Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Sáu, 2022, 05:51:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 5737 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #170 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2022, 07:15:14 pm »


Thưa đồng bào và chiến sĩ yêu quý,

Chúng ta kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trong tình hình thế giới đầy biến động. Chủ nghĩa bá quyền và cường quyền quốc tế cũng như chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đe doạ nhiều nơi trên thế giới. Các lực lượng cách mạng đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và an ninh của các dân tộc đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.

Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tạo ra những biến đổi về chất chưa từng có trong phát triển lực lượng sản xuất tác động sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho nước ta mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của nhân loại để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, xu hướng đó cũng đặt ra nhiều vấn đề mới trong việc lựa chọn giải pháp phát triển và bảo vệ độc lập chủ quyền, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Tình hình mới, bối cảnh mới đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải phát huy cao độ nội lực, tạo dựng thời cơ, vượt lên thách thức, sáng tạo các biện pháp hữu hiệu để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các thế hệ con em Việt Nam hôm nay và mai sau nguyện phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, lập nên những kỳ tích mới, những Điện Biên Phủ mới trong cuộc chiến đẩy lùi nghèo nàn, lạc hậu, chấn hưng đất nước, xây dựng non sông "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như mong ước của Bác Hồ kính yêu và của các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Dân tộc Việt Nam đang tiến tới tương lai với bề dày lịch sử hàng ngàn năm và thành tựu của gần 60 năm xây dựng chế độ mới. Tư thế của chúng ta là tư thế của những người làm chủ vận mệnh của mình. Thời cơ lịch sử của sự phát triển đất nước đang nằm trong tay chúng ta. Một dân tộc từng làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đại thắng mùa Xuân 1975, từng đánh thắng hai đế quốc to của thế kỷ XX, nhất định sẽ có đầy đủ tinh thần và lực lượng, sức mạnh và tài năng đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên văn minh hiện đại.

Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta càng tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà cách mạng và danh nhân văn hoá của thế giới trong thế kỷ XX, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người làm rạng rỡ non sông đất nước ta.

Chúng ta tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, một đảng Mác - Lênin chân chính, đã vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi sóng to, gió cả đến bến bờ vinh quang. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ lãnh đạo của thời kỳ mới, sáng suốt đưa dân tộc đi tới tương lai. Chúng ta ra sức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính trong sạch, lành mạnh, có hiệu lực.

Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta càng tự hào về các lực lượng vũ trang nhân dân, về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đạo quân cách mạng, bách chiến bách thắng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, đạo quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Tập trung xây dựng đất nước, nhưng chúng ta không lơi lỏng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta ra sức xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lãnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Uống nước nhớ nguồn, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta càng ra sức chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần anh chị em thương binh, bệnh binh, cựu chiến binh, thanh niên xung phong, dân công, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước; chăm lo phát triển kinh tế - xã hội và đời sống đồng bào ở các vùng căn cứ cách mạng trước đây.

Chúng ta mãi mãi biết ơn Lào, Campuchia, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào chống chiến tranh, chống chủ nghĩa thực dân của nhân dân Pháp và bầu bạn khắp năm châu đã chí tình ủng hộ và giúp đỡ nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay. Nhân dân Việt Nam nguyện mãi mãi là người bạn chân thành và thuỷ chung của các nước láng giềng, của các quốc gia độc lập dân tộc và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Chúng ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân cả nước đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra, cũng như yêu cầu, nhiệm vụ nửa cuối nhiệm kỳ Đại hội mà Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương đã xác định. Mọi người Việt Nam, già, trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, thành phần xã hội, đồng bào trong nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài, mang trong mình tình cảm yêu nước thiết tha và khát khao cống hiến, hãy chung sức, chung lòng phấn đấu vì sự phồn vinh của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự bền vững của giang sơn gấm vóc.

Tương lai đất nước đang chờ đón chúng ta. Hạnh phúc do chính chúng ta xây dựng và giữ gìn. Thế nước đang lên, cả nước một lòng. Phát huy truyền thống và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, lập công xuất sắc, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tinh thần Điện Biên Phủ bất diệt!
Dân tộc Việt Nam anh hùng muôn năm!
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
Đảng Cộng sản Việt Narn quang vinh muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #171 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2022, 10:46:00 pm »


ĐƯỜNG LỐI CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐÁNH BẠI ÂM MƯU CHIẾN LƯỢC
CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ
1



Đại tướng LÊ ĐỨC ANH

Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử; diễn tiến và những bài học của nó đã ghi đậm vào trang sử của hai quốc gia: Pháp và Việt Nam.

Tôi được biết, cuối tháng 11-2003 vừa qua, người Pháp đã mở đầu cuộc kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ bằng việc tổ chức tại thủ đô Pari một cuộc hội thảo khoa học lớn có nhan đề: 1954-2004: Trận Điện Biên Phủ, giữa lịch sử và ký ức do Trường Đại học Pari 1 Păngtêông - Xoócbon và Trung tâm nghiên cứu lịch sử quốc phòng Bộ Quốc phòng Cộng hoà Pháp phối hợp tổ chức, có hơn 300 nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử chiến tranh và các cựu chiến binh Pháp đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ tới dự. Tại cuộc hội thảo khoa học này, nhiều người đã nói rằng, sở dĩ Pháp thua trận ở Đông Dương là do phía Pháp có ba sai lầm:

Một là, do tướng Nava kém.

Hai là, do nội bộ Chính phủ Pháp lúc đó lục đục.

Ba là, do Pháp phải phân tán lực lượng và tiền bạc - vừa phải cho chiến tranh lạnh vừa phải cho chiến tranh nóng ở Đông Dương.

Chúng ta nên nhìn nhận những ý kiến này như thế nào?

Trước hết, kể từ khi quân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh tái chiếm Việt Nam - tháng 9-1945, đến khi kết thúc chiến tranh - tháng 7-1954, Chính phủ thực dân Pháp đã lần lượt cử bảy cao uỷ và tám tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Đây là những tướng lĩnh tài ba có tiếng của quân đội Pháp lúc bấy giờ. Đầu tháng 5-1953, Hăngri Nava - viên tướng tài năng đang giữ chức Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh lục quân Trung Âu thuộc khối Bắc Đại Tây Dương, được Thủ tướng R. Mayơ gọi từ Tây Đức trở về Pari để sang Đông Dương thay cho tướng Xalăng làm Tổng Chỉ huy. Như vậy không thể nói Nava là vị tướng "kém". Hơn nữa, trước khi thảo ra bản kế hoạch Nava, viên Tổng Chỉ huy này đã bay sang Đông Dương thị sát rất kỹ tình hình mọi mặt của chiến trường. Sau khi lấy ý kiến của Hội đồng các Tham mưu trưởng và một số nhân vật quan trọng trong nội các, ngày 24-7-1953, Nava đã trình bày và thông qua bản kế hoạch trước Hội đồng Quốc phòng. Tham dự có: Thủ tướng Lanien, Phó Thủ tướng Râynô, Bộ trưởng Quốc phòng Plêven, Ngoại trưởng Biđôn, Quốc vụ khanh phụ trách vấn đề thuộc địa M.Giắckê; các bộ trưởng: Tài chính, Tư pháp, Lục quân, Hải quân, Không quân, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và Tham mưu trưởng ba quân chủng. Đặc biệt, kế hoạch của Nava đã được Chính phủ Mỹ quan tâm và thông qua. Trong chiến tranh Đông Dương, Pháp đã lần lượt cho ra đời năm bản kế hoạch, trong đó kế hoạch Nava là bản thứ năm - bản cuối cùng. Như vậy, có thể nói đây là sản phẩm trí tuệ của cả bộ máy chiến tranh của Pháp và can thiệp Mỹ, chứ không còn là tác phẩm của riêng Nava nữa. Ngày 22-10-1953, trên diễn đàn Quốc hội Pháp, Thủ tướng Lanien nói: "Kế hoạch Nava chẳng những được Chính phủ Pháp mà cả những người bạn Mỹ cũng tán thành. Nó cho phép hy vọng đủ mọi điều". Lời nói này đã thú nhận điều đó.

Hai là, do nội bộ chính quyền Pháp lục đục, lý do này có phần đúng. "Có phần" thôi vì không phải từ chỗ nội bộ lục đục nên dẫn đến thua, mà ngược lại, vì sa lầy, bế tắc, thất bại liên tiếp trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương là một trong những yếu tố nặng cân dẫn đến sự lục đục bất đồng chính trong chính giới Pháp. Đồng thời, bên chính quốc càng bất ổn thì càng ảnh hưởng xấu tới "chiến trường thuộc địa" - hai phía có quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng lẫn nhau là rất rõ. Trong chín năm tiến hành xâm lược Việt Nam và Đông Dương, Cộng hòa Pháp có tới 20 đời thủ tướng bị đổ, bảy lần thay đổi cao uỷ, tám lần đổi tướng tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

Ngay tại thời điểm khởi đầu của kế hoạch Nava, ngày 5-7-1953, Nava nhậm chức Tổng Chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương, ngày 18-5, Nava bay sang thị sát Đông Dương, thì ba hôm sau, ngày 21-5-1953, Mayơ từ chức Thủ tướng vì không sao chèo chống nổi con thuyền chính trị của đất nước khi mà mức thiếu hụt ngân sách lên tới 730 triệu phrăng, lạm phát 2.000 tỷ phrăng và số người thất nghiệp trong nước là hơn 3 triệu. Nước Pháp lại lâm vào khủng hoảng nội các hơn một tháng. Liên tiếp bốn đại diện của các chính đảng tư sản là Râynô (Đảng Độc lập), Măngđét Phrăngxơ (Đảng Cấp tiến), Biđôn (Đảng Cộng hoà bình dân) và Mairi (Đảng Cấp tiến) đứng ra thành lập nội các mới, nhưng đều không một ai giành nổi đa số phiếu tán thành trong Quốc hội. Không thể kéo dài mãi tình trạng một đất nước không có chính phủ, tháng 6-1953, Quốc hội Pháp buộc phải chấp nhận để Lanien đứng ra lập nội các mới. Trong lễ nhậm chức, viên thủ tướng thứ 19 này hứa sẽ cố gắng đi tới chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương bằng giải pháp thương lượng theo những điều kiện phía Pháp có thể chấp nhận được, và kêu gọi các "chính phủ quốc gia liên kết ở Đông Dương" hãy cùng Mỹ chia sẻ với Pháp gánh nặng chiến tranh.

Lý do thứ ba, họ nêu sở dĩ bị thua là do Pháp cùng lúc phải phân tán lực lượng và tiền bạc để thực hiện cả chiến tranh lạnh và chiến tranh nóng. Từ năm 1949, Pháp tham gia khối quân sự NATO do Mỹ điều khiển để chống phá phong trào giải phóng dân tộc và đối đầu với Liên Xô. Tuy Pháp có chuyện phải phân tán lực lượng, nhưng từ năm 1950, Pháp lại được đế quốc Mỹ trợ giúp hơn 73% chi phí chiến tranh (chiến phí của chín năm chiến tranh Đông Dương lên gần 3.000 tỷ phrăng, trong đó Mỹ viện trợ chiếm 1.200 tỷ phrăng, tương đương 2,7 tỷ USD. Riêng năm 1954, viện trợ Mỹ chiếm 73,9% chiến phí). Mỹ không chỉ giúp Pháp về kinh phí mà còn giúp cả về mưu mô, trí tuệ. Nhiều nhân vật trong chính giới, tướng lĩnh Mỹ, trong đó có cả Phó Tổng thống Níchxơn và Tổng Tham mưu trưởng liên quân đã trực tiếp tham gia ý kiến vào kế hoạch Nava và những giải pháp để thực hiện nó, kể cả trong những ngày mà kế hoạch này sắp cáo chung, khi Điện Biên Phủ và Đông Dương đang "hấp hối".

Như vậy, cả ba lý do trên vẫn chỉ là lý do để biện minh cho nguyên nhân thất bại của Pháp. Cho đến nay, người Pháp đã tốn khá nhiều giấy mực để viết về cuộc chiến tranh Đông Dương và trận Điện Biên Phủ, nhưng chừng nào chưa nhận chân ra cái nguyên nhân cốt lõi nhất, mang tính bản chất nhất thì chừng ấy chưa thể lý giải được một cách đầy đủ vì sao quân xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ lại thua trận ở Đông Dương mà tâm điểm là Việt Nam.

Trong chúng ta, nhiều người cho rằng, sở dĩ Pháp thua thì có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do Pháp cố tình duy trì chủ nghĩa thực dân cũ đã quá lỗi thời (năm 1944, Đờ Gôn, Tổng thống kiêm Thủ tướng Pháp tuyên bố tái chiếm Đông Dương, nhưng mãi đến năm 1954, Đờ Gôn mới chịu thú nhận sự lạc hậu trong tư duy chiến lược và trong tổ chức bộ máy cai trị thực dân cũ của Pháp). Lý do này có phần đúng nhưng chưa phải là tất cả, chưa phải là nguyên nhân cốt lõi. Bởi, nếu nói Pháp thua chỉ vì Pháp duy trì chủ nghĩa thực dân cũ đã lỗi thời, vậy thì tại sao sau đó, khi Mỹ hất cẳng Pháp và nhảy vào xâm lược Việt Nam và Đông Dương, Mỹ áp dụng chủ nghĩa thực dân mới nhưng rốt cuộc Mỹ vẫn thua, thậm chí còn thua đau, thua đậm hơn Pháp?

Vậy thì, ta có thể khẳng định: nguyên nhân bao trùm nhất, lý do mang tính bản chất nhất ở đây là - từ mục tiêu chính trị hết sức sai lầm, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, cho nên Pháp không có tiềm lực về chính trị tinh thần. Càng hung hăng rồi càng sa lầy vào cuộc chiến chinh phục, nội các Pháp càng lục đục đổ lên đổ xuống, nhân dân Pháp càng khó khăn, suy quẫn và oán hận, ý chí quân đội của Pháp càng sa sút. Từ sai lầm về chiến lược nên mới khó gỡ về chiến dịch và chiến thuật. Bộ máy lãnh đạo chiến tranh của Pháp luôn phải đối mặt với một mâu thuẫn gay gắt là: Muốn đánh nhanh thì lại phải đánh lâu dài. Muốn tập trung sức mạnh quân sự để đánh những đòn tiến công, giải quyết nhanh chiến cuộc nhưng lại phải quá phân tán, phần lớn số quân phải rải ra để chiếm đóng, quân chủ lực cơ động còn lại quá ít - tình thế này thì tướng tài giỏi đến đâu cũng chịu bó tay.
__________________________________________________
1. Báo Nhân Dân, số ra ngày 19-3-2004.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #172 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2022, 10:47:04 pm »


Sau cuộc huy động tổng lực tiến công lên Việt Bắc, Thu Đông năm 1947 thất bại, ý tưởng chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" bị phá sản, bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Pháp tuy buộc phải chuyển sang ý tưởng chiến lược đánh lâu dài, nhưng thực chất ý đồ bao trùm xuyên suốt của những kẻ đi chinh phục bao giờ cũng muốn "giải quyết nhanh", càng không bao giờ muốn rơi vào trạng thái sa lầy.

Từ mục tiêu chính trị sai lầm, sau cuộc "ra quân đầu tiên" thất bại, thực dân Pháp buộc phải chuyển sang kế hoạch đánh lâu dài, như vậy tư duy chiến lược phải thay đổi trong tình thế hoàn toàn bị động. Và, đứng trước thực trạng khó khăn về nhiều mặt: Quân đội vừa thiếu vừa phải phân tán, nội các lục đục bất ổn định, kinh tế - xã hội sa sút, lòng dân không đồng tình mà còn oán giận..., bộ máy chiến tranh của Pháp buộc phải đẻ ra và áp dụng tư tưởng chiến lược "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Đến đây có thể nói, mô hình của chủ nghĩa thực dân cũ đã có dấu hiệu cáo chung, vì thực chất tư tưởng "dùng người Việt đánh người Việt..." đã mang màu sắc của chủ nghĩa thực dân mới. Bộ óc chiến tranh Pháp những tưởng đó là sáng kiến được nảy nở trong lúc khó khăn quẫn bách, nào ngờ "tư tưởng chiến lược" này lại rơi đúng vào ý đồ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Và Mỹ đã tận dụng triệt đế cơ hội này.

Chính phủ Lanien vừa lên cầm quyền phải chấp nhận giảm chi phí ngân sách cho chiến tranh Đông Dương trước nạn thâm hụt ngân sách quốc gia và gia tăng lạm phát. Trước thực trạng này, không còn cách nào khác là kêu gọi Mỹ tăng viện trợ từ 200 tỷ phrăng (1952) lên 270 tỷ (1953), chiếm 46% tổng chiến phí. Lợi dụng tình hình này, Mỹ đòi Pháp phải nới rộng quyền hạn cho nguỵ quyền. Trước sức ép của Mỹ, Pháp phải giao chính phủ ở Việt Nam cho Bảo Đại. Đáp lại, ngày 15-7-1953, Quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại đã ký sắc lệnh "Tổng động viên". Và, ngày 21-7, theo lời mời của Tổng thống Mỹ Aixenhao, Thủ tướng bù nhìn Nguyễn Văn Tâm đã lên đường sang Mỹ.

Tư tưởng chiến lược của bọn đế quốc xâm lược ở Đông Dương thật sự đang chuyển dần từ chủ nghĩa thực dân cũ sang chủ nghĩa thực dân mới. Nói cách khác là Pháp buộc phải bấu víu vào Mỹ, lấy Mỹ làm chỗ dựa duy nhất để tiến hành chiến tranh. Ngược lại, Mỹ đã tận dụng cơ hội này để chuyển dần cuộc chiến theo ý tưởng của mình, theo chiều hướng có lợi cho mình. Nhưng! Cả Pháp, cả Mỹ và cả chính quyền bù nhìn tay sai người Việt đều bất ngờ khi vấp phải chiến tranh nhân dân của ta. Chính đường lối "chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh" mà Đảng và Bác Hồ đã chỉ ra và lãnh đạo xuyên suốt cuộc kháng chiến, đã tạo nên sức mạnh to lớn, cộng với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân bị áp bức ở các nước thuộc địa, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ngay trong lòng các nước tư bản đế quốc, đặc biệt là chúng ta được tiếp thêm sức mạnh từ Liên Xô và Trung Quốc (từ khi đã giải phóng). Tất cả, như đồng chí Lê Duẩn đã nói, sức mạnh của dân tộc đã hoà cùng sức mạnh của thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp tạo nên thế và lực vô biên của cách mạng Việt Nam, áp đảo, đè bẹp quân thù.

Hôm nay, sau 50 năm kể từ khi trận Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp toàn thắng, nhìn lại, chúng ta thấy có nhiều nguyên nhân to lớn, nhiều bài học giá trị của thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhưng to lớn nhất, bao trùm nhất và xuyên suốt nhất vẫn là đường lối "chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh". Nói một cách khác, vạch ra đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo; đồng thời phát động, tổ chức được toàn dân chống ngoại xâm là công lao lớn của Đảng ta, và đó là yếu tố quyết định nhất đưa kháng chiến đến thắng lợi.

Tư duy chiến lược của đường lối chiến tranh nhân dân bắt đầu xuất hiện từ lời kêu gọi của Bác Hồ trước cuộc cách mạng long trời lở đất Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Hai tháng sau khi thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, ngày 25-11-1945,   Trung ương Đảng ra Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc, vạch rõ hai nhiệm vụ chiến lược là chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng đất nước. Cùng dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết văn kiện Công việc khẩn cấp bây giờ, đề ra những công việc cần kíp cho toàn Đảng, toàn dân ta sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược đang tới gần. Những văn kiện nói trên cùng với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19-12-1946), Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-12-1946) và một loạt bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, đã trở thành những quan điểm cơ bản về đường lối kháng chiến của Đảng ta – "kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh" - súc tích nhưng rất dễ hiểu ngay cả với những người dân bình thường. Nhờ đó, quân và dân ta trên khắp mọi miền đất nước, kể cả những chiến trường xa Trung ương, triệu người như một, bình tĩnh, kỷ luật, hành động nhất tề. Nhân dân ta tránh được những bước đi mò mẫm, quanh co, giảm được nhiều tình huống ấu trĩ, sai lầm, vấp váp, sớm tạo được lòng tin vào tiền đồ tất thắng của kháng chiến. Cuộc chiến đấu trên cả nước ngay từ những màn đầu tiên diễn ra khá "bài bản", hướng toàn dân, toàn quân về một mục tiêu: Chiến đấu vì độc lập, tự do, giữ gìn độc lập vừa giành được qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Chính vì thế mà ngay từ những ngày nổ súng chiến đấu đầu tiên, mặc dù quân địch hơn hẳn ta về vũ khí, trang bị, nhưng chúng ta đã tạo được sức mạnh từ thế trận chiến tranh nhân dân, cả ở Sài Gòn - Nam Bộ tháng 9-1945, cả ở Hà Nội mùa Đông 1946, đã thực hiện thắng lợi chủ trương vừa kìm giữ quân địch để tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị bước vào kháng chiến, vừa đánh bại bước đầu kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" của đội quân xâm lược.

Để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của toàn dân đánh bại chiến tranh tổng lực của giặc Pháp, Đảng ta chủ trương đánh địch trên mọi mặt trận, kháng chiến toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, ngoại giao, binh vận... tức là đánh thắng bằng sức mạnh tổng hợp. Đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Tuy nhiên, trong chiến tranh thì Đảng ta coi quân sự là đòn chủ chốt, giương cao khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng". Các mặt công tác chính trị, kinh tế, văn hoá đều nhằm mục đích làm cho quân sự thắng lợi.

Bị tiến công liên tục và bằng nhiều mũi, trên nhiều phương diện như vậy, quân địch không có cách gì chống đỡ nổi - binh lực hao tổn, kinh tế kiệt quệ, bị cô lập về chính trị, cuối cùng phải chấp nhận thua cuộc bằng "đòn đấu tranh ngoại giao" kết thúc chiến tranh của chúng ta.

Suy cho cùng, thắng lợi của chiến tranh tuỳ thuộc vào thực lực. Cũng chính trên nền tảng của đường lối chiến tranh nhân dân mà suốt chín năm kháng chiến, Đảng đã xây dựng được lực lượng về mọi mặt, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng chiến đấu, từ không đến có, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn; xây dựng tiềm lực quân sự mạnh trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp, vững chắc, vừa kháng chiến vừa xây dựng hậu phương căn cứ địa kháng chiến, coi trọng xây dựng chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân. Vì chăm lo xây dựng lực lượng mà càng đánh giặc, thế ta càng vững, lực ta càng mạnh, để cuối cùng làm nên một Điện Biên Phủ chấn động dư luận thế giới.

Tôi còn nhớ ở Nam Bộ, những chiến khu, căn cứ như: An Phú Đông, Rừng Sác, Vườn Thơm, Dương Minh Châu, Chiến khu Đồng Tháp Mười, Chiến khu Đ, rồi những vùng giải phóng của ta ở Khu IX, Khu V, Khu IV (chuyến đi ra Việt Bắc đầu tiên, tôi thấy chỉ có chỗ cực Nam Trung Bộ quân địch chiếm đóng và o ép, quân dân ta rất cơ cực, còn suốt dải đất Khu IV, Khu V, rồi ra đến Khu VI, dải Thanh - Nghệ đều là vùng giải phóng của ta), rồi lên đến Chiến khu Việt Bắc - những chiến khu và vùng giải phóng là nơi tổ chức, xây dựng lực lượng kháng chiến, nơi dưỡng quân để mở các chiến dịch tiến công của quân ta. Sức mạnh của đường lối chiến tranh nhân dân thần kỳ ở chỗ: Ta có những vùng giải phóng, vùng chiến khu mà địch lại không thể và không bao giờ thực hiện được sự "phân tuyến" để phát huy được uy lực của phi pháo vốn là chỗ rất mạnh của chúng. Bởi vì chiến tranh nhân dân của ta còn được gây dựng và phát huy ngay trong vùng địch tạm chiếm với nhiều phương thức đấu tranh vô cùng phong phú, độc đáo và thiên biến vạn hoá. Chẳng hạn như tại vùng đô thị lớn Sài Gòn - Gia Định, phong trào diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ tuy ở từng thời điểm, từng nơi diễn ra ở mức độ khác nhau, nhưng nó đã diễn ra ngay trong lòng đô thị. Rồi có những cuộc biểu tình của nhân dân lao động, thợ thuyền, trí thức ở những quy mô khác nhau mà điển hình là cuộc biểu tình nổ ra giữa Sài Gòn ngày 19-3-1950 của hơn 30 vạn người chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ xâm lược, nghe luật sư Nguyễn Hữu Thọ diễn thuyết. Rồi có những trận đánh của tự vệ đã không chỉ diệt được ác ôn, binh lính địch mà còn đánh vào cơ quan sinh lực cao cấp của Pháp, lực lượng dân quân tự vệ này về sau phát triển thành các đơn vị biệt động thành với lối đánh ngày càng mưu mẹo, quả cảm, đạt hiệu suất cao. Rồi các trận đánh phá kho tàng của giặc Pháp mà điển hình là trận đánh của Tiểu đoàn 306 Gia Ninh, phá huỷ kho bom đạn dự trữ chiến lược của địch ở Phú Thọ Hoà, tại nội đô Sài Gòn, với hơn một triệu lít xăng dầu, một vạn tấn bom đạn, diệt một đại đội lính Âu - Phi, bức rút đồn Gò Luỹ tháng 6-1954. Cũng cần nói thêm rằng, ở các khu căn cứ khi ta gặp nhiều khó khăn về đời sống, thì lúa gạo từ vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú đã được chuyển lên Sài Gòn – Gia Định. Rồi gạo, thuốc men, hàng nhu yếu phẩm từ Sài Gòn - Gia Định lại được chuyển ra các căn cứ kháng chiến. Ở miền Bắc cũng tương tự. Đây là một chủ trương rất sáng tạo, không xây dựng trên nền tảng của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện thì không thể làm được như vậy. Và cũng chỉ có người dân cách mạng mới làm được như vậy. Sức mạnh của cách mạng, của chiến tranh nhân dân tiềm ẩn ở mọi nơi, bộc lộ và phát huy, phát triển ở mọi nơi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #173 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2022, 10:57:13 pm »


Với chiến lược toàn dân kháng chiến, Đảng và Bác Hồ đã tổ chức cả nước thành một mặt trận. Với khẩu hiệu "Mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một pháo đài", người Việt Nam yêu nước nào cũng đánh giặc, địa phương nào cũng đánh giặc. Khắp Trung, Nam, Bắc, không phải chỉ có quân đội đánh giặc mà toàn dân đánh giặc. Không những vùng tự do đánh giặc mà vùng tạm chiếm cũng đánh giặc; đồng bào nông thôn đánh giặc, đồng bào đô thị cũng đánh giặc; miền xuôi đánh giặc, miền núi cũng đánh giặc. Đáp Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hầu hết nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ đều lên chiến khu, ra bưng biền tham gia kháng chiến. Và, chỉ sau ba tháng toàn quốc kháng chiến, Đảng ta nhận định: "Cuộc kháng chiến được toàn dân tham gia; đồng bào lao động hăng hái tác chiến, đồng bào tư sản, địa chủ hy sinh của cải không nề hà, nói chung đồng bào Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, quốc dân thiểu số và đa số đều chung sức đánh giặc"1.

Nhờ sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc, ta đã khắc phục được nhược điểm, khó khăn tưởng chừng không thể nào khắc phục được. Nhờ toàn dân đánh giặc, nền kinh tế tài chính kiệt quệ đã được xây dựng, bảo đảm đời sống cho các tầng lớp nhân dân trong chiến tranh không bị đảo lộn lớn, lại có khả năng cung cấp ngày càng nhiều cho tiền tuyến. Nhờ toàn dân kháng chiến, quân đội ta từ du kích, phân tán, trang bị thô sơ đã tiến lên tập trung, chính quy, có lực lượng cơ động chiến lược mạnh và lực lượng chiến đấu tại chỗ đông đảo. Nhờ toàn dân kháng chiến mà ta ở trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, đất nước bị chia cắt làm nhiều mảnh, chính quyền nhân dân vẫn đứng vững, ngày càng phát huy vai trò quản lý, điều hành mọi công việc kháng chiến, kiến quốc, xây dựng xã hội mới. Toàn dân kháng chiến là yếu tố quyết định thắng lợi, là quy luật cơ bản của cuộc kháng chiến chống Pháp. Thực tiễn đã chỉ rõ, nơi nào và lúc nào không nắm vững quy luật đó, sẽ gặp khó khăn tổn thất.

Trên thực tế, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã trải qua ba giai đoạn: Từ kháng chiến Nam Bộ (23-9-1945) đến chiến thắng Việt Bắc (Thu Đông 1947) là giai đoạn mà quân và dân ta giữ vững và phát triển lực lượng, kiềm chế và tiêu hao lực lượng địch, triển khai thế trận chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nước. Từ sau Thu Đông 1947 đến trước Chiến dịch Biên giới (Thu Đông 1950) là một giai đoạn cả nước phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, từng bước đẩy vận động chiến tiến tới, chuẩn bị thế và lực để phản công. Từ Chiến dịch Biên giới, quân và dân ta bước vào giai đoạn phản công và tiến công.

Với chiến lược toàn dân kháng chiến, nhân dân ta đã tiến hành một kiểu chiến tranh không rõ đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương, một cuộc chiến tranh xen kẽ triệt để giữa ta và địch. Chiến tranh nhân dân rộng rãi của ta đã cột chặt đội quân viễn chinh Pháp vào những mâu thuẫn không thể nào gỡ nổi, đó là mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa đánh nhanh và đánh kéo dài, làm cho lực lượng vật chất của chúng càng bị hao mòn, ý chí xâm lược của chúng càng sa sút, tinh thần binh lính hoang mang, mệt mỏi và chán nản, để cuối cùng ta đánh bại chúng.

Tư tưởng chiến lược "dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp ra đời trong tình thế bị động và khó khăn vì chúng không thể tăng quân đội Âu - Phi được nữa; lính nguỵ Việt thì chỉ làm được chức năng chiếm đóng và càn quét; lính đánh thuê thì càng sa sút về tinh thần, mà ví dụ điển hình là sau khi ta đánh dứt điểm cứ điểm Him Lam, ta kêu gọi, quân lính ở cứ điểm Bản Kéo đã ra hàng hơn 200 tên.

Chính từ sức mạnh và hiệu quả của chiến tranh nhân dân của ta đã đẩy bộ máy chiến tranh xâm lược của Pháp rơi vào tình thế tiến thoái lưởng nan. Ở giai đoạn cuối, lực lượng của chúng quá mỏng, lại quá phân tán để giữ những vị trí chiếm đóng và các nơi đang bị uy hiếp. Sai lầm về quân sự của Pháp bắt nguồn từ sai lầm về chính trị. Khi đã mất gần hết địa bàn Tây Bắc thì không thể thực hiện việc tập trung lực lượng chủ lực cơ động để đánh đòn quyết định, cả chiến trường Bắc Bộ, Pháp có 44 tiểu đoàn thì phải đưa 21 tiểu đoàn lên Điện Biên Phủ. Ở đây, Pháp còn phạm một sai lầm chí tử nữa, đó là ý đồ giải quyết một trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh, mà trận quyết chiến này lại ở xa hậu phương. Nava cũng ý thức được chữ "xa" khi quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm này, nhưng y lại cho rằng cả hai bên đều bị xa, trong đó, với phương tiện vận tải đường bộ và nhất là ưu thế đường không của mình, quân Pháp không có gì trở ngại; ngược lại, quân đội Việt Minh không thể nào cơ động lực lượng lớn, hậu cần bảo đảm, nhất là không thể mang được pháo lớn lên Điện Biên Phủ. Bởi vậy, Nava và cả bộ máy lãnh đạo chiến tranh của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đều chủ quan và đắc ý cho rằng, nếu Việt Minh đưa quân lên thì Điện Biên Phủ sẽ là cái "cối xay thịt". Nava chỉ nhìn thấy ưu thế hơn hẳn của quân Pháp về máy bay và sức vận tải cho Điện Biên Phủ bằng đường không. Nhưng khi bị cao xạ của ta cắt đứt tuyến đường không thì quân Pháp ở lòng chảo Điện Biên Phủ rơi vào tình thế bị cô lập hoàn toàn. Tại quyết chiến điểm Điện Biên Phủ, cả hai bên đều xa hậu phương, đều khó khăn về tiếp tế hậu cần; phía Pháp tự tin rằng họ có ưu thế để khắc phục hơn hẳn đối phương. Sai lầm nặng nhất ở đây là họ chỉ tính theo kiểu tuần tự, siêu hình kinh nghiệm chủ quan vì họ không thể hiểu theo phép biện chứng của triết học mácxít. Cái bất ngờ lớn nhất của Pháp lại chính là sức mạnh của công tác tổ chức của chúng ta, sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Họ chỉ nhăm nhăm nghĩ rằng vì Việt Minh không thể đưa nhiều quân lên, thì "con nhím Điện Biên Phủ" vừa là cánh cửa thép chặn đứng Việt Minh sang Thượng Lào, vừa là bàn đạp để họ đánh toả ra, chiếm lại vùng Tây Bắc đã mất. Họ chỉ nhăm nhăm nghĩ rằng, hoả lực, nhất là phi pháo của quân đội Pháp đã thả sức biến vùng lòng chảo này thành "cối xay thịt" đối với quân đội Việt Minh. Cũng như ngày đầu quyết định tái xâm lược Đông Dương, bộ máy chiến tranh Pháp chủ quan nói rằng "Đây chỉ là một cuộc dạo mát; chỉ 18 tháng là bình định hoàn tất!”, vậy mà phải kéo dài đến chín năm, và cuối tháng là thất bại. Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương càng không thể ngờ được, với đường lối chiến tranh nhân dân siêu việt của Đảng ta, cả nước đã hướng về Điện Biên, dồn sức cho Điện Biên với nỗ lực cao nhất, nhưng đồng thời là tổ chức chỉ huy khoa học nhất, cả nước gồng lên nhưng uyển chuyển nhịp nhàng đã tạo nên một sức mạnh phi thường cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Trong tư tưởng chiến lược của mình, thực dân Pháp luôn nhằm vào hai mục tiêu: một là tiêu diệt chủ lực của ta, hai là xây dựng nguỵ quân, nguỵ quyền vững mạnh để dùng người Việt đánh người Việt. Nhưng khi quyết định nhảy lên Điện Bên, cả hai mục tiêu trên đều không thực hiện được. Vì lúc đầu, khi chúng mới nhảy dù lên thì chủ lực của ta không có ở đó. Về sau chủ lực ta lên thì không những quân Pháp không tiêu diệt được mà ngược lại, chúng lại tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng, vì đánh địch trên địa bàn rừng núi vốn là sở trường của bộ đội ta. Về mục tiêu thứ hai, để xây dựng nguỵ quân nguỵ quyền thì cũng không phải và không thực hiện được vì ở vùng Tây Bắc nhân tài vật lực không có bao nhiêu, kể cả ở Thượng Lào cũng vậy. Sai lầm của thực dân Pháp đã bộc lộ rõ khi quyết định lên Điện Biên.

Chúng ta khát vọng tự do, thậm chí đã có lúc chúng ta công bố muốn vào khối Liên hiệp Pháp; nhưng chính phủ của chủ nghĩa thực dân Pháp cứ áp đặt chiến tranh, thì ta phát động, xây dựng và thực thi đường lối chiến tranh nhân dân, ta bắt bộ máy chiến tranh của Pháp phải từng bước thay đổi chiến lược, bắt quân viễn chinh Pháp phải đánh theo cách của ta, từ chỗ chúng chủ động, ta bắt chúng đi đến bị động, lúng túng, sai lầm, quẫn bách và thất bại thảm hại.

Chúng ta chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chính nghĩa, nên càng kháng chiến càng được bạn bè quốc tế đồng tình ủng hộ. Lính Âu - Phi ta bắt được ở các mặt trận, nhất là ở Điện Biên Phủ: người Marốc, Tuynidi, Angiêri... ta giáo dục họ, đối xử tử tế với họ rồi thả về nước, đã có tác động ghê gớm đến tinh thần và ý chí giải phóng dân tộc của nhân dân các nước đang là thuộc địa của tư bản - đế quốc. Điều này đã được nhiều người thừa nhận. Chẳng hạn, ông Marađây Câyta, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Mali sang thăm Việt Nam tháng 10-1961 cho biết, nhiều người Mali bị đưa sang Việt Nam làm bia đỡ đạn được tiếp xúc với các chiến sĩ Việt Nam đã hiểu rõ và giác ngộ về hoàn cảnh của mình. Số đông khi về nước đã đứng cạnh các đồng chí của mình trong công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc.

Chỉ trong sáu năm sau trận Điện Biên Phủ, trên thế giới đã có thêm 36 nước giành độc lập, riêng châu Phi (phần lớn là thuộc địa của Pháp) đã có 20 nước giành độc lập.

Như vậy, một mặt phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã hỗ trợ tích cực cuộc kháng chiến của ta; mặt khác, cuộc kháng chiến của ta đã tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa. Chủ nghĩa thực dân cũ đến những năm 60 của thế kỷ XX trở đi đã bước vào giai đoạn bị thanh toán hoàn toàn. Đây là điều kiện cơ bản để năm 1960, Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá XV thông qua Nghị quyết về chống thực dân hoá, buộc các nước phương Tây phải trao trả độc lập cho các nước thuộc địa và phải thừa nhận quyền độc lập của các dân tộc này. Rõ ràng, cuộc chiến đấu oanh liệt của chúng ta không chỉ vì độc lập cho Tổ quốc ta, tự do cho nhân dân ta, mà còn vì cả phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa. Trận Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi mang một ý nghĩa thời đại, một tầm vóc to lớn. Đây là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX. Diễn tiến và kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến thần thánh này đã khẳng định một chân lý: Sức mạnh kỳ diệu của đường lối chiến lược chiến tranh nhân dân của Đảng ta đã làm thất bại thảm hại tư tưởng chiến lược "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp xâm lược. Bài học quý giá từ đường lối và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân đã được toàn Đảng, toàn dân ta vận dụng và phát triển phong phú hơn, sâu sắc hơn, tài tình hơn trong giai đoạn hai của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại - giai đoạn chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
_______________________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, t. I, tr. 97-98.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #174 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2022, 02:00:00 pm »


YẾU TỐ TINH THẦN CỦA QUÂN ĐỘI VÀ NHÂN DÂN TA
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Đại tướng NGUYỄN CHÍ THANH

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở thêm một trang lịch sử chói lọi của dân tộc Việt Nam ta.

Lúc quân đội viễn chinh Pháp bị tiêu diệt và tướng Đờ Cátxtơri bị bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ thì bọn cầm quyền ở Pháp mới buộc lòng phải ký Hiệp nghị Giơnevơ.

Làm như vậy họ đã tỏ ra một phần nào "biết điều". Nhưng tiếc thay, giá họ "biết điều" sớm hơn thì họ đỡ phải mất thêm sáu ngàn triệu đôla, khỏi phải nướng hàng vạn quân viễn chinh để rồi không đổi lấy được cái gì ngoài sự nhục nhã cho quân đội Pháp, cho đế quốc Pháp.

Trước sự thất bại quá đột ngột lúc bấy giờ, các nhà chính trị, quân sự của đế quốc Pháp hết sức cay cú đã đổ dồn trách nhiệm vào đầu Nava. Họ làm tình làm tội tên bại tướng này và lập luận rằng giá được một viên tướng nào khác chỉ huy giỏi hơn thì ngọn cờ tam tài đâu đến nỗi phải bị vùi dập phũ phàng trên mảnh đất Điện Biên Phủ xa xôi (!).

Dù sao các nhà chính trị và chiến lược ấy cũng đành công nhận một thực tế là ở Điện Biên Phủ họ đã thất bại nặng, chúng ta đã chiến thắng lớn. Thực tế đó ăn sâu trong đầu óc họ cho đến ngày nay, vì vậy do kinh nghiệm bản thân, vừa qua trước những thắng lợi to lớn của nhân dân ta ở miền Nam, một số người trong họ đã khuyên người Mỹ đừng dùng biện pháp quân sự để giải quyết vấn đề Việt Nam. Không biết người Mỹ suy nghĩ gì trước lời khuyên ấy hay là vẫn cứ điên cuồng làn theo " vết xe đổ" của thực dân Pháp?

Tuy nhiên, từ chỗ công nhận thực tế là sự thất bại nặng nề của họ ở Điện Biên Phủ, những nhà chính trị và chiến lược của đế quốc Pháp vẫn chưa rút ra được những kết luận thích đáng. Kết luận đích đáng nhất cần rút ra là: Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, yếu tố gì là yếu tố quyết định trên chiến trường đã làm cho họ phải thất bại, đã làm cho đối phương của họ - tức là ta giành thắng lợi to lớn và vẻ vang?

Trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương lúc bấy giờ, Pháp đã tung ra trên chiến trường Việt Nam gần 15 vạn quân viễn chinh Pháp và hơn 30 vạn quân nguỵ, số quân chừng đó phải chăng là quá ít? Pháp đã phải tiêu tốn 6 nghìn triệu đôla, tính ra bằng 21 nghìn triệu đồng Việt Nam; số tiền đó phải chăng là quá thiếu? Pháp đã tung ra hàng vạn cán bộ chỉ huy và nhân viên kỹ thuật, trên chiến trường Việt Nam đã hầu như đủ mặt các danh tướng của Pháp lúc bấy giờ như Đácgiăngliơ, Lơcléc, Moóclie, Valuy, Cácpăngchiê, Đờ Lát Đờ Tátxinhi, Cônhi, Xalăng, Nava, v.v.; số tướng tá như vậy phải chăng là quá hiếm?

Không! Số quân của họ có thừa, tiền của họ có thừa, trang bị kỹ thuật của họ có thừa, cán bộ của họ có thừa, ít ra cũng là quá thừa so với lực lượng của chúng ta lúc đầu. Thế nhưng họ vẫn thất bại.

Chắc Đại tướng Cácpăngchiê còn nhớ, vào năm 1950, khi Cao Bằng bị thất thủ, quân của "tướng quân" đóng ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, có phải vì mất tinh thần cho nên "tướng quân" phải buộc lòng hạ lệnh cho rút lui và tháo chạy?

Nếu Thống chế Đờ Lát còn sống, chắc ngài còn nhớ, trong Chiến dịch Hoà Bình năm 1951, ngài mới bị đả có mấy trận kha khá thôi, nhưng có phải vì tinh thần quân đội của ngài đã ruỗng ra cho nên buộc lòng thống chế phải bỏ phòng tuyến mà hồi đó ngài cho là một phòng tuyến chiến lược?

Ngay từ hồi ấy, giá các ngài nhận rõ quân đội của các ngài không còn đủ tinh thần tiến công và phòng ngự nữa để kịp thời rút ra kết luận thích đáng thì đâu đến nỗi các ngài phải mang lấy mối "hận Điện Biên Phủ" về sau?

Một điều nổi bật của quân đội Pháp lúc bấy giờ là tinh thần chiến đấu quá sút kém... Trạng thái tinh thần ấy là con đẻ của hoàn cảnh xã hội của nước Pháp lúc bấy giờ. Hoàn cảnh đó có những đặc điểm chính như sau:

1. Sau Đại chiến lần thứ hai, chính sách của đế quốc Pháp không những không có sự thay đổi gì đáng kể mà trái lại còn phản động hơn trước. Đối nội, họ thực hành một chính sách phản dân chủ; đối ngoại, họ thực hành chính sách lệ thuộc vào đế quốc Mỹ; đối với các nước thuộc địa, họ thực hành một chính sách bạo lực rất phản động. Tính chất phi nghĩa và phản động của những chính sách ấy làm cho quân đội của họ ngày càng thêm suy nhược, càng thêm chán ghét chiến tranh.

2. Đế quốc Pháp đưa quân đội đi tiến hành chiến tranh xâm lược ở một nơi cách xa nước Pháp hàng vạn kilômét, trong một thời kỳ mà cao trào cách mạng giải phóng dân tộc đang dâng lên cuồn cuộn. Trong cuộc chiến tranh xâm lược đó, họ và quân đội của họ lại dựa vào giai cấp phong kiến địa chủ đang suy tàn và giai cấp tư sản mại bản phản động yếu ớt ở việt Nam, như thế chẳng khác nào người sắp chết đuối mà vớ phải bọt.

3. Từ trong chính sách phản động và chiến tranh phi nghĩa ấy, quân đội của Pháp không đào đâu ra được một lý tưởng chiến đấu, hơn nữa nó lại gặp phải một đối phương là dân tộc Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam tuy lúc đầu còn yếu kém về trang bị kỹ thuật, nhưng lại có một tinh thần chiến đấu rất anh hùng. Vì vậy, bản thân tinh thần của quân đội Pháp đã kém lại ngày càng sút kém nhanh chóng và trầm trọng hơn.

Chiến thắng của ta và sự thất bại của thực dân Pháp ở Việt Nam phản ánh một sự so sánh lực lượng phức tạp, trong đó yếu tố tinh thần của quân đội đôi bên chiếm một vị trí quan trọng có tính chất quyết định trên chiến trường. Nhưng bất cứ một trạng thái tinh thần nào cũng không phải nảy sinh và phát triển một cách độc lập mà nó tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố khác như chế độ xã hội, năng lực lãnh đạo và nhất là mục tiêu chính trị, v.v... Vì vậy khi bàn về yếu tố tinh thần của quân đội và nhân dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta phải đứng trên quan điểm đó.
_______________________________________________
1. Bài học thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #175 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2022, 02:00:44 pm »


Mùa Thu năm 1945, nước ta tuyên bố độc lập, nhân dân ta lần đầu tiên sau gần 80 năm làm nô lệ được hưởng tự do dưới một chế độ dân chủ thật sự. Nhưng chưa được bao lâu, thực dân Pháp, được sự ủng hộ của Anh và Mỹ, gây chiến ở nước ta, âm mưu quàng cái ách thuộc địa lên đầu nhân dân ta một lần nữa. Trước tình hình đó, Đảng và Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến chống xâm lược Pháp với khẩu hiệu nổi tiếng: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"1.

Khẩu hiệu ấy đã phát động rất mạnh lòng tự hào, tinh thần bất khuất và quật cường của dân tộc ta, làm cho cả nước sôi sục đứng lên đánh Pháp với mọi phương tiện sẵn có trong tay. Khẩu hiệu ấy đã động viên và giáo dục nhân dân ta xác định một thái độ chính trị kiên quyết chống thực dân Pháp, giành cho kỳ được độc lập dân tộc với bất cứ giá nào. Khẩu hiệu ấy có tác dụng cách mạng hoá quần chúng rất lớn, hướng họ vào và nâng cao quyết tâm kháng chiến lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Khẩu hiệu ấy, đứng về mặt chiến lược mà nói, nhằm mục tiêu cố giành lấy ưu thế về chính trị và tinh thần của quân và dân ta ngay từ lúc đầu trong sự so sánh lực lượng giữa đôi bên. Nhờ vậy mà từ cuối năm 1945 đến năm 1950, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian khổ và hết sức chênh lệch về lực lượng vật chất, chúng ta vẫn kiên trì kháng chiến và thu được một số thắng lợi bước đầu. Ý nghĩa lớn lao của những thắng lợi đó là chúng ta đã phá được chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch. Mặt khác, chiến lược kháng chiến lâu dài của ta đã được thực tiễn chứng minh là đúng và ngày càng phát huy tác dụng rõ rệt.

Thu Đông năm 1950, chúng ta thắng lớn ở biên giới. Thắng lợi này có ý nghĩa rất quan trọng. Nó đánh một đòn rất mạnh vào quyết tâm của các tướng lĩnh Pháp, vào tinh thần của quân đội viễn chinh Pháp và quân nguỵ. Đồng thời nó làm cho toàn dân và toàn quân ta từ Nam chí Bắc vô vùng phấn khởi, tinh thần của quân và dân ta tăng lên một cách nhảy vọt. Mọi người, qua thắng lợi đó, đều thấy rằng Đảng, Chính phủ, dân tộc mình, quân đội mình và chính mình đã lớn mạnh lên nhiều, rằng kháng chiến lâu dài không phải là vô hạn độ, triển vọng thắng lợi đã nhích lại gần chúng ta hơn trước nhiều, địch đã phải chịu thất bại chua cay và không thể huênh hoang như trước nữa.

Tiếp đến thời kỳ năm 1950 - 1953, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, chúng ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch lớn, và đặc biệt là phong trào chiến tranh du kích sôi nổi, mạnh mẽ và phát triển sâu rộng hơn lúc nào hết. Những sự kiện nổi bật có ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần của quân và dân ta trong thời kỳ này là: cải cách ruộng đất và các cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân ở trong Đảng và trong quân đội. Cuộc cách mạng ruộng đất đã làm cho nông dân lao động vùng lên, qua cuộc đấu tranh giai cấp với địa chủ, tư tưởng và tinh thần của nông dân có một sự chuyển biến rất mạnh, sự giác ngộ dân tộc được kết hợp chặt chẽ với sự giác ngộ giai cấp, do đó tinh thần chiến đấu chống giặc Pháp của họ tăng lên gấp bội. Nông dân lao động qua cải cách ruộng đất được cách mạng hoá thêm một bước cao hơn, trạng thái tinh thần của nông dân đã có một sự biến đổi về chất lượng. Cuộc đấu tranh giai cấp của nông dân lúc bấy giờ do Đảng ta lãnh đạo đã thúc đẩy rất mạnh cuộc kháng chiến của toàn dân, đã thúc đẩy rất mạnh quân đội tập trung và dân quân du kích giết giặc lập công. Trên chiến trường Điện Biên Phủ, yếu tố tinh thần của quân và dân ta đã chịu ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén của cuộc đấu tranh giai cấp rộng lớn đó. Các cuộc chỉnh quân và chỉnh huấn trong quân đội tiến hành vào thời kỳ này có một ý nghĩa to lớn và sâu sắc. Nó làm cho quân đội ta giác ngộ chính trị cao hơn trên cơ sở của sự giáo dục giai cấp, của sự giáo dục đường lối cách mạng dân tộc dân chủ, đường lối chiến tranh nhân dân và Quân đội nhân dân của Đảng. Nó là một cuộc vận động lớn để cách mạng hoá quân đội thêm một bước mới, hướng cho cán bộ và chiến sĩ nhận rõ bản chất của Quân đội nhân dân, phân rõ ta, bạn, thù, xác định mục tiêu chiến đấu là giành độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày, tiến tới chủ nghĩa xã hội, xác định quân đội phải chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân, v.v... Tư tưởng cách mạng của quân đội ta được phát động lên cao và sâu sắc hơn so với trước. Do đó, đến thời kỳ này, các chiến sĩ ta không còn thích những bài hát "tráng sĩ một đi không trở lại" nữa, vì họ đã được trang bị thêm một số nhận thức khoa học về quy luật của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, họ đã hiểu rõ hơn vì ai mà chiến đấu, chiến đấu để làm gì, phần thắng cuối cùng nhất định về ai, v.v... Trong hoàn cảnh cách mạng đó, tinh thần của quân và dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ so với trước cao hơn nhiều, và đó là một điều địch không lường tới, là một yếu tố quyết định thắng lợi trên chiến trường. Một thành công lớn của Đảng ta lúc bấy giờ là Trung ương Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch, Đảng uỷ mặt trận Điện Biên Phủ, các tổ chức đảng trong quân đội và trong dân công, các tổ chức đảng ở hậu phương đã nắm chắc và phát huy cao độ yếu tố đó trong suốt chiến dịch và trong chiến đấu, ở ngoài tiền tuyến cũng như hậu phương.

Đó là về phần ta. Còn về phần địch, do không đánh giá được yếu tố tinh thần của quân và dân ta - dĩ nhiên họ không thể nào đánh giá đúng được - cho nên lúc bấy giờ họ đã bị bốn cái bất ngờ lớn:

1. Họ cho rằng quân đội ta không thể có đủ tinh thần hoặc dù có đủ tinh thần cũng không làm gì nổi cái tập đoàn cứ điểm được bảo vệ dưới những lưới lửa dày đặc ở Điện Biên Phủ.

2. Họ cho rằng quân đội ta kém về trình độ văn hoá và kỹ thuật, không thể sử dụng được pháo binh và súng cao xạ một cách có hiệu quả và với địa hình phức tạp quanh Điện Biên Phủ, chúng ta không thể nào kéo pháo được đến gần trận địa của họ.

3. Họ cho rằng trình độ của cán bộ ta chỉ có thể chỉ huy đánh du kích khá, khó mà chỉ huy nổi một chiến dịch quy mô lớn, có nhiều sư đoàn tham gia, với một sự hợp đồng binh chủng phức tạp.

4. Đặc biệt họ không đánh giá đúng khả năng hậu phương của ta lúc bấy giờ, họ cho rằng chúng ta không thể giải quyết nổi các vấn đề rất khó khăn, rất phức tạp về hậu cần như tiếp tế lương thực, đạn dược, thuốc men, bổ sung quân số.

Do đâu mà họ đánh giá sai và bị những bất ngờ đó? - Điểm xuất phát là do họ đánh giá quá thấp yếu tố tinh thần của chúng ta. Với quan điểm quân sự của họ, họ không hiểu được nổi rằng, từ trong đường lối đúng đắn của Đảng ta, từ trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân và quân đội ta, đã toát ra một sức mạnh tinh thần, và sức mạnh ấy tác động vào cuộc đấu tranh đã sáng tạo nên lực lượng vật chất cần thiết để chiến thắng họ.

*

*        *

Tinh thần chiến đấu của quân đội và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến lâu dài nói chung và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng do những nhân tố sau đây tạo thành:

1. Quân đội và nhân dân ta kế thừa sâu sắc truyền thống của cả một dân tộc anh hùng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mỗi một chiến sĩ, mỗi một người dân ta đều ít hay nhiều có mang theo tinh thần cao cả của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, v.v...

2. Tinh thần chiến đấu của quân đội và nhân dân ta đã được xây dựng trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ của Đảng ta là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn của cách mạng nước ta đã hun đúc tinh thần chiến đấu của quân đội và nhân dân ta. Tinh thần dũng cảm của quân đội và nhân dân ta chủ yếu bắt nguồn từ đường lối chính trị đúng đắn đó. Đấy là nhân tố cơ bản.

3. Quân đội ta là quân đội nhân dân, thực chất là quân đội công nông, tuyệt đại đa số gồm những người xuất thân từ công nông, tức xuất thân từ những giai cấp, tầng lớp cách mạng nhất trong nhân dân ta. Tinh thần chiến đấu của quân đội và nhân dân ta không những đã chịu ảnh hưởng sâu sắc và được rèn luyện qua những thử thách của cuộc đấu tranh yêu nước mà còn qua những thử thách của cuộc đấu tranh giai cấp rộng lớn; cuộc đấu tranh giai cấp ấy vừa là trường rèn luyện, vừa là nguồn động viên cổ vũ mạnh mẽ quân đội và nhân dân ta vùng lên chiến thắng.

4. Quân đội và nhân dân ta chiến đấu để bảo vệ và xây dựng một chế độ xã hội tiên tiến hơn bất cứ thời kỳ lịch sử nào trước đây ở nước ta. Chế độ xã hội của chúng ta đại biểu cho cái mới, vì vậy nó dồi dào sức sống như mùa Xuân, nó có đủ năng lực huy động những lực lượng tiềm tàng của nhân dân ta để đấu tranh có hiệu quả chống lại cái cũ mà thực dân Pháp là đại biểu, kết liễu cuộc đời của nó, mở đường cho cái mới phát triển, và cái mới đó là chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc hiện nay.
__________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 480.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #176 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2022, 02:01:30 pm »


*

*         *

Chỉ có dưới ánh sáng của học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác, chúng ta mới đánh giá được sâu sắc và toàn diện tác dụng của yếu tố tinh thần của quân đội và nhân dân cách mạng trong chiến đấu. Học thuyết đấu tranh giai cấp là linh hồn của chủ nghĩa Mác. Tư tưởng cách mạng của học thuyết đó thể hiện ở chỗ nó khẳng định rằng quần chúng nhân dân sáng tạo ra lịch sử, rằng giai cấp vô sản có khả năng cải tạo xã hội và cải tạo thế giới; nó khẳng định lịch sử loài người từ khi có giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp, và yếu tố con người, yếu tố tinh thần là yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, của quần chúng nhân dân chống lại những giai cấp thù địch. Luận điểm yếu tố con người, yếu tố tinh thần là yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh giai cấp của Mác, Ăngghen, Lênin và Xtalin đã được chứng minh một lần nữa trong thực tiễn của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Đứng về mặt lý luận mà nói ai nắm vững được luận điểm đó của chủ nghĩa Mác - Lênin tức là người đó đã nắm vững được một nội dung quan trọng của học thuyết đấu tranh giai cấp. Ngược lại ai xa rời hoặc phủ nhận luận điểm đó thì người ấy vứt bỏ một nội dung quan trọng của học thuyết đấu tranh giai cấp và họ sẽ đi tới phạm sai lầm trong hoạt động thực tiễn, thậm chí cả trong chiến lược và sách lược nữa.

Đảng ta đánh giá đúng yếu tố tinh thần của quân đội và nhân dân ta, nhất là công nông trong cuộc chiến tranh. Quan điểm ấy không những quán triệt trong mọi công tác, học tập và chiến đấu của quân đội mà đặc biệt nó đã được quán triệt trong chiến lược, sách lược của Đảng ta trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Nội dung chủ yếu của quan điểm đó trong đường lối cách mạng của Đảng ta là tư tưởng kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc, là thái độ dứt khoát dựa vào nhân dân, dựa vào con người, để tiến hành đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng.

Lôgích của vấn đề này là: ai đánh giá thấp lực lượng quần chúng, đánh giá thấp yếu tố con người, yếu tố tinh thần trong đấu tranh cách mạng thì tự khắc trước mắt của người ấy, chủ nghĩa đế quốc, nhất là đế quốc Mỹ sẽ trở thành một "con người thép khổng lồ", và khi đã thấy đế quốc khổng lồ thì nhất định sẽ thấy nhân dân cách mạng, nhất là các dân tộc châu Á, châu Phi và Mỹ latinh chỉ "bé tý hon" (!) (những người này cho rằng các dân tộc Á, Phi và Mỹ latinh lạc hậu, kém văn hóa và kỹ thuật cho nên khó địch nổi với bọn đế quốc). Từ cách nhìn đó họ chỉ có thể rút ra kết luận là: "Đừng dại đem trứng chọi với đá" (!). Cách nhìn đó là cách nhìn phản động, kết luận ấy mang tính chất thủ tiêu đấu tranh và đầu hàng đế quốc.

Trong việc xây dựng quân đội và chỉ đạo tác chiến, chúng ta đã coi trọng yếu tố con người, yếu tố tinh thần. Đương nhiên quân đội nào cũng cần có tổ chức, trang bị, biên chế, kỹ thuật, và kỹ thuật càng được cải tiến thì khả năng chiến đấu của nó càng có điều kiện tăng thêm. Kỹ thuật là quan trọng nhưng con người làm ra và sử dụng kỹ thuật, cho nên con người và tinh thần con người vẫn giữ vai trò quyết định, về đường lối xây dựng quân đội, tư tưởng chiến lược, chiến thuật, tác chiến cho đến công tác huấn luyện, lao động sản xuất, v.v., quan điểm của quân đội nhân dân do Đảng lãnh đạo phải khác hẳn quan điểm quân sự của giai cấp tư sản. Nó phải là quan điểm vô sản, xem con người, tinh thần là yếu tố quyết định trên chiến trường, trong chiến tranh và cả trong mọi hoạt động thời bình nữa. Thử hỏi từ chỗ không có một tấc sắt do đâu mà nhân dân ta làm nên sự nghiệp lớn lao như ngày nay?

Xin trả lời: tiền bạc, vũ khí, trang bị kỹ thuật, v.v., chúng ta thua kém nhiều so với đế quốc, nhưng nhờ có một đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, một đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lênin, và dưới sự lãnh đạo của đường lối đó, nhân dân và quân đội ta đã đem hành động rất cách mạng, rất tự giác để kiên quyết khắc phục khó khăn, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, sáng tạo dần dần lực lượng vật chất từ trong tay của mình và lấy được từ trong tay của địch nhằm làm thay đổi từng bước so sánh lực lượng theo chiều hướng ngày càng có lợi cho ta, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng.

Nếu ngày xưa ông cha ta mơ ước tìm thấy một sức mạnh thần kỳ ở nơi con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên vương đế đánh đuổi quân ngoại xâm, thì ngày nay chúng ta đã tìm thấy sức mạnh đó không phải đâu xa mà ở nơi đường lối chính trị đúng đắn của Đảng ta. Đường lối chính trị ấy đã biến thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, và quá trình nó tác động vào quần chúng là quá trình nó làm cho tư tưởng cách mạng, tinh thần chiến đấu vốn có của một dân tộc bị áp bức chuyển biến mạnh mẽ và trở thành vô địch. Đó là vũ khí sắc bén nhất mà chúng ta đã dùng để chiến thắng quân thù.

Luận điểm "con người, tinh thần là yếu tố quyết định" hiện đang là một vấn đề nóng hổi trong cuộc đấu tranh giữa hai đường lối trong phong trào cộng sản quốc tế, đường lối của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của chủ nghĩa xét lại hiện đại. Mang quan điểm của thuyết vũ khí, những người xét lại chủ nghĩa phủ nhận yếu tố quyết định của con người, của tinh thần trong đấu tranh cách mạng. Vì vậy họ đã nhìn chủ nghĩa đế quốc, nhất là đế quốc Mỹ, như "một con người thép khổng lồ", họ phủ nhận bạo lực là quy luật phổ biến của mọi cuộc cách mạng, họ không nhìn thấy một thực tế rất quan trọng là châu Á, châu Phi và châu Mỹ latinh đang là một trung tâm bão táp cách mạng, họ đánh giá quá thấp khả năng cách mạng của quần chúng nhân dân trên thế giới, bao gồm cả khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và các tầng lớp cách mạng khác ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Không phải ngẫu nhiên mà những người theo chủ nghĩa xét lại phạm cả một loạt sai lầm nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân quan trọng đưa họ đến chỗ phạm sai lầm là họ đã phủ nhận yếu tố quyết định của con người, yếu tố quyết định của tinh thần quần chúng cách mạng của học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác.

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra cách đây đã mười năm, nhưng những bài học của Điện Biên Phủ - trong đó có bài học về yếu tố tinh thần của quân đội và nhân dân ta - vẫn giữ nguyên giá trị đối với chúng ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, trong sự nghiệp đấu tranh giành thống nhất nước nhà, trong công tác xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và cả trong sự nghiệp chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần vào cuộc đấu tranh cho hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Đối với địch, những bài học của Điện Biên Phủ vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Vì không đánh giá được yếu tố quyết định của con người, của tinh thần trong chiến tranh và vì bản thân tinh thần quân đội họ đã ruỗng nát, chủ nghĩa thực dân Pháp cách đây mười năm đã chôn vùi "thanh danh" tàn lụi còn sót lại của quân đội mình trên cánh đồng Điện Biên. Ngày nay trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, binh lính Mỹ và quân nguỵ tuy bề ngoài có vẻ hùng hùng hổ hổ, tuy tướng tá Mỹ không ngớt lời huênh hoang như tướng tá Pháp mười năm trước đây, song tinh thần binh lính Mỹ và quân nguỵ cũng chẳng hơn gì tinh thần quân đội Pháp lúc bấy giờ. Và đương nhiên, với bản chất phản động của chúng, bọn xâm lược Mỹ không thể nào đánh giá được yếu tố tinh thần dũng cảm tuyệt vời của Quân giải phóng và nhân dân miền Nam nước ta. Phải chăng đã đến lúc người Mỹ nên nghiền ngẫm kỹ hơn những bài học đau đớn của người Pháp cách đây mười năm để kịp thời rút ra những kết luận cần thiết?

Kết luận quan trọng nhất phải là:

Người Mỹ hãy cút ngay khỏi miền Nam Việt Nam!

Đừng có tiếp tục nhắm mắt "húc đầu vào tường" để rồi rốt cuộc chẳng được cái gì ngoài một tấm mồ chôn vùi quân xâm lược và cùng một thể chôn vùi luôn cả "thanh danh" loè bịp của đế quốc Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #177 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2022, 02:09:00 pm »


BÀI HỌC CHỦ YẾU CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ1


Đại tướng HOÀNG VĂN THÁI

I

Năm 1953, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta bước vào năm thứ tám. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quân và dân ta càng đánh càng thu nhiều thắng lợi. Tiếp sau Chiến dịch Biên giới, chúng ta liên tiếp thắng lớn ở Trung du, Hòa Bình, Tây Bắc, giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường miền Bắc, đẩy quân địch vào thế ngày càng nguy khốn và bị động. Sau tám năm chiến tranh, tổng số quân địch bị giết và bị bắt đã lên đến gần 39 vạn tên, vùng chiếm đóng của chúng ngày càng bị thu hẹp, nhất là trên chiến trường Bắc Bộ. Kinh tế tài chính của bọn thực dân Pháp ngày càng kiệt quệ, chiến phí ở Đông Dương từ 3,2 tỷ phrăng năm 1945 đã tăng lên tới 556 tỷ phrăng năm 1953, khiến chúng phải ngày càng lệ thuộc vào đế quốc Mỹ để duy trì chiến tranh xâm lược. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới chống "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" ở Đông Dương ngày càng lên cao làm cho nội bộ của bọn thực dân Pháp ngày càng lục đục. Mặc dù Chính phủ Pháp đã 18 lần lập lên đổ xuống, đã phải thay đổi 6 tướng tổng chỉ huy và 5 cao ủy ở Đông Dương, nhưng chúng vẫn không sao tránh khỏi tình trạng ngày càng bị sa lầy trong cuộc chiến tranh thuộc địa. Càng đánh, chúng càng dần dần mất hy vọng ở thắng lợi cuối cùng. Chính trong tình hình đó, đế quốc Pháp đã cử tướng Nava sang Đông Dương. Chúng đặt ra kế hoạch Nava, mong dựa vào "viện trợ" của Mỹ để cứu vãn tình thế nguy ngập của chúng và giành lấy một thắng lợi quyết định về mặt quân sự, hòng tìm "một lối thoát có danh dự" cho cuộc chiến tranh xâm lược, về phía đế quốc Mỹ, sau khi thất bại và buộc phải ký kết Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, chúng ngày càng can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương, âm mưu thông qua kế hoạch Nava để dần dần thay chân thực dân Pháp hòng kéo dài và mở rộng cuộc chiến tranh ở vùng này, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á.

Kế hoạch chiến lược quy mô lớn của Nava dự định thực hiện trong vòng 18 tháng, chia làm hai thời kỳ:

Từ mùa Thu năm 1953 đến mùa Hè năm 1954 là thời kỳ phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tiến công chiến lược ở miền Nam. Trong thời kỳ này, trước hết địch tập trung lực lượng ra chiến trường miền Bắc nhằm tăng cường càn quét, đánh phá các căn cứ du kích của ta ở vùng địch tạm chiếm, đồng thời chủ động mở những chiến dịch tiến công để tiêu hao lực lượng và phá kế hoạch tiến công Thu Đông của ta. Và trong lúc chờ đợi xây dựng một lực lượng cơ động hùng hậu, chúng tránh quyết chiến với chủ lực lớn mạnh của ta ở miền Bắc; đợi đến đầu năm 1954, sau khi phá được các cuộc tiến công Thu Đông của ta và chủ lực ta đã bị tiêu hao, mệt mỏi chúng sẽ tập trung lực lượng vào bình định chiến trường miền Nam mà trọng tâm là đánh chiếm vùng tự do Liên khu V và các căn cứ du kích rộng lớn của ta ở miền tây Nam Bộ.

Bước sang thời kỳ thứ hai, vào Đông Xuân năm 1954 - 1955, sau khi bình định xong chiến trường miền Nam và xây dựng xong lực lượng cơ động hùng hậu, chúng sẽ tập trung toàn bộ lực lượng ra chiến trường miền Bắc, mở cuộc tiến công chiến lược, quyết chiến với chủ lực của ta, hòng giành một thắng lợi có tính chất quyết định.

Để thực hiện kế hoạch nói trên, Nava chủ trương ra sức bắt người, cướp của ở vùng địch tạm chiếm, dự định phát triển ngụy quân từ 168.000 người lên 280.000 người, tổ chức 108 tiểu đoàn khinh quân, dùng ngụy quân làm nhiệm vụ bình định để tập trung quân Âu - Phi làm lực lượng cơ động, đồng thời xin thêm viện binh ở Pháp sang để có thể đưa lực lượng cơ động từ 9 lên tới 27 binh đoàn. Có thể nói, chưa lúc nào đế quốc Pháp lại có một kế hoạch phát triển nguỵ quân và xây dựng lực lượng cơ động với quy mô lớn và tốc độ nhanh như lúc này. Để giúp Pháp thực hiện kế hoạch Nava, đế quốc Mỹ đã tăng "viện trợ" quân sự từ 269 tỷ lên 420 tỷ phrăng, cung cấp thêm trang bị cho 6 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn cơ giới, 6 tiểu đoàn vận tải, tăng thêm 123 máy bay và 212 tàu chiến các loại.

Kế hoạch Nava rõ ràng là một âm mưu chính trị và quân sự vô vùng thâm độc. Về mặt chính trị, nó thể hiện sự tăng cường câu kết giữa thực dân xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ hòng đè bẹp cuộc kháng chiến ngày càng thắng lợi của nhân dân ta, thực hiện mưu đồ thực dân của chúng. Về mặt quân sự, nó nói lên sự gian ngoan của địch đã phần nào biết nhìn thấy chỗ yếu và thế bị động chiến lược của chúng ngay trong lúc chúng vẫn còn chiếm ưu thế về tổng số quân cũng như về binh khí kỹ thuật, biết tạm thời phòng ngự để chuẩn bị điều kiện cho một cuộc tiến công lớn có tính chất quyết định, biết nắm vững khâu chính là tổ chức một lực lượng cơ động mạnh trên cơ sở phát triển nhanh chóng ngụy quân.

Tuy nhiên, do tính chất và mục đích của cuộc chiến tranh mà chúng theo đuổi là xâm lược, nên bản thân kế hoạch của chúng (kế hoạch Nava) có những mâu thuẫn và nhược điểm không thể nào khắc phục nổi, trong đó mâu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung. Mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp là chiếm lấy nước ta và nô dịch nhân dân ta; mục đích đó buộc chúng phải phân tán binh lực để chiếm giữ đất đai, nhưng phân tán binh lực thì lại lâm vào thế bị động, dễ bị quân ta tiêu diệt. Cố gắng tập trung một lực lượng cơ động lớn mạnh để thoát khỏi thế bị động về chiến lược thì lực lượng chiếm đóng lại bị yếu đi, đất đai khó lòng giữ được, mà bỏ đất thì không thực hiện được âm mưu vơ vét sức người, sức của để duy trì chiến tranh, không đạt được mục đích cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược. Nhược điểm căn bản nhất của kế hoạch Nava là chỉ dựa vào ưu thế về vũ khí trang bị, không thấy được sức mạnh của yếu tố chính trị và tinh thần. Địch đã phạm sai lầm là đánh giá quá thấp lực lượng của ta, đáng giá quá cao lực lượng của chúng nên đã đề ra một kế hoạch có tính chất chủ quan, mạo hiểm. Vì vậy, chúng không tránh khỏi thất bại.

Mùa Thu năm 1953, kế hoạch Nava được bắt đầu thực hiện. Khẩu hiệu của địch là: "Tập trung lực lượng, tích cực tiến công giành lại chủ động". Chúng đã tập trung 112 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ tức là gần 50% lực lượng của chúng trên toàn cõi Đông Dương, trong đó có 44 tiểu đoàn cơ động, chiếm hơn một nửa lực lượng cơ động của chúng trên toàn cõi Đông Dương. Với lực lượng lớn mạnh đó, chúng mở những cuộc càn quét lớn ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng, đánh thọc lên Lạng Sơn, thả hàng nghìn thổ phỉ, biệt kích xuống Tây Bắc để quấy rối hậu phương ta. Trung tuần tháng 10-1953, chúng mở Chiến dịch Hải Âu, đánh ra Nho Quan, đồng thời nghi binh tiến công vào Thanh Hóa, uy hiếp vùng tự do của ta ở Phú Thọ, Hoà Bình, nhằm phá sự chuẩn bị tiến công của quân chủ lực của ta vào đồng bằng Bắc Bộ. Đi đôi với hoạt động về quân sự, địch đẩy mạnh tuyên truyền, cổ động cho "thắng lợi" của kế hoạch Nava.
__________________________________________________
1. Tạp chí Học tập, số 5-1964.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #178 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2022, 02:09:45 pm »


Bước vào Thu Đông năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã phân tích tình hình một cách sâu sắc và toàn diện, nhận rõ chỗ mạnh và chỗ yếu của kế hoạch Nava và đề ra chủ trương quân sự dưới đây để phá tan âm mưu của địch: "Ra sức tăng cường chiến tranh du kích trên khắp các chiến trường ở vùng sau lưng địch, không chỉ ở Bắc Bộ mà cả ở Trung và Nam Bộ để phá âm mưu bình định của địch, phá kế hoạch phát triển ngụy quân và kế hoạch tập trung quân ra Bắc của chúng. Bộ đội chủ lực thì nắm vững phương châm tích cực chủ động, cơ động linh hoạt, tập trung binh lực nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ giải phóng đất đai ở những vùng chiến lược quan trọng mà địch tương đối yếu", đồng thời phá tan âm mưu của Nava định tập trung và xây dựng lực lượng cơ động, hòng giành lại quyền chủ động chiến lược. Để thực hiện chủ trương quân sự nói trên, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định lấy Tây Bắc làm phương hướng chính, nhằm tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở khu vực Lai Châu, giải phóng toàn khu Tây Bắc, chiến trường phụ là trung du Bắc Bộ, Hạ Lào, chiến trường phối hợp trực tiếp là Liên khu V và đồng bằng Bắc Bộ.

Tháng 11-1953, sau khi đánh lui cuộc tiến công của địch ra Rịa và Nho Quan, tiêu diệt khoảng 1.500 tên, quân ta bắt đầu thực hiện kế hoạch tác chiến Đông Xuân nhằm phá tan kế hoạch Nava. Các đơn vị chủ lực lần lượt tiến ra các chiến trường đã định.

Trung tuần tháng 11-1953, Nava phát hiện bộ đội ta tiến quân lên Tây Bắc, liền vội vã cho sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ (ngày 20-11) để ngăn chặn cuộc tiến công của ta, yểm hộ Lai Châu và trực tiếp bảo vệ Thượng Lào. Quân ta được lệnh nhanh chóng bao vây giữ địch ở Điện Biên Phủ, đồng thời tiếp tục tiến công về hướng Lai Châu. Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 10 đến ngày 23-12, chủ lực ta đã tiêu diệt và đánh tan 24 đại đội địch, giết và bắt sống trên 1.100 tên, giải phóng thị xã và toàn tỉnh Lai Châu.

Ngày 21-12-1953, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp cùng bộ đội Pathét Lào mở cuộc tiến công vào Trung Lào. Sau một tuần chiến đấu, ta tiêu diệt hơn ba tiểu đoàn bộ binh của địch, truy kích địch trên một quãng đường dài 200km, giải phóng tỉnh Khăm Muộn và thị xã Thàkhẹt (27-12-1953), tiến sát đến bờ sông Mê Kông, cắt đôi chiến trường của địch. Trước tình hình đó, Nava buộc phải vội vã điều động lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ lên Trung Lào, biến căn cứ không quân Xênô thành tập đoàn cứ điểm lớn gồm 13 tiểu đoàn, trong đó có 9 tiểu đoàn điều từ Bắc Bộ tới. Quân ta tiếp tục phát triển về hướng đường số 9 và Hạ Lào, và cuối tháng 1-1954, giải phóng toàn bộ cao nguyên Bôlôven và thị xã Atôpơ, buộc địch phải điều quân tăng viện cho Pắcxế.

Trên chiến trường Liên khu V, ngày 20-1-1954, Nava tập trung 20 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn pháo và 3 tiểu đoàn cơ giới mở cuộc tiến công vào Tuy Hòa, Phú Yên nhằm thực hiện âm mưu đánh chiếm toàn bộ vùng tự do của ta ở Liên khu V bao gồm hơn ba tỉnh với khoảng 2 triệu rưỡi dân, dài gần 300km, mà y cho là một bàn đạp tiến công rất lợi hại của ta ở chiến trường miền Nam. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, quân đội ta ở Liên khu V chỉ để một bộ phận nhỏ đối phó với quân địch ở chính diện, còn phần lớn chủ lực thì mở cuộc tiến công bất ngờ lên miền bắc Tây Nguyên. Chỉ trong 10 ngày chiến đấu, quân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum (bao gồm thị xã Kon Tum) và một phần tỉnh Gia Lai, tiếp đó phát triển tiến công xuống sát đường 19. Quân địch hoảng hốt buộc phải tạm ngừng cuộc tiến công ở đồng bằng Liên Khu V và vội vã rút lực lượng cơ động ở mặt trận đồng bằng, ở các chiến trường Bình - Trị - Thiên và Nam Bộ tăng cường cho Tây Nguyên, biến Plâycu thành một tập đoàn cứ điểm mới gồm 13 tiểu đoàn đóng giữ.

Cuối tháng 1-1954, để đánh lạc hướng phán đoán của địch, để tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta đẩy mạnh mọi mặt công tác chuẩn bị ở Điện Biên Phủ, quân tình nguyện Việt Nam từ Điện Biên Phủ sang phối hợp Quân giải phóng Pathét Lào, bất ngờ mở cuộc tiến công vào Thượng Lào. Từ ngày 31-1 đến ngày 18-2-1954, Liên quân Lào - Việt đánh tan và tiêu diệt 15 đại đội địch, giết và bắt sống khoảng 2.200 tên, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phông Xa Lỳ và khu vực sông Nậm Hu là khu vực giàu có nhất ở Thượng Lào, tiến sát và trực tiếp uy hiếp Luông Prabăng. Một lần nữa Nava lại phải hoảng hốt điều một binh đoàn cơ động và một số tiểu đoàn dù ở đồng bằng Bắc Bộ lên, biến Luông Prabăng (năm tiểu đoàn) và Mường Sài (bốn tiểu đoàn) thành những tập đoàn cứ điểm mới.

Trong lúc đó, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ trên khắp các chiến trường ở vùng sau lưng địch. Ở Nam Bộ, kết hợp chặt chẽ tác chiến với địch vận, quân và dân ta đã tiêu diệt và bức rút hàng trăm đồn bốt. Ở đồng bằng Bắc Bộ, lợi dụng lực lượng cơ động của địch bị phân tán, ta nhiều lần cắt đứt đường số 5, đánh mạnh vào tuyến sông Đáy, sông Đào (Nam Định), tuyến đường 10,... Đặc biệt là hai trận tập kích lớn vào sân bay Cát Bi (ngày 4-3) và sân bay Gia Lâm (ngày 7-3), đã phá huỷ 78 máy bay, làm cho lực lượng không quân địch bị tổn thất nặng nề, phối hợp đắc lực với Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đến đây kết thúc thời kỳ thứ nhất của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Như vậy là sau ba tháng tác chiến, tính từ đầu tháng 12-1953 đến trước ngày ta tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, trên toàn quốc, quân và dân ta đã tiêu diệt gần ba vạn quân địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn ở Tây Bắc, Thượng Lào, Hạ Lào và bắc Tây Nguyên,... Chúng ta đã phá tan kế hoạch tập trung quân và âm mưu giành chủ động của Nava, làm cho khối quân cơ động của Nava bị chia năm xẻ bảy, lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ từ 44 tiểu đoàn chỉ còn lại khoảng 20 tiểu đoàn.

Tại Điện Biên Phủ, lúc này quân ta vẫn bao vây, tiêu hao và kiềm chế địch, đồng thời tăng cường mọi mặt chuẩn bị cho chiến dịch. Địch đã phải tăng cường số quân lên tới 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (về sau tăng lên thành 17 tiểu đoàn và 10 đại đội), 3 tiểu đoàn pháo binh (trong đó có 1 đại đội 155 ly), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng và 6 máy bay thường trực. Chúng đóng thành 8 cụm cứ điểm gồm 49 vị trí, với công sự dã chiến khá kiên cố, các cụm và các vị trí đều có thể yểm hộ lẫn nhau bằng hỏa lực. Chung quanh các vị trí đều có hàng rào dây thép gai dày từ 50 đến 75m, có chỗ từ 100 đến 200m, xen kẽ với những bãi mìn các loại. Trong mấy tháng chiếm đóng, chúng đã dùng đến 3.000 tấn dây thép gai.

Do được củng cố và tăng cường đến mức như vậy nên địch đã huênh hoang gọi Điện Biên Phủ là "tiền đồn cực mạnh bảo vệ phương Tây", là "chiến tuyến thép của thế giới tự do", là "pháo đài bất khả xâm phạm". Chúng cho rằng trước kia quân ta không đánh được Nà Sản thì năm nay đối với Điện Biên Phủ vững mạnh hơn nhiều, chắc chắn là quân ta không thể nào đánh được.

Đầu tháng 3-1954, sau khi thấy bộ đội ta đã triển khai hoạt động trên khắp các chiến trường, địch chủ quan cho rằng bộ đội chủ lực ta đã kiệt sức, hoạt động trên các mặt trận đã dừng lại, nên ngày 12-3-1954, chúng tập trung một bộ phận lực lượng cơ động tiếp tục kế hoạch đánh rộng ra vùng tự do Liên khu V, đổ bộ lên Quy Nhơn, chuẩn bị đánh chiếm toàn tỉnh Bình Định.

Nhưng ngoài sự tính toán của địch, chỉ một ngày sau, quân ta mở cuộc tiến công lớn vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, mở đầu cho thời kỳ thứ hai của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã diễn ra ác liệt trong 55 ngày đêm, quá trình đó có thể phân ra ba giai đoạn:

Trong giai đoạn thứ nhất của chiến dịch, quân ta đã tiêu diệt các trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, đánh chiếm hoàn toàn phân khu phía bắc của tập đoàn cứ điểm. Quân địch đã cố gắng điên cuồng triệt hạ các căn cứ hỏa lực của ta. Không quân chúng đã giội bom napan xuống các đồi núi chung quanh Điện Biên Phủ; pháo binh của chúng tập trung bắn phá dữ dội các căn cứ hỏa lực của ta, nhưng trận địa của ta vẫn giữ vững và ngày càng thắt chặt.

Trong giai đoạn thứ hai, giao thông hào "trục" và rất nhiều giao thông hào chi nhánh của trận địa ta đã phát triển xuống đến tận cánh đồng, cắt phân khu trung tâm với phân khu phía nam. Cuộc tiến công gay go nhưng thắng lợi vào các ngọn đồi phía đông đã tạo điều kiện cho vòng vây hỏa lực của quân ta khép lại. Từ các vị trí mà quân ta đã đánh chiếm được, tất cả các cỡ hỏa lực của ta uy hiếp quân địch, hoàn toàn khống chế sân bay - cổ họng của tập đoàn cứ điểm. Lúc này quân địch ra sức tiếp viện để tăng thêm lực lượng cơ động, tổ chức phản kích, oanh tạc dữ dội vào trận địa của ta, để mong cứu vãn tình thế. Một trạng thái cầm cự gay go đã diễn ra. Có ngọn đồi ta với địch đã giành đi giật lại nhiều lần; có cứ điểm ta chiếm một nửa, địch vẫn còn một nửa. Quân ta phát huy tinh thần sáng tạo, thực hiện những chiến thuật mới: đánh lấn, đánh tỉa, cắt đứt sân bay, thu hẹp vùng trời của địch, khiến cho sự tiếp viện và tiếp tế của địch ngày càng khó khăn.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn quân ta tổng công kích. Phạm vi chiếm đóng của địch đã bị thu hẹp vào một khu vực dài rộng dưới 2km. Binh lực của chúng đã bị tổn thất nặng nề. Khi đồi A1 bị quân ta hoàn toàn chiếm lĩnh thì hy vọng cố thủ trận địa của địch đã tiêu tan, tinh thần của chúng đã suy nhược đến cực độ. Ngày 7-5-1954, quân ta mở cuộc tiến công từ các mặt, đánh chiếm Chỉ huy sở, bắt sống toàn thể Bộ Tham mưu của địch. Ngay trong đêm ấy, quân địch ở phân khu phía nam định chọc thủng vòng vây để tháo chạy, nhưng đã bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng.

Trong chiến dịch đó, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ 16.200 tên địch, gồm 17 tiểu đoàn và 10 đại đội bộ binh (trong đó có 7 tiểu đoàn dù Âu tức là phần lớn quân dù của Pháp ở Đông Dương), 3 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, bắn rơi và bắn hỏng 62 máy bay. Tính chung ở toàn quốc, trong Đông Xuân 1953-1954, chúng ta tiêu diệt khoảng 112.000 tên địch, tức là 1/6 binh lực của địch lúc đó, trong đó có 25 tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn, khoảng 1.500 sĩ quan bị giết và bị bắt, phá huỷ và bắn rơi 177 máy bay các loại, tức là khoảng 40% lực lượng không quân của địch.

Nhìn chung toàn bộ chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, nhìn qua các mũi tiến công chiến lược của ta và sự phối hợp chặt chẽ về thời gian trên các chiến trường, các chiến dịch tiến công của ta hợp thành một cuộc phản công lớn về chiến lược, và chiến thắng Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược đã kết thúc thắng lợi cuộc phản công chiến lược đó. Đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ đã hoàn toàn thất bại. Thắng lợi của ta đã buộc chúng phải ký kết Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #179 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2022, 02:11:57 pm »


II

... Chiến dịch Điện Biên Phủ và nói chung cả chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 là một cuộc thử thách to lớn nhất đối với quân đội và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc xâm lược. Qua cuộc thử thách này, chúng ta đã chiến thắng vẻ vang và thu được nhiều bài học vô cùng quý báu. Bài học chủ yếu, quan trọng nhất là phát huy ưu thế về chính trị và tinh thần của quân đội và nhân dân ta, biến nó thành sức mạnh vật chất để đè bẹp quân địch. Bài học ấy thể hiện trước hết ở Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh một cách hùng hồn rằng trong chiến tranh, trang bị vũ khí là quan trọng, nhưng không phải là nhân tố quyết định. Nhân tố quyết định là con người, trang bị vũ khí dù hiện đại đến đâu cũng phải do con người sử dụng mới phát sinh hiệu lực. Tính năng động chủ quan của con người là động lực vĩ đại nhất quyết định thắng lợi của chiến tranh.

Thật vậy, ở Điện Biên Phủ địch có công sự kiên cố, có xe tăng, đại bác, súng phun lửa, có áo giáp hộ thân, có máy ngắm hồng ngoại tuyến, có hàng trăm máy bay ngày đêm yểm hộ. Quân ta thì chỉ có bộ binh với súng trường, súng máy và một ít pháo binh. Thế nhưng vì sao quân ta lại có thể dùng trang bị kém mà đánh bại được kẻ địch có trang bị vũ khí mạnh hơn mình gấp bội. Đó là vì dưới sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng, cán bộ và chiến sĩ của ta đều là những con người có lý tưởng cao cả, nhận rõ mục tiêu phấn đấu của mình, có lòng yêu nước nồng nàn, có lòng căm thù giai cấp sâu sắc, vì vậy mà mọi người đều có quyết tâm cao độ chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, có tinh thần anh dũng tuyệt vời, sẵn sàng hy sinh tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ.

Với tinh thần đó, trên mặt trận Điện Biên Phủ, quân đội ta đã đem sức lao động sáng tạo của mình, bạt núi phá rừng, sửa chữa và mở rộng hàng trăm kilômét đường tiếp tế vận chuyển, làm mới hàng chục kilômét đường xe chở pháo ta tiến vào trận địa. Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cán bộ và chiến sĩ ta đã dám nghĩ, dám làm, dùng tay không kéo pháo, đưa hàng tấn thép qua những đỉnh núi cao trong lửa đạn, lập nên một kỳ công bất diệt. Quân đội ta đã đào hàng trăm kilômét đường giao thông hào và chiến hào, bao bọc sát các vị trí địch, vượt cả hàng rào dây thép gai, tiến sát đến công sự hầm ngầm của địch. Những giao thông hào này cho phép quân ta có thể vận động ngay ở dưới bom napan và đại bác địch, đến sát nách kẻ địch để phát huy đến cao độ uy lực của vũ khí trang bị của mình, đồng thời hạn chế hiệu lực của không quân và pháo binh của địch.

Trong suốt 55 ngày đêm chiến đấu, mặc cho bom đạn của địch cày nát chiến trường, bom napan của chúng đốt trụi nhiều ngọn đồi, cán bộ và chiến sĩ ta vẫn anh dũng tiến lên làm nhiệm vụ, người trước ngã, người sau tiếp, quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch. Tiêu biểu cho tinh thần đó là Tô Vĩnh Diện, lấy thân mình chèn pháo; Bế Văn Đàn, lấy thân mình làm giá súng; Phan Đình Giót, lao người lấp lỗ châu mai; là trung đội anh dũng trên đồi 674, một ngày đánh lui 12 đợt xung phong của hai tiểu đoàn quân địch, và biết bao tấm gương anh hùng khác nữa.

Trên các chiến trường phối hợp, quân đội ta cũng nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, anh dũng chiến đấu để phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Điện Biên Phủ. Có đơn vị đã truy kích địch suốt 12 ngày liền trên một quãng đường dài 300km, vượt qua 50 ngọn núi cao. Có đơn vị đã bí mật hành quân trên 1.000km, ròng rã hàng tháng trong rừng núi của dải Trường Sơn để tiến sâu vào hậu phương của địch. Gan dạ đến tột bực là những dũng sĩ tập kích vào Gia Lâm, Cát Bi là những sân bay nằm sâu trong lòng địch, nêu cao một bài học sinh động về sức mạnh của yếu tố chính trị và tinh thần.

Rõ ràng tinh thần quyết chiến, quyết thắng đã tạo cho quân đội ta có một sức mạnh phi thường, giúp quân ta khắc phục được những khó khăn tưởng chừng như không thể nào vượt nổi. Tinh thần đó đã làm cho binh hùng tướng mạnh của Nava vô vùng khiếp sợ và cuối cùng phải quỳ gối đầu hàng, làm cho trang bị vũ khí tối tân của địch dần dần mất tác dụng.

Tinh thần quyết chiến, quyết thắng nói trên bắt nguồn từ bản chất cách mạng của quân đội ta, bắt nguồn từ giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp của cán bộ và chiến sĩ ta được Đảng dày công bồi dưỡng trong quá trình xây dựng và chiến đấu của quân đội. Đặc biệt, tinh thần đó đã được nâng cao rõ rệt sau các cuộc chỉnh huấn chính trị về chính sách phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất. Các cuộc chỉnh huấn đó đã làm cho cán bộ và chiến sĩ ta, mà tuyệt đại đa số là nông dân, nhận rõ kẻ thù đế quốc và phong kiến, nâng cao trình độ giác ngộ về quyền lợi dân tộc, quyền lợi giai cấp, thấy rõ mục tiêu phấn đấu trước mắt của quân đội là giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dây cày. Do đó đã phát huy mạnh mẽ tinh thần tích cực cách mạng của toàn quân, đặt cơ sở chính trị cho những thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân.

Giữ vững và phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân đội là một quá trình giáo dục và đấu tranh liên tục. Trong quá trình chiến đấu, những nhân tố tiêu cực không phải là không xuất hiện. Trên mặt trận Điện Biên Phủ, sau những thắng lợi giòn giã đầu tiên, tư tưởng chủ quan khinh địch đã từng nảy nở, nhưng đã được kịp thời uốn nắn. Sau đợt hai của chiến dịch, khi cuộc chiến đấu ngày càng trở nên gay go, ác liệt, khẩn trương, thì tư tưởng hữu khuynh tiêu cực lại xuất hiện, ảnh hưởng đến việc chấp hành nhiệm vụ chiến đấu. Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy đã mở ngay tại mặt trận một cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực, phát huy tinh thần tích cực cách mạng, nhằm bảo đảm cho chiến dịch toàn thắng. Cuộc đấu tranh tư tưởng đó đã thành công lớn và đã góp phần quyết định vào thắng lợi hoàn toàn của chiến dịch.

Chiến thắng Điện Biên Phủ một lần nữa chứng minh lời nói của Lênin: Trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, vấn đề thắng lợi rốt cuộc là do tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường quyết định. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn chứng minh rằng, quần chúng nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận của chiến tranh, chỉ có sự tham gia rộng rãi của nhân dân thì chiến tranh mới giành được thắng lợi. Thật vậy, Chiến dịch Điện Biên Phủ và nói chung chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 là biểu hiện sinh động nhất về sự tham gia nhiệt liệt của nhân dân trong chiến tranh, về sự giúp đỡ của hậu phương đối với tiền tuyến.

Trên mặt trận Điện Biên Phủ, vấn đề cung cấp lương thực, đạn dược là một vấn đề vô cùng quan trọng, đồng thời cũng là một khó khăn rất lớn của ta. Nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, địch cho rằng một lý do khiến quân ta không đánh được là vì chúng ta sẽ không thể nào giải quyết nổi vấn đề cung cấp cho hàng vạn người hoạt động lâu ngày trên một vùng người thưa, của ít như chiến trường Tây Bắc. Khu vực tác chiến cách xa hậu phương hàng 400 - 500km, chúng tưởng rằng chỉ cần cắt đứt đường tiếp tế là có thể buộc chúng ta phải lui quân. Nhưng chúng đã tính nhầm. Chúng đã không lường được sức mạnh vô tận của nhân dân ta, sức mạnh đó có thể khắc phục mọi khó khăn, trở ngại để chiến thắng kẻ thù.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM