Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Mười, 2022, 09:11:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 7902 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #70 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2022, 11:43:48 pm »


ĐIỆN BIÊN PHỦ - ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
1

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Chiến dịch Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược, là chiến dịch tiến công có quy mô lớn nhất của ta trong kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, thể hiện sức mạnh to lớn của dân tộc và sự trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Điện Biên Phủ là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, thể hiện trên cả ba lĩnh vực: chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.

Trước hết về chỉ đạo chiến lược, Điện Biên Phủ không phải là chiến dịch độc lập mà là một chiến dịch nằm trong một ý định chiến lược thống nhất được Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ vạch ra trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, là trận quyết chiến chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thực hiện kế hoạch Nava, từ giữa năm 1953, Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương ra sức xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh nhằm thoát khỏi tình trạng phòng ngự bị động, tiến tới giành quyền chủ động trên chiến trường chính. Đồng thời địch nhanh chóng tăng cường binh lực trên các hướng bị uy hiếp, tổ chức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm, coi đó là biện pháp tác chiến chiến lược để chặn đứng các cuộc tiến công của chủ lực ta.

Từ sự phân tích sâu sắc âm mưu của địch và khả năng của ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh...! Ta buộc chúng phải phân tán lực lượng thì sức mạnh đó không còn"2. Trên cốt lõi tư tưởng chiến lược đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đề ra chủ trương, kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1953-1954: sử dụng một bộ phận chủ lực mở các chiến dịch tiến công vào những hướng địch sơ hở nhưng hiểm yếu mà chúng không thể bỏ, buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động chiến lược để đối phó, tạo thời cơ cho ta tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên các hướng có lợi nhất; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các vùng đồng bằng sau lưng địch, tranh thủ cơ hội tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nếu chúng đánh vào vùng tự do của ta.

Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, chúng ta đã tiến hành thắng lợi các chiến dịch tiến công trên khắp chiến trường Đông Dương: Chiến dịch Lai Châu (12-1953); Chiến dịch Trung - Hạ Lào và đông bắc Campuchia (12-1953 - 5-1954); Chiến dịch bắc Tây Nguyên (1-2-1954); Chiến dịch Thượng Lào (1-2-1954). Do đánh vào các hướng hiểm yếu và phối hợp chặt chẽ với hoạt động của quân và dân ta ở các vùng sau lưng địch, các chiến dịch của ta đã trở thành các đòn chiến lược tiêu diệt những bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, làm rung động mạnh thế trận của địch, buộc chúng phải xé lẻ khối cơ động chiến lược để đối phó với đòn tiến công rất hiểm nói trên. Tính đến trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ nổ ra, khối chủ lực cơ động chiến lược và chiến thuật của Nava đã bị phân tán. Kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản. Quyền chủ động vẫn thuộc về ta.

Khi địch tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất để thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung binh lực mạnh nhất của chúng ở Đông Dương, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm: tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, tạo ra sự chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh. Đây là quyết định hết sức táo bạo và chính xác của Bộ Chính trị; là sự chuyển biến từ phương hướng "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" sang đánh thẳng vào chỗ mạnh nhưng có nhiều sơ hở của địch để giành thắng lợi quyết định.

Quyết định này được xác định trên cơ sở phân tích khoa học: Điện Biên Phủ tuy là một tập đoàn cứ điểm rất mạnh, nhưng nằm ở thế cô lập, xa hậu phương, chơi vơi giữa vùng núi rừng hiểm trở - chiến trường có ưu thế của bộ đội ta. Tuy công tác bảo đảm hậu cần của quân và dân ta trong một chiến dịch lớn, dài ngày, xa hậu phương hết sức gian khổ, khó khăn nhưng việc tiếp tế bằng cầu hàng không của địch cho tập đoàn cứ điểm cũng khó khăn không kém. Chiến tranh nhân dân của ta được đẩy mạnh và lực lượng cơ động chiến lược của chúng đang bị xé lẻ khắp chiến trường. Lực lượng kháng chiến của ta đã lớn mạnh toàn diện, bộ đội ta đã được chuẩn bị khá chu đáo về mọi mặt cho các trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng... Như vậy, nhờ có quyết tâm chiến lược sáng suốt và sự kiên định quyết tâm trong cả quá trình, chúng ta đã phá kế hoạch tập trung khối cơ động mạnh của Nava, làm đảo lộn thế bố trí của địch trên các chiến trường, tạo ra một điểm quyết chiến chiến lược ở vùng rừng núi để tập trung sức mạnh giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh. Rõ ràng chiến thắng Điện Biên Phủ, trước hết là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược chính xác của Bộ Chính trị, Tổng Quân uỷ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.
______________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 26.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #71 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2022, 11:45:33 pm »


Trên lĩnh vực nghệ thuật chiến dịch, Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công trận địa có quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp. Lần đầu tiên ta tập trung một lực lượng lớn chủ lực tiêu diệt chủ lực địch phòng ngự trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược. Nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đạt tới đỉnh cao, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

Một là, sớm hinh thành thế trận bao vây, xây dựng trận địa tiến công và bao vây, ngày càng siết chặt từng cụm cứ điểm và tập đoàn cứ điểm, chia cắt thế liên hoàn của chúng.

Quá trình chuẩn bị chiến dịch theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" lúc đầu là quá trình quân ta hình thành thế bao vây quân địch. Đại đoàn 308 ở phía bắc và tây - bắc; Đại đoàn 312 ở phía đông - bắc; hai trung đoàn của Đại đoàn 316 ở phía đông; Trung đoàn 57 ở phía nam. Đặc biệt, từ ngày 26-1, khi ta chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc" cho đến ngày toàn thắng, bộ đội ta đã xây dựng hệ thống chiến hào, trận địa với tổng chiều dài hàng trăm kilômét ngày càng siết chặt và chia cắt từng phân khu, từng cụm cứ điểm địch. Bằng hệ thống trận địa tiến công và bao vây, quân ta đã "trói chặt", chia cắt thế liên hoàn, triệt phá cầu hàng không tiếp tế của địch để lần lượt tiêu diệt từng bộ phận và đập tan mọi kế hoạch tháo chạy của chúng.

Hai là, tập trung ưu thế binh lực, hoả lực, phát huy sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng, đánh chắc thắng, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực, từng bước uy hiếp tiến tới tiêu diệt khu vực trọng yếu nhất của địch, giành thắng lợi quyết định.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, liên kết với nhau tạo thành một hệ thống phòng ngự kiên cố trải trên một diện tích khoảng 40 km2. Trong tập đoàn cứ điểm, ngoài lực lượng phòng ngự trận địa còn có lực lượng cơ động gồm bộ binh và xe tăng sẵn sàng chi viện, những trận địa pháo binh lớn có thể bắn với lượng đạn gần như không hạn chế vào bất cứ mục tiêu nào. Trong điều kiện so sánh lực lượng chiến dịch không có ưu thế hơn địch, ta đã chọn phương châm "đánh chắc, tiến chắc"; tập trung ưu thế binh, hoả lực đánh từng trận hay một số trận liên tiếp, diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm ngoại vi, trước hết là các cứ điểm trên các điểm cao khống chế phía bắc, rồi phía đông, "bóc vỏ" từ ngoài vào, từng bước tiếp cận, uy hiếp tiến tới tiêu diệt phân khu trung tâm, Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Ba là, chọn cách đánh hiểm, phát huy uy lực mọi thứ vũ khí của ta; kết hợp đánh chính diện với các mũi thọc sâu, luồn sâu; kết hợp các đợt đánh lớn với hoạt động tác chiến thường xuyên bằng vây lấn, bắn tỉa; hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch.

Sau thắng lợi bước đầu của ta ở đợt hai, địch vẫn còn trên một vạn quân chốt giữ các điểm cao, hoả lực pháo binh, không quân của chúng còn rất mạnh. Trước tình hình đó, ta chủ trương dùng lực lượng nhỏ, hoạt động rộng rãi dưới các hình thức đánh lấn, phá huỷ từng ụ đề kháng, tiêu diệt thêm một số vị trí; bắn tỉa tiêu hao địch rộng rãi, đánh chiếm sân bay, thắt chặt vòng vây, thu hẹp không phận, khống chế máy bay, đoạt dù tiếp tế, hạn chế tiến tới triệt hẳn nguồn tiếp tế và tăng viện của địch. Từ hạ tuần tháng 4-1954, ta đã cắt đôi sân bay địch; vây lấn diệt hai vị trí sát sân bay (cứ điểm 105 và 205); đưa pháo cao xạ tiến sâu vào cánh đồng Mường Thanh khống chế không phận; tổ chức bắn tỉa rộng khắp và thường xuyên... Chính do cách đánh hiểm này, chúng ta đã bóp nghẹt nguồn tiếp tế của địch, đưa binh lính địch vào trạng thái căng thẳng, suy sụp; uy hiếp thường xuyên phân khu trung tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #72 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2022, 11:47:40 pm »


Không chỉ đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật chiến dịch, Điện Biên Phủ còn đạt tới đỉnh cao về sự phát triển chiến thuật của quân đội ta. Sự phát triển chiến thuật trước hết thể hiện ở các trận công kiên. Công kiên trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã lên tới quy mô đại đoàn, đánh hiệp đồng binh chủng, tiến công cụm cứ điểm nằm trong hệ thống phòng ngự liên hoàn của địch. Trận tiến công cụm cứ điểm Him Lam (từ 17 giờ đến 23 giờ 30 ngày 13-3) do Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) đảm nhiệm. Đại đoàn được tăng cường hai đại đội sơn pháo 75 ly, hai đại đội cối 120 ly và được hai đại đội lựu pháo 105 ly chi viện trực tiếp. Trận tiến công cụm cứ điểm Độc Lập (đêm 14 rạng sáng ngày 15-3) do Trung đoàn 165 của Đại đoàn 312 và Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 và lực lượng pháo binh như trên đảm nhiệm. Đây đều là các trận đánh quy mô đại đoàn mà theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác định tại hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm đợt một, ngày 17-3-1954: "là hai trận đầu đánh vào một tập đoàn cứ điểm, là hai trận công kiên lớn nhất từ trước đến nay, là hai trận đánh theo lối chính quy"1.

Những trận công kiên Him Lam, Độc Lập, đồi A1, đồi C1... trong Chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ lớn về quy mô mà đã có nội dung của những trận chiến đấu hiện đại. Trong các trận đánh này, để hạn chế hoả lực pháo binh, cơ giới và không quân khá mạnh của địch, ta đã xây dựng trận địa xuất phát tiến công vững chắc, tạo điều kiện cho bộ binh triển khai và vận động dưới hoả lực địch. Đây cũng là lần đầu tiên ta sử dụng pháo lớn bố trí ở những trận địa kiên cố, thực hành bắn chuẩn bị, chi viện trực tiếp và chế áp các trận địa pháo binh địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong. Lần đầu tiên ta sử dụng pháo cao xạ thực hành phòng không hiệp đồng tác chiến cùng bộ binh. Trước đây, trong điều kiện địch có hoả lực pháo binh và không quân mạnh, bộ đội ta thường phải lợi dụng đêm tối đế tiến hành tiến công địch. Các cuộc chiến đấu chỉ kéo dài ba đến năm tiếng đồng hồ vì phải kết thúc trong đêm, do đó khả năng tiêu diệt địch cũng hạn chế. Các trận công kiên ở Điện Biên Phủ, do ta xây dựng trận địa xuất phát tiến công vững chắc, khi thực hành chiến đấu lại có pháo binh, pháo cao xạ yểm hộ nên bộ đội có thể chiến đấu được cả đêm lẫn ngày, thực hiện đến cùng ý định của người chỉ huy. Các trận đánh Him Lam, Độc Lập ta đã tổ chức và hiệp đồng khá chặt chẽ từ khâu xây dựng trận địa, chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, đột phá tiền duyên, đánh địch trong tung thâm, tổ chức đánh địch phản kích... Sự hiệp đồng nhịp nhàng, ăn khớp giữa các lực lượng trong một trận đánh quy mô lớn thực sự là bước tiến nhảy vọt của bộ đội ta trong chiến đấu công kiên.

Sự phát triển đỉnh cao của chiến thuật trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn thể hiện ở sự xuất hiện các trận chiến đấu phòng ngự trận địa. Các trận phòng ngự ở đồi C1, đồi A1, ở sân bay Mường Thanh... là những trận chiến đấu phòng ngự có tính chất trận địa đầu tiên trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta. Trận đánh địch ở đồi C1 bắt đầu từ ngày 30-3 kéo dài đến ngày 1-5. Trong trận đánh này, Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 đã chiến đấu liên tục 32 ngày đêm, từ tiến công chuyển sang đánh địch phản kích, rồi tổ chức phòng ngự giằng co với địch và cuối cùng tiến hành tiến công tiêu diệt toàn bộ C1, đã diệt 912 tên địch thuộc tám đại đội Âu - Phi tinh nhuệ. Trận trên đồi A1 cũng tương tự. Sau ba lần tiến công, ta chỉ chiếm được một phần ba đồi. Tiếp đó, từ ngày 4-4 đến ngày 6-5, Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 174 đã tổ chức phòng ngự đánh bại mọi đợt tiến công của địch, tạo điều kiện cho trung đoàn chuyển sang tiến công tiêu diệt hoàn toàn A1 vào đêm 6-5,...

Những trận chiến đấu phòng ngự trong Chiến dịch Điện Biên Phủ ra đời do yêu cầu tiến công địch trong tập đoàn cứ điểm. Ta phải giữ vững trận địa mới chiếm để tạo bàn đạp cho trận tiến công tiếp theo. Trong các trận phòng ngự này, lúc đầu chúng ta còn gặp nhiều sai sót, song do được uốn nắn và rút kinh nghiệm kịp thời, bộ đội ta đã tổ chức phòng ngự khá chặt chẽ, giữ được trận địa dài ngày, thực hiện đúng ý định chiến dịch. Trong phòng ngự chúng ta đã triệt để tận dụng địa hình, tích cực cải tạo trận địa cũ của địch để xây dựng trận địa phòng ngự của ta; biết tổ chức lực lượng theo nguyên tắc binh lực ít, hoả lực nhiều, lực lượng tung thâm ít nhưng lực lượng dự bị cơ động ở bên ngoài nhiều. Cán bộ chỉ huy còn biết phán đoán chính xác các hướng tiến công của địch, có kế hoạch đánh địch trên từng hướng, hiệp đồng chặt chẽ với pháo binh cấp trên và đơn vị bạn để đánh địch từ xa,...

Đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ bộ đội ta đã sáng tạo ra một hình thức chiến thuật mới, đó là chiến thuật "đánh lấn". Đây là hình thức phát triển của chiến đấu công kiên trong điều kiện ta tổ chức tiến công, trực tiếp tiếp xúc với địch nhưng so sánh lực lượng chưa cho phép ta đánh lớn tiêu diệt địch ngay. "Đánh lấn" được khởi đầu từ khi ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm 106, 105 và được hoàn thiện trong trận diệt cứ điểm 206 (Huyghét 1) của Trung đoàn 36.

Trong trận đánh này, Trung đoàn 36 đã hoạt động liên tục sáu ngày đêm (từ ngày 17 đến ngày 23-4), thực hành xây dựng trận địa tiếp cận địch kết hợp chặt chẽ với bắn tỉa, đánh địch ra phá lấp trận địa và sử dụng các phân đội nhỏ thường xuyên hoạt động đánh lấn, tích cực tiêu diệt từng tên địch, từng ụ súng, phá từng lô cốt, vây hãm chúng làm cho binh lính địch luôn ở trong trạng thái căng thẳng, mệt mỏi và dần đi đến suy sụp, tan rã. Khi thời cơ đến, trung đoàn chỉ sử dụng một lực lượng ngang địch tiến công tiêu diệt toàn bộ cứ điểm, giành thắng lợi trọn vẹn. "Đánh lấn" là sự vận dụng sáng tạo cách đánh nhỏ truyền thống, diệt được nhiều địch, ta thương vong ít.

Trận tiêu diệt cứ điểm 206 được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: "Đã hoàn thiện và thực sự khẳng định thành công của chiến thuật được gọi là "đánh lấn"... Một lần nữa, chúng ta càng thấy rõ tác dụng to lớn của cách đánh nhỏ truyền thống, thể hiện sự thông minh, sáng tạo, chủ động của những người chiến sĩ sinh ra từ đồng ruộng, bám đất, bám làng chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh... Cái chết không kịp cất tiếng kêu của Huyghét 1 đã làm cho quân địch ở Điện Biên Phủ bàng hoàng. Từ giờ phút đó trở đi, mỗi khi chiến hào của ta đến gần, quân địch trong cứ điểm không còn chỉ thấy đây là mối đe đoạ, mà chính là cái chết đã tới, một cái chết không báo trước, xuất hiện trong lòng đất"2.

Cùng với Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ đã trở thành "cây cột mốc bằng vàng" của lịch sử dân tộc Việt Nam. Điện Biên Phủ là hệ quả của những thành tựu nhân dân ta đạt được trong chín năm kháng chiến chống Pháp, là kết quả của quyết tâm chiến lược chính xác, sự tập trung nỗ lực lớn nhất của quân dân cả nước trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Để đi đến thắng lợi Điện Biên Phủ, chúng ta đã giải quyết thành công và sáng tạo nhiều vấn đề về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, mà đặc điểm nổi bật là chủ động sáng tạo, đánh theo cách đánh mà ta lựa chọn, buộc quân địch phải bị động đối phó, hạn chế chỗ mạnh của chúng về số quân đông, hoả lực mạnh, sức cơ động cao. Chiến thắng Điện Biên Phủ là điển hình xuất sắc, là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
_______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr. 243.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr. 238.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #73 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:35:09 pm »


ĐẠI ĐOÀN 308 TRONG ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Thượng tá NGUYỄN ĐỨC KHIỂN
Phó Sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn 308

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, đã giáng đòn quyết định đập tan kế hoạch Nava của thực dân Pháp, được đế quốc Mỹ hỗ trợ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta.

Trong những năm tháng lịch sử đó, Đại đoàn 308 (nay là Sư đoàn 308) rất tự hào đã được đóng góp công sức của mình, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Tây Bắc - Thượng Lào và tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Đại đoàn 308 là đại đoàn được thành lập đầu tiên của quân đội ta, là một trong những đại đoàn chủ lực cơ động của bộ. Từ khi ra đời, đại đoàn đã liên tục tham gia chiến đấu trong các chiến dịch lớn, từ Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 đến các Chiến dịch Trung du, Chiến dịch đường số 18 Xuân Hè 1951, Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951-1952, Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1953, Chiến dịch Thượng Lào mùa Hè 1953, chiến dịch nào đại đoàn cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập nhiều chiến công.

Sau Chiến dịch Thượng Lào mùa Hè 1953, đại đoàn trở về Thái Nguyên tiến hành chỉnh huấn chính trị nhằm nâng cao giác ngộ giai cấp, tinh thần cách mạng của bộ đội. Vừa chỉnh huấn chính trị, đại đoàn vừa tiến hành ổn định biên chế tổ chức, sau đó bước vào một đợt huấn luyện quân sự, tập trung vào nghiên cứu luyện tập cách đánh tập đoàn cứ điểm, cách đánh vận động lớn. Sau một thời gian chỉnh huấn, trình độ quân sự và bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đã được nâng cao một bước đáng kể.

Bước vào Đông Xuân 1953-1954, thực hiện kế hoạch tác chiến đã được Bộ Chính trị thông qua, trên phạm vi cả nước quân ta bắt đầu phối hợp các hoạt động tác chiến. Trung tuần tháng 11-1953, một số đơn vị chủ lực ta tiến quân về phía tây, nơi địch yếu và sơ hở. Bị uy hiếp, Bộ Chỉ huy Pháp vội vã điều lực lượng đối phó, cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và đưa gấp lực lượng đến xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu, nối Điện Biên Phủ với Thượng Lào. Địch tập trung xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và chấp nhận quyết chiến với ta tại đây.

Đầu tháng 12-1953, Đại đoàn 308 được lệnh hành quân chiến đấu. Từ Thái Nguyên, đại đoàn vượt qua sông Chảy, sông Đà, theo đường 41 tiến lên Tây Bắc, đại đoàn có nhiệm vụ cùng đơn vị bạn tiêu diệt địch ở thị xã Lai Châu, sau đó tiến vào bao vây đánh địch ở Điện Biên Phủ. Nhưng khi đại đoàn hành quân tới thị xã Sơn La thì địch đã bỏ thị xã Lai Châu rút chạy, Đại đoàn 308 lại được lệnh tiến gấp theo đường Sơn La - Tuần Giáo, tiến lên Điện Biên Phủ. Riêng Trung đoàn 36 rẽ về phía tây theo đường mòn qua Mường Ngòi, Mường Lâm, xuyên rừng tới phía nam và tây-nam Điện Biên Phủ, chia cắt địch ở Điện Biên Phủ với Thượng Lào.

Tới Điện Biên Phủ, đại đoàn được Bộ Chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ bao vây địch và mở đường chuẩn bị cho chiến dịch.

Trung đoàn 36 tiến vào bao vây địch ở phía tây, tây - nam Điện Biên, đã đánh hàng chục trận ngăn chặn quân địch hành quân thăm dò và chuẩn bị đường liên lạc với Thượng Lào. Đội quân báo của đại đoàn đã đánh lui một tiểu đoàn địch, diệt gần hai trung đội, bắt sống một số tên. Chiến sĩ quân báo Dương Quảng Châu cùng một đồng chí khác đã linh hoạt, mưu trí dùng kế nghi binh bắt sống và thu toàn bộ vũ khí của 38 tên lính Pháp và ngụy.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 88 và Trung đoàn 102 đã gấp rút tiến vào mở đường chiến dịch. Mặc mưa rừng gió rét, bom đạn địch đánh phá ác liệt, cán bộ chiến sĩ đại đoàn đã lao động từ 12 đến 14 giờ mỗi ngày. Chỉ trong một tuần, các đơn vị đã hoàn thành sửa xong đoạn đường dài 20 km từ Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ và mở một con đường mới dài 10 km, rộng 3m xuyên qua núi cao, rừng rậm từ phía đông - bắc sang phía tây - bắc Điện Biên Phủ để các đơn vị pháo binh, cao xạ đưa pháo vào trận địa.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ mở đường, Đại đoàn 308 lại hợp sức cùng các đơn vị bạn kéo pháo vào trận địa, triển khai lực lượng theo phương châm tác chiến ban đầu "đánh nhanh, thắng nhanh". Chiều ngày 26-1-1954, toàn đại đoàn đã chiếm lĩnh xong vị trí xuất phát tiến công, nhưng sát giờ nổ súng có lệnh hoãn tiến công để tác chiến theo phương châm mới "đánh chắc, tiến chắc". Đại đoàn 308 được lệnh tiến gấp sang Thượng Lào đánh vào phòng tuyến sông Xậm Hu nhằm tiêu hao sinh lực địch và đánh lạc hướng phán đoán của chúng. Mặc dù không có thời gian chuẩn bị, gạo chưa lấy về kịp, mỗi người chỉ có trên vai một chiếc bánh chưng, một ít gạo rang, thậm chí bản đồ vùng tác chiến mới cũng không có, song chỉ 2 giờ sau khi nhận lệnh, toàn đại đoàn với tinh thần "quân lệnh như sơn" lập tức xuất kích từ Điện Biên Phủ sang Thượng Lào. Vượt qua núi cao, rừng sâu, đại đoàn vừa đi vừa nắm tình hình, làm công tác dân vận, bảo đảm lương thực. Địch hoảng sợ bỏ Mường Khoa rút chạy. Đại đoàn 308 liền chuyển sang truy kích. Sau bốn ngày đêm liên tục đuổi đánh địch theo đường Mường Khoa đi Mường Sài, Sở Chỉ huy nhẹ đại đoàn đã luồn rừng chặn đầu tạo điều kiện cho Trung đoàn 102 tiến công vào hai bên sườn và phía sau, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch. Trung đoàn 36 và 88 củng theo đường Sốp Hào - Mường Ngòi đuổi địch đến Khuổi Sen, đánh tan một tiểu đoàn địch khác. Các cánh quân của đại đoàn truy kích địch đến tận Mường Sài, giải phóng Nậm Bạc, phát triển tiến công đến sát Luông Prabăng, diệt địch ở Nậm Ngà, Bắc Xường, Bản Na, bên bờ sông Mê Công. Phòng tuyến sông Nậm Hu của địch bị phá vỡ. Tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ bị cô lập từ phía tây.

Trong cuộc tiến công này, Đại đoàn 308, có sự phối hợp của một số lực lượng bạn Lào, đã tiêu diệt một tiểu đoàn lê dương (2/3 REI), đánh tan hai tiểu đoàn ngụy Lào và Tiểu đoàn Tabo thứ 5, bắt sống 300 tên.
_________________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #74 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:36:29 pm »


Hoàn thành nhiệm vụ ở Thượng Lào, ngày 18-2-1954, đại đoàn lại gấp rút hành quân trở về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Vừa về đến Điện Biên Phủ thì chiến dịch mở màn, mặc dù chưa có thời gian nghỉ ngơi chuẩn bị, đại đoàn vẫn lập tức bước vào cuộc chiến đấu.

Trong đợt tiến công thứ nhất đánh vào phân khu bắc tập đoàn cứ điểm của địch, sau khi Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Him Lam, đêm 14 rạng ngày 15-3, đại đoàn tiến công tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập. Do phải chờ sơn pháo đánh ở Him Lam đêm trước chuyển về, lại gặp trời mưa nên chậm giờ nổ súng, địch không còn bị bất ngờ chống trả quyết liệt. Nhưng chỉ sau ba giờ, đại đoàn đã tiêu diệt xong cứ điểm đồi Độc Lập, diệt và bắt toàn bộ tiểu đoàn địch. Ngay sau đó, các đơn vị của đại đoàn lại đánh tan hai tiểu đoàn lính dù và tám xe tăng địch từ Mường Thanh ra phản kích hòng chiếm lại đồi Độc Lập, buộc chúng phải rút chạy.

Trong trận đánh này nổi lên tấm gương của Tiểu đội trưởng bộc phá Nguyễn Văn Tỵ, đồng chí đã xông pha trên trận địa, chỉnh hướng và giúp các chiến sĩ liên tục đánh 30 quả bộc phá để mở đường cho xung kích. Tiêu biểu về tập thể anh hùng là Đại đội 213, mặc dù đã chiến đấu hy sinh gần hết cả đại đội, nhưng các đồng chí còn lại vẫn quyết tâm đánh lui quân địch phản kích ra đồi Độc Lập, không ai rời vị trí chiến đấu.

Bị ta tiêu diệt cứ điểm Him Lam và Độc Lập, quân địch ở Bản Kéo hoảng sợ ra hàng. Kết quả đợt một, ta hoàn toàn làm chủ phân khu phía bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, diệt và bắt sống ba tiểu đoàn địch.

Trước khi bước vào đợt tiến công thứ hai, đại đoàn được giao nhiệm vụ vừa xây dựng trận địa tiến công trên cánh đồng phía tây khu trung tâm Mường Thanh (kéo dài từ Bản Kéo qua Pe Luông, Hồng Lếch đến bản Cò Mỵ) vừa đánh chiếm một số cứ điểm ngoại vi, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.

Vượt qua bom đạn địch đánh phá, ngăn chặn, cán bộ chiến sĩ đại đoàn liên tục lao động suốt ngày đêm, trong khoảng 10 ngày đã đào được hơn 10 km hào trục, rồi từ hào trục lại đào tiếp hệ thống chiến hào tiến vào sát các cứ điểm địch và chia cắt sân bay Mường Thanh. Hệ thống chiến hào của đại đoàn ở phía tây, nổi liền với hệ thống chiến hào của các đơn vị bạn ở phía đông, chia cắt hoàn toàn quân địch ở Hồng Cúm với khu trung tâm. Chiến hào của ta thực sự là mối nguy hiểm lớn đối với địch. Địch ra sức tổ chức nhiều cuộc phản kích ra lấp hào, đẩy ta ra xa. Nhiều trận đánh địch phản kích đã diễn ra hết sức quyết liệt, nổi bật là trận đánh bảo vệ trận địa chiến hào ở Pe Luông - Hồng Lếch ngày 28-3. Địch dùng hai tiểu đoàn và sáu xe tăng đánh vào trận địa của Trung đoàn 88. Mặc dù bị bất ngờ do chủ quan khinh suất, lại đang lúc cán bộ cấp trưởng đi họp vắng, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 88 tại trận địa vẫn ngoan cường chiến đấu. Trong trận này, xuất hiện nhiều tấm gương rất anh dũng, cảm động nhất là gương Tiểu đội trưởng Bùi Minh Đức và chiến sĩ Nguyễn Hoàng Phương cùng phối hợp diệt địch, người bị thương hỏng cả hai mắt nhưng còn tay thì bắn súng, người bị thương cả hai tay thì quan sát hướng dẫn mục tiêu. Gương các chiến sĩ Phân đội phòng không 78 (Tiểu đoàn phòng không 387) đi cùng Trung đoàn 88, đã kiên quyết không rời trận địa, hạ thấp nòng pháo bắn bộ binh địch, chiến đấu hy sinh đến người cuối cùng. Tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ trên trận địa đã tạo điều kiện thuận lợi để thê đội 2 của Trung đoàn 88, khi cán bộ cấp trưởng đi họp về, tổ chức phản kích đánh lui quân địch, khôi phục lại trận địa.

Từ hệ thống chiến hào đã xây dựng và giữ vững trước các cuộc phản kích của địch, ngày 30-3, quân ta mở màn đợt tiến công thứ hai. Khi các đơn vị bạn đánh địch ở các ngọn đồi phía đông thì Trung đoàn 36 nổ súng tiến công vào cứ điểm 106. Trong trận đánh này Trung đoàn 36 đã sử dụng chiến thuật đánh lấn: dùng hỏa lực chế áp địch cho xung kích đào hào, lấn dần vào trung tâm rồi bất ngờ vượt lên xung phong. Bằng cách đánh đó, chỉ sau 30 phút nổ súng (từ 18 giờ 30 phút đến 19 giờ 30 phút ngày 1-4), quân địch ở cứ điểm 106 đã hoàn toàn bị tiêu diệt và bị bắt. Kinh nghiệm đánh lấn của Trung đoàn 36 lập tức được phổ biến cho toàn mặt trận.

Cùng thời gian này, ở phía đông, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 lần lượt đánh chiếm các vị trí địch trên các ngọn đồi C1, E, D, D2. Nhưng trận đánh đồi A1 lại gặp khó khăn. Được lệnh của Bộ Chỉ huy mặt trận, Đại đoàn 308 lập tức điều Trung đoàn 102 cơ động theo đường hào trục tây sang đông Mường Thanh vào thay thế Trung đoàn 174 đánh đồi A1. Tuy gặp rất nhiều khó khăn vì không có chuẩn bị, nhưng tình hình hết sức khẩn trương nên vừa cơ động tới, Trung đoàn 102 lập tức nổ súng đánh cứ điểm A1. Đồi A1 là vị trí sống còn đối với địch ở trung tâm Mường Thanh, bọn địch đã tăng cường dựa vào công sự trận địa kiên cố, vì ở đây có Sở Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri đặt trong hầm bí mật, có hệ thống công sự kiên cố bao quanh. Khi Trung đoàn 102 của ta tiến công, tiểu đoàn lê dương được tăng cường cho Sở Chỉ huy đã chống trả quyết liệt dưới sự chi viện của hỏa lực không quân và pháo binh. Trận đánh diễn ra liên tục hai ngày ba đêm (từ 17 giờ ngày 31-3 đến 4 giờ 30 phút ngày 3-4); ta và địch giành đi giật lại từng đoạn hào, từng ụ súng. Mỗi lần ta tiến công chiếm được trận địa, địch lại rút xuống hầm ngầm rồi ném bom, bắn pháo sát thương ta và điều từng tiểu đoàn lính dù có xe tăng hỗ trợ từ Mường Thanh lên phản kích. Hơn 800 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 102 hy sinh và bị thương trong các trận đánh, nhưng cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 102 vẫn anh dũng chiến đấu, giữ vững trận địa ở phía đông A1, tạo thế cho trận đánh tiêu diệt đồi A1 sau này.

Trong trận đánh đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đãu rất anh dũng. Nổi bật là gương của đồng chí Chu Văn Mùi, chiến sĩ thông tin, ba ngày nhịn đói vẫn chiến đấu giữa vòng vây, gọi pháo bắn ngay vào vị trí của mình để diệt bọn địch tới gần. Gương của Trung đoàn trưởng Hùng Sinh vừa trực tiếp lên trận địa chỉ huy bộ đội. vừa cùng các chiến sĩ dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch, bảo vệ trận địa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #75 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:37:21 pm »


Những ngày cuối đợt hai, từ thế trận đã tạo được, quân ta tiếp tục phát triển xây dựng trận địa và đánh chiếm thêm một số cứ đỉểm, thắt chặt vòng vây, chuẩn bị đợt ba tổng công kích.

Từ cứ điểm 106, Đại đoàn 308 đào tiếp chiến hào vào sát cứ điểm 206, sân bay Mường Thanh. Đêm 21 rạng ngày 22-4, Trung đoàn 36 lại dùng cách đánh lấn tiêu diệt gọn cứ điểm 206 trong vòng hai giờ, diệt và bắt một đại đội, tạo thế cho Trung đoàn 88 đào chiến hào vào trung tâm sân bay, xây dựng trận địa, cắt tiếp tế đường không của địch. Địch điên cuồng phản kích ra hướng sân bay để nối lại cầu hàng không. Ngày 21-4, Tiểu đoàn dù số 6 của địch ba lần phản kích vào trận địa trung tâm sân bay của Trung đoàn 88 nhưng đều bị Tiểu đoàn 23, Trung đoàn 88 đánh bật. Đêm 22-4, địch dồn sức tổ chức một cuộc phản kích lớn với hai tiểu đoàn (Tiểu đoàn dù số 6 và Tiểu đoàn lê dương thứ nhất), có sáu xe tăng đi cùng, được máy bay, pháo binh chi viện, mở bốn đợt xung phong hòng đánh bật Trung đoàn 88 ra khỏi khu vực sân bay Mường Thanh. Suốt ba giờ chiến đấu, Trung đoàn 88 đã phối hợp với pháo binh mặt trận đánh bại cả bốn đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa và cuối cùng tổ chức phản kích, đuổi địch tháo chạy về trung tâm Mường Thanh.

Cuối tháng 4, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã rơi vào tình thế vô cùng khốn quẫn. Bộ Chỉ huy mặt trận quyết định mở đợt tiến công thứ ba đánh chiếm các vị trí còn lại ở phía đông, phía tây, tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày 1-5, ta mở đợt tiến công thứ ba.

Trong khi các đơn vị bạn tiến công địch ở các mỏm đồi còn lại phía đông, đêm 1-5, Trung đoàn 88 tiến công tiêu diệt cứ điểm 311A ở phía tây, diệt và bắt một đại đội địch. Đêm 3 rạng ngày 4-5, Trung đoàn 36 tiếp tục đánh chiếm cứ điểm 311B (cách Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm địch 300m), diệt và bắt thêm một đại đội địch.

Ngày 6-5, quân ta trên các hướng cùng đồng loạt nổ súng đánh vào các vị trí còn lại xung quanh trung tâm Mường Thanh. Ở phía đông, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 tiêu diệt các vị trí đồi A1, đồi C2, điểm cao 506. Ở phía tây, Trung đoàn 102 tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở điểm cao 311B (Nà Noọng). Quân địch bị vây chặt giữa trung tâm Mường Thanh, mất hết tinh thần chiến đấu. Nắm chắc thời cơ, chiều ngày 7-5, Bộ Chỉ huy mặt trận hạ lệnh tổng công kích. Từ các vị trí chiếm được, Đại đoàn 308 cùng các đơn vị bạn xung phong đánh thẳng vào Sở Chỉ huy địch ở Mường Thanh. Gần 1 vạn quân Pháp còn sống sót kéo cờ trắng ra hàng. Tướng Đờ Cátxtơri cùng Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ bị bắt sống, 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng.

Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Trong cuộc tiến công chiến lược này, Đại đoàn 308 đã đóng góp xứng đáng công sức của mình vào chiến công vĩ đại của dân tộc. Đại đoàn đã đánh nhiều trận, trong đó có hàng chục trận đánh lớn, đã tiêu diệt và bắt sống hơn 4 nghìn tên địch (không kể số địch bị bắt ngày 7-5), thu rất nhiều súng đạn, quân trang, quân dụng.

Đại đoàn đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao:

- Giải phóng thị xã Lai Châu.
- Mở đường chiến dịch.
- Phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu.
- Tiêu diệt đồi Độc Lập.
- Xây dựng trận địa chiến hào bao vây địch ở phía tây Mường Thanh, tiến công đánh chiếm các cứ điểm 106, 206, 311A, 311B, 301, tham gia đánh đồi A1 và tổng công kích tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Nhiều nhiệm vụ đại đoàn đã hoàn thành xuất sắc, nổi bật là:

Nhiệm vụ tiến công phòng tuyến sông Nậm Hu. Đây là nhiệm vụ vô cùng nặng nề, nhưng Đại đoàn 308 đã hoàn thành rất tốt. Nhận lệnh gấp, không được chuẩn bị, song với tinh thần trách nhiệm cao, ý thức rõ tầm quan trọng, đại đoàn đã vượt qua mọi khó khăn để thực hiện mệnh lệnh, hành quân thần tốc từ Điện Biên Phủ sang Thượng Lào. Cuộc tiến quân bất ngờ của đại đoàn chẳng những tiêu diệt được sinh lực địch, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu, buộc địch phân tán thêm khối chủ lực, mà còn lập thế nghi binh lừa địch, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta ở Điện Biên Phủ làm công tác chuẩn bị theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Thực hiện việc vây ép phía tây trung tâm cứ điểm Điện Biên Phủ, đại đoàn đã xây dựng được một hệ thống chiến hào liên hoàn, có chiều sâu phía tây cánh đồng Mường Thanh, làm chỗ dựa để tiến công tiêu diệt nhanh gọn các cứ điểm 106, 206, tiến vào chia cắt sân bay, đánh bại các cuộc phản kích của địch, buộc chúng rơi vào thế bị vây hãm, không thể tiếp tế, chi viện, ứng cứu và bị tiêu diệt khi ta tiến hành tổng công kích.

Trải qua các hoạt động chiến đấu trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 308 đã đúc rút được một số bài học quý báu:

Trước hết là bài học về tinh thần kỷ luật, chấp hành nghiêm mệnh lệnh. Bài học này được thể hiện rất rõ trong cuộc tiến công bất ngờ của đại đoàn vào phòng tuyến sông Nậm Hu. Tuy nhận lệnh gấp, thời gian làm công tác bảo đảm, chuẩn bị hầu như không có, khó khăn chồng chất, nhưng đại đoàn không hề do dự, đòi hỏi ở trên một điều kiện gì, lập tức dồn sức thực hiện mệnh lệnh. Với tinh thần kỷ luật đó, đại đoàn đã vượt qua được mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giáng đòn chiến lược đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu, phá vỡ một phần quan trọng thế trận của địch ở Điện Biên Phủ. Đại đoàn đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng ủy, Bộ Chỉ huy mặt trận khen ngợi.

Bài học thứ hai là bài học về tinh thần cách mạng, ý chí tiến công, quyết chiến đấu hy sinh đến cùng để hoàn thành nhiệm vụ. Đây là bài học có ý nghĩa rất lớn suốt trong quá trình chiến đấu trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 đã thể hiện tinh thần cách mạng, ý chí chiến đấu cao. Do đó, dù gặp phải tình huống khó khăn, gian khổ ác liệt, chịu hy sinh tổn thất đến đâu, cán bộ chiến sĩ đại đoàn cùng tìm cách khắc phục để giành chiến thắng.

Bài học thứ ba là bài học về tính sáng tạo, linh hoạt, tìm ra cách đánh hiệu quả nhất để tiêu diệt địch. Bài học này đã thể hiện nổi bật ở Trung đoàn 36 trong trận đánh tiêu diệt cứ điểm 106. Trước một cứ điểm có nhiều hỏa lực mạnh của địch, lại bố trí ở địa hình trống trải, khó tiếp cận, trung đoàn đã tổ chức bộ đội đào chiến hào lấn dần vào sát cứ điểm địch, rồi đào luồn qua hàng rào, bất ngờ vọt lên, đánh thẳng vào trung tâm. Cách đánh này gọi là đánh lấn, đỡ thương vong mà rất hiệu quả, địch bị xung phong bất ngờ, khó chống đỡ.

Từ Trung đoàn 36, cách đánh này đã được Bộ Chỉ huy mặt trận phổ biến tới các đơn vị để áp dụng vây ép địch. Sau này, cách đánh lấn đã được nghiên cứu thành chiến thuật vây lấn đánh cứ điểm địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đối với Đại đoàn 308, những chiến công mà đại đoàn làm nên trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ thực sự là những trang sử oanh liệt nhất của đại đoàn.

Những chiến công, những bài học kinh nghiệm của đại đoàn cũng như của các đơn vị bạn trên toàn mặt trận được rút ra từ cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, sẽ mãi mãi là những tấm gương, những điều chỉ dẫn cho các thế hệ cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 308 hôm nay và mai sau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #76 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:41:20 pm »


ĐẠI ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

Thượng tá NGUYỄN BÁ TUẤN
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316

Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) được thành lập ngày 1-5-1951, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang có những chuyển biến mạnh mẽ. Vừa ra đời, đại đoàn đã liên tục tham gia chiến đấu từ địa đầu biên giới Đông Bắc đến Chiến dịch Trung du, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Và khi tròn ba tuổi, đại đoàn vinh dự được tham gia cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Cuối tháng 12-1953, sau khi giải phóng Lai Châu, tiêu diệt hoàn toàn 24 đại đội địch, mở đầu cho cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, Đại đoàn 316 được lệnh gấp rút hành quân vượt đỉnh Pu Thống, qua đèo Mường Áng vào Điện Biên Phủ. Vào tới nơi đóng quân (từ Khe Chít đến Pú Hồng Mèo) các đơn vị của đại đoàn đã khẩn trương làm công tác chuẩn bị chiến trường, đồng thời tiến hành đợt giáo dục chính trị rộng rãi, sâu sắc nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ ý nghĩa quan trọng của chiến dịch là: tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch, đập tan kế koạch Nava, đánh bại âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn đều ghi lòng tạc dạ quyết tâm lớn của Đảng và Bộ Chỉ huy chiến dịch đã được tóm tắt thành những khẩu hiệu súc tích:

- Tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ!
- Địch cố thủ, kiên quyết đánh!
- Địch bỏ chạy, kiên quyết đuổi!
- Địch tăng quân, kiên quyết diệt!

Toàn đại đoàn dấy lên phong trào thi đua giết giặc lập công, giành cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" của Bác Hồ. Ai cũng náo nức chờ đợi lập công.

Trung tuần tháng 1-1954, Đảng uỷ đại đoàn họp đánh giá tình hình mọi mặt trước khi bước vào chiến đấu. Hội nghị nhận định: Sau chiến thắng Lai Châu, bộ đội phấn khởi tin tưởng, ý chí quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ được củng cố. Kế hoạch tác chiến được phổ biến thống nhất từ đại đoàn đến các đại đội; trong đó chú trọng giải quyết các yêu cầu về chiến thuật và chỉ huy, về bảo đảm cung cấp gạo, đạn cho chiến đấu. Song, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về đánh tập đoàn cứ điểm còn đơn giản, chưa nắm chắc cách bố trí bên trong của địch, các vấn đề như đánh ban ngày, đánh liên tục, đánh địch phản kích có xe tăng, pháo binh, không quân yểm trợ... chưa được nghiên cứu cụ thể. Trên cơ sở nhận định đó, Đảng uỷ đại đoàn chỉ ra cho các đơn vị và cơ quan cần tập trung giải quyết một số vấn đề tư tưởng, nhận thức. Về chiến thuật, một mặt phải tích cực bắt tù binh để khai thác tìm hiểu thêm cách bố trí bên trong các cứ điểm địch, mặt khác phải thông qua các hội nghị, nghiên cứu để có kế hoạch cụ thể hơn về cách đánh của từng đơn vị.

Chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ đại đoàn, các đơn vị tranh thủ thời gian hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu quyết liệt và đầy ý nghĩa sắp tới.

Theo kế hoạch tác chiến ban đầu, Đại đoàn 316 có nhiệm vụ tiến công các cứ điểm A1, A2 và khu C. Cùng ngày giờ quy định, sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, toàn đại đoàn và các đơn vị trên toàn mặt trận đã bí mật, an toàn chiếm lĩnh xong trận địa và sẵn sàng chờ lệnh.

Giữa lúc đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh hoãn cuộc tiến công. Chấp hành mệnh lệnh chiến lược của trên, toàn đại đoàn lại bí mật, an toàn rút khỏi trận địa.

Trở về vị trí tập kết, Đảng uỷ đại đoàn tổ chức giáo dục cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ quán triệt chủ trương của trên: Điện Biên Phủ là chiến dịch quan trọng nhất từ trước đến nay, quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trước sau không thay đổi. Trước đây, Tổng Quân uỷ chủ trương "đánh nhanh, giải quyết nhanh", nhưng nay do tình hình thay đổi nhiều, nên phương châm tác chiến đổi lại là: "đánh chắc, tiến chắc". Do đó phải tạm thời dừng tiến công, tiếp tục chuẩn bị thật tốt các mặt như: làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa tiến công, vận chuyển lương thực, đạn dược, điều tra nắm chắc tình hình địch... đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn và chính xác.

Theo kế hoạch của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đại đoàn 316 có nhiệm vụ làm con đường kéo pháo số 2 từ Nà Tấu qua cánh đồng Mường Phăng vào Tà Lèng và con đường số 3 từ Bản Sôm đi Pú Hồng Mèo.

Đường số 2 có đoạn qua cánh đồng bằng phẳng dễ làm nhưng lại trống trải, khó nguỵ trang. Đường số 3 ngắn hơn đường số 2 nhưng qua rừng rậm và núi đá, có nhiều dổc cao và khe suối sâu. Yêu cầu của trên đề ra là phải hoàn thành trong một thời gian ngắn, bảo đảm đúng yêu cầu kỹ thuật để xe pháo đi lại được dễ dàng. Lực lượng công binh đại đoàn có ít, cán bộ chưa ai biết về kỹ thuật cầu đường, dụng cụ chỉ có xẻng, cuốc bộ binh; trời lại rét buốt, nhiều ruồi vàng, muỗi, vắt làm ảnh hưởng sức khoẻ bộ đội, địch thường xuyên cho máy bay và pháo bắn phá... Tuy khó khăn chồng chất, nhưng quyết tâm "mở đường thắng lợi" đúng hạn định của toàn đại đoàn không hề thay đổi.
_____________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #77 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:43:28 pm »


Song song với nhiệm vụ làm đường, đại đoàn có nhiệm vụ bảo vệ một số điểm cao án ngữ phía đông cánh đồng Mường Thanh.

Lúc này địch cũng rất lo lắng theo dõi những hoạt động của quân ta ở hướng đông Điện Biên Phủ. Ở đây, các đơn vị gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp tế, vận chuyển và cơ động lực lượng, nhất là pháo binh. Nhưng nếu ta vượt qua được những khó khăn đó, thì hướng này, với những điểm cao nếu ta khống chế được thì thực sự là một nguy cơ đối với địch. Biết được điều đó, địch tăng cường các hoạt động nhằm nới rộng vòng vây xung quanh tập đoàn cứ điểm để thăm dò và phá hoại công tác chuẩn bị của ta.

Dự kiến trước được những hành động của địch, Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 316 tăng cường lực lượng phòng ngự, kiên quyết giữ vững thế bao vây, uy hiếp tập đoàn cứ điểm, đồng thời tích cực tiêu diệt sinh lực địch nếu chúng đánh ra. Đại đoàn điều Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) ra chốt giữ khu vực Đồi Xanh - một dãy điểm cao gồm đồi 781, 754, 518, 502 nối tiếp nhau tạo thành bức thành ngăn cách cánh đồng Mường Thanh với dãy Tà Lèng nhằm bảo đảm cho công tác làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa pháo binh bắn vào Mường Thanh và tạo bàn đạp cho đại đoàn triển khai lực lượng xây dựng trận địa bao vây, tiến công địch ở phía đông tập đoàn cứ điểm.

Đúng như dự đoán của ta, từ ngày 5-2 đến ngày 5-3 địch liên tiếp tiến công ra khu vực Đồi Xanh dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh, không quân và xe tăng. Trải qua 31 ngày đêm phòng ngự, Tiểu đoàn 439 đánh bại 61 cuộc tiến công của địch, diệt 680 tên, bắn rơi 2 máy bay, bắn hỏng 3 xe tăng. Chỉ riêng ngày 5-3 các chiến sĩ phòng ngự Đồi Xanh đã đánh lui bảy đợt tiến công của bốn tiểu đoàn Âu - Phi có máy bay, trọng pháo và xe tăng yểm trợ, diệt 255 tên, bắn rơi 1 máy bay, bắn hỏng 1 xe tăng.

Chiến thắng Đồi Xanh ngày 5-3 đã chấm dứt những cố gắng cuối cùng của địch trong âm mưu nới rộng vòng vây xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trong những ngày Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) chốt giữ khu vực Đồi Xanh, các đơn vị trong toàn đại đoàn bất chấp khó khăn, gian khổ đã hoàn thành hai con đường kéo pháo dài 34km, có 10 chiếc cầu dài từ 3 đến 15 m trước thời gian quy định.

Đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn thành.

Ngày 13-3, đợt tiến công thứ nhất ở Điện Biên Phủ bắt đầu. Các vị trí Him Lam, Độc Lập lần lượt bị quân ta san phẳng. Cánh cửa của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã mở. Để chuẩn bị cho đợt tiến công vào khu trung tâm Mường Thanh, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị phải nhanh chóng xây dựng trận địa tiến công của tất cả các loại súng bộ binh phù hợp với tầm hiệu lực, bao vây quân địch khắp các mặt đông, tây, nam, bắc, đồng thời chia cắt phân khu Hồng Cúm với khu trung tâm. Ở phía đông, Đại đoàn 316 phụ trách trận địa từ Khe Chít xuống phía tây - nối với trận địa của Đại đoàn 308 ở Cò Mỵ. Đại đoàn 312 xây dựng trận địa từ Huội Phạ vòng sang tây - bắc đồi Độc Lập. Trận địa của ba đại đoàn tạo thành một vòng vây rộng lớn bao quanh khu trung tâm Mường Thanh. Ở phía nam, Đại đoàn 304 làm trận địa chạy từ đông sang tây cắt phân khu Hồng Cúm khỏi trung tâm.

Vì ta xây dựng trận địa ngay sát nách địch, nên các đơn vị phải hoàn toàn làm ban đêm và sau đó tổ chức nguỵ trang kín đáo. Thiên nhiên cũng gây cho ta không ít khó khăn. Những trận mưa rào làm cho đường hào đọng nước, lầy lội, bộ đội phải dầm mình trong bùn nhão, áo quần ướt sũng. Muỗi, vắt, ruồi vàng được dịp sinh sôi. Do đó sức khoẻ bộ đội giảm sút, tinh thần mệt mỏi, căng thẳng. Tư tưởng nôn nóng muốn đánh ngay, không muốn làm trận địa, sợ thương vong xuất hiện trong một số cán bộ, chiến sĩ. Quân số và năng suất lao động giảm sút trông thấy. Có đêm cả một đại đội chỉ nhích lên được vài mét, kích thước lại không đúng quy định. Hơn nữa khi phát hiện ta đào các đường hào, địch điên cuồng dùng bom đạn đánh phá, tung quân phản kích ngăn chặn nên mỗi mét hào đều thấm máu và mồ hôi của cán bộ và chiến sĩ ta. Trước tình hình đó, theo chỉ thị của Đảng uỷ chiến dịch, Đảng uỷ đại đoàn đã mở đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình, nêu cao quyết tâm và biện pháp khắc phục, kiên quyết lãnh đạo đơn vị hoàn thành xây dựng trận địa bao vây tiến công đúng thời gian, đúng yêu cầu. Những con hào của ta ngày càng tiến về phía trước như những mũi lao xuyên dần vào trái tim địch. Các trận địa xuất phát xung phong của Trung đoàn 174 và 98 đã làm xong dưới chân các điểm cao A1, C1, C2.

Ngày 29-3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư động viên bộ đội trước khi bước vào đợt tiến công thứ hai.

Ngày 30-3, các trung đoàn bắt đầu xuất kích. 17 giờ cùng ngày, các đơn vị đã chiếm lĩnh xong trận địa một cách bí mật và an toàn. Mọi người đều thấy rõ tác dụng của những con hào mà quân ta đã đổ bao xương máu để đào trong những ngày lao động, chiến đấu vừa qua.

Theo kế hoạch, Trung đoàn 98 tiến công cụm cứ điểm C1 và C2, Trung đoàn 174 tiến công cứ điểm A1. Từ đêm 30-3 đến 12-4, trên các điểm cao A1, C1, C2 những trận tiến công, phản công, giành đi, giật lại giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Qua 14 ngày đêm chiến đấu, ta đánh thiệt hại ba tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ, diệt và làm bị thương 677 tên, bắn hỏng 3 xe tăng, 2 khẩu pháo 105 ly. Tuy bị thiệt hại nặng nhưng vì sự sống còn của tập đoàn cứ điểm, với ưu thế lớn về hỏa lực và pháo binh, không quân, xe tăng, địch điên cuồng bắn phá và phản kích hòng đánh chiếm lại các vị trí A1, C1. Cuối đợt tiến công thứ hai, địch vẫn giữ được đồi C2 và phần lớn đồi A1, đồi C1 ta và địch mỗi bên giữ một nửa, cách nhau chỉ chừng 15-20m. Cuộc chiến đấu chuyển sang thế giằng co.

Là một trong những lực lượng tiến công chủ yếu trong đợt hai, toàn đại đoàn đã chiến đấu kiên cường, quả cảm, thể hiện khả năng tác chiến liên tục, trình độ hiệp đồng chiến đấu trong phạm vi tương đối lớn. Tuy nhiên, qua nhiều ngày chiến đấu ác liệt, bộ đội ta bị thương vong nhiều. Nhận thấy quân ta chưa đủ sức phản kích ngay, đại đoàn lệnh cho các đơn vị quay sang củng cố, gấp rút sửa chữa công sự, bố trí lại lực lượng, kiên quyết giữ vững trận địa và kịp thời điều lực lượng lên tăng cường phòng ngự A1, C1. Đồng thời khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho đợt chiến đấu mới theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch.

Nhận rõ điểm cao A1, C1 có tầm quan trọng bậc nhất trong các điểm cao phòng ngự phía đông tập đoàn cứ điểm; nếu chiếm được các điểm cao này, quân ta có thể uy hiếp mạnh mẽ và phong tỏa khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, khống chế vùng trời chặt hơn, thu hẹp phạm vi thả dù của địch đi tới triệt hẳn tiếp tế đường không của chúng, đồng thời tạo bàn đạp rất tốt để đánh vào trung tâm Mường Thanh, vì vậy chúng ta phải kiên quyết tiến công tiêu diệt bằng được các điểm cao A1, C1, C2.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #78 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:46:01 pm »


Một vấn đề quan trọng trong kế hoạch tiến công A1 khiến cho chỉ huy đại đoàn, Trung đoàn 174 và cơ quan tham mưu suy nghĩ nhiều là tìm cách đánh hầm ngầm. Nhiều phương án được đưa ra bàn bạc. Cuối cùng, kế hoạch đào một đường hầm chạy từ trận địa ta đến chân hầm ngầm địch rồi dùng một lượng thuốc nổ lớn đánh sập hầm ngầm được Bộ Tư lệnh đại đoàn nhất trí và báo cáo lên Bộ Chỉ huy chiến dịch. Cấp trên phê chuẩn kế hoạch này và tăng cường cho đại đoàn một tổ công binh có kỹ thuật và kinh nghiệm.

Tối ngày 20-4, đại đoàn ra lệnh bắt đầu đào đường hầm. Đào được vài đêm thì địch phát hiện tiếng động trong lòng đất. Chúng gọi máy bay, đại bác bắn phá liên tiếp vào trận địa ta, ban đêm địch bò ra chiến hào ném lựu đạn, xả súng bắn xuống phía đường hầm ta đang đào. Nhưng công tác bảo vệ lực lượng đào hầm đã được ta tính toán chặt chẽ. Nhiệm vụ này được giao cho Tiểu đoàn 255 cùng hai trận địa hỏa lực và lực lượng dự bị bố trí tại đồi Cháy và đồi F. Vì vậy, các cuộc đột kích, đánh phá cũng như hai đợt phản kích của địch ngày 22 và ngày 25-4 đều bị đập tan.

Khi đường hầm đào vào sâu thì nhiều khó khăn mới lại phát sinh như thiếu ánh sáng và không khí, hướng và tốc độ của đường hầm không nhằm đúng vị trí hầm ngầm của địch. Làm thế nào để đưa đất ra ngoài vừa nhanh vừa không bị lộ là những vấn đề không đơn giản... Cuối cùng, nhờ trí tuệ của tập thể và sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của đại đoàn và trung đoàn, những khó khăn đó đã được giải quyết. Bộ Tư lệnh đại đoàn đã gửi cho anh em bộ đèn "Sôlếch" vẫn dùng ở Sở Chỉ huy. Chị em dân công tập trung khâu gấp hàng nghìn túi bằng vải dù để chứa đất kéo ra bờ công sự luôn, còn vấn đề giữ đúng hướng và tốc độ của đường hầm được xử lý bằng cách kết hợp phương pháp tính toán của pháo binh với các biện pháp đơn giản là dùng cây hương cháy đỏ làm vật chuẩn và ống thuốc tiêm đựng nước làm ống thăng bằng. Để đường hầm bớt ngột ngạt, anh em dùng quạt nan quạt không khí từ ngoài vào. Sau hơn 10 ngày đêm con đường hầm và một căn hầm chứa thuốc nổ đã hoàn thành. 1.000kg thuốc nổ được kết thành khối đặt trong hầm. Phương pháp làm nổ thuốc đã được tính toán chu đáo. Tuy vậy, chiến sĩ Đại đội 317 vẫn chưa yên tâm. Tại hội nghị chi bộ, hai đảng viên tình nguyện trong trường hợp các phương pháp gây nổ của anh em công binh không đạt kết quả thì mỗi đồng chí sẽ ôm một khối thuốc nổ 20kg giật sẵn nụ xoè lao vào hoàn thành nhiệm vụ.

Cuối tháng 4, công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công của quân ta đã căn bản hoàn thành, Bộ Chỉ huy chiến dịch đề ra nhiệm vụ trong những ngày đầu tháng 5 là phải đánh xong khu ngoại vi, chiếm toàn bộ các điểm cao phía đông và một số cứ điểm phía tây, hoàn toàn triệt đường tiếp viện của địch.

Để cổ vũ mạnh mẽ tinh thần giết giặc lập công, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã phát động đợt thi đua từ ngày 1 đến ngày 19-5 chào mừng ngày Quốc tế lao động và kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ. Riêng đối với Đại đoàn 316, đợt thi đua này còn có ý nghĩa kỷ niệm lần thứ ba ngày thành lập đại đoàn (1-5-1951 - 1-5-1954). Hàng nghìn quyết tâm thư của cán bộ, chiến sĩ gửi Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đại đoàn, hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt tiến công mới.

12 giờ ngày 1-5, trong gần một giờ đồng hồ pháo binh chiến dịch giội cơn bão lửa vào các trận địa pháo địch. Khu Mường Thanh chìm trong khói lửa. Theo kế hoạch, lúc 19 giờ bộ đội phòng ngự trên đồi C1 bí mật lùi xuống cửa mở. Đến 19 giờ 27 phút, hỏa lực của Trung đoàn 98 bắn dồn dập vào trận địa địch trên đồi C1, pháo của ta đặt ngay tại đồi D, cách C1 vài trăm mét bắn rất chính xác. Địch hoàn toàn bất ngờ lúng túng trước sự xuất hiện của pháo binh ta ở ngay cạnh chúng.

Pháo vừa ngừng chế áp, bộ binh ta lập tức xung phong đánh chiếm C1. Chỉ sau một giờ chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn đồi C1, diệt tại trận 114 tên (có 1 quan ba và 1 quan hai), bắt sống 44 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Ở phía đồi A1, Trung đoàn 174 đánh chiếm được hai lô cốt số 7 và số 8. Đêm chiến đấu đầu tiên của đợt ba thắng lợi giòn giã. Ta chiếm được các mục tiêu đã định. Các đại đoàn bạn tiêu diệt cứ điểm 311B và 505 ở phía tây và khu C thuộc phân khu Hồng Cúm. Trong thế thừa thắng, quân ta ở hai phía đông và tây cánh đồng Mường Thanh giờ đây như hai gọng kìm thép đang khép chặt lấy cổ địch. Trước cảnh khốn quẫn, địch đã có dấu hiệu muốn mở đường máu tháo chạy.

Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định gấp rút hoàn thành nhiệm vụ của đợt tiến công thứ ba và chỉ thị cho các đơn vị sẵn sàng nắm thời cơ, khi có điều kiện chuyển sang tổng công kích ngay và phải bao vây chặt để đánh địch rút chạy. Thời gian nổ súng của toàn mặt trận ấn định là 20 giờ 30 phút ngày 6-5, lấy tiếng nổ của 1.000kg bộc phá trên đồi A1 làm hiệu lệnh tiến công.

Đại đoàn 316 được tăng cường Trung đoàn 9 thuộc Đại đoàn 304 làm lực lượng dự bị, trong khi đó Tiểu đoàn 938 của Trung đoàn 98 được phối thuộc Đại đoàn 304 làm nhiệm vụ bao vây tiến công Hồng Cúm.

Đại đoàn quyết định sử dụng Trung đoàn 174 tiêu diệt đồi A1 dưới sự chi viện của pháo binh chiến dịch. Khi giải quyết xong A1, nếu Trung đoàn 98 gặp khó khăn thì Trung đoàn 174 tổ chức một bộ phận đánh sang hoặc dùng hỏa lực yểm trợ, kiên quyết ngăn chặn địch từ Mường Thanh phản kích ra, đồng thời tiêu diệt A3. Trung đoàn 98 được tăng cường Tiểu đoàn 375 của Trung đoàn 9 có nhiệm vụ tiêu diệt C2, sau đó sẵn sàng phát triển vào khu trung tâm Mường Thanh khi có lệnh. Trung đoàn 9 còn lại hai tiểu đoàn làm lực lượng dự bị của đại đoàn.

Đúng 20 giờ 30 phút ngày 6-5, đại đoàn ra lệnh nổ bộc phá. Khác với sự hình dung của mọi người, trên đồi A1 không có tiếng nổ rung trời mà chỉ thấy một tia chớp loé lên kèm theo một tiếng ục nặng nề. Đường dây điện thoại giữa Trung đoàn 174 với đại đội công binh bị đứt nên trung đoàn chưa biết bộc phá đã nổ, nhưng quan sát thấy trên đồi A1 có cột khói bụi bốc lên cao, trung đoàn trưởng xác định là bộc phá đã nổ nên lập tức ra lệnh nổ súng, đồng thời báo cáo lên đại đoàn. Lần này ta không dùng pháo bắn chuẩn bị theo quy luật mà chỉ bắn chế áp mãnh liệt trong 15 phút rồi cho bộ đội xung phong ngay để tạo sự bất ngờ áp đảo địch.

Tuy khối thuốc nổ lớn đặt chưa thật đúng đáy hầm ngầm, nhưng do uy lực lớn đã phá sập một đoạn hầm ngầm và lô cốt con, tiêu diệt một số địch và làm cho nhiều tên khác bị tê liệt vì sức ép. Khi bộ đội ta ập đến địch không kịp đối phó.

Từ phía đông - nam, Tiểu đoàn 249 chia làm hai mũi đánh lên hầm ngầm, khu thông tin và trận địa cối. Từ phía tây - nam, Tiểu đoàn 251 đánh thúc vào sau lưng địch, tiêu diệt lô cốt 17, bịt đường tháo chạy của chúng. Khi quân ta đánh đến trận địa cối địch thì cuộc chiến đấu lại diễn ra giằng co, ta phải điều lực lượng lên tăng cường và tổ chức làm nhiều hướng, tiếp tục xung phong. Đến 4 giờ 30 phút sáng ngày 7-5, ta đập tan hoàn toàn sức kháng cự của địch và làm chủ đồi A1.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #79 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 02:46:41 pm »


Ở đồi C2, do tầm quan trọng của vị trí này đối với tập đoàn cứ điểm, nên sau khi mất đồi C1, địch tập trung mọi cố gắng tăng cường phòng thủ C2 với hy vọng dùng C2 và A1 làm "bức tường thép" chắn cho trung tâm Mường Thanh, đặc biệt là Sở Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri. Chúng đưa 6 đại đội của Tiểu đoàn lê dương số 2 và Tiểu đoàn dù nguỵ số 5 lên quyết giữ C2 bằng mọi giá. Do vậy, ngay từ phút đầu, cuộc chiến đấu đã hết sức quyết liệt. Trong đêm, ta tổ chức nhiều đợt xung phong chiếm được trận địa súng cối, diệt một ban chỉ huy đại đội, giết nhiều địch, trong đó có tên quan ba nhưng sau đó bị địch phản kích chiếm lại. Đến 5 giờ sáng, trung đoàn 98 vẫn chưa diệt được cứ điểm C2.

Lúc này Trung đoàn 174 đã chiếm được A1. Bộ Tư lệnh đại đoàn nhận định: dù quân địch ở C2 còn tương đối đông và ngoan cố nhưng không thể chống cự lại được quân ta. Bản thân Trung đoàn 98 còn đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, đại đoàn lệnh cho Trung đoàn 98 nhanh chóng điều Tiểu đoàn dự bị 375 thay cho Tiểu đoàn 215 bước vào chiến đấu. Đồng thời đại đoàn lệnh cho Trung đoàn 174 dùng hỏa lực chi viện cho Trung đoàn 98 và khẩn trương chuẩn bị tiến công A3, sẵn sàng đánh địch phản kích A1 và phối hợp với Tiểu đoàn 439 chặn đứng âm mưu địch tăng viện cho C2.

Để tạo thuận lợi cho bộ đội xung phong, theo đề nghị của đại đoàn, Bộ Chỉ huy chiến dịch cho lựu pháo 105 ly bắn vào C2. Hơn 200 quả lựu pháo nốì nhau rót xuống làm rung chuyển đồi C2. Các trận địa pháo địch cũng bị ta kiềm chế.

7 giờ 30 phút sáng ngày 7-5, pháo vừa ngừng chế áp, Tiểu đoàn 215 và Tiểu đoàn 375 chia làm ba mũi xung phong lên C2. Quân ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu. Lúc này, tướng Đờ Cátxtơri, chỉ huy tập đoàn cứ điểm, cố vét 8 trung đội tung ra phản kích, nhưng bị Tiểu đoàn 439 cùng hỏa lực của Trung đoàn 174 chặn đứng, phải chạy về Mường Thanh.

9 giờ 30 phút ta làm chủ đồi C2. Sáu đại đội thuộc Lữ đoàn dù lê dương số 2 và Tiểu đoàn dù nguỵ số 5 gồm hơn 600 tên bị tiêu diệt và bắt sống, trong đó có hai tên quan tư. Trung đoàn 174 cũng đánh chiếm hoàn toàn A3.

Sau một đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, Đại đoàn 316 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm A1, C2, A3, trong đó A1 và C2 là hai điểm cao phòng ngự then chốt cuối cùng của tập đoàn cứ điểm.

Cùng đêm ngày 6-5, các đại đoàn bạn cũng hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Phạm vi chiếm đóng của địch lúc này chỉ còn lại mỗi chiều 500-700m. Lâm vào cảnh bị bao vây bốn mặt, sĩ quan và binh linh địch hoang mang cực độ.

Nắm vững thời cơ, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích. 15 giờ, pháo ta ầm ầm trút đạn xuống Sở Chỉ huy của Đờ Cátxtơri. Bộ binh ta bốn mặt giáp công, tiến đến đâu binh lính địch mang cờ trắng ra hàng đến đó.

Đúng 17 giờ 30, ta kết liễu số phận của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hàng ngàn bộ đội và dân công nhảy lên reo hò và bắn súng mừng chiến thắng vang dậy khắp một vùng thung lũng rộng lớn. Nhiều đồng chí ôm nhau trào nước mắt vì sung sướng.

Kể từ khi hành quân đuổi giặc đêm 9-12-1953 - mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 đến ngày toàn thắng 7-5-1954, đại đoàn đã hoạt động và chiến đấu liên tục 5 tháng ròng rã trong những điều kiện hết sức khó khăn, ác liệt. Đại đoàn đã tiến quân với tốc độ thần tốc, chiến đấu ngoan cường và giành thắng lợi vẻ vang.

Tính chung trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, đại đoàn đánh 17 trận tiến công và phòng ngự với quy mô tương đối lớn, và hàng trăm trận vận động, phục kích, tập kích. Đã tiêu diệt 3.300 tên địch, bắt sống và gọi hàng 6.500 tên, thu và phá huỷ 3.200 súng các loại, bắn rơi và bắn cháy 11 máy bay, bắn hỏng 3 xe tăng và 3 xe ôtô, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch.

Với chiến công đó, Đại đoàn 316 và cả ba trung đoàn cùng hầu hết các tiểu đoàn, đại đội đều được thưởng Huân chương Quân công. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ được thưởng Huân chương Quân công và Chiến công.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) đánh dấu thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược.

Lịch sử chiến đấu của đại đoàn trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù từ ngày thành lập đến khi kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ là những năm tháng hào hùng để lại nhiều bài học quý báu cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị. Chỉ mới ba năm sau ngày thành lập, đại đoàn đã tạo ra một sức bật Phù Đổng, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, lần đầu tiên đại đoàn chiến đấu tương đối tập trung. Trình độ đánh công sự vững chắc và khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày của đại đoàn trong điều kiện bom đạn ác liệt và thời tiết khắc nghiệt được nâng cao và có nhiều sáng tạo độc đáo. Công tác tổ chức, chỉ huy chiến đấu của cán bộ các cấp có nhiều tiến bộ; thế hiện rõ nét ở những điểm sau:

Việc chuyển các đơn vị từng quen đánh nhỏ lẻ, phân tán nhanh chóng sang tập trung trong đội hình lớn, có hiệp đồng binh chủng, đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ là một công việc hết sức nặng nề trong điều kiện thời gian huấn luyện ngắn. Đại đoàn đã khắc phục nhiều khó khăn để đưa các đơn vị đáp ứng với yêu cầu của chiến trường ngay từ đầu, kết hợp "vừa xây dựng vừa chiến đấu, lấy chiến đấu để xây dựng". Đại đoàn đã vận dụng hết sức linh hoạt phương châm: "thận trọng nhưng phải mạnh bạo", kết hợp giữa yêu cầu công tác với biện pháp xây dựng cụ thể phù hợp với từng đơn vị trong những điều kiện riêng biệt và đặc điểm của chiến trường.

Chiến đấu chống một đội quân xâm lược nhà nghề có ưu thế về vật chất - trang bị kỹ thuật, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn luôn tìm tòi những cách đánh thích hợp. Qua thử thách của thực tiễn chiến đấu, nhiều cách đánh mới trong đơn vị đã chứng tỏ hiệu suất tiêu diệt địch cao, góp phần làm cơ sở cho việc nghiên cứu những hình thức chiến thuật mới. Các trận chiến đấu phòng ngự Đồi Xanh, tiến công cứ điểm A1, C1, C2 là những trận đánh độc đáo góp phần vào kho tàng kinh nghiệm chung.

Để xây dựng đại đoàn vững mạnh toàn diện đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch, ngoài việc tăng cường xây dựng lực lượng, rèn luyện chiến thuật, kỹ thuật và chuyên môn, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đại đoàn thường xuyên coi trọng việc giáo dục, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, lòng yêu nước cho cán bộ, chiến sĩ. Việc tăng cường sức mạnh lãnh đạo của chi bộ và cấp uỷ các cấp được coi là khâu trọng yếu quyết định đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của đại đoàn trong chiến dịch.

Chiến đấu ở địa bàn rừng núi, trong điều kiện nhân tài, vật lực hạn chế, việc vận chuyển tiếp tế có nhiều khó khăn, cán bộ chiến sĩ đại đoàn phải chịu đựng nhiều gian khổ thiếu thốn, song tất cả đều xây dựng cho mình bản lĩnh vững vàng, một tinh thần và nghị lực sẵn sàng vượt khó, ra sức khắc phục khó khăn, tự túc lấy mọi thứ, tự làm lấy mọi việc. Do đó mà đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu trong những điều kiện đặc biệt của chiến trường.

Đó là những bài học quý báu được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM