Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Bảy, 2022, 11:28:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn  (Đọc 2142 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #70 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:08:55 pm »


 
PHÙNG CHÍ KIÊN QUA MỘT SỐ TÀI LIỆU
LƯU TẠI VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG

TS HỒ TỐ LƯƠNG*

Trong kho lưu trữ tư liệu của Viện Lịch sử Đảng có phông tài liệu Hồi ký. Đây là những hồi ký được các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng viết về quá trình hoạt động cách mạng của mình theo yêu cầu của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương trước đây. Trong phông tài liệu Hồi ký đó, có một số tài liệu viết về quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và vai trò của đồng chí trong việc chỉ huy lực lượng Cứu quốc quân I1.

1. Hoạt động của Phùng Chí Kiên trong Ban Chỉ huy ở ngoài.

Phùng Chí Kiên là một trong những số ít cán bộ tiền bối của Đảng được đào tạo ở cả trường quân sự và trường chính trị. Cuối năm 1926, đồng chí được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, nơi có các tướng lĩnh, các anh hùng thời kỳ nội chiến của Liên Xô được Quốc tế Cộng sản phái sang giảng dạy. Tại đây, đồng chí đã được học những kiến thức cơ bản về quân sự, về đấu tranh vũ trang... Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch phản bội lại đường lối hợp tác Quốc - Cộng của Chính phủ Tôn Trung Sơn, Trường Quân sự Hoàng Phố bị đóng cửa. Sau đó, Phùng Chí Kiên được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Liên Xô học ở Trường Đại học Cộng sản của nhân dân lao động phương Đông (Trường Đại học Phương Đông). Trên đường từ Quảng Châu sang Mátxcơva, đến Mãn Châu, Phùng Chí Kiên và các đồng chí khác bị bắt giam gần một năm. Nhờ sự giúp đỡ của MOΠP (Tổ chức quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng), Phùng Chí Kiên và các đồng chí khác được trả tự do và chuyển đến Thượng Hải vào tháng 12 năm 1931. Sau đó, Phùng Chí Kiên sang Liên Xô học ở Trường Đại học Phương Đông từ ngày 15 tháng 6 năm 1932 đến ngày 28 tháng 3 năm 1934 với thẻ sinh viên số 5690. Tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí đã được học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng, công tác xây dựng Đảng, quân sự...

Năm 1934, sau khi kết thúc chương trình học tập ở Trường Đại học Phương Đông, Quốc tế Cộng sản phái Phùng Chí Kiên về Hương Cảng tham gia vào công việc của Ban chỉ huy ở ngoài. Theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng cộng sản Đông Dương có nhiệm vụ liên lạc giữa Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và các đảng anh em, tập hợp và đào tạo cán bộ, xuất bản tạp chí Bônsơvích, cơ quan lý luận của Trung ương Đảng và chuẩn bị Đại hội I của Đảng. Trong thực tế, Ban Chỉ huy ở ngoài đóng vai trò Ban Trung ương Chấp ủy lâm thời.

Trong thời gian 1930-1934, ở nam Ninh có một Chi bộ liên tỉnh Cao Lạng gồm có các đồng chí: Hoàng Đình Giong là Bí thư, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Vĩnh Tuy. Chi bộ này thường xuyên liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài đóng ở Thượng Hải. Cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên (lấy tên là Lý Như Đông) đã chỉ đạo trực tiếp Chi bộ để gây dựng phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh.

Sau một thời gian hoạt động năng động của Ban Chỉ huy ở ngoài, các đảng bộ địa phương đã được tổ chức lại. Ban đã tập hợp dưới sự lãnh đạo của mình tất cả các tổ chức Đảng ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào.

Sau khi Lê Hồng Phong đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Phùng Chí Kiên cùng với Hà Huy Tập soạn thảo các văn kiện của Đại hội I. Vận dụng lý luận đã học được, các đồng chí đã đề ra đường lối chiến lược, sách lược để củng cố phong trào cách mạng sau cao trào 1930-1931và tiến lên một giai đoạn mới. Phùng Chí Kiên còn phụ trách công tác tổ chức của Đại hội. Trước khi diễn ra Đại hội, hàng loạt biến cố xảy ra: người giữ số tiền quỹ để chuẩn bị cho đại hội tự nhiên biến mất, địa điểm họp bị lộ, nhà cầm quyền Pháp huy động hàng trăm mật thám lùng bắt các đại biểu... Đê đối phó lại âm mưu của địch, Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên bàn bạc và bố trí cho các đại biểu ở phân tán nhiều nơi. Đại biểu nào đến trước thì đọc tài liệu trước. Sát ngày đại hội, mới báo các đại biểu đến họp tập trung. Bằng biện pháp này, Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng vào tháng 3 năm 1935. Tại Đại hội I, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài.

Ngày 26 tháng 7 năm 1936, Lê Hồng Phong với tư cách là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và là người lãnh đạo chủ chốt của Ban Chỉ huy ở ngoài, đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương để nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Cùng với Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên tham dự hội nghị này. Vận dụng tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tình hình cụ thể của cách mạng và tình hình trên thế giới, hội nghị đã đề ra sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay đổi sách lược trong thời kỳ mới. Hội nghị tháng 7 năm 1936 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã mở đầu cho thời kỳ cao trào Mặt trận dân chủ 1936-1939.

Tháng 8 năm 1936, Phùng Chí Kiên về Sài Gòn cùng các đồng chí Trung ương trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7 năm 1936. Một thời gian sau, do yêu cầu công tác, Phùng Chí Kiên lại được Trung ương Đảng điều sang Trung Quốc thay đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động.

Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam) là địa điểm rất thuận lợi để in và chuyển các tài liệu macxit về Việt Nam. Theo Điều ước ký giữa Triều đình Mãn Thanh và Pháp năm 1885, công ty xe lửa Pháp đã xây dựng con đường xe lửa chạy suốt từ Hà Nội, qua Lào Cai, Hà Khẩu đến Côn Minh. Tất cả những người Việt Nam làm việc trên xe lửa cũng như ở các nhà ga đều là công nhân viên chức do công ty trả lương và điều khiển, nhà đương cục Trung Quốc không được đụng chạm đến họ. Số người Việt Nam qua Vân Nam sống ở các thị trấn dọc đường xe lửa khá nhiều. Họ là bà con của các công nhân viên chức của công ty xe lửa, đều thuộc quyền trị ngoại của lãnh sự Pháp.

Năm 1938, Phùng Chí Kiên bị bắt ở Hương Cảng và bị trục xuất qua Sơn Dầu (Quảng Đông), ở đây đồng chí đã huấn luyện dân quân du kích một thời gian. Cuối năm 1939, Phùng Chí Kiên từ Sơn Dầu đến Côn Minh hoạt động để củng cố Ban Chỉ huy ở ngoài. Hoạt động với Phùng Chí Kiên ở Côn Minh có Vũ Anh và Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan). Ở đây, Ban ra một tờ báo nhỏ lấy tên là Truyền tin, sau đổi tên là Đồng Thanh, tuyên truyền trong Việt kiều chủ trương đoàn kết, chống Pháp, ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống Nhật, đồng thời vạch mặt những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của bọn Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ (Việt Nam Quốc dân Đảng) và bọn tơrốtkit.

Đầu năm 1940, Bác về Côn Minh lấy tên là Hồ Quang, đóng vai một giáo quan cấp thiếu tá của Bát lộ quân, ở chỗ Tân Hoa thư điếm, nhưng thường lui tới chỗ Phùng Chí Kiên để chỉ đạo công tác của Ban Chỉ huy ở ngoài.

Bác đề nghị đổi tên tờ Đồng Thanh thành tờ Đ.T. Theo Bác, thì Đ.T có thể hiểu theo nhiều nghĩa "Đồng Thanh", "Đồng Tâm", "Đấu tranh" và cũng có thể hiểu là “Đánh Tây". Các bài viết trong báo này thường được Bác sửa chữa và duyệt, nên chất lượng được nâng cao, cách viết đơn giản, dễ hiểu, quần chúng rất thích đọc.

Để hiểu biết tình hình và vận động Việt kiều ở Vân Nam, Bác đã cùng Phùng Chí Kiên đến các điểm dọc đường xe lửa có đông Việt kiều sinh sống như Mông Tư, Nghi Lương, Khai Viễn và Chỉ Thôn để liên hệ, vận động quần chúng.

Giữa năm 1940, đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh. Trong lúc chờ đi học, các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên đã dự lớp học lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô.

Tháng 5 năm 1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp. Tháng 6 năm 1940, Pháp thất thủ. Trong tình hình quốc tế như vậy, Bác gọi các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài đến, bàn bạc công việc và quyết định chuyển hướng hoạt động công tác về biên giới, rồi từ đó về trong nước. Quyết định xong, Bác đi Trùng Khánh gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc để trao đổi ý kiến về thời cuộc.

Vấn đề đặt ra cần phải suy nghĩ là về biên giới thì về vùng nào để hoạt động có lợi. Tình hình chính trị ở Vân Nam lúc bấy giờ không tốt, hơn nữa các tỉnh giáp Vân Nam như Hà Giang, Lào Cai thì cơ sở quần chúng của ta chưa có. Vì vậy, hướng cần phải tới là phía biên giới Quảng Đông hoặc Quảng Tây. Sau đó, Phùng Chí Kiên cùng Bác và một số đồng chí khác về Tĩnh Tây hoạt động (một huyện của Trung Quốc gần biên giới Cao Bằng). Vùng Tĩnh Tây, Bình Mãnh trong những năm Trung Quốc chống Nhật là một vùng quan trọng của khu du kích Quảng Tây. Ít lâu sau đó, cơ sở ở biên giới được chuẩn bị xong, Bác, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Hoàng Sâm chuẩn bị về nước.

Là một thành viên của Ban chỉ huy ở ngoài - một tổ chức đặc biệt của Đảng ta trong thời kỳ thoái trào, Phùng Chí Kiên đã thực hiện các nhiệm vụ của Ban do Quốc tế Cộng sản chỉ thị, góp phần quan trọng vào việc khôi phục cơ sở Đảng và phong trào cách mạng sau cao trào 1930-1031.
_____________________________________________
* Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
1. Hồ Đức Thành, Một số sự kiện xảy ra từ năm 1930-1940, Chu Văn Tấn, Khởi nghĩa Bắc Sơn và Cứu quốc quân, Một năm trên biên giới Việt – Trung; Hoàng Vĩnh Tuy, Tự Thuật; Phạm Văn Xô, Về Đại hội ở Macao; Nguyễn Thiết Hùng, Tự thuật về thời kỳ hoạt động cách mạng ở Trung Quốc 1925-1944; Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả (riêng Hoàng Văn Hoan không phải viết theo yêu cầu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Hoàng Văn Hoan viết hồi ký này vào tháng 2 năm 1986 tại Bắc Kinh)... Như chúng ta đã biết, Hoàng Văn Hoan và Chu Văn Tấn bị kỷ luật Đảng. Tác giả bài viết này chỉ sử dụng phần nội dung trong các hồi ký của Chu Văn Tấn và Hoàng Văn Hoan về quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #71 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:09:31 pm »


2. Chỉ huy trưởng Đội cứu quốc quân 1.

Lợi dụng cơ hội Pháp thua Đức, phát xít Nhật bắt đầu thực hiện kế hoạch xâm lấn Đông Dương. Đêm 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật đánh vào khu vực Lạng Sơn. Quân Pháp hèn nhát không chống cự, rút chạy. Thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật một cách nhục nhã. Nhân dân Việt Nam với truyền thống đấu tranh bất khuất lại được Đảng lãnh đạo đã nổi dậy chống phát xít Pháp, Nhật.

Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng. Trước sự tan rã của thực dân Pháp, và sự xâm lược của phát xít Nhật, Đảng bộ Bắc Sơn quyết định khởi nghĩa và thành lập Ủy ban khởi nghĩa. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Xứ ủy Bắc Kỳ phái Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn cùng với Đảng bộ địa phương lãnh đạo quần chúng đấu tranh giữ vững phong trào.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra khi cả nước chưa được chuẩn bị khởi nghĩa đã phải chiến đấu một cách lẻ loi. Nhưng khởi nghĩa Bắc Sơn là tiếng súng đầu tiên báo hiệu một thời kỳ đấu tranh mới của dân tộc Việt Nam. Từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã ra đời đứa con đầu lòng của lực lượng vũ trang cách mạng: Đội du kích Bắc Sơn.

Đến tháng 1 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí cán bộ Trung ương và 40 cán bộ người Cao Bằng hoạt động ở bên kia biên giới Việt - Trung, bắt đầu rời Tĩnh Tây về nước. Trước lúc vượt biên giới, Người đã dừng chân một thời gian ngắn để huấn luyện cán bộ tại hai địa điểm Nặm Quang và Ngàm Tảy. Chương trình huấn luyện gồm các vấn đề tình hình thế giới và trong nước, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, các bước công tác cụ thể điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Giúp đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong các lớp huấn luyện này có Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Đây là lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc chủ trương và trực tiếp tổ chức nhằm đào tạo cán bộ cho công tác thí điểm phong trào Việt Minh ở Cao Bằng. Thời gian học tập tuy ngắn nhưng khẩn trương, kỹ lưỡng, nên học viên đều nắm chủ trương đường lối cách mạng trong điều kiện lịch sử mới về cách thức gây dựng, phát triển phong trào Việt Minh. Sau đó, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng Bác và các đồng chí khác về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Sau khi về nước, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Trung ương Đảng vào tháng 5 năm 1941. Hội nghị chọn vùng rừng núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ cách mạng, lấy Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng làm hai địa điểm trung tâm và làm bàn đạp phát động đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị để thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước. Cũng trong Hội nghị lần thứ tám, đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng được phân công phụ trách công tác quân sự của Đảng và về trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, làm Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn.

Nhận nhiệm vụ mới, Phùng Chí Kiên phấn khởi lên đường. Cùng đi với Phùng Chí Kiên về Bắc Sơn có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt... đi dự Hội nghị lần thứ tám của Trung ương về. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, thay mặt Trung ương Đảng phổ biến tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng cho toàn thể cán bộ và chiến sĩ đội du kích Bắc Sơn làm cho lực lượng vũ trang của Đảng thông suốt đường lối, chính sách mới của Đảng. Đây là cuộc học tập đầu tiên về đường lối, chính sách của Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay sau đó, đội du kích Bắc Sơn được mang tên mới: Cứu quốc quân (Cứu quốc quân 1), cho phù hợp với nhiệm vụ cứu nước. Tiếp đó, các đồng chí Trung ương họp với các đồng chí chỉ huy quân sự Bắc Sơn, nhận định tình hình, đề ra phương hướng hoạt động mới và thành lập Ban chỉ huy Cứu quốc quân gồm ba đồng chí: đồng chí Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng, hai đồng chí Lương Văn Tri và Chu Văn Tấn làm Chỉ huy phó.

Những kiến thức quân sự học được ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Đại học Phương Đông và thực tiễn đấu tranh cách mạng trong Hồng quân Trung Quốc làm những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để Phùng Chí Kiên trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang.

Sau khi Ban chỉ huy thành lập, đồng chí Phùng Chí Kiên tổ chức ngay một lớp huấn luyện cấp tốc cho các chiến sĩ cứu quốc quân. Lớp huấn luyện hoàn thành thì cũng là lúc thực dân Pháp mở một cuộc khủng bố mới vào chiến khu.

Ở Bắc Sơn, Phùng Chí Kiên thấy rằng ở đây đất hẹp, điều kiện liên lạc với bên ngoài không thuận lợi, khó phát triển và chiến đấu lâu dài, nên chủ trương vượt vòng vây của địch lên vùng biên giới xây dựng chiến khu mới. Ở đó có điều kiện sẽ chuyển một số cán bộ ra nước ngoài học quân sự để chuẩn bị cán bộ cho tương lai. Còn số ít ở lại Bắc Sơn hoạt động.

Cuối tháng 6 năm 1941, lúc các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt... đang ở Bắc Sơn - Võ Nhai, thực dân Pháp mở một cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của Đảng cộng sản Đông Dương, Cứu quốc quân và trấn áp phong trào cách mạng ở Bắc Sơn - Võ Nhai, chấm dứt mối lo lắng thường xuyên của chúng. Chúng huy động một lực lượng lớn hàng ngàn quân gồm lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh cùng mật thám, cường hào, phản động, kéo từ Thái Nguyên lên, từ Lạng Sơn và từ Bắc Giang sang. Thực hiện chính sách vô cùng tàn bạo, đi đến đâu chúng đốt sạch mọi làng bản, giết sạch mọi gia súc, các cơ sở bí mật của Trung ương Đảng và Cứu quốc quân bị uy hiếp. Tình thế rất nghiêm trọng. Ban Chỉ huy Cứu quốc quân phái ngay một bộ phận về Võ Nhai tìm đường đưa các đồng chí Ủy viên Trung ương về xuôi an toàn; còn toàn đội chuẩn bị chống khủng bố. Lực lượng Cứu quốc quân bị dồn từ khu rừng này sang khu rừng khác. Đứng trước tình thế khẩn trương, tháng 7 năm 1941, Cứu quốc quân chia làm hai cánh rút về phía Cao Bằng và Lạng Sơn. Ngày 27 tháng 7 năm 1941, cánh quân rút về phía Cao Bằng, khi đi qua vùng Ngân Sơn (Bắc Kạn), bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên sa vào tay giặc. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, kẻ thù đã chặt đầu đồng chí Phùng Chí Kiên rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân. Các đồng chí còn lại phải chạy ra lánh ở một số cơ sở miền biên giới. Tiểu đội ở lại Bắc Sơn cũng bị địch truy lùng ráo riết.

Hy sinh anh dũng ở tuổi 40, đồng chí Phùng Chí Kiên, một cán bộ trung kiên của Đảng đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #72 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:16:49 pm »


PHÙNG CHÍ KIÊN QUA MỘT SỐ TƯ LIỆU LƯU GIỮ
TẠI CỘNG HOÀ PHÁP

TS PHAN XUÂN THÀNH*


Nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày mất của Phùng Chí Kiên, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung; nhà chính trị, quân sự song toàn". Tôi xin phát biểu tham luận với nội dung "Phùng Chí Kiên qua một số tài liệu lưu giữ tại Pháp".

Phùng Chí Kiên sinh năm 1901 trong một gia đình nông dân ỏ làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An. Từ một thanh niên nông thôn, ông được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ cộng sản ưu tú, là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I), một trong những nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng ta.

Trong cuộc đời của mình, Phùng Chí Kiên đã đi hoạt động ở nhiều nơi: Sài Gòn, Bắc Kạn, Cao Bằng, đến Quảng Châu, Hương Cảng, Ma Cao, Vân Nam (Trung Quốc), sang học Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) của Quốc tế Cộng sản.

Mỗi bước đi, mỗi nẻo đường hoạt động của ông, mật thám Pháp đều theo dõi, kiểm soát chặt chẽ và báo cáo đầy đủ. Trong hồ sơ số 4480/CN-MT-C lưu giữ ở Pháp, tài liệu của Phòng nhì (mật) ghi rõ: "Mạnh Văn Liễu tức Nguyễn Hào, tức Như Bách. Độ 26 tuổi, quê quán: Bắc Kỳ, nói giọng Ninh Bình, cựu học sinh sĩ quan Trường Hoàng Phố, gia nhập Đảng Thanh niên. Chắc đã từ Quảng Châu ra đi Nam Kinh tháng 10 năm 1929. Chỗ ở hiện nay: Không biết. Có thể là Đông Dương. Nhận dạng: Người tầm thước, khá vạm vỡ, nước da nâu, mắt đen, miệng rộng, môi mỏng, tai to"1. Kèm theo ảnh để truy tìm.

Tháng 2.1931, Phùng Chí Kiên được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học Trường Đại học Phương Đông. Khi đến Mãn Châu, bị phát xít Nhật bắt giam 1 năm. Ra tù ông sang Liên Xô học tập. Trường Đại học Phương Đông là trường đào tạo những chiến sĩ cộng sản cho nhân dân các dân tộc bị áp bức. Trường được thành lập năm 1921, đến năm 1922 trường nhận nhiều người nước ngoài vào phân ban đặc biệt. Nhà trường dạy theo nguyên tắc bảo mật. Từ năm 1925 đến năm 1930, có 60 sinh viên Đông Dương theo học. (Đảng Cộng sản Pháp báo cáo có 75 sinh viên Việt Nam theo học tại đây). Trong đó có Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, v.v...

Được đặt chân đến đất nước Xô-viết, quê hương của Lênin vĩ đại, lại thấy cuộc sống vui tươi, phấn khởi của người dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, ông liên tưởng đến Việt Nam, xứ Nghệ quê ông, suy nghĩ về tương lai của đất nước và dân tộc Việt Nam, từ đó ra sức học tập, trau dồi đạo đức tri thức mới để sau này góp phần đưa đất nước khỏi cảnh lầm than nô lệ.

Trong báo cáo của Bộ thuộc địa Pháp, ngày 7 tháng 3 năm 1934, Thượng thư Bộ thuộc địa gửi quan Toàn quyền Đông Dương, Tổng nha mật thám Hà Nội, có ghi:

- Đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương đã dự cuộc họp toàn thể vừa qua của Ban Chấp hành Đệ tam quốc tế tại Mạc Tư Khoa vào tháng Chạp năm 1933.

- Mặc dù bị đàn áp, việc tuyên truyền và tổ chức cộng sản vẫn phát triển tốt ở Đông Dương dưới hình thức bất hợp pháp.

Không thấy có người cộng sản Đông Dương nào cư trú tại Pháp đã sang Nga.

Từ nhận định trên, Bộ thuộc địa Pháp đề nghị Tổng nha mật thám Hà Nội: "Có thể giả định rằng các đại biểu đến dự hội nghị toàn thể vừa qua chắc đã rời Đông Dương mà đi thẳng sang Nga. Xin ông vui lòng báo cho tôi điều đã điều tra được, mà Tổng nha mật thám có thể có hoặc cho thu thập về vấn đề này. (KT Thượng thư - Ủy viên Hội đồng Nhà nước - Chánh chính trị vụ: Joseph)"2.

Tài liệu lưu giư tại Pháp cho biết:

- Nguyễn Ái Quốc đưa Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên ) và Trần Văn Diệm đi Thượng Hải (Trung Quốc) để sang Nga. "Ngày 28 Nguyễn Ái Quốc đến gặp chúng tôi và ra lệnh cho chúng tôi đi Thượng Hải. Tại đó sẽ gặp đồng chí khác. Rồi đến lượt Lương đến cùng một người tên Can ở phòng bên cạnh chúng tôi, mà chúng tôi chưa gặp trước đó, Trương Phước Đạt nhận ra các bức ảnh của Mạnh Văn Liễu. Khó khăn nhận ra bức ảnh của anh ta mặc trong trang phục học viên Trường Hoàng Phố. Có thể giả định rằng Lương (tức Hồ Tùng Mậu) trao cho chúng tôi 3 vé đi Thượng Hải và 20 đôla cho tất cả mấy người.

Can tức Phùng Chí Kiên nói và viết thạo tiếng Tàu, nên được nhận các chỉ thị và địa chỉ ở Thượng Hải. Ngày hôm sau Can tức Mạnh Văn Liễu dẫn chúng tôi lên một chiếc tàu đi Thượng Hải 5 ngày. Trong chuyến đi đó chúng tôi lấy các tên do Nguyễn Ái Quốc đặt cho:

- An: Trương Phước Đạt.
- Ban: Trần Ngọc Diệm.
- Can: Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên).

Tôi có cơ sở để nghĩ rằng 3 tên ấy bắt đầu bằng 3 chữ cái đầu tiên đã được chọn có suy nghĩ để chỉ chúng tôi thuận tiện hơn trong những thư tín bí mật"3.
________________________________________________
* Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
1. Hồ sơ số 4480/CN-MT-C (hồ sơ mật thám Pháp) bằng Tiếng Pháp, lưu tại Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
2. Công văn mật số 235/CA1 (hiện diện của những người An Nam tại Phiên họp toàn thể BCH Đệ Tam Quốc tế tại Mạc Tư Khoa) (gửi bằng máy bay), khai thác tại Trung tâm lưu trữ Hải Ngoại Pháp Aix-en Provence-1998.
3. Nguyễn Ái Quốc A chemine Trương Phước Đạt, Mạnh Văn Liễu et Trần Văn Diệm sur changhai à destination de la Russie: Tài liệu Tiếng Pháp - khai thác ở Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp Aix - en provence - 1998, tr.35.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #73 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:19:32 pm »


Đến Thượng Hải, Can (Phùng Chí Kiên) tìm nghỉ khách sạn Trung Quốc Phạm Điếm. Anh viết thư về một địa chỉ, và Hoàng (Lê Quảng Đạt) đến gặp anh em trong đoàn. Lưu Quốc Long dẫn đến khách sạn Nguyễn Nguyên Thuận, tọa lạc trong tô giới quốc tế. Hoàng trao cho 3 mảnh giấy trắng độ 25mm X 5mm, trên đó in những chữ số và dặn phải cất cẩn thận. Đó là dấu hiệu để nhận nhau và xuất trình khi cần thiết.

- Hồ sơ lưu trữ này cũng cho biết: Đoàn lên đường đi Hải Sâm Uy (Vlađivostock) do Lưu Quốc Long dẫn đầu.

Người Tàu đã trao cho Lưu Quốc Long 200 đôla để mua 4 vé đi Đại Liên hết 84 đôla, còn lại đổi sang tiền Nhật. Để tránh nghi ngờ, anh em chia thành 2 nhóm. Một nhóm gồm Can (Phùng Chí Kiên) và Trương Phước Đạt, còn nhóm kia gồm có Lưu Quốc Long và Ban (Trần Văn Diệm). Anh em giả vờ nhóm này không biết nhóm kia.

Ngày 10 tháng 3, đoàn lên tàu đến Đại Liên vào 13 tháng 3. Sau đó đi Tchang Tchouen và đến nơi tối hôm sau. Tôi nhận thấy Lưu Quốc Long và Ban (Trần Văn Diệm) đi cùng chuyến tàu hỏa với tôi. Đến nơi người bạn đường của tôi lấy xe khác đi Kharbine và ngày hôm sau thì đến nơi vào 9 giờ. Chúng tôi ở trọ riêng biệt.

Lưu Quốc Long dẫn một người Tàu, anh này thu các mảnh giấy nhận thực của chúng tôi và nói rằng, chúng tôi còn phải đi một ngày tàu hoả nữa. Cho đến lúc ấy tôi cứ tưởng Kharbine là điểm đến của mình. Mạnh Văn Liễu làm thông ngôn cho những người Tàu mới, còn chưa cho tôi biết rằng chúng tôi đang đi sang Nga.

Thực ra Đoàn phải đi đến Ngũ Trạm, ga Biên giới Nga để đi về phía Vladivostock. Tại đó Đoàn sẽ gặp một người liên lạc trong một cửa hiệu, trả 20 xu cho một món hàng. Tờ 20 xu này mang một dấu hiệu riêng do một người Tàu ở Kharbine trao cho. Sau đó mất 3 giờ đi bộ mới vượt được biên giới.

Sau 3 ngày ở lại Kharbine, ngày nào đoàn cũng phải đổi khách sạn. Đoàn phải từ biệt Lưu Quốc Long và sẽ không còn bao giờ gặp lại anh nữa (khi đoàn trở lại Thượng Hải thì nghe nói anh Long đã bị bắt).

- Bị bắt tại Biên giới Nga - Mãn Châu, bị cầm tù (3.1931 - 1.1932):

Tàu hoả đến Ngũ Trạm vào sáng 20, cảnh sát Trung Quốc lên tàu để xét hành khách. Đoàn xuống tàu vô sự. Can (Phùng Chí Kiên) đi tìm liên lạc khoảng 45 phút trở về vì không gặp được ai. Do chưa ăn gì từ hôm trước nên đoàn vào một khách sạn, vào lúc chuẩn bị đi ra để tiếp tục cuộc tìm kiếm thì bị cảnh sát bắt.

Những người bạn tù Trung Hoa cho biết, cơ quan liên lạc ở Ngũ Trạm đã bị bắt trước đó. Chính vì thế mà anh em trong đoàn bị tình nghi.

Bị buộc tội Cộng sản, anh em bị giam 7 ngày, rồi 3 tháng ở Ngũ Trạm, ở Kharbine. Mặc dù bị đối xử tàn tệ ở 2 nơi ấy, nhưng anh em chẳng khai nhận gì. Khoảng tháng 6 năm 1931, anh em bị đưa đến Moukden giam ở đó cho đến khi quân Nhật đến chiếm đóng, giải phóng tù nhân, trong đó có anh em ta vào tháng 1 năm 1932.

Trong thời gian bị cầm tù, Phùng Chí Kiên đã làm quen với 20 người Tàu đến từ Nga. Nhờ họ làm trung gian, Phùng Chí Kiên đã liên lạc được với một Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tên là Ou Leang Fou (Ngô Lương Phủ) bị bắt trước đoàn Việt Nam, khi chuẩn bị vượt biên giới để sang Mạc Tư Khoa với tư cách là Đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Đệ Tam Quốc tế. Trong số tù nhân bị giam cầm, Phùng Chí Kiên làm quen được với Ou Siang Sin (Ngô Tương Tín) chính là người liên lạc mà chúng tôi lẽ ra phải tìm được ở Ngũ Trạm.

- Mạnh Văn Liễu, tức Phùng Chí Kiên và Trần Văn Diệm đi sang Nga tháng 4 năm 1932:

"Vào tháng 4 năm 1932 Can (Mạnh Văn Liễu) lại đi sang Nga theo con đường mà chúng tôi đã đi lần trước. Cơ quan liên lạc tại Ngũ Trạm đã được lập lại vào ngày 14 hoặc 15 tháng 4; Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phái họ đi cùng với một người Tàu mà tôi không biết tên. Từ Kharbine, Can tức Mạnh Văn Liễu, đã viết thư cho tôi bằng chữ Hán, cho biết chuyến đi suôn sẻ cho đến lúc đó. Về sau người liên lạc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho biết họ đã đến Mạc Tư Khoa an toàn"1.

Cũng trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp Aix-en provence năm 1998, có ghi tiểu sử Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên) như sau:

Can (Mạnh Văn Liễu) đã có tư tưởng giác ngộ cách mạng năm 1925 hồi ở Nghệ An. Đây là thời kỳ tuyển người đi Quảng Châu; Anh sang Tàu. Năm 1926, anh vào Trường Hoàng Phố, năm 1927 tham gia với cộng sản chiếm Quảng Châu. Tháng Giêng năm 1928, bị bắt ở Quảng Châu và cầm tù 10 tháng. Năm 1929, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Châu và được phái vào vùng cộng sản ở Tong Kiang, với quân hàm Liên trưởng. Đồng thời, Anh là đại biểu Đảng Cộng sản trong Hồng quân, tức là làm các chức vụ chính trị.

Năm 1930, trong một cuộc hành quân, Anh bị thương nơi tay trái, không dưỡng bệnh, Anh được chỉ định dạy lý luận chính trị cho đám "tân binh", nhưng chỉ trong 3 tháng, rồi anh xin trở lại quân đội. Lúc đó anh mang chức Phó Dinh trưởng, chỉ huy một đội từ 300 đến 500 quân. Thời đó anh tìm cách gia nhập hoặc với Hồng quân Kiangsi (Giang Tây) hoặc Hồng quân Foukien, nhằm liên lạc trực tiếp với Tổng Tư lệnh Hồng quân. Tuy có những thắng lợi nhưng cuối cùng hầu như hoàn toàn thất bại vì bị quân Chính phủ bao vây.

Năm 1930, Anh nghe nói có khoảng 20 người Trung Kỳ được lệnh Đảng Cộng sản Đông Dương đi từ Đông Dương và Xiêm đến Hồng quân Tong Kiang để học tập võ bị, Anh không biết họ được phiên chế vào những đơn vị nào và không hề thuộc quyền chỉ huy của Anh.

Tháng Chạp năm 1930, Tỉnh ủy Quảng Đông vẫn liên lạc với Hồng quân Tong Kiang gọi Can (Mạnh Văn Liễu) về Hồng Kông và cho bắt liên lạc với Lương (Hồ Tùng Mậu). Lúc đó Can (Mạnh Văn Liễu), được chỉ định đi sang Nga với Ban (Trần Văn Diệm).

Có thể rằng đó là do Tỉnh ủy Quảng Đông đã làm theo ý của Nguyễn Ái Quốc.

Những hồ sơ, công văn mật, công điện của Bộ Thuộc địa - Chánh Chính trị vụ Pháp theo dõi hoạt động của Phùng Chí Kiên. Đặc biệt thời kỳ Anh hoạt động ở Nga và Trung Quốc, có thể chưa lột tả hết đóng góp của Anh, hoặc chưa đúng. Nhưng với những tư liệu đó, đã vạch rõ âm mưu của địch. Nghiên cứu những nguồn tư liệu, lưu giữ tại Pháp giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn về quá trình hoạt động của Phùng Chí Kiên, chiến sĩ cộng sản kiên cường, người con ưu tú quê hương, học trò xuất sắc của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Sự nghiệp cách mạng của anh sáng mãi trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
______________________________________________
1. Départ de Mạnh Văn Liễu (Can) et de Trần Văn Diệm (Ban) pour la Russie avril 1932 - khai thác tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp Aix-en provence-1998, tr.39.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #74 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:36:36 pm »


NGHIÊN CỨU VỀ PHÙNG CHÍ KIÊN QUA TƯ LIỆU LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG XÔ-VlẾT NGHỆ TĨNH

LÊ THỊ HẠNH PHÚC*


Đồng chí Phùng Chí Kiên tham gia hoạt động cách mạng trong điều kiện bí mật ở nước ngoài, những tư liệu liên quan đến đồng chí nằm rải rác nhiều nơi. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên đã được giới thiệu qua một số hồi ký của các đồng chí cùng thời. Song, việc nghiên cứu sưu tầm thật đầy đủ về quá trình hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên chưa thật sự được quan tâm chu đáo.

Nhằm làm sáng tỏ thêm quá trình hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, qua tư liệu lưu giữ tại Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh, chúng tôi xin được góp phần làm sáng tỏ thêm, đầy đủ thêm công lao của một trong những nhà cách mạng, nhà quân sự tiền bối của Đảng.

Những năm gần đây, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, ngành Văn hoá Thông tin, sự giúp đỡ nhiệt tình của Cục Hồ sơ Nghiệp vụ An ninh (Bộ Công An), đã sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu của mật thám Pháp (1925-1945) về quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động cách mạng của người Việt Nam nói chung, Nghệ Tĩnh nói riêng, trong đó có nhiều tư liệu liên quan đến đồng chí Phùng Chí Kiên, như hồ sơ cá nhân, báo cáo của mật thám hoặc các thông tri bưu điện, công điện mật của Pháp. Bên cạnh đó, hồi ký của những nhà cách mạng hoạt động cùng thời đã được xuất bản mà bảo tàng đang lưu giữ cũng là nguồn tư liệu giúp chúng ta hiểu sâu hơn qúa trình hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên trong thời gian ở gần Bác Hồ.

1. Hồ sơ, báo cáo của mật thám Pháp về Phùng Chí Kiên.

Tuy sưu tầm chưa đầy đủ nhưng Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh hiện đang lưu giữ nhiều hồ sơ cá nhân của mật thám Pháp lập về những người Việt Nam học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), có mối liên hệ chặt chẽ với đồng chí Phùng Chí Kiên như Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Lê Văn Nghiệm (tức Lê Thiết Hùng), Trương Phước Đạt, Trần Tố Chấn, Trần Ngọc Diệm.

Báo cáo của mật thám Pháp về Phùng Chí Kiên trong các hồ sơ cá nhân trên đều chỉ rõ Nguyễn Hào tức Nguyễn Vợi tức Mạnh Văn Liễu, Phùng, Lý Đông, Như Bách, sinh năm 1900 tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, Nghệ An, xuất dương năm 1926, học sinh Trường Staline (Liên Xô). Thông báo, kèm theo ảnh nhận dạng anh ở khắp nơi: Mạnh Văn Liễu tức Nguyễn Hào, Như Bách, độ 26 tuổi, quê quán Bắc Kỳ, giọng nói Ninh Bình, cựu học sinh sĩ quan Trường Hoàng Phố, gia nhập Đảng Thanh niên; chắc đã từ Quảng Châu ra đi Nam Kinh tháng 10 năm 1929, chỗ ở hiện nay... có thể là Đông Dương.

Nhận dạng: người tầm thước, khá vạm vỡ, nước da nâu, mắt đen, miệng rộng, môi mỏng, tai to1.

Cuối năm 1926, với thẻ căn cước của người chú là Nguyễn Hào, Phùng Chí Kiên sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc giảng dạy. Tại đây, ông gia nhập tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng. Sau khoá huấn luyện ba tháng, ông được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch bắt đầu phản bội lại đường lối "Thân Nga, dung cộng, phù trợ công nông" của Tôn Trung Sơn. Thực hiện mưu đồ tiếm quyền lãnh đạo Quốc dân đảng, làm đảo chính cách mạng ở Thượng Hải và tiến hành hàng loạt cuộc đàn áp khủng bố các lực lượng cách mạng, chủ yếu đánh vào cơ sở Đảng Cộng sản Trung Quốc và công nhân khắp các thành phố. Ngày 13 tháng 4 năm 1927, Lý Tế Thâm (tay sai của Tưởng) làm đảo chính ở Quảng Châu, quân đội cánh hữu phá hủy trường Hoàng Phố. Mạnh Văn Liễu cùng với đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Trương Văn Lĩnh, Lê Thiết Hùng... tham gia với các đảng viên cộng sản Trung Quốc đánh chiếm Quảng Châu. Tháng 1 năm 1928, Phùng Chí Kiên bị quân Tưởng bắt giam 10 tháng ở Quảng Châu. Ra tù năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc và tham gia vào Hồng quân hoạt động ở vùng Đông Giang.

Tháng 2 năm 1931, anh cùng Trần Ngọc Diệm (quê ở làng Láng Thông, tổng Thông Lãng, Hưng Nguyên) và Trương Phước Đạt, được Nguyễn Ái Quốc cử sang Liên Xô học Trường Đại học Phương Đông, nhưng đi đến biên giới Liên Xô - Mãn Châu thì bị cảnh sát Trung Quốc bắt2.

Tháng Giêng năm 1932, anh cùng hai đồng chí của mình được trả tự do. Tháng 4 năm 1932, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Mạnh Văn Liễu cùng Trần Văn Diệm sang Liên Xô và chuyến đi của các anh thành công. Chính phủ Pháp theo dõi chặt chẽ hoạt động của các anh: Điện mật của Bộ Thuộc địa Pháp gửi Toàn quyền Đông Dương và Tổng nha mật thám Hà Nội; thông tri của Mácty, Tổng nha mật thám số 1226/SG ngày 20 tháng 4 năm 1934 gửi chánh Liêm phóng và mật thám Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào: "Về sự có mặt của mấy người An Nam tại hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Đệ Tam Quốc tế họp tại Mạc Tư Khoa vào tháng Chạp năm 1933. Bộ cho rằng các đại biểu Đông Dương dự phiên họp ấy đã đi (hoặc đã từ Trung Quốc hoặc từ Xiêm) thẳng từ Đông Dương sang Nga mà không qua Pháp. Theo chỗ Tổng nha mật thám được biết thì các người An Nam vừa qua sang Nga là Mạnh Văn Liễu và Trần Văn Diệm chắc đã vượt biên giới Nga - Mãn Châu vào tháng 4 năm 1932"3.

Sau đó Mạnh Văn Liễu trở về Thượng Hải liên lạc với Trương Phước Đạt (quê làng Minh Chu, xã Kim Đình, tỉnh Phan Rang), thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và là cơ sở liên lạc của Đảng Cộng sản Đông Dương. Anh muốn qua đó liên lạc được với Đảng Cộng sản Trung Quốc và tìm cách trở về Việt Nam. Tuy chưa về nước, nhưng anh đã bị mật thám Trung Kỳ ra thông tri mật ngày 11 tháng 10 năm 1933 gửi Chánh mật thám Vinh, Hà Tĩnh, Thanh Hoá về những người xuất ngoại sang Trung Quốc, thì "Nguyễn Vĩ tức Mạnh Văn Liễu phiếu truy nã số 12".

Theo hồ sơ Trương Phước Đạt4 thì Can (tức Mạnh Văn Liễu) vào tháng 4 năm 1933 đã liên lạc với Trương Phước Đạt và hai người cùng nhau nối liên lạc với chi bộ cộng sản của hải quân trên tàu Oalếch Rútxô vừa cập bến Thượng Hải. Thông qua đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho biết tháng 4 năm 1930, những tổ chức cộng sản trong 3 tiểu đoàn quân đội đóng ở tô giới Pháp, trong 5 chiến hạm, có tàu Rútxô, đều có đảng viên cộng sản. Tàu này chạy tuyến Sài Gòn - Thượng Hải - Nhật Bản - Pháp. Các tài liệu như báo "Giác ngộ" in tại Thượng Hải cùng các bài hát cách mạng và các tập sách được chuyển cho thủy thủ trên tàu chuyền tay nhau đọc. Hai mươi thủy thủ người Việt Nam tại tàu Rútxô được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương trong đó có Nguyễn Xuân Cần (thợ máy). Và cũng theo yêu cầu của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trương Phước Đạt đã nhờ Mạnh Văn Liễu thảo hai truyền đơn bằng chữ Quốc ngữ: một tờ về kỷ niệm Công xã Pa-ri, một tờ về cuộc chiến đấu của "Quân đoàn 19 cách mạng Trung Quốc chống đế quốc Nhật Bản". Các tờ truyền đơn đó được ký "An Nam cách mệnh sĩ binh ủy viên hội". Cùng thời gian này Mạnh Văn Liễu đã dịch cuốn "Quốc tế lộ duyến" từ chữ Trung Quốc ra chữ quốc ngữ.

Thời gian này, ở trong nước, sau khi Phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh nổ ra, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp và dìm phong trào trong biển máu. Các cơ sở Đảng bị phá vỡ, hàng ngàn người bị bắt giam trong các nhà tù như Lao Bảo, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Côn Đảo... Nhiều đảng viên cộng sản Nghệ An và Hà Tĩnh phải lánh sang Xiêm chờ thời cơ trở về nước hoạt động. Một số đảng viên Việt Nam ở Trung Quốc cũng không bắt liên lạc được với Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời còn bị nghi ngờ là mật thám như đồng chí Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng) đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho Trương Phước Đạt kiểm tra sau khi ông từ Hồng Kông trở về Thượng Hải (5.1932) để tìm cách liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ngày 22 tháng 5 năm 1933, Trương Phước Đạt bị bắt tại Thượng Hải, bản khai tại Tổng nha Liêm phóng Đông Dương ở Hà Nội đã cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ trên.
______________________________________________
* Giám đốc Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
1. Hồ sơ Mạnh Văn Liễu, tiếng Pháp, ký hiệu 363/HS.46, lưu Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
2. Hồ sơ Trần Ngọc Diệm, số 803/CN-MT-C; Hồ sơ Lê Hồng Sơn, tiếng Pháp, ký hiệu 141/HS.5, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
3. Hồ sơ Mạnh Văn Liễu.
4. Hồ sơ Trương Phước Đạt, tiếng Pháp, ký hiệu 374/HS.55, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #75 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:40:36 pm »


* Phùng Chí Kiên với Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Xiêm.

Mỗi bước đi của Phùng Chí Kiên đều bị mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ, nhằm không cho ông trở về nước qua các vùng biên giới ở Trung Quốc, Lào, Cao Miên.

Các Mật điện1 số 514 Sg ngày 17 tháng 1 năm 1940 của Thanh tra Sở cảnh sát (Phủ Toàn quyền Đông Dương) gửi Chánh cảnh sát Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cambodge, Lào, Chánh cảnh sát đặc biệt Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai; số 142 ngày 20 tháng 1 năm 1940 của L.Sogny - Chánh cảnh sát miền, Tổng thanh tra hạng nhất gửi Chánh sở Liêm phóng Vinh - Hà Tĩnh, Phó Công sứ Pháp ở Vinh - Hà Tĩnh như sau "Nguyễn Hào tức Mạnh Văn Liễu ngày 2 tháng 10 năm 1939 từ Triều Châu (Quảng Đông) gửi cho Trần Văn Chấn ở Hồng Kông một lá thư anh ta thông báo vài lý do trở về Đông Dương vì là hoàn cảnh không được an toàn ở Trung Quốc. Nguyễn Hào đi cùng đoàn Nguyễn Cầu tức Thước tức thầy Linh".

Mật điện chú dẫn cụ thể về Phùng Chí Kiên và những người liên quan "Nguyễn Hào tức Mạnh Văn Liễu, tức Phùng, tức Lý Đông sinh năm 1901 ở Mỹ Quan Thượng phủ Diễn Châu (Nghệ An) di cư như đã biết, bị trục xuất từ Hồng Kông tới Sơn Đầu ngày 6 tháng 12 năm 1938 để lãnh đạo cộng sản, lưu vong tới Triều Châu (Quảng Đông) sau khi những người Nhật chiếm Sơn Đầu.

Trần Văn Chấn, tức Chu, tức Nam tức Lý Ming, tức Tích Nguyên sinh năm 1902 ở Phú Nhuận (Nghệ An), thành viên của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Xiêm, bị trục xuất khỏi Xiêm tới Sơn Đầu tháng 12 năm 1938, từ vài tháng nay đã giao thiệp với những người theo Cường Để ở Hồng Kông.

Nguyễn Cầu tức Thược, thầy Linh, tức Tăng Ngọc Dân, tức Đặng Châu sinh năm 1894 ở Sơn Đình (Hà Tĩnh) bị trục xuất từ Xiêm tới Sơn Đầu (Trung Quốc) ngày 12 tháng 7 năm 1935, đã tham gia trong quân đội Trung Quốc".

Như chúng ta đã biết, vào những năm đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tham gia Phong trào Văn thân Cần vương chống Pháp bị đàn áp đã tìm đường sang Xiêm ẩn tránh chờ thời cơ. Mang nặng mối thù nước mất nhà tan, các kiều bào luôn hướng về Tổ quốc. Họ đã tìm cách xây dựng cơ sở kinh tế để đón thanh niên trong nước sang và gửi đi Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động cách mạng.

Sau khi về Quảng Châu (Trung Quốc), vào cuối năm 1924 và thành lập tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú ý ngay đến phát huy lực lượng cách mạng của Việt kiều ở Xiêm. Người đã phái đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn sang Xiêm liên lạc với những người yêu nước như Đặng Thúc Hứa, Đặng Thái Thuyên, Võ Tùng... lập Chi hội Thanh niên. Hội Việt Nam thanh niên cách mạng ở Xiêm trực thuộc sự chỉ đạo của Tổng bộ ở Quảng Châu. Từ đó trở đi, các cơ sở của Việt Nam thanh niên cách mạng ở Xiêm phát triển mạnh. Tỉnh bộ Hội Việt Nam thanh niên cách mạng tỉnh U-don được thành lập (vùng Đông Bắc Xiêm). Đây là vùng có người Việt Nam sinh sống đông nhất. Trên cơ sở đó, ngày 20 tháng 4 năm 1930 tại Hủa Lăm Phông (giữa thủ đô Băng Cốc), Nguyễn Ái Quốc với danh nghĩa là đại diện của Quốc tế cộng sản, đã thành lập Ban Chấp ủy lâm thời Đảng Cộng sản Xiêm (gọi tắt là Xiêm ủy). Trong Xiêm ủy có 3 đồng chí Trần Tố Chấn (quê phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An), Ngô Chính Quốc (quê Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) và đồng chí Ngô Trị Chi (đảng viên cộng sản, người gốc Hoa). Đảng bộ tỉnh U-don được thành lập. Năm 1934, khi Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập thì Đảng Cộng sản Xiêm thành lập Đông Dương viện trợ bộ. Các đồng chí trong tỉnh ủy vùng đông bắc Xiêm hết sức giúp đỡ những đảng viên tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sang lánh nạn lúc phong trào trong nước bị đàn áp dữ dội. Các kiều bào đã được chuẩn bị tư tưởng tốt nên nói đến ủng hộ cách mạng Việt Nam thì họ rất phấn khởi; nhiều gia đình yêu cầu được đón cán bộ về nhà chăm sóc và họ quyên góp tiền bạc gửi về quê hương, trong một thời gian ngắn đã quyên góp được 5.000 đồng bạc Xiêm (lúc đó đồng bạc Xiêm ngang giá với đồng bạc Đông Dương).

Tháng 4 năm 1934, đồng chí Lê Hồng Phong sang Xiêm bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Xiêm, về vùng Đông Bắc, đồng chí làm việc với Trần Tố Chấn (Ủy viên Chấp hành Đảng Cộng sản Xiêm, phụ trách tỉnh bộ U-don). Lê Hồng Phong giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Tố Chấn xây dựng cơ sở đảng ở nước ngoài. Theo báo cáo của Sogny, Chánh cảnh sát Trung Kỳ, trong thông điện mật số 1109 ngày 9 tháng 4 năm 19362: "Từ tháng 4 năm 1932 thời kỳ trở về Viễn Đông của Lê Hồng Phong, anh ta (tức Trần Tố Chấn) có tinh thần hăng hái và trí thông minh hoàn thành dễ dàng nhiệm vụ mà Lê Hồng Phong giao phó".

Đồng chí Trần Tố Chấn trở thành thành viên của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, qua đó ta thấy được sự kết hợp chặt chẽ của Đảng cộng sản Xiêm với Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 5 năm 1934, đồng chí Trần Tố Chấn (tức Tăng) với danh nghĩa là đại biểu Xiêm ủy, qua Trung Quốc tham gia cuộc "Hội nghị nhân viên của Ban lãnh đạo cách mạng ở Hải ngoại và các đảng bộ trong nước" do Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập. Sau hội nghị, đồng chí Trần Tố Chấn mang tài liệu về Xiêm tuyên truyền kỷ niệm ngày Xô-viết Nghệ Tĩnh, giúp đỡ các tổ chức Đảng ở vùng Bắc Trung Kỳ, góp phần thành lập Xứ ủy Lào và chuẩn bị phục vụ Đại hội Đảng sẽ họp ở Ma Cao.

Ngày 20 tháng 3 năm 1936, đồng chí Trần Tố Chấn bị bắt ở Kon Kèn và bị trục xuất khỏi Xiêm sang Trung Quốc. Sau đó đồng chí sang Hồng Kông và có sự liên lạc với đồng chí Phùng Chí Kiên như phần trên đã viết.

* Phùng Chí Kiên với đồng chí Lê Hồng Phong.

Tháng 6 năm 1936, đồng chí Lê Hồng Phong bắt liên lạc với đồng chí Phùng Chí Kiên (Lý). Đồng chí Phùng Chí Kiên bàn với Lê Hồng Phong muốn trở về nước phải sắm vai người Hoa và đi bằng con đường Sài Gòn mới được. Với tên là La Anh, đồng chí Lê Hồng Phong về Sài Gòn ngày 10 tháng 10 năm 1937, căn cước số 274495 quê Hồ Nam (Trung Quốc), chỉ đạo phong trào cách mạng để thay đồng chí Phùng Chí Kiên trở lại Hồng Kông hoạt động. Đồng chí Phùng Chí Kiên bố trí lịch làm việc của đồng chí Lê Hồng Phong là: cứ đến 16 giờ của ngày 5, 10, 15, 20, 25, 30 hàng tháng, đồng chí Lê Hồng Phong đến trước nhà hát thành phố cạnh nhà ga ở Chợ Lớn làm vệc với cán bộ Xứ ủy Nam Kỳ3.

Năm 1938, Phùng Chí Kiên bị bắt ở Hồng Kông và bị trục xuất qua Sơn Đầu (Trung Quốc).
_____________________________________________
1. Hồ sơ Trần Văn Chấn, số 3412/CN-MT-C, tiếng Pháp, ký hiệu 144/HS.8, lưu Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
2. Hồ sơ Trần Tố Chấn.
3. Hồ sơ Lê Hồng Phong, tiếng Pháp, ký hiệu 342/HS.28, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #76 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:43:30 pm »


2. Hồi ký cách mạng về Phùng Chí Kiên.

Những ký ức của các đồng chí hoạt động cùng đồng chí Phùng Chí Kiên như Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Hoan1... thời gian ở Trung Quốc và Cao Bằng năm 1940-1941 đã cho chúng ta hiểu sâu hơn mối quan hệ của đồng chí với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là những tư liệu giúp Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh nghiên cứu và phục vụ khách tham quan hiểu hơn về một chiến sĩ cách mạng trung kiên.

Sau khi bị trục xuất rời Hồng Kông về Trung Quốc, Phùng Chí Kiên tổ chức lớp huấn luyện cho dân quân du kích cách mạng Trung quốc một thời gian ở Sơn Đầu (Sơn Đầu thuộc tỉnh Quảng Đông, là vùng đất gần với Triều Châu, sát biển và gần Hồng Kông).

Giữa năm 1939, Phùng Chí Kiên trở về Côn Minh. Lúc này Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam, thuộc khu Tây Nam Trung Quốc), theo Điều ước bất bình đẳng nhà Mãn Thanh ký với đế quốc Pháp năm 1885: Công ty xe lửa Pháp xây dựng con đường xe lửa chạy suốt Hà Nội - Lào Cai - Hà Khẩu - Côn Minh; tất cả người Việt Nam làm việc trên xe lửa và các ga đều do công ty Pháp trả lương và điều khiển, chính quyền sở tại không có quyền can thiệp. Ở đây có lãnh sự quán Pháp, đài vô tuyến điện, xưởng sửa chữa xe ô tô STAL, nghề cắt tóc và các nghề phục vụ khác. Người Việt Nam trên tuyến này có khoảng vài ngàn. Vì vậy, đây cũng là nơi để các đồng chí xây dựng cơ sở cách mạng. Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng ở vùng này có đồng chí Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Hoan, Vũ Anh, do Phùng Chí Kiên làm Thư ký (Bí thư). Ban Chỉ huy ngoài ra báo "Truyền tin" sau đổi là "Đồng Thanh" nhằm tuyên truyền chủ trương đoàn kết, chống Pháp, ủng hộ nhân dân Trung Hoa chống Nhật; đồng thời vạch trần những luận điệu tuyên truyền của bọn phản động Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và bọn Tờrốtkít.

Tháng 9 năm 1939, đồng chí Phùng Chí Kiên được tin báo đón đồng chí Vương (tức Nguyễn Ái Quốc) đang trên đường trở về nước, ông cùng đồng chí Đặng Văn Cáp đi đón Người nhưng không được, do đường đi lại trắc trở. Lúc này đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từ Nga về đến Diên An (thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung quốc). Diên An là "thủ đô cách mạng" của những người cộng sản và là nơi phát ra mọi chủ trương đường lối của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là đại diện của Bộ Phương Đông và là khách quý, đồng chí Nguyễn Ái Quốc được Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo mọi điều kiện để sớm trở về Việt Nam. Với tên là Hồ Quang, Người làm việc tại Biện sự Bát lộ quân với cấp hàm thiếu tá Hồng quân Trung Quốc.

Trải qua chặng đường dài từ Quế Lâm về đến Côn Minh, đồng chí Vương đã gặp Phùng Chí Kiên. Phùng Chí Kiên đã báo cáo với đồng chí Vương về tình hình ở Vân Nam và phong trào cách mạng của kiều bào ở đây. Các đồng chí đã tổ chức được nhiều hội ở Côn Minh và dọc đường xe lửa từ Hà Khẩu - Côn Minh. Đồng chí Vương chỉ đạo Ban Chỉ huy ở ngoài hoạt động, Người đề nghị đổi tên báo "Đồng Thanh" thành tờ "ĐT" (có thể hiểu là Đồng Tâm, Đấu Tranh, Đánh Tây). Người thường xuyên viết bài cho báo. Tháng 4 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Vương xuống cơ sở cách mạng của kiều bào dọc tuyến đường xe lửa Nghi Lương - Khai Viễn - Pxtai - Xì Xuyên - Hà Khẩu. Tháng 6 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên tạo điều kiện cho đồng chí Võ Nguyên Giáp gặp đồng chí Vương lần đầu tiên tại Thúy Hồ (một công viên đẹp nổi tiếng ở Côn Minh).

Để về chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam được sớm hơn, đồng chí Vương bàn với Phùng Chí Kiên liên lạc với các đồng chí ở trong nước và chọn Cao Bằng làm địa điểm tập kết. Cuối tháng 10 năm 1940, đồng chí Vương cùng Phùng Chí Kiên và Ban Hải ngoại về sát biên giới Việt Trung. Đây là một chặng đường vất vả gian nan của đoàn. Trong vai một ký giả báo "Dân Thanh" của Hồng Kông và không biết tiếng Việt, đồng chí Vương dùng tiếng Trung Quốc thì có đồng chí Phùng Chí Kiên phiên dịch, nhà báo dùng tiếng Pháp thì đồng chí Phạm Văn Đồng làm thông ngôn. Nhờ vậy mà đoàn đã vượt qua các trạm gác của Quốc dân đảng được an toàn.

Từ Quế Lâm, đoàn đi ô tô đến Nam Ninh mất hai ngày. Đến Nam Ninh, đi Điền Đông bằng thuyền hết 8 ngày. Tới Điền Đông, đồng chí Vương, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi bộ đến Tĩnh Tây (thuộc tỉnh Quảng Tây). Tháng 12 năm 1940, tại bản Nậm Quang, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), đồng chí Vương phân công Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp mở lớp huấn luyện cho hơn 40 thanh niên yêu nước từ Cao Bằng sang lánh nạn (khi thực dân Pháp khủng bố) để về xây dựng cơ sở trong vùng Cao Bằng. Đồng chí Vương thấy đây là cơ hội tốt để tổ chức đường dây liên lạc về nước. Theo đồng chí Vương, Cao Bằng sẽ là căn cứ địa có triển vọng cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng đã có phong trào cách mạng từ trước, lại kề sát biên giới, dễ liên lạc được với quốc tế; từ đây có thể phát triển phong trào cách mạng về Thái Nguyên và toàn quốc. Mỗi đồng chí được phân công nhiệm vụ cụ thể, các bài giảng được đồng chí Vương duyệt kỹ trước khi lên lớp. Đồng chí Vương phụ trách chung, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng là giảng viên.

Sau khoá huấn luyện, 40 thanh niên Cao Bằng quay về nước tìm về cơ sở cũ xây dựng phong trào cách mạng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, có đồng chí Lê Quảng Ba dẫn đường cùng đồng chí Vương về đến Pắc Bó (Cao Bằng).

Việc đồng chí Phùng Chí Kiên trở về nước đã được Sogny, Chánh liêm phóng Trung Kỳ, thông báo trong Thông tri mật số 1530C ngày 19 tháng 3 năm 1941 gửi mật thám Trung Kỳ và công sứ Pháp tại Vinh: "Mạnh Văn Liễu và Lê Quốc Vọng chắc mới về Đông Dương gần đây. Tôi yêu cầu các ông vui lòng cho người truy tìm tích cực các đương sự. Ảnh của Mạnh Văn Liễu đã được đính theo thông tri qua bưu điện của tôi số 256 ngày 20 tháng 1 năm 1939 gửi cho tất cả các chánh mật thám Trung Kỳ. Đính theo đây là ảnh Lê Quốc Vọng".

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), Đội du kích Bắc Sơn được thành lập, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Chu Văn Tấn mở rộng căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai - Cao Bằng và chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn. Cuối tháng 5 năm 1941, Bác Hồ giao trách nhiệm cho đồng chí Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp đi Bắc Sơn mở lớp huấn luyện cho du kích. Lớp huấn luyện tổ chức được 20 ngày thì quân Pháp lùng sục. Các đồng chí phải phân tán chia làm hai ngả để bảo toàn lực lượng. Đồng chí Phùng Chí Kiên rút theo đường Cao Bằng, nhưng đến Ngân Sơn thì đoàn bị phục kích và đồng chí đã hy sinh anh dũng ngày 22 tháng 8 năm 1941.

*

*        *


Đồng chí Phùng Chí Kiên là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng. Để ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí, đề nghị Đảng và Nhà nước có hình thức khen thưởng xứng đáng; địa phương nên xây dựng nhà lưu niệm về đồng chí Phùng Chí Kiên; Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng quan tâm hỗ trợ kinh phí để Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh sưu tầm đầy đủ tư liệu về hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên ở nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan, Cộng hoà Liên bang Nga, Pháp...
________________________________________
1. Đầu nguồn, Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #77 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:10:23 pm »


MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ PHÙNG CHÍ KIÊN QUA TƯ LIỆU NGA, PHÁP

TS NGUYỄN VĂN KHOAN*

I. Tư liệu của Nga

1. Sách "Quốc tế Cộng sản và Việt Nam" bản tiếng Nga của A.A.Xôcôlốp, Nxb Mátxcơva in năm 1998 đã giới thiệu sinh viên Kan (Tiếng Nga KAH) như sau: (theo hồ sơ của Quốc tế cộng sản (QTCS)1:

"Tên thật: Nguyễn Vĩ, Nguyễn Ngọc Vĩ.

Các tên khác: - Mạnh Văn Liễu (Trường Hoàng Phố - Trung Quốc).

- Cam Mu Liệt (trong Quân đội nhân dân Trung Quốc).

- Phùng Chí Kiên, Nguyễn Hào, học viên Trường Đại học Phương Đông từ 15 tháng 6 năm 1932 đến ngày 28 tháng 3 năm 1934. Số hiệu sinh viên 5690.

Sinh năm 19042 trong một gia đình nông dân, học tiểu học. Làm nông cho một nhà buôn giàu có người Tàu. Tháng 10 năm 1926 đến Quảng Châu theo học 3 tuần lễ tại lớp học chính trị phổ thông do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng hội. Sau đó, được cử đi học Trường quân chính Hoàng Phố trong 2 năm. Ngày 30 tháng 12 năm 1928, Kan cùng với 12 người Đông Dương bị bắt vì bị tố giác3. Sau 3 tháng nằm trong tù Quảng Châu, họ được tự do và trở về Hoàng Phố. Hai tháng sau, vì bị bắt buộc, phải gia nhập Quốc dân Đảng. Năm 1929, nhận chỉ thị của An Nam Cộng sản Đảng, bí mật rời khỏi Hoàng Phố.

Sau đó, Kan đến Hồng Kông để tìm về Việt Nam hoặc đi đến biên giới Liên Xô - Trung Quốc. Bị cảnh sát bắt giữ nhưng nhanh chóng được thả rồi liên lạc được với những người Cộng sản Trung Quốc và Đông Dương4. Cuối năm 1929, Kan gia nhập Hồng quân Trung Quốc. Tháng 12 năm 1929 theo sự giới thiệu của những người cộng sản Trung Quốc, Kan gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đầu tiên làm Đại đội phó trong Trường Quân chính của Hồng quân Trung Quốc, 3 tháng sau làm Đại đội trưởng và sau 6 tháng là Bí thư chi bộ Đảng, rồi được bổ nhiệm làm Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 4 Hồng quân Đông Giang (trong thời kỳ Lý Lập Tam).

Là một trong những người đấu tranh chống lại đường lối của Lý Lập Tam trong trung đoàn mình chỉ huy, về sau, là chính trị viên tiểu đoàn độc lập, đảng ủy viên trung đoàn. Trong thời gian công tác trong Hồng quân Trung Hoa đã tham dự 50 trận đánh chống lại quân Quốc dân Đảng và đã bị thương hai lần5. Tháng 12 năm 1930, theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Đông Dương, Kan trở về Hồng Kông, gặp Nguyễn Ái Quốc rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 1 năm 1931, theo giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Kan cùng với hai người Đông Dương nữa (Đinh Tan và Ái)6 được cử sang học ở Mátxcơva, nhưng trên đường đi đến Liên Xô, cả ba người đều bị bắt tại Khácbin7 và bị giam giữ gần một năm trong tù. Nhờ sự giúp đỡ của Tổ chức quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng (MOΠPΠ)8, họ được tự do và trở về Thượng Hải vào tháng 12 năm 1931. Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, họ hoạt động trong thủy thủ và binh lính Đông Dương thuộc Pháp. Tháng 4 năm 1932, một lần nữa, Kan và Đinh Tan vượt biên giới phía bắc Trung Quốc sang Liên Xô, theo học Trường Đại học Phương Đông".

Năm 1934, sau khi kết thúc khóa học, được Quốc tế cộng sản cử đến Hồng Kông, tham gia công tác của văn phòng hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1935, tham dự Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tại Macao, được bầu là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1936, trở về Đông Dương lãnh đạo phong trào cách mạng ở Sài Gòn một thời gian. Sau đó, lại sang Trung Quốc, thay cho Lê Hồng Phong (đã trở về Việt Nam) lãnh đạo hoạt động của Đảng ở ngoài nước. Tại Trung Quốc, gặp lại Nguyễn Ái Quốc và đến đầu năm 1941, cùng Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam. Tháng 5 năm 1941 tham dự Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau đó, được giao chỉ huy Cứu quốc quân.

Ngày 7 tháng 8 năm 1941 bị Pháp bắt. Hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1941 tại huyện Ngân Sơn. Năm 1947 được phong cấp tướng9.

2. Trong báo cáo của Ban Chỉ huy ở ngoài, ngày 20 tháng 12 năm 1934, hồ sơ Quốc tế cộng sản 445/154/676/6 nêu rất nhiều danh tính học viên Trường Phương Đông như Phi Vân, Trần Văn Minh, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Trấn, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm, Nguyễn Văn Tâm, Dương Bạch Mai, Nguyễn Thế Thạch, Trần Ngọc Danh, Nguyễn Huy Bốn, Ngô Đức Trì, Trần Văn Đức, Nguyễn Văn Phái... nhưng không có dòng nào viết về hoạt động của Kan - điều này chứng tỏ cho đến tháng 12 năm 1934, Kan (Phùng Chí Kiên) chưa gặp được Hà Huy Tập. Trong báo cáo này Hà Huy Tập đề nghị: "cho trở về nước tất cả (gạch dưới trong nguyên văn tiếng Pháp) những đồng chí đã học xong".

3. Hồ sơ Quốc tế cộng sản số 495/154/688/13 về báo cáo của Ban Chỉ huy ở ngoài thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương ghi ngày 31 tháng 7 năm 1935 bằng tiếng Pháp, có đoạn: "cho về ngay Lumière, Monguy, Vergné và Pala10. Đảng đang cần cán bộ. Đinh Thanh may mắn đã gặp chúng tôi trên đường phố, nếu không đồng chí ấy cũng chẳng tìm ra chúng tôi".

Trong báo cáo này không thấy viết gì đến Phùng Chí Kiên, mặc dù Phùng Chí Kiên có tham dự và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, hoặc có thể còn có báo cáo nào sau ngày 31 tháng 3 năm 1935 đề cập tới nhân sự Trung ương?

4. Theo một hồ sơ khác, số hồ sơ mờ không đọc được, ghi Mật, "Danh sách những đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ban Chỉ huy ở ngoài, hoạt động tích cực" có:

1.   Din Tan - (Trần Văn Điềm) Ủy viên Trung ương.
2.   Snichiskin - (Hà Huy Tập) Ban Chỉ huy ở ngoài.
3.   Lítvinốp - (Lê Hồng Phong) Tổng Bí thư Đảng, Ủy viên Quốc tế Cộng sản.
4.   Kan - (Mạnh Văn Liễu) Ban Chỉ huy ở ngoài.
5.   Remi - (Trần Văn Kiệt)11 Ban Chỉ huy ở ngoài.

5. Sách "Kỷ yếu hội thảo" của Viện Viễn Đông trực thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Nga, 1992, tr.128 có đăng báo cáo tham luận của nghiên cứu sinh Lý Văn Mi nhan đề: "Ảnh hưởng của Cách mạng Trung Quốc với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX" trong khuôn khổ luận án phó tiến sĩ sử học cho biết: "Kan là một trong số học viên Việt Nam theo học khoá 5 trường Hoàng Phố với danh tính là Mạnh Văn Liễu".
_________________________________________
* Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.
1. Theo quy định của Quốc tế cộng sản, học viên Trường Phương Đông phải khai một lý lịch. Có thể những thông tin này là dựa theo bản khai đó. Mật danh "Phùng Chí Kiên" và những thông tin khác sau khi Nguyễn Vĩ rời Mátxcơva được Quốc tế cộng sản bổ sung thêm. Những thông tin này chắc là do Kan cung cấp vào bản lý lịch của mình và A.A. Xôcôlốp viết thêm.
2. Có tài liệu ghi sinh năm 1901 và 1905.
3. Theo ý kiến của Lý Phương Đức, Phùng Chí Kiên bị bắt vào tháng 12 năm 1927 trong khởi nghĩa Quảng Châu, vì đã đánh lại quân Tưởng dưới danh nghĩa học sinh quân Hoàng Phố.
4. Những năm đầu thế kỷ XX, ở Nga chưa có từ Việt Nam mà chỉ có "An Nam" hoặc "Đông Dương".
5. Có thể trong thời gian này, Phùng Chí Kiên có tên là Cam Mu Liệt mà ĐCS Trung Quốc không biết đến?
6. Đinh Tan, theo tài liệu của Quốc tế cộng sản là "Đình Thanh" tên thật là Trần Văn Điềm. Quốc tế cộng sản có thêm thông tin về Đinh Tan như sau: sinh 1902, làm lái xe 8 năm, 1930 vào Đảng cộng sản Trung Quốc. Văn hóa cao học. 1926-1927 hoạt động trong đảng An Nam trẻ. Học viên Trường Phương Đông, ủy viên Trung ương Đảng. Ái không phải Bùi Ái.
7. Khácbin, một thành phố Đông Bắc Trung Quốc sát biên giới Trung - Xô.
8. Viết tắt chữ cái đầu của các từ Nga "Tổ chức quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng".
9. Nguyễn Văn Khoan lược dịch từ tiếng Nga.
10. Lumière: Nguyễn Hữu Dương (ở lại Pháp); Vergné: Trần Huy Minh; Pala: Nguyễn Văn Minh, sau là Xứ ủy Bắc Kỳ; Monguy - chưa rõ là ai?
11. Theo tài liệu của Quốc tế Cộng sản - "Rêmi là Lê Văn Kiệt, Trần Văn Kiệt, Lê Minh sinh ngày 26 tháng 11 năm 1912, tại Vĩnh Long, từ năm 1930 sống tại Pháp, 1931 vào Đảng cộng sản Pháp, học Đại học Phương Đông năm 1931(?). 1933 về Việt Nam làm Báo "L’avant garde".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #78 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:13:12 pm »


II. Tư liệu của Mật thám Pháp.

1. Theo hồ sơ của Tổng Nha Mật thám Đông Dương số 5595 ngày 3 tháng 10 năm 1930, cho biết số thẻ căn cước của 47 người An Nam bị tình nghi, trong đó có số 1 là Nguyễn Ái Quốc, số thẻ căn cước 1116... số 8 là Mạnh Văn Liễu, thẻ căn cước số 1880... và một số người khác, trong đó "đã bắt được Ngô Đức Trì, Vũ Nguyên Trinh, Bùi Ái, Bùi Công Trừng, Trần Văn Lắm, Trần Phú, Lý Tự Trọng, Hoàng Tuyền, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Xuân Luyện...

2. Theo danh sách những người hoạt động chống chính quyền Pháp ở Đông Dương, qua lời khai của một số nhân chứng mà mật thám Pháp lập ra vào ngày 24 tháng 10 năm 1932, vần "L" có Liễu (Mạnh Văn), 24 tuổi, quê Mỹ Quang Thượng, tổng Văn Phân, phủ Diễn Châu, Nghệ An, xuất dương từ 1926, cựu sinh viên Trường Hoàng Phố. Tháng 2 năm 1931, được chỉ định cùng với Trương Phước Đạt và Trần Văn Kiên1 sang Nga học nhưng cả ba đều bị các nhà đương cục Tàu bắt giữ tại biên giới Xô - Mãn Châu.

Mật thám trung ương không có tin tức gì về Mạnh Văn Liễu từ sau thời gian này (Trương Phước Đạt, theo Mật thám Pháp, tức Khá, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1909, quê làng Minh Chu, tổng Kim Đính, tỉnh Phan Rang, Trung Kỳ, cựu thủy thủ đào ngũ, đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc, hiện ở Thượng Hải, giữ liên lạc với Đảng cộng sản Đông Dương).

Về nhân vật Trương Phước Đạt, có nhiều nguồn tin cho rằng: "Khi Trương Phước Đạt bị bắt ở Mãn Châu bấy giờ Nhật đã chiếm Mãn Châu, Đạt được Nhật "ân xá". Trong thời gian ngồi tù ở Mãn Châu, Đạt làm quen với một đảng viên cộng sản Tàu cũng bị giam. Qua người này, Đạt vào Đảng cộng sản Trung Quốc sau khi được tự do. Sau này Đạt có tên là Khá, tự nhận là "đầu mối giao thông" giữa Đảng cộng sản Đông Dương với Đảng cộng sản Trung Quốc, nên một số đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương ở Nga về, hoặc không rõ lý lịch của Khá đã "bắt liên lạc" với Khá. Nhiều khả năng Trần Ngọc Danh, Lê Hồng Sơn bị bắt ở Thượng Hải năm 1932 là do Khá chỉ điểm.

3. Mật thám Huế ngày 8 tháng 9 năm 1937 có công văn báo cho Mật thám Sài Gòn biết rằng:

"Mạnh Văn Liễu tức Can, bí danh là Nguyễn Hạo, quê Mỹ Quan Thượng, phủ Diễn Châu (Nghệ An) từ Tàu về đã tham gia hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương của Đảng cộng sản Đông Dương ở Bà Điểm (Gia Định). Liễu là một nhân vật kích động giữ vai trò ủy viên Ban Chỉ huy ở ngoài, phù hợp với những ý kiến của Tổng nha Mật thám thu thập được trong các ngày 27-28 tháng 5 năm 1935 liên quan đến Ban Chỉ huy ở ngoài tại Macao năm 1935".

4. Một tài liệu của Mật thám Cao Bằng ngày 20 tháng 5 năm 1941, qua một điệp viên cho biết: "Có một người Tàu tên là Phùng được một phụ nữ Tày dẫn đường đến Ngân Sơn. Đã báo cho tri châu Vi Văn Bảo"2.
____________________________________________
1. Có tài liệu cho biết không phải là Trần Văn Kiên mà là Trần Văn Điềm, tức Đình Thanh, học cùng với Mạnh Văn Liễu ở Trường Phương Đông.
2. Trong thời gian chỉ huy Đội Cứu quốc quân, Phùng Chí Kiên có bí danh Phùng. Không rõ có phải "Phùng" được báo có phải là Phùng Chí Kiên?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #79 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:23:15 pm »


ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN QUA HỒI ỨC
CỦA CÁC NHÀ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

Thiếu tá, ThS LÊ THANH BÀI*
Thượng úy, ThS LÊ VĂN CỬ**

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh khi tuổi đời còn trẻ (40 tuổi), nhưng cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và những đóng góp to lớn của đồng chí đã để lại trong ký ức của đồng chí, đồng đội sự khâm phục và lòng tiếc thương vô hạn đối với một cán bộ ưu tú của Đảng. Trong hồi ký của các nhà cách mạng lão thành như Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Dương Đại Lâm, Lô Quang Thành... đã kể lại những năm tháng cùng ông lăn lộn với phong trào. Những dòng hồi ức đó cho chúng ta càng thấy rõ thêm những hoạt động phong phú, cống hiến quan trọng của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong tác phẩm "Con đường dẫn tôi đến với Bác", đồng chí Đặng Văn Cáp kể lại: "Một hôm, tôi nhớ rõ là ngày 28 tháng 9 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên đến tìm tôi ở huyện Phong Thuận. Sau khi trao đổi với nhau về tin "Hoa quân nhập Việt", chúng tôi không khỏi lo ngại, cuối cùng bàn với nhau xem thực hư ra sao. Chia tay được ít ngày, tôi nhận được điện báo của đồng chí Phùng Chí Kiên bảo tôi cố gắng xin nghỉ ít ngày, lý do sẽ cho biết sau.

- Hiện nay ông đã về tới Long Châu (Quảng Tây) chúng ta phải đi đón ngay.

Đó là lời đồng chí Phùng Chí Kiên cho tôi biết khi tôi đã được nghỉ việc.

Chúng tôi mua vé xe lên đường vào một ngày cuối tháng chín. Qua Hưng Ninh đến Thiền Quan, chúng tôi tìm gặp đồng chí Chủ nhiệm Cô Đại Tôn, đồng chí nói:

- Ba lần ông Cụ tìm người để đón về nước mà không gặp..."1.

Sau đó, đồng chí Đặng Văn Cáp đã cùng Phùng Chí Kiên lên đường đi tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Qua nhiều nơi như Trùng Khánh, Quế Lâm, Quý Châu không gặp, cuối cùng "đồng chí Kiên báo cho tôi biết đồng chí Hồ Quang đã về Côn Minh. Tôi cố xoay xoả mua vé xe mà không sao mua nổi. Mãi tháng 5 năm 1940, đồng chí Trịnh Đông Hải (tức đồng chí Vũ Anh) lúc này đang làm cho hiệu Vĩnh An Đường, lợi dụng xe của chủ, tự tay lái lên đón tôi và đồng chí Lộc và đưa chúng tôi về Côn Minh. Được ít ngày đồng chí Kiên dẫn tôi vào gặp đồng chí Hồ Quang. Tôi đang bỡ ngỡ, thì đồng chí đã reo lên:

- A, anh Linh (bí danh của tôi ở Thái Lan).
- Anh Thầu Chín: Tôi cũng reo lên - nhưng chợt nghĩ lại tôi vội chữa:
- Ông..., à đồng chí.

Thì ra rõ ràng đồng chí Hồ Quang là "anh Thầu Chín" mà tôi đã từng gặp ở Thái Lan, là Bác"2.

Trong Hồi ký "Những chặng đường lịch sử", Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nhắc đến vai trò của Phùng Chí Kiên trong việc tổ chức cho ông gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là vào quãng thời gian 1940, khi ông mới sang Trung Quốc hoạt động, "Sang đầu tháng 6, một hôm anh Phùng Chí Kiên rủ chúng tôi đi Thúy Hồ. Dọc đường anh Kiên nói: Đồng chí Vương đã đến và hẹn chúng mình tới gặp ở Thúy Hồ. Đến Thúy Hồ, tôi thấy anh Vũ Anh ngồi trong một chiếc thuyền với một người đứng tuổi, gầy gò, có đôi mắt rất sáng, mặc bộ quần áo Tôn Trung Sơn màu xám, đội mũ phớt. Tôi nhận ra ngay đấy là đồng chí Nguyễn Ái Quốc"3. Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Nguyễn Ái Quốc và Võ Nguyên Giáp mà Phùng Chí Kiên là người tổ chức, móc nối.

Cùng với việc giới thiệu các nhà hoạt động cách mạng gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên giữ vai trò trong việc tổ chức huấn luyện cán bộ cách mạng. Cũng trong hồi ký "Từ Pác Bó đến Tân Trào" Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: "Đầu tháng 12, Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện... Các anh Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và tôi được Bác hướng dẫn làm chương trình huấn luyện"4. Ở đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Tĩnh Tây, Trung Quốc).

Trong tác phẩm "Bác Hồ và đội du kích Pác Bó", đồng chí Lê Quảng Ba, người từng hoạt động ở Trung Quốc, có vai trò lớn trong việc tổ chức đưa Bác về nước và bảo vệ khu căn cứ Pác Bó, đã cho chúng ta thấy vai trò của Phùng Chí Kiên đối với lớp học trên. "Khi anh em chúng tôi tập trung đông đủ ở Nậm Quang, ông Cụ và các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lâm Bá Kiệt, Dương Hoài Nam, Trịnh Đông Hải, Đặng Văn Cáp và đồng chí Lộc đã có mặt. Lớp học được đặt ở đây. Phần lớn học viên, do không đủ nhà ở, phải đến ở thôn Ngàm Tẩy, cách thôn Nậm Quang 1km... ông Cụ đặt chương trình cho lớp huấn luyện chính trị và trực tiếp chỉ đạo. Các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lâm Bá Kiệt, Dương Hoài Nam biên soạn các bài cụ thể và trực tiếp giảng dạy..."5.
___________________________________________________
*, ** Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1. Đặng Văn Cáp, Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong tập Đầu nguồn (Hồi ký về Bác Hồ), Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr.322.
2. Đặng Văn Cáp, Con đường dẫn tôi đến với Bác,... tr .324.
3. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 28.
4. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr.39.
5. Lê Quảng Ba, Bác Hồ và đội du kích Pắc Bó, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994. tr. 70-71.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM