Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Năm, 2022, 09:10:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 4265 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #240 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2022, 09:44:06 pm »


"NHIỀU ĐIỆN BIÊN PHỦ KHÁC ĐANG CHỜ ĐỢI CHÚNG TA"

DƯƠNG TRUNG QUỐC
Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Đó là câu kết thúc loạt bài viết "Mẩu chuyện về Điện Biên Phủ” của Bác Hồ trên báo Cứu quốc, đúng một tháng sau ngày toàn thắng (7-6-1954). Năm mươi năm sau nhìn lại, tinh thần của bài báo ấy là một hiện thực lịch sử sống động.

1. "Đến Điện Biên Phủ thì làm cho cả thế giới xôn xao"

Ngày 24-7-1953, Đại tướng Hăngri Nava báo cáo với Ủy ban Quốc phòng của nước Pháp về kế hoạch quân sự nhằm cứu vãn tình hình Đông Dương, nơi ông ta vừa nhậm chức Tổng Tư lệnh các đạo quân viễn chinh mới được hai tháng.

Và không ai có thể ngờ rằng, chỉ không đầy tám tháng sau, kể từ ngày bộ đội Việt Nam bắt đầu nổ súng công kích tập đoàn cứ điểm này (13-3-1954) thì Điện Biên Phủ đã trở thành địa ngục của đạo quân đồn trú, nỗi kinh hoàng của nước Pháp và các thế lực đế quốc, từ ngữ được nhắc đến hằng ngày trên các bản tin thế giới... Và kể từ buổi chiều ngày 7-5-1954, Điện Biên Phủ đã trở thành một cái mốc lịch sử, một thuật ngữ sử học và một biểu tượng mang nhiều ý nghĩa thời đại. Trước hết, đây là "lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh"1, như đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nửa thế kỷ đã qua, Điện Biên Phủ vẫn là nguồn cảm hứng lịch sử mang tầm vóc quốc tế. Nhà sử học Pháp J. Sênô (Jean Chesnaux) đã từng đánh giá Điện Biên Phủ đã tác động mạnh mẽ đến thế giới chẳng khác gì chiến thắng của nước Nhật trước nước Nga ở eo biển Đối Mã (Tushima) năm 1905 đã thức tỉnh cả châu Á da vàng đang là thuộc địa của châu Âu da trắng đầu thế kỷ XX. Còn các bạn Angiêri, những người vốn cùng chung cảnh ngộ là thuộc địa, thì coi Điện Biên Phủ như nhát đanh đầu tiên đóng lên nắp ván thiên của chủ nghĩa thực dân, còn cách mạng Angiêri có vinh dự đưa nó ra nơi an nghỉ cuối cùng. Một trong những nhân chứng lịch sử, Giăng Pugiê (Jean Pouget), vốn là Thư ký cho tướng Nava, 20 năm sau trận chiến đã viết rằng: "Điện Biên Phủ đánh dấu sự kết thúc thời đại chủ nghĩa thực dân và dấy lên thời đại độc lập của thế giới thứ ba. Ngày nay, ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, không có một cuộc nổi dậy hoặc một cuộc khởi nghĩa nào không chịu tác động bởi chiến thắng của tướng Giáp. Nếu ngày 14-7 (ngày phá ngục Baxti) trở thành ngày Quốc khánh Pháp thì ngày 7-5 cũng trở thành ngày phi thực dân hóa trên toàn thế giới" (Le Figaro, 7-5-1974).

... Trên phương diện quân sự, người ta đã xếp Điện Biên Phủ trở thành một trận đánh kinh điển trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, là một sự kiện không thể thiếu khi viết về lịch sử thế giới thế kỷ XX. Trong cuốn sách viết về trận đánh này, nhà sử học Pháp Giuyn Roa đánh giá: Sự thất thủ Điện Biên Phủ đã gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đây là một trong những thất bại lớn nhất của phương Tây, báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa và một nền cộng hòa. Tiếng sấm của sự kiện còn rền vang...

2. "Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta"

Đó là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chỉ đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám giành độc lập cho dân tộc. Đó cũng là tư tưởng xuyên suốt toàn bộ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Ý chí ấy đã được thể hiện một cách quyết liệt trong lời hịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946): "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên"2.

Vào thời điểm đó, dân tộc Việt Nam hoàn toàn phải "chiến đấu giữa vòng vây" (như tên gọi tập hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về giai đoạn từ năm 1946 đến trước chiến thắng Biên giới 1950). Đó là một thời kỳ vô cùng gian khổ nhưng hào hùng như ông cha ta từ những thế kỷ xa xưa đã từng một mình chống chọi với mọi thế lực ngoại xâm. Nói chính xác hơn thì ngay từ đầu, cách mạng Việt Nam đã gắn bó với cách mạng Lào và Campuchia tạo nên một chiến trường chống kẻ thù chung là chế độ thuộc địa và âm mưu áp đặt lại chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương. Chiến thắng Biên giới vào mùa Thu 1950 đã mở ra một bước ngoặt quan trọng. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nói riêng, của các dân tộc Đông Dương nói chung đã thoát khỏi thế bị bao vây. Cùng với thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, chúng ta đã có một hậu phương vô cùng rộng lớn và quan trọng. Nhưng đó lại cũng là cái mốc đặt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam vào một cục diện quốc tế ngày một phức tạp và quyết liệt của một thế giới đã phân cực. Giờ đây bên cạnh chiến trường chống đạo quân viễn chinh Pháp, chúng ta bắt đầu phải nhận dạng một kẻ thù lâu dài hơn là đế quốc Mỹ; bên cạnh việc có được nguồn ủng hộ to lớn của bạn bè quốc tế đặc biệt là với nguồn viện trợ quan trọng của Trung Quốc và Liên Xô, chúng ta phải ứng phó ra sao để vẫn giữ được nguyên lý tự chủ.

Vào bối cảnh lúc đó, Liên Xô còn bị ràng buộc bởi Hiệp ước Pháp-Xô ký kết từ trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phátxít, nên sự ủng hộ Việt Nam chỉ giới hạn vào việc cung cấp vũ khí qua tay Trung Quốc (phải sau khi kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp ước Pháp-Xô mới bãi bỏ). Còn với Trung Quốc, trên nền tảng của mối quan hệ truyền thống giữa cách mạng hai nước mà Bác Hồ dày công vun đắp, chúng ta đã nhận được những sự giúp đỡ rất quan trọng không chỉ giới hạn trong những khoản viện trợ vật chất mà còn cả sự cổ vũ tinh thần và những kinh nghiệm của Trung Quốc vừa tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên. Thời điểm này, một đoàn cố vấn Trung Quốc đã sang giúp ta trên lĩnh vực quân sự. Có thể nói, đây là thời kỳ mà tinh thần quốc tế được thể hiện cao cả trong chiến tranh cách mạng. Quân đội nhân dân Việt Nam đả từng sát cánh tham gia tiêu diệt tàn quân Tưởng Giới Thạch trong Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn giúp cách mạng Trung Quốc. Trung Quốc giúp ta huấn luyện và trang bị cho một số đơn vị chủ lực của chúng ta. Vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc trang bị cho ta cũng làm quân Pháp bất ngờ như hỏa lực pháo binh và đặc biệt là pháo phòng không đã cắt đứt hoàn toàn cầu hàng không tiếp tế của Pháp hay dàn hỏa tiễn sử dụng vào thời điểm cao trào của chiến dịch gây nỗi kinh hoàng cho đối phương... Nhưng cuối cùng, vấn đề vẫn là con người.

Trước hết đó là một dân tộc quyết tâm gìn giữ nền độc lập của mình sẵn sàng "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Đó là một bộ máy lãnh đạo đã dạn dày kinh nghiệm và bản lĩnh biết "đã đánh là chắc thắng". Bác Hồ đã thay mặt Bộ Chính trị tin cậy giao phó quyền "tướng quân tại ngoại" cho người học trò của mình là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh, Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận, toàn quyền quyết định. Đó là những người lính "từ nhân dân mà ra" trong đó phần lớn là những người nông dân mặc áo lính phấn khởi nghe tin ở quê nhà gia đình vừa được nhận ruộng đã chiến đấu dũng cảm dưới tài thao lược của các tướng lĩnh đã từng trải trận mạc. Đó là sự phối hợp của cuộc chiến tranh nhân dân trên toàn đất nước và sự phối hợp với chiến trường toàn Đông Dương căng địch ra mà đánh. Đó là sức người sức của từ mọi miền dồn lực cho mặt trận Điện Biên... Nếu biết rằng, năm đầu tiên hòa bình, nhân dân Thanh Hóa bị đói to vì có bao nhiêu thóc giống cũng dốc hết cho chiến trường Điện Biên Phủ thì mới thấy hết tầm vóc của sự hy sinh của cả nước để chiến thắng.

Cũng cần phải nói đến "một quyết định khó khăn nhất" mà vị Chỉ huy trưởng chiến trường đã quả quyết thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" kết thúc trong hai ngày ba đêm đã được nhất trí từ trên xuống dưới, đã dày công chuẩn bị chỉ còn chờ lệnh nổ súng, sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc" vào trưa ngày 26-1-1954, chấp nhận bài binh bố trận lại để bảo đảm thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ "đánh chắc thắng", mới thấy được yếu tố quyết định là con người, từ chiến sĩ đến thống soái. Bởi lẽ, chính nhờ có quyết sách đúng đắn và kịp thời này cũng như sự quán triệt từ các vị cố vấn tới các tướng lĩnh và chiến sĩ mà Điện Biên Phủ đã đại thắng.

Đờ Cátxtơri, bại tướng chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sau này khi về Pháp điều trần đã rút ra một bài học thấm thía: Người ta có thể đánh thắng một đạo quân chứ không thể đánh thắng một dân tộc.

Nhớ lại, những ngày đầu cách mạng còn trong trứng nước, năm 1946, Bác Hồ dặm trường sang Pháp nhằm cứu vãn hòa bình. Chiều 12-7-1946, có một nhà báo Pháp hỏi: "Chủ tịch tuyên bố nếu Pháp cố tình chiến tranh xâm lược thì quyết đánh lại chứ không sợ. Vậy, Chủ tịch đánh bằng gì?". Bác đáp lại đanh và gọn: "Bằng trí tuệ của nhân dân Việt Nam". Điện Biên Phủ chính là câu trả lời bằng hành động.
___________________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 12.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.480.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #241 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2022, 09:44:52 pm »


3. Từ Điện Biên Phủ đến "Điện Biên Phủ trên không" và những "Điện Biên Phủ khác"

Trong lá thư đề ngày 8-5-1954, gửi "lời khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ", Bác Hồ đã viết: "Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu". Vị thống soái của cách mạng Việt Nam nhìn thấy tầm xa của chiến thắng cuối cùng và “nhiều Điện Biên Phủ khác đang chờ đợi chúng ta".

Đón dịp kỷ niệm 50 năm Điện Biên Phủ này, một hãng phim Mỹ (Wind River LLC) đã thực hiện một cuốn phim cho kênh Discovery nổi tiếng một bộ phim cũng có tựa đề là Điện Biên Phủ. Cuốn phim dài một giờ này chỉ xoay quanh cái chết của hai viên phi công Mỹ là J. Mc Govern và W.A. Buford. Hai viên phi công này đã tử nạn trên một trong những chiếc máy bay C119 của không quân Mỹ tiếp tế cho quân Pháp đang khốn đốn trên chiến trường Điện Biên. Trên cái nền ấy các nhà làm phim nói về thảm bại của Pháp và thu hẹp sự hiện diện của Mỹ chỉ là cái chết của hai quân nhân đầu tiên trên chiến trường Đông Dương và chưa có tên trên "bức tường của công viên Việt Nam ở Oasinhtơn".

Nhưng thực tế lịch sử đã cho thấy Điện Biên Phủ đã là "một cuộc chiến tranh của Mỹ" kể từ sau khi biên giới Việt Nam đánh thông sang Trung Quốc. Một nước Mỹ thời Tổng thống Rudơven đã từng Là lực lượng Đồng minh đứng bên cạnh những người cách mạng Việt Nam chống phátxít Nhật hồi năm 1945, thì từ năm 1946 đã quay ra ủng hộ các thế lực thực dân Pháp trở lại xâm chiếm thuộc địa cũ, và từ năm 1950 thì nước Mỹ ấy đã nhập cuộc, trước hết bằng nguồn lực tài chính và vũ khí viện trợ cho Pháp.

Những con số dưới đây sẽ nói lên vị thế của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất: Nếu năm 1950 Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở chiến trường Đông Dương 52 tỷ phrăng chiếm 19,5%, thì năm 1953 con số ấy đã lên tới 285 tỷ phrăng (43,8%) và đến năm diễn ra Điện Biên Phủ 1954 thì đã tăng lên tới 555 tỷ phrăng chiếm 73,9%. Người ta nói không sai là Điện Biên Phủ chính là cuộc chiến tranh của Mỹ đánh bằng danh dự của nước Pháp, binh lính của Pháp cũng như các thuộc địa và lính đánh thuê. Không chỉ có tiền bạc và súng đạn, sự có mặt của các tướng lĩnh cao cấp Mỹ, thị sát tận nơi cứ điểm quân sự này, cùng những chuyến đi con thoi của các chính khách cao cấp và tướng lĩnh Pháp sang Oasinhtơn cho thấy rõ điều đó.

Vào thời điểm quân Pháp bắt đầu nguy kịch ở Điện Biên Phủ, Mỹ đã tính đến một sự can thiệp trực tiếp hơn với dự án về một cuộc hành binh đường không mang tên Chim kền kền (Operation Vulture). Mỹ dền dứ Pháp một sự hỗ trợ ồ ạt bằng không quân kể cả những đơn vị B29 từng ném bom nguyên tử xuống Nhật năm xưa, nếu Pháp chấp nhận nhường quyền chỉ huy chiến trường cũng như huấn luyện quân đội "quốc gia Việt Nam" (ngụy) cho Mỹ. Nước Pháp chần chừ vì sợ mất cả chì lẫn chài trong cuộc chiến này, cộng với sự không tán thành của Anh và sự bất đồng của một bộ phận chính khách và tướng lĩnh Mỹ sợ chiến tranh sẽ lan rộng ra khu vực, nên cuộc hành binh Chim kền kền đã không thực hiện được. Những câu đối thoại cuối cùng của Ngoại trưởng Mỹ G.F. Đalét: "Ngài nghĩ thế nào, nếu chúng tôi cho các ngài quả bom nguyên tử chiến thuật" và câu trả lời của Thủ tướng Pháp Biđôn là: "Nếu thế thì cả quân Pháp và Việt Minh sẽ cùng phải chết ở Điện Biên Phủ à?" cho thấy Mỹ sẵn sàng giành chiến thắng bằng xương máu của người khác như thế nào.

Nhưng rồi nước Pháp sau trận thua ở Điện Biên Phủ phải ký kết Hiệp định Giơnevơ, rút khỏi miền Bắc rồi sau cuộc Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại (1955), thì trên thực tế nước Pháp đã trắng tay rút khỏi Đông Dương. Chỉ sau chiến thắng Điện Biên Phủ hơn bảy tháng, trong một bài viết ký tên là T.L. đăng trên báo Nhân Dân (ngày 20-12-1954), Bác Hồ đã lấy đầu đề: Từ ngày nhân dân ta bắt đầu kháng chiến, đế quốc Mỹ đã nhúng tay vào chiến tranh xâm lược Đông Dương và kết thúc bài báo bằng câu: "Tuy đã bị thất bại nhục nhã ở Đông Dương, nhưng chứng nào vẫn giữ tật ấy, đế quốc Mỹ chưa chịu bỏ mộng xâm lược Đông Dương"1.

Hai mươi năm tiếp theo kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam vẫn cùng hai dân tộc Lào và Campuchia anh em tiếp tục cuộc chiến đấu mới. Nhân dân ta một lần nữa buộc phải cầm vũ khí để chiến đấu theo đúng lời chỉ bảo của Bác Hồ: "còn nhiều Điện Biên Phủ đang chờ chúng ta". Cuộc chiến tranh giải phóng đầy hy sinh gian khổ ấy đã đạt tới nhiều chiến công lớn mà một trong những đỉnh cao là một trận thắng được mệnh danh là "Điện Biên Phủ trên không" vào mùa Đông năm 1972.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời đã tiên đoán về một trận đánh có ý nghĩa quyết định sẽ diễn ra trên bầu trời Thủ đô Hà Nội. Người cũng lường trước rằng kẻ thù sẽ điên cuồng leo những nấc thang tận cùng của sự tàn bạo là sử dụng máy bay chiến lược B52. Nhờ vậy quân và dân ta đã chủ động nghênh chiến đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân được coi là có quy mô lớn nhất và cũng chịu nhiều thiệt hại nhất của Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Và như thế thất bại của cuộc tập kích chiến lược càng xứng đáng là một Điện Biên Phủ đối với Mỹ. Sau đó không lâu, Níchxơn cũng phải từ chức một phần vì thất bại ở Việt Nam, một phần vì vụ tai tiếng Oatơghết... Sau "Điện Biên Phủ trên không", Hiệp định Pari cũng được ký kết buộc Mỹ phải tìm cách rút bỏ khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Với "Điện Biên Phủ trên không", chúng ta đã thực hiện được mục tiêu "đánh cho Mỹ cút" để rồi thực hiện nốt mục tiêu "đánh cho ngụy nhào" vào mùa Xuân đại thắng của chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc vào đúng một tuần trước ngày kỷ niệm lần thứ 21 chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1975).

Kỷ niệm 30 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (1984), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã từng đánh giá: "Điện Biên Phủ, cái tên kỳ diệu ấy đã đi vào lịch sử dân tộc ta như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Đó là khúc nhạc mở màn cho bản trường ca chống Mỹ cứu nước"2.

Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, vị Đại tướng của chiến trường xưa đã gửi gắm lòng tin hãy "làm nên một Điện Biên Phủ mới trong sự nghiệp Đổi mới..., mỗi người, mỗi tổ chức có những nỗ lực vượt bậc lập nên những đỉnh cao thành tích mới, những Điện Biên Phủ lớn nhỏ trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, xã hội"3.

Bởi vì như Bác Hồ đã căn dặn: "Còn nhiều Điện Biên Phủ khác đang chờ đợi chúng ta".
_______________________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 406.
2. Trường Chinh: Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.13.
3. Võ Nguyên Giáp: Tinh thần Điện Biên Phủ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta (tham luận gửi Hội thảo khoa học quốc gia: Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Điện Biên, ngày 7,8-3-2004.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #242 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2022, 10:46:46 pm »

VỀ VIỆC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
CHO THẾ HỆ TRẺ
1



GS, TS. PHAN NGỌC LIÊN
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Nhân dân Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trong quá trình này đã hình thành truyền thống dân tộc mà cốt lõi là lòng yêu nước. "Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"2. Bên cạnh truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm, chống áp bức xã hội, nhân dân ta còn có nhiều truyền thống tốt đẹp trong lao động sáng tạo, trong đời sống xã hội.

Dân tộc Việt Nam không chỉ có lịch sử hào hùng như vậy mà còn có kinh nghiệm trong giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Bởi vì, mỗi thế hệ đi vào cuộc sống, hướng theo sự phát triển chung của nhân loại và dân tộc, không thể không mang theo những giá trị của quá khứ, truyền thống dân tộc, tinh hoa nhân loại mà các thế hệ trước đã tạo lập và truyền lại. Hình thức giáo dục truyền thống dân tộc của nhân dân ta cũng đa dạng, phong phú và có hiệu quả như việc lưu truyền các truyền thuyết, thần thoại, việc giáo dục lịch sử trong nhà trường, việc tổ chức các lễ hội truyền thống, bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử, tôn vinh các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước...

Trong hội nhập quốc tế và khu vực, việc củng cố độc lập, chủ quyền gắn liền với việc bảo vệ truyền thống, bản sắc dân tộc, phải làm cho các thế hệ hiểu biết, ý thức về quá khứ của dân tộc để vững bước vào tương lai. Bởi vì, "truyền lại một ký ức và làm sống lại một bản sắc không phải chỉ là để lại một di sản mà còn là vạch ra một cách sống"3. Vì vậy, việc tổ chức trọng thể các ngày lễ lớn của dân tộc và thế giới ngoài việc làm sống lại lịch sử oai hùng được thể hiện qua một sự kiện, nhân vật, điều chủ yếu còn là đánh thức ý thức quá khứ ở các thế hệ sau và biến thành hiện thực trong hiện tại, đặt cơ sở cho sự phát triển tương lai.

Kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ không chỉ tưởng niệm những người đã anh dũng hy sinh, tôn vinh những người đang sống đã đóng góp cho chiến thắng mà còn phải làm cho các "thế hệ sau Điện Biên Phủ" luôn ghi nhớ về một chiến công "chấn động địa cầu", lập nên "nhiều Điện Biên Phủ" trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc giáo dục "truyền thống Điện Biên Phủ" được tiến hành trên cơ sở sự hiểu biết khoa học về lịch sử theo một quá trình "nhớ lại" (ký ức), "hiểu'' và "thực hiện những bài học kinh nghiệm quá khứ được nhận thức. Phạm vi vấn đề rộng lớn, chúng tôi giới hạn ở đây một số nội dung cơ bản, và nguyên tắc, biện pháp giáo dục "truyền thống Điện Biên Phủ" cho thế hệ ngày nay.

Trước hết, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 là sự tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc. Trong trang sử vàng của dân tộc kế tiếp các chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... là Điện Biên Phủ và sau đó là Vạn Tường, Ấp Bắc, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 và chiến thắng mùa Xuân năm 1975. Như vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ là "cái quả" của truyền thống dân tộc và cũng là một "cái nhân" của các chiến thắng tiếp sau. Cho nên giáo dục truyền thống Điện Biên Phủ không tách khỏi truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc và tìm hiểu, phát huy truyền thống Điện Biên Phủ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp sau.

Do vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quân sự - trên đường giao thông quốc tế từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, nên nhân dân Việt Nam sớm tiếp xúc với nhiều nền văn hoá của thế giới, đồng thời cũng phải đương đầu với nhiều kẻ thù hùng mạnh từ nhiều phương đến xâm chiếm và đô hộ nước ta. Quân xâm lược bao giờ cũng đông hơn, được vũ trang đầy đủ, do những tên tướng dày dạn chinh chiến cầm đầu. Trong quá khứ, thời gian đất nước Việt Nam bị đô hộ gần bằng thời kỳ được độc lập mà ngay trong những thế kỷ độc lập nhân dân ta cũng luôn luôn phải đối phó với những âm mưu và hành động xâm lược của ngoại bang. Dù tạm thời thất bại, bị thống trị hàng nghìn năm hay một thời gian ngắn, nhân dân Việt Nam đã kiên trì và anh dũng đấu tranh, kết thúc bằng một trận thắng quyết chiến chiến lược. Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược dẫn tới sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và "đánh dấu chấm hết cho quyền cai trị không chỉ của riêng nước Pháp mà của cả ở châu Âu, châu Á"4.
_____________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr.171.
3. Candau J.: Mémoire et Identité, Paris PUF, 1998. p.114
4. Tum bull, Patrick: Điện Biên Phủ, in trong History Today, Apr., 1979, Vol 29, Issua 4, p.239.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #243 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2022, 10:49:24 pm »


Qua chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta không chỉ giáo dục cho thế hệ trẻ truyền thống anh hùng của dân tộc được phát huy trong cuộc chiến đấu, do Đảng ta lãnh đạo, mà còn làm cho thế hệ trẻ nhận thức tính nhân văn truyền thống của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc. Chúng ta phải cầm súng chiến đấu vì kẻ thù xâm lược; cho nên cuộc chiến đấu, tiêu biểu ở trận quyết chiến chiến lược như Điện Biên Phủ, thể hiện khát vọng được sống trong độc lập, tự do, hoà bình. Vì "chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng", nhưng nếu nhân nhượng mà kẻ thù càng lấn tới thì ''chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"1.

Cho nên, qua chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta giáo dục cho thế hệ trẻ tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất, đồng thời giáo dục tinh thần yêu chuộng hoà bình, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Hai mặt này không có gì mâu thuẫn mà thống nhất với nhau. Chỉ có chiến đấu mới có hoà bình thực sự chân chính. Điều này lưu ý thế hệ trẻ cảnh giác với các luận điệu cho rằng: "chiến đấu là một sự hy sinh vô ích, vì bằng con đường thương lượng hoà bình cũng có thể giành được độc lập và nhanh chóng phát triển đất nước".

Không có truyền thống dân tộc thì khó có thể đạt được chiến thắng Điện Biên Phủ; song truyền thống dân tộc không được tiếp thụ và phát huy dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cũng không thể dẫn tới chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Do đó, qua chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta giáo dục cho thế hệ trẻ lòng biết ơn, sự tin tưởng vững chắc vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần khẳng định rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh giải phóng dân tộc, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng vào điều kiện cụ thể nước ta. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngoài truyền thống dân tộc còn bắt nguồn ở việc Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước đúng, ở việc Đảng hoạch định đường lối và chỉ đạo đường lối đấu tranh trong lãnh đạo cách mạng: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chuẩn bị và tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, toàn dân, toàn diện và tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã xác nhận điều này.

Với một nhãn quan chính trị sâu rộng, đường lối khoa học, Hồ Chí Minh đã dự liệu một trận đánh ở tập đoàn cứ điểm vững mạnh của địch, như tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Năm 1949, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh hoàn thành và xuất bản quyển Giấc ngủ mười năm, phác hoạ một viễn cảnh của đất nước trong mười năm tiếp sau đó (1949-1958). Những sự kiện được trình bày chỉ là một "viễn tưởng khoa học", vì nó chưa xảy ra, nhưng lịch sử diễn ra sau đó đã xác định dự đoán thiên tài này. Hồ Chí Minh đã tiên đoán rằng, sau khi bị đánh bại ở khắp các chiến trường, "giặc kéo nhau về giữa mấy thành thị lớn để mưu vật với ta một keo nữa"2. Đây chính là việc dự đoán địch xây dựng những tập đoàn cứ điểm hùng mạnh như Nà Sản, rồi Điện Biên Phủ, mà chúng chủ quan cho rằng: quân dân ta không có khả năng tiêu diệt những "con nhím" như vậy; trái lại tập đoàn này sẽ trở thành "máy nghiền thịt khổng lồ quân đội Việt Minh".

Qua chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thế hệ trẻ càng tin tưởng hơn vào đường lối của Đảng, thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để giành thắng lợi quyết định trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Lòng tin này không chỉ được xây dựng trên cơ sở chiến thắng Điện Biên Phủ mà còn hướng tới những thắng lợi trong tương lai. Năm 1964, trong bài viết Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán "sẽ có một Điện Biên Phủ mới ở miền Nam Việt Nam"3 và tin tưởng rằng: "Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Điện Biên Phủ, từ nay về sau nhân dân miền Nam chắc sẽ thắng lợi hơn nữa"4. Sự đoán định khoa học này đã trở thành hiện thực: nhiều Điện Biên Phủ mới đã diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng được hiện thực hoá trong chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn do sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta được phát huy cao nhất. Do luôn luôn phải chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc chống những kẻ thù mạnh hơn mình nhiều lần, nhân dân Việt Nam ngay từ thuở dựng nước đã đoàn kết chặt chẽ với nhau. Không phải ngẫu nhiên mà truyện Thánh Gióng ra đời sớm, gần như đồng thời với các câu chuyện "Âu Cơ đẻ trăm trứng" và "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh", nói lên những người "cùng trong một bọc'' đã chiến đấu chống ngoại xâm, khắc phục thiên tai. Ý tưởng về một chiến tranh nhân dân thời Phù Đổng Thiên Vương trở thành hiện thực trong cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân Tây Âu và Lạc Việt làm cho quân Tần "lương thực bị tuyệt và thiếu, đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được mà thoái cũng không xong"5, cuối cùng phải thất bại. Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, các cuộc khởi nghĩa trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc đến các cuộc kháng chiến đời Lý, Trần, Lê, Quang Trung - Nguyễn Huệ, chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển và đi đến thắng lợi to lớn.

Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tiếp thụ, phát triển những bài học và kinh nghiệm của cha ông đưa cuộc chiến tranh nhân dân đến đỉnh cao mà chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một biểu hiện rực rỡ. Qua những tài liệu - sự kiện cụ thể, thế hệ trẻ ngày nay dễ dàng nhận thấy sự đóng góp to lớn của nhân dân cho thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện khẩu hiện "Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng", theo lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã "cung cấp lương thực, đạn dược cho một binh lực lớn, ở xa hậu phương hàng 500-700km, trong một thời gian dài và trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thiếu thốn, quân địch không ngừng đánh phá các tuyến cung cấp của ta. Lại còn khó khăn về thời tiết nữa, "một trận mưa có thể gây ra trở ngại nhiều hơn một trận bom địch"6. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội, dân công hoả tuyến thể hiện sức chiến đấu ngoan cường, sự thông minh tài giỏi của các chiến sĩ ta trên chiến trường, trở thành một trong những nhân tố quyết định sự thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương.
______________________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.480.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 619.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 261.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 265
5. Theo Lưu An, trong Hoài Nam tử, dẫn theo Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr.46.
6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr.261.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #244 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2022, 10:50:26 pm »


Những sự kiện, hình ảnh chiến đấu và phục vụ chiến đấu của quân và dân ta không chỉ tạo một biểu tượng chân thực, gây xúc động về quá khứ mà còn làm cho thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân trong lịch sử nói chung, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng. Điều này củng cố cho thế hệ trẻ những hiểu biết quan điểm, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh to lớn của nhân dân để đánh thắng mọi kẻ thù. Trong cuốn Đường kách mệnh, tập hợp các bài giảng ở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng tư sản Pháp 1789 và Công xã Pari 1871, đã khẳng định rằng: "Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi"1.

Sự nhận thức về sức mạnh của nhân dân, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, có tác dụng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, đòi hỏi sự nỗ lực và đóng góp của toàn dân.

Cuối cùng, một nội dung quan trọng để giáo dục thế hệ trẻ qua chiến thắng Điện Biên Phủ là tính chất và ý nghĩa thời đại của chiến thắng này. Học sinh cần hiểu rõ rằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn là một kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân bị áp bức trong thời đại ngày nay. Nó là "một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn"2.

Qua chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thế hệ trẻ ngày nay cần hiểu rõ rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" kết hợp chặt chẽ với việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế và làm nghĩa vụ quốc tế với các dân tộc anh em đang đấu tranh chống ách đế quốc, áp bức bóc lột. Trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giữ vững đường lối quân sự đúng đắn, thể hiện tinh thần độc lập, tự cường, kết hợp chặt chẽ với sự giúp đỡ mọi mặt của các nước anh em, đặc biệt sự phối hợp chiến trường của nước bạn Lào và Campuchia. Đây là biểu tượng cho việc kết hợp lòng yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao cả, tạo nên sức mạnh to lớn trong thời đại các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đoàn kết với nhau để giành độc lập tự do. Bài học này còn có ý nghĩa khi các dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ xây dựng quốc gia phát triển. Ý nghĩa thời đại của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao, xem đây là "trận Vanmy của các dân tộc da màu"3 (trận Vanmy diễn ra ngày 20-9-1792, quân đội của nước Pháp đã đánh bại liên quân phong kiến châu Âu. Đại thi hào Gớt, lúc bấy giờ đang trong quân đội Phổ, chứng kiến trận đánh Vanmy đã khẳng định rằng: "Tại nơi này, trong ngày hôm ấy, một kỷ nguyên trong lịch sử thế giới bắt đầu. Đây là chiến thắng đầu tiên của các dân tộc đối với bọn vua chúa’’).

Qua chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chúng ta giáo dục cho thế hệ trẻ tinh thần đoàn kết quốc tế, một trong những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết. Nhân dân các nước đấu tranh giành độc lập dân tộc, các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động Pháp và nhiều nước khác đã ủng hộ nhân dân Việt Nam đánh thắng thực dân Pháp. Nhân dân ta chủ yếu bằng sức mạnh của bản thân và sự giúp đỡ của nhân dân thế giới đã hoàn thành vai trò của mình: làm nên Điện Biên Phủ, mở đầu kỷ nguyên vùng dậy của các dân tộc thuộc địa là do lịch sử giao phó. Nhân dân ta đã không phụ sự uỷ thác lịch sử này4.

Việc giáo dục truyền thống dân tộc nói chung, giáo dục truyền thống chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ nói riêng đã được chú trọng; tuy nhiên để nâng cao hiệu quả giáo dục hơn, cần phải bảo đảm một số nguyên tắc cơ bản sau:

- Khai thác nội dung của chiến thắng Điện Biên Phủ, qua những thành tựu khoa học về sự kiện lịch sử này, khắc phục những thiếu sót về giáo dục mang tính công thức, nghèo nàn, có khi gây tác dụng xấu.

- Tìm hiểu đối tượng mà chúng ta giáo dục trong những điều kiện lịch sử hiện nay, khi mà hoàn cảnh sống của họ có nhiều thay đổi. Bên cạnh những mặt tác động tích cực có những ảnh hưởng của những mặt tiêu cực trong xã hội, những âm mưu và hoạt động "diễn biến hoà bình" của những phần tử phá hoại cách mạng trong và ngoài nước. Giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống dân tộc nói chung, về truyền thống Điện Biên Phủ nói riêng, thực chất là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị. Vì vậy, cần có những hình thức phù hợp, có hiệu quả.

- Việc giáo dục truyền thống phải bảo đảm sự tôn trọng thế hệ trẻ, tránh áp đặt, mệnh lệnh. Giáo dục là một hoạt động nhận thức, chỉ có sự nhận thức một cách tự nguyện, tự giác thì kết quả giáo dục mới cao. Việc áp đặt trong giáo dục là biểu hiện của việc thiếu dân chủ, không bình đẳng, thiếu tôn trọng đối tượng được giáo dục.

- Kết hợp giáo dục lý trí với tình cảm; giảo dục tư tưởng, tình cảm gắn với hoạt động thực tiễn, thực hiện nguyên tắc "lý luận đi đôi với thực hành", thống nhất nhận thức với hành động. Trong điều kiện, phạm vi nhất định, tổ chức "những hoạt động theo gương các chiến sĩ Điện Biên Phủ", tạo ra "những Điện Biên Phủ" trong học tập, lao động sản xuất, rèn luyện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, trong đời sống văn hoá - xã hội.

- Chú ý xây dựng lý tưởng, niềm tin, hình thành nghĩa vụ công dân cho các thế hệ, tầng lớp nhân dân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Có nhiều biện pháp để tiến hành giáo dục truyền thống Điện Biên Phủ cho thế hệ trẻ mà chúng ta đã tiến hành, tổng kết và triển khai, chúng tôi xin không trình bày ở đây.

*

*        *

Giáo dục truyền thống dân tộc, cách mạng là yêu cầu quan trọng khi chúng ta vươn vào tương lai. Giáo dục truyền thống Điện Biên Phủ là một công việc thường xuyên được tiến hành trong giáo dục truyền thống dân tộc, cách mạng nói chung. Kết quả giáo dục chỉ đạt được khi dựa trên cơ sở nội dung chính xác, phong phú, tiến hành theo những nguyên tắc sư phạm khoa học và thể hiện trong hoạt động thực tiễn.

Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, việc giáo dục truyền thống cần được đẩy mạnh, làm đà cho việc phát huy mạnh mẽ hơn việc giáo dục truyền thống đân tộc cho các thế hệ trẻ.
____________________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr.274.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr.261.
3. Philippe Moreau Defarfes: Les relations internationales dans le monde d'aujourd' hui, entre Globalisation et Fragmentations 4è édition actualitée et augmentée, Ed. STA, Paris, 1992, p.85.
4. Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 20.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #245 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2022, 09:41:09 pm »


PHẦN THỨ TƯ
DƯ LUẬN QUỐC TẾ VỀ ĐIỆN BIÊN PHỦ

 

KẾ HOẠCH NAVA
1

I- Đường lối quân sự của Pháp đã được xác định trong kế hoạch Nava

Trong cuốn Tấn thảm kịch Đông Dương (Le drame Indochinois), Nxb. Plông (Plon), Pari, 1957, tr. 13-18, Giôdép Lanien viết:

"... Cuối tháng 7-1953, đường lối quân sự của Pháp đã được xác định trong một văn kiện được gọi là "kế hoạch Nava"2.

Trên những nét lớn, nhiệm vụ đó có thể tóm tắt như sau:

1. Giữ thế phòng ngự trong chiến cuộc 1953-1954. Tránh giao chiến với chủ lực của Việt Minh trong thời kỳ này. Bảo đảm an toàn và tăng cường sức mạnh cho quân đội viễn chinh để chuẩn bị cho chiến cuộc 1954-1955.

2. Chuẩn bị để có thể chuyển sang thế tiến công trong chiến cuộc 1954-1955, gây cho chủ lực Việt Minh những thất bại quân sự có thể buộc họ phải đi đến thương lượng hoà giải ...

Để thực hiện, tổ chức lực lượng của kế hoạch dựa trên việc:

“- Thành lập lại những lực lượng dự bị cơ động quan trọng bằng cách thu thập lại những lực lượng bất động trong những nhiệm vụ tĩnh tại, thay thế bằng các đơn vị của các quốc gia liên hiệp, chủ yếu là của Việt Nam.

- Từ mùa Thu năm 1953, gửi viện binh tạm thời lấy trong các lực lượng của khối Liên hiệp Pháp, đặt dưới quyền Bộ Tổng chỉ huy...".

Phương hướng "kế hoạch Nava"

Dựa vào tình hình và khả năng, tướng Nava phác họa một kế hoạch rộng lớn mà theo ông ta nói thì từ trước chưa hề có bao giờ. Trong cuốn Thời điểm của những sự thật của H. Nava, Nxb. Plông, 1979, từ trang 80 đến trang 82 và trang 87-88. Nava viết:

"... Vào mùa Thu hoặc đầu mùa Đông, cũng cần phải dự kiến rằng địch sẽ mở một cuộc tấn công với một quy mô rộng lớn có thể kéo dài với ít nhiều tính chất liên tục cho đến cuối tháng 5-1954, nghĩa là đến mùa mưa tới. Với cuộc tấn công đó, địch muốn giành được, nếu không phải để đi đến quyết định cuối cùng, thì ít nhất cũng để chiếm những căn cứ quân sự và chính trị quan trọng nhất, để rồi nhờ đó giành được đòn quyết định cuối cùng này vào sang năm hoặc hai năm sau. Cuộc tấn công đó, chúng ta phải đỡ lấy bằng những phương tiện kém hơn rất nhiều so với địch.

Trong tương lai xa hơn nữa, nghĩa là trong thời hạn chừng hai năm, với điều kiện tương quan lực lượng cơ động nghiêng về phía ta nhờ đã thành lập được quân đoàn tác chiến, thì đến lượt chúng ta mới có thể tấn công được.

Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch tác chiến tổng quát phải là tư tưởng sau đây:

Trong chiến cuộc 1953-1954: một chiến cuộc được xem như một tình huống nguy hiểm, tránh tổng giao chiến (éviter la bataille générale) với quân đoàn tác chiến địch và xây dựng quân đoàn tác chiến của ta.

Trong chiến cuộc 1954-1955, ngược lại phải tìm lấy tổng giao chiến, một khi quân đoàn tác chiến của ta đã có được một khối lượng và một trình độ huấn luyện cần thiết.

... Ngoài ra, còn có một khái niệm chủ yếu khác nữa là chiến trường Đông Dương chia thành hai miền rõ rệt, nằm ở phía bắc và phía nam vĩ tuyến 18. Ở miền Bắc, Việt Minh có khả năng tập trung những binh lực cơ động lớn hơn ta nhiều vì hầu hết quân đoàn tác chiến của họ đều ở đó. Ngược lại, ở miền Nam, từ Liên khu V trở ra là nơi mà bất cứ lúc nào họ cũng có thể tung ra một sư đoàn chính quy rất mạnh, thì Việt Minh chỉ có lực lượng địa phương thôi.

Do đó, trước mắt, nếu ở miền Bắc ta không thể tấn công chiến lược được vì lực lượng ta yếu, thì ở miền Nam, nơi mà ta có thể giành được một ưu thế binh lực nhất định, ta có thể làm được việc này.

Cuối cùng, yếu tố cơ bản thứ ba là điều kiện khí hậu rất khác nhau tuỳ theo vùng, làm cho khả năng tiến hành chiến dịch lớn hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu. Bố trí lịch trình tác chiến phải hết sức chú ý đến tiền đề đó.

Dựa vào toàn bộ nhận định nói trên, tôi đã vạch ra một kế hoạch tác chiến như sau, tương tự như kế hoạch mà tướng Xalăng đã đề nghị trong dự thảo của ông ta hồi tháng 5-1953:

1. Trong chiến cuộc 1953-1954, giữ thái độ phòng ngự chiến lược ở phía bắc vĩ tuyến 18 và cố tránh tổng giao chiến ở đó. Ngược lại, khi điều kiện có thể, tiến hành tấn công ở phía nam và miền Trung Đông Dương. Đặc biệt tìm cách giải quyết Liên khu V.

2. Một khi đã giành được ưu thế về binh lực cơ động, nghĩa là từ mùa Thu năm 1954 trở đi, sẽ tiến hành tấn công ở phía bắc Đèo Ngang, nhằm mục đích tạo nên một hình thái quân sự cho phép đi đến một giải pháp chính trị của chiến tranh.

... Tóm lại, kế hoạch chung mà tôi đệ trình Chính phủ, theo tôi được biết, đây là kế hoạch đầu tiên, từ khi bắt đầu chiến tranh đến giờ, đã chia thành nhiều kế hoạch khác nhau: kế hoạch chính quốc tăng viện các phương tiện lục chiến, không chiến và hải chiến; kế hoạch chấn chỉnh binh lực; kế hoạch nhổ quân các đơn vị tĩnh tại (bàn thân kế hoạch này phụ thuộc vào một kế hoạch bình định); kế hoạch phát triển các đội quân quốc gia của các nước liên hiệp; tất cả những kế hoạch đó để đi đến một kế hoạch tổ chức quân đoàn tác chiến".
_____________________________________________________
1. Điện Biên Phủ nhìn từ phía bên kia, do Mạc Văn Trọng, Nguyễn Đăng Vinh, Hoàng Thế Dũng sưu tầm và tuyển chọn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1994, tr. 7 - 25.
2. Nava là một tướng trẻ của quân đội Pháp, có tri thức và nhãn quan chiến lược, mặc dầu chưa có tên tuổi và danh vọng như Đờ Lát Đờ Tátxinhi. Sau một thời gian rất ngắn điều tra và nghiên cứu chiến trường, Nava đã phác hoạ ra một kế hoạch chiến lược tương đối hoàn chỉnh nhằm cải biến tình hình chuyển bại thành thắng và trong một thời gian ngắn giành lấy một thắng lợi chiến lược có tính chất quyết định.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #246 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2022, 09:42:33 pm »


Những vấn đề chủ yếu trong "kế hoạch Nava"

a. Bốn điểm chính:

Trong báo Lơ Phigarô (Le Figaro), số ra ngày 1-12-1953, Giôdép Anxốp (Joseph Alsop) tóm tắt bốn điểm chính trong "kế hoạch Nava":

... Tướng Nava đặt một kế hoạch gồm bốn điểm chính:

Thứ nhất: những tiểu đoàn lấy ra của hệ thống chiếm đóng và kiểm soát đã tập trung lại thành binh đoàn cơ động, mặc dù việc tập trung quân đó có gây ra tình thế mỏng yếu của những khu trong đồng bằng.

Thứ hai: binh lực cơ động được tăng cường bởi những đơn vị Việt - Pháp, bây giờ dùng để chiến đấu nhằm phá vỡ thế ổn định của địch. Đó là thượng sách trong mùa Đông này và nếu chiến thuật đó có thể ngăn không cho địch giành được những thắng lợi quan trọng ở từng địa phương thì có thể còn hay hơn.

Thứ ba: nhiệm vụ bình định sẽ trao dần cho "quân đội quốc gia" tuỳ theo sự phát triển của nó về quân số và kinh nghiệm chiến đấu. Làm như vậy là tăng cường thêm lực lượng tấn công chính là các phân đội chuyên nghiệp Pháp và các đơn vị tinh nhuệ nhất của các "quốc gia".

Thứ tư: trong vòng một năm, chúng ta sẽ xây dựng được một lực lượng chiến đấu quan trọng, nó cho phép dự tính đến những hoạt động quy mô như tấn công vùng nhiều ruộng đất còn ở trong tay địch, trong các vùng Thanh Hoá, Vinh, ngoài vùng đồng bằng. Những hoạt động đó, buộc địch phải tung đại bộ phận chủ lực ra đối phó. Bằng cách tiêu diệt các sư đoàn chủ lực và tất nhiên không còn gì có thể ngăn trở những cuộc càn quét từng địa phương nữa và như thế, chiến tranh coi như đã thắng lợi ba phần tư rồi".

b. Làm cho quân đội viễn chinh cơ động và tấn công:

Báo Cờlima (Climats) từ ngày 16 đến ngày 27-7-1953, đưa tin:

"Tướng Nava chú trọng trước tiên đến việc thay đổi chiến thuật: Phải làm cho quân đội viễn chinh tăng tính cơ dộng và tính tấn công để ứng phó với trận đánh khó tránh khỏi vào tháng 10. Tướng Tổng Chỉ huy xuất phát từ một nguyên tắc rất đơn giản: muốn đánh trận phải tập trung binh lực. Tập trung binh lực không có nghĩa là dồn các đơn vị sát cánh lại với nhau, mà là tập trung mọi sự cố gắng vào một mục tiêu.

Phân tán lực lượng là nguồn gốc của mọi sự thất bại.

Từ nguyên tắc trên, rút ra ba hệ quả:

1. Mỗi cứ điểm chỉ có lý do tồn tại, nếu nó có tác dụng trong chiến đấu chung. Nếu nó không phục vụ gì cho mục đích chung thì nó tất trở thành vô dụng: nó là một cứ điểm mù quáng bất lực và cồng kềnh. Tóm lại, một cứ điểm muốn có một tác dụng hữu ích, cần phải có một lực lượng cần thiết. Ví dụ, cứ điểm Nà Sản. Ngày 2-12-1952, Nà Sản đã chống giữ thắng lợi. Nhưng vì thiếu lực lượng, nên Xalăng không khuếch trương được kết quả. Nà Sản không ngăn chặn được hoặc không cản trở được mũi tấn công của Việt Minh sang Sầm Nưa. Trái lại, Lai Châu thì chẳng có chút lợi ích nào, vì nó ở quá xa các đường hành quân của Việt Minh.

2. Bỏ những "bốt" mù quáng, không cần có những đoàn xe hay những lực lượng tuần tiễu cố định, nó chỉ là những mục tiêu ngon ăn cho Việt Minh.

3. Không tự giam trong những "bốt" phòng ngự, mà phải được đánh Việt Minh ở bất cứ nơi nào họ đến. Người ta lấy làm lạ là chiến tranh cứ như thời trung cổ, theo kiểu giờ cố định. Quân ta ngừng chiến đấu vào sáu giờ chiều, rồi lại tiếp tục đánh vào bảy giờ sáng, còn đêm thì dành cho Việt Minh. Kiểu đánh nhau như các ông tướng trung cổ đó lạc hậu rồi. Phải tiến công dồn dập vào các căn cứ của Việt Minh bằng những đội biệt kích".

c. Giành chủ động:

Nava chú trọng giành lại thế chủ động đã mất ở chiến trường Bắc Bộ. Trong Thư kêu gọi binh sĩ ngày 20-9-1953, Nava viết:

"... Năm nay, 1953, trước khi chiến dịch mở màn... tôi báo các người phải ra tay trước, phải hành động hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận. Khẩu hiệu là giành quyền chủ động!

Quyền chủ động, chúng ta phải chinh phục nó, phải giành giật với Việt Minh trên mọi địa hạt. Giành được nó rồi, còn phải giữ vững lấy nó nữa...

... Ở cấp bậc tôi, tôi sẽ nắm quyền chủ động bằng cách ném ra những cuộc hành binh điều động tất cả các lực lượng dự bị ở địa phương, theo nguyên tắc mau lẹ và kịp thời.

... Ở cấp bậc dưới, bất kỳ lúc nào các người cũng phải hành động liên tục không ngừng, hình thức phải linh hoạt, luôn luôn thay đổi, có tính tấn công. Cho đến khi Việt Minh cảm thấy thật sự bị săn đuổi, khi các người đả kích đối phương bằng vận động di chuyển hơn là bằng hoả lực pháo binh, lúc đó các người mới nắm được chủ động.

Nắm được quyền chủ động tương đối dễ, nhưng muốn giữ vững được nó thì phải luôn luôn cố gắng vì đối phương sẽ huy động mọi phương tiện của họ để giành giật lại.

Sang thời kỳ thứ hai, nghĩa là suốt cả mùa khô 1953-1954, sẽ mở những chiến dịch to lớn, hoặc nhằm ngăn chặn cuộc tấn công của địch dự kiến có thể xảy ra vào quãng tháng 10, tháng 11, hoặc nhằm đánh chiếm những vùng đất đai của Việt Minh nằm ở phía nam Đèo Ngang. Bản thân thời kỳ này lại chia ra làm hai giai đoạn:

Trong giai đoạn thứ nhất (Thu Đông 1953-1964) chúng ta phải:

- Một mặt bắt đầu từ nửa tháng 9 trở đi, tập trung vận chuyển lớn ở Bắc Bộ nhằm ngăn chặn cuộc tấn công của địch và để có thể, tuỳ theo thái độ của Việt Minh, chiến đấu hoặc trong đồng bằng hoặc ở ngoại tuyến.

- Mặt khác, phải phòng bị ở miền Trung Đông Dương và nhất là phải phòng bị chống mọi hoạt động của các lực lượng Việt Minh ở Liên khu V, thọc qua Tây Nguyên, đánh về hướng sông Mê Công (Hạ Lào và Cao Miên).

Sang giai đoạn thứ hai (Xuân Hè 1954) chúng ta phải cố gắng như kế hoạch đã dự định, thanh toán lực lượng Việt Minh ở phía nam vĩ tuyến 18, nơi mà chiến dịch có thể kéo dài đến tháng 9, vì điều kiện thời tiết.

Đặc biệt chúng ta cần phải cố gắng:

- Đánh chiếm Liên khu V.

- Chiếm lấy vùng bên kia sông Bátxắc (Nam Việt Nam).

- Tảo thanh lần cuối cùng vùng phía bắc của miền Trung Việt Nam".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #247 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2022, 09:44:53 pm »


Bước đầu "thành công" tốt đẹp

Đánh giá hoạt động thời kỳ trước chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, tướng Catơru, Chủ tịch Hội đồng điều tra nguyên nhân và trách nhiệm trong trận chiến đấu thất bại ở Điện Biên Phủ của Chính phủ Pháp, trong cuốn Hai màn của tấn bi kịch Đông Dương, Nxb. Plông, Pari. 1959, tr. 150 - 152, nhận xét:

"Tổng Chỉ huy Pháp (tức là tướng Nava - N.D) khi tính toán đến những khả năng tác chiến của tướng Giáp sẽ xảy ra sau mùa mưa, đã dự kiến rằng tướng Giáp có thể sẽ phát động một cuộc tấn công mạnh mẽ hoặc vào đồng bằng Bắc Bộ, hoặc vào Thượng Lào, hoặc vào Trung Lào và miền Trung Trung Bộ. Vì vậy, trong mùa Hè, ông ta đã chuẩn bị đối phó bằng những cuộc hành quân lẻ tẻ, nhằm mục đích hoặc để tảo thanh một số vùng như Thượng Lào và xứ Thái hay những khu duyên hải Trung Bộ, hoặc để tổ chức đối phó lại những cuộc tấn công mà địch có thể đánh vào đồng bằng Bắc Bộ, Hạ Lào và Trung Mê Công.

Chính trong khuôn khổ hoạt động hạn chế đó, ông ta đã thành công rực rỡ với chiến dịch nhảy dù Lạng Sơn, với cuộc rút lui khéo léo của con "nhím" (hérisson) Nà Sản, vật kỷ niệm của người đi trước ông ta để lại. Đồng thời và cũng nhằm những mục đích đó, tướng Nava đã chú ý phát triển khối lượng binh lực ứng chiến cơ động của mình.

Đến cuối tháng 9, ông ta phát hiện rõ ràng tướng Giáp dự định một cuộc tấn công tập trung vào đồng bằng Bắc Bộ, nhằm cắt đứt Hà Nội với Hải Phòng, bằng hai binh đoàn đang đóng ở phía nam đồng bằng (các Sư đoàn1 bộ binh 304, 316, 320) và ở phía bắc đồng bằng (các Sư đoàn bộ binh 308, 312 và Sư đoàn trọng pháo 351 cộng thêm hai trung đoàn độc lập).

Trong giai đoạn đầu, Sư đoàn bộ binh 320, được các trung đoàn chính quy đã bố trí sẵn ở đó yểm hộ sẽ thâm nhập vào tuyến trục Phủ Nho Quan, Hưng Yên, Hải Dương. Sang giai đoạn thứ hai, cả hai binh đoàn cơ động có thể tiến hành tổng công kích.

Nắm được ý định của địch, tướng Nava chuẩn bị đánh bại họ. Để đạt được mục đích đó, ông ta tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ từ ngày 10-9 đến ngày 20-10 một khối lượng gồm tám trung đoàn cơ động, hai trung đoàn thiết giáp và hai trung đoàn xe lội nước, đồng thời cho càn quét các khu căn cứ Việt Minh đã được chuẩn bị trong lòng đồng bằng đó để phục vụ cho các sư đoàn tấn công. Sau đó, sang tháng 10, tiến hành Chiến dịch Hải Âu (Mouette) đánh vào Sư đoàn bộ binh 320, với mục đích ngăn ngừa cuộc tấn công của nó bằng cách làm cho nó xộc xệch, đồng thời kiềm chế tại chỗ Sư đoàn bộ binh 304 bằng cách đổ bộ nghi binh vào vùng Thanh Hoá.

Những chiến dịch đó, chính xác và tiến hành theo tư tưởng phòng ngự tích cực đề ra trong kế hoạch của tướng Nava đã loại Sư đoàn 320 ra khỏi vòng chiến đấu trong vài tuần lễ. Những chiến dịch đó đã buộc tướng Giáp phải hoãn cuộc tấn công vào đồng bằng Bắc Bộ và còn có thể buộc ông ngừng cuộc tấn công đó để sử dụng nó vào một chiến trường khác, chiến trường Tây Bắc, nơi quân đoàn tác chiến của ông sắp xuất hiện.

Điều không đáng nghi ngờ gì cả là trong giai đoạn đầu của chiến dịch mùa Thu, tướng Nava đã hành động khéo léo, làm chủ được tình thế, gây thiệt hại cho địch, tránh đụng với binh lực lớn Việt Minh, giữ gìn nguyên vẹn quân viễn chinh và lấy thắng lợi để củng cố tinh thần của nó".


Vui mừng quá sớm

Trước những "thắng lợi bước đầu" của tướng Nava, dư luận trong các giới chính trị hiếu chiến ở Pháp sôi nổi ca tụng tướng Nava. Trong cuộc tranh luận về vấn đề Đông Dương ngày 27 và ngày 28-10-1953, ở Quốc hội Pháp, Thủ tướng Lanien rất lạc quan. Sau này báo Nước Pháp mới, ngày 8-5-1954, thuật lại lời tuyên bố của Lanien như sau:

"Bộ Chỉ huy đã chỉnh đốn lại hệ thống phòng ngự chiến lược, do đó đã cho phép thành lập lại một đội quân chiến đấu cơ động. Như vậy, Bộ Chỉ huy đã có thể vừa tăng nhanh sự cố gắng bình định đồng bằng, vừa tiến hành những hoạt động tấn công. Tôi nghĩ rằng, chúng ta có thể duy trì tính chủ động của các cuộc hành quân quy mô lớn và cải thiện nhanh chóng tình hình cho đến lúc mà các quân đội quốc gia đạt tới một sự phát triển đủ sức để làm cho tác dụng của chúng có hiệu quả hơn trong cuộc giao chiến quan trọng có thể tiến hành được, tôi sẽ không có một lời tuyến bố dại dột nào. Tuy nhiên, tôi cũng phải nói rằng, tính chất bi quan của một số bài báo là không đúng và xuyên tạc. Lực lượng của chúng ta đang trên đà phát triển về người và trang bị, còn lực lượng Việt Minh thì có vẻ không còn ở vào đỉnh cao của nó nữa".

Trong cuốn Tấn thảm kịch Đông Dương, tr.26, Thủ tướng Pháp Lanien đặt rất nhiều hy vọng vào tướng Nava, ông viết:

"Trong vòng hai tháng, chúng ta đã làm hồi phục lòng tin tưởng của các nước liên hiệp, xác định những mục đích của cuộc chiến tranh, định rõ phương châm tác chiến, giải quyết những vấn đề vật chất và tài chính mà nó đòi hỏi. Kế hoạch Nava chẳng những được các thành viên của Chính phủ mà cả những người bạn Mỹ của chúng ta tán thành. Nó cho phép hy vọng mọi điều".

Tướng Nava hí hửng. Trong cuốn Thời điểm của những sự thật, tr.157, Nava viết:

"Tất cả những chiến dịch đó, cộng thêm nhiều chiến dịch nhỏ khác đã mang lại cho chúng ta những thuận lợi lớn lao về tinh thần. Nó làm cho quân đội ta tin tưởng ở mình, trong khi nhiều đơn vị của ta trước đó đã thiếu tin tưởng. Nó động viên tinh thần của các nhà lãnh đạo các nước liên hiệp. Nó làm cho Việt Minh rất lo lắng".

Nava còn cho biết (sách đã dẫn, tr.158), trong lúc hội đàm với các chính khách, Nava đã tự đắc và dí dỏm nói:

"... Các món khai vị đã ăn xong, nhưng còn bữa ăn chính..."
________________________________________________________
1. Lúc bấy giờ ta gọi là đại đoàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #248 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2022, 09:45:45 pm »


Tướng Nava bắt đầu hành động

Ngay từ khi mới sang nhậm chức chính thức ngày 28-5-1953 (được bổ nhiệm từ ngày 8-5-1953). Nava bắt đầu thực hiện kế hoạch.

Trong cuốn Thời điểm của những sự thật, tr. 154-155, Nava viết:

"... Kế hoạch tác chiến đã đề ra là giữ một thái độ phòng ngự chiến lược ở phía bắc vĩ tuyến 18 và một thái độ tấn công chiến lược ở phía nam vĩ tuyến đó.

Về mặt thực hiện, một số thời kỳ đã được vạch ra.

Trong thời kỳ đầu, từ mùa Hè đến đầu mùa Thu năm 1953, sẽ tiến hành những hoạt động để vừa làm cho quân ta có được tính cơ động chiến thuật và mạnh hơn địch, vừa tiến hành vững chắc công tác bình định trong những vùng mà chúng ta đã kiểm soát, vừa tạo cho chúng ta điều kiện thuận lợi để giải nguy cho một vài chiến trường thứ yếu. Lịch trình tác chiến được vạch ra dự định tiến hành những hoạt động tảo thanh ở đồng bằng, ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, cũng như mở những chiến dịch cục bộ ở xử Thái và ở Lào, để một mặt làm cho địch phải lo đối phó ở hậu phương, mặt khác, cải thiện tình hình ở Luông Prabăng và ở Cánh Đồng Chum.


Từ chủ quan đến sửng sốt

Sau Chiến dịch Hải Âu, trong Thư gửi cho binh sĩ ngày 7-11-1953, tướng Nava viết:

"Trong thư trước tôi có ý định sẽ mở chiến dịch lớn vào thời cơ mà tại địa điểm tôi lựa chọn.

Chiến dịch Hải Âu kết thúc hôm nay là đòn đầu tiên đánh địch. Chiến dịch này nằm trong kế hoạch chung mà tất cả các người đều có nhiệm vụ thực hiện, dù ở địa vị nào. Các người cần biết ý niệm, mục tiêu và kết quả của chiến dịch này. Sau đây tôi sẽ nói sự mong chờ ở các người về đợt chiến đấu sau này.

Đã hai năm nay, Sư đoàn Việt Minh 320 chuyển chiến thuật luồn vào đồng bằng do ta kiểm soát. Hằng năm cứ đến tháng 10, sư đoàn này kích thích tinh thần và tăng viện cho địa phương quân gây cho ta những thiệt hại có lúc khá lớn trên các đường giao thông, hoặc ở các đồn bốt. Năm nay, sư đoàn này chuẩn bị rất kỹ lưỡng một trận đánh thật ra trò, bởi vì theo ý định của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Minh, phải là trận mở đầu cho "chiến dịch giải phóng". Ngày 15-10, trước ngày sư đoàn này vào đồng bằng, quân ta bất thần đột nhập khu vực xuất phát của họ ở hai bên đường hàng tỉnh số 59 từ Chợ Ghềnh đến Phủ Nho Quan, buộc sư đoàn đó phải phòng ngự không có chuẩn bị.

Trước hết, ý định của ta là giam chân sư đoàn đó lại để ta tranh thủ thời gian có lợi (vì thời gian làm lợi cho chúng ta và Việt Minh biết rất rõ điều đó hơn ai hết). Mục tiêu là phá căn cứ xuất phát, phá hoặc buộc sư đoàn đó phải di chuyển các kho tiếp tế và chỗ trú quân... Căn cứ xuất phát đã bị phá hoàn toàn và các kho tàng chưa bị phá huỷ đều phải di chuyển đi xa. Phải trải qua nhiều tuần lễ Sư đoàn 320 mới có thể trở lại thế chiến đấu được...".

Nhưng sau lời lẽ huênh hoang đó, trong sách đã dẫn, tr.161, Nava viết:

"Bắt đầu từ những ngày cuối tháng 10, bỗng nhiên chúng tôi nhận được một số tin tức cho hay: Bộ Tư lệnh Việt Minh đã hoàn toàn thay đổi kế hoạch hoạt động.

Cuộc công kích đồng bằng - ít ra cũng là tạm thời - đã bị vứt bỏ và chúng tôi thấy hình thành hai mũi hoạt động khác hướng: một mũi hình như là quan trọng nhất, hướng về vùng thượng du Bắc Bộ và Thượng Lào, còn mũi kia thì hướng về Trung Đông Dương, trong khi đó lại xuất hiện những triệu chứng lực lượng Liên khu V đang chuẩn bị tấn công vào vùng Tây Nguyên...".


Nava băn khoăn: tấn bi kịch Điện Biên Phủ bắt đầu

Trong sách đã dẫn, tr. 161 – 164, Nava nhận định:

"Vì nguyên nhân nào kế hoạch đó có những sự thay đổi? Việc chúng ta tăng cường binh lực ở đồng bằng và đánh bại (!) Sư đoàn 320 chắc chắn là một trong những nguyên nhân, nhưng chưa đủ để giải thích toàn bộ vấn đề.

... Lý do chủ yếu là do chính trị.

Có thể nhận thấy điều đó qua các lời tuyên bố của Hồ Chí Minh với tờ báo Thuỵ Điển Expressen hồi tháng 11-1953, những lời tuyên bố đó chắc chắn đã được cân nhắc từ lâu rồi và đã thể hiện rõ ràng quyết tâm của Việt Minh là muốn nhanh chóng giải quyết chiến tranh bằng những biện pháp chính trị.

... Việt Minh muốn tìm "một bản đồ hình thái chiến tranh" làm cơ sở về sau cho mọi quyết định của họ. Về mật này, chúng tôi đã có những tin tức xác thực.

Tấm bản đồ hình thái chiến tranh thuận lợi đó, Việt Minh chỉ có thể giành được rất khó khăn bằng cách tấn công vào đồng bằng, trừ phi họ chịu trả một giá rất đắt để đạt được một thắng lợi có tính chất quyết định, chẳng hạn như việc chiếm Hà Nội hoặc Hải Phòng. Ngược lại, Việt Minh có thể tuỳ ý đạt được bản đồ hình thái chiến tranh thuận lợi ấy bằng cách đánh chiếm những vùng rộng lớn không người và rất khó phòng thủ đối với chúng ta như vùng thượng du Bắc Bộ, Lào hoặc Tây Nguyên...

... Đứng về phương diện chiến tranh, nếu việc thay đổi kế hoạch của Việt Minh đã xoá bỏ được nguy cơ tấn công vào đồng bằng thì đồng thời nó cũng đặt chúng ta trước một vấn đề không kém phần khó khăn...

Để chống lại kế hoạch của Việt Minh, có thể vận dụng hai phương pháp mà một đường lối chiến lược dựa trên cơ sở có sẵn những phương tiện đầy đủ mới cho phép thực hiện cùng một lúc được.

Phương pháp đầu tiên là phương pháp phòng ngự trực tiếp (défense directe) nghĩa là ngăn từng mũi tấn công với những binh lực đầy đủ để chặn đứng và đánh bại địch...

... Phương pháp thứ hai là phương pháp phòng ngự gián tiếp (défense indirecte), nghĩa là nắm lấy binh lực của ta đã được tập trung ở đồng bằng tấn công vào hậu phương địch..."


Hạ lệnh nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ, Nava phân tán binh lực

Sau khi nhận định tình hình, trong sách đã dẫn, tr.169, Nava viết tiếp:

"... Để củng cố được vững chắc hơn nữa và bảo vệ hiệu quả vùng Thượng Lào, chúng tôi đã dự kiến, trong mùa Hè, sau khi đã rút khỏi Nà Sản, tiến hành một chiến dịch nhằm mục đích kiểm soát lại vùng Điện Biên Phủ là một vùng có tầm quan trọng bậc nhất về chiến lược. Nhưng do thiếu binh lực nên chúng tôi phải hoãn lại...

... Tôi quyết định gấp rút tiến hành chiến dịch đã dự định, chiếm lấy Điện Biên Phủ để ngăn chặn quân đoàn tác chiến của địch tại đây".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12100



« Trả lời #249 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2022, 09:51:46 pm »


TẠI SAO NAVA LẠI CHỌN ĐIỆN BIÊN PHỦ?1


I- TỔ CHỨC TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC Ở ĐÂU? KHÔNG THỂ THIẾT LẬP "CON NHÍM" Ở LUÔNG PRABĂNG HAY VIÊNG CHĂN ĐƯỢC! PHẢI CHỌN ĐIỆN BIÊN PHỦ Ở NGÃ TƯ CHIẾN LƯỢC

Trong sách đã dẫn, tr. 191-194. Hăngri Nava viết:

"... Bảo vệ nước Lào mà chỉ dựa vào Luông Prabăng và Viêng Chăn, nhìn qua cũng thấy rõ đó là những giải pháp không vững vàng tý nào cả.

Đứng về chính trị mà xét, như thế chẳng khác gì bảo vệ nước Pháp ở Pari và Oóclêăng (Orléans). Thật ra Luông Prabăng có tầm quan trọng rất lớn về chính trị, nhưng Viêng Chăn chỉ là một thủ đô hành chính đơn thuần, không có một ý nghĩa chính trị nào cả. Do đó, tác chiến để bảo vệ Luông Prabăng có lợi hơn nhiều về chính trị mà tác chiến bảo vệ Viêng Chăn thì chẳng có lợi gì cả. Thà rằng ta rút khỏi toàn bộ Thượng Lào còn hơn.

Về quân sự mà nói, cả hai thủ đô đó của nước Lào đều không có thể phòng ngự được trong những điều kiện thuận lợi, bằng đường bộ cũng như bằng đường hàng không. Luông Prabăng nằm trong một cái hốc bị uy hiếp nặng tứ phía, bốn mùa máy bay bay đến rất khó. Còn Viêng Chăn, có thể phòng ngự đường bộ dễ dàng hơn với điều kiện phải phát quang rất nhiều cây cối. Hơn nữa, các sân bay của hai thủ đô cách xa thành phố quá, đến nỗi không thể nào gộp cả thành phố và sân bay của nó vào trong một tập đoàn cứ điểm mà không phải bỏ ra rất nhiều binh lực để phòng ngự. Một điểm cuối cùng là các sân bay của đồng bằng ở quá xa.

Có giả định rằng, sau khi đã phải dùng rất nhiều binh lực, chúng ta có thể bảo vệ tương đối vững vàng Luông Prabăng và Viêng Chăn buộc địch không thể tấn công chính diện vào các nơi đó, thì các binh lính đồn trú của ta cũng sẽ mau chóng bị bao vây ở đó. Chúng ta không thể ngăn chặn được Việt Minh đánh chiếm những vùng đất đai lân cận và xuất hiện ở biên giới Thái Lan ngay gần đấy, đó là một mục tiêu chính trị của họ.

Mục tiêu chính trị đó, nếu quân địch không muốn chiến đấu thì chúng vẫn có thể đạt được mà chẳng cần phải mang toàn bộ binh đoàn tác chiến của chúng sang. Chúng sẽ nắm lấy một bộ phận sinh lực khá lớn của chúng để hành động hoặc ở đồng bằng hoặc để tăng cường cho các mũi tấn công ở trung Đông Dương. Như thế thì chiến cục 1954 sẽ chứng kiến hai sự kiện: Thượng Lào chắc chắn sẽ bị mất hoặc là sẽ xảy ra một trận giao chiến ở đồng bằng tiến hành với một tương quan lực lượng vô cùng bất lợi cho ta đến nỗi có thể chúng ta sẽ gặp phải những thất bại rất nặng nề hoặc là Việt Minh sẽ tăng cường tấn công một cách rất nguy hiểm về phía nam bằng cách thọc qua Trung Lào.

Muốn chặn quân địch không cần chiến đấu mà tiến tới sông Mê Công và không cho chúng có lực lượng rảnh tay để gây nguy hại cho ta ở nơi khác thì chỉ có một giải pháp duy nhất: ngăn chặn đường tiến quân của chúng bằng một tập đoàn cứ điểm, tập đoàn cứ điểm đó được thiết lập ở một vị trí sao cho Việt Minh trước khi tiếp tục tiến quân thì hoặc chúng bắt buộc phải đi vòng qua tập đoàn cứ điểm đó bằng cách bao vây lấy nó bằng những binh lực rất lớn hoặc phải tấn công vào tập đoàn cứ điểm đó...".


Tính toán lợi hại của Nava trong việc chiếm đóng Điện Biên Phủ khá chu đáo

a. Chiếm đóng Điện Biên Phủ, quân đội viễn chinh Pháp có nhiều thuận lợi:

Trong sách đã dẫn, tr. 194-196, Hăngri Nava viết (các đề mục do chúng tôi thêm vào):

+ Điện Biên Phủ có nhiều lúa gạo:

"... Lúa gạo ở đó rất thừa thãi và có thể bảo đảm nuôi dưỡng trong nhiều tháng từ 20.000 đến 25.000 người...’’.

+ Sân bay tốt:

"... Sân bay có thể mở rộng ra rất nhiều và có thể tăng lên gấp hai hoặc gấp ba lần một cách dễ dàng...

... Dù sao đi nữa, sự yểm hộ của không quân trong một trận giao chiến ở Điện Biên Phủ còn tốt hơn nhiều so với sự yểm hộ của nó trong một trận giao chiến ở Luông Prabăng hoặc ở Viêng Chăn.

... Xét về phương diện chiến thuật thì những điều kiện phòng ngự, Điện Biên Phủ cũng tương tự như những điều kiện của tất cả các tập đoàn cứ điểm được thiết lập ở vùng rừng núi xung quanh một sân bay. Trận địa sẽ nằm trong lòng chảo. Không thể nào khác được bởi vì chúng ta còn chưa tìm được cách xây dựng những sân bay trên những đỉnh núi cao...

... Các đỉnh núi cao khống chế đồng bằng Điện Biên Phủ ở cách sân bay, nơi mà xung quanh sẽ thiết lập tập đoàn cứ điểm, từ 10 đến 12 km. Cự ly đó lớn hơn tầm bắn có hiệu quả của pháo binh địch, nếu chúng bắn phá bất ngờ. Và pháo binh địch chỉ có thể chiếm lĩnh trận địa ở những sườn núi trông xuống lòng chảo. Pháo phòng không nếu muốn phong toả không phận trên sân bay thì cũng phải bố trí như vậy. Theo ý kiến của tất cả các nhà pháo binh, điều đó không thể làm được, vì những khẩu đội pháo đó sẽ bị các đài quan sát đặt trong lòng chảo phát hiện hoặc trong lúc chúng đang chiếm lĩnh trận địa, hoặc khi chúng phát hỏa. Chúng sẽ bị bịt "mồm" ngay bởi pháo binh của ta phản pháo và không quân ta oanh tạc...".

+ Xe tăng hoạt động tốt:

"... Thung lũng Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng nhất của toàn bộ vùng thượng du Bắc Bộ. Đáy thung lũng là một dải đồng bằng dài 16 km, rộng 9 km bằng phẳng và trống trải, do đó sử dụng thiết giáp thì rất thuận lợi...

... Trừ những điều bất lợi sẵn có của các tập đoàn cứ điểm ở vùng thượng du. Nói chung vị trí Điện Biên Phủ có thể coi là vừa ý được..."
_____________________________________________________
1. Điện Biên Phủ nhìn từ phía bên kia, do Mạc Văn Trọng, Nguyễn Đăng Vinh, Hoàng Thế Dũng sưu tầm và tuyển chọn, Nxb. Quân đội nhấn dân, Hà Nội, 1994, tr. 26 - 35.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM