Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười, 2022, 09:27:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 7812 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #100 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2022, 02:26:38 pm »


Từ trung tuần tháng 2-1954, công tác vận chuyển tiếp tế có thay đổi để đáp ứng phương án tác chiến mới của chiến dịch. Tuyến vận chuyển của Hội đồng Cung cấp kéo dài lên đến Sơn La; lực lượng phục vụ chiến dịch được tăng cường với 3.168 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và hơn 30.000 dân công, thanh niên xung phong. Các tuyến vận tải của Tổng cục Cung cấp tiền phương được tổ chức thành các tuyến hậu cần, kỹ thuật, không chỉ đảm nhiệm công tác vận tải mà còn làm cả nhiệm vụ bảo đảm cung cấp và chỉ huy thống nhất các lực lượng bảo đảm trên toàn tuyến.

Do được tổ chức chặt chẽ và với sự tích cực khẩn trương của các lực lượng, ngày 11-3-1954, công tác chuẩn bị cho chiến dịch theo phương án "đánh chắc, tiến chắc" đã kết thúc chu đáo, đúng kế hoạch.

17 giờ ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận pháo kích mở màn chiến dịch đạt hiệu quả cao: Sở Chỉ huy địch bị trúng đạn, đường dây điện thoại bị cắt đứt, các trận địa pháo của địch bị tê liệt... Cả Him Lam và Mường Thanh đều rung chuyển trong tiếng nổ dồn dập, Sở Chỉ huy phân khu bắc bị đánh tơi tả... Ngay từ giờ phút đầu tiên, bọn địch ở Điện Biên Phủ đã bị giáng một đòn khủng khiếp. Trận mở màn kết thúc hồi 23 giờ 30 phút. Trung tâm đề kháng Him Lam bị tiêu diệt hoàn toàn.

Đêm 14 rạng ngày 15-3, ta tiến công và tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập. Địch ở Bản Kéo sợ hãi giương cờ trắng ra hàng. Quân ta thừa thắng tiến vào đánh chiếm các ngọn đồi ở phía bắc sân bay Mường Thanh,...

Bám sát đội hình tác chiến của các đơn vị, cán bộ, nhân viên kỹ thuật đã trực tiếp tham gia cùng chiến đấu và sẵn sàng sửa chữa vũ khí cho bộ đội. Do thiếu trận địa dự bị để di chuyển nên một số trận địa pháo đã bị địch đánh trúng, có bảy khẩu pháo cao xạ 37 ly bị hỏng, trong đó có ba khẩu hỏng nhẹ được các chiến sĩ quân khí Tiểu đoàn 394 do đồng chí Trần Kim Ngọc - Chủ nhiệm quân khí tiểu đoàn, phụ trách sửa chữa bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật và giao cho đơn vị tiếp tục chiến đấu. Bốn khẩu pháo hỏng nặng được đưa về trạm quân khí tiền phương (ở km 52 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ) để sửa chữa. Đồng chí Đoàn Đà, Trạm trưởng Trạm quân khí Trung đoàn 367 cùng cán bộ quân khí trung đoàn và Cục Quân khí tăng cường, đã làm việc ngày đêm, dồn ghép, sửa chữa được ba khẩu kịp đưa về đơn vị chiến đấu khi đợt hai của chiến dịch bắt đầu. Khẩu còn lại do hỏng quá nặng phải huỷ để lấy phụ tùng thay thế.

Qua thực tế chiến đấu và phục vụ sửa chữa tại trận địa, cán bộ, chiến sĩ quân khí đã phát hiện những bộ phận hay hỏng trong mỗi khẩu pháo cao xạ như máy nạp đạn, máy ngắm, càng kéo,... Đồng chí Đỗ Đức Dục, Chủ nhiệm quân khí tiền phương Trung đoàn 367 đã đề nghị Tổng cục Cung cấp sản xuất một số bộ phận để sẵn sàng thay thế. Chỉ trong một thời gian ngắn, các xưởng quân giới đã nghiên cứu sản xuất thành công trục máy tống đạn, bướm tống đạn, cán ngoắc pháo cao xạ 37 ly, kim hoả súng phòng không 12,7 ly,... gửi lên Điện Biên Phủ để quân khí kịp thời sửa chữa súng pháo phục vụ bộ đội chiến đấu.

Ngoài sự chi viện của hậu phương, ngay tại mặt trận, lực lượng quân khí đã bám sát đơn vị, bảo đảm cho bộ đội luôn có đủ vũ khí trang bị tham gia chiến dịch. Cán bộ, chiến sĩ các trạm sửa chữa làm việc ngày đêm bên các lò rèn đỏ lửa để rèn thêm cuốc xẻng cung cấp cho bộ đội sửa đường, đào hào và chế tạo các phụ tùng thay thế. Trong chiến đấu, súng phòng không 12,7 ly do phải bắn liên tục (có khẩu bắn đến đỏ nòng) nên ngoài kim hoả hay bị hỏng, phiến khoá của khoá nòng cũng rất hay gãy. Loại này không có dự trữ, nếu chờ tiếp tế của hậu phương thì khá lâu. Trước tình hình đó, đồng chí Đỗ Đình Hữu cùng cán bộ chiến sĩ quân khí đã nghiên cứu khắc phục bằng cách lấy sắt từ cuốc chim mang rèn và đã chế tạo được những phiến khoá nòng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, phục vụ sửa chữa kịp thời. Cán bộ, chiến sĩ quân khí ngoài việc bám sát chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị còn tích cực tham gia thu hồi, xử lý vũ khí, đạn chiến lợi phẩm để cấp phát bổ sung cho đơn vị chiến đấu. Do có tổ chức kiểm tra chu đáo, ta đã phát hiện và xử lý thành công số đạn pháo 105 ly mà địch đã gài bẫy, nếu mang bắn đạn sẽ nổ ngay trong nòng pháo gây hỏng pháo, chết người,...

17 giờ 30 ngày 30-3-1954, pháo binh chiến dịch bắn dồn dập vào Sở Chỉ huy của Đờ Cátxtơri, các điểm cao C, D, E, A, các trận địa pháo binh và quân cơ động ở Mường Thanh, Hồng Cúm. Sau năm ngày chiến đấu, đợt tiến công thứ hai của ta đã thu được nhiều thắng lợi, thu hẹp thế trận vây lấn tập đoàn cứ điểm.

Sau hai đợt tiến công, các lực lượng của ta đã tiêu hao một lượng đạn khá lớn. Đạn dược dự trữ còn rất ít, nhất là đạn pháo 105 ly, việc sử dụng đạn đã phải tính đến từng viên. Xe ôtô cũng thiếu trầm trọng. Trước tình hình đó, Tổng cục Cung cấp tích cực đôn đốc và tổ chức tốt việc vận chuyển đạn từ hậu phương ra, điều chỉnh lượng đạn giữa các đơn vị, tổ chức cấp phát phân phối hợp lý, có kế hoạch tiết kiệm đạn và xử lý hàng chiến lợi phẩm để cung cấp cho các đơn vị. Đồng thời, Tổng cục Cung cấp cũng chỉ đạo khai thông đường vận chuyển từ Ba Nậm Cúm (biên giới Việt - Trung) - Lai Châu - Mường Tòng - Mường Pồn - Điện Biên Phủ để chuyển đạn, gạo,... về Điện Biên Phủ.

Để giải quyết tình trạng thiếu xe, Tổng cục Cung cấp tiền phương chủ trương "triệt để phát huy hiệu suất của xe, mượn xe của pháo"; đồng thời phát động phong trào giữ xe tốt, giảm tối thiểu số xe bị hư hỏng. Nếu có hư hỏng, các đơn vị và các đội sửa chữa phải nhanh chóng khắc phục để đưa xe vào hoạt động. Số xe lấy của pháo lúc đầu là 16%, sang đợt hai của chiến dịch, do phải vận chuyển gấp nên đã sử dụng tới 50%.

Để chuẩn bị tốt cho đợt ba, Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho Tổng cục Cung cấp tiền phương tiếp tục làm tốt công tác tiếp tế bảo đảm cho bộ đội, củng cố và phát triển trận địa tiến công siết chặt vòng vây, đánh chiếm sân bay, triệt hẳn đường tiếp tế và tăng viện của địch, uy hiếp hơn nữa tung thâm của địch. Cuối tháng 4-1954, công tác bảo đảm cho bộ đội đã cơ bản hoàn thành, các đơn vị được bổ sung đầy đủ vũ khí, đạn, trang bị, sẵn sàng bước vào đợt tiến công mới.

Trưa ngày 1-5-1954, pháo các cỡ của ta giội đạn mãnh liệt vào các trận địa địch, mở đầu cho đợt tấn công thứ ba. Trong đợt bắn phá này, lần đầu tiên, hoả tiễn H6 của ta xuất trận, làm cho binh lính địch càng thêm kinh hoàng, khiếp sợ. Cụm pháo binh của địch ở Hồng Cúm bị tê liệt, không bắn được phát nào. Một kho đạn pháo với 3.000 viên của địch nổ tung, kho lương thực, thực phẩm của chúng cũng bốc cháy... Sau đợt pháo kích kéo dài gần một giờ, bộ đội ta từ các hướng đồng loạt tiến công nhiều vị trí của địch. Đêm 1-5, ta diệt các cứ điểm C1, 311A, 505 và 505A; đêm 3-5, diệt 311B... Ngày 3-5, Cônhi lệnh cho Đờ Cátxtơri chuẩn bị rút chạy. Nhưng kế hoạch rút chạy của chúng chưa kịp triển khai thì ngày 5-5, quân ta đã tiến công tiếp và nhanh chóng chuyển sang tổng công kích.

Bộ Chỉ huy chiến dịch nắm chắc tình hình và căn cứ vào sự phát triển trên các hướng, đã quyết định tổng công kích vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 6-5-1954, lấy tiếng nổ của khối bộc phá đánh đồi A1 làm hiệu lệnh. Trước đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã thông qua phương án đánh A1 bằng lượng bộc phá lớn. Trung đoàn công binh 151 tổ chức một đội đặc biệt gồm 20 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung phụ trách đào đường hầm để đặt bộc phá. Sau 15 ngày đêm kiên cường, bền bỉ thực hiện nhiệm vụ, đội đã đào xong đường hầm dài 49m và ngay trong đêm 4-5, khối thuốc nổ gần 1.000kg do bộ đội công binh "chế tạo" tại trận địa với 23kg thuốc nổ TNT, 20kg nitrôxenlulô, 19kg thuốc mồi, số còn lại là lượng thuốc nổ tháo từ các quả bom chưa nổ ở Căng Na (Điện Biên Phủ), chia làm 49 gói, đã được đặt vào cuối đường hầm, sáu đường dây cháy chậm và một đường điểm hoả bằng điện đã được nối xong.

18 giờ ngày 6-5, ta tập trung các loại pháo 105 ly, 75 ly, cối 120 ly, 81 ly và 12 dàn hoả tiễn H6 bắn dữ dội vào các cứ điểm còn lại. 20 giờ 30 phút cùng ngày, khối bộc phá gần 1.000 kg ở A1 được gây nổ,... Quân ta đồng loạt tiến công và nhanh chóng làm chủ các cứ điểm A1, C2, 310... 17 giờ 30 phút ngày 7-5, Thiếu tướng Đờ Cátxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt sống. Địch ở các cứ điểm còn lại lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #101 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2022, 04:42:13 pm »


CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ MÃI MÃI LÀ NIỀM TỰ HÀO,
NGUỒN CỔ VŨ TO LỚN CỦA QUÂN VÀ DÂN CÁC DÂN TỘC TÂY BẮC
1

Trung tướng MA THANH TOÀN
Ủy viên Trung ương Đảng
Tư lệnh Quân khu II

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói "đó là một mốc chói lọi bằng vàng". Trong dặm dài lịch sử dân tộc Việt Nam, mốc đó ghi dấu bước tiến thần kỳ của quân và dân ta sau ngót một trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ. Thắng lợi đó là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Cùng với thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 một lần nữa khẳng định vị trí tiên phong của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức và nô dịch trên thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Cùng với cả nước, quân và dân các dân tộc Tây Bắc rất tự hào vì đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vẻ vang này. Hơn thế nữa, thắng lợi vẻ vang đó lại được tạo nên ngay trên chính quê hương mình, để rồi địa danh Tây Bắc - Điện Biên Phủ đã vượt qua không gian, thời gian, mãi mãi là niềm tự hào, nguồn cổ vũ to lớn đối với quân và dân các dân tộc Tây Bắc, đối với cả dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì một thế giới hoà bình, không có áp bức bóc lột.

Năm mươi năm qua, mang tinh thần và khí phách Điện Biên Phủ, quân và dân các dân tộc Tây Bắc cùng cả nước tiếp bước trên con đường cách mạng, vượt qua những chặng đường lịch sử đầy thử thách, đương đầu với các thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất của thời đại, làm nên đại thắng mùa Xuân 1975. Tổ quốc Việt Nam thống nhất, độc lập và đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có thể nói, 50 năm qua, trên mỗi chặng đường, mỗi chiến công, mỗi biến động của lịch sử dân tộc Việt Nam đều ít nhiều mang dấu ấn và ảnh hưởng tích cực của chiến thắng Điện Biên Phủ.

Riêng với quân và dân Tây Bắc, tác động và ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ là vô cùng to lớn. Đó là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần, là một nhân tố góp phần quyết định cho mọi thắng lợi trong từng chặng đường lịch sử mà nhân dân các dân tộc cùng lực lượng vũ trang Tây Bắc đã đi qua.

Nhìn lại lịch sử cách mạng dân tộc, trong sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta, với những đặc điểm xã hội, tự nhiên, Tây Bắc luôn được xác định là địa bàn chiến lược quan trọng về địa - chính trị. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là tới năm 1953-1954, Tây Bắc trở thành chiến trường chính trong cuộc quyết đấu giữa thực dân Pháp, can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Tây Bắc từng là địa bàn diễn ra nhiều chiến dịch lớn, nay trở thành tâm điểm của chiến tranh, với thắng lợi quyết định thuộc về dân tộc Việt Nam, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu". Sở dĩ có được điều ấy là vì trong chỉ đạo chiến lược của Đảng, từ rất sớm, Đảng ta đã rất quan tâm tới chiến trường Tây Bắc. Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất, tháng 1-1947 đã nhận định, căn cứ địa rừng núi ở miền Tây Bắc có một giá trị chiến lược rất quan trọng đối với miền Bắc Việt Nam và cả miền Bắc Đông Dương. Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ mặt trận miền Tây ngày 1-2-1947, Bộ Tổng chỉ huy đã chỉ rõ: Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được ở đó không những quân địch ở vào cái thế "Cứ lao lâm hàm" có thể uy hiếp hậu phương chúng ta, mà chúng lại mong thực hiện âm mưu độc ác "dĩ Việt chế Việt" chia rẽ các anh em thiểu số, lập bộ đội người Việt thiểu số để tiến đánh chúng ta.

Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam. Mỗi một đồng bào miền Tây là một người dân nước Việt. Bảo vệ được lãnh thổ và nhân dân miền Tây, tức là gián tiếp bảo vệ được đại hậu phương của chúng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng.

Với ý nghĩa đó, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc được đặt ra, quyết không để địch chiếm đóng, không thể để đồng bào ta bị quân thù giày xéo hay lung lạc. Thực hiện chủ trương biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, bốn đội Xung phong công tác được gấp rút tổ chức và tiến sâu vào vùng Tây Bắc, phân tán thành từng tổ nhỏ, tiến hành công tác tuyên truyền giác ngộ quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, phát động chiến tranh du kích trong vùng địch kiểm soát... Cùng thời gian này, chủ lực ta mở một số chiến dịch nhỏ ở sông Đà, sông Thao... Tây Bắc bước đầu đã xây dựng được các cơ sở cách mạng, chiến tranh du kích từng bước phát triển. Tiếp đó, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh ở Tây Bắc, ta mở liên tiếp hai chiến dịch quan trọng là Chiến dịch Lê Lợi và Chiến dịch Lê Hồng Phong I. Đến năm 1950, khi Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, trên địa bàn Tây Bắc ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hai tiểu đoàn địch, giải phóng một vùng rộng lớn, bao gồm cả thị xã Lào Cai.

Căn cứ vào tương quan lực lượng và vị trí hiểm yếu của Tây Bắc, cùng với khả năng tác chiến của bộ đội ta nên trong Thu Đông 1952, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã xác định rõ: hướng tiến công chính của ta trong Thu Đông 1952 là Tây Bắc Bắc Bộ.

Thực hiện chủ trương đó, tháng 9-1952, Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, trên cơ sở tính toán, cân nhắc một cách khách quan, khoa học, đã hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công trên chiến trường Tây Bắc. Quyết tâm đó hoàn toàn chính xác, chiến dịch giành thắng lợi, 80% đất đai miền Tây Bắc được giải phóng, nối thông với căn cứ địa Việt Bắc, tạo cho thế và lực của ta thêm vững mạnh, ngày càng dồn địch vào thế bị động, lúng túng. Có được cục diện đó là do nhiều yếu tố tạo thành, trong đó có vấn đề quan trọng là Đảng ta, từ sau Chiến dịch Hoà Bình, đã chọn Tây Bắc làm hướng tiến công chủ yếu. Sự lựa chọn đó hoàn toàn chính xác, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong chỉ đạo và điều hành chiến tranh.

Đến Đông Xuân 1953-1954, giai đoạn có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến, Tây Bắc vẫn là địa bàn được Trung ương Đảng chọn làm hướng hoạt động chính. Trên thực tế, ta đã điểm trúng huyệt hiểm yếu của địch, buộc chúng phải tung quân lên Điện Biên Phủ, xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, như chúng từng cho rằng là một "siêu Nà Sản", một "Vécđoong ở Đông Dương", là cái bẫy để thu hút và nghiền nát chủ lực đối phương hòng đi tới trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh theo hướng có lợi cho Pháp.

Hơn thế nữa, phía Pháp còn ngạo mạn nói: Chỉ còn một mối lo duy nhất là đối phương không dám công kích Điện Biên Phủ và ngang nhiên rải truyền đơn thách thức ta.

Các tướng lĩnh Pháp, các nhà hoạch định kế hoạch quân sự này đâu hề nghĩ rằng chọn Điện Biên Phủ làm nơi hội chiến chính là chúng đã chọn trước một tử địa với hậu quả khôn lường.
___________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #102 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2022, 04:44:13 pm »


Về phía ta, Trung ương Đảng quyết định chọn Điện Biên Phủ làm chiến địa của trận quyết chiến chiến lược với quân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những đối với ta mà đối với cả quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.

Đáp lời của Người, cả nước hướng về Điện Biên Phủ. Trên khắp các ngả đường Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực, các đoàn dân công ngày đêm xẻ núi, băng rừng, vượt sông đi vào chiến dịch. Trong hùng khí đó, quân và dân Tây Bắc, dù còn khó khăn thiếu thốn trăm bề, nhưng với truyền thống yêu nước thương nòi, vượt qua gian khổ, hy sinh, đã trực tiếp chi viện rất lớn cả sức người và sức của cho chiến dịch.

Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, đã kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Trong niềm vui thắng lợi đó, hơn ai hết, quân và dân Tây Bắc rất tự hào vì chiến công oanh liệt ấy đã diễn ra ngay chính trên mảnh đất quê hương và có sự đóng góp to lớn của chính mình; tự hào về Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Dân tộc ta mãi mãi tự hào về miền Tây Bắc anh hùng, về chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại. Truyền thống lịch sử ấy sẽ tiếp thêm cho chúng ta niềm tin ở sự lãnh đạo của Đảng, ở sức mạnh đoàn kết dân tộc và nghị lực sáng tạo của đồng bào và chiến sĩ, Đảng bộ và nhân dân Tây Bắc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"1.

Chúng ta tự hào bởi trận Điện Biên Phủ là kết tinh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Với thắng lợi ở Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; đánh bại ý chí xâm lược, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, tàn bạo. Giữa núi rừng Tây Bắc - cái tên Điện Biên Phủ đã trở thành huyền thoại và gắn liền với hai tiếng Việt Nam - Hồ Chí Minh, đã trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng. Chiến thắng Điện Biên Phủ mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, đánh dấu bước phát triển mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Điều đó khẳng định rằng chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ có ý nghĩa dân tộc sâu sắc mà còn có ý nghĩa quốc tế trọng đại. Chính giới học giả phương Tây đã phải thừa nhận: "Điện Biên Phủ là trận Vanmy của các dân tộc da màu"; "Điện Biên Phủ là một trong những trận giao chiến đã làm thay đổi số phận thế giới".

Riêng ở Tây Bắc, thực tế lịch sử đã cho thấy, chiến thắng Điện Biên Phủ chẳng những là niềm tự hào mà còn là nguồn cổ vũ hết sức to lớn, tạo nên sức mạnh, động lực để quân và dân Tây Bắc tiếp tục lập nên những chiến công mới trong những chặng đường phía trước.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong hành trang của mình, có tinh thần và khí phách Điện Biên Phủ, quân và dân các dân tộc Tây Bắc đoàn kết một lòng, khắc phục khó khăn gian khổ, phát huy truyền thống của căn cứ địa cách mạng, cùng quân và dân cả nước xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang với cách mạng Lào.

Nắm vững mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng, giữa xây dựng hậu phương với chi viện tiền tuyến, hơn 20 năm tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là hơn 20 năm quân và dân Tây Bác không ngừng xây dựng, củng cố căn cứ địa - hậu phương chiến lược ngày càng vững mạnh, góp phần đánh thắng kẻ thù.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bằng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, quân dân Tây Bắc đã bắn rơi 339 máy bay Mỹ; góp phần cùng quân dân miền Bắc hạ gục uy thế không lực Hoa Kỳ. Đặc biệt, những ngày cuối năm 1972, quân dân ta đã làm nên một trận "Điện Biên Phủ trên không" ngay trên bầu trời Thủ đô Hà Nội, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại vô cùng tàn bạo của đế quốc Mỹ. Bằng trận "Điện Biên Phủ trên không", Hà Nội đã trở thành thủ đô của phẩm giá con người và lương tri thời đại.

Trước hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, biến mất mát đau thương thành sức mạnh, nhân dân các dân tộc Tây Bắc kiên cường bám trụ, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, vươn lên khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống, động viên con em lên đường nhập ngũ, làm tròn trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến. Hàng vạn thanh niên con em các dân tộc Tây Bắc đã lên đường chiến đấu với biết bao lá đơn viết bằng máu thể hiện nguyện vọng thiết tha được lên đường đánh Mỹ. Có mặt trên khắp các chiến trường, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, nhiều người đã trở thành anh hùng, dũng sĩ, nhiều gương hy sinh cao cả. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm được phát huy hơn lúc nào hết đã góp phần làm rạng rỡ một miền núi sông hùng vĩ, xứng đáng với miền đất từng tạo nên một Điện Biên Phủ oai hùng.

Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy giải phóng miền Nam mùa Xuân năm 1975, Sư đoàn 316, chủ lực của Khu Tây Bắc, đơn vị từng chiến đấu anh dũng, kiên cường, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm xưa, vừa làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Lào trở về, đã nhanh chóng hành quân vào chiến trường tham gia Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên với trận đánh then chốt, mở màn giải phóng Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, đơn vị đã tổ chức hành quân thần tốc, tiến công dũng mãnh vào cụm phòng ngự của địch ở cửa ngõ tây - bắc Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thắng lợi vĩ đại này được coi như một "Điện Biên Phủ mới ở miền Nam Việt Nam", mà từ năm 1964, trong bài viết Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán.

Ngoài những lực lượng trực tiếp và gián tiếp tham gia các hoạt động quân sự, chiến đấu trên cả hai miền Nam, Bắc cũng như trên chiến trường Bắc Lào, đồng bào Tây Bắc còn chi viện hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, thuốc men và các loại vật chất khác cho các mặt trận.

Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên và xã hội ở địa bàn rừng núi, đồng bào Tây Bắc còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng với tinh thần và khí phách Điện Biên Phủ cùng với tấm lòng thơm thảo và tình cảm sâu nặng với cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ, quân và dân các dân tộc Tây Bắc đã vượt lên chính mình để có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tinh thần, khí phách Điện Biên Phủ không chỉ phát huy trong chiến tranh ác liệt mà còn là động lực quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước. Lịch sử dân tộc đã chứng minh sau những cuộc chiến đấu chống xâm lược là một thời kỳ phát triển về mọi mặt trong xây dựng hoà bình. Đó là sự thể hiện tinh thần dân tộc, phát huy ý chí tự lập tự cường, lòng tự hào và sự vận dụng trí tuệ, kinh nghiệm chiến đấu trong xây dựng hoà bình. Hơn nữa, ý chí độc lập của dân tộc không chỉ thể hiện và dừng lại ở việc chiến thắng quân xâm lược mà gắn liền với xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Với ý nghĩa ấy, cùng với đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 2 đã phát huy truyền thống cách mạng của mình, tập trung xây dựng Đảng bộ quân khu trong sạch vững mạnh; phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân; nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ, tập trung xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng vũ trang quân khu bao gồm cả ba thứ quân, đủ sức bảo vệ chủ quyền biên giới, làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chù nghĩa, bảo vệ nhân dân nhằm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Những thành công và thắng lợi của quân và dân các dân tộc Tây Bắc trong 50 năm qua, kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, nằm trong thành công và thắng lợi chung của quân và dân cả nước. Riêng với quân và dân Tây Bắc, thắng lợi đó chịu ảnh hưởng lớn lao và mang đậm dấu ấn Điện Biên Phủ. Nó được tạo nên từ niềm tự hào và nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao mà chiến thắng Điện Biên Phủ mang lại.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vang vọng mãi trong lòng dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, nguồn cổ vũ to lớn trong những chặng đường cách mạng tiếp theo. Phát huy truyền thống Điện Biên Phủ, Tây Bắc đang vươn lên và không ngừng đổi mới trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Tây Bắc nguyện đoàn kết một lòng, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng Tây Bắc - Điện Biên Phủ trở thành một vùng kinh tế giàu đẹp, quốc phòng - an ninh ngày càng vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu, ngưỡng mộ của nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.
_________________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.4
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #103 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2022, 04:51:42 pm »


VAI TRÒ CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1


BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
TỈNH LAI CHÂU


I- KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LAI CHÂU

Lai Châu là một tỉnh vùng cao biên giới, có độ dốc lớn, ở về phía tây - bắc Tổ quốc ta. Có đường biên giới với Trung Quốc dài 300km về phía tây - bắc; với nước Lào 373 km về phía tây - nam, phía đông giáp Sơn La, phía đông - bắc giáp tỉnh Hoàng Liên Sơn (cũ). Diện tích 17.109 km2. Dân số 1954 trên 8 vạn người, thuộc 23 dân tộc.

Đồi núi mênh mông, trùng điệp, nhiều bãi bằng lớn. Xen kẽ giữa những dãy đồi núi là các thung lũng khá dài và rộng, có cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên Phủ) rộng nhất khu Tây Bắc, xưa nay nhân dân thường nói: nhất Thanh, nhì Lô, tam Than, tứ Tấc. Toàn tỉnh có 3.058 sông suối lớn nhỏ, phân bố khá đều. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý, nhiều lâm thổ sản, dưới đất giàu khoáng sản. Nhiều cảnh thiên nhiên hùng vĩ, rất đẹp, đúng là "non non, nước nước đẹp hơn tranh" như đồng chí Phạm Văn Đồng đã ca ngợi trong Bài ca Tây Bắc.

Ở vào một vị trí địa lý chiến lược, Lai Châu có tầm quan trọng rất lớn về phương diện kinh tế, chính trị, quân sự.

Ngay từ khi mới chiếm Lai Châu, thấy được tầm quan trọng đó, thực dân Pháp ra sức xây dựng nền thống trị, chú ý nhiều nhất về phương diện chính trị, quân sự.

Đầu năm 1953, trước thất bại ngày càng nặng nề của cuộc chiến tranh xâm lược, được sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp đưa tướng Nava sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh ở Đông Dương. Y vạch ra một kế hoạch mang tên kế hoạch Nava định trong 18 tháng tiêu diệt phần lớn quân chủ lực của ta, buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện của chúng.

Đảng ta đã phân tích một cách rất khoa học kế hoạch mới của địch, khả năng thực hiện của chúng và vạch ra chủ trương, biện pháp đối phó, quyết phá tan kế hoạch Nava. Quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, xác định hướng tiến quân chính là Tây Bắc.

Phát hiện bộ đội ta hành quân lên hướng Tây trước nguy cơ số quân ở Lai Châu bị tiêu diệt, toàn bộ đất đai Tây Bắc lọt vào tay ta, ngày 20-11-1953, Nava điều sáu tiểu đoàn tinh nhuệ nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ.

Địch chọn Điện Biên Phủ làm nơi cố thủ vì Điện Biên Phủ có cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng, rộng lớn, xung quanh có đồi núi bao bọc, điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ quân sự mạnh. Điện Biên Phủ lại ở giáp biên giới Việt - Lào, cách biên giới Trung Quốc, Thái Lan, Mianma từ 150 đến 300 km, cách Luông Prabăng 200 km và cách Hà Nội 300 km theo đường chim bay.

Chúng coi đây là ngã tư chiến lược quan trọng, vị trí then chốt. Làm chủ được Điện Biên Phủ, địch không những ở vào thế có thể uy hiếp hậu phương chúng ta là căn cứ địa Việt Bắc, Khu IV cũ, mà còn khống chế cả Bắc Lào, Vân Nam (Trung Quốc) và cả khu vực Đông Nam Á.

Đồng thời với việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, địch cho thả dù bọn biệt kích xuống các châu Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Thuận Châu, tập hợp lực lượng phản động gây phỉ: lôi kéo nhân dân, tuyên truyền sức mạnh Pháp - Mỹ, nói xấu Chính phủ ta. Hằng ngày chúng cho máy bay oanh tạc, ném bom xuống các vùng của ta, nhất là những nơi chúng nghi có bộ đội ta đóng quân, ít nhất mỗi ngày 10 lần, mỗi lần từ 3 đến 7 chiếc.

Nhìn chung, sau khi được tăng cường lực lượng, địch ra sức xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mà chúng cho là "bất khả xâm phạm", mặt khác liên kết với bọn tay sai các nơi âm mưu nổi dậy giành chủ động trên chiến trường.

Thực hiện chủ trương tác chiến Đông Xuân, mà địa bàn Lai Châu là một mũi tiến công quan trọng, tỉnh Lai Châu được Trung ương đề ra chủ trương và chỉ đạo cụ thể trong vấn đề tiến hành phối hợp, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc đã có sự đóng góp rất lớn, làm tròn trách nhiệm của một tỉnh tiền tuyến chống kẻ thù xâm lược.
____________________________________________________   
1. Viện Sử học: Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #104 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2022, 04:52:29 pm »


II- ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC
THAM GIA CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

1. Tham gia chiến dịch giải phóng Lai Châu

Chiến dịch giải phóng thị xã Lai Châu là chiến dịch mở đầu cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Bộ đội chủ lực tham gia là Đại đoàn "Biên Hoà" (tức Sư đoàn 316). Lai Châu đã chủ động phối hợp.

Được tin bộ đội chủ lực đang tiến vào giải phóng thị xã, đồng bào các nơi trong tỉnh, từ vùng thấp đến vùng cao, từ vùng cơ sở cũ đến vùng cơ sở mới, rất vui mừng, phấn khởi.

Khi bộ đội đến, Ban Cán sự tỉnh và các châu chỉ đạo các đội du kích làm nhiệm vụ đón tiếp, dẫn đường và phối hợp chiến đấu. Đồng thời tập trung lãnh đạo công tác huy động lương thực, thực phẩm tại chỗ phục vụ bộ đội, cử cán bộ cốt cán làm công tác tiếp quản khi được giải phóng. Trong hoàn cảnh địa phương đang diễn ra chiến sự, nhiều nơi phải tản cư, việc huy động gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nếu không có một sự nỗ lực cao, với tinh thần làm chủ quê hương của nhân dân thì cũng khó mà đạt được mức yêu cầu của chiến dịch. Đặc biệt là đồng bào các khu du kích cũ, khu giải phóng có chính quyền của ta hoạt động như khu du kích Phú Nhung thuộc vùng cao châu Tuần Giáo, quê hương Vừ A Dính, Sùng Phái Sinh, khu Tả Sìn Thàng của châu Mường Lay... Tính riêng khu Tả Sìn Thàng, gồm tám xã vùng cao phần lớn là đồng bào Mông, đã tiếp tế cho bộ đội 13 tấn gạo, 80 con lợn, 29 con trâu, bò và trên 1 tấn rau xanh các loại.

Chiến dịch giải phóng thị xã Lai Châu diễn ra khá phức tạp: Vừa tổ chức đánh vào những điểm cố thủ của địch như Pa Ham, thị xã, vừa phải truy kích đánh những hướng rút lui, không cho chúng chạy về hợp điểm ở Điện Biên Phủ. Phần lớn quân địch rút theo đường Mường Tùng hướng xuống Điện Biên. Ngoài ra, chúng cho một đại đội nguỵ binh do tên Rôgied chỉ huy rút về Phiêng Lan, Mường Mô (Mường Tè) và cho chín đại đội do một tên tay sai người địa phương cầm đầu đi lối Mường Tong về hợp điểm ở Phiêng Lan, địch xây dựng căn cứ, với ý đồ nếu thời cơ thuận lợi sẽ quay lại, nếu bị thua thì bố trí tay chân trá hàng và giấu súng trong nhân dân để sau này gây phỉ.

Trong tình thế đó, sự chiến đấu đòi hỏi linh hoạt và vai trò của lực lượng địa phương hết sức quan trọng. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân cho nên chỉ hơn 10 ngày đêm chiến đấu, bằng nhiều hình thức tác chiến như truy kích, tập kích, bao vây tiêu diệt trên quãng đường dài 300 km giữa miền rừng núi hiểm trở, quân dân ta đã tiêu diệt và bức hàng 24 đại đội địch, bao gồm 2.500 tên, thu 700 súng các loại, hơn 30 tấn đạn dược, 12 máy vô tuyến điện và nhiều quân trang quân dụng khác; giải phóng thị xã và các huyện phía bắc là Mường Lay, Mường Tè, Sìn Hồ; phá tan kế hoạch lấy quân Lai Châu tăng cường cho Điện Biên Phủ của địch. Ta mở được một con đường thông suốt từ biên giới Việt - Trung đến Điện Biên Phủ, việc tiếp tế từ các châu phía bắc dễ dàng.

Chiến dịch giải phóng Lai Châu thắng lợi, gây khí thế hào hứng cho quân đội ta, cổ vũ quân ta hăng hái xông tới tiêu diệt kẻ thù giành thắng lợi to lớn hơn nữa; cổ vũ đồng bào các dân tộc tình nguyện góp công, góp của cho tiền tuyến, giải phóng hoàn toàn quê hương.

Trong niềm vui chiến thắng, tỉnh được Trung ương giao nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị cho Chiến dịch giải phóng Điện Biên Phủ.

Để thực hiện nhiệm vụ trên giao đạt kết quả tốt, Ban Cán sự đề ra những biện pháp cụ thể, chỉ đạo chặt chẽ, phân tỉnh ra thành ba khu vực và ấn định nhiệm vụ, chính trị cho từng khu vực rất cụ thể:

- Khu vực tự do, gồm các châu Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Tuần Giáo; nhiệm vụ trọng tâm: tăng gia sản xuất, chống đói, tiến hành chỉnh lý thuế nông nghiệp, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, dân công sửa chữa cầu đường phục vụ chiến dịch.

- Khu vực mới giải phóng, gồm Mường Lay, Mường Tè, Sìn Hồ; công việc cần làm: ổn định đời sống nhân dân, tuyên truyền chính sách của Chính phủ, tích cực xây dựng cơ sở cách mạng, đào tạo cốt cán, quét sạch tàn binh, thổ phỉ, gián điệp, Việt gian phản động, phá âm mưu chia rẽ dân tộc của địch.

- Khu vực địch chiếm là cánh đồng Mường Thanh của châu Điện Biên; nhiệm vụ chính là trực tiếp phục vụ chiến dịch và chuẩn bị tiếp thu khi quân ta vào giải phóng.

Khu vực địch chiếm, thuộc châu Điện Biên, thực hiện nhiệm vụ chính trị Ban Cán sự tỉnh giao, Ban Cán sự châu Điện Biên đã phân châu ra làm hai vùng. Vùng ngoài - tức là vùng giải phóng - nhiệm vụ chủ yếu là củng cố, bảo vệ cơ sở, chuẩn bị sức người, sức của, kho tàng, phương tiện, sẵn sàng huy động lương thực, thực phẩm cho chiến dịch. Vùng địch chiếm, gồm các xã trong cánh đồng Mường Thanh. Nhân dân bị địch dồn vào tập trung ở ba khu vực Long Nhai, Cò Mỵ, Ta Pô, chúng tăng cường kiểm soát không cho một ai liên lạc với bên ngoài. Ban Cán sự châu phân công các đồng chí uỷ viên phụ trách từng khu vực để nắm dân, nắm tình hình địch, gây dựng lại cơ sở, chỉ đạo các đội vũ trang, du kích tổ chức phục kích, chặn đánh những cuộc hành quân càn quét của địch nhằm thăm dò lực lượng của ta. Sự hoạt động của cán bộ, du kích trong vùng địch có tác dụng giữ vững mối dây liên lạc giữa cách mạng với quần chúng; mặt khác đã góp phần giúp các tổ trinh sát của bộ đội chủ lực nắm tình hình địch, bắt sống lính Pháp đưa ra ngoài khai thác tài liệu một cách thuận lợi.

Đó là những việc làm bước đầu rất quan trọng trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chiến dịch. Kết quả này đã tạo ra nhũng thuận lợi cơ bản và khả năng đáp ứng một phần nhu cầu phục vụ chiến dịch của nhân dân các dân tộc Lai Châu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #105 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2022, 04:53:45 pm »


2. Tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ

Từ khi bắt đầu chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đến khi chiến dịch toàn thắng và giải quyết các hậu quả còn lại, nhân dân Lai Châu đều tham gia và đã góp phần xứng đáng của mình vào thắng lợi chung đó.

Ngoài những đơn vị bộ đội địa phương trực tiếp tham gia chiến đấu ở mặt trận, tỉnh giữ vai trò rất lớn trong vấn đề hậu cần, tiêu diệt các cụm phỉ âm mưu nổi lên nhằm hỗ trợ cho Điện Biên.

Thực hiện khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng", tỉnh tập trung sức huy động mọi khả năng đã chuẩn bị được ra phục vụ tiền tuyến.

Ngành công an tỉnh tăng cường làm công tác bảo vệ giao thông trên các trục đường vận chuyển chính vào Điện Biên Phủ. Đặt hai đồn kiểm soát, một đồn ở ngay thị xã Lai Châu bảo vệ tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu - Điện Biên Phủ; một đồn tại ngã ba Tuần Giáo bảo vệ đường 41, đoạn từ đèo Pha Đin vào Điện Biên. Đặt thêm hai trạm gác làm nhiệm vụ cảnh giới máy bay địch ở trên đèo Pha Đin ở các xã Quai Nưa trên đường đi Lai Châu.

Ở khắp các địa phương trong tỉnh, từ vùng thấp đến vùng cao, từ đồng bào Thái, Mông đến Hà Nhì, Mảng Ư đều thi đua đi phục vụ chiến dịch. Chị em phụ nữ các dân tộc, xưa nay không hay đi xa nhà, chỉ quay sợi dệt vải, làm nội trợ gia đình, nay theo tiếng gọi của Đảng cũng nô nức lên đường, chẳng quản bom đạn, cùng nam giới làm đường, gánh gạo, tải thương,... Nhiều gia đình đem cả ngựa để chở vũ khí, lương thực, phục vụ một hoặc hai tháng, nhiều người hết thời gian quy định vẫn tình nguyện ở lại.

Ở đây cũng phải nói thêm rằng, tinh thần đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, cùng kề vai sát cánh chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân các dân tộc Lai Châu với đồng bào Kinh là rất cao. Họ đã cùng nhau bạt núi, xẻ đồi, chặt gỗ làm đường hay phá hàng trăm thác ở sông Nậm Na, sông Đà cho thuyền bè đi lại,...

Hoà vào khí thế chung của đồng bào cả nước, tinh thần chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu rất tự giác, với một khí thế hào hùng chưa từng thấy.

Đối với Chiến dịch Điện Biên Phủ, việc huy động hậu cần tại chỗ có ý nghĩa to lớn, vì rằng Điện Biên, Lai Châu ở xa hậu phương lớn của cả nước. Phương tiện vận tải chủ yếu lúc đó là đôi vai, xe đạp, cho nên việc vận chuyển từ xa rất tốn kém, không kịp thời. Một gánh gạo của một người dân công khoảng 30 kg, gánh từ căn cứ địa Việt Bắc sang hay từ Khu IV lên, khi đến nơi chỉ còn một nửa. Một người thồ xe đạp từ trung du đưa vào mặt trận, trên dọc đường sử dụng ít ra cũng hết 5 kg, còn lương thực do người dân Lai Châu đóng góp thì đến ngay mặt trận, không bị hao tổn, nhất là về thực phẩm lại càng cần hơn.

Nhân dân các dân tộc Lai Châu đã đóng góp với một sự cố gắng lớn nhất của mình cho chiến dịch. Trong hoàn cảnh chiến tranh, sản xuất gặp nhiều khó khăn, thu hoạch không cao, nhiều gia đình thiếu ăn một hai tháng, nhưng khi được vận động đóng góp cho chiến dịch, nhân dân tình nguyện góp gạo cho Nhà nước, gia đình ăn thêm khoai, sắn. Đồng bào các châu phía bắc mới giải phóng của tỉnh còn thiếu thốn, được miễn thuế, nhưng cũng đóng góp cho tỉnh nhiều gạo, thịt, riêng Tuần Giáo đã huy động tới 45% số lúa thu hoạch cho chiến dịch. Theo thống kê của Ban Cán sự tỉnh, Lai Châu đóng góp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ: 2.666 tấn gạo, vượt mức trên giao 64 tấn; thịt 226 tấn, vượt 48 tấn; rau xanh 210 tấn; huy động 16.972 dân công, tính ra ngày công được 517.210 ngày; 348 ngựa thồ; 58 thuyền mảng, góp hơn 25.070 cây gỗ các loại để chống lầy, làm đường cho xe pháo và bộ đội vượt qua. Đáng chú ý là, châu Điện Biên, nơi chiến đấu ác liệt, vùng giải phóng thì máy bay oanh tạc, đồng bào sống vô cùng gian khổ, nhưng đã đóng góp được 555 tấn gạo, 36 tấn thịt, 104 tấn rau, 38.000 ngày công. Châu Mường Tè, nhiều dân tộc, sống thưa thớt, phỉ hoạt động ráo riết, nhân dân cùng với bộ đội phải chiến đấu và phục vụ chiến đấu tiêu diệt phỉ song cũng đóng góp cho mặt trận Điện Biên Phủ 76 tấn gạo, 2.700 ngày công, 43 ngựa đi phục vụ hai, ba tháng, 14 thuyền đi hai tháng.

Ở Lai Châu, phỉ có một lực lượng khá lớn, được Pháp chú ý xây dựng từ trước. Đứng trước nguy cơ thất bại, để đỡ đòn cho Điện Biên Phủ và âm mưu trở lại chiếm đóng lâu dài Lai Châu, đế quốc Pháp - Mỹ đã ra sức gây phỉ trên quy mô rộng lớn ở miền bắc Lai Châu.

Chấp hành chủ trương của Trung ương, Ban Cán sự Lai Châu đã xác định nhiệm vụ tiễu trừ thổ phỉ là một nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Để chỉ đạo thắng lợi nhiệm vụ này, tỉnh quyết định thành lập Ban Chỉ huy tiễu phỉ do một đồng chí trong Ban Cán sự tỉnh phụ trách, và "chủ trương đẩy mạnh hoạt động quân sự từ tháng 3 đến tháng 6-1954". Nhận được lệnh, các châu cũng thành lập ban tiễu phỉ.

Đầu tháng 3-1954, các lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân bắt đầu mở các cuộc tấn công vào các cụm phỉ lớn. Đến cuối tháng 4-1954, quân ta đã đập tan hầu hết các cụm phỉ lớn ở châu Mường Tè, đánh tan và gọi hàng toàn bộ bọn phỉ ở Mù Xu, Mù Cà, Giàng Mủ Pho, Mường Nhế, Mường Tè, Mường Bum, Mường Mô, mỏm cao 1.059, giết chết tên đầu sỏ Quốc dân Đảng Trung Quốc Đào Gia Trị ở Mường Mô và nhiều tên trùm phỉ khác, thu hơn 200 súng các loại. Ở khu vực Ba Trà (Mường Lay) ta tiêu diệt và bắt sống gần hết, thu hơn 300 súng và nhiều đồ dùng quân sự khác. Ở phía Sìn Hồ quân ta quét phỉ thắng lợi, không cho phỉ thực hiện mưu đồ cắt đường tiếp tế của ta từ phía bắc theo sông Nậm Na về thị xã cho mặt trận Điện Biên.

Toàn bộ chiến dịch này ta đã tiêu diệt và làm tan rã hầu hết các cụm phỉ, có 75 tên đầu sỏ, thu 913 khẩu súng các loại cùng nhiều máy vô tuyến điện và đồ dùng quân sự khác.

Kết quả tiễu phỉ của quân dân Lai Châu đã phá tan âm mưu của địch, giữ được tình hình khá yên ổn trong nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng và ra sức đóng góp cho tiền tuyến. Thành tích chiến dịch tiễu phỉ của quân dân Lai Châu là chiến công phối hợp góp phần đánh thắng quân địch ở mặt trận Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ không những là nguồn cổ vũ to lớn đối với dân tộc ta mà còn là nguồn cổ vũ đối với các dân tộc anh em trên thế giới đứng lên giành độc lập, tự do. Thăm Điện Biên Phủ đã trở thành mong ước của bạn bè khắp năm châu. Vì vậy, làm cho Điện Biên Phủ ngày một giàu đẹp và vững mạnh, giữ được những di tích của chiến dịch là nhiệm vụ rất quan trọng đối với Đảng bộ và nhân dân Lai Châu.

Phát huy tinh thần quyết chiến quyết thắng của Điện Biên Phủ, 30 năm qua , dưới ánh sáng các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Lai Châu đã lãnh đạo quân và dân địa phương liên tiếp giành nhiều thành tựu đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước làm cho bộ mặt của tỉnh ngày một thay đổi, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của cả nước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #106 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2022, 08:39:34 pm »


HẬU PHƯƠNG, HẬU CẦN
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Đại tá, GS. NGÔ VI THIỆN

Ngày 26-1-1954, bộ đội ta chuẩn bị xuất phát tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh". Sau khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá lại tình hình, cân nhắc thận trọng, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ cùng Đảng uỷ mặt trận quyết định phải tiếp tục chuẩn bị chu đáo hơn, đánh địch theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc" mới bảo đảm chắc thắng. Bộ đội trên toàn mặt trận được lệnh lui về vị trí tập kết, kéo pháo ra. Hậu cần cũng rút lực lượng về phía sau, chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến theo phương châm tác chiến mới.

Chuẩn bị hậu cần cho chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ trên chiến trường rừng núi xa hậu phương 500 - 700 km là một nhiệm vụ khó khăn, là thử thách lớn đối với ngành hậu cần, đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Sau khi hạ quyết tâm tác chiến, Trung ương Đảng, Tổng Quân uỷ đã xác định "khó khăn lớn nhất là về hậu cần". Ngay tướng Nava, Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp cũng cho rằng ta không thể giải quyết được các khó khăn để bảo đảm cho khối chủ lực đánh lớn, đánh dài ngày trên chiến trường rừng núi xa hậu phương này!2.

Bảo đảm cho "đánh nhanh, thắng nhanh" đã khó khăn. Nay phương châm và kế hoạch tác chiến thay đổi, khó khăn càng nhân lên. Lực lượng sử dụng tăng thêm, thời gian chiến dịch kéo dài, nhu cầu bảo đảm tăng vọt. Gạo chiếm khối lượng lớn nhất: tăng gấp ba lần, đạn tăng gấp hai lần. Số lượng thương binh dự kiến phải cứu chữa cũng tăng gấp đôi. Các tuyến giao thông vận tải lên mặt trận bị địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm.

Quyết tâm bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành toàn thắng, Trung ương Đảng và Chính phủ đã ra chỉ thị toàn Đảng, toàn dân tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến... Hội đồng Cung cấp mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính ở Trung ương dốc sức chi viện cho tiền tuyến. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá và vùng tự do đông dân nhiều gạo, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân, vật lực, phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khẩu hiệu "Tất cả cho mặt trận", "Tất cả để chiến thắng" được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, cả ở vùng tự do cũng như ở nhiều vùng còn bị địch tạm chiếm. Nhân dân vừa tích cực đóng thuế nông nghiệp, bán thực phẩm, vừa cho vay, ủng hộ để cung cấp tiếp tế cho bộ đội. Nhân dân vùng tạm chiếm không thể đóng góp bằng hiện vật thì đóng góp bằng tiền. Đi dân công phục vụ chiến dịch trở thành phong trào, cả ở vùng tự do cũng như ở một số vùng tạm chiếm. Các đoàn dân công lên đường với tinh thần hăng hái, phấn khởi như đi trẩy hội, được tổ chức chặt chẽ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để đem lại vinh dự cho địa phương mình. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: "Chưa bao giờ trong suốt mấy năm kháng chiến, dân ta đã góp công sức nhiều như trong Đông Xuân 1953-1954 để chi viện cho quân đội đánh giặc... Bọn đế quốc... không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục được tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ địch"3.

Và chính tướng Nava cũng phải viết: "Người ta chỉ còn thừa nhận nỗ lực phi thường đó (của nhân dân phục vụ chiến dịch) và khâm phục hiệu quả mà Bộ Chỉ huy và Chính phủ (Việt Nam) đã biết cách tạo được"4.

Huy động được khối lượng nhân, vật lực to lớn để chi viện, bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng là kết quả tốt đẹp của việc xây dựng hậu phương kháng chiến, của đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Sau những năm đầu phải đối phó với các cuộc tiến công lớn và liên tiếp của quân viễn chinh Pháp vào các vùng tự do, các căn cứ kháng chiến, ta đã buộc địch phải lùi về thế phòng ngự. Các căn cứ, các vùng tự do của kháng chiến ngày càng được mở rộng và củng cố vững chắc, chính quyền dân chủ nhân dân ngày càng vững mạnh. Mặt trận Liên Việt đoàn kết được toàn dân tích cực tham gia kháng chiến. Các chính sách kinh tế, tài chính đã tạo điều kiện cho nhiều ngành sản xuất phục hồi và phát triển, nhất là nông nghiệp. Chính sách ruộng đất được thực hiện đã đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân, giải phóng cả về kinh tế và tư tưởng, tạo một không khí phấn khởi trong nhân dân, củng cố lòng tin vào Đảng, Chính phủ, vào kháng chiến nhất định thành công.

Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới. Những năm đầu kháng chiến, sản lượng nông nghiệp giảm sút so với những năm trước chiến tranh. Đến năm 1952, sản lượng nông nghiệp tăng 12,1% so với năm 1942. Năm 1953, địch dùng máy bay đánh phá hệ thống công trình thuỷ nông sông Cầu ở Việt Bắc, sông Chu ở Thanh Hoá, đập Đô Lương ở Nghệ An; bắn giết trâu bò triệt sức kéo, sản xuất nông nghiệp có giảm sút so với 1952, nhưng so với năm 1942 vẫn tăng 11,2%5.

Chính sách thuế khoá được cải tiến, đơn giản, công bằng và hợp lý được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng và tích cực đóng góp, nhất là thuế nông nghiệp ban hành tháng 5-1951. Trong bốn năm (1951-1954) từ Liên khu V trở ra, nhân dân đã đóng góp 1.322.600 tấn thóc và một số tiền tương đương 1.500.000 tấn6. Cộng vào các nguồn thu khác, ngân sách kháng chiến đã cân bằng, thu đã cao hơn chi, Chính phủ có lương thực dự trữ để cung cấp, tiếp tế cho bộ đội đánh giặc.

Chính sách dân công được ban hành, nhân dân hiểu rõ nghĩa vụ kháng chiến, đi dân công là tham gia đấu tranh với địch để giải phóng đất nước, đã tự nguyện tham gia để phục vụ kháng chiến, phục vụ chiến dịch. Nhiều đoàn dân công từ vùng còn bị địch tạm chiếm ra vùng tự do để phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chỉ trong tám chiến dịch lớn ở chiến trường chính Bắc Bộ (từ Chiến dịch Biên giới đến Chiến dịch Điện Biên Phủ) đã có tới 1,5 triệu lượt dân công phục vụ, tính thành hơn 40,4 triệu ngày công.

Đường giao thông bị phá hoại trong những năm đầu kháng chiến để ngăn chặn xe tăng và cơ giới địch đã được sửa lại và mở thêm để phục vụ vận tải cơ giới trong những năm cuối kháng chiến. Với sự hướng dẫn của công chính và công binh, hàng triệu dân công đã mở đường, làm đường với các phương tiện thô sơ. Cuốc, xẻng, choòng... là chủ yếu. Trong hơn bốn năm từ 1950 đến 1954 chúng ta đã khôi phục và mở rộng 3.670 km đường cũ, làm 505 km đường mới. Trong đó có 2.080 km đường giao thông vận tải chiến lược, từ biên giới Việt - Trung xuyên qua Việt Bắc sang Tây Bắc tới Lai Châu, Điện Biên Phủ, xuống Liên khu III, vào tới Liên khu IV.
______________________________________________________
1. Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
2. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 203.
3. Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 158-159.
4. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 206.
5, 6. Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), Sđd, tr.176.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #107 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2022, 08:46:48 pm »


Cũng từ năm 1950, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước ta thoát khỏi thế bao vây của chủ nghĩa đế quốc, tiếp xúc được với Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân anh em, bắt đầu nhận được sự chi viện của quốc tế về vật chất. Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vừa được thành lập, mới bắt đầu xây dựng đất nước đã phải viện Triều chống Mỹ, song vẫn cố gắng chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. "Một miếng khi đói bằng một gói khi no", viện trợ của Trung Quốc đã giúp chúng ta giải quyết được nhiều khó khăn, nhất là về vũ khí, đạn dược và phương tiện vận tải để mở các chiến dịch ngày càng lớn, đặc biệt là trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Viện trợ của Trung Quốc trong chiến dịch này có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng ta tự lực cánh sinh là chủ yếu. Riêng về gạo, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ nhân dân ta đã đóng góp 25.056 tấn, nhân dân Lào cung cấp 300 tấn, Trung Quốc viện trợ 1.700 tấn1, về đạn pháo 105 ly, suốt chiến dịch ta sử dụng gần 21.000 viên, trong số đó có 11.715 viên đạn chiến lợi phẩm thu được trong Chiến dịch Biên giới (1950), 400 viên thu được ở Banaphào trong Chiến dịch Trung Lào, hơn 5.000 viên bộ đội ta đoạt được dù tiếp tế của địch ngay ở Điện Biên Phủ; Trung Quốc viện trợ cho ta trong chiến dịch 3.600 viên2.

Có sự chi viện vô cùng to lớn của hậu phương, hậu cần đã thực hiện chức năng là khâu nối liền hậu phương với tiền tuyến đánh giặc: tổ chức tiếp nhận, vận chuyển tới mặt trận, cung cấp tiếp tế tới chiến sĩ, cứu chữa và chuyển thương, bệnh binh nặng về tuyến sau.

Tổ chức hậu cần đã được hoàn thiện dần qua những năm phục vụ và bảo đảm cho tác chiến. Từ các ngành phục vụ độc lập với nhau trong những năm đầu kháng chiến, đã tổ chức tập trung lại thành hậu cần quân đội, thống nhất chỉ huy các ngành cung cấp, tiếp tế, phục vụ để bảo đảm các nhu cầu tác chiến. Hậu cần quân đội được tổ chức thành hệ thống tổ chức thống nhất trong toàn quân, có sự chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống dưới khi bước vào Đông Xuân 1953-1954. Tổ chức hậu cần địa phương với hình thức Hội đồng Cung cấp mặt trận từ Trung ương tới liên khu, tỉnh đã hình thành với chức năng huy động nhân, vật lực các địa phương, vận dụng sức mạnh của hậu cần nhân dân phục vụ chiến dịch. Hậu cần quân đội đã cùng Hội đồng Cung cấp mặt trận phối hợp chặt chẽ với nhau, phục vụ thành công các chiến dịch trên các chiến trường.

Lực lượng hậu cần quân đội đã được triển khai trên các hướng chiến trường, phù hợp với yêu cầu tác chiến trên các hướng. Hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ kết hợp chặt chẽ với Hội đồng Cung cấp mặt trận Khu Tây Bắc, triển khai các tuyến hậu cần, hình thành một thế bố trí từ phía sau ra phía trước, bảo đảm cho các hướng tiến công vào tập đoàn cứ điểm địch. Thế bố trí vững chắc, liên hoàn, hợp lý này là cơ sở để tiến hành mọi công tác bảo đảm hậu cần trong mọi tình huống, không bị gián đoạn.

Sửa đường, giữ đường để vận tải thường xuyên thông suốt là nhiệm vụ quan trọng của hậu cần chiến dịch. Địch đánh phá dữ dội các tuyến vận tải. Nava đã "sử dụng tận lực không quân để phá tuyến đường vận tải"3. Nhưng các chiến sĩ công binh, vận tải, dân công đã dũng cảm, thông minh, đánh bại mọi thủ đoạn đánh phá của địch. "Tất cả những nỗ lực của không quân để ngăn trở việc sửa đường đều vô hiệu"4. Những chuyến xe ôtô chở đạn chạy ban ngày, vượt đèo Pha Đin dưới sự uy hiếp thường xuyên của máy bay địch. Những chiếc mảng chở 2-3 tạ gạo do một nữ dân công điều khiển xuôi dòng sông Nậm Na hơn 80 km vượt qua 102 ghềnh thác. Những chiếc xe đạp thồ 1-2 tạ, cao nhất tới 352 kg vượt qua hàng trăm kilômét đường đèo dốc. Giuyn Roa viết: "Những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200-300 kg... đã đánh bại tướng Nava"5.

Gạo là nhu cầu lớn nhất về vật chất: 80 tấn/ngày cho toàn chiến dịch, vận chuyển từ hậu phương xa 500-700 km gặp nhiều khó khăn do địch đánh phá ác liệt tuyến giao thông vận tải. Hậu cần chiến dịch cùng Hội đồng Cung cấp mặt trận Khu Tây Bắc chủ trương tận lực huy động tại chỗ. Cán bộ hậu cần, quân nhu cùng cán bộ địa phương về tận các làng bản, vận động nhân dân đóng góp, bán gạo cho bộ đội để giải phóng quê hương. Nhân dân Tây Bắc nhiệt liệt hưởng ứng, nhiều gia đình vét cả thóc giống để cung cấp cho bộ đội. Kết quả đã huy động tại Tây Bắc được 7.311 tấn gạo, chiếm 43% tổng số gạo sử dụng tại mặt trận. Sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, hậu cần tổ chức vận chuyển thóc giống, gạo, nông cụ... lên Tây Bắc để phục vụ sinh hoạt và sản xuất của đồng bào.

Trong khi binh sĩ địch phải sống chui rúc trong hầm hào lầy lội, hậu cần của ta đã cùng cán bộ chỉ huy hướng dẫn cho chiến sĩ tạo điều kiện "bình thường hoá sinh hoạt ở trận địa". Hầm sinh hoạt được củng cố, có rãnh thoát nước để giữ được khô ráo, có dù lát trần và vách. Bếp Hoàng cầm được xây dựng ở ngay trận địa để bảo đảm cho bộ đội được ăn nóng, uống nóng. Công trình vệ sinh cũng được xây dựng thành hầm ở cuối hướng gió. Bộ đội được luân phiên về phía sau để tắm giặt, nghỉ ngơi. Điều kiện sinh hoạt được bình thường hoá đã nâng cao sức khoẻ và tinh thần chiến đấu của bộ đội.

Việc cứu chữa thương binh có nhiều tiến bộ. Các trạm quân y tuyến chiến thuật cấp cứu kịp thời và chuyển nhanh thương binh về tuyến chiến dịch. Tuyến quân y chiến dịch đã triển khai các bệnh viện chuyên điều trị thương binh nhẹ, thương binh nặng và bệnh binh. Việc chuyển thương binh, bệnh binh trên đường dài về các bệnh viện hậu phương được tổ chức chu đáo. Mỗi xe ôtô chuyển thương binh là một "bệnh xá lưu động", mỗi tổ cáng thương (không đi được xe ôtô vận tải) là "một gia đình thân yêu".

Trong Đông Xuân 1953-1954 và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân đã tập trung lực lượng để chi viện cho tiền tuyến theo khẩu hiệu "Tất cả cho mặt trận, tất cả đế chiến thắng", bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Hai mươi mốt năm sau Điện Biên Phủ, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, một lần nữa cả nước lại dồn sức người, sức của theo khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" để chi viện và bảo đảm cho tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Hậu phương đã phát huy sức mạnh của toàn dân chi viện cho tiền tuyến cả về vật chất và tinh thần. Hậu cần đã làm tròn chức năng là khâu nối liền hậu phương với tiền tuyến. Đó là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, là một điều kiện quan trọng để bảo đảm cho chiến thắng.

Đất nước nay đã thống nhất, đang xây dựng trong hoà bình vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhưng phải luôn cảnh giác với những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch. Kế tục truyền thống dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc, vận dụng những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong kháng chiến vừa qua, việc xây dựng đất nước, xây dựng kinh tế ngày nay gắn liền với công cuộc củng cố quốc phòng cũng là chuẩn bị về hậu phương để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
________________________________________________
1, 2. Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.124, 119.
3, 4. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 256-258.
5. Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 358.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #108 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2022, 08:50:03 pm »


MẤY BÀI HỌC VỀ TỔ CHỨC BẢO ĐẢM QUÂN Y
TRONG CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

NGUYỄN THÚC MẬU


1. Tổ chức bảo vệ sức khỏe

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày lại mở ra tại một địa bàn xa hậu phương căn cứ, ở một vùng rừng núi mới giải phóng. Vì vậy bảo vệ, giữ gìn sức khỏe bộ đội chiến đấu là một yêu cầu cấp thiết. Muốn hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe bộ đội thì không phải chỉ có ngành quân y làm đơn độc mà phải có một tổ chức vận động quần chúng to lớn, sâu rộng khắp từ đơn vị tới mọi người. Đó phải là một tổ chức được chỉ huy, chỉ đạo thống nhất từ Tư lệnh mặt trận xuống người chỉ huy đơn vị cơ sở rồi đến người chiến sĩ. Bài học Quang Trung hành quân từ Nam ra Bắc đánh quân Thanh mà vẫn giữ vững quân số chiến đấu còn nguyên giá trị. Tổ chức bảo vệ sức khỏe trong Chiến dịch Điện Biên Phủ được gọi là Ủy ban Bảo vệ sức khỏe. Tổ chức này được tổ chức ra ở các cấp, các đơn vị trên cơ sở được quần chúng bầu ra, thành phần bao gồm: một người trong số chỉ huy thường là cấp phó chính trị, một cán bộ hậu cần và một cán bộ quân y. Ủy ban Bảo vệ sức khỏe cấp trên có nhiệm vụ hướng dẫn chỉ đạo Ủy ban Bảo vệ sức khỏe cấp dưới thuộc quyền. Phương thức hoạt động của Ủy ban Bảo vệ sức khỏe lấy tuyên truyền giáo dục, vận động để tổ chức thực hiện rộng rãi trong quần chúng, lấy hạt nhân trong quần chúng là chiến sĩ vệ sinh, người vận động, tổ chức trong mỗi tiểu đội, người gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động bảo vệ sức khoẻ, từ đó lan ra tập thể.

Chỉ đạo công tác bảo vệ sức khỏe phải chống hình thức mệnh lệnh từ trên xuống mà lấy biện pháp thuyết phục là chính, dựa vào sự tự giác và tinh thần thi đua giữ vững quân số chiến đấu của từng đơn vị. Vì vậy, Ủy ban Bảo vệ sức khoẻ phải khéo kết hợp công tác chỉ huy đơn vị để động viên khen thưởng những đơn vị có thành tích giữ vững quân số khoẻ (ngược lại phê bình hoặc kỷ luật những cá nhân và đơn vị để tỷ lệ quân số ốm đau tăng trong những đơn vị có điều kiện tương tự như nhau).

Cán bộ quân y ở các cấp là người trực tiếp hướng dẫn đôn đốc, làm tham mưu cho Ủy ban Bảo vệ sức khoẻ, khéo lồng những biện pháp y học vào phong trào quần chúng và từ những biện pháp ấy quần chúng sẽ phát huy sáng kiến ra nhiều cách để thực hiện. Ví dụ: Biết có thể xua đuổi muỗi bằng mùi DDT và biết muỗi Anôphen sợ mùi DDT, chiến sĩ đã tẩm DDT ở cửa hầm ngủ. Quân y đỡ phải phun thuốc DDT trong hầm ngủ và cũng đỡ tốn thuốc mà ta có rất ít. Những sáng kiến như thế này được giới thiệu rộng rãi cho các đơn vị thực hiện và cứ như thế hàng trăm sáng kiến bảo vệ sức khoẻ khác lại được nảy nở trong quần chúng. Người cán bộ quân y và chiến sĩ vệ sinh phải khéo khai thác sáng kiến, biết trân trọng sáng kiến có khi ban đầu chỉ là những biện pháp giản đơn, nếu nâng cao thành sáng kiến thì nó sẽ có hiệu lực rất to lớn, ví dụ: bếp "Hoàng Cầm".

Công tác bảo vệ sức khoẻ phải được chú ý kết hợp chặt chẽ với công tác chỉ huy của thủ trưởng quân sự, có cách sử dụng lực lượng hợp lý, với công tác hậu cần, nuôi quân, công tác chính trị tuyên truyền động viên, các mặt công tác này không thể tách rời nhau, đều lấy mục tiêu quân sự làm mục đích phấn đấu.

Càng trong những hoàn cảnh chiến đấu gay go quyết liệt, kéo dài thì càng phải quan tâm hơn đến công tác bảo vệ sức khỏe cũng như công tác lãnh đạo chính trị tư tưởng đối với quyết tâm chiến đấu, ra sức khắc phục khó khăn, để bình thường hóa và ổn định sinh hoạt. Sau những đợt tấn công gay go không thành công ở đồi A1, sức khỏe bộ đội bị giảm. Song song với việc tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu, ổn định tình hình tư tưởng, Bộ Chỉ huy mặt trận đã phát động một phong trào bảo vệ sức khỏe, giữ vững quân số. Khẩu hiệu "Bình thường hóa sinh hoạt", ngay tại trận địa được nêu ra. Chỉ thị của Bộ Chỉ huy mặt trận đã được toàn thể mặt trận chấp hành nghiêm chỉnh, các ngành bảo đảm đã cùng với địa phương ra sức thực hiện các yêu cầu của chiến đấu. Công tác chính trị chống tư tưởng tạm bợ đã được triển khai. Kết quả là tỷ lệ ốm giảm đi từ 10% quân số xuống 6% rồi 5%. Dịch kiết lỵ được dập tắt; tẩy uế chiến trường được chú trọng ngay sau trận đánh, các xác chết của địch không bị bỏ thối gây ô nhiễm môi trường như trước nữa.

Tóm lại, công tác bảo vệ sức khỏe nhằm giữ vững quân số chiến đấu là một công tác chuyên môn nhưng có tính chất quần chúng rộng rãi do quần chúng tự giác làm, dựa vào lòng yêu nước nồng nàn mà chỉ có quân đội cách mạng mới thực hiện được. Muốn làm được việc này phải có sự kết hợp từ trên xuống dưới, kết hợp giữa chỉ huy, chính trị, hậu cần và quân y mà quân y là tham mưu.
______________________________________________________
1. Viện Sử học: Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12318



« Trả lời #109 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2022, 08:50:40 pm »


2. Tổ chức bậc thang điều trị cứu chữa thương, bệnh binh ở hỏa tuyến, thu dung điều trị và chuyển thương

Bậc thang điều trị - cứu chữa thương binh là hệ thống tổ chức thống nhất vừa cấp cứu - điều trị vừa vận chuyển theo phương thức cứu chữa dây chuyền, thống nhất từ hỏa tuyến (đại đội - tiểu đoàn) đến hậu phương chiến dịch và hậu phương quốc gia.

- Tuyến đại đội và tiểu đoàn:

Phải tập trung làm cho thật tốt công tác cấp cứu cơ bản đầu tiên tức là băng bó vết thương cầm máu, cố định các vết thương gãy xương, dự phòng và chống choáng làm cơ sở cho việc xử trí phẫu thuật và điều trị tuyến sau.

Quân y luôn luôn theo sát bộ đội khi tiến quân, khi vào cửa đột phá và theo từng mũi bộ đội tiến vào tung thâm, quân y tiểu đoàn phải chia làm hai tổ, một tổ tiến lên để chuẩn bị thay thế cho quân y đại đội ở cửa đột phá. Kinh nghiệm cho biết thương binh ở đột phá khẩu bao giờ cũng nhiều, có trận gấp 10 lần trong tung thâm.

Vì máy bay và pháo binh địch đánh phá ác liệt nhất ở cửa đột phá cho nên dù cho ác liệt cũng phải giải quyết cho tốt thương binh ở cửa đột phá. Quân y phải chú ý đến khâu quan trọng này để hễ có thương binh là phải cấp cứu và chuyển ra ngay khỏi cửa đột phá. Sau khi tiến hành các công tác cấp cứu đầu tiên và bổ sung cấp cứu, phải chuyển ngay thương binh về tuyến sau bằng lực lượng vận tải tải thương và bằng các lực lượng khác.

- Các đại đội vinh quang.

- Tuyến trung đoàn và đại đoàn.


Là những tuyến phải xử lý phẫu thuật đầu tiên: phẫu thuật cấp cứu và phẫu thuật cơ bản và cũng là tuyến phải xử lý triệt để các choáng chấn thương.

So với các chiến dịch trước, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân y đã bố trí tiếp cận địch hơn và tiến dần lên phía trước từ 4 đến 5 km, tiến tới từ 2 đến 3 km. Vì vậy, đã rút ngắn được thời gian từ khi bị thương đến khi được xử lý phẫu thuật.

Kinh nghiệm cho thấy ở hai tuyến này phải thực hiện đúng phạm vi cứu chữa đã được phân công vì số thương binh nhiều: tuyến đại đội phải làm tốt trước hết công tác chọn lọc thương binh, phân loại ra được những thương binh bị choáng để cứu chữa, những thương binh phải được xử lý khẩn cấp, không trì hoãn được và làm tốt công tác xử lý phẫu thuật khẩn cấp này, không được vướng vào các cuộc phẫu thuật khác. Cũng phải nhanh chóng chuyển được các thương binh về tuyến các đội điều trị đại đoàn. Tại các đội điều trị đại đoàn vẫn phải chú ý xử lý những trường hợp cấp cứu còn lại, và nhiều khi vẫn còn phải cứu chữa các trường hợp choáng do quá trình vận chuyển.

Song song với việc xử lý các trường hợp cấp cứu, phải giải quyết các phẫu thuật cơ bản; xử lý các thương binh nhẹ để giữ lại bổ sung cho chiến đấu, những thương binh có thể khỏi trong khoảng 7-10 ngày.

- Tuyến các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch:

Các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch cũng chia làm hai tuyến: Một số bám sát các đội điều trị đại đoàn, hỗ trợ tăng cường cho các đại đoàn, thường là những hướng có nhiều thương binh. Ở tuyến này các đội điều trị cũng xử lý các thương binh nặng chưa được xử lý. Một số ở phía sau, làm nhiệm vụ ở khu vực hậu phương chiến dịch, phải xử lý cả thương binh nặng và thương binh nhẹ, xử lý lại một số thương binh làm chưa tốt ở các tuyến trước. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ này, đã bắt đầu chuyên môn hóa, có sự chuyên môn về xử lý chuyên khoa. Vì vậy, có đội điều trị chuyên về thương binh nhẹ, có đội điều trị chuyên về thương binh nặng: có vết thương sọ não, lồng ngực, gãy xương lớn, có đội điều trị chuyên điều trị bệnh binh. Các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch phải gửi lại điều trị các thương binh nhẹ để bổ sung quân số và các thương binh nặng chưa chuyển ngay về các bệnh viện phía sau, bệnh viện ở hậu phương.

- Tuyến Cục Quân y:

Vì chiến dịch diễn ra ở một địa bàn xa hậu phương tức là khu căn cứ Việt Bắc 300 - 400 km, nên song song với việc tổ chức ra các đội vận chuyển thương binh chuyên trách do quân y kết hợp với vận tải phụ trách, Cục Quân y phải điều động các bệnh viện phía sau tiến lên một bước để đón các thương binh chuyển về, đã tổ chức các bệnh viện ở phía nam Sơn La và ở Yên Bái, các trạm chuyển bố trí suốt trên đường từ Sơn La về Yên Bái, từ Yên Bái về Phú Thọ (Đại Đồng - Đường Chè).

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng như trong các chiến dịch trước đây, vì số thương binh tăng lên, nhất là những lúc chiến đấu gay go, ở tất cả các tuyến điều trị đều phải tăng mức thu dung, nhất là ở các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch hoặc thuộc Cục Quân y tăng lên 150%, hoặc có khi gấp đôi. Trong những trường hợp như vậy, để có lực lượng phục vụ thương, bệnh binh, phải triệt để tận dụng khả năng của anh chị em dân công - đặc biệt trong các công tác hộ lý, nuôi dưỡng thương, bệnh binh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM