên năm 1993).

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Cục Quân lực tập trung những cán bộ có năng lực và hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan chức năng các tổng cục và ban ngành Nhà nước thực hiện thành công: “Dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi bổ sung và Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên”. Được Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua là một công trình thiết yếu, là căn cứ cơ bản thực hiện nhiệm vụ, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Từ cuối năm 1991 đến cuối năm 1993, Cục Quân lực chủ trì cùng các cơ quan chức năng như: Cục Cán bộ, Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị, Cục Tài chính và cơ quan, các đơn vị liên quan xây dựng thống nhất ban hành chức danh, trần quân hàm, nhóm chức vụ trong toàn quân từ khối cơ quan Bộ, quân khu, quân đoàn, binh chủng đến các khối nghiên cứu khoa học, học viện, nhà trường, xí nghiệp, kho, trạm; làm căn cứ cho công tác lãnh đạo quản lý sắp xếp, bố trí, khai thác sử dụng cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật vào nền nếp chặt chẽ.

Căn cứ vào quyết định của Bộ, Cục Quân lực đã tiến hành chấn chỉnh tổ chức, sáp nhập điều chuyển, kiện toàn 62 đầu mối đơn vị, giải thể các tổ chức đơn vị dư thừa do nhu cầu nhiệm vụ; chuyển đổi cơ cấu tổ chức 34 đầu mối từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn và tương dương, thành lập 100 đầu mối đơn vị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình chuyển đổi chung của Nhà nước.

Sau ba năm thực hiện kế hoạch điều chỉnh tổ chức lực lượng dần hình thành rõ nét trong thực tế cơ cấu về quy mô lực lượng, cơ cấu tổ chức biên chế trang bị kỹ thuật giữa các khối (chiến đấu, bảo đảm, phục vụ, cơ quan và nhà trường) giữa lực lượng chủ lực và địa phương, giữa bộ đội thường trực và dự bị động viên... đáp ứng 5 tình huống chiến lược, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân. Bảo đảm cho nhiệm vụ huấn luyện theo hướng xây dựng quân đội thường trực cách mạng - chính quy - tinh nhuệ - từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp có chất lượng chính trị cao, có tổ chức phù hợp và chặt chẽ.

Đầu tháng 3 năm 1994, các bộ phận chuyên trách, các sĩ quan đảm nhiệm các hướng, các đầu mối đơn vị đang theo dõi tổng hợp kết quả công tác thời kỳ 1990-1995, dự thảo nội dung kế hoạch 5 năm 1996-2000 và thực hành biên soạn nội dung tổng kết 4 năm Cục Quân lực vận hành theo cơ chế mới. Không khí làm việc trong toàn Cục hăng say, đoàn kết, phấn khởi.

“Vào đầu giờ làm việc buổi chiều, Tổng Tham mưu trưởng Đào Đình Luyện gặp thông báo quyết định cử tôi về đảm nhiệm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. Sau mấy giây ban đầu tiếp nhận thông tin, tôi lập tức định hướng được đoạn đường đi tới là đoạn đường bằng phẳng sáng đẹp: về Trường Lục quân là mang khối kiến thức đã tích lũy mấy chục năm quân ngũ từ Binh nhì đến Tư lệnh quân đoàn trao lại một cách có chọn lọc cho thế hệ thanh niên kế tiếp khai thác, thu lượm đưa vào nội dung chương trình đào tạo sĩ quan tương lai cho đất nước.

Trước cử chỉ thân tình và lời nói chậm rãi mạch lạc ấm áp, trong không khí đồng cảm anh em anh Đào Đình Luyện nói:

- Từ lâu tôi với anh đã hiểu nhau, coi nhau như anh em, anh về Trường Sĩ quan Lục quân có vướng mắc gì không?

Tôi thản nhiên thưa:

- Không! Tôi được về đảm nhiệm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân là được trở lại cái nôi cách đây 40 năm đã đào luyện tôi trở thành một sĩ quan cao cấp của quân đội. Đó là đoạn đường đi tốt lành - là sự tri ân nơi đã đào luyện giáo dục tư chất người sĩ quan ban đầu cho tôi và là nơi tôi phải cống hiến hết mình, cùng những kinh nghiệm, kiến thức đã đúc kết được trên chiến trường qua 40 năm trải nghiệm cống hiến cho nhà trường - Đó cũng là đạo lý, là nghĩa cử của một quân nhân.

Anh nhìn tôi trìu mến qua đôi mắt đồng cảm thân thương và nói tiếp như đả thông:

- Đề án quy hoạch hệ thống nhà trường trong đó có Trường Sĩ quan Lục quân được cậu về vận đụng, tôi cho là hợp lý. Cần làm ngay, làm mạnh dạn; nhớ luôn điện trao đổi kết quả với mình.

Tôi bàn giao chức trách Cục trưởng cho đồng chí Thiếu tướng Dương Đàm, đang là Phó Cục trưởng đảm nhiệm khối tổ chức lại là Bí thư Đảng ủy Cục nên rất nhanh gọn, phấn chấn.

Buổi liên hoan chia tay - đó là cuộc sinh hoạt đặc biệt của tất cả cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên. Cũng là một bữa tiệc thịnh soạn của Cục trưởng mới Dương Đàm và toàn thể anh em dành cho tôi như để biểu lộ sự chia tay đầy ý nghĩa, thân thiết và những dấu ấn đọng mãi trong tim tôi cho đến hôm nay tôi xin ghi lại. Đó là những cái bắt tay run run rồi lỏng dần qua nét mặt quyến luyến xúc động, những ánh nhìn với đôi mắt sáng đầy sức sống cùng vòng tay dang rộng ôm chặt đến nghẹn thở, những nụ cười thật tươi, thật thân thiện cùng lời tạm biệt ngọt ngào, lời chúc khỏe mạnh làm thật tốt chức vụ mới, nhớ về thăm Cục, thăm anh em; giữ mối quan hệ Nhà trường và Cục thật tốt đẹp.

Qua 4 năm (3/1989-3/1994): 1.480 ngày cùng nhau góp sức, góp trí tuệ cải tiến lề lối, tác phong công tác, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Cục vận hành theo cơ chế mới, chúng ta đã vượt qua mọi trở ngại lần lượt hoàn thành các nhiệm vụ đạt chất lượng hiệu quả; trên chặng đường sát kề vai, gừng cay, muối mặn, ngọt bùi ấm lạnh có nhau. Đã kết thành mối tình thủy chung trong sáng đẹp đẽ - tình đồng chí anh em. Xin giữ lấy những kỷ niệm đẹp về tình đồng chí, đồng đội.”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #13 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:38:09 pm »


*

*        *

Tháng 3 năm 1994, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1.

Vị tướng trận trở về với ngôi nhà từng đào luyện ông từ người chiến sĩ trở thành sĩ quan cao cấp của quân đội. Trở về mái trường mà từ đó, đồng chí đồng đội ông lớp lớp nối nhau vào chiến trường đánh giặc khắp các miền Nam - Trung - Bắc, nhiều người đã mãi mãi không trở về nơi họ từng học tập, rèn luyện. Trở về mái trường, cũng là nơi quê hương ông từng một thời đói rét, từng những buổi đầu theo cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ. Trở về mái trường là nơi vị tướng trận từng ở đó khi tóc còn xanh nay đã dần bạc trắng. Những cảm xúc thật khó nói hết nên lời.

Về đảm trách Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 là đoạn đường cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của vị tướng trận - là đoạn đường sáng đẹp được mang những kiến thức, kỹ năng quân sự đã trải qua 50 năm quân ngũ từ một chiến binh trở thành một Tư lệnh quân đoàn, đúc kết, sàng lọc kỹ càng, đóng góp với nhà trường đào tạo đội ngũ sĩ quan tương lai cho Tổ quốc ngàn lần yêu quý là một vinh dự, một đặc ân của quân đội dành cho vị tướng trận và cũng là đền ơn trả nghĩa nhà trường lục quân đã đào tạo ông trở thành một sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức chỉ huy, quản lý, lãnh đạo các quân nhân dưới quyền, nhất là các thế hệ học viên, sĩ quan trẻ hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trong tình hình mới.

Vị tướng trận - vị hiệu trưởng khả kính giàu thực tiễn chiến trường luôn vô cùng bình dị, bằng trí tuệ và niềm tin lớn đã có những cống hiến đáng ghi nhận trên cương vị mới.

Trong hồi ký Ký ức đời binh nghiệp, vị tướng trận nhớ lại:

“Tôi từ Cục Quân lực về Trường Sĩ quan Lục quân 1 vào cuối tháng 3 năm 1994. Người tiếp tôi đầu tiên là anh Trần Tất Thanh - Thiếu tướng - Phó Hiệu trưởng về quân sự (nguyên là Tư lệnh Quân đoàn 3) và anh Lương Văn Cửu - Đại tá - Bí thư Đảng ủy - Phó Hiệu trưởng về chính trị (nguyên là Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2). Tôi và anh Thanh đã từng gắn bó với nhau từ chiến trường Tây Nguyên những năm chiến tranh và thời kỳ xây dựng Quân đoàn 3 đến đầu năm 1989 mới tạm chia tay nay lại cùng nhau về xây dựng Trường Sĩ quan Lục quân - mối duyên thiên định đẹp thay. Riêng với anh Cửu từ cái bắt tay thật chặt, nét mặt hồ hởi cùng lời nói đầu tiên: “Bọn tôi được thông báo trước gần một tháng, nay anh về rất kịp thời đón Nghị quyết 93 Đảng ủy Quân sự Trung ương. Còn anh Ân đang bị tai biến nhẹ phải điều trị ở Viện Quân y 108 có lẽ còn một thời gian nữa mới ra viện được”.

Tiếp đến, anh giới thiệu tóm lược về tình hình nhiệm vụ; tổ chức biên chế, kết quả thực hiện Nghị quyết số 115 của Thường vụ Đảng ủy Ọuân sự Trung ương và một số nội dung chính chuẩn bị cho năm học 1994-1995 và đưa cho tôi tập tài liệu về các nghị quyết của Đảng, kế hoạch công tác huấn luyện đào tạo của Trường Sĩ quan Lục quân. Qua nét mặt cương nghị, giọng nói ấm áp, thái độ bình tĩnh, thuyết trình gọn rõ, đôi mắt sáng, thân thiện, anh nhấn mạnh những nội dung chính, những việc phải làm ngay chứng tỏ anh nắm rất chắc nhiệm vụ và kế hoạch xây dựng nhà trường.

Cuộc gặp đầu tiên gây cho tôi ấn tượng đẹp đó là tôi sẽ có một chính ủy tin cậy.

Nhân hội nghị bàn giao, anh Cửu, anh Thanh giới thiệu tôi làm quen với các cán bộ đầu ngành toàn trường và thông báo lịch tiếp xúc của hiệu trưởng mới với các đơn vị.

Xếp sắp thời gian, tôi làm việc với các phòng chức năng, các khoa giáo viên, các tiểu đoàn quản lý học viên, tiểu đoàn phục vụ huấn luyện tìm hiếu chức trách nhiệm vụ, nội dung công tác, đội ngũ cán bộ, nhân viên được biên chế... Tôi tham dự các buổi hội thảo khoa học, các buổi giảng thử của giáo viên trên giảng đường, đến các bãi tập, thao trường xe dự giờ giảng của giáo viên và tiếp thu của học viên về chiến thuật, kỹ thuật bộ binh, binh chủng, điều lệnh thể dục, thể thao cũng như một số bài về chính trị... Đồng thời tôi tranh thủ đọc các loại văn kiện của Đảng và chính quyền nói về nhiệm vụ công tác của nhà trường; cùng Ban quản lý công trình và Phòng Hậu cần kiểm tra kế hoạch, tiến độ thi công và chất lượng các loại công trình đã và đang xây dựng trên năm hạng mục được Bộ Quốc phòng đầu tư trong hai giai đoạn (1991-1996 và 1997-2000) gồm: khu nhà ở cho cán bộ, giáo viên, học viên; giảng đường, phòng học; kho tàng; trạm xá quân y; công trình văn hóa và hệ thống thao trường bãi tập theo yêu cầu mới; công tác bảo đảm đời sống của cơ quan hậu cần nhà trường.

Do có thời gian tiếp xúc với các đối tượng sâu, kỹ, lại được anh Thanh, anh Cửu hướng dẫn, thuyết trình rõ ràng nên những nội dung chính tôi hiểu sâu, nắm tương đối chắc. Do vậy khi anh Nguyễn Ân đi chữa bệnh về, công tác bàn giao được tiến hành rất nhanh gọn.

Sau hội nghị bàn giao nhiệm vụ giữa đồng chí Trung tướng Nguyễn Ân và tôi, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Chúng tôi tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương với nội dung cơ bản đó là: Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy nhằm mục tiêu đại học hóa trình độ học vấn của đội ngũ sĩ quan và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên chuyên môn kỹ thuật làm cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện sự chuyển tiếp với thế hệ cán bộ, đáp ứng vững chắc nhu cầu về chất lượng và số lượng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật các cấp, các ngành... làm nòng cốt xây dựng quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Để thực hiện theo phương hướng trên, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã xác định những chủ trương lớn về hoàn thiện chương trình đào tạo, tiếp tục chấn chỉnh hệ thống nhà trường, đẩy mạnh xây dựng nhà trường chính quy, từng bước hiện đại; tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo; kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tạo nguồn, mở rộng liên kết với các trường quân đội, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất đào tạo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #14 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:39:25 pm »


Đối với nhà trường từ năm học 1994-1995 trở đi, thực hiện chuyển đổi bậc đào tạo từ đào tạo sĩ quan 3 năm sang đào tạo hệ cao đẳng quân sự thời gian 4 năm và chuấn bị mọi mặt để từ năm 1996 (theo kế hoạch) chuyển sang đào tạo đại học.

Theo sự chỉ đạo của Bộ, từ khóa 59-60-61, Nhà trường đào tạo chương trình cao đẳng quân sự thời gian 4 năm. Các khóa đào tạo thống nhất được đào tạo theo chương trình đại học đại cương thời gian một năm rưỡi. Đồng thời nhà trường tiến hành tổ chức học tại chức để có mặt bằng kiến thức đại học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên toàn trường.

Về tổ chức biên chế nhà trường gồm:

- Ban giám hiệu gồm tôi (Khuất Duy Tiến) - Hiệu trưởng.

- Bí thư Đảng ủy - Phó Hiệu trưởng chính trị: anh Lương Văn Cửu.

- Phó Hiệu trưởng quân sự: các anh Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Hữu Mão.

- Sáu phòng chức năng: Huấn luyện, Chính trị, Khoa học công nghệ và môi trường, Kỹ thuật, Hậu cần, Hành chính. Hai ban: Ban quản lý công trình và Ban tài chính. Tám khoa giáo viên: Chiến thuật, Khoa học xã hội, Trinh sát, Bắn súng, Binh chủng, Quân sự chung, Thể thao, Cơ bản, Ngoại ngữ và hai khoa biệt phái (Giáo dục quốc phòng - Đại học Sư phạm ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

- 11 tiểu đoàn gồm: 1, 4, 5, 6, 7 đào tạo dài hạn, các tiểu đoàn 3, 8, 11, 12 quản lý học viên đào tạo những vấn đề cơ bản của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội của 10 trường sĩ quan, học viện phía Bắc. Tiểu đoàn 9 quản lý học viên quốc tế. Tiểu đoàn 10 quản lý hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ công tác huấn luyện của nhà trường.

Quản lý chặt chẽ, tiếp tục hoàn thành xây dựng cơ bản và các mặt bảo đảm phương tiện dạy và cần thiết nhằm đưa Trường Sĩ quan Lục quân 1 có cơ sở vật chất tương đối khang trang, môi trường chính quy lành mạnh với vị trí trung tâm đào tạo sĩ quan binh chủng hợp thành cấp phân đội ở khu vực phía Bắc.

Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình, nội dung giáo dục - đào tạo chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn một đào tạo kiến thức đại học đại cương; giai đoạn hai đào tạo học chuyên ngành. Các nội dung kiến thức đại học đại cương một mặt phải thể hiện sự hòa nhập với hệ thống giáo dục đại học quốc gia, đồng thời phải phù hợp với mục tiêu đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội của nhà trường. Phần kiến thức các môn khoa học xã hội - nhân văn nhất thiết phải do Tổng cục Chính trị chỉ đạo nội dung và do giảng viên chính trị nhà trường đảm nhiệm. Các bộ môn kiến thức cơ bản trong chương trình kiến thức đại học đại cương, nhà trường thực hiện liên kết đào tạo với Viện Đại học Mở, Đại học Quốc gia Hà Nội; do Viện Đại học Mở cấp chứng chỉ. Chương trình nội dung chuyên ngành với thời gian 2 năm rưỡi sẽ được nghiên cứu và cụ thể hóa do nhà trường tổ chức đào tạo.

Đầu năm học 1994-1995 nhà trường xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, chuẩn bị đầy đủ các yếu tố và có kế hoạch bồi dưỡng tại chức để nâng cao trình độ đại học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường kết hợp với việc gửi đi học ở các trường, phấn đấu trong hai năm đạt tỷ lệ 60% cán bộ giảng viên có trình độ đại học.

Phát huy kết quả đạt được của năm học, toàn trường tập trung vào lãnh đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng nền nếp chính quy trong giai đoạn mới với mục tiêu từ thấp đến cao, quy định trách nhiệm, chỉ đạo xây dựng điển hình và nhân điển hình; kết hợp xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật với xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện... toàn trường đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Tháng 6-1995, nhà trường quyết định tái thành lập Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 9. Tháng 7 năm 1996 nhà trường ra quyết định tách khoa Khoa học xã hội thành khoa Lý luận Mác-Lênin và khoa Công tác đảng, công tác chính trị.

Nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ là vấn đề có ý nghĩa then chốt để nhà trường đảm đương được nhiệm vụ đào tạo bậc đại học. Nhà trường đã thực hiện liên kết với Viện Đại học Mở, Đại học Quốc gia Hà Nội mở các lớp đào tạo đại học đại cương. Ngày 20 tháng 10 năm 1994, khai giảng khóa 1 gồm 175 học viên; ngày 25 tháng 10 năm 1995 khai giảng khóa 2 gồm 170 học viên. Cùng với việc mở lớp đào tạo chứng chỉ đại học đại cương, nhà trường còn cử hàng chục cán bộ đi hoàn thiện đại học ở các học viện, các cơ sở của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Học viện Chính trị quân sự và Học viện Quốc phòng, nhà trường đã mở các lớp bồi dưỡng kiến thức các môn triểt học, phương pháp luận nghiên cứu khoa học và phương pháp giảng dạy đại học, các lớp học ngoại ngữ để cấp chứng chỉ cho đội ngũ giáo viên (để giúp nhà trường quản lý, chỉ đạo học tại chức của cán bộ - Ban quản lý cán bộ học tại chức được thành lập trực thuộc Phòng Đào tạo).

Sau hai năm tích cực chuẩn bị, từ năm 1996 trở đi, nhà trường đã cử hàng chục cán bộ, giảng viên đi đào tạo cao học, nghiên cứu sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #15 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:40:38 pm »


Từ năm học 1995-1996, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, để thực hiện một bước hòa nhập với hệ thống giáo dục quốc gia, chương trình, nội dung các môn khoa học xã hội và nhân văn được xây dựng trong đó có nhiều bộ môn mới chưa được nghiên cứu giảng dạy trong các nhà trường quân đội như: Chính trị học, xã hội học, các nguyên lý kinh tế, tâm lý giáo dục đại cương, lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng kinh tế... Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh được Tổng cục Chính trị chỉ đạo đưa vào giảng dạy. Chương trình nội dung trên là khó khăn không nhỏ đối với đội ngũ giảng viên của nhà trường. Mặt khác do cùng một thời gian triển khai nhiều lớp đại học đại cương cho học viên có lúc trên 3.000 người. Vì vậy, đội ngũ giảng viên nhất là giáo viên chính trị không đủ lực lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Để khắc phục khó khăn đó, Ban giám hiệu, cơ quan chính trị, Đảng ủy và các chi bộ khoa học xã hội đã kịp thời huy động mọi người nêu cao ý thức trách nhiệm, nỗ lực cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Về mặt tổ chức, Ban giám hiệu nhà trường cử giảng viên đi dự lớp tập huấn ngắn hạn về các môn học do Tổng cục Chính trị mở; mặt khác liên hệ với các trường đại học ngoài quân đội để nghiên cứu chương trình, nội dung, tài liệu giảng dạy. Đảng ủy và chỉ huy các khoa chủ động sắp xếp hợp lý khâu tự nghiên cứu, tự học, tổ chức lại lực lượng giảng viên các môn. Thực hiện chủ trương của Bộ, khoa Khoa học xã hội đã chủ động liên hệ hiệp đồng với các học viện, trường sĩ quan khu vực phía Bắc cử giáo viên đi đến Trường Sĩ quan Lục quân 1 tham gia giảng dạy và phối hợp chặt chẽ với cơ quan giáo vụ triển khai chương trình giảng dạy hợp lý...

Có thể nói trong lịch sử giảng dạy các môn khoa học xã hội - nhân văn của nhà trường chưa bao giờ phải triển khai các nội dung và thời gian dạy nhiều như vậy. Song nhờ làm tốt công tác tư tưởng và tổ chức thực hiện khoa học nên nhà trường đã từng bước giải quyết sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên, giữ vững định hướng chính trị và bảo đảm chất lượng dạy học.

Đối với các môn toán, lý, hóa, tin học, ngoại ngữ, thời gian đầu nhà trường liên kết với Viện Đại học Mở bảo đảm đủ giáo viên giảng dạy. Đồng thời nhà trường chủ trương củng cố tổ chức khoa cơ bản ngoại ngữ; xin trên bổ sung đội ngũ giảng viên; cử người đi đào tạo sau đại học, lấy bằng tiếng Anh... tổ chức chỉ đạo bám lớp, rút kinh nghiệm tại chỗ.

Nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Ban giám hiệu nhà trường, sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giảng viên, từng bước nhà trường chúng tôi đã đáp ứng được nhiệm vụ dạy và học.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục - huấn luyện trong giai đoạn đào tạo chuyên ngành, Thường vụ Đảng ủy - Ban giám hiệu chỉ đạo chặt chẽ về xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về chuyên ngành, bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn cao; trên cơ sở bám sát mục tiêu yêu cầu đào tạo, các khối kiến thức cơ sở và chuyên ngành bước đầu bố trí tương đối hợp lý. Đối với chương trình, nội dung đào tạo chuyên ngành tuy không hoàn toàn mới nhưng đây là lần đầu tiên được thiết kế theo chương trình, nội dung đào tạo đại học. Vì vậy, nhà trường chủ trương trong quá trình tổ chức giảng dạy, có thể và cần phải tiếp tục bổ sung, điều chỉnh cho phù họp với mục tiêu yêu cầu - đào tạo bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu.

Quán triệt Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương; xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trường Sĩ quan Lục quân 1; nhận thức vị trí tầm quan trọng về phương hướng mục tiêu đào tạo sĩ quan thế kỷ XXI phải có học vấn đại học, trên đại học và khả năng về kiến thức quân sự, hiểu biết tinh thông nghệ thuật quân sự trong điều kiện chiến tranh mới; khai thác, quản lý sử dụng các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại có hiệu quả; có trình độ tổ chức, chỉ huy, quản lý lãnh đạo những quân nhân thuộc quyền có giác ngộ chính trị cao, có trình độ văn hóa, kiến thức quân sự tiên tiến; nhằm xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại; bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Đảng ủy - Ban giám hiệu quyết định thành lập Ban biên tập do tôi (Khuất Duy Tiến) làm trưởng ban, đồng chí Trưởng (phó) phòng các phòng: Đào tạo, Khoa học, Chính trị, Kỹ thuật, Hậu cần, Hành chính và Trưởng (phó) khoa Chiến thuật, Bắn súng, Binh chủng, Quân sự chung, Khoa học xã hội, Trinh sát, Cơ bản ngoại ngữ; cùng các ban: Kế hoạch huấn luyện, Tuyển sinh, Cán bộ, Quân lực. Ban biên tập thực hiện nhiệm vụ biên soạn đề tài cấp Bộ về: “Tạo nguồn, tuyển chọn, tổ chức quá trình đào tạo đại học quân sự sĩ quan lục quân cấp phân đội”. Đề tài đề cập những vấn đề có tính nguyên tắc về phương pháp tổ chức, quản lý, điều hành theo quy trình hình thành nhân cách sĩ quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan lục quân. Từ đó xác định những giải pháp cơ bản trong thực hiện tạo nguồn nâng cao chất lượng đào tạo. Đề tài đã được Hội đồng khoa học Bộ Ọuốc phòng đánh giá nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc.

Đồng thời khâu bảo đảm vật chất huấn luyện có bước phát triển; hệ thống giảng đường được xây dựng mới và trang bị tương đối hiện đại, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy học các môn ngoại ngữ, tin học. Thư viện nhà trường được củng cố nâng cấp về tổ chức biên chế, và đầu tư cơ sở vật chất các loại tài liệu, đầu sách nghiên cứu, hệ thống tài liệu các bộ môn khoa học cơ bản bảo đảm 2 học viên/1 bộ tài liệu. Nhờ quản lý lãnh đạo chặt chẽ và đầu tư kinh phí đúng hướng, tiết kiệm hợp lý, hiệu quả, từ năm 1995 được sự tăng cường đầu tư của trên, cơ sở vật chất, vũ khí trang bị kỹ thuật của nhà trường từng bước được nâng cấp và trang bị mới phục vụ huấn luyện và sinh hoạt của nhà trường; cùng với một số sáng kiến cải tiến kỹ thuật được ứng dụng trực tiếp cho huấn luyện như máy ép thuốc nổ, hệ thống đèn chiếu sáng... góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện.

Do chuẩn bị đầy đủ mọi mặt của nhà trường từ khâu tạo nguồn, tuyển chọn đến sắp xếp nội dung, chương trình đến đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất dạy và học, ngày 11 tháng 7 năm 1995, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định công nhận trình độ đào tạo cao đẳng cho Trường Sĩ quan Lục quân 1.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #16 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:41:20 pm »


Ngày 11 tháng 9 năm 1995, đại biểu cơ quan Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo về dự khai giảng khóa 62 - khóa cử nhân quân sự đầu tiên của Trường Sĩ quan Lục quân 1.

Mục tiêu đào tạo khóa 62 được xác định: “Đào tạo những hạ sĩ quan đã tốt nghiệp tiểu đội trưởng và tương đương có đủ tiêu chuẩn trở thành sĩ quan chỉ huy phân đội bộ binh, bộ binh cơ giới, trinh sát và hỏa khí; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất, đạo đức trong sáng, có kiến thức đại học quân sự, có năng lực toàn diện trong lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện, quản lý bộ đội, sức khỏe tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Học viên tốt nghiệp đảm nhiệm chức vụ ban đầu là trung đội trưởng, phát triển lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó và các chức vụ tương đương, có tiềm năng phát triển lâu dài”.

Nhà trường lãnh đạo chặt chẽ nhiệm vụ giáo dục - huấn luyện; đồng thời đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa - xã hội, môi trường văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người học. Động viên kịp thời cán bộ, giảng viên, học viên phát huy trách nhiệm, vượt qua khó khăn nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện.

Tăng cường công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, năm 1995, Đảng ủy nhà trường ra nghị quyết về “Quy trình phát triển Đảng ở Trường Sĩ quan Lục quân 1” với đề tài cấp Bộ: “Phát triển và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đảng viên trong quá trình đào tạo cán bộ ở các trường sĩ quan quân đội” được Hội đồng khoa học Tổng cục Chính trị đánh giá nghiệm thu đạt kết quả khá. Qua tổng kết phát triển đảng viên của Trường Sĩ quan Lục quân 1 từ 1986-1997 đã kết nạp được 3.916 đảng viên.

Tháng 4 năm 1996, Đại hội Đảng bộ nhà trường nhiệm kỳ XII (1996-2000) đã xác định 5 nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường:

1. Đào tạo sĩ quan phân đội có trình độ học vấn đại học từ năm 1997, đào tạo hoàn thiện tiểu đoàn trưởng, đồng thời hoàn thành tốt các khóa đào tạo cao đẳng, đào tạo giáo viên quân sự, đào tạo cán bộ cho bạn Lào.

2. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên đủ về số lượng, có chất lượng đáp ứng nhiệm vụ phát triển mới, trọng tâm là nâng cao trình độ học vấn đại học và trên đại học.

3. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ và xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện.

4. Hoàn thành tốt công tác xây dựng cơ bản theo kế hoạch là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm.

5. Xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện, trở thành trận địa vững chắc để phòng, chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng nhà trường chính quy, phấn đấu nhà trường đi trước đơn vị một bước và làm mẫu cho đơn vị xây dựng chính quy, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đột xuất trên giao.

Mục tiêu phấn đấu là:

- Khẩn trương hoàn thành quy trình đào tạo sĩ quan cấp phân đội có trình độ học vấn đại học, chuẩn bị mọi mặt để năm 1997 triển khai: hoàn thiện khóa tiểu đoàn trưởng. Kết thúc thắng lợi các khóa học 59, 60, 61, 62, sĩ quan ra trường có phẩm chất, năng lực toàn diện, làm tốt chức vụ ban đầu. Phấn đấu 60% tốt nghiệp loại khá; 1-2% tốt nghiệp loại giỏi.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ số lượng theo biên chế, có dự trữ; phấn đấu đến năm 1998 có từ 70% trở lên cán bộ, giảng viên có trình độ đại học; 10-12% đạt trình độ trên đại học.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong huấn luyện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ. Đưa hoạt động thi giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi thành nền nếp thống nhất.

- Hàng năm có 65% trở lên Đảng bộ, chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, 70-80% đảng viên đủ tư cách mức 1, không có Đảng bộ yếu, chi bộ kém; 65% trở lên đơn vị đạt mức an toàn tuyệt đối, không có đơn vị mất an toàn, giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật.

- Thường xuyên ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

- Hoàn thành xây dựng cơ bản theo đúng kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Trong những năm trước mắt phải kiện toàn đội ngũ giảng viên, trọng tâm là giáo viên quân sự, tiếp đến là đội ngũ cán bộ Phòng Huấn luyện, Phòng Khoa học công nghệ và môi trường, Phòng Chính trị có đủ trình độ học vấn theo yêu cầu nhiệm vụ; số còn lại của đội ngũ cán bộ từng bước giải quyết theo kế hoạch hàng năm.

Kết quả đào tạo: Từ năm 1994 đến 1997, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã đào tạo được 279 sĩ quan chỉ huy cấp phân đội (khóa 58) và 1.101 sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành bậc cao đẳng (khóa 59 và khóa 60), 1.759 học viên đào tạo thống nhất, 16 sĩ quan trinh sát, 12 giáo viên chiến thuật, 63 học viên Quân đội nhân dân Lào anh em.

Tháng 10 năm 1997, tôi nhận quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê nghỉ hưu, bàn giao vị trí Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 cho Thiếu tướng Nguyễn Khắc Viện. Lễ bàn giao diễn ra nhanh gọn, đầy đủ các thủ tục và nội dung.

Song cuộc chia tay với tập thể Trường Sĩ quan Lục quân 1 thân yêu còn kéo dài hơn một tuần và cho tới ngày hôm nay khi tôi viết dòng hồi ức này vẫn ẩn chứa trong lòng tôi những nét sáng - đẹp không thể phai mờ của đại gia đình Trường Sĩ quan Lục quân đã dang rộng vòng tay ôm chặt tôi; tiếp sức cho tôi, chia sẻ niềm vui cùng tôi, cổ vũ tôi vượt qua thử thách, hoàn thành nhiệm vụ mà quân đội giao cho.

1.305 ngày đêm phấn đấu hăng say để đưa đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường lên 100% bậc đại học và từng bước nâng tỷ lệ từ 5-7% đến 10-15% trên đại học, xây dựng đội ngũ giáo viên của Nhà trường có đủ trình độ tổng kết những thành tựu của các khóa đào tạo qua 50 năm phấn đấu xây dựng nhà trường Sĩ quan Lục quân 1.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #17 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2022, 01:43:39 pm »


*

*        *

Trung tướng Khuất Duy Tiến, người con của quê hương Đại Đồng từ những buổi đầu theo cách mạng, trải qua các cuộc chiến tranh, trải qua các cương vị công tác, tôi luyện, đều luôn sáng rõ một phẩm chất trung trinh với Đảng, với Bác Hồ, với nhân dân và Tổ quốc. Ở ông luôn phảng phất phong thái của kẻ sĩ buổi đất nước liên miên giặc giã đã cùng với nhân dân mình, đồng chí đồng đội đi một mạch cùng đất nước trên những chặng đường vô cùng gian khổ, hi sinh.

Trung tướng Khuất Duy Tiến, người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành cùng với sự trưởng thành của quân đội ta, góp phần tô thắm lá cờ quyết chiến quyết thắng của người chiến sĩ.

Nói về nguyên nhân làm nên những chiến thắng của quân đội ta trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung tướng Khuất Duy Tiến cho rằng, điều căn bản nhất là tinh thần chiến đấu dũng cảm, không ngại gian khổ, khó khăn, ý chí quyết chiến quyết thắng của các chiến sĩ bộ đội. Bên cạnh đó còn là nghệ thuật quân sự sáng tạo, linh hoạt của các cấp chỉ huy với cách bày trận sáng tạo, biết phân tích thế trận giữa ta và địch... Đó là sự kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta, là sự sáng tạo của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của Đảng, Bác Hồ, giúp quân đội làm nên những chiến thắng vẻ vang, tô thắm thêm lịch sử hào hùng của dân tộc và mãi là niềm tự hào của các thế hệ đời sau.

Xin trích những dòng tâm sự trong Lời kết cuốn hồi ký Ký ức đời binh nghiệp trước khi khép lại bài viết về chân dung vị tướng trận mà tôi luôn yêu kính.

“Trong suốt chặng đường hơn nửa thế kỷ làm cách mạng, với tôi có biết bao ký ức vui buồn cuộc đời binh nghiệp.

Tôi không thể nào quên cuộc sống cơ cực lầm than của người dân xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất quê tôi, phải sống dưới gót giày thực dân, phong kiến. Tôi tận mắt chứng kiến cảnh hơn 400 người dân của xã Đại Đồng chết đói năm 1945. Trong số ấy, có hai người chú ruột của tôi cũng chết tất tưởi vì đói. Ông nội tôi mất đang độ tuổi 30 cùng với bảy người em ruột của tôi cũng chết vì ốm đau và thiếu đói, nhà quá nghèo không có tiền mua thuốc, từng người cứ tuột khỏi tay người thân... Những ký ức đau thương ấy còn đeo đẳng tôi suốt cuộc đời.

Khi tôi trưởng thành, mỗi lần nhìn lại cuộc đời, tôi thấy mình mang ơn nhiều người. Nhưng ơn cao nhất là bố mẹ đã sinh thành ra tôi. Suốt đời bố mẹ tôi vất vả, ảo rách không kịp vá, chạy bữa sáng lo bữa tối, quanh năm nợ, nợ chất chồng. Tôi chịu ơn bố vì ông là người luôn động viên tôi phải học từ chữ nho đến chữ quốc ngữ. Ông đã vạch đường, chỉ hướng, luyện rèn chí khí cho tôi từ thuở ấu thơ. Người thứ hai tôi mang ơn là ông đồ Dậu (ông Định Quang Tạo) đã dạy tôi 7 năm liên tục chữ nho. Rồi đến thầy giáo Hào (ông Khuất Hữu Hào) dạy chữ quốc ngữ. Tôi đã đỗ bằng “Sơ học yếu lược”. Các ông đã coi tôi như con đẻ, dạy tôi biết chữ, và điều trọng yếu là cho tôi kiến thức và biết lẽ sống làm người.

Rồi những ngày tôi tham gia cách mạng ở địa phương, bị địch bắt tù đày trong nhà tù đế quốc, chịu bao cực hình tra tấn dã man. Tôi cùng mấy người bạn tù vượt ngục để trở về cùng các đồng chí tiếp tục hoạt động. Tháng 9 năm 1950 tôi vào bộ đội ở Trung đoàn 48 Đại đoàn 320, chiến đấu liên tục ở Sơn Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định và Thái Bình. Trong cuộc đời binh nghiệp, tôi may mắn được sống và chiến đấu dưới quyền của Đại tướng Văn Tiến Dũng - Đại đoàn trưởng những năm đầu đại đoàn thành lập. Tôi học được ở ông tác phong chỉ huy đã nổ súng là thọc sâu đánh chiếm sở chỉ huy địch làm cho chúng nhanh chóng tan rã. Tôi học được ở Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Kim Tuấn - người chỉ huy quả cảm, sáng tạo, bản lĩnh chỉ huy kiên quyết cả khi đơn vị gặp tình huống khó khăn hiểm nghèo.

Trong chống Mỹ cứu nước, tôi may mắn được làm việc dưới quyền tướng Vũ Lăng. Tôi học được ở ông sự quyết đoán, tác phong sâu sát và sự mưu lược trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975. Tôi cũng học được ở tướng Đặng Vũ Hiệp về nghệ thuật tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhất là công tác tư tưởng, công tác tổ chức và xây dựng quyết tâm chiến đấu... Tẩt cả những phẩm chất, kinh nghiệm và bản lĩnh của các bậc thầy đi trước giúp tôi khi ở cương vị Tư lệnh Quân đoàn 3, nhất là khi làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, tôi đã vận dụng vào việc lãnh đạo, chỉ huy và truyền thụ cho những sĩ quan tương lai.

Tôi và Vân lấy nhau sinh được 6 người con, mất hai - một trai Khuất Sơn Hải (cháu mất lúc 5 tuổi) và gái Khuất Hải Yến (cháu mất khi 17 tuổi). Còn lại bốn người con, các cháu học hành đến nơi, đến chốn, trưởng thành trên các cương vị công tác của mình: con trai trưởng Khuất Việt Dũng - Trung tướng, Tiến sĩ, Chính ủy Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng; cháu gái Khuất Thu Hồng - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội; cháu gái Khuất Hải Oanh - Thạc sĩ, Bác sĩ, Giám đốc Trung tâm Phát triển xã hội và con trai út Khuất Việt Hùng - Tiến sĩ, Phó Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia.

Suốt những năm thảng chiến tranh: một mình - một bóng một đèn, thắt lưng buộc bụng nuôi dạy con khôn lớn nên người; chăm lo cha mẹ khuôn xếp gia đình nội ngoại trong ấm ngoài êm, để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Cuộc đời và sự nghiệp của tôi; hạnh phúc gia đình tôi, bà là người vun trồng xây đắp ân nghĩa vợ chồng thật là to lớn nói sao cho hết.

Trong cuộc trường chinh gian khổ hơn 50 năm đã qua, nhớ làm sao hết, ghi làm sao đầy đủ được vì vậy có sự kiện nào chưa đúng, tên ai đó còn nhầm tôi mong được lượng thứ! Cuốn sách nhỏ này, trước hết xin được dâng lên cha mẹ kính yêu đã sinh thành, dưỡng dục tôi nên người. Tôi cũng gửi tới những bậc thầy, và các anh hùng, liệt sĩ đã dâng hiến cả cuộc đời vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tôi gửi tới đồng đội, những người đã từng sát cánh chiến đấu cùng tôi trên các chiến trường trong nước và nước bạn. Giờ đây, tôi thấy mình thực sự thanh thản và tự hào, vì đã sống, chiến đấu, vì cả cuộc đời đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ”


Hành trình của vị tướng anh hùng quê hương Đại Đồng - Thạch Thất luôn đúng như lời một bài thơ của Hồ Chủ tịch:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công”.


Viết về hành trình của vị tướng trận - Trung tướng Khuất Duy Tiến, về thế hệ của các vị tướng từng trải qua các cuộc chiến tranh, luôn cho chúng tôi, thế hệ trẻ niềm tin và lẽ sống ở đời, niềm tin và lẽ sống để bước tiếp chặng đường mà cha anh mình đã và đang bước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #18 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2022, 12:53:17 pm »


PHẦN PHỤ LỤC

ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG - VỊ TƯỚNG TỔ CHỨC THỰC HÀNH CHIẾN LƯỢC XUẤT SẮC

Trong câu chuyện với Trung tướng Khuất Duy Tiến, ông nhiều lần nhắc tới Đại tướng Văn Tiến Dũng, một trong những tướng lĩnh xuất sắc nhất của quân đội ta, vị tướng được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương phân công làm Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nói đến Đại tướng Văn Tiến Dũng, Trung tướng Khuất Duy Tiến sôi nổi hẳn. Ông như ngược trở về cái thời còn là Trưởng phòng Tác chiến mặt trận Tây Nguyên cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh xây dựng phương án báo cáo Đại tướng kế hoạch đánh đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột. Đại tướng với tầm nhìn chiến lược sâu sắc nhưng luôn thận trọng, tỉ mỉ, chắc thắng chính là người đã phê duyệt kế hoạch tiến công Buôn Ma Thuột làm rung chuyển Tây Nguyên. Những vị tướng trận xuất sắc đã nhanh chóng gặp nhau trong từng suy nghĩ, hành động để đất nước sớm có ngày toàn thắng.

Trung tướng Khuất Duy Tiến nói nhiều tới tầm vóc và công lao của Đại tướng Văn Tiến Dũng khi ông làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 chiến đấu ở 12 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp, cầm chân, thọc sâu, vu hồi, đánh liên hoàn khắp các tỉnh thành Bắc Bộ để đại quân của ta có đủ thời gian và lực lượng đánh thắng địch ở Điện Biên Phủ. Đại tướng Văn Tiến Dũng không những có vai trò trong những chiến lược lớn, tầm nhìn sâu sắc mà còn là người tổ chức thực hành xuất sắc các chiến lược mà Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đề ra. Chiến đấu với giặc Pháp ở 12 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trong điều kiện vô cùng khó khăn là cuộc chiến đấu trong vòng vây, cuộc đấu trí với các tướng lĩnh hàng đầu của Pháp. Đại đoàn 320 dưới sự chỉ huy của Tư lệnh kiêm Chính ủy Văn Tiến Dũng đã đảm đương hướng chiến lược ở đồng bằng, thực hiện thắng lợi chỉ thị của Hồ Chủ tịch về đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị luôn phải được tiến hành đồng thời mới dẫn đến thắng lợi. Đại đoàn 320 đã cùng với nhân dân 12 tỉnh đồng bằng Bắc bộ đánh bại chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp, khiến chúng lâm vào thế bí, mở rộng không gian chiến trường, căng địch ra trên chiến tuyến rộng lớn để chúng không thể tiếp vận tốt nhất cho Điện Biên Phủ dẫn đến bại vong. Chính các tướng thất trận của Pháp sau này luôn đánh giá cao sự hoạt động hiệu quả của Đại đoàn 320 nơi đồng bằng, một trong những nguyên nhân làm sụp đổ sự thống trị của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương.

Trung tướng Khuất Duy Tiến thời gian đó là lính chiến đấu trong đội hình Đại đội 737 - Tiểu đoàn 884 thuộc Trung đoàn 48 - Đại đoàn 320 đánh địch ở các vùng Thái Bình, Phủ Lý, Ninh Bình, Phát Diệm... phá hủy các trục lộ, phong tỏa giao thông đường bộ, đường sông để phân tán, xé nhỏ tiềm lực của địch. Trong trận chiến đấu tiêu diệt cứ điểm Chùa Ông, Khuất Duy Tiến bị thương vẫn tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu rất dũng cảm. Chính tấm gương người Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng luôn khích lệ tinh thần quả cảm của người chiến sĩ trong mỗi trận đánh. Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng là nỗi khiếp sợ của địch nhưng lại là niềm tin sâu sắc với mỗi người chiến sĩ của ta. Sau này, Khuất Duy Tiến gắn bó mật thiết với Đại đoàn 320 - sau là Sư đoàn 320. Ông làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 64, tiếp đó được bổ nhiệm cương vị Trung đoàn trưởng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với những trận đánh then chốt nổi tiếng. Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm Tham mưu trưởng, tiếp đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320.

Là thế hệ kế tiếp đội ngũ lãnh đạo chỉ huy Sư đoàn 320 - Đại đoàn Đồng Bằng nổi danh từ thời Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh là một vinh dự đặc biệt với Khuất Duy Tiến. Biết bao xương máu của những người con đồng bằng đã đổ xuống khắp các chiến trường Bắc - Trung - Nam và nước bạn Campuchia. Là người trực tiếp chỉ huy bộ đội ở chiến trường, ngay trong từng chiến hào, từng trận đánh, hơn ai hết Khuất Duy Tiến càng thấm thía và hiểu sâu sắc rằng, việc giảm thiểu hi sinh, giảm thiểu máu xương cho bộ đội là điều đầu tiên mà người chỉ huy, vị tướng trận phải tính toán kỹ lưỡng. Chính ông học được điều này từ Đại tướng Văn Tiến Dũng. Khi Đại tướng Văn Tiến Dũng vào Tây Nguyên thông qua kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên trong đó có trận đánh then chốt Buôn Ma Thuột, vị tướng vốn xuất thân là một nhà sư đã luôn cân nhắc rất kỹ lưỡng đánh thắng làm sao để tiết kiệm máu xương bộ đội nhất.

Đại tướng Văn Tiến Dũng là bậc thầy về bắt mạch chiến trường. Ông là người tổ chức thực hành chiến lược xuất sắc của quân đội ta. Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và chiến dịch Quảng Trị 1972, Văn Tiến Dũng đã cùng với các tướng lĩnh đấu trí, đấu lực với binh tướng nhà nghề Mỹ, những đơn vị thiện chiến nhất của ngụy quyền Sài Gòn và đã giành chiến thắng xuất sắc. Nắm bắt địch không chỉ đơn thuần ở quân số, trang bị kỹ thuật, bom đạn vật chất mà còn nắm chắc, biết trước tư tưởng địch, suy nghĩ của địch và điều động chúng theo chiến lược của ta. Đại tướng Văn Tiến Dũng là một trong những vị tướng chiến lược xuất sắc đã tham gia tổ chức chỉ đạo đánh thắng đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn trong một trận chiến kéo dài 30 năm. 30 năm ấy, biết bao người ra trận đã không trở về. Nếu Đảng ta, quân đội ta không có những vị tướng xuất sắc như Văn Tiến Dũng thì máu xương của bộ đội và nhân dân còn đổ xuống nhiều hơn nữa và cục diện cuộc chiến chắc chắn sẽ kéo dài.

Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong khoảng thời gian đất nước gặp vô cùng nhiều khó khăn gian khổ. Biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc hai đầu thọ địch. Nhân dân ta, những người dân vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh tưởng được yên hàn lại phải gồng mình đối diện với chiến tranh một lần nữa. Là vị tướng dày dạn chiến trường, Văn Tiến Dũng hiểu được tình thế hiểm nghèo của đất nước, hiểu nỗi lòng của những người lính vừa bước ra đã lập tức phải bước vào bom đạn. Khi đó, tháng 3 năm 1978, Khuất Duy Tiến vừa mới nhập học được ba tháng, Tư lệnh Quân đoàn 3 Kim Tuấn từ biên giới Campuchia tìm thẳng xuống Học viện Quốc phòng rưng rưng nói với Khuất Duy Tiến: - Tiến ơi! Sư đoàn 320 chưa bao giờ trong gần hai tháng trời chiến đấu mà thương vong gần 2000 người. Tôi đã báo cáo Quân ủy, điều cậu về làm Sư trưởng, ý cậu thế nào? Khuất Duy Tiến sững người trước thương vong của đồng đội lập tức chấp hành mệnh lệnh ngược vào biên giới Campuchia đảm đương cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 cùng đồng đội đánh giặc. Mỗi người chiến sĩ thường luôn coi mệnh lệnh của cấp trên, máu xương đồng đội là ý nghĩa sống còn của chính mình. Sau thời điểm đó, theo mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, toàn bộ Quân đoàn 3 thần tốc di chuyển ra Bắc lên tuyến biên giới đánh giặc. Khuất Duy Tiến thời điểm này giữ cương vị Tham mưu trưởng Quân đoàn và tiếp đó, năm 1983 được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn 3 đánh địch trên tuyến đầu biên giới phía Bắc. Dù ở thời điểm nào và cương vị gì, Khuất Duy Tiến luôn tìm thấy sự chia sẻ, động viên, chỉ đạo hết sức sâu sắc của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đời các vị tướng trận chưa một phút được thảnh thơi. Gia đình người lính vốn luôn phải chịu hi sinh, chia cắt, có gia đình mười người con có đến bảy, tám người là liệt sĩ. Lá cờ đỏ sao vàng luôn in sắc máu bộ đội, nhân dân.

Đối với Trung tướng Khuất Duy Tiến, Đại tướng Văn Tiến Dũng như một người thầy, người anh lớn. Văn Tiến Dũng chính là một trong những học trò xuất sắc nhất của Hồ Chủ tịch. Kiên cường nhưng dung dị. Sâu sắc mà điềm đạm lạ thường. Hẳn không có chiến tranh, chắc chắn những người như ông sẽ là những bậc trí giả, nhà khoa học nổi tiếng. Năm tháng trôi qua, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã trở về thế giới của người hiền thì vẫn vẹn nguyên trong đó tấm lòng son với dân, với nước.

Được chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng, được chiến đấu trong đoàn quân Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng có những vị chỉ huy xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Khuất Duy Tiến cảm nhận thật rõ niềm tự hào, sự hữu ích của một đời làm trai thời chiến. Đại tướng Văn Tiến Dũng mãi mãi ở vị trí trang trọng nhất trong trái tim ông.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11723



« Trả lời #19 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2022, 12:55:25 pm »


THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG - NGƯỜI ANH LỚN

Trong cuộc đời tham gia cách mạng, chiến đấu trưởng thành qua các cuộc chiến tranh của Trung tướng Khuất Duy Tiến, không thể không nhắc đến những người thầy, người anh, những đồng đội trong đó nhiều người đã khuất. Chính họ đã góp phần hun đúc ý chí và niềm tin, kiến thức và đạo đức để ông trưởng thành và cống hiến trong suốt cuộc đời mình. Trò chuyện với ông, khi nhắc về Thượng tướng Vũ Lăng, vị tướng trận Khuất Duy Tiến vô cùng xúc động. Những kỷ niệm về người anh lớn - Thượng tướng Vũ Lăng ùa về sâu lắng và sôi nổi, dào dạt chảy như chỉ mới hôm qua thôi, trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến báo cáo Tư lệnh Vũ Lăng những kế hoạch tác chiến ở Mặt trận Tây Nguyên, chuẩn bị cho trận then chốt Buôn Ma Thuột, những cuộc đánh lớn truy kích tiêu diệt những đoàn quân khổng lồ của địch ở Tây Nguyên đang tan rã. Nhắc về người anh lớn Vũ Lăng, có những lúc, tôi thấy đôi mắt của vị tướng họ Khuất như lấp lánh những giọt nước. Vũ Lăng là một tài năng quân sự hiếm thấy. Những cống hiến của vị Thượng tướng quê xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thật đúng lúc khi cuộc cách mạng của chúng ta rất cần những tài năng quân sự đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc và đánh thắng đế quốc Mỹ thống nhất đất nước.

Năm tháng, tuổi tác như không thể làm khó được vị tướng trận khi nhắc về người anh lớn - Thượng tướng Vũ Lăng. Vũ Lăng hơn Khuất Duy Tiến 10 tuổi, ông sinh năm 1921, sớm tham gia cách mạng và cũng là một trong những người đầu tiên được cử đi học ở Trường Quân chính Việt Nam. Tháng 11 năm 1945, Vũ Lăng tham gia đoàn quân Nam tiến khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, rồi lần lượt mở rộng chiến tranh ra toàn miền Nam và Nam Trung Bộ. Đơn vị do ông chỉ huy đã chiến đấu tại chiến trường Khu 6, thuộc tỉnh Bình Thuận ngày nay. Trong chiến đấu, ông đã có nhiều thành tích, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 2 năm 1947. Sau đó, Vũ Lăng được điều động ra Bắc, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy quan trọng: Trung đoàn phó Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98. Tháng 5 năm 1954, ông là Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Hòa bình lập lại, năm 1956, Vũ Lăng được cử sang Liên Xô học ở Học viện Vô-rô-xi-lốp. Kháng chiến chống Mỹ, ông được Đảng và Chính phủ lần lượt giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng và đã góp phần to lớn vào các công tác chỉ huy chiến đấu trên nhiều mặt trận, tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ chiến đấu, đào tạo cán bộ quân sự. Trên cơ sở những đóng góp to lớn đó, ông đã được Quốc hội và Chính phủ lần lượt phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986), và được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.

Đối với Trung tướng Khuất Duy Tiến, thời gian ông gắn bó và được rèn luyện nhiều nhất dưới quyền chỉ huy của Thượng tướng Vũ Lăng chính là thời kỳ Vũ Lăng làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (1974); Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh Quân đoàn 3 (1975-1977). Đây cũng là thời điểm then chốt ta mở chiến dịch Tây Nguyên với đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột rung chuyển và làm thay đổi cục diện toàn bộ chiến trường tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khi ấy, Khuất Duy Tiến là Trưởng phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Phòng tác chiến của mặt trận thường xuyên phải làm việc với Bộ Tư lệnh. Tư lệnh Vũ Lăng là người vô cùng sắc sảo, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, đặc biệt là khả năng tác chiến lớn rất thành thạo. Vũ Lăng từng đảm nhiệm cương vị Cục trưởng Cục Tác chiến tham gia xây dựng các kế hoạch tác chiến các chiến dịch lớn nên rất có kinh nghiệm và cả sự cảm thông sâu sắc với những cán bộ làm công tác tác chiến. Từng trưởng thành từ người chiến sĩ, người chỉ huy trực tiếp cầm súng trong kháng chiến chống Pháp, sớm Nam tiến và sau này trực tiếp vào chiến trường đánh Mỹ, Vũ Lăng hơn ai hết hiểu rất rõ kẻ thù, hiểu rất rõ những yếu tố then chốt để giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Nguyên. Khi trình bày các phương án tác chiến với Bộ Tư lệnh, Khuất Duy Tiến đã được lắng nghe, chỉ dạy của các bậc đàn anh dày dạn kinh nghiệm - những bộ óc ưu việt nhất của Mặt trận Tây Nguyên, đó là Vũ Lăng - Tư lệnh; Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy; Nguyễn Năng - Phó Tư lệnh; Nguyễn Quốc Thước - quyền Tham mưu trưởng... và sự chỉ đạo sâu sát của Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền vừa được biệt phái vào Tây Nguyên.

Mặt trận Tây Nguyên khi ấy được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hết sức quan tâm. Các phương án tác chiến liên tiếp được kiện toàn, bổ sung, điều chỉnh, thay đổi, thậm chí là hàng ngày nhưng việc điều chuyển hàng vạn quân, hàng nghìn xe pháo, phương tiện kỹ thuật hậu cần để lừa địch, vây địch, đánh thắng địch không phải là điều dễ dàng. Tây Nguyên, đại ngàn mênh mông hùng vĩ chở che bộ đội, nuôi dưỡng nhân dân đang khao khát chờ mong chiến thắng. Tư lệnh Vũ Lăng hơn ai hết hiểu thấu tấm lòng chiến sĩ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Phải đánh như thế nào đây để chắc thắng và tổn thất ít máu xương nhất luôn là bài toán hóc búa với các vị tướng trong Bộ Tư lệnh mặt trận. Những thế trận đan cài, những kinh nghiệm chiến đấu cũ - mới được nâng cao, được tăng cường, được xoay chuyển để lừa địch ở Tây Nguyên. Phương án đánh Buôn Mê Thuột được bàn bạc và cân nhắc vô cùng kỹ lưỡng. Đây là trận mở đầu cũng là trận then chốt quyết định thành bại của chiến dịch. Phòng tác chiến đỏ đèn đêm đêm trên tấm bản đồ thị xã Buôn Ma Thuột. Tư lệnh Vũ Lăng nói với Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước và Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến:

- Ta phải tìm mọi cách nhử địch về Kon Tum và Pleiku rồi hãm chúng ở đó, tại cơ sở Buôn Ma Thuột để ta đột phá thật nhanh vào đây tiêu diệt địch và làm chủ thị xã này trong thời gian ngắn nhất. Sau đó sẽ phát triển đánh chiếm Gia Nghĩa, Phú Bổn để mở rộng khu vực, làm bàn đạp phát triển tiến công các hướng khác. Để thực hiện được ý định này, vấn đề có tính quyết định là lập thế trận chiến dịch. Thế trận đó phải thể hiện chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công, đột phá, vừa bí mật, vừa nghi binh. Tôi giao cho đồng chí Tiến - Trưởng phòng Tác chiến làm Tổ trưởng Trung tâm nghiên cứu chiến thuật đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Các anh nghiên cứu phương án một là đánh địch không có phòng ngự dự phòng và một phương án nữa là đánh địch có phòng ngự dự phòng. Đánh địch không có phòng ngự dự phòng là số một, ta phải làm mọi cách điều địch theo ý ta để đánh địch không có phòng ngự dự phòng.

Khi kết thúc cuộc trao đổi đồng hồ đã chỉ 1 giờ 15 phút sáng. Khuất Duy Tiến trở lại hầm tác chiến, những căn dặn của Tư lệnh Vũ Lăng luôn văng vẳng trong đầu. Làm thế nào để đánh Buôn Ma Thuột mà địch không có phòng ngự dự phòng? Đây là việc vô cùng khó vì phải điều địch, lừa địch. Vấn đề nghi binh, hút địch về Kon Tum và Pleiku là then chốt quyết định. Những vấn đề khó khăn nhất luôn được Bộ Tư lệnh, đặc biệt là Tư lệnh Vũ Lăng, với trí tuệ và tầm nhìn chiến lược, đã từng bước chỉ đạo thực hiện một cách xuất sắc.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM