Lịch sử quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Giêng, 2022, 09:38:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 1312 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:17:42 pm »


50 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ





ĐIỆN BIÊN PHỦ
Hợp tuyển công trình khoa học


















NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Hà Nội - 2005
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #1 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:20:02 pm »


Tên sách: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2005
Số hóa: ptlinh, chuongxedap


HỘI ĐỔNG XUẤT BẢN

NGUYỄN KHOA ĐIỀM   Chủ tịch
LÊ VĂN DŨNG      Uỷ viên
HỔNG VINH       Uỷ viên
TRỊNH THÚC HUỲNH   Uỷ viên
ĐẶNG HỮU HẢI      Uỷ viên



XÂY DỰNG BẢN THẢO

TRỊNH VƯƠNG HỒNG (Chủ biên)
ĐINH XUÂN LÂM      BÙI ĐÌNH THANH
PHẠM CHÍ NHÂN      TRẦN ĐỨC CƯỜNG
TRÌNH MƯU         NGUYỄN VĂN KHÁNH
TRẦN VĂN THỨC      LÊ VĂN YÊN
TRẦN THỊ TỐN      LƯU TRẦN LUÂN



VỚI SỰ THAM GIA CỦA

VŨ QUANG HIỂN      PHẠM VĂN THẠCH
NGUYỄN MẠNH HÀ   NGUYỄN MINH ĐỨC
VÕ VĂN BÉ         LÊ THANH BÀI
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:27:26 pm »


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Sau 9 năm chiến đấu với tinh thần "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", sức mạnh của dân tộc ta và của thời đại đã hội tụ về Điện Biên Phủ để làm nên một chiến thắng chấn động địa cầu, đuổi đội quân viễn chinh Pháp ra khỏi bán đảo Đông Dương, mở đầu sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Chiến công ấy là cột mốc bằng vàng của lịch sử dân tộc, như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX.

50 năm qua, các chính khách, các nhà chính trị - quân sự và các nhà khoa học, đặc biệt là những người trực tiếp tham chiến ở Điện Biên Phủ đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu, luận giải tại sao quân Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ? Tại sao một dân tộc nhỏ yếu với đội quân đầu trần, chân đất đã quật đổ một cách ngoan cường đến vậy đội quân tinh nhuệ nhà nghề, trang bị hiện đại, được đế quốc Mỹ giúp sức?

Để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn cảnh về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cũng như thành tựu nghiên cứu về chiến công vĩ đại này trong nửa thế kỷ qua, chúng tôi cho xuất bản cuốn Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học nằm trong bộ sách lớn về Điện Biên Phủ dưới sự chỉ đạo của Hội đồng xuất bản do đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương làm Chủ tịch.

Các công trình nghiên cứu về Điện Biên Phủ rất phong phú và đa dạng, đặc biệt cứ sau 10 năm, 20 năm, 30 năm, 40 năm, 50 năm lại đạt được những thành tựu mới. Mỗi cuốn sách, mỗi bài báo khoa học tự thân nó đã là một tác phẩm hoàn chỉnh, rất khó sắp xếp theo một trật tự nhất định. Căn cứ vào nội dung chính của từng công trình khoa học và một số yếu tố khác, chúng tôi sắp xếp cuốn sách này thành năm phần:

Phần thứ nhất: Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 - Bối cảnh của trận quyết chiến chiến lược.

Phần thứ hai: Chiến thắng Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Phần thứ ba: Ý nghĩa thắng lợi, tầm vóc thời đại, bài học kinh nghiệm.

Phần thứ tư: Các nước với Điện Biên Phủ.

Phần thứ năm: Biên niên sự kiện.

Việc tuyển chọn và sắp xếp như vậy cũng chỉ là tương đối, có thể còn một số hạn chế, nhược điểm nhất định, nhưng đây là cuốn sách tập hợp tương đối đầy đủ các tác giả, các công trình khoa học tiêu biểu trong 50 năm qua về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp.

   
Tháng 8 năm 2004
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:42:38 pm »


PHẦN THỨ NHẤT
CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
BỐI CẢNH CỦA TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC

 

BỐI CẢNH VÀ TÌNH HÌNH ĐỊA BÀN ĐIỆN BIÊN PHỦ*

I-BỐI CẢNH

Đến năm 1953, cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam, Lào, Campuchia đã bước sang năm thứ tám.

Tình hình nguy khốn của quân Pháp trên chiến trường Đông Dương vào đầu năm 1953 đã buộc đế quốc Pháp phải có những phương sách mới, cấp thiết để cứu vãn tình thế. Chính phủ Pháp cho rằng phải tập trung mọi cố gắng tìm ra một "lối thoát danh dự", "lối thoát trong thắng lợi"; muốn đạt được mục tiêu đó, trước mắt cần ra sức đẩy mạnh chiến tranh, giành thắng lợi quân sự tương đối lớn.

Vào giữa năm 1953, được sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp chỉ định tướng Nava làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, thay tướng Xalăng. Mặc dầu chưa nổi tiếng như tướng Đờ Lát Đờ Tátxinhi, nhưng Nava là một nhân tài quân sự trong hàng tướng trẻ của quân đội Pháp lúc bấy giờ, có tri thức quân sự và nhãn quan chiến lược. Sau một thời gian ngắn điều tra nghiên cứu chiến trường Đông Dương, Nava đã phác hoạ một kế hoạch chiến lược tương đối hoàn chỉnh nhằm cải biến tình hình, hòng chuyển bại thành thắng và trong một thời gian ngắn giành thắng lợi chiến lược có tính quyết định.

Về quân sự, Nava và các tướng tá Pháp - Mỹ nhận định rằng tình hình chiến sự ngày càng bất lợi đối với quân đội viễn chinh Pháp, quân đội của đối phương đã lớn mạnh hơn nhiều, có bộ đội chủ lực rất thiện chiến, bộ đội địa phương quen thuộc chiến trường, có lực lượng cơ động mạnh gồm nhiều đại đoàn trang bị tương đối tốt, tinh thần chiến đấu anh dũng, có khả năng mở những chiến dịch quy mô tương đối lớn.

Chiến tranh du kích phát triển cao đã giam chân và tiêu hao nhiều sinh lực của chúng. Trong khi đó lực lượng quân viễn chinh Pháp ngày càng lâm vào tình trạng phân tán và bị động. Phần lớn lực lượng phải làm nhiệm vụ phòng ngự trong hàng ngàn đồn bốt trên khắp các chiến trường. Lực lượng chiếm đóng địa phương đã suy yếu, lực lượng tổng dự bị càng suy yếu hơn, thiếu hẳn một lực lượng cơ động chiến lược mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của chủ lực ta, hoặc để mở những cuộc phản công giành lại quyền chủ động.

Từ tình hình thực tế đó, Nava thấy phải thay đổi tình thế, trên cơ sở xây dựng một "quân đoàn tác chiến" mạnh hơn chủ lực ta, lấy việc gấp rút tập trung một lực lượng cơ động chiến lược đủ sức tiến công và tiêu diệt chủ lực ta làm biện pháp chủ yếu để thoát khỏi tình trạng bị động phòng ngự, tiến tới giành thế chủ động. Biện pháp tăng cường lực lượng cơ động chiến lược của Nava là ráo riết tăng cường quân nguỵ thay thế quân chiếm đóng Âu – Phi, xin thêm viện binh, chấn chỉnh biên chế, rút gọn cơ quan.
__________________________________________
* Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ (13-3-7-5-1954), Hà Nội, 1991.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #4 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:48:13 pm »


Theo kế hoạch của Nava thì quân đội Pháp trong Thu Đông năm 1953 sẽ tiến hành phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, đến mùa Xuân năm 1954, tiến công chiến lược ở miền Nam, tới Thu Đông năm 1954 sẽ chuyển lực lượng cơ động chiến lược ra Bắc Bộ thực hiện các đòn tiến công chiến lược, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng ta, giành thắng lợi quân sự to lớn, kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng, buộc ta phải đàm phán trong tình thế có lợi cho chúng. Nếu không chấp nhận những điều kiện của Pháp thì chúng sẽ tiến công tiêu diệt chủ lực ta!

Kế hoạch Nava được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua ngày 24-7-1953 và được đánh giá cao trong chính giới Pháp - Mỹ hồi bấy giờ, được coi là một "kế hoạch táo bạo, kiên quyết, có cơ sở vững chắc", "cho phép hy vọng đủ mọi điều".

Ngày 1-8-1953, tướng Nava trở lại Đông Dương để triển khai thực hiện kế hoạch. Trong thư động viên binh sĩ ngày 25-8, Nava viết: Năm nay, năm 1953, trước khi một cuộc hành quân nữa mở màn, tôi cảm hứng về khẩu hiệu của Thống chế Đờ Lát Đờ Tátxinhi mà ban cho các bạn một khẩu hiệu: "Phải ra tay trước, phải hành động nhanh hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận". Khẩu hiệu đó là ''quyền chủ động".

Nava tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn (trên 50% lực lượng cơ động toàn Đông Dương) mở liên tiếp bốn cuộc hành quân lớn ra vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình... hòng đẩy ta vào thế đối phó bị động, mất khả năng tiến công. Nổi bật là cuộc hành quân "Hải Âu" từ ngày 15-10 đến ngày 6-11-1953 với trên 30.000 quân, phần lớn là lính Âu - Phi có xe tăng, xe lội nước và không quân yểm trợ đánh ra tây nam Ninh Bình.

Sau cuộc hành quân "Hải Âu", Nava hí hửng cho rằng triển khai kế hoạch là thuận lợi và đã giành được những thắng lợi hiệp đầu. Chính phủ Pháp cũng hết sức lạc quan, tin tưởng thắng lợi của kế hoạch Nava. Tại Quốc hội Pháp, ngày 28-10-1953, Thủ tướng Lanien đã tuyên bố: "lực lượng của ta đang trên đà phát triển về người và trang bị, còn lực lượng của Việt Minh thì có vẻ không còn ở đỉnh cao của nó nữa".

Về phía ta, Trung ương Đảng đã dự đoán âm mưu mới của thực dân Pháp và Mỹ tăng cường lực lượng mở rộng chiến tranh xâm lược Đông Dương, đã thấy rõ dần những nét chính trong kế hoạch Nava, kịp thời phân tích tình hình, nắm vững tư tưởng chỉ đạo và phương hướng chiến lược cơ bản, xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta, trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường địch hậu và tích cực chuẩn bị mọi sự cần thiết cho bộ đội chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.

Từ chủ trương trên, Bộ Tổng tư lệnh đã đề ra kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 như sau:

- Sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch chiếm đóng Lai Châu, giải phóng toàn bộ khu vực Tây Bắc.

- Phối hợp với Quân giải phóng Pathét Lào mở cuộc tiến công ở Trung - Hạ Lào, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng Lào.

- Đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, củng cố phát triển các căn cứ du kích, phối hợp chặt chẽ với các cuộc tiến công trên.

- Ở hướng Liên khu V, chỉ để lại một bộ phận chủ lực nhỏ cùng lực lượng vũ trang địa phương tích cực đối phó với âm mưu địch xâm phạm vùng tự do, sử dụng đại bộ phận chủ lực của Liên khu V mở cuộc tiến công lên hướng Tây Nguyên, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai.

Lựa chọn hướng tiến công vào Tây Bắc, Trung - Hạ Lào, Tây Nguyên, là những hướng địch có nhiều sơ hở, ta sẽ có điều kiện thuận lợi để tiêu diệt chúng, ta sẽ kéo địch vào các hướng không có lợi cho chúng về địa hình, về sử dụng binh khí kỹ thuật, vận chuyển tiếp tế và cơ động lực lượng cũng như tăng viện.

Nếu điểm quan trọng trong kế hoạch Nava là tập trung binh lực, xây dựng khối cơ động chiến lược thật mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của ta, và hơn thế nữa, để mở những cuộc tiến công lớn tiêu diệt chủ lực ta, thì điều mấu chốt trong trong kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 của ta là giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, phá vỡ khối cơ động tập trung của chúng, điều động từng bộ phận chủ lực của địch ra những hướng khác nhau, chọn những hướng thuận lợi để tiêu diệt chúng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #5 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:51:38 pm »


Trung tuần tháng 11-1953, sau khi Đại đoàn 320 giành thắng lợi trong chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình, đánh thắng cuộc hành quân "Hải Âu" của địch, buộc chúng phải rút khỏi Nho Quan, quân và dân ta trên khắp các chiến trường toàn quốc chủ động tiến quân vào các hướng chiến lược đã xác định.

Ngày 15-11-1953, Đại đoàn 316 được lệnh hành quân lên Tây Bắc, mở cuộc tiến công giải phóng Lai Châu. Việc phát hiện sự di chuyển của chủ lực ta lên hướng Tây Bắc, đặt Bộ Chỉ huy quân Pháp trước những vấn đề mới: Chủ lực ta mở cuộc tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ hay Tây Bắc? Nếu chủ lực ta mở cuộc tiến công vào Tây Bắc thì làm thế nào để bảo đảm an toàn cho lực lượng của chúng ở Lai Châu? Nhất là làm thế nào để bảo vệ Thượng Lào? Đây là sự bất ngờ lớn đối với địch, vì Nava vẫn chờ đợi một cuộc giao chiến với chủ lực ta trên thế mạnh của khối cơ động chiến lược đã được tập trung.

Sự điều quân của ta lên Tây Bắc buộc địch phải đối phó, Nava bị động cho sáu tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20, 21-11-1953, Nava cho rằng chiếm Điện Biên Phủ làm bàn đạp có thể giữ vững được Lai Châu, bảo vệ được Thượng Lào, tiến công mở rộng ra vùng Tây Bắc. Việc chiếm đóng Điện Biên Phủ, không có trong kế hoạch Nava.

Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, một tình huống mới xuất hiện, nhưng lại nằm trong phạm vi phán đoán của ta: nếu Tây Bắc bị quân ta uy hiếp, địch sẽ phải tăng viện lên hướng đó, phải phân tán một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược lên hỗ trợ cho Tây Bắc, che chở cho Thượng Lào.

Ngày 23-11-1953, trong hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến Đông Xuân, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã phân tích tình hình và ý định đánh chiếm Điện Biên Phủ, rút ra kết luận quan trọng: "Vô luận rồi đây địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta. Nó bộc lộ mâu thuẫn của địch giữa chiếm đóng đất đai với tập trung lực lượng, giữa chiếm đóng chiến trường rừng núi với củng cố chiến trường đồng bằng"1  .

Ta chủ trương kiên trì kế hoạch tiến công giải phóng Lai Châu, tăng thêm lực lượng cho hướng Tây Bắc. Đại đoàn 316 đang hành quân được lệnh gấp rút tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu, đồng thời cho một cánh quân tiến nhanh về phía bắc Điện Biên Phủ nhằm chia cắt địch ở Điện Biên Phủ lên. Ngày 7-12-1953, Đại đoàn 308 được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ. Phát hiện lực lượng chủ lực ta tiến lên Tây Bắc, ngày 3-12, Nava quyết định rút bỏ Lai Châu, co lực lượng về Điện Biên Phủ. Theo Nava, Điện Biên Phủ có giá trị chiến lược tốt hơn, vừa để phòng thủ, vừa có sân bay khả dĩ tiếp nhận được các loại máy bay hiện đại ở Đông Dương. Nava lại cho rằng quân ta đã tiến lên Tây Bắc thì "tương kế tựu kế" thu hút lực lượng của ta vào Điện Biên Phủ và khi quân ta tiến công Điện Biên Phủ chắc chắn sẽ bị tổn thất nặng nề. Như vậy, đối với chúng, đứng vững chân ở Tây Bắc, Thượng Lào được an toàn, đồng bằng Bắc Bộ không bị tấn công. Thế là Nava hạ quyết tâm gấp rút tăng cường lực lượng, biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Đến ngày 15-12-1953, quân địch ở Điện Biên Phủ đã lên đến 12 tiểu đoàn, hình thành một hệ thống tập đoàn cứ điểm lớn tại vùng rừng núi Tây Bắc.

Trong những ngày đầu tháng 12-1953, tình hình cả địch và ta trên chiến trường Bắc Bộ có những diễn biến mau lẹ ảnh hưởng tới bước đi chiến lược của cả hai bên. Ngày 6-12, quân Pháp rút khỏi Lai Châu. Ngày 7-12 Bộ Chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh cho Đại đoàn 316 chặn đánh, tiêu diệt quân địch rút từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Sau 10 ngày chiến đấu, Đại đoàn 316 đã tiêu diệt 24 đại đội, giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu (chỉ còn 10 tên Pháp, 175 tên lính nguỵ chạy được về Điện Biên Phủ).

Cùng thời gian, ta cùng bạn mở mặt trận tiến công Trung Lào. Trung đoàn 10 diệt Tiểu đoàn 27 Angiêri, 1 đại đội pháo 105 ly, 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 Marốc... làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch ở Trung Lào. Trung đoàn 66 diệt 1 tiểu đoàn Marốc tại Pà Cuội. Tiếp đó, Trung đoàn 101 cùng lực lượng bạn đánh tan cụm quân địch từ cầu Bi Lan đến Bản Bay, giải phóng Nhommarát. Trên đường số 8, trước sức uy hiếp của Trung đoàn 101 và lực lượng bạn, Tiểu đoàn 9 Tabo hoảng sợ, đốt xe pháo rồi chạy, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Khăm Muộn bị vỡ tung. Địch ở Thàkhẹt tháo chạy. Tỉnh Khăm Muộn được giải phóng. Trước tình hình đó, Nava vội vã điều hai binh đoàn cơ động và một số đại đội lẻ từ Bắc Bộ sang Trung Lào, lập tập đoàn cứ điểm Xênô.

Như vậy, đến lúc này, khoảng 20 tiểu đoàn cơ động chiến lược của địch đã điều đi khỏi đồng bằng Bắc Bộ, phân tán đối phó với ta ở Tây Bắc và Trung Lào.

Sau khi phân tích tình hình mọi mặt của ta và địch, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ hạ quyết tâm: Tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực thiện chiến của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ, mở chiến dịch tiến công tiêu diệt những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương này. Mặt trận Điện Biên Phủ trở thành mặt trận quan trọng nhất vì chủ lực tinh nhuệ của địch đang bị kìm giữ ở đây. Quyết tâm mở chiến dịch tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 là một quyết tâm chiến lược lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta nhằm đánh thắng những cố gắng cao nhất, hình thức phòng ngự mới nhất của địch, tạo ra cục diện mới trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Thắng lợi của chiến dịch này sẽ mở đường cho quân đội ta trưởng thành thêm một bước, thúc đẩy cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta phát triển. Thắng lợi của chiến dịch này không những sẽ tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ của địch (1/5 lực lượng cơ động toàn Đông Dương lúc bấy giờ), giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, đánh thắng kế hoạch chiến lược của Nava, mà còn ảnh hưởng lớn đến tình hình quân sự và chính trị trong nước và trên cả chiến trường ba nước Đông Dương.

Cuối tháng 12-1953, các đại đoàn chủ lực của ta tiếp tục hành quân lên Điện Biên Phủ. Ngày 5-1-1954, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Tổng Tư lệnh, Bí thư Tổng Quân uỷ, được Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ trực tiếp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận, lên đường lên Điện Biên Phủ.
_______________________________
1. Điên Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.446.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #6 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2021, 07:59:28 pm »


II-TÌNH HÌNH ĐỊA LÝ QUÂN SỰ KHU VỰC ĐIỆN BIÊN PHỦ

Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu, nằm trong vùng rừng núi Tây Bắc gần biên giới Việt - Lào, cách Hà Nội 200km đường chim bay, cách Lai Châu 90 km, cách Luông Prabăng (Lào) 190km.

Đối với Pháp, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động giữa miền Bắc Việt Nam - Thượng Lào - miền Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở Đông Nam Á.

Điện Biên Phủ nằm trong một thung lũng vốn là cánh đồng Mường Thanh, dài 18 km, rộng từ 6 đến 8 km, có diện tích đất trồng trọt lớn, dân cư đông đúc nhất trong bốn cánh đồng lớn ở Tây Bắc, với địa hình bằng phẳng, đồng ruộng khô ráo, xen kẽ một số bãi hoang như Sumnun, Cò Mỵ và Hồng Cúm. Xung quanh có rừng núi bao bọc; phía bắc là dãy Nà Phao, phía đông là dãy Pú Hồng, phía tây và phía nam là dải biên giới Việt - Lào. Núi có độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển, có mỏm đột xuất cao tới 1.461m. Phía tây là dãy núi đá, rừng già rậm rạp kéo dài đến biên giới Việt - Lào. Phía đông, đồi núi liên tiếp, có rừng cây thưa bao phủ. Hai dãy núi đông và tây khép lại hai đầu nam - bắc, thành hình lòng chảo Điện Biên.

Giữa cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng lại nổi lên những đồi cao hơn mặt ruộng từ 8 đến 20 m, cá biệt có điểm cao tới 250m. Khu điểm cao Him Lam có giá trị án ngữ phía đông – bắc, trên đường 41 từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ.

Sân bay Mường Thanh có thể sửa chữa để máy bay vận tải và chiến đấu cánh quạt sử dụng. Đi vào lòng chảo Điện Biên Phủ, có ba đường chính: đường Lai Châu qua Nà Phao, Mường Pồn; đường Mường Lầm, Mường Luân và đường 41 (Tuần Giáo vào đường 41 có thể sửa chữa cho vận chuyển cơ giới). Còn có đường nhỏ từ Điện Biên Phủ đi Sốp Hao (Lào) dùng cho ngựa thồ.

Sông Nậm Rốm chảy theo chiều bắc - nam dọc cánh đồng Mường Thanh rộng 60m, mùa khô nước cạn qua lại dễ dàng, mùa mưa nước lũ phải qua bằng cầu Mường Thanh. Các khe suối từ các dãy núi xung quanh đều chảy vào sông Nậm Rốm, nước cạn cơ động dễ dàng.

Thời tiết Điện Biên Phủ chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Mùa khô, sương mù xuống sớm (từ 15 giờ), tan muộn (đến 9 giờ). Những ngày sương mù dày đặc, tầm quan sát rất hạn chế, thuận lợi cho những hoạt động quân sự của ta trong điều kiện đối phương có ưu thế về không quân. Mùa mưa thường kéo dài, gây lầy lội, sụt lở, nước lũ, cây đổ... ảnh hưởng đến cơ động và chiến đấu; độ ẩm lớn gây khó khăn cho việc bảo quản vũ khí, nhất là khí tài quan trọng, lương thực, thực phẩm.

Huyện Điện Biên hồi đó có chừng 21.000 người, gồm 11 dân tộc, sống trong 17 xã.

Năm 1952, huyện Điện Biên được giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập, lực lượng dân quân du kích được tổ chức ở các xã, đại đội địa phương được xây dựng ở huyện, nhưng trang bị kém, ít huấn luyện, thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Sau ngày giải phóng, nhân dân vùng thấp sản xuất khá, đời sống sung túc hơn đồng bào rẻo cao. Tuy thực dân Pháp cho là lúa gạo của Điện Biên Phủ có thể nuôi sống 20.000 đến 25.000 người, nhưng thực tế kinh tế tại chỗ rất nghèo nàn.

Sau khi đổ quân, địch đã lợi dụng các điểm cao giữa cánh đồng và sân bay để tổ chức phòng ngự, xây dựng hệ thống tập đoàn cứ điểm gồm nhiều trung tâm đề kháng, ngăn chặn ta từ xa, buộc ta muốn tiến đánh phải triển khai đột phá lần lượt từ ngoài trung tâm vào lòng chảo Điện Biên Phủ từ 10 đến 15km. Như vậy, chúng sẽ có điều kiện dùng pháo binh để sát thương ta và dùng xe tăng cơ giới phản kích ngăn chặn các mũi tiến công của ta.

Nhưng địch phòng ngự trong một thung lũng lòng chảo bốn bề núi cao, ta lại có điều kiện hình thành thế bao vây chiến dịch, tổ chức hoả lực từ trên cao bắn xuống khống chế khu trung tâm. Khó khăn lớn nhất của cả hai bên là xa hậu phương, xa các căn cứ, đường vận tải tiếp tế xa và xấu, khả năng hậu cần tại chỗ rất mỏng yếu, mọi nhu cầu nhân vật lực cho tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đều phải huy động và vận chuyển từ xa, nên công tác bảo đảm chiến dịch rất khó khăn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #7 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:10:59 pm »


CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ*
(Trích)

Kế hoạch Nava, cố gắng chiến tranh cao nhất của Pháp và Mỹ ở Đông Dương hòng xoay chuyển tình thế, chuyển bại thành thắng

Tháng 5-1953, với sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Hăngri Nava, Tổng Tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương, làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

Sau một tháng khảo sát, tìm hiểu thực tế chiến trường, ngày 2-7-1953, Nava vạch ra được một kế hoạch toàn diện, có hệ thống để báo cáo với Chính phủ Pháp. Hội đồng Chính phủ và Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch quân sự của Nava.

Nhiệm vụ trung tâm của kế hoạch Nava là tổ chức khối chủ lực tác chiến tới năm 1954 gấp ba lần số binh đoàn hiện có.

Nava chia kế hoạch tác chiến thành hai bước:

Bước thứ nhất trong Thu Đông 1953 và Xuân 1954, giữ vững thế phòng ngự chiến lược ở 18 độ vĩ tuyến bắc trở ra; tiến công bình định miền Nam, miền Trung Đông Dương; xoá bỏ vùng tự do Liên khu V.

Bước thứ hai, nếu đạt được bước một sẽ chuyển sang tiến công chiến lược miền Bắc, giành thắng lợi quân sự to lớn, buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho chúng.

Cả Pháp và Mỹ đều hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ "chuyển bại thành thắng". Kế hoạch quân sự Nava là cố gắng cao nhất và cuối cùng của Pháp và Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Thực hiện kế hoạch Nava, Pháp tăng viện quân viễn chinh, mở rộng khối quân cơ động, ráo riết bắt thanh niên vào lính nguỵ, phát triển phỉ vùng rừng núi. Suốt mùa Hè và mùa Thu 1953, địch mở hàng chục trận càn quét lớn nhỏ ở Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Bộ, đánh phá ác liệt các căn cứ của ta. Tháng 7-1953, chúng cho quân nhảy dù tập kích Lạng Sơn. Tháng 8-1953. chúng rút lực lượng chiếm đóng Nà Sản về tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh, từ đầu tháng 9-1953, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu nghiên cứu tình hình các mặt vạch kế hoạch tác chiến. Để phá kế hoạch Nava, vấn đề mấu chốt là ta phải phân tán cho được khối cơ động chiến lược to lớn mới được dựng lên của địch. Muốn thế, ta phải đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, chiến tranh du kích ở mọi chiến trường (nhất là đồng bằng Bắc Bộ); phải nâng cao chất lượng chiến đấu của ba thứ quân, phải khoét sâu hơn nữa các mặt yếu của địch. Hướng tiến công để phân tán chủ lực địch dự định là Lai Châu, Tây Nguyên và Trung - Hạ Lào. Hướng kéo chủ lực địch tiến công ra để đánh tiêu diệt lớn dự định là Việt Bắc hoặc Tây Bắc, đồng thời nắm vững khối chủ lực làm lực lượng dự bị chiến lược và sẵn sàng đánh địch tiến công lên trung du (Thái Nguyên, Phú Thọ). Những ý kiến sơ bộ này đã được Tổng Quân uỷ báo cáo lên Bộ Chính trị.

Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Trong hội nghị lần này, sau khi phân tích kỹ lưỡng âm mưu và phương hướng chiến lược cơ bản đã được đề ra ở Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1953), Bộ Chính trị đã đi tới xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.

Theo phương hướng chiến lược và chủ trương tác chiến nói trên, Bộ Chính trị ra nghị quyết thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, giữ vững quyền chủ động, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp trên phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn Đông Dương. Vì hành động của địch chưa rõ rệt, Bộ Chính trị nhấn mạnh phương châm: "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" và nhấn mạnh các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng.

Căn cứ vào chủ trương nói trên của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu đặt kế hoạch tác chiến cụ thể cho các chiến trường. Kế hoạch tác chiến này được Tổng Quân uỷ thông qua, và được Bộ Chính trị phê chuẩn. Các kế hoạch phối hợp tác chiến giữa ta với Lào, Campuchia cũng đã được bạn hoàn toàn nhất trí.

______________________________
* Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1996.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #8 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:16:45 pm »


Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1953 mở đường đi tới những thắng lợi lịch sử trong Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nghị quyết Bộ Chính trị được quán triệt tới các cấp, các ngành. Mọi việc chuẩn bị chiến trường, công tác tổ chức lực lượng được triển khai mạnh mẽ.

Sau đợt hoạt động Đông Xuân 1952-1953, thực hiện nghị quyết của Tổng Quân uỷ, từ tháng 5 trở đi các đơn vị trong toàn quân lần lượt triển khai chỉnh quân chính trị. Qua chỉnh quân, trình độ giác ngộ giai cấp của bộ đội đã được nâng cao thêm một bước, sức chiến đấu của bộ đội được tăng cường về mọi mặt.

Nhằm đẩy mạnh kháng chiến, Đảng ta chủ trương tiếp tục thực hiện các cuộc cải cách dân chủ bằng cuộc phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô tiến tới cải cách ruộng đất. Tháng 3-1953, Hội đồng Chính phủ thông qua các văn bản về chính sách ruộng đất và phát động quần chúng. Ngày 12-4, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ba sắc lệnh về ruộng đất. Từ tháng 4-1953 đến tháng 7-1954, Đảng đã lãnh đạo nông dân tiến hành năm đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất ở một số vùng tự do. Tin thắng lợi của giảm tô và cải cách ruộng đất ở hậu phương dội đến tiền tuyến càng làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ ta, tăng thêm quyết tâm thi đua giết giặc lập công. Kết quả này góp phần quan trọng vào thắng lợi của Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đồng thời với việc tiến hành phát động quần chúng và chỉnh quân chính trị, Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh công tác cầu đường, giao thông vận tải và chi viện tiền tuyến.

Tháng 6-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị cho cấp uỷ các địa phương "phải tăng cường việc lãnh đạo công tác làm đường, cầu đường, điều động những cán bộ tích cực, có năng lực phụ trách các công tác ấy". Tại khắp các tỉnh thuộc vùng tự do Việt Bắc, Tây Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, v.v. “chiến dịch cầu đường” được triển khai tích cực, đúng thời hạn quy định.

Tháng 7-1953, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ủy ban chi viện tiền tuyến nhằm huy động tối đa sức người, sức của của hậu phương vào việc chuẩn bị cho Đông Xuân đánh lớn.

Song song với các công tác chuẩn bị về mặt cầu đường, cung cấp trên đây, một công tác quan trọng được đặt ra lúc này là tiến hành tiễu phỉ ở Sơn La bảo vệ vùng giải phóng, nhanh chóng mở thông đường cho bộ đội chủ lực tiến lên Lai Châu. Nhờ dựa chắc vào dân, tiến hành tuyên truyền, vận động, kêu gọi ra hàng, kết hợp với tiến công, bao vây, triệt đường tiếp tế, ta đã quét sạch bọn thổ phỉ ở đây, đường giao thông từ Sơn La lên Lai Châu được mở thông.

Để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, Đảng và Chính phủ ta đã chủ trương mở cuộc tiến công địch trên mặt trận ngoại giao. Tháng 10-1953, Quốc hội Pháp biểu quyết ủng hộ Chính phủ Lanien tìm giải pháp thương lượng để giải quyết cuộc chiến tranh bằng cách đàm phán trực tiếp với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 26-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm của nhân dân ta: "... Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam", "... Việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Chính phủ Pháp"1 .

Chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ ta qua lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới. Nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đều tỏ thái độ đồng tình và hoan nghênh. Ngược lại, giới hiếu chiến trong bộ máy chiến tranh của cả Pháp và Mỹ rất lúng túng, bị động.

Trong khi ta đang tích cực chuẩn bị mọi mặt theo kế hoạch tác chiến thì ngày 15-10-1953, Nava sử dụng sáu binh đoàn gồm 22 tiểu đoàn bộ binh và một số binh chủng kỹ thuật mở cuộc hành quân Hải Âu (Mouete) đánh ra tây nam Ninh Bình, đồng thời hoạt động nghi binh làm như chúng sắp đánh chiếm Thanh Hoá và tung tin sẽ đánh lên Phú Thọ. Đây là lần đầu tiên, địch tổ chức sư đoàn cơ động chiến lược tiến công ta nhằm phá một bàn đạp ở trên hướng mà chúng nghi là hướng tiến công chủ yếu của ta. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Đại đoàn 320 và các lực lượng vũ trang địa phương tổ chức chiến dịch phản công đánh địch ngay từ khi chúng mới đến, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở vùng sau lưng địch, đánh vào hậu cứ các binh đoàn cơ động của chúng. Ngày 6-11-1953, địch buộc phải rút quân. Ta đã tiêu diệt và bắt trên 4.000 tên.

Theo kế hoạch tác chiến đã định, giữa tháng 11-1953, bộ đội chủ lực ta bắt đầu tiến quân lên Tây Bắc, một bộ phận tiến sang Trung Lào phối hợp chiến đấu với Quân giải phóng Lào. Được tin này, Nava quyết định điều một bộ phận lực lượng lên Điện Biên Phủ và một bộ phận khác xuống Trung Lào. Lúc đầu, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ với ý đồ ngăn chặn quân ta tấn công sang Thượng Lào, xây dựng một căn cứ quân sự để sau khi ta đã mệt mỏi thì từ Điện Biên Phủ tấn công chiếm lại Tây Bắc. Sau đó, Nava nhận định Điện Biên Phủ đối với ta quá xa hậu phương, tiếp tế khó khăn, sử dụng lực lượng có hạn và không thể dùng được pháo cơ giới, Nava chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Ngày 3-12-1953, Nava cho tăng lực lượng phòng giữ Điện Biên Phủ từ 6 tiểu đoàn lên 9 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo. Đây là một kế hoạch nằm ngoài dự kiến của Nava.
__________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 168, 169.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11710



« Trả lời #9 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:29:30 pm »


Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 trên toàn Đông Dương với đỉnh cao là trận quyết chiến lịch sử Điện Biên Phủ, đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của Pháp và Mỹ

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân uỷ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam được chỉ định trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Từ chọn nơi địch sơ hở mà đánh (9-1953), đến quyết định nhằm vào một chỗ mạnh nhất của địch để tiêu diệt là một chủ trương rất kiên quyết, linh hoạt, sáng tạo và kịp thời, là quyết tâm rất lớn của Bộ Chính trị. Bởi vì, ta có tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới phá được hình thức phòng ngự cao nhất của địch, mới phá được kế hoạch Nava, phá âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của chúng.

Để tạo thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị chủ lực phối hợp mở đợt tiến công mạnh mẽ trên các chiến trường. Ta đã hình thành năm đòn tiến công chiến lược:

1. Tại Lai Châu ngày 10-12-1953, ta bắt đầu đánh vào thị xã và đánh quân địch rút lui. Trải qua 12 ngày đêm liên tục chiến đấu, truy kích, bao vây, tập kích trên vùng rừng núi hiểm trở, ta đã giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ từ phía bắc.

Bị thiệt hại nặng ở Lai Châu và biết quân ta đang cơ động lên Điện Biên Phủ, Nava quyết định đưa thêm 6 tiểu đoàn lên tăng cường cho Điện Biên Phủ, đưa lực lượng ở đây lên 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh lẻ, 2 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội vận tải, với tổng quân số là 12.000. Ngoài đồng bằng Bắc Bộ ra, Điện Biên Phủ đã biến thành nơi tập trung binh lực lớn thứ hai của địch.

2. Ở Trung Lào lợi dụng chỗ yếu nhưng là vị trí hiểm yếu của địch, hạ tuần tháng 12-1953, ta phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công vào Trung Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng căn cứ, thu hút phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho hướng khác tiến công tiêu diệt địch. Bị thất bại nặng, Nava buộc phải điều thêm lực lượng sang, cùng lực lượng tại chỗ thành lập một tập đoàn cứ điểm với hàng chục tiểu đoàn ở Xênô. Xênô trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ ba của địch ở Đông Dương.

3. Tại Hạ Lào và đông Campuchia, sau chiến thắng ở Trung Lào, bộ đội Lào - Việt tiếp tục phát huy thắng lợi tiến sâu xuống Hạ Lào giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ cao nguyên Bôlôven, một địa bàn chiến lược quan trọng1.

Thừa thắng, một đơn vị chủ lực của ta tiến xuống phía nam phối hợp cùng Quân giải phóng Ítxarắc của Campuchia giải phóng Vươn Sai, Xiêm Pang, uy hiếp Stung Treng, tiến xuống sông Sơ Lông. Trong khi đó, quân tình nguyện Việt Nam cùng Quân giải phóng Ítxarắc ở miền đông Campuchia hoạt động từ phía nam, giải phóng phần lớn Công Pông Chàm tiến lên sát sông Sơ Lông.

Căn cứ miền đông và đông bắc Campuchia được nối liền với vùng giải phóng Hạ Lào và Trung Lào.

4. Trên mặt trận Tây Nguyên, địch quyết định mở Chiến dịch Átlăng với lực lượng lúc đầu là 22 tiểu đoàn, sau tăng lên đến 40 tiểu đoàn theo đúng như kế hoạch Nava đã chuẩn bị từ trước nhằm mục đích chiếm toàn bộ vùng tự do của ta ở Liên khu V.

Chủ trương của ta chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực đối phó với địch, bảo vệ hậu phương, còn đại bộ phận tập trung tiến công lên hướng chính ở đông bắc Kon Tum, hướng phối hợp trên đường số 10. Chiến dịch mở màn ngày 26-1-1954, kết thúc thắng lợi ngày 5-2-1954. Ta giải phóng thị xã Kon Tum, quét sạch quân địch ở bắc Tây Nguyên, tràn xuống phía nam sát đường số 19. Quân Pháp buộc phải ngừng cuộc tiến công ở đồng bằng Liên khu V, vội vã điều động 11 tiểu đoàn ở Nam Bộ và Bình - Trị - Thiên lên Tây Nguyên, tổ chức hai tập đoàn cứ điểm An Khê và Plâycu để đối phó với ta. Đây là nơi tập trung binh lực lớn thứ tư của địch2.

5. Tại Thượng Lào, để đánh lạc hướng phán đoán của địch, tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch và buộc chúng phải tiếp tục phân tán lực lượng, hạ tuần tháng 1-1954, quân ta phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công vào phòng tuyến địch ở khu vực sông Nậm Hu. Địch ở đây hoảng hốt tháo chạy. Ta và bạn tiếp tục truy kích địch đến cách Luông Prabăng 15km. Một bộ phận lực lượng ta và bạn phát triển lên phía bắc, giải phóng tỉnh Phông Xa Lỳ, bao vây Mường Sài.

Sợ ta đánh thẳng vào Kinh đô Lào, địch phải gấp rút tăng cường lực lượng cho Luông Prabăng 5 tiểu đoàn và Mường Sài 3 tiểu đoàn. Luông Prabăng, Mường Sài trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ năm của Pháp trên chiến trường Đông Dương.

Với năm đòn chiến lược trên, chẳng những ta tiêu diệt nhiều địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn mà còn làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của Nava ở vùng đồng bằng, buộc chúng phải phân tán khắp nơi để đối phó với ta.

Đồng thời với năm đòn trên, ở chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quân và dân ta cũng đánh mạnh cả ở tuyến ngoài và sau lưng địch. Hầu hết các địa bàn xung yếu của địch đều bị đánh, phòng tuyến sông Đáy bị phá vỡ, nhiều sân bay bị tập kích, đường số 5 bị cắt đứt nhiều đoạn, có chỗ giao thông bị tê liệt hàng tuần. Khắp nơi, nhân dân nổi dậy phá tề trừ gian, nhiều đồn bốt địch bị vây hãm phải rút chạy hoặc đầu hàng.

Ở Bình - Trị - Thiên, nhiều cầu cống trên đường số 1 và số 9 bị phá huỷ, nhiều trận đánh địa lôi liên tiếp diễn ra ở Lăng Cô, Hương Thuỷ, Phú Ốc (Thừa Thiên). Sau khi bộ đội ta đánh tiêu diệt và bức rút nhiều đồn bốt, huyện Hướng Hoá và một phần huyện Cam Lộ (Quảng Trị) được hoàn toàn giải phóng.

Ở cực Nam Trung Bộ, ta tiến công địch kết hợp với phát động quần chúng phá tề, trừ gian, giải phóng hai huyện Lương Sơn và Tánh Linh.

Tại Nam Bộ, chấp hành Nghị quyết của Trung ương Cục "chuẩn bị đón lấy thời cơ mới", các địa phương đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, kết hợp với "chiến dịch địch, nguỵ vận" để phối hợp với chiến trường chính.

Cùng với các đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở chính diện, các hoạt động của quân và dân ta ở phía sau lưng địch cũng không ngừng phát triển. Đây là sự phối hợp chiến lược rộng khắp tạo điều kiện rất thuận lợi cho mặt trận Điện Biên Phủ.
________________________________
1.Trong Chiến dịch Trung - Hạ Lào, nhân dân Liên khu IV đã đóng góp 54.075 dân công (tính ra thành 1.974.800 ngày công), 2.217 xe đạp thồ, 9 xe ôtô, 1.429 thuyền và đã bảo đảm tiếp tế cho các đơn vị chủ lực sang phối hợp chiến đấu với bộ đội bạn 3.409 tấn gạo, 154 tấn muối, 2.102 trâu, bò, lợn, v.v…
2.Trong Chiến dịch giải phóng bắc Tây Nguyên, đồng bào Kinh, Thượng, Nam Trung Bộ đã đóng góp 200.000 dân công (tính ra thành 6 triệu ngày công), 2.000 xe đạp thồ, 1.000 ngựa thồ, hàng chục thớt voi, hàng nghìn thuyền bè, xe bò, xe ngựa và vận chuyển ra mặt trận, bảo đảm tiếp tẽ cho bộ đội hơn 1.000 tấn gạo, 50 tấn muối, hàng nghìn trâu bò, lợn, hàng chục tấn nhu yếu phẩm khác.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM