Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Sáu, 2022, 06:21:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 5744 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #270 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 12:35:30 pm »


Sáng ngày 11-3 đã xảy ra trận đụng độ đầu tiên của các lực lượng mặt đất, khi quân Pháp bỗng nhiên chạm trán với hai phân đội Việt Minh đã lợi dụng bóng đêm thâm nhập qua hàng rào bùng nhùng của cứ điểm Độc Lập và ém quân ở đó. 08 chiến sĩ Việt Nam hy sinh, số còn lại bị đẩy lùi. Lực lượng phòng thủ cứ điểm này phấn chấn trước thắng lợi và tin rằng tuyến phòng thủ của họ có thể đứng vững trước các trận đánh mới.

Ngày 13-3-1954 lúc 5 giờ chiều, pháo của Việt Nam bắt đầu giội xuống Him Lam và Giáp sử dụng chiến thuật bao vây để đánh cứ điểm Điện Biên Phủ. Cuộc bao vây chia thành ba giai đoạn:

1. Phá đường băng ở phân khu bắc và chiếm các điểm mạnh tại Độc Lập, Him Lam và Bản Kéo.

2. Siết chặt vòng vây quân Pháp và tiêu diệt phân khu trung tâm đông đúc quanh đường băng chính cùng bản làng đó.

3. Mở cuộc tấn công cuối cùng vào những gì còn lại kể cả Hồng Cúm.

Từ ngày 10 đến ngày 12-3, pháo của Giáp lần đầu tiên nhả đạn vào đường băng, làm cho đường bằng đầy hố bom và lực lượng phòng thủ Pháp rất kinh hoàng khi thấy những gì xảy ra đối với con đường thoát duy nhất của họ. Nếu đường băng này bị phá hủy thì họ sẽ bị kẹt và thậm chí thương binh cũng không thể chuyển đi được. Lúc pháo bắt đầu nhả đạn thì tướng Cônhi đang đi thị sát Điện Biên Phủ. Ông ta vội lên máy bay chuồn thẳng.

Quân Pháp bị bất ngờ ngay từ đầu cuộc bao vây. Trước đây, để nghi binh, ông đã hạn chế các khẩu đội không được dùng pháo cỡ lớn hơn lựu pháo 75 ly. Mãi đến ngày 13-3, ông mới cho phép bắn pháo 105 ly. Ông đã để mặc cho lực lượng phòng thủ ấp ủ niềm tin rằng niềm hy vọng hão huyền của họ là sự thực. Lúc này họ bắt đầu trả giá vì khả năng của Giáp vượt quá những con số ước đoán của tình báo Pháp.

Bao quanh Điện Biên Phủ là 111 khẩu pháo (30 lựu pháo 75 ly, 36 khẩu pháo hạng nặng có nhiều cỡ nòng khác nhau và trong những ngày cuối cùng đã có từ 12 đến 16 bệ phóng rốckét sáu nòng của Liên Xô (gọi là Kachiusa).

Giáp khôn ngoan bố trí và sử dụng lực lượng pháo, do đó, bộ đội của ông dù thiếu kỹ thuật và chưa được đào tạo đầy đủ nhưng đã sử dụng có hiệu quả bằng cách ngắm cho nòng súng thẳng với mục tiêu từ xa. Họ đã hành động với ý chí phục thù theo kiểu cách mà về kỹ thuật có thể gọi là: "Ngắm súng bắn theo tầm nhìn của mắt".

Họ không chỉ bán 25.000 quả pháo mà đã bắn 103.000 quả lựu pháo 75 ly, hoặc cỡ lớn hơn trong suốt trận đánh. Như vậy Giáp không chỉ khôn hơn mà còn có nhiều pháo hơn quân Pháp (vì số pháo trên cỡ 57 ly của Pháp không bao giờ quá 60 khẩu). Khoảng 75% số thương vong của Pháp là do đạn pháo chứ không phải do chiến đấu với bộ binh.

Khi vạch kế hoạch tấn công, Giáp biết rõ những khó khăn này của địch. Sau này ông mô tả thái độ của ông vào lúc đó bằng lời lẽ lấy của Tôn Tử và của chính ông: "Chúng tôi thực sự biết địch biết ta, làm chủ được quy luật và luôn nắm chắc thế chủ động. Quân Pháp không thiếu vật chất cũng chẳng thiếu tướng tài. Nhưng cuộc chiến tranh của họ là phi nghĩa, họ không và không thể làm chủ các quy luật chiến tranh".

Bộ đội của Giáp tránh được pháo do họ đào các đường hào gần sát lực lượng phòng thủ của Pháp, siết chặt quanh các vị trí của địch.

Giáp bắt đầu giai đoạn tấn công mặt đất đầu tiên, liên tục từ ngày 13 đến ngày 17-3, ngay từ đêm đầu tiên. Lúc đó Pháp chỉ có một lượng đạn tiếp tế đủ cho sáu ngày; chiến đấu dữ dội đã làm cho quân Pháp gần hết đạn vào ngày thứ ba. Bộ đội Việt Minh đã chiếm Him Lam vào nửa đêm. Không có sĩ quan Pháp nào trong lục lượng phòng thủ Him Lam còn sống sót. Chỉ trong 15 giờ, Đờ Cátxtơri mất phần lớn lực lượng pháo. Các trận đánh vào Độc Lập và Bản Kéo không thành công. Ngày hôm sau, lực lượng phòng thủ của Pháp được tiếp viện với một tiểu đoàn. Tối 14-3, Giáp yêu cầu ngừng bắn tạm thời trong bốn giờ để thu lượm tử sĩ. Cả hai bên đều thu gom số quân bị thương vong của họ từ đống đổ nát trên đồi Him Lam. Địch tiếp tục đánh và chiến sự dữ dội diễn ra suốt đêm trên đồi Độc Lập và sáng hôm sau quân Pháp rút đi.

Một tiểu đoàn nguỵ bảo vệ khu bắc Bản Kéo, đó là tiểu đoàn ngụy Thái số 3 (BT3). Có lúc pháo của Việt Minh đã bắn truyền đơn buộc họ quy hồi. Những người lính thiểu số này chứng kiến Him Lam và Độc Lập thất thủ và hiểu rằng họ sẽ chịu chung số phận đó. Vào đêm 15-3, nhiều người thuộc tiểu đoàn này đã đào ngũ, phần lớn số còn lại trốn về quê hoặc ra hàng vào đêm 17-3. Quân Pháp và một số lính Thái còn lại rút lui về Huyghét (dưới Bản Kéo). Giai đoạn một của cuộc bao vây đã kết thúc.

Cái giá Việt Minh phải trả khá đắt. Trong giai đoạn đầu Giáp dùng nhiều trận đánh trực diện cảm tử và hoả lực của Pháp đã tiêu diệt rất nhiều bộ đội trong lực lượng tấn công. Một số lực lượng phòng thủ vẫn giữ thái độ hăng máu với tính toán cho rằng họ có thể chống trả được mọi cuộc tấn công của Giáp. Sau khi săn đuổi đội quân tài lẩn tránh của Giáp đã khá, quân Pháp thấy thoả mãn khi đội quân này dàn ra trước mắt họ với toàn bộ đội hình để chống trả trong làn đạn pháo dữ dội và nhằm đánh các vị trí phòng thủ của họ. Nỗi lo ngại chính của quân Pháp là đường băng đã không hoạt động được từ ngày 15-3. Việt Minh tiếp tục đánh vào đường băng thứ hai và cũng vô hiệu hoá nó. Từ sau đó họ phải thả dù hàng tiếp tế và viện binh.

Trong những ngày này, quân Pháp dường như chờ đợi một thảm bại. Việc đường băng không hoạt động được cũng chỉ là diễn biến của quy luật đầu tiên của cuộc chiến tranh mà họ tận mắt chứng kiến, quy luật đó là cái gì đó có thể xấu đi thì nó sẽ xấu đi. Rồi họ bình thản ngồi chờ cuộc tấn công tiếp theo của Việt Minh. Họ cho đối thủ của mình điểm rất cao nhưng đáng thương. Ít nhất là kẻ địch không sợ chết và đã nhiều lần tỏ thái độ sẵn sàng. Họ hồi hộp chờ đợi và biết rằng họ không chỉ là đối thủ của bộ đội Việt Minh. Sự việc sẽ còn diễn tiến.

Không phải tinh thần mọi người lính đều cao như của lực lượng phòng thủ Điện Biên Phủ. Tham mưu trưởng Pháp Pôn Êly đến Oasinhtơn ngày 26-3-1954 đã gặp vị sĩ quan Mỹ đồng cấp là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, Đô đốc Áctơ B.Raphót. Tham dự cuộc gặp gỡ này còn có Tổng thống Aixenhao và Ngoại trưởng Đalét. Êly nói: Điện Biên Phủ có thể thất thủ trước đòn tấn công của các đơn vị chủ lực của Giáp. Tuy ông không đòi hỏi gì ngoài lời cam đoan rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ, nhưng ông báo trước việc thua trận đọ sức này sẽ có nhiều hậu quả nguy hiểm đối với toàn bộ Đông Nam Á. Lời báo động của Êly đủ để Aixenhao phải tuyên bố đầy bi quan vào ngày 7-4 rằng: "Bạn có một dãy quân bài Đôminô rồi bạn gạt đổ con bài đầu tiên và con bài cuối cùng chắc chắn cũng sẽ nhanh chóng đổ... Việc mất Đông Dương sẽ làm cho Đông Nam Á sụp đổ như một dãy quân bài Đôminô”.

Raphót đề nghị với Aixenhao là Mỹ tiến hành một hoạt động ứng cứu mang tên Chiến dịch Vautour - dùng B29 từ Philippin và máy bay từ tàu sân bay đánh dập đầu lực lượng pháo binh của Giáp. Raphót nói: nếu chiến dịch này không có hiệu quả thì họ sẽ xem xét đến việc dùng bom nguyên tử. Khi các nhân vật khác biết có đề nghị này, họ đã tham gia vào một cuộc tranh luận nảy lửa. Aixenhao cũng bị vò xé bởi hai ý kiến khác nhau. Tuy ông tuyên bố nếu nước Mỹ dính líu vào một cuộc chiến tranh mặt đất nữa ở châu Á thì sẽ không có mối thảm hoạ nào lớn hơn, nhưng ông lại muốn giúp Pháp. Khi Chính phủ Pháp nghe được tin về Chiến dịch Vautour, họ đề nghị Aixenhao lập tức tiến hành ngay một cuộc oanh kích. Tổng thống Mỹ từ chối đề nghị này nhưng lại ngỏ khả năng viện trợ nhưng cố gắng của ông đã thất bại khi tại cuộc họp Hội đồng An ninh quốc gia vào cuối tháng 4, tướng Mathiu Richuây lên án ý tưởng vũ khí hạt nhân và nói các cuộc oanh tạc bằng bom thường sẽ không thể thành công nếu không có căn cứ chi viện mặt đất. Điều đó tất yếu sẽ đẩy Mỹ vào một cuộc chiến tranh mặt đất ở châu Á. Ngay hôm sau, Đalét báo cho đại sứ Pháp rằng: Mỹ sẽ không can thiệp vào cuộc chiến tranh. Dù là giải pháp gì đi nữa thì cũng phải tìm nó ở Đông Dương, ở tây – bắc Bắc Bộ, ở vùng lòng chảo nhỏ bé nằm giữa những quả đồi cách Lào vài kilômét. Các lực lượng tham chiến sẽ chiếm được hay sẽ mất Điện Biên Phủ trong một trận đánh quyết liệt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #271 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 12:36:23 pm »


Trong khi các cuộc bàn luận đang rộ lên ở Oasinhtơn và Pari thì ông Võ Nguyên Giáp thu quân lại để chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng mở màn giai đoạn hai của trận đánh (kéo dài từ ngày 30-3 đến ngày 30-4). Ông dự định dùng một đường hào lớn bao quanh các vị trí còn lại của Pháp rồi dùng lực lượng cảm tử đánh vào các vị trí đó. Sư đoàn 308 của Giáp sau một thời gian lao động cật lực dưới làn hỏa lực dữ dội của Pháp đã xây dựng được các vị trí mới chỉ cách các đồn phía ngoài của Pháp có 800 m. Các đơn vị anh em của nó bắt đầu đào hầm ngầm tiến vào cách hàng rào thép gai bên ngoài của Pháp có 1.600 m.

Khi vòng vây của Việt Minh khép lại thì tướng Nava quyết định củng cố lực lượng của mình và ra lệnh tăng viện. Ngày 16-3, thêm một tiểu đoàn dù nữa được đưa đến phối hợp với các đơn vị trong khu cứ điểm. Nhưng lực lượng tăng viện này cũng không giúp ích được gì. Ngày 21-3, hỏa lực của Việt Minh đã đẩy lùi các toán tuần tra của Pháp đang đi từ Điện Biên Phủ đến Hồng Cúm, lúc này Hồng Cúm bị cô lập. Hỏa lực pháo hạng nặng từ các cao điểm gây thương vong ngày một nhiều cho quân Pháp. Một số máy bay cố hạ cánh để di chuyển thương binh, nhưng bị hỏa lực xua đi. Chỉ có một vài chiếc trực thăng cố tmf cách đưa một số thương binh đến nơi an toàn trong bóng đêm, nhưng số lượng này không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng.
Việt Minh cứ tiếp tục nã nhiều loạt pháo nhưng các pháo đội của Pháp không thể dập tắt được, do vậy lực lượng phòng thủ bắt đầu lùi sâu trong công sự để tìm sự an toàn. Không quân và máy bay của hải quân đảo trên bầu trời phía trên thung lũng, thả bom napan vào các vị trí nghi là của địch và tập trung ném bom vào những nơi nghĩ là có pháo của địch. Nhưng tất cả dường như chỉ có đôi chút ảnh hưởng. Những cơn mưa đến sớm đã biến trại đồn trú của quân Pháp thành một bãi lầy, làm cho đám lá rừng ướt át bao quanh những quả đồi trở nên miễn dịch trước sự tàn phá của bom napan. Làn khói dày dặc càng che giấu những khẩu pháo của Việt Minh. Tệ hơn nữa, lực lượng phòng không của Giáp đã được cải thiện thêm khi pháo 37 ly tới trận địa.

Không quân của Pháp ít thành công trong việc chế áp pháo của Việt Minh và chúng cũng không cứu trợ được các lực lượng mặt đất. Việc thả dù hàng tiếp tế ngày càng trở nên mạo hiểm và thường bị lạc sang phía Việt Minh và có khi Việt Minh còn nhặt được cả đạn pháo 105 ly. Trong quá trình trận đánh, Pháp đã đưa năm tiểu đoàn đến Điện Biên Phủ, trong đó có một tiểu đoàn Việt Nam Cộng hoà (nguỵ), một tiểu đoàn lê dương (da số là người Đức), ba tiểu đoàn là quân Pháp.

Ngày 23-3, tướng Nava nói với Giáp qua rađiô và lần đầu tiên gọi kẻ thù của mình là "tướng quân". Ông ta yêu cầu Việt Minh đừng bắn vào máy bay chở thương binh, nhưng ông đã vấp phải "một sự yên lặng lạnh lùng".

Ngày 30-3, Giáp ra lệnh cho các sư đoàn tấn công từ các hào giao thông. Trận đánh kéo dài hơn bốn ngày đêm tại các điểm Đôminích, Êlian và Huyghét. Đến giữa tháng 4, quân của Giáp đã đến được sân bay và cắt đứt sân bay từ tây sang đông. Giáp giảm áp lực đối với Pháp để đưa thêm tiếp viện, bổ sung đạn dược và đồ tiếp tế khác. Nava hy vọng mùa mưa sẽ làm cho lực lượng hậu cần Việt Minh không hoạt động được. Nhưng điều đó không xảy ra. Cuối cùng viên tướng Pháp này nhận thấy những sai sót và những tính toán sai lầm của mình trong trận Điện Biên Phủ này...

Có lúc, lực lượng phòng thủ Pháp ở Idaben (Hồng Cúm) tính đến chuyện đánh mở đường thoát sang Lào. Thậm chí họ còn đặt mật danh cho nỗ lực đó (hành quân Anbatơrốt), nhưng cuối cùng họ phải bỏ kế hoạch vì số đơn vị Việt Minh ở đó quá đông có thể làm cho cuộc hành quân rơi vào cái bẫy mà Việt Minh đã giăng ra.

Sau này Giáp kể lại trong những ngày căng thẳng đó, vào lúc tạm dừng giữa hai đợt chiến đấu, ông đã mời đội văn nghệ đến trình diễn một chương trình âm nhạc phục vụ ông, Bộ Tham mưu của ông và một số chiến sĩ ở các đơn vị gần đó. Ông vốn mê các nhà soạn nhạc Béttôven và Lít.

Dù Giáp đã nghe Béttôven lúc đó hoặc lúc khác cũng chẳng có tác động gì nhiều nhưng ý tưởng về việc đưa văn công đến nơi Việt Minh đóng quân cũng đáng xem xét vì sự kiện như vậy làm cho người lính mang tính nhân văn hơn, và đỡ mang dáng vẻ của những người vô cảm, không biết phân biệt phải trái như nhiều người vẫn mô tả họ lúc đó và sau này. Trong tác phẩm của mình, Giáp nêu lên sự quan tâm của ông và của Đảng đối với tinh thần của từng người lính. Thật may mắn cho sự nghiệp của ông khi Giáp quan tâm đến bộ đội của mình cũng như những hy sinh của họ. Trong mọi cuộc chiến, thương vong của cả hai bên đều nặng nề nhưng Việt Minh luôn bị tổn thất lớn hơn Pháp. Vào cuối giai đoạn hai của cuộc bao vây, quân Việt Minh đã có 20 ngàn chết, bị thương hoặc bị bắt.

Trong tác phẩm của mình. Giáp đã mô tả vấn đề tinh thần bộ đội đã trở nên nghiêm trọng ra sao: "Cuộc chiến đấu đã kéo dài triền miên, thêm nhiều bộ đội trở nên mệt mỏi và rất căng thẳng thần kinh... không thể tránh khỏi bị tiêu hao lớn... có những xu hướng hữu khuynh tiêu cực mà biểu hiện là sẽ nhiều người sợ chết, sợ thương vong, sợ chịu đựng mệt mỏi, gian khổ". Ý kiến thừa nhận này là điều gây ngạc nhiên và là dấu hiệu chứng tỏ vấn đề tinh thần đã nghiêm trọng đến mức độ nào. Giáp viết: "Chúng tôi thấy trong hàng ngũ chúng ta có biểu hiện đánh giá thấp địch... đặc biệt sau giai đoạn hai của chiến dịch. Khi tấn công và phòng thủ đều ác liệt như nhau thì những tư tưởng hữu khuynh tiêu cực trỗi dậy có hại cho sự nghiệp cách mạng". Khi Giáp biết được mức độ tinh thần bộ đội của mình, ông báo cáo lên Bộ Chính trị và nhận ngay được ý kiến chỉ đạo phải chấn chỉnh.

Giáp kể lại rằng: "Ngay trong lòng trận đánh đã diễn ra cuộc đấu tranh sâu rộng chống tính thụ động, tiêu cực, hữu khuynh. Cán bộ họp bộ đội lại. Khi trận đánh sôi sục lên, các cán bộ chính trị này điều khiển các cuộc thảo luận về lòng dũng cảm, về suy nghĩ đúng đắn và về sự hiến dâng cho sự nghiệp. Bộ đội đứng lên tự phê bình. Giáp thở phào nhẹ nhõm khi nói: “Cuộc đấu tranh tư tưởng này rất thành công. Đây là một trong những thành tựu lớn nhất của công tác chính trị trong lịch sử quân đội ta”.
 
Giai đoạn ba của cuộc bao vây bắt đầu từ ngày 1 đến ngày 7-5. Lúc này Pháp chỉ còn giữ được một khu vực không quá 1 km2 cộng thêm với Hồng Cúm và họ hoàn toàn bị phơi ra trước hỏa lực Việt Minh. Nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu và vào 5 giờ 20 ngày 6-5 họ đã được tiếp sức với 94 quân dù tình nguyện nhảy vào cuộc chiến, chỉ trước lúc kết thúc trận đánh có vài giờ. Khoảng trưa ngày 7-5, các sư đoàn của đối phương mở cuộc tấn công lớn và đột phá qua những phòng tuyến cuối cùng của Pháp vào trung tâm của những ổ đề kháng cuối cùng. Giờ cáo chung đã điểm. Trong hầm chỉ huy, Đờ Cátxtơri hét to vào micrô: “Cuộc kháng cự của chúng ta sắp bị đè bẹp, lính Việt Nam đã vào chỉ cách máy phát vô tuyến điện nơi tôi đang nói có vài mét. Tôi đã ra lệnh triệt phá tối đa. Chúng ta sẽ không đầu hàng. Chúng ta sẽ chiến đấu đến cùng… nước Pháp muôn năm”. Nhưng chỉ vài phút sau, ông ta đã bị quân Việt Minh bắt sống. Vào 17 giờ 30 phút, quân Pháp giương cờ trắng đầu hàng. Hồng Cúm còn trụ vững đến tận sáng ngày 8-5 rồi sau đó cũng đầu hàng. Trận đánh đã kéo dài 55 ngày đêm…

*

*        *

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm Giáp nổi tiếng toán thế giới. Bécna Phôn viết: “Về chiến lược lớn, vị giáo sư lịch sử nhỏ bé của Việt Nam với kiến thức khoa học quân sự chủ yếu là tự học đã hoàn toàn phán đoán tài tình hơn các vị tướng tá Pháp có bằng cấp của các trường tham mưu”. Còn Đavítsơn mô tả Giáp là con người "nắm chắc được chiến lược cơ bản", một sĩ quan "giàu óc tưởng tượng", "đáng được ca ngợi và được tin cậy". Là một nhà quân sự không chuyên, ông phát triển lên thành chuyên nghiệp, Giáp thậm chí còn được chấm điểm cao hơn trong lĩnh vực hậu cần vì ông có khả năng tổ chức tiếp tế cho bộ đội ở Điện Biên Phủ trong những điều kiện tồi tệ nhất. Theo Đavítsơn, đó là một thành tựu hạng nhất, nhưng Giáp còn đạt thành tựu khác lớn hơn: "Trong lĩnh vực tổ chức, điều hành và động viên, ông đạt trình độ xuất sắc và là thiên tài".

Sự đúng đắn và tài chỉ huy trận đánh về chiến thuật của ông cũng được xếp hạng cao. Đặc biệt xuất sắc là cách ông dùng pháo binh để cắt tiếp tế đường hàng không của Pháp và nhiều trận đánh như làn sóng gối nhau đánh vào lực lượng phòng thủ đối phương đầu tiên ở phía này rồi lại sang phía khác". Theo Ônen, nhà lãnh đạo này của Việt Nam rất có uy tín vì ông đã sử dụng được hai nguyên tắc linh hoạt và bất ngờ. Ông là người thực hiện chiến lược và chiến thuật rất tài giỏi.

Đã rõ là tại sao Giáp quyết định không để bộ đội của mình đánh về Hà Nội ngay sau thắng lợi Điện Biên Phủ. Lúc đó chưa phải là lúc sờ vào quân Pháp, nếu không các nhà lãnh đạo Pháp có thể nhận biết Việt Minh gần kiệt sức. Các sư đoàn của Giáp đã chịu nhiều tổn thất nặng. Giáp cần thời gian để nhồi nhét chính trị hơn nữa cho bộ đội của mình và điều này có thể thực hiện tốt nhất đối với họ khi họ sống trong kỷ luật thời chiến. Vì thế ông đã không hạ lệnh cho bộ đội của mình ngừng hoạt động cho đến ngày đình chiến thực sự theo quy định của Hiệp định Giơnevơ (1-8-1954). Trong mùa Hè đó, Giáp tiếp tục gây sức ép tàn bạo đối với quân Pháp. Ở cao nguyên Trung phần đã diễn ra nhiều cuộc phục kích. Bộ đội của Giáp gây thương vong nặng cho ba ngàn lính thuộc Binh đoàn cơ động 100. Chiến thắng này khiến Việt Minh có thể chiếm một số thị xã và cài cắm cán bộ ở đó trước khi họ rút về bắc sông Bến Hải vào tháng 8.

Mãi đến ngày 3-10, các nhóm cán bộ Việt Minh đầu tiên mới về Thủ đô (họ trì hoãn ngày vào Hà Nội hàng tuần lễ do sợ Pháp trả đũa). Khi người lính Pháp cuối cùng ra đi ngày 9-10, thì những lãnh tụ cao cấp nhất của Việt Minh cũng nhanh chóng vào thành phố. Ngày 10-10-1954, Giáp và Sư đoàn 308 hành quân đầy kiêu hãnh về Hà Nội. Ngày 17-10, Cụ Hồ mới xuất hiện. Sau khi trở lại Hà Nội được hai ngày, Giáp đi tới Nhà máy điện bàn bạc với các kỹ sư Pháp vẫn còn nằm lại nhà máy về các vấn đề kỹ thuật trong việc điều hành nhà máy. Có nhiều điều có thể học hỏi trong những ngày chuyển từ chế độ của Pháp sang chế độ mới của Việt Minh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #272 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 12:40:52 pm »


CHÚNG TÔI ĐANG CHO NỔ TUNG TẤT CẢ. VĨNH BIỆT!1

Người Pháp thống trị Đông Dương trong gần 70 năm. Trong thời gian ấy họ đã tạo ra Liên bang Đông Dương để cai trị các thuộc địa Bắc Kỳ và Nam Kỳ và các xứ bảo hộ Lào, Campuchia và An Nam2. Tuy nhiên, nhiều người dân bản xứ coi người Pháp chỉ là những kẻ áp bức ngoại bang. Những âm mưu, những cuộc tấn công của quân du kích, thậm chí các cuộc nổi loạn công khai thường xuyên xảy ra. Và, vì tất cả đều bị đàn áp tàn bạo nên lòng căm thù của dân chúng ngày càng tăng. Giữa những năm 20, Việt Nam Quốc dân Đảng được thành lập chủ yếu ở Bắc và Trung Kỳ. Mặc dầu, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1929. Đảng bị tiêu diệt, nhưng cũng đã góp phần tạo nên một hình thức kháng cự tập trung ở miền Bắc của Việt Nam

Hình thức này đã được Đảng Cộng sản Đông Dương kế thừa và phát triển. Đảng này do nhà cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1930. Con người sau này được thế giới biết đến dưới cái tên Hồ Chí Minh, đã chỉ đạo việc thành lập những tế bào chính trị ngầm, trước tiên là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ "chờ đợi đòn chí mạng" từ bên ngoài đánh vào trật tự hiện hành, tạo thời cơ cho Đảng Cộng sản Đông Dương giành chính quyền. Chừng nào mà người Pháp còn mạnh thì thời cơ này dường như còn xa vời.

Năm 1940, tình hình có sự thay đổi lớn khi nước Pháp thất thủ trước quân Đức. Việc cai trị Đông Dương tuy vẫn ở trong tay người Pháp, nhưng lúc này là Chính phủ Visi (Vichy). Tình hình này cho phép người Nhật, là đồng minh của Đức tại Viễn Đông, buộc Hà Nội cắt đứt đường tiếp tế qua Bắc Kỳ sang Trung Quốc, là nước mà Nhật phát động chiến tranh xâm lược từ năm 1937. Tháng 6-1940, khi Pháp buộc phải tuân theo điều đó thì rõ ràng là quyền lực của họ đang suy giảm.

Sự suy yếu rõ ràng của người Pháp đã khích lệ những người dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 5-1941, ông Hồ Chí Minh đã tập họp dưới sự điều khiển của cộng sản và thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh. Các hoạt động kháng chiến đẩy mạnh, tranh thủ được sự ủng hộ của các nước trong phe Đồng minh ở Viễn Đông. Khi quân Nhật giành quyền kiểm soát Đông Dương tháng 3-1945 và hất cẳng Pháp, lúc bấy giờ đã tuyên bố đứng về phía Chính phủ mới của tướng Đờ Gôn tại Pari, thì Việt Minh có cơ hội lý tưởng để lấp chỗ trống chính quyền ở vùng nông thôn. Ông Hồ và vị Tư lệnh quân sự của ông là Võ Nguyên Giáp đã mở rộng vùng kiểm soát của cộng sản, thiết lập "an toàn khu", được nông dân ủng hộ và chuẩn bị nắm chính quyền. Vận may đến với họ khi Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 2-9-1945, ông Hồ về Hà Nội đã tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Nhưng thắng lợi của ông không được lâu. Ngay trước đó, tại Hội nghị Pốtxđam, tháng 7-1945, các cường quốc Đồng minh đã quyết định rằng trong trường hợp Nhật Bản đầu hàng bất ngờ thì Đông Dương sẽ được quân Quốc dân Đảng Trung Hoa từ phía bắc tiến vào và quân đội Anh từ phía nam tiến ra, gặp nhau ở vĩ tuyến 16. Mặc dầu Mỹ không muốn người Pháp quay lại, việc quân Anh đổ bộ ở Sài Gòn đã làm cho việc tái lập quyền kiểm soát của người Pháp là điều khó tránh khỏi. Đến đầu năm 1946, các đơn vị quân đội Pháp đã được đưa từ châu Âu đến, quân Anh đã đập tan mọi sự chống cự trong hầu hết các thành phố ở phía nam vĩ tuyến 16. Quân Pháp cũng đã vào cả Lào và Campuchia. Cùng lúc đó, ở phía bắc, quân Trung Hoa tràn vào, mặc dầu họ không can thiệp vào Chính phủ của ông Hồ, nhưng hành động của họ cũng làm giảm lòng tin của dân chúng. Tháng 2-1946, ông Hồ yêu cầu người Pháp giúp đỡ, chấp nhận nền độc lập hạn chế của Việt Nam trong khuôn khổ một Liên bang Đông Dương do Pháp kiểm soát để đổi lấy áp lực buộc quân Trung Hoa rút đi. Một tháng sau, khi quân Trung Hoa ra đi, thì quân Pháp tiến vào Hà Nội và hiển nhiên là đụng độ nhỏ giữa các nhân viên hải quan Pháp và binh sĩ Việt Minh ở Hải Phòng đã dẫn đến việc Pháp gửi tối hậu thư đòi trao lại hải cảng cho họ. Tám ngày sau, quân Pháp dùng vũ lực chiếm Hải Phòng trong khi tướng Giáp rút các lực lượng của mình về căn cứ an toàn ở vùng nông thôn. Quân Pháp lật đổ chính quyền của ông Hồ ở Hà Nội ngày 19 và 20 tháng Chạp năm 1946. Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất bùng nổ.

Lúc đầu, quân Pháp chiếm ưu thế, giành được quyền kiểm soát các thành phố lớn và các đường giao thông trên toàn miền Bắc. Từ tháng 10 đến tháng 11-1947, họ còn tiến hành các hoạt động lùng sục quy mô lớn lên phía bắc Hà Nội nhằm bắt các nhà lãnh đạo cộng sản. Khi những cuộc lùng sục này thất bại, người Pháp quay trở lại chính sách thực dân, lập đồn bốt trên khắp vùng tạm chiếm. Trong hơn một năm, chiến lược này dường như có hiệu quả, nhưng trên thực tế, tướng Giáp đang xây dựng lại lực lượng và mở rộng sự kiểm soát của cộng sản ở những làng xóm xa xôi, chủ yếu là ở Việt Bắc, một vùng ở phía đông - bắc Việt Nam. Đến tháng 4-1949, ông đã có khoảng 300.000 quân du kích và sẵn sàng tiến công.

Trước hết, tướng Giáp chọn những đồn bốt cô lập để tiến công, tập trung ưu thế về quân số hạ từng đồn và dần dần buộc quân Pháp ở vào thế phòng ngự. Trong cái gọi là "Cuộc chiến tranh đồn bốt", quân Pháp bị tổn thất đáng kể. Nhưng đòn đánh thực sự diễn ra vào năm 1950, khi tướng Giáp chuyển hướng về những đồn binh quan trọng hơn gần biên giới Trung Quốc. Đến lúc này, quân Pháp ở vào thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược vì thắng lợi của quân cộng sản Trung Quốc đã mở thông biên giới cho Việt Minh, cung cấp cho họ nơi ẩn tránh an toàn và tiếp tế hầu như không hạn chế. Nếu người Pháp cố gắng khoá chặt biên giới, thì sẽ bỏ trống Việt Nam cho hoạt động lật đổ của cộng sản. Còn nếu họ tập trung lực lượng vào Việt Nam, thì không thể ngăn chặn được Việt Minh tăng cường lực lượng. Trong tình hình đó, họ đã chọn giải pháp thứ hai với những hậu quả có thể thấy trước.

Tướng Giáp bắt đầu cuộc tiến công vào tháng 2-1950, chiếm đồn gần biên giới Trung Quốc, sau đó ông tiến về phía đông để tiến công Cao Bằng, Lạng Sơn ở phía đông - bắc Bắc Kỳ. Đông Khê - một tiền đồn giữa Cao Bằng và Thất Khê - đã bị chiếm vào ngày 21-5, nhưng sau khi mùa mưa chấm dứt, tướng Giáp tiến công Đông Khê lần thứ hai. Quân Pháp buộc phải rút khỏi Cao Bằng ngày 3-10, vì đường tiếp viện từ phía nam lên bị cắt đứt.

Đây là một quyết định tệ hại. Lực lượng đồn trú rút lui trải dài dọc quốc lộ 4 đã bị các lực lượng du kích tiến công, và lực lượng tiếp viện từ Thất Khê lên cũng bị đánh tan. Quân Pháp thả một tiểu đoàn nhảy dù để thu hút bớt lực lượng địch nhưng đơn vị này cũng bị tiêu diệt. Quân Pháp rút khỏi Lạng Sơn trong sự hoảng loạn. Cho đến lúc những tàn binh cuối cùng của các đơn vị đồn trú ở biên giới về đến nơi an toàn ở đồng bằng sông Hồng gần Hà Nội và Hải Phòng thì người Pháp đã mất 6.000 quân.

Tin chắc quân Pháp sắp bị đánh bại, tướng Giáp nhanh chóng chuyển sang tiến công Hà Nội, biến các đơn vị du kích thành quân đội chính quy, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng quân Pháp, dưới sự chỉ huy của tướng Đờ Lát Đờ Tátxinhi cũng nhanh chóng phục hồi lực lượng, đặt một loạt căn cứ phòng thủ xung quanh Hà Nội (gọi là phòng tuyến Đờ Lát), có pháo binh, không quân và một lực lượng dự bị không vận yểm trợ. Khi các Sư đoàn 308 và 312 của tướng Giáp rời vùng núi định đánh chiếm Vĩnh Yên, 40 dặm về phía tây - bắc Hà Nội, vào ngày 13-1-1951, thì họ rơi vào bẫy. Đờ Lát tập trung lực lượng đánh trả, gây tổn thất khá lớn cho Việt Minh lần đầu tác chiến chính quy.

Ngày 16-1, tướng Giáp buộc phải lui quân.

Cuối tháng 3, một lần nữa ông lại tung ba sư đoàn, mỗi sư đoàn khoảng 11.000 quân tiến công Mạo Khê, cách Hải Phòng 29 dặm về phía bắc. Trong cuộc chiến đấu giáp lá cà, có máy bay chiến đấu và ném bom của Pháp gầm rú bổ nhào ném bom napan và bắn rốckét, Việt Minh mất 3.000 người trong năm ngày chiến đấu. Một cuộc tấn công thứ ba về phía nam Hà Nội vào cuối tháng 5 cũng không may mắn hơn. Đờ Lát bèn chuyển sang tiến công. Ngày 14-11, quân Pháp nhảy dù chiếm Hoà Bình, 25 dặm phía tây phòng tuyến Đờ Lát và nhanh chóng được tăng viện. Nhưng tướng Giáp không chịu thất bại, ông triển khai lực lượng để cô lập quân Pháp với Hà Nội, gây cho họ thiệt hại đến nỗi tướng Raun Xalăng, người kế nhiệm Đờ Lát phải ra lệnh rút quân khỏi Hoà Bình ngày 22-2-1952. Cuộc chiến còn lâu mới kết thúc.
_______________________________________________________
1. Bức điện tín cuối cùng của quân Pháp từ Điện Biên Phủ
2. An Nam: tức Trung Kỳ (B.T).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #273 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 12:41:23 pm »


Tướng Giáp tập trung cho các trận đánh kiểu du kích nhằm làm suy giảm quyết tâm của Pháp, đánh vào các căn cứ dọc tuyến Nghĩa Lộ, tây - bắc Hà Nội ngày 17-10-1952. Một lần nữa lính nhảy dù Pháp lại được sử dụng để cứu các cánh quân đồn trú rút chạy. Tướng Giáp lúc này kiểm soát phần lớn miền Bắc Việt Nam, ngoài phòng tuyến Đờ Lát, tình thế xem ra rất nguy kịch, Xalăng đối phó bằng một cuộc tấn công mạnh mang tên Chiến dịch Loren (Lorraine), để buộc tướng Giáp phải giảm áp lực đối với các đồn còn lại ở Nghĩa Lộ. Ngày 29-10, 30.000 quân Pháp tiến về hướng các kho tàng tiếp tế của Việt Minh ở Phủ Đoan và Phúc Yên.

Lúc đầu, tướng Giáp không phản ứng. Quân Pháp cảm thấy đội hình của họ bị dàn mỏng quá mức. Ngày 14-11, khi Xalăng ra lệnh rút quân, thì du kích Việt Minh tiến công. 1.200 quân Pháp không về được nơi an toàn của phòng tuyến Đờ Lát, dường như tướng Giáp đã giành được thế chủ động.

Mặc dù phải dàn quân bao vây căn cứ Nà Sản của Pháp gần biên giới Lào, cuối năm 1952 tướng Giáp vẫn có khả năng tập trung lực lượng cho một cuộc tiến công và buộc Pháp phải tung quân dự bị đến Cánh Đồng Chum để bảo vệ Thủ đô Lào. Khi tập đoàn cứ điểm kiểu "con nhím" tiếp tế bằng đường không được thiết lập, thì Việt Minh lại rút quân sau khi thu hoạch mùa thuốc phiện và củng cố quyết tâm của du kích Pathét Lào.

Điều mỉa mai là, người Pháp coi đây là một thắng lợi và kết luận rằng, bất cứ cuộc tiến công mới nào của Việt Minh cũng có thể bị chặn đứng bằng các trung tâm đề kháng tiếp tế bằng đường hàng không. Người kế nhiệm Xalăng, tướng Hăngri Nava, còn đi xa hơn nữa với lập luận rằng, có thể thiết lập những trung tâm như thế ở các vị trí then chốt để dụ quân Việt Minh tiến công. Nhìn vào bản đồ, ông ta chọn thung lũng Điện Biên Phủ gần biên giới Lào như là mục tiêu lý tưởng.

Điện Biên Phủ có một số lợi thế. Nó nằm trên đường tiếp tế của Việt Minh và Lào và có một sân bay cũ của Pháp. Ngoài ra, Điện Biên Phủ còn nằm trong vùng rừng núi, nơi có những đơn vị người Thái do sĩ quan Pháp chỉ huy. Kế hoạch ban đầu đã tính đến việc liên kết với những đơn vị đó chủ yếu là từ Lai Châu, thủ phủ của thủ đô xứ Thái; sau đó Điện Biên Phủ biến thành "một điểm thả neo" để tiến công các tuyến tiếp tế của Việt Minh. Với ý đồ đó cuộc hành quân Castor đã được lệnh bắt đầu và ngày 20-11-1953, sáu tiểu đoàn của các tập đoàn không vận số 1 và số 2 của quân Pháp nhảy dù xuống thung lũng, quét sạch căn cứ địa phương của Việt Minh.

Quân dù chiếm một thung lũng hình quả tim dài 12 dặm, rộng 8 dặm, chung quanh có những đồi thấp, cây cối rậm rạp bao bọc, ở giữa là Điện Biên Phủ và sân bay có tầm quan trọng sống còn, sợi dây liên lạc duy nhất với Hà Nội, cách 170 dặm. Những cuộc tuần tiễu tiến hành vào các đồi chỉ gặp sự chống cự yếu ớt và các đơn vị Thái được lệnh rút khỏi Lai Châu. Cuộc hành quân tưởng chừng thắng lợi.

Nhưng chẳng bao lâu tình hình bắt đầu thay đổi. Đầu tháng 12, phần lớn các đơn vị Thái đang điều động lực lượng lớn tới Điện Biên Phủ. Người Pháp tin rằng họ có thể giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng trong một trận đánh dàn sẵn và biến "điểm thả neo" của họ thành một "pháo đài", xây dựng một loạt cứ điểm mạnh, mà theo như người ta đồn là gọi theo tên các tình nhân của Đại tá Đờ Cátxtơri, Tư lệnh cứ điểm.

Ở trung tâm Điện Biên Phủ là Sở Chỉ huy với cứ điểm Huyghét ở phía tây, Clôđin ở phía nam, Êlian ở phía đông và Đôminích ở phía đông - bắc nối với nhau bằng giao thông hào và được bảo vệ bằng các bãi mìn và dây thép gai. Phía ngoài "con nhím'' trung tâm cũng có những cứ điểm tương tự bảo vệ các đường tiếp viện từ phía tây - bắc (căn cứ An Mari), phía đông - bắc (Bêatơrixơ) và phía bắc (Gabrien) và cách bốn dặm về phía nam cứ điểm Idaben bảo vệ một sân bay phụ nhỏ. Trọng pháo được bố trí trong các công sự, 6 máy bay chiến đấu Biacát (Bearcat) đậu trên đường băng chính và 10 xe tăng hạng nhẹ M24 cung cấp thêm hoả lực cơ động. Đối với nhiều người quan sát, Điện Biên Phủ tưởng chừng bất khả xâm nhập; trên thực tế Pháp đã sử dụng 10.800 quân để bảo vệ một thung lũng cô lập, chịu ảnh hưởng của mùa mưa và xung quanh là những quả đồi không bảo đảm an toàn.

Tướng Giáp phản ứng bằng cách cho triển khai tổng cộng năm sư đoàn, khoảng 55.000 quân vào các đồi xung quanh Điện Biên Phủ, làm một con đường tiếp tế và kéo pháo, kể cả pháo cao xạ, vào những vị trí được nguỵ trang nhìn xuống thung lũng. Ngày 31-1-1954, quân Pháp lần đầu tiên bị pháo kích và trong những tuần tiếp theo, các toán tuần tra đã chạm trán lực lượng Việt Minh ở tất cả các hướng. Thung lũng đã bị bao vây.

Chiến lược của Việt Minh là chiến lược quen thuộc, trước tiên nhằm vào các cứ điểm bị cô lập, sau đó mở cuộc tiến công lớn vào vị trí chính. Cuộc tiến công bắt đầu lúc 17 giờ ngày 13-3 bằng một cuộc pháo kích làm nổ tung các hầm trọng pháo của Pháp, cày xới các giao thông hào và phá hủy các máy bay đậu trên đường băng. Tiếp ngay sau đó, là những đợt xung phong của bộ binh theo chiến thuật biển người bất ngờ đánh vào cứ điểm Bêatơrixơ.

Sau một trận đánh ác liệt, cứ điểm này bị đè bẹp, hơn 550 lính Pháp bị giết hoặc bị bắt. Hầu như không nghỉ, tướng Giáp lại cho pháo kích và dùng bộ binh liên tục đánh vào căn cứ Gabrien. Pháo binh Pháp đã không làm giảm được sức ép, và đến giữa buổi sáng ngày 15-3, Gabrien đã rơi vào tay Việt Minh. Ba ngày sau, An Mari cũng chịu chung số phận khiến sân bay không có bảo vệ và không thể sử dụng được. Từ lúc này việc chuyển thương hoàn toàn phải ngừng lại và mọi thứ tiếp tế đều phải thả dù, rất mạo hiểm vì hoả lực pháo phòng không mãnh liệt của đối phương.

Ngày 30 và 31-3, Việt Minh lại tiến công, tập trung vào các căn cứ Đôminích, Êlian và Huyghét, nhưng bị thiệt hại nặng nề. Trong khi quân Pháp mở rộng những cuộc phản kích tuyệt vọng để giành giật những cứ điểm đã biến thành những đống đổ nát, đầy máu và xác chết của cả hai bên, thì tướng Giáp rút quân để củng cố lực lượng, nhờ đó Đờ Cátxtơri có thể tổ chức lại phòng tuyến. Ông ta tập trung lực lượng vào một khu vực đường kính chỉ hơn một dặm bao gồm các căn cứ địa Clôdin, Êlian và một phần của Đôminích và Huyghét, nhưng lại để cho Idaben bị cô lập ở phía nam. Hai cứ điểm mới Xparơuhốc (Sparrowhawk) ở phía bắc hầm chỉ huy và Giunô (Juno) ở phía nam đã hình thành vành đai phòng thủ mới. Từ ngày 4-4 đến ngày 1-5, tướng Giáp chuyển từ tiến công ồ ạt sang đánh lấn, xây dựng một mạng lưới giao thông hào công phu có pháo binh yểm trợ liên tục, siết dần vòng vây xung quanh các vị trí của Pháp. Các cuộc không kích của Pháp không phát huy tác dụng. Ngày 22-4, mùa mưa bắt đầu khiến nhiều vị trí của Pháp bị ngập lụt.
Ngày 2-5, tướng Giáp phát động đợt tiến công cuối cùng, ép vào từ tất cả các phía. Trong ba ngày, sau vài trận chiến đấu ác liệt chưa từng thấy, phần lớn căn cứ Đôminích, Êlian và Huyghét bị đè bẹp, chỉ còn lại trung tâm trơ trọi. Lực lượng bảo vệ tuyệt vọng trong tình trạng thiếu đạn, hơn 30% đồ tiếp tế thả bằng dù rơi vào tay Việt Minh. Bệnh viện quân y của Pháp bên bờ sông Nậm Rốm tràn ngập binh lính bị thương khiến tinh thần binh lính Pháp bắt đầu rệu rã. Một vài đơn vị, đặc biệt là lính lê dương và lính dù tiếp tục chiến đấu dũng cảm vì tuyệt vọng, nhưng giờ kết thúc đã đến gần. Cuối ngày 6-5, một cuộc pháo kích ồ ạt quét sạch những cứ điểm còn lại và khi lực lượng tăng viện của Việt Minh tập trung ở các ngọn đồi phía đông, thì tướng Đờ Cátxtơri đã nhìn thấy thất bại.

Sáng sớm ngày 7-5, các cuộc tiến công của bộ binh lại bắt đầu đè bẹp lực lượng phòng thủ sau 05 ngày bao vây. Đến trưa, hầu hết các cứ điểm phía đông sông Nậm Rốm đã thất thủ. Vào lúc 17 giờ 30 phút, một đơn vị tiên phong của Việt Minh giương cao lá cờ đỏ sao vàng của người chiến thắng bước vào hầm chỉ huy. Đờ Cátxtơri đầu hàng, và mặc dầu Idaben còn cầm cự thêm 24 giờ nữa, nhưng hơn 9.500 binh lính Pháp đã trở thành tù binh mà có lẽ ít người hy vọng sống sót. Với 8.200 binh sĩ thương vong trong thời gian bị bao vây, quân đội Pháp ở Đông Dương đã mất đi bộ phận ưu tú nhất.

Mặc dầu tướng Giáp cũng phải trả giá đắt với con số thương vong khoảng 20.000 binh sĩ trong trận đánh, nhưng ông ta đã đập tan những dấu tích cuối cùng của ách thống trị thực dân Pháp. Mệt mỏi vì cuộc chiến tranh ngày càng trở nên mất lòng dân trong nước, Chính phủ Pháp đành chấp nhận một giải pháp quốc tế được thoả thuận ở Giơnevơ trong tháng 7. Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kết thúc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #274 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 01:11:48 pm »


TÔI NÓI VỚI BINH SĨ RẰNG
"CHÚNG TA CỐ GIỮ THÊM MỘT NGÀY NỮA. RỒI NGƯỜI MỸ SẼ TỚI!..."
1

Vào 6 giờ 30 phút sáng ngày 20-11-1953, một chiếc C47 bắt đầu nghiêng cánh giữa các mỏm cao bao quanh Điện Biên Phủ. Ít bữa nay, sương mù thường phủ kín, rồi cuối cùng chăng đầy cả đáy thung lũng. Ở Hà Nội, cách 170 dặm, một không đoàn đổ bộ đường không đã sẵn sàng: Những tháng qua dành cho chuẩn bị hậu cần và giữ kín bí mật cho thấy chiến cuộc đã mở màn, hoặc chẳng bao giờ nổ ra nữa. Chiếc C47 có đủ nhiên liệu cho hai giờ bay. Viên phi công đã định lượn lại khi sương mù chợt tan, anh lượn một vòng nữa trên thung lủng đã hửng sáng, nhìn rõ con đường dài sáu dặm vừa hẹp, vừa chạy từ phía Lào dẫn tới. Trông nó y như cái cán chảo phình ra xung quanh bảy dặm, rồi anh phi công nghiêng cánh xuống những đồi cây cao. Giống như Việt Minh đang chờ đợi sẵn ở đó đã mô tả: Thật giống như một chiếc chảo rán nóng bỏng.

Tại Hà Nội, Thiếu tá Bigia (tên thân mật gọi anh ta là Brunô) cùng 800 quân nhảy dù thuộc địa, đơn vị Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 (1er BPC) của ông, đã sẵn sàng lên 64 chiếc C47 có những cánh bạc mới nhận của Mỹ. Họ chỉ chờ khẩu lệnh "Lên đường!" do viên phi đoàn trưởng phát ra. Mật hiệu của cuộc hành quân được quy định là "TEXAS". Họ mới chỉ nhận được lệnh đêm hôm trước. Lẽ ra họ đang chuẩn bị trở về Pháp. Chỉ có chỉ huy của họ, Thiếu tá Bigia, mới hiểu rõ địa chỉ mới của họ là đâu? Nhưng ông được thông báo nếu thời tiết không thuận lợi, nếu trời mây mù hay giông thì cuộc hành trình sẽ tạm hoãn. Khó mà giữ nổi bí mật! Như ông nói: "Tôi thường tự hỏi, sao hôm đó lại không mưa nhỉ? Và như vậy có phải thoát được Điện Biên Phủ không?".

Bigia là con một công nhân đường sắt, có thời là viên chức, rồi chiến sĩ chống phát xít kháng chiến, đã có chín năm kinh nghiệm chiến đấu ở Đông Dương, ông có một cái nhìn kỳ lạ với đồng đội và với cả cái chết. Có lần ông nhắn nhủ binh sĩ: "Hãy học cách chết phía trước mặt. Các anh phải tiến lên khi người khác chết". Ông ta kể lại trận hành binh đầu tiên như sau: "Khi chúng tôi nhảy dù vào ngày 20-11, thì đã được báo nơi đó không có lính Việt Nam. Thực ra chính xác là họ đã có hai đại đội chờ sẵn chúng tôi. Một số lính của tôi bị chết ngay khi chưa chạm đất. Những người khác thì bị cầm chân lại. Cuộc đụng độ kéo dài suốt ngày, hình như hai đại đội họ bị thiệt hại hoàn toàn, còn phía chúng tôi cũng thiệt hại. Thật là một ngày nặng nề, nhưng Điện Biên Phủ đã ở trong tầm tay. Tuần lễ trước, đích thân Đại tướng Hăngri Nava đã lên thị sát. Độ 10 ngàn binh sĩ Pháp, 5 ngàn quân dự bị. Lúc đó. Nava ước mơ đến một tình thế "tuyệt vời". Chưa có đụng độ gì với Việt Minh, nhưng Nava tin rằng điều đó sẽ xảy ra. Con đường chính sang Lào, và đường tiếp tế chạy từ Trung Quốc sang nay đã bị chặt đứt. Làng Điện Biên, nơi những quan lang, chúa đất, giống như cái tên phóng đại ra của họ, thực ra chỉ là một cộng đồng độ trăm chiếc nhà sàn. Tuy nhiên, tầm quan trọng chiến lược của nó thì đã có hàng thế kỷ rồi. Vào cuối năm 1883, nó trở thành vùng đất Đông Dương do Pháp cai quản, sau một thời kỳ kháng chiến lâu dài của thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Văn Giáp chỉ đạo.

Nava không tin tướng Giáp có thể làm nổi điều gì lúc này; ở Điện Biên Phủ, Nava quan sát đối chiếu với mọi kế hoạch đã vạch ra. Những căn lều của người Mông ở trung tâm đã bị san bằng, thay bằng cấu trúc hệ thống cứ điểm và sở chỉ huy. Một sân bay trung tâm được hình thành. Năm cao điểm xung quanh và bày pháo đài bao quanh hợp lại thành một dải phòng ngự hùng mạnh, mỗi nơi do một tiểu đoàn bộ binh, pháo binh trấn giữ. Với những thứ đó, và dựa vào ưu thế không lực, quân của Nava có thể cơ động ra xa và phá huỷ các đường tiếp liệu của Việt Minh.

Nava tin sẽ buộc đối phương bị dồn vào cái nơi ta vừa đánh họ được, lại vừa nói chuyện đàm phán với họ cũng được!

Ông hiểu rõ một chiến thắng ở thung lũng sẽ có ảnh hưởng lớn về chính trị và tư tưởng cho nước Pháp và đồng minh. Nước Pháp không còn cung cấp nổi binh lính sang đây nữa. Mỹ đang tính đến viện trợ. Nava hiểu: đây là chỗ đứng cuối cùng của ông: "Tôi đã lựa chọn giải pháp đồn trú ở Điện Biên Phủ, bởi vì nếu tập trung lực lượng lại, tỷ lệ quân cơ động vẫn còn dưới Việt Minh. Giải pháp này sẽ là cách duy nhất hình như hợp lý. Tôi vẫn tin lúc đó chúng tôi đúng, duy nhất đúng!".

Nhà sử học Giăng Lacutuya giải thích rằng, Bộ Chỉ huy Pháp khi đó đánh giá: "Việt Minh không có xe tải, không có phương tiện chuyển vận vũ khí, thực phẩm, v.v. cho một chiến trường quá xa hậu phương họ. Thật quá kỳ cục. Đây là ý đồ nhạy cảm quá đáng!".

Sẽ chỉ có cách giải quyết nghiêm chỉnh nhất là mọi liên lạc, tiếp tế dựa vào đường không. Máy bay tiếp tế từ Hà Nội chỉ thực hiện được 240 dặm bay cả đi và về. Nhưng thực hiện cách này, cũng phải có điều kiện là máy bay hạ cánh mà không bị uy hiếp. Những con đường Việt Minh làm đang vươn dài thêm, qua 500 dặm vượt núi xuyên rừng (từ căn cứ hậu phương Thanh Hoá). Chiếc vách cao quãng đến 10 dặm quanh đồn trại Pháp hình như vẫn là cự ly còn an toàn và yên tĩnh.
_____________________________________________________
1. Lời Đại tướng M. Bigia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp đã nghỉ hưu (năm 1954 là Thiếu tá tại Điện Biên Phủ).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #275 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 01:12:36 pm »


Xa xa phía đông - bắc, tại một căn cứ cách biên giới Trung Hoa 60 dặm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang nghiên cứu các tin tức về Điện Biên Phủ. Cuối tháng 12-1953, Người triệu tập tướng Giáp đến. Vị tướng này kể lại: Người nói chúng ta sẽ họp nốt đêm nay. Người hỏi tôi: "Lực lượng ta từng ngày đang lớn lên, nhưng không thể để cho kẻ thù phá hoại lực lượng ta được?". Tôi suy nghĩ giây lát rồi đáp: Kẻ thù không thể phá hoại được. Vấn đề khó khăn nhất đặt ra là giành lấy quyền chủ động. Người chỉ huy quân đội nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng có thể đưa 50 ngàn quân lên xung quanh Điện Biên Phủ, nhưng để giành được yếu tố chủ động, bất ngờ, thì phải khắc phục được ưu thế không quân Pháp. Ông đã có một kế hoạch nhưng cần nhiều tháng mới thực hiện nổi: "Chúng ta sẽ phải tính từng viên đạn. Nhưng sức mạnh đang lớn, vì chưa lúc nào so với trước kia, lực lượng ta mạnh như hiện nay".

Mệnh lệnh của tướng Giáp là huy động đạo quân: một lực lượng 20 ngàn thanh niên sẽ làm đường xuyên qua rừng, chuyên chở vũ khí, tiếp liệu hậu cần. Lực lượng quân chủ lực sẽ tiến theo tốc độ 20 dặm một ngày. Sẽ huy động hàng chục ngàn dân công ở miền Bắc Việt Nam mang gạo đủ nuôi quân trong vài tháng. Tại địa điểm làng Phố Mới, một vị chính uỷ đã tới Thanh Hoá, đông - nam Hà Nội 200 km ra lệnh huy động lực lượng này. Sẽ ra đời "Binh đoàn ngựa sắt" (xe đạp) để chuyên chở gạo. Ở ngôi làng tiêu biểu đó, có anh Đinh Văn Ty đã được trao quyền chỉ huy. Sau này anh đã viết hồi ký kể lại những ngày tháng đó. Anh ta cảm thấy mình nhận việc đó là lẽ tự nhiên, bởi vì, vốn dĩ anh đã từng có thời làm thợ chữa xe đạp trong làng! Đinh kêu gọi mọi người: Chỉ có một ngày chuẩn bị thôi! Đầu tiên, anh kể lại, xe đạp phải trở thành chiếc xe thồ với trọng tải 200 kg trở lên. Muốn vậy, chúng tôi phải tăng thêm uy lực xe ở mọi chi tiết: lúc đầu là gá hai thanh tre to: một chiếc thành tay lái điều khiển, chiếc khác để nối dài điểm đặt và sử dụng cân bằng, giống như một thứ phanh hãm xe. Chúng tôi nguỵ trang bằng lá và ban đêm thì hoạt động. Đêm đầu, vì quá nặng nên đã có xe nổ lốp. Tôi cân nhắc lại, rồi xé ống tay áo khoác bằng vải kaki bọc cuốn lấy lốp xe, bơm lốp thật căng. Điều này đã thành công, không xảy ra nổ lốp nữa. Thế là cả đại đội phải xé áo ra bọc lốp xe.

Tại mặt trận Tây Bắc, ông Hà Văn Lâu lúc đó vốn là một sĩ quan trẻ, trên tuyến đường hành quân với Đại tướng Giáp. Vị đại sứ tương lai ấy kể lại: "Chúng tôi cơ động qua rừng sâu, không đi theo đường lớn để tránh bị oanh tạc. Để chuyển vận 1 kg gạo ra mặt trận, chúng tôi cần 4 kg dành cho người vận chuyển. Phương pháp là vác bao gạo trên vai và thồ trên xe đạp. Ông nói tiếp: Lúc đầu, ở mặt trận chúng tôi chỉ ăn thức ăn nguội. Không thể nấu cơm, khói sẽ gọi máy bay tới. Chúng tôi phải đào hầm lúc đó để vây hãm quân thù. Mỗi chiến sĩ ưu tú của chúng tôi đều hướng về thung lũng, theo sau họ là hàng đoàn dân công, hàng ngàn xe thồ chở gạo và cả gia súc. Bước đi có lúc dịch từng thước một qua khe, qua suối hay leo núi. Từ Điện Biên Phủ, tướng Giáp đã chỉ đạo mọi hoạt động, chỉ thị cho Bộ Tham mưu mặt trận là: “Thắt cổ họng người Pháp lại!”.

Tướng Giáp đã tung ra khá nhiều lực lượng ngăn chặn một cuộc rút quân của Pháp, tuy nhiên kế hoạch triển khai tiến công của ông vẫn chưa chuẩn bị xong. Ông xác định chiến lược như sau: “Chiến đấu quyết thắng, chỉ chắc thắng mới đánh, hoặc là không tiến công nữa!”. Hết tuần này trôi qua tuần lễ khác, ông ghìm hỏa lực lại. Bây giờ ông đã đối mặt với tử địa rồi.

Vào trung tuần tháng 2, Hội nghị tứ cường (Mỹ - Xô – Anh – Pháp) đã thỏa thuận gặp nhau chậm nhất vào tháng 4 này ở Giơnevơ để thảo luận về cuộc chiến tranh lạnh, trong đó có vấn đề Đông Dương. Tướng Giáp chỉ còn 10 tuần lễ nữa để tiến hành một cuộc chiến mà người ta gọi là ở thế: “Sự đã rồi”.

Tướng Nava nói: “Việt Minh hiểu nếu Bộ Chỉ huy Pháp thất bại nặng ở Điện Biên Phủ, sẽ cho phép họ thắng cuộc chiến tranh về mặt chính trị. Họ đã quyết định chấp nhận thử thách, tăng cường quân số và cũng tính đến cả những thất bại ban đầu nữa. Trung hoa đã chi viện ồ ạt cho họ. Viện trợ này bao gồm 600 xe tải Nga chở đầy vũ khí. Pháp lúc đó đã ngừng oanh tạc đường tiếp tế khổng lồ 450 km qua đường mòn tới biên giới. Nhưng chưa bao giờ phát hiện đã xuất hiện vũ khí nặng. Nhà báo Ôxtrâylia W. Bớcsét viết cho tờ Tin nhanh hàng ngày ở Luân Đôn, đã qua đường Trung Hoa, đi theo quagx đường khá xa tới Sở Chỉ huy của Cụ Hồ Chí Minh. Gặp Người thấy có dáng phấn khởi khác thường, như là Cụ đang nghĩ tới điều gì đó không thể thay đổi được. “Tôi gặp Cụ lúc Cụ đang đi ở bìa rừng lại, khoác qua vai chiếc áo choàng, chống chiếc gậy tre, đầu đội mũ cát. Để khỏi rơi chiếc áo khoác, Cụ buộc đôi tay áo quanh eo".

Bớcsét là nhà báo phương Tây duy nhất được đưa tin từ phía Việt Minh (chính ông cũng thích như vậy), Sở Chỉ huy của Cụ ở sâu vài dặm trong rừng: "Thật là hoàn toàn an toàn che mắt không quân". Ở đây có trần gỗ ốp dày và thực ra chưa có điện. Vừa gặp Người, tôi hỏi ngay: "Mỗi ngày tôi nghe đài Hà Nội đến ba, bốn lần. Họ đang nói đến cái địa điểm nào đó gọi là Điện Biên. Xin Cụ cho hay điều gì đang xảy ra ở đó vậy?". Hồ Chí Minh lật chiếc mũ cát vừa đội ra bàn, rồi Người phác một vòng quanh vành mũ, chỉ xuống đáy chiếc mũ: "Điện Biên là một thung lũng - bị đồi núi vây quanh - đội hình của quân viễn chinh Pháp đang ở đáy mũ rồi, còn chúng tôi đang ở quanh vành mũ này. Họ đang vây hãm các đồi xung quanh. Đấy! Chẳng rút ra nổi nữa rồi!".

Lực lượng Pháp đã được tăng lên 15.000 người, một nửa là lính Angiêri, Việt Nam và lê dương. Mọi người hiểu họ đã được tăng sức mạnh lên gấp ba lần rồi. Ngày 4-3, tướng Nava thực hiện chuyến công du lần cuối để gặp Tư lệnh căn cứ. Đại tá Đờ Cátxtơri và sự tăng viện cần thiết.

Sau này, Nava hồi tưởng lại: "Tôi đã kém tin tưởng ở ông Tư lệnh. Tôi đã nghĩ đến đưa ba tiểu đoàn nữa tới. Tôi căn cứ vào cách đánh thành thạo của Việt Minh, nghĩ đến cái tỷ lệ đối chọi 3/1 của họ". Nava để cho Đờ Cátxtơri báo cáo cách sử dụng lực lượng các tiểu đoàn dự trữ cơ động. "Điều này, thật ra tôi đã sai lầm!".

Cho đến lúc biết được tướng Giáp đã có vũ khí nặng, họ vẫn đánh giá sai về cỡ súng và số lượng pháo. Nhà sử học Giăng Lacutuya ở cùng với Bộ Chỉ huy Hà Nội nhận xét: Tướng Giáp có pháo binh rất mạnh mà không ai biết. Đó là những cỗ pháo Liên Xô, Trung Quốc. Các tổ chức của tướng Giáp không thể phá hoại nổi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #276 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 01:13:30 pm »


Trong cuộc phỏng vấn chính thức, tướng Giáp kể lại: Nava ít ra cũng đã không quấy phá nổi pháo binh chúng tôi: Điều mà họ ngộ nhận là pháo binh Việt Nam còn yếu kém và không tiếp cận nổi Điện Biên Phủ. Người Pháp quá tin vào pháo binh hùng hậu và hảo hạng của họ. Loại 105 ly họ có 28 khẩu. Tướng Giáp có khoảng 48 khẩu cỡ đó và hơn 150 pháo bắn đạn cháy. 200 con voi thép đó đã vượt qua 50 dặm đường cuối cùng trong rừng. Tướng Giáp kể: Bằng một cố gắng phi thường, không có gì khác ngoài mồ hôi và bắp thịt con người. Từng đoàn chiến sĩ quàng dây kéo vào pháo, thường xuyên gặp nguy hiểm qua bom đạn, napan, đã nhích từng tấc một, nghĩa là độ nửa dặm đường mỗi ngày. Công trình này phải làm trong ba tháng trời.

Lúc này, tướng Giáp đã có ít nhất tỷ số áp đảo 3/2 cả về hai mặt: hoả lực và quân số. Pháo binh họ đã che mắt quân Pháp, thực sự là không sao phát hiện nổi, đã được giấu kín trong hầm hào đào vào các ngách dốc núi. Mọi hoạt động hối hả, hào đã leo dần tới đỉnh đồi. Ngược đời thay, khi đó quân Pháp lại đi phát quang, đốt rừng, đào hào, bộc lộ hết mọi hoạt động của họ. Trước chiến dịch, theo thói quen, tướng Giáp đi quan sát chiến trường và phát hiện có cả thảy 49 cứ điểm mạnh thành ba cụm phòng ngự chính được hỗ trợ cho nhau. Đó là Huyghét ở phía tây và Đôminích ở phía đông - bắc, Clôđin nằm ở phía tây (tất cả ở khu vực trung tâm). Ngoài tam giác nói trên có bốn cứ điểm mạnh xa các điểm tựa khác là An Mari (Bản Kéo), Gabrien (Độc Lập) và Bêatơrixơ (Him Lam) cách sáu dặm phía nam có cụm Idaben (Hồng Cúm). Phía trong để trở thành những cứ điểm đệm yểm trợ, có năm ngọn đồi thấp, lấy các tên Êlian nằm dọc sân băng và Sở Chỉ huy trung tâm. Ngày 12-3-1954,   Đại tá Đờ Cátxtơri triệu tập các sĩ quan chỉ huy tới báo động về nguồn tin tình báo khẩn cấp: Cuộc tiến công của tướng Giáp sẽ bắt đầu vào 5 giờ chiều ngày hôm sau.

Các sĩ quan cảm thấy an tâm, chờ điều sẽ xảy ra. Họ đang được tiếp tế tốt, kể cả 49.000 chai rượu vang! Cuộc đụng độ sẽ thoát ra trước hết khỏi vòng vây tinh thần vì hình như ở Hà Nội bị xáo động hơn là ở đây.

Qua các tin tức báo chí, người ta đã nói đến chữ "tuyệt vọng". Giữa lúc đó, Tư lệnh lục quân, Đại tá Pie Lănggle giận dữ về cái tin báo của tờ Le Figaro đã dám nói: "Họ sẽ bị kết liễu". Lănggle từng sống sót khỏi sa mạc Sahara cưỡi một con lạc đà, với một khẩu súng trong tay, đâu phải sinh ra để thành con người chiến bại. Ông đã sang Đông Dương ba lần phục vụ. Giờ đây, ông đang tính toán tính chất ác liệt mọi trận đánh.

Tại Hà Nội, Tổng Tư lệnh Nava vẫn có cách nhìn sáng sủa. Ông nói: "Điều kiện quân sự đã hoàn toàn thay đổi, vì để triệu tập Hội nghị Giơnevơ, bên ngoài họ cần một Điện Biên Phủ được đánh giá như Chiến dịch Sahara. Đối với Nava, chưa phải đã quá dài thời gian cho một cuộc nội chiến hỗn loạn. Cuộc chiến đã trở nên xung đột chủ yếu thay vì cho sự đối nghịch các hệ tư tưởng toàn cầu. Trong trường hợp như vậy ông ta không muốn chờ đợi.

Viện trợ Mỹ khi đó có 1.400 xe tăng (vậy mà chỉ có 10 chiếc ở Điện Biên Phủ), 340 máy bay, 350 tuần tiễu, 240.000 cây súng nhẹ với 15 triệu viên đạn và nhiều viện trợ cho không lực của Nava.

Cho tới cuối năm 1953, phía Việt Nam nhận qua Trung Hoa ngoài trọng pháo, có 800 khinh pháo không giật và súng máy, 6.000 tiểu liên với độ 6 triệu viên đạn các cỡ. Tướng Giáp không còn thời gian tính toán từng viên đạn nữa. Tướng Nava tính toán lực lưọng mình như sau: "Tôi đã nghĩ nhiều lần đến việc sẽ chia bớt quyền hạn. Nếu vấp phải tình thế thiếu viện trợ sẽ làm như vậy và sẽ bố trí như thế. Như tôi có lần đã kể, có thể chúng ta phải xé lẻ lực lượng ra. Hai tháng sau, viện trợ chưa đến, rồi chiến dịch bắt đầu, và thật là ngược đời cho danh dự nhà binh, có nhà lãnh đạo lại xin từ bỏ nhiệm vụ giữa trận đánh, giữa lúc phải ra mệnh lệnh cho quân lính: "Hãy sử dụng những thứ bạn đang có! Vậy là tôi đang bị kẹt đường, có thể là bị lầm lạc. Nhưng điều đó đã xảy ra". Thời điểm dự kiến cuộc tiến công của tướng Giáp sẽ là 5 giờ chiều ngày 13-3. Đại tá Lănggle kể lại: "Đúng 5 giờ chiều chẳng có gì xảy ra như dự đoán. Vậy cho nên tôi cho tiến hành một trận pháo kích". Ông ta nói đến đây rồi nheo mắt hồi tưởng lại. "Đúng lúc đó, 200 trái đạn của tướng Giáp giội vào sân bay và khu trung tâm trên một mặt phẳng năm dặm theo hình tam giác. Hàng rào đạn kéo dài một giờ đồng hồ cho tới lúc mặt trời lặn. Nó kéo dài như vô tận. Ông xác định pháo binh Pháp vẫn chưa định hướng nổi các cỗ pháo của tướng Giáp, ngay cả lúc đầu nòng họ phát hoả. Tướng Nava tại Hà Nội theo dõi chặt chẽ đã tỏ ra kinh ngạc: Mọi pháo thủ Pháp hay Mỹ đã từng quan sát Điện Biên Phủ, ngay cả người Mỹ đang ở đây đều nghĩ Việt Minh sẽ ở đằng sau các mỏm đồi nã pháo vào quân ta. Điều kinh ngạc nữa là làm sao họ có thể mang nổi pháo lại gần hơn điều mà ta có thể nghĩ ra. Cách giải thích đó nói lên sai lầm của pháo binh Pháp khi đánh giá tình hình, và tôi cũng phải chịu trách nhiêm vì tôi là người chỉ huy cao nhất.

Ngay giờ đầu tiên, 500 lính Pháp đã tử trận trên quả đồi. Vào xế chiều, Việt Minh tung cả một sư đoàn bộ binh đanh chiếm Bêatơrixơ (Him Lam) điểm chốt trung tâm đến nửa đêm thì Bêatơrixơ chỉ còn là một nấm mồ. Chỉ có 200 binh sĩ trong số 700 quân đồn trú thoát chạy. Sau đợt thảm sát đầu tiên, Tư lệnh pháo binh, Đại tá Sáclơ Pirốt đã tự sát.

Những ngày sau, hai cứ điểm mạnh là Gabrien (Độc Lập) và An Mari (Bản Kéo) còn yên ắng, đó là điều tướng Giáp gọi "đội cảm tử" tới khoá chặt dải phòng ngự trung tâm. Những đội dũng sĩ tiếp cận uy hiếp Êlian.

Tại Hà Nội, khi vừa trở lại tiểu đoàn cũ, Bigia gói ghém hành lý sắp rời Đông Dương về Pháp. Sáng ngày 16-3, Nava cho gọi ông đến Sở Chỉ huy ra lệnh: Bigia, anh phải trở lại ngay Điện Biên Phủ lần nữa! "Thưa tướng quân, xin sẵn sàng. Nhưng binh sĩ của tôi hầu hết đã mãn hạn. Xin trao cho tôi tiểu đoàn khác". "Không thể được, tiểu đoàn anh được huấn luyện tốt và họ phải ở lại với anh, cùng lên đường"... Bigia kể lại: Mọi chuyện đều trở nên xấu đi. Không biết ai sẽ chỉ huy nơi đó. Ấn tượng tôi hoàn toàn chao đảo".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #277 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 01:14:33 pm »


Ngày 16-3, Bigia cùng tiểu đoàn anh ta một lần nữa nhảy dù xuống. Số phận Pirốt có ảnh hưởng đến cả Bigia. Ông đánh giá con người đã chết một cách anh hùng: "Tôi biết ông ta là người có trách nhiệm và nghe ông ta nói chừng nào phát hiện được pháo binh họ cũng sẽ đè bẹp ngay. Nhưng không thể coi thường họ. Phải đổ 100 trái pháo vào vị trí đặt pháo của họ mà cũng không sao phá huỷ nổi. Tướng Giáp chỉ ra lệnh tiến công khi mọi điều đã được tính toán đúng. Pirốt, một con người thật thà, đã tự kết liễu đời mình bằng trái lựu đạn.

Tại Điện Biên Phủ, Bigia nhìn thấy "Một vị đại tá tư lệnh không dám ló ra khỏi hầm trú ẩn", Đại tá Đờ Cátxtơri. Khi đó ông chưa lên cấp tướng. Ông ta lúc nào cũng cạo râu nhẵn nhụi, chỉnh tề và hoàn hảo. Tôi gặp lại bạn cũ Lănggle đang chỉ huy các đơn vị phản kích. "Nhưng Lănggle luôn năng động, con người sẵn sàng tiến công - chỉ có tầm nhìn của viên trung uý, cho dù anh đã là đại tá rồi".

Hành vi của anh ta có cái gì đó huyền thoại giống như Bigia. Dù lai lịch họ khác nhau, cả hai lại có thể dễ hoà hợp. Lănggle và Đờ Cátxtơri là hai người bạn cùng học Đại học quân sự Xanhxia. Chưa bao giờ họ có lời thoá mạ nhau. Ba nhân vật nói trên thoả thuận chung về quy tắc chỉ huy vì lợi ích của 15.000 con người đang vị vây hãm. Bigia nói: "Thực ra, Lănggle và tôi cùng chỉ huy, còn Đờ Cátxtơri ông ta giành quyền tư lệnh chiến trường nên gọi tôi bảo: "Này Brunô, anh tiếp xúc với Lănggle thì nên xem xét lại vấn đề! Anh ta chỉ biết bảo vệ cứ điểm"...

Việt Nam lập tức tấn chiếm nặng nề khu đông của Sở Chỉ huy trung tâm. Bigia ra lệnh phát quang và chỉ huy phản kích bằng bộ binh, pháo binh, không quân. "Tôi cảm thấy Đờ Cátxtơri tin cậy tôi, do đó vẫn giữ mãi kỷ niệm tốt đẹp về ông. Nhưng đây mới là giai đoạn đầu của chiến dịch". Bigia điều khiển cuộc chiến đấu trong bốn giờ. "Tôi có pháo bắn rất tốt 2.000 trái đạn pháo rót vào một điểm. Khi không quân tới oanh kích, chúng tôi bắt đầu xung phong. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt ngày. Thật sự là căng thẳng. Có thể chúng tôi diệt một tiểu đoàn đối phương. Đây là chiến công đầu tiên ở Điện Biên Phủ. Quân đội Việt Nam bị đẩy giãn ra".

Đờ Cátxtơri thì nói: "Brunô, chỉ có cậu mới làm nổi việc này đấy". Tôi đáp: "Thưa đại tá, chiến dịch hình như không tiếp tục nổi hằng ngày. Tôi đã mất những sĩ quan cừ nhất, cả trẻ lẫn cao tuổi. Nếu được, xin ngài bổ sung để có thể bắt đầu lại. Chúng tôi không sao chịu nổi quá lâu cái trò này được nữa rồi".

Nhưng làm gì còn lực lượng tiếp viện nữa! Ngày 27-3, sau khi cứ điểm then chốt mất và Êlian 1 thất thủ, Việt Minh pháo kích phong toả đường băng chính. Nước Pháp ở Điện Biên Phủ từ nay bị chia cắt khỏi thế giới, chỉ trừ vài chuyến thả dù tiếp tế chẳng lấy gì làm chắc chắn cả. Sĩ khí quân đội còn chưa giảm sút. Theo lời Lănggle: "Đây chưa phải là trận kết thúc cho chính tôi hay đồng đội. Chưa có nghĩa là đã chấm dứt. Nếu không hạ cánh được máy bay, vẫn còn lại khả năng thả dù. Tôi vẫn chưa cho việc sân bay bị đóng cửa là thảm hoạ có liên quan đến trận chiến đấu tới!".

Tuy nhiên, sự chịu đựng đã quá quắt rồi. Thương binh không thể để lại quá lâu mà không di chuyển đi. Khi máy bay cứu thương trúng đạn, các thương binh nặng mắc kẹt hết. Trong số họ có duy nhất một phụ nữ: cô y tá trong y viện không lực: Giơnơvievơ đờ Gala. Cô nói: Thương binh vẫn hy vọng chỉ còn lại những ngày cuối với họ ở Điện Biên Phủ, chấm dứt với cái địa ngục này. Đúng vậy không? Cái địa ngục khủng khiếp này đã bắt đầu rồi. Hầm cứu thương dã chiến có 40 giường, chỉ có 4 thầy thuốc dành cho 12.000 người không còn hy vọng gì sống sót, chứ chưa nói là cứu chữa nổi thương binh. Bắt đầu phải đào thêm hầm cứu thương, đặt thương binh sát vào vách hào. Ba tuần lễ tham gia vào các vụ phẫu thuật cô Giơnơvievơ đờ Gala không hề ra khỏi hầm. "Tôi ngủ trên ván, sáng đến gập lại và tối lại giở ra nằm". Cô gái cưng của Bá tước Oger de Galard Terraube, định noi gương vị thánh của năm thế kỷ trước, nữ thánh Jeane d'Arc đi theo đoàn thập tự quân. Cô nói: "Họ quên tên tôi, có lúc chỉ kêu: Này cô gái ơi! Chưa có ai gọi tôi là "thiên thần" như có người từng nói đến. Có thể đây là do sự tưởng tượng của cái nhà báo Mỹ nào đó mà thôi"!

Giơnơvievơ đờ Gala gây cho mọi người niềm xúc động. Nhưng đã đến lúc, họ gọi đến tên các cô Bêatơrixơ, Gabrien, An Mari và Đôminích rồi! Dính dáng cả đến Huyghét và Êlian (tên các cô gái đẹp đặt cho các cứ điểm). Chỉ còn có Clôđin và Idaben ở phía nam là còn yên ắng. Sau bốn ngày đầu tháng 4, tướng Giáp tung ra đợt tiến công thứ hai. Các lực lượng chính ở Êlian 4 đã đầu hàng. Trận địa bị thu hẹp lại dần. Các máy bay C47 đi tiếp tế phải vọt lên trên tầm bắn nên hàng loạt dù lọt vào tay Việt Minh. Bằng mọi giá, quân Pháp phải chiếm lại Êlian 1 (C1) và giải toả đường băng.

Một lần nữa, Bigia lại chỉ huy cuộc phản kích tuyệt vọng này. "Mở đầu, chúng tôi pháo kích từ 3 đến 4.000 trái pháo các loại có ở trong tay, súng cối 120 cũng tập trung bắn vào một điểm. Binh sĩ ào ra khỏi chiến hào xông vào đánh giáp lá cà. Nhưng quân Việt Minh vẫn đứng vững vàng, tuy có thể một nửa số họ bị thương vong. Số còn lại của họ chiến đấu như những dũng sĩ vĩ đại.

Họ đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê. Suốt một ngày, họ bị đẩy lùi và chúng tôi chiếm lại được một phần Êlian 1. Khi binh sĩ tôi vào chiến hào, đào trận địa vấp phải đầy các tử thi, cả lính Pháp, lính dù Việt Nam bị đất phủ kín xác. Mùi hôi thối xông lên khủng khiếp!

Đại tá Lănggle sau này còn tức giận khi kể lại: Tử thần đã đến tất cả mọi nơi. Từ giữa tháng 4, thật ra cái chết đã lù lù ở sau lưng chúng tôi rồi. Cuộc ác chiến đầu tháng 4 ít nhất làm mỗi bên chết 2.000 người. Tướng Giáp bỗng tạm ngưng lại. Việt Minh phải hiểu ra họ chỉ có một nhà phẫu thuật và bốn thầy thuốc mới thì làm sao phục vụ nổi cho một lực lượng nay đã giảm xuống còn khoảng 40.000 binh sĩ. Rốt cuộc, tướng Giáp cũng thừa nhận có cái gọi là "dao động tinh thần" đã ảnh hưởng đến quân đội ông. Ông quyết định chuyển hướng chiến thuật: Một cuộc tiến công dưới lòng đất. Ông đã triển khai 10.000 quân cùng dân công đào một hệ thống 100 dặm đường vươn tới trung tâm thung lũng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #278 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 01:15:16 pm »


Trong cái nhà mồ y tế Pháp, cảnh tượng thật tối tăm nhầy nhụa. Y viện ngầm đã nhích đến tận cùng chỗ dùng làm nhà xác. Ở đấy có khi thương binh nhìn thấy bọ trắng to lù bò ra giữa những đống bông băng ở nhà xác. Chân họ đầy dòi. Bigia nhận xét: Bác sĩ bỏ mặc họ. Tôi thì đề phòng sẽ xảy ra cho họ bệnh hoại thư. Dòi bọ bò quanh chân thương binh. Thật kinh khủng!

Đại tá Lănggle buộc phải ra lệnh đưa người còn khoẻ thỉnh thoảng ra khỏi lô cốt để có dịp thay đổi không khí. Ông cho họ sắm vai những chàng hiệp sĩ trong giây lát. Cô Giơnơvievơ đờ Gala thì chỉ còn mỗi một chiếc áo choàng y tế, một đôi quần và vỏn vẹn có một thỏi son bôi môi. Riêng cô có một căn hầm trú ẩn. Lănggle thì chỉ có một chiếc giường, một chiếc ghế dã chiến làm sở chỉ huy.

Sĩ quan và binh lính phải xé dù ra căng vách hào. Vào đúng ngày 13-4, cái cô Giơnơvievơ đờ Gala ấy tròn 29 tuổi. Sinh nhật tại một căn nhà nhỏ này là niềm vui lớn và thái quá, bất ngờ cho tôi! Giơnơvievơ đờ Gala nghĩ như vậy.

Trên không, những tấm ảnh chụp được, phát hiện những đường hầm của tướng Giáp đã bò lan nhanh chóng. Hà Nội thông báo qua đài vô tuyến điện, đề nghị sẽ thả các phương tiện đo tiếng động. Bộ Chỉ huy Điện Biên Phủ trả lời: Khỏi cần, chúng tôi đang nghe thấy cả tiếng họ đào rồi! Từ đỉnh núi, tướng Giáp được báo cáo "đã xong hàng trăm kilômét đường hào. Yêu cầu cơ động quân đội bất kể có bom napan và pháo địch".

Quân Pháp thì ngày càng bối rối thảm hại dựa vào ngọn đồi thấp. Bigia nói: Quân số chúng tôi hao hụt dần. Tiểu đoàn 800 người khi nhảy xuống, rút xuống 700 người, rồi 600, 400 người. Rồi chỉ còn lại 300, rồi lại 180 người. Cuối cùng chỉ còn lại 80 người khoẻ hơn, nhưng thừa chết thiếu sống.

Trên thế giới, cơn giận dữ, cuộc điên loạn, giá trị và sự tiến thoái lưỡng nan về Điện Biên Phủ phủ kín các trang báo. Dưới đầu đề Chiến tranh lạnh, Tạp chí Time, số ra ngày 3-5, mở đầu câu chuyện: "Cái đêm dài thất trận đang đến không sao thoát được ở đồn trại hào hùng Điện Biên Phủ. Tại Pari, cây đang đâm chồi nảy lộc rực rỡ giữa mùa Xuân, nhưng tâm trạng thì u uất như cái bóng dáng thung lũng ở Đông Dương, cách đây 6.000 dặm đang che tối sầm Pari lại!"

Tờ Le Monde viết: "Sự sống sót ở Điện Biên Phủ đang chỉ là giới hạn của thời gian, và người ta thay đổi cách trang trí, trang phục cho những người ở sân bay đang chờ đón các chuyến chở thương binh. Nước trên sông có chở thương binh đi qua phải lọc lại và ai dùng phải có thêm thuốc nhỏ mắt. Ở đây, họ quá thừa nước cho con người, trong khi đó lại quá keo kiệt làm loạn lên cho một nơi đang khát khô.

Rồi còn nỗi lo âu chính trị nữa. Tại Hội nghị Giơnevơ đã chính thức triệu tập, tờ Time tường thuật: Những người cộng sản đó tới mỉm cười khi hiểu và nói về hoà bình.

Tổng thống Aixenhao nhậm chức vào ngày 20-1 mới đây lưu ý Thủ tướng Anh Sớcsin: "Nếu tôi có thể bắt lịch sử quay lại, chúng tôi sẽ không quên chặn đứng Hirôhitô, Mútxôlini và Hítle lại bằng từ đoàn kết và thời gian. Do đó đánh dấu sự mở đầu cho nhiều năm tấn thảm kịch lộ liễu và mối hiểm nguy tuyệt vọng”. Aixenhao muốn đồng minh tham gia vào bất cứ cuộc can thiệp quân sự nào, đặc biệt là sự yểm trợ hữu hiệu của Anh.

Lúc đó, Oasinhtơn đang dàn cảnh cho một kịch bản oanh tạc. Nhà viết sử Giăng Lacutuya ở Hà Nội mô tả có một chiến dịch mật "Chim kền kền" được chuẩn bị. Người Mỹ đã đưa sang Manila hơn 200 phi cơ oanh tạc định đè bẹp các vị trí tướng Giáp đã chiếm lĩnh.

Tờ nhật báo Lầu Năm Góc đưa tin không chính thức về chiến dịch này. Phó Tổng thống Níchxơn chống trả dư luận rằng kịch bản đang tiến triển. Trong cuốn hồi ký, Níchxơn viết: ở Hoa Thịnh Đốn, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân vạch ra một kế hoạch chiến dịch "Chim kền kền", tính đến tha ba quả bom nguyên tử chiến thuật cỡ nhỏ để phá huỷ các căn cứ Việt Minh, nhằm cứu Điện Biên Phủ. Níchxơn không nói rõ là loại hành động nào ông ta ủng hộ, nhưng ông kể lại bằng những lời nói riêng với ông, Tổng thống đã không coi thường tài khéo léo của ông đã hoạt động nhằm lôi kéo Quốc hội và đất nước ủng hộ nhà lãnh đạo quốc gia.

Giăng Lacutuya kể: Cuộc oanh kích hạt nhân chiến thuật đã bị các nhà lãnh đạo Quốc hội bác bỏ, trước hết là thủ lĩnh Hạ nghị viện L.Giônxơn. Thủ tướng Anh Sớcsin là nguời phái chủ chiến cũng coi điều này không thể thực hiện được và cực kỳ nguy hiểm.

Trong số những người chống đối không thể có bất kỳ một sự can thiệp nào của Mỹ có Kennơđi. Vị thượng nghị sĩ trẻ tuổi nói: “Không một sự tăng viện quân sự nào của Hoa Kỳ ở Đông Dương có thể chiến thắng được quân thù, hiện họ đang có mặt khắp nơi, và ngay lúc này, họ hiện diện ở đây…”. Ta gọi họ là “một kẻ thù của nhân dân, nhưng họ đã có sự ủng hộ hoàn toàn và của nhân dân”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #279 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2022, 01:16:13 pm »


Trong những ngày đầu tháng 5, Aixenhao trở thành một vị Tổng thống Mỹ đầu tiên phải quyết định tiếp tục hay dừng lại cuộc tranh cãi về chiến tranh ở Việt Nam. Tờ Time, theo phong cách cũ không sao bắt chước được đã kết luận trong bản tường trình chiến sự ngày 3-5 như sau: “Phải chăng vận may đã đến, phải chăng hồng quân của tướng Giáp cũng đang mòn mỏi như các đạo quân đồn trú ở Điện Biên Phủ?”. Và liệu khả năng giản đơn, bất thần có thể đang đến: tiêu hao dần trong đêm tối: hoặc sẽ chết, hoặc cắt nát cái đồn trại hàng ngàn mảnh vụn; hoặc là đầu hàng đi trong danh dự… Những giả thiết này cứ chập chờn ẩn hiện không rõ ràng trong bóng đêm đang tối sầm lại ở Điện Biên Phủ.

Thời điểm đó, thung lũng có những nhà dàn cảnh chính cứ vẫn im lặng đến kỳ lạ. Hầm hào của tướng Giáp chỉ cách Sở Chỉ huy Pháp có 400 bộ nữa. Ít có đấu pháo nữa, nhưng đang là lúc hai bên lại thông tin cho nhau về quan điểm lịch sử. Phía chiến hào Việt Minh, loa phóng thanh vang lên những bài ca kháng chiến của nhân dân Pháp trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, với điệp khúc: “Đồng bào ơi! Tự do đang nghe thấy từ bóng đêm”… Khi chiếm lại được mỏm đồi ở Êlian 2 (A1), lính Pháp lợi dụng bóng đêm hát vang bài La Mácxâye.

Bigia kể lại: Tôi nói cho binh sĩ, chúng ta cố giữ thêm một ngày nữa. Người Mỹ không bỏ rơi ta ở đây; thế giới tự do sẽ không bỏ rơi chúng ta. Họ sẽ tới. Đó là điều chúng tôi nghĩ đến khi đó.

Nay thì Đờ Cátxtơri đã được lên cấp tướng, và hứa mỗi người đều sẽ được tặng thưởng Huân chương Thập tự chiến tranh. Bigia nhận xét, dáng điệu còn ngượng ngập: “Họ nghĩ đến tử trận trong chiến đấu thì phải thưởng huân chương hậu hĩnh cho chúng tôi. Các sĩ quan dành cho cô Giơnơvievơ đờ Gala một vinh dự. Cô được mời đến Sở Chỉ huy: "Khi tôi tới, họ nói có việc gì đó xẩy ra cho tôi. Tướng Đờ Cátxtơri trao cho tôi một bì thư. Khi mở ra tôi thấy có tấm Bội tinh danh dự".

Đại tá Lănggle kể: Tôi nhớ mãi cảnh tượng khi đó, cô Giơnơvievơ đờ Gala vội vã bước lên và nhận tấm huân chương do tướng Đờ Cátxtơri gắn. Những người khác sau này kể lại, ý nghĩa duy nhất còn lại là nghĩ đến chuyện thưởng lẫn nhau Bội tinh danh dự. Lănggle thuật lại trận đánh cuối cùng đã chậm hai ngày, rồi từ đêm ngày 5, cả ngày 6 đã diễn ra và kết thúc vào sáng ngày 7-5.

Các cứ điểm xung quanh nối tiếp nhau thất thủ. Bigia nhớ lại cảnh tượng cuối cùng: "Một số người đứng vụt dậy, người thì mất một mắt, người mất vũ khí. Chúng tôi gọi người đó là "Vũ khí độc nhất", và gọi họ "Chúng ta trở về thôi!". Nhưng họ vẫn yêu cầu có vũ khí để tiếp tục chiến đấu. Thật là đặc biệt và là những tinh thần cao cả.

Ngày 6-5, Lănggle và mọi người đều đã kiệt sức, hoàn toàn rã rời. Chúng tôi hiểu không còn cách gì làm tiếp được nữa. Hết cả đạn dược, quân số cũng cạn. Do vậy mà kể từ ngày 7-5, khi quân Việt Minh tới, thực sự là cuộc chiến đấu của chúng tôi đã chấm dứt. Quân Pháp cũng đã tính đến một cuộc tháo chạy tự sát. Hai đội quân sẽ chạy sang Lào và mỗi binh đoàn sẽ tự tìm lấy vận may cho mình. Sớm ngày mồng 7, Lănggle kêu gọi sĩ quan nào còn sống sót tới xung quanh để bắt đầu một cuộc thử sức cuối cùng. Nhưng các sĩ quan (lời Lănggle kể) thông báo cho tôi binh sĩ không còn khả năng chống cự lâu được nữa. Tôi báo cáo lên tướng Đờ Cátxtơri tình hình này. Ông ta gọi cho Hà Nội và thông báo cuộc chiến đấu đã chấm dứt rồi.

Bigia kể: Chúng tôi nhặt nhạnh vài vị chỉ huy tiểu đoàn và bàn đến việc tháo chạy. Họ nói: Không, không còn cái giá nào lúc này nữa đâu. Chúng tôi có thể chết xứng đáng. Chúng tôi làm sao mà ra khỏi đây nổi dù chỉ 100 m thôi. Đờ Cátxtơri báo cho Hà Nội: "Thế là hết". Nava trả lời qua máy vô tuyến điện thanh: "Đừng giơ cờ trắng, chỉ ngừng chiến đấu thôi".

Đại tá Lănggle kể: Hà Nội đã thoả thuận cho đầu hàng nhưng "không phất cờ trắng lên". Lúc đó là 1 giờ chiều ngày mồng 7, các sĩ quan và cả cô Giơnơvievơ đờ Gala đứng vây quanh Sở Chỉ huy chờ đợi. Đúng 5 giờ chiều, kể từ giờ phút mở màn đã là 55 ngày. Mọi người nghe thấy tiếng nói của Việt Minh gọi nhau xung quanh. "Chúng tôi nghe thấy có cái gì rộp trên nóc hầm, Lănggle kể lại: "Tôi ngồi xuống ghế, đặc biệt là không biết mình nghĩ đến điều gì cả. Những bậc hầm dẫn ra ngoài đã ở ngay trước mắt. Tôi đã có thể nhìn trọn một mảng trời. Lúc đó, chúng tôi đều nghĩ đến trái lựu đạn. Lạy chúa! Rất có thể liệng xuống chỗ bậc hầm này một trái lựu đạn và sẽ nổ tung hết. Nhưng trường hợp này đã không xảy ra. Các binh sĩ chiến thắng Việt Nam đội mũ nan, lưỡi lê đầu súng bước vào chỉ nói: "Đứng dậy".

Sở Chỉ huy lúc đó đầy ắp người, cũng như ngoài cánh đồng Điện Biên còn nguyên những khẩu pháo nằm quanh bãi. Chỉ có một bảng đồng nhỏ vừa được gắn vào, nó giải thích đơn giản giây phút kết thúc này:

"17gờ 30 phút ngày 7-5-1954".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM