Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Chín, 2022, 02:55:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn  (Đọc 2411 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #90 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2022, 11:57:26 am »


ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN
LUÔN SỐNG MÃI TRONG TÂM TRÍ CHÚNG TÔI

ĐÀO VĂN TRƯỜNG*

Đồng chí Phùng Chí Kiên không chỉ là Thường vụ Trung ương khóa 1 của Đảng ta và là một trong những cán bộ quân sự đầu tiên được đào tạo ở Trường Quân sự Hoàng Phố, mà còn là cánh tay đắc lực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người hoạt động ở hải ngoại (Trung Quốc). Không những thế, đồng chí Phùng Chí Kiên còn là đầu mối liên lạc sống còn của Đảng ta trong nhiều năm gian khó nhất, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở hải ngoại với tổ chức Đảng trong nước. Sau Hội nghị Trung ương 8, tháng 5 năm 1941, ở Pắc Bó, đồng chí Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng cử về trực tiếp lãnh đạo khu du kích Bắc Sơn – Võ Nhai, nhằm duy trì tiếng súng của Khởi nghĩa Bắc Sơn, cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng toàn quốc đang bị giặc Pháp, kẻ đã hèn nhát đầu hàng phát xít Nhật, tàn sát khủng bố sau các cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (27.9 – 28.10.1940), Khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, nổ ra nhưng đều bị thất bại. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu khi làm nhiệm vụ mà Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kính yêu giao cho.

Kỷ niệm 67 năm ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh trong chiến đấu ở Ngân Sơn, Bắc Kạn (22.8.1941 - 22.8.2008) và đồng chí Lương Văn Tri (Huy Còm), Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, cán bộ quân sự của Đảng đã tốt nghiệp trường quân sự của Tàu Tưởng, hy sinh vào tháng 9 năm 1941. Đồng chí Huy Còm đã được đồng chí Lương Khánh Thiện, Nguyễn Kế Hai, Xứ ủy Bắc Kỳ (1936-1939), cử lên chuẩn bị An toàn khu (ATK) dự phòng của Trung ương (trong trường hợp phải chuyển sang hoạt động bí mật và đề phòng Chiến tranh thế giới nổ ra khi quân phát-xít Nhật đánh chiếm Mãn Châu, đang uy hiếp Trung nguyên Trung Quốc), ở đồn điền của Ký Thọ, bố vợ đồng chí Hồng Quang. Nơi đây nguyên là khu vực nhân dân các dân tộc đã từng nổi dậy chống Pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đồ Kiều, là địa bàn ở sâu trong vùng Tây Bắc, có thể làm bàn đạp tìm kiếm, bắt liên lạc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cũng chính vì vậy mà khi khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, Đảng ta phải trực tiếp lãnh đạo.

Tôi nhớ khi Đảng quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng lên trực tiếp lãnh đạo, chúng ta có phần lúng túng vì không có cán bộ quân sự cùng đồng chí Trần Đăng Ninh chia sẻ gánh nặng này. Đồng chí Phùng Chí Kiên có được nhắc tới, nhưng đồng chí lại đang ở quá xa, mà quân phát xít Nhật thì đã tràn vào Lạng Sơn. Còn đồng chí Huy Còm, anh Hoàng Văn Thụ cũng có được nhắc tới nhưng cũng đang ở tận Cát Trù vùng tây bắc tỉnh Yên Bái. Các đồng chí nói trên không dễ gì về được để cùng gánh vác nhiệm vụ với đồng chí Trần Đăng Ninh, khi quân Pháp đang khủng bố lan tràn ở khắp nơi. Cuối cùng, người được chọn đi cùng đồng chí Trần Đăng Ninh lên thay mặt Trung ương Đảng lãnh đạo khởi nghĩa Bắc Sơn, phụ trách về quân sự là đồng chí Nguyễn Thành Diên, Ủy viên Thường vụ của Xứ ủy Bắc Kỳ, một cán bộ không có nhiều hiểu biết về quân sự.

Khoảng đầu năm 1940, tôi và một số đồng chí khác được Trung ương điều về học quân sự ở khu vực Làng Vân (Vân Xuyên, Hoàng Vân) trong An toàn khu của Trung ương ở Hiệp Hoà, Bắc Giang. Thầy dạy của chúng tôi là đồng chí Huy Còm. Trước những ấu trĩ của cả thầy giáo và học viên trong lớp học này, đồng chí Hoàng Văn Thụ buột miệng nói: "Giá mà lúc này đồng chí Phùng Chí Kiên nóng ruột "máy mắt", mà về được!". Tôi nghĩ, điều này thể hiện chân thật tâm tư và sự mong đợi của đồng chí Hoàng Văn Thụ đối với đồng chí Phùng Chí Kiên, một cán bộ quân sự lỗi lạc của Đảng, từng được học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, từng được tham gia thành lập Xô-viết Bát Sát ở sát biên giới Trung Quốc - Việt Nam.

Tháng 5 năm 1941, tại Pắc Bó, Cao Bằng, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị lịch sử này đã ra Nghị quyết về thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh. Trên cơ sở Đội du kích Bắc Sơn, Hội nghị quyết định xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, thành lập các căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và tiến tới Tổng khởi nghĩa. Hội nghị cũng quyết định cử đồng chí Phùng Chí Kiên, trực tiếp phụ trách phong trào Bắc Sơn - Võ Nhai.

Khoảng tháng 8 năm 1941, khi được tin trên đường rút lên Cao Bằng, đồng chí Phùng Chí Kiên, Chỉ huy trưởng, hy sinh; đồng chí Huy Còm bị thương, bị bắt và sau đó hy sinh ở nhà tù Cao Bằng, tôi (Đào Xuân Trường), thế hệ đàn em đồng thời là học trò của các đồng chí, được Trung ương cử lên thay thế các đồng chí phụ trách căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, làm Chủ nhiệm Ủy ban quân sự chính trị kiêm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân (tôi lên Bắc Sơn - Võ Nhai từ tháng 10 năm 1941 đến tháng 2 năm 1942 thì bị địch bắt).

Trước khi lên đường đi Bắc Sơn - Võ Nhai, đồng chí Trường Chinh cởi chiếc áo budông mà đồng chí đang mặc, khoác vào vai tôi và nói: "Từ nay đồng chí lấy bí danh là Trung Kiên, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ đồng chí Phùng Chí Kiên để lại". Đồng chí Hoàng Văn Thụ cũng choàng vào cổ tôi chiếc khăn len đã cũ, khẽ nói: "Nhưng về gặp Trung ương, dùng bí danh Xuân Trường". Đồng chí Hoàng Quốc Việt xúc động, đặt vào tay tôi "khẩu súng ngũ" (bắn 5 viên, nhỏ gọn của Tàu Tưởng) còn mới tinh. Tôi lên đường, nhớ mãi hơi ấm và lời dặn dò của các đồng chí lãnh tụ.

Trong những tháng đánh du kích trong vòng vây của địch ở Bắc Sơn - Võ Nhai, tôi bao giờ cũng nhớ và nguyện noi gương các anh Phùng Chí Kiên và Huy Còm, những người tiền bối, người thầy của tôi về mặt quân sự, trong đấu tranh vũ trang và đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bài thơ "Tình đồng chí", tôi viết tại Bắc Sơn - Võ Nhai vào tháng 12 năm 1941 chính là để khóc thương đồng chí Hà Văn Loi (còn có tên là Mạnh) đã hy sinh trong chiến đấu (khi đồng đội tìm được thi thể đồng chí Loi, thì chỉ còn lại một ít xương bởi thú rừng đã ăn hết phần thịt, nhưng súng vẫn còn đó, đạn đã lên nòng). Bài thơ được viết từ niềm xúc động của bản thân trước sự hy sinh của người đồng chí Hà Văn Loi, nhưng chứa đựng trong đó còn bao gồm cả nỗi niềm thương tiếc, tưởng nhớ khôn nguôi, tình cảm và tấm lòng của tôi đối với các đồng chí khác đã hy sinh cống hiến trọn cả đời mình cho Tổ quốc, mà trước tiên và nhiều hơn cả là đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Huy Còm. Bài thơ như sau:

Hoa "liềm búa" trên mộ người đồng chí
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Hồn thiêng Anh, sáng rực bóng cờ,
Anh đâu chết! - Chúng tôi còn chiến đấu!

Hoa "liềm búa" trên mộ người chiến sĩ,
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Tinh thần Anh! - Cao ngất lưng trời,
Anh đâu chết! - Chúng tôi còn chiến đấu!

Hoa "liềm búa" khóc thương người dũng sĩ,
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Bên nắm xương, thú rừng còn để lại,
Đạn lên nòng, súng vẫn cắm lê!

Hoa "liềm búa" tiễn đưa người tráng sĩ.
"Một ra đi, thề, không trở lại!"
Với núi sông, tên Anh còn sống mãi,
Là Việt Nam, là Độc lập, là Tự do!

Hoa "liềm búa" trên mộ Hà yên nghỉ,
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Màn sương đêm, thơm ngát "hương đời"
Nhẹ toả khắp, quanh "Đài hoa liệt sĩ".


Những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ XX chưa có Quốc ca, nên mỗi khi có hội họp, lễ lạt, ngoài bài Quốc tế ca, chúng tôi luôn hát bài "Hoàng Phố” - bài ca chính thức của Trường Quân sự Hoàng Phố - để tưởng nhớ và cũng để nguyện noi gương, học tập tinh thần kiên trung, bất khuất của đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Huy Còm. Trường Quân sự Hoàng Phố là nơi đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Trung Quốc thời kỳ Quốc - Cộng liên minh, nơi mà những cán bộ lỗi lạc về mặt quân sự của Đảng ta, lứa đầu tiên như Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, v.v. đã từng học.

Một số ký ức trên đây, là một phần trong tâm tư tình cảm của tôi đối với đồng chí Phùng Chí Kiên - người thầy và là người đồng chí luôn mãi trong tôi suốt cả cuộc đời - một "người lính già đầu bạc", 92 tuổi đời, hơn 70 năm tuổi Đảng.
__________________________________________________
* Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban quân sự chính trị kiêm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân, thay đồng chí Phùng Chí Kiên, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #91 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2022, 02:33:53 pm »


HỌC TẬP TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN MINH ĐỨC*

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng oanh liệt và vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, đồng chí Phùng Chí Kiên thuộc thế hệ chiến sĩ cách mạng tiền bối, lớp đảng viên đầu tiên, người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điểm nổi bật trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên là sự thống nhất giữa nhà chính trị và nhà quân sự, nhà quân sự và nhà chính trị. Đồng chí không chỉ là cán bộ quân sự xuất sắc mà còn là nhà hoạt động chính trị và tổ chức thực tiễn tài giỏi của Đảng và của cách mạng Việt Nam. 40 tuổi đời, hơn 15 năm hoạt động cách mạng liên tục và sôi nổi, đồng chí đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta và các thế hệ trẻ một tấm gương sáng về nhiều mặt.

Trước hết, đó là tấm gương suốt đời hy sinh phấn đấu vì lợi ích của Đảng và của nhân dân.

Giác ngộ cách mạng từ năm 1926, đồng chí Phùng Chí Kiên đã dành trọn cả đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Những năm học tập, hoạt động ở nước ngoài (từ tháng 10.1926 đến 7.1936 và từ 12.1937 đến 12.1940), hoặc lúc sa vào ngục tù đế quốc (1931 và từ tháng 10-12.1937), cũng như khi trở về Tổ quốc chỉ đạo và trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu chống thực dân phong kiến (8.1936 - 9.1937 và 1941), dù ở đâu, lúc nào, đồng chí cũng luôn nêu cao ý chí cách mạng kiên cường, bản lĩnh chính trị vững vàng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

Trên mặt trận chính trị - tư tưởng, đồng chí là một người cộng sản kiên cường, hai lần được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (1935, 1941) ở vào những thời điểm quan trọng của cách mạng Việt Nam. Trên cương vị là thành viên trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, đồng chí đã tích cực tham gia chuẩn bị dự thảo các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ nhất (3.1935), góp phần khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và thúc đẩy phong trào cách mạng nước ta chuyển lên một giai đoạn mới. Được cử về Sài Gòn (8.1936) trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (7.1935) và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (26.7.1936), đồng chí đã đề xuất nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, góp phần đưa đến sự hình thành hơn 600 ủy ban hành động ở Nam Kỳ (9.1936) trong phong trào đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các nội dung của dự thảo Nghị quyết, nhất là về chủ trương xúc tiến chuẩn bị điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, góp phần vào sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

Trên bình diện quân sự, đồng chí là vị chỉ huy gan dạ và tài ba, một nhà quân sự xuất sắc, giỏi cả về lý luận và thực tiễn. Do kết quả học tập tốt, năng động, sớm bộc lộ tài năng quân sự, đồng chí là một trong số ít người sau khi mãn khóa lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các cố vấn quân sự Liên Xô lựa chọn vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố để đào tạo thành cán bộ quân sự, chuẩn bị cho việc xây dựng quân đội làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Khi Tưởng Giới Thạch phản bội, nhà trường bị đóng cửa (4.1927), đồng chí gia nhập Hồng quân công nông, tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Được giao làm Đại đội trưởng một đơn vị quân cách mạng, đồng chí đã vận dụng những kiến thức quân sự được nhà trường trang bị vào tổ chức, chỉ huy chiến đấu, bẻ gãy nhiều cuộc tiến công của bọn quân phiệt, góp phần bảo vệ khu Xô-viết Hải - Lục Phong. Qua các trận chiến đấu trên nhiều chiến trường, nhất là thực tiễn kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc, đồng chí không ngừng tích lũy, ghi chép thành tài liệu quân sự để phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính trên cơ sở bản thảo đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết lại thành cuốn sách ngắn nhan đề "Kinh nghiệm du kích Tàu"1 giới thiệu một số trận đánh Nhật tiêu biểu của nhân dân Trung Quốc, góp phần bồi dưỡng kiến thức quân sự cho đồng bào và chiến sĩ ta chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 - một trong những tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Trước tình hình địch khủng bố quyết liệt, đồng chí đã bố trí lại lực lượng, thực hiện chiến thuật mới, tổ chức bảo vệ đoàn cán bộ đi dự Hội nghị Trung ương 8 về xuôi an toàn và cuối cùng đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu không cân sức để phá vòng vây của địch, bảo toàn lực lượng - "cái vốn quý" đầu tiên của quân đội ta.

Tinh thần chiến đấu của đồng chí mãi mãi là tấm gương sáng về sự hy sinh phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta.

Thứ hai, tấm gương nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật và tình thần trách nhiệm.

Bước vào đời hoạt động cách mạng ở tuổi 25, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn thể hiện sự chín chắn trong công việc cũng như nếp sống và có ý thức tổ chức kỷ luật rất cao. Theo cụ Phan Trọng Quảng, vị lão thành cách mạng được tham dự lớp huấn luyện chính trị thứ hai do Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu (Trung Quốc) cho biết: "Thời ấy ở Nghệ Tĩnh có nhiều thanh niên yêu nước rất thiết tha muốn tìm đường xuất dương. Họ thường nhờ mấy anh là con trai và con rể của cụ Phan Bội Châu đưa đường, nhưng không may họ lại bị bọn trung gian đánh lừa. Có anh mất hàng trăm đồng Đông Dương mà vẫn không đi đươc..."2. Trái lại, đồng chí Phùng Chí Kiên rất cẩn trọng, không ngừng tự rèn luyện mình trong việc tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê hương, quyên góp tiền bạc ủng hộ những người xuất dương. Và chính trên cơ sở đó, tháng 10 năm 1926, đồng chí được Chi bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tỉnh Nghệ An lựa chọn và giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện.

Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, dù được giao bất cứ nhiệm vụ gì hoặc ở cương vị công tác nào, đồng chí đều có ý thức chấp hành tốt sự phân công của tổ chức. Đặc biệt, khi được giao phụ trách bộ phận công tác Đảng ở ngoài nước, đồng chí luôn giữ vững nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Ví như, trong Thư gửi ngày 15 tháng 11 năm 1937, đồng chí viết:

"...1. Đảng chúng tôi còn trong hoàn cảnh hoàn toàn bí mật, một mặt Ban Chỉ huy ở ngoài đã thủ tiêu. Hiện nay chỉ để tôi (Kan) ở ngoài phụ trách liên lạc với đảng Xiêm rất khó khăn trở ngại. Còn đảng Tàu hiện nay đã được gần công khai, nên các đồng chí giao cho họ liên lạc với đảng Xiêm thì tiện cho cả chúng tôi. Ý kiến các đồng chí thế nào xin chỉ thị cho.

2. Chúng tôi mong rằng xin các đồng chí cho chúng tôi chính thức liên lạc với đảng Tàu. Chúng tôi ở đây có liên lạc trực tiếp với Nam ủy của đảng Tàu.

3. Từ nay những tài liệu, chỉ thị tin cho Đảng chúng tôi cũng có thể gửi qua Trung ương Đảng Tàu đưa về Nam ủy chuyển, liên lạc tới Nam ủy của đảng Tàu.

4. Tôi cũng xin đồng chí trực tiếp giúp kinh tế cho vì có nhiều cơ quan quần chúng chưa tìm được việc làm.

5...

6. Bản chữ Tàu thư ngày 10 tháng 7 là báo cáo của đảng Xiêm và kết luận của chúng tôi trong cuộc nói chuyện với Nam ủy của đảng Tàu và đại diện của Xiêm...

Các đồng chí có định cho đồng chí Rêmy về đây hay không? Xin cho biết để còn thu xếp bộ phận ngoài này và trong Xứ và cho tiện công việc và đỡ kinh tế..."3.

Nội dung bức thư không chỉ thể hiện quan điểm của Đảng về quan hệ với Quốc tế Cộng sản, mà còn toát lên ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm rất cao của đồng chí Phùng Chí Kiên - người được Đảng ta tin cậy giao nhiệm vụ phụ trách công tác Đảng ở ngoài nước, để giữ vững mối liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và các đảng bạn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Về nước hoạt động, đồng chí tham gia viết tài liệu, mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ quân sự, cán bộ chính trị... theo sự phân công, chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Việc gì được giao, đồng chí cũng làm cẩn thận, chu đáo và với tinh thần trách nhiệm cao nhất.
________________________________________________
* Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử quân sự dân tộc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.69.
2. Dẫn theo bài "Lớp huấn luyện chính trị thứ hai ở Quảng Châu (Trung Quốc)", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6.1992.
3. Đỗ Quang Hưng, Phùng Chí Kiên (1901-1941) - một cán bộ quân sự - chính trị tài ba, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #92 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2022, 02:40:13 pm »


Thứ ba, tấm gương say mê học tập, không ngừng rèn luyện về mọi mặt.

Bẩm sinh vốn thông minh, ham hiểu biết, nhưng do hoàn cảnh gia đình, đồng chí chỉ được học hết bậc sơ học. Bước vào đời, đồng chí thấu hiểu không có tri thức cách mạng thì không thể hoạt động cách mạng có hiệu quả. Cho nên, đồng chí tranh thủ mọi điều kiện, mọi lúc mọi nơi để học, như tích cực tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê hương, học thêm chữ Hán, chữ Pháp.

Từ năm 1926-1927, đồng chí được vào học lớp huấn luyện chính trị - lớp thứ 3 do Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu, rồi được chọn vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Đồng chí đã tận dụng tất cả thời gian để học tập, học lý thuyết và thực hành, học trên lớp và rèn luyện ở thao trường... với niềm khao khát, đầy hứng thú. Chính giáo viên Liên Xô tại Trường Quân sự Hoàng Phố đã có những nhận xét tốt về tinh thần học tập của các học viên Việt Nam, trong đó có Phùng Chí Kiên: "Trong số những học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài"1.

Tháng 2 năm 1931, được cử sang Liên Xô học Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, niên khóa 1931-1933, đồng chí không quản ngại đường sá khó khăn, cách trở, thậm chí bị bọn quân phiệt Nhật ở Mãn Châu bắt giam gần một năm, vẫn quyết đến được Mátxcơva học tập. Với tinh thần học để phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng chí tranh thủ ngày đêm học tập lý luận cách mạng, học về nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, xây dựng quân đội... và hoàn thành nhiệm vụ học tập với những lời khen ngợi, biểu dương của Bộ Phương Đông, Quốc tế Cộng sản:" Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung tốt"2.

Kết hợp học tập lý luận với rèn luyện trong thực tiễn, đồng chí đã trang bị cho mình một hệ thống tri thức cơ bản, toàn diện cả về chính trị và quân sự, giỏi tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Pháp và biết cả tiếng Quảng Đông... Nhờ đó, đồng chí đã trở thành nhà cách mạng ưu tú, có học vấn cao của Đảng ta ở thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, có đủ năng lực và trí tuệ đóng góp với Đảng về những vấn đề chiến lược, sách lược và cùng với Đảng giải quyết thành công nhiều vấn đề cấp bách của thực tiễn cách mạng.

Ý chí phấn đấu của đồng chí là một tấm gương sáng về tinh thần say mê, khổ công học tập, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh những tầm cao của tri thức.

Thứ tư, tác phong gương mẫu trong công tác và lối sống.

Sớm được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giáo dục và được học qua nhiều trường lớp ở nước ngoài, đồng chí có tác phong làm việc khoa học, sâu sát, luôn bám sát thực tiễn, bám sát phong trào cách mạng. Trong công tác, đồng chí rất nhiệt tình, năng nổ, hết lòng vì nhiệm vụ. Trong cuộc sống, đồng chí rất giản dị, tôn trọng và gần gũi mọi người.

Bởi vậy, suốt những năm tháng hoạt động cách mạng, dù ở đâu, đến đâu, hay trên cương vị công tác nào, đồng chí cũng nhận được tình cảm trân trọng, quý mến, sự giúp đỡ vô tư của đồng chí, đồng bào và đồng chí cũng để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng mọi người. Cụ Hoàng Quang Bình, cơ sở cách mạng của ta, hoạt động ở Vân Nam (Trung Quốc) từ những năm 1937-1938 kể rằng: "Anh Kiên đối với tôi thân hơn ruột thịt. Anh dạy dỗ tôi nhiều, chỉ bảo cặn kẽ, từng ly, từng tý, gợi cho tôi chí khí cách mạng, bày cho tôi cách hoạt động"3.

Đồng chí, đồng bào ta ở Cao Bằng - nơi được vinh dự đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đoàn cán bộ cách mạng về nước hoạt động hồi đầu năm 1941, vẫn mãi ghi nhớ hình ảnh: "Đồng chí Phùng Chí Kiên, người Nghệ An ra nước ngoài đã mười mấy năm, có đôi gò má cao, mặt vuông, cằm tròn, là một cán bộ quân sự đã tham gia Hồng quân chống Nhật, nay là Ủy viên Trung ương, được cử về phụ trách chiến khu Bắc Sơn - Võ Nhai..."4.

Đặc biệt, đồng chí còn là một tấm gương sáng về lối sống cần kiệm. Hoạt động trong Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài, nhưng đồng chí sống rất giản dị. Do điều kiện khó khăn, đồng chí đã sử dụng nhà ở của mình làm trụ sở cơ quan và cũng là chỗ làm việc của Tòa soạn báo Đồng Thanh - tờ báo do đồng chí phụ trách. Đầu năm 1940, đồng chí Võ Nguyền Giáp trong lần được Đảng giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Văn Đồng bí mật sang Côn Minh (Trung Quốc) bắt liên lạc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã gặp Phùng Chí Kiên và kể rằng: "Gọi là cơ quan, nhưng đều phải ở bí mật, vì cần đề phòng bọn Quốc dân đảng Trung Quốc, nếu lộ, chúng có thể ám hại. Trong cơ quan, sinh sống rất khắc khổ. Mọi việc đi chợ, nấu ăn đều phải tự lo liệu"5. Thế nhưng, vượt lên mọi khó khăn thử thách, đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Cuộc đời hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên thực sự là một tấm gương sáng về nhiều mặt cho chúng ta, nhất là đối với các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau noi theo. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, quyết thực hiện bằng được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì việc nêu cao và phấn đấu học tập tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên càng có ý nghĩa sâu sắc.
________________________________________________
1. Phạm Xanh, Đồng chí Phùng Chí Kiên, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3,1987.
2. Đỗ Quang Hưng, Phùng Chí Kiên (1901-1941) - một cán bộ quân sự - chính trị tài ba, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6,2001.
3, 4. Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Tập 1, Hồi ký, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 289, 581.
5. Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Tập 1, Hồi ký, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 581, 152.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #93 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 02:24:34 pm »


PHÙNG CHÍ KIÊN NIỀM TỰ HÀO CỦA QUÊ HƯƠNG DIỄN CHÂU

NGUYỄN TRUNG TIẾP*

Từ thuở cắp sách đến trường, chúng tôi đã nghe cái tên Phùng Chí Kiên. Lớn lên, chúng tôi biết nhiều thêm, hiểu sâu sắc hơn về thân thế, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên và càng tự hào hơn về người con ưu tú của quê hương Diễn Châu.

Sinh ra và lớn lên vào đầu thế kỷ XX (18.5.1901) ở một làng quê nghèo khó như bao làng quê khác của đất nước Việt Nam lúc bấy giờ; làng Mỹ Quan, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, cậu bé Nguyễn Vĩ, như bao đứa trẻ Việt Nam khác có tuổi thơ nhọc nhằn, nhưng rất ham học. Tình thương con và khát khao mong con được học hành, có chút chữ nghĩa, vợ chồng người nông dân nghèo Nguyễn Văn Khoản - Trần Thị Cúc đã quyết tâm cho con đến trường. Với niềm khao khát tri thức, sự hăm hở của tuổi trẻ, với truyền thống hiếu học của quê hương, Nguyễn Vĩ đã có bằng Sơ học yếu lược - một trình độ học vấn khá cao vào thời bấy giờ, đáp lại lòng mong mỏi của bố mẹ. Hoàn cảnh khó khăn của gia đình không cho phép Vĩ bước tiếp trên con đường học vấn nhưng vẫn không dập tắt được ngọn lửa khát vọng học tập để mở mang hiểu biết. Thế rồi chàng thanh niên Nguyễn Vĩ vào đời, vừa làm thuê kiếm sổng đỡ đần bố mẹ, vừa không quên tự học, qua sách báo, qua cuộc đời, qua các hoạt động yêu nước ngay trên quê hương, bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Chính trong quãng thời gian này, lòng yêu nước được nhen nhóm và mãi mãi trở thành ngọn lửa hồng cháy trong anh - người thanh niên mang những nỗi niềm thiết tha về quê hương, đất nước. Vừa làm, vừa học, vừa tham gia những hoạt động yêu nước, tâm hồn Nguyễn Vĩ đã được rọi sáng bởi những tư tưởng cách mạng tiến bộ đầu tiên. Ngả đường anh chọn đã hiện ra và anh đã dấn thân vào con đường ấy không một chút đắn đo, ngần ngại, đã thủy chung theo đuổi cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. Đó là con đường hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân khỏi ách thống trị, đô hộ của bọn thực dân xâm lược.

Tháng 12 năm 1926, anh được tổ chức giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) tập huấn cách mạng với tấm thẻ căn cước mới mang tên Nguyễn Hào (tên người chú ruột). Cũng cuối năm 1926 này, anh vào học Trường võ bị Hoàng Phố, với cái tên Mạnh Văn Liễu. Tháng 2 năm 1931, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu, anh rời Quảng Châu (Trung Quốc) sang học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Về Hương Cảng, Trung Quốc, với cái tên mới Phùng Chí Kiên, anh tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong đứng đầu. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Năm 1936, đồng chí lại được cử về Sài Gòn chỉ đạo phong trào cách mạng đòi tự do, đòi dân chủ, hoà bình. Sau đó, đồng chí trở lại Trung Quốc tiếp tục hoạt động trong Ban Hải ngoại với cái tên khác là Phùng Nguôn Bình. Một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên đó là từ khi anh gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Bên cạnh Nguyễn Ái Quốc, đồng chí đã trưởng thành rất nhiều về nhận thức lý luận cách mạng. Tháng 1 năm 1941, cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác đã về Pắc Bó, Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được phân công trực tiếp làm chỉ huy căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, xây dựng lực lượng Cứu quốc quân - một trong những đơn vị tiền thân của quân đội ta. Là một cán bộ quân sự đầu tiên của Đảng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy Cứu quốc quân chống lại đợt càn quét, khủng bố với quy mô lớn của thực dân Pháp, đưa các đồng chí lãnh đạo của Trung ương Đảng đến nơi an toàn. Trong trận chiến đấu không cân sức, vô cùng ác liệt với kẻ thù, đồng chí đã sa vào tay giặc khi đã bắn hết viên đạn cuối cùng và đã bị thương. Không lay chuyển được ý chí khảng khái, dũng liệt của Phùng Chí Kiên, ngày 22 tháng 8 năm 1941, kẻ thù đã giết hại đồng chí. Tiếc thay, người cộng sản trung kiên, người cán bộ quân sự tài năng của Đảng đã hy sinh lúc tuổi đời mới tròn 40. Ông không được sống tiếp những tháng ngày hào hùng nhất của dân tộc, những ngày Mặt trận Việt Minh lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành chính quyền. Ông có biết chăng, đúng 4 năm tròn sau ngày ông hy sinh (21.8.1945), quê hương Diễn Châu yêu dấu của ông cũng đã khởi nghĩa giành chính quyền. Và cũng một người con xuất sắc khác của Diễn Yên đã làm Chủ tịch đầu tiên của chính quyền cách mạng huyện nhà - đồng chí Lê Nhu.

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã ra đi hơn nửa thế kỷ, nhưng hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trung kiên vẫn sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam, trong lòng nhân dân Trung Quốc, nhân dân Bắc Sơn, Võ Nhai, Cao Bằng, Lạng Sơn... Từ cậu bé Nguyễn Vĩ nơi làng quê Mỹ Quan, Diễn Yên đến nhà cách mạng Phùng Chí Kiên là hơn 20 năm học tập, rèn luyện, chiến đấu với nghị lực phi thường, với bản lĩnh kiên cường, với nhiệt tình cách mạng, với đức hy sinh tận tụy và với tấm lòng trung hậu của con người Diễn Châu. Cuộc đời hoạt động chiến đấu đầy gian nguy nhưng vô cùng oanh liệt của ông, những phẩm chất sáng ngời của ông mãi mãi là niềm tự hào, là tấm gương sáng cho bao thế hệ người Diễn Châu. Và cái tên Phùng Chí Kiên đã lưu danh vẻ vang trong lịch sử dân tộc.

67 năm trôi qua, quê hương Diễn Châu cùng với đất nước, dân tộc đã trải qua bao biến cố: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, chín năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tiếp tục xây dựng quê hương đất nước và thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo cho đến ngày nay. Nơi chín suối, hẳn linh hồn ông rất mãn nguyện khi Tổ quốc đã độc lập, tự do như lý tưởng ông theo đuổi, và quê hương Diễn Châu đang ngày một thay da đổi thịt cùng đất nước. Diễn Châu đang ngày một xứng đáng với truyền thống lịch sử văn hoá 1.381 năm. Vùng quê đã tách vỏ cho một cuộc nảy mầm vì tương lai trên bước đường đổi mới và hội nhập. Diễn Yên, nơi chôn nhau cắt rốn của ông đang khởi sắc, đổi thay từng ngày: Cái làng quê bé nhỏ nghèo đói, xác xơ, tiêu điều xưa, nay cùng với nhiều làng quê khác ở Diễn Châu ngập tràn ánh điện, những con đường mới rộng thênh thang, được rải nhựa, bê tông, những cánh đồng mới có doanh thu cao, những ngôi nhà mới khang trang và sừng sững một ngôi trường to đẹp, đàng hoàng mang tên Phùng Chí Kiên. Một Diễn Yên anh hùng trong Diễn Châu anh hùng.

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã hiến trọn tuổi xuân cho độc lập, tự do của dân tộc. Đồng chí đã hy sinh anh dũng ở tuổi đời 40. Ghi nhận công lao của Phùng Chí Kiên, 6 năm sau, ngày 23 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL-CTN truy phong quân hàm cấp tướng cho Phùng Chí Kiên. Ngày 3 tháng 3 năm 1990, Bộ Chính trị đã làm lễ đưa một phần thi thể đồng chí Phùng Chí Kiên về Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, nằm yên nghỉ bên cạnh các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Người Diễn Châu hôm nay tự hào với lịch sử tên gọi 1.381 năm, tự hào với truyền thống anh dũng, kiên cường của cha ông trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, tự hào với truyền thống văn hoá, khoa bảng, với các tên tuổi lớn của đất nước trên mọi lĩnh vực như: Hoàng Tá Thốn, Cao Quýnh, Ngô Trí Hoà, Ngô Trí Tri, Nguyễn Xuân Ôn, Đặng Văn Thụy, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Huy, v.v... và nhà cách mạng Phùng Chí Kiên, lớp hậu sinh của họ cũng xứng đáng với các bậc tiền bối, đó là các Giáo sư Cao Xuân Hạo, Cao Huy Đỉnh, Lê Duy Phước, Phạm Sĩ Tân, Đặng Hồng Vân, nhà thơ Trần Hữu Thung v.v, và 108 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11 anh hùng lực lượng vũ trang, 12 đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 4.327 liệt sĩ đã chiến đấu hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người Diễn Châu hôm nay đang đóng góp vào sự nghiệp đổi mới của quê hương đất nước, với những kết quả về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, văn học nghệ thuật.

Chúng tôi, những lớp hậu sinh đang sống và làm việc tại quê hương Diễn Châu, đang tiếp tục thực hiện những hoài bão một thời của đồng chí. Trước vong linh đồng chí, chúng tôi xin thắp nén tâm hương tưởng niệm, tự hào vì đã có Ông - người con ưu tú của quê hương và cùng bao anh hùng liệt sĩ khác của Diễn Châu anh hùng, đã làm rạng danh, tô đẹp cho quê hương.

Ý nguyện về một khu tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Phùng Chí Kiên tại quê nhà là một ước vọng chính đáng của Đảng bộ và nhân dân Diễn Châu, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và bạn bè gần xa, với sự quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện nhà, chắc chắn điều đó sẽ được thực hiện trong một ngày không xa. Chúng tôi - những người đang sống và làm việc trên quê hương mong sớm được thực hiện điều nguyện ước đó như một nghĩa cử trước vong linh người anh hùng - liệt sĩ.
_______________________________________________
* Bí thư huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #94 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 02:28:35 pm »


HỌC TẬP TẤM GƯƠNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN QUYẾT TÂM XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG VỮNG CHẮC, GIÀU ĐẸP

Đại tá BÙI HOÀI THANH*

Đồng chí Phùng Chí Kiên (tức Nguyễn Vĩ, Mạnh Văn Liễu, Nguyễn Hào, Như Bách, Nguyễn Vợi, tức Phùng...) - người con ưu tú của quê hương Nghệ An Xô-viết anh hùng, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhà chính trị, quân sự song toàn - là một trong những tấm gương mẫu mực về lòng kiên trung bất khuất, về tinh thân phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc cuả nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, nói chung và lực lượng vũ trang Nghệ An nói riêng.

Trải qua hơn 63 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được sống, chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng cộng sản Việt Nam, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Nghệ An đã không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, lập nên nhiều chiến công xuất sắc, xứng đáng với truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam và quê hương Xô-viết anh hùng, với các bậc tiền bối cách mạng, với các Anh hùng liệt sĩ, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên.

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong muôn vàn khó khăn chồng chất, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã luôn có mặt ở vị trí xung kích hàng đầu, lập công xuất sắc, góp phần cùng quân và dân cả nước giành chính quyền về tay nhân dân trong mùa Thu Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An nằm trong vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhưng từ mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất này đã có hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng và bảo vệ vững chắc một vùng căn cứ địa quan trọng, đồng thời sẵn sàng bổ sung lực lượng xây dựng nên những binh đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam ta, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, tạo bước ngoặt thuận lợi đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc vững bước tiến lên.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nghệ An là địa bàn chiến lược trọng yếu của Quân khu 4 và cả nước; vừa là tiền tuyến của hậu phương miền Bắc, vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam và cách mạng Lào anh em. Đế quốc Mỹ xem Nghệ An là một trọng điểm trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với Miền Bắc xã hội chủ nghĩa và thực tế Nghệ An đã trở thành mục tiêu đánh phá đầu tiên, liên tục, dài ngày, ác liệt nhất của địch, cũng là nơi địch đánh phá cuối cùng khi buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc. Máy bay và vũ khí hiện đại của đế quốc Mỹ đã không thể khuất phục được khí phách, lòng dũng cảm của quân và dân Nghệ An. Từ năm 1958 đến năm 1975 đã có 160.313 cán bộ, chiến sĩ là con, em các dân tộc Nghệ An gia nhập quân đội tham gia chiến đấu trên các chiến trường, 11.585 thanh niên xung phong, 24.480 dân công hoả tuyến phục vụ chiến đấu.

Ở hậu phương, lực lượng dân quân tự vệ đã kề vai, sát cánh cùng toàn dân chiến đấu, ngọn lửa Xô-viết một lần nữa lại toả sáng, đã tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Nghệ An chiến thắng kẻ thù. Bằng sức mạnh đoàn kết, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, quân và dân Nghệ An đã phối hợp cùng các đơn vị của Bộ và Quân khu, bắn rơi 553 máy bay các loại (đứng thứ hai trên miền Bắc); bắn chìm, bắn cháy 36 tàu chiến và tàu biệt kích của Mỹ - ngụy; bắt sống 28 toán biệt kích, thám báo. Riêng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đã độc lập bắn rơi 112 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 26 tàu chiến và tàu biệt kích của địch. Đặc biệt, bằng súng bộ binh, dân quân Nghệ An lần đầu tiên đã bắn rơi máy bay hiện đại của đế quốc Mỹ, mở đầu cho phong trào bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh trên miền Bắc. Đây cũng là chiến công đầu tiên, điển hình cho sức mạnh của lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Những chiến công của quân và dân Nghệ An đã góp phần đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, góp phần buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, non sông thu về một mối. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Nghệ An, một mặt: tập trung chăm lo xây dựng ổn định tổ chức biên chế, củng cố lực lượng và tổ chức huấn luyện để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc giai đoạn mới; mặt khác, tiếp tục lại kề vai sát cánh cùng toàn đảng, toàn quân, toàn dân hăng hái bắt tay vào khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

Khi chiến tranh ở hai đầu biên giới nổ ra, gần 200.000 cán bộ, chiến sĩ là con em của quê hương Nghệ An lại lên đường chiến đấu để chi viện cho các chiến trường trong nước và nước bạn Lào, Campuchia. Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, hy sinh những cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã đi vào nơi khó khăn, nguy hiểm nhất để cùng lực lượng cách mạng của Bạn tiến hành xây dựng cơ sở, vận động quần chúng, tổ chức lực lượng tiêu diệt thổ phỉ, mở rộng vùng giải phóng. Ngoài ra, lực lượng vũ trang Nghệ An còn phối hợp với các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng tấn công, truy quét, trấn áp bọn lưu manh, côn đồ gây rối trị an, ngăn chặn, phá tan các tổ chức âm mưu vượt biên, vượt biển trái phép. Đóng góp hàng triệu ngày công xây dựng các công trình thủy lợi của tỉnh như: Vách Bắc, Vực Mấu, cống Hiệp Hoà, đê 42 và nhiều công trình quan trọng khác.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", "bạo loạn lập đổ" tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, quyết liệt, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, "phi chính trị hoá" lực lượng vũ trang. Kích động, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
__________________________________________________
* Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #95 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 02:30:02 pm »


Nghệ An là một tỉnh có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nhiều chí sĩ cách mạng tiền bối, trong đó có Phùng Chí Kiên. Do vậy, Nghệ An trở thành địa bàn được các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt, nhằm hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh chính ngay trên quê hương của Người, bằng nhiều âm mưu thủ đoạn tinh vi, trắng trợn và nguy hiểm. Mặt khác, Nghệ An là một tỉnh có diện tích rộng, dân số đông. Mấy năm gần đây tình hình an ninh trên tuyến biên giới, an ninh vùng giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang Nghệ An luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, bản lĩnh chính trị vững vàng, một lòng với Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4, lực lượng vũ trang Nghệ An đã không ngừng trưởng thành lớn mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, chất lượng tổng hợp và trình độ sức mạnh chiến đấu ngày càng được nâng lên. Vừa huấn luyện, xây dựng chính quy và rèn luyện kỷ luật để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tập trung tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chỉ huy cơ quan, diễn tập làng xã chiến đấu. Góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thành, thị vững chắc; đồng thời, luôn tích cực chủ động tham mưu có hiệu quả các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; làm tốt công tác chính sách xã hội và chính sách hậu phương quân đội. Tham mưu chỉ đạo thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng cơ sở xã, phường, cụm ATLC-SSCĐ. Đổi mới nội dung, hình thức vận động quần chúng. Đặc biệt, mấy năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo Ban chỉ huy quân sự các huyện biên giới xây dựng các đội công tác tăng cường về các cơ sở vùng sâu, vùng xa, các địa bàn khó khăn phức tạp, giúp đỡ địa phương xây dựng củng cố các tổ chức trong hệ thống chính trị, hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Chỉ đạo các đơn vị bộ đội tập trung tổ chức bộ đội hành quân dã ngoại về các địa bàn khó khăn, giúp địa phương xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt, tìm kiếm cứu nạn, phòng chống cháy rừng.

Quán triệt quan điểm "giúp bạn là tự giúp mình" lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An bằng nhiều việc làm thiết thực giúp đỡ lực lượng vũ trang, nhân dân các tỉnh bạn Lào có chung đường biên giới với Nghệ An góp phần giữ gìn, phát huy tình hữu nghị Việt - Lào "mãi mãi xanh tươi", đời đời bền vững.

*

*        *

63 năm xây dựng, chiến đầu, trưởng thành, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa chiến đấu vừa xây dựng, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 128 đơn vị bộ đội địa phương, lực lượng dân quân tự vệ, 48 cán bộ, chiến sĩ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 11 năm 2001, Đoàn Quy tập được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, 336.407 huân, huy chương các loại, 821 bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu "Mẹ Việt Nam anh hùng"...

Qua bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định rằng: Quá trình xây dựng trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An hơn nửa thế kỷ qua có được là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sự thương yêu đùm bọc của nhân dân các dân tộc, sự tận tình giúp đỡ, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của các địa phương, đơn vị bạn cùng với sức mạnh của tình đoàn kết, hữu nghị mà bạn bè quốc tế đã dành cho lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An. Song chúng tôi cũng ý thức sâu sắc rằng: Có được những thành tích đó, có được sự trưởng thành đó là xuất phát từ cội nguồn truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương - Một vùng "địa linh nhân kiệt" - Đây chính là mảnh đất màu mỡ đầu tiên hun đúc nên tinh thần yêu nước và cách mạng của người cộng sản kiên cường, nhà quân sự xuất sắc - tướng quân Phùng Chí Kiên.

Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Nghệ An đã và đang noi gương truyền thống anh hùng của các thế hệ cha anh; mỗi cán bộ, chiến sĩ đã và đang không ngừng học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, giữ vững và phát huy truyền thống anh hùng của quê hương Xô-viết; nâng cao năng lực làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ quân sự quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, bảo đảm giữ vững an ninh biên giới, biến đảo và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nêu cao cảnh giác cách mạng sẵn sàng đối phó thắng lợi với các tình huống, không để bất ngờ xẩy ra. Đồng thời, sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào anh em. Để mãi mãi xứng đáng là con cháu của các chiến sĩ "Tự vệ Đỏ", xứng đáng là những chiến sĩ lực lượng vũ trang trên quê hương của Tướng quân Phùng Chí Kiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #96 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 02:32:51 pm »


ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN TRONG LÒNG ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

HÀ ĐỨC TOẠI*

Bắc Kạn được các sử gia triều Nguyễn đánh giá là "miền quan yếu" ở phía Bắc có vị trí trọng yếu về chính trị - quân sự. Thực dân Pháp, sau khi bình định xong phần đất phía Nam của tỉnh Thái Nguyên (dưới thời nhà Nguyễn, tỉnh Thái Nguyên bao gồm cả phần đất tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn ngày nay), phải mất hơn 10 năm mới cơ bản hoàn tất việc chiếm đóng phần đất phía bắc của tỉnh. Để chiếm giữ được vùng đất Bắc Kạn, thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách thâm độc và tuyển lựa những phần tử tay sai phản động để đào tạo lực lượng thân Pháp. Từ năm 1888 đến năm 1938, chúng đã đào tạo gần 60 quan lại từ bang tá đến tuần phủ, phục vụ bộ máy ngụy quyền. Về chính trị, chúng triệt để dùng chính sách "chia để trị", đồng thời thiết lập 2 hệ thống hành chính là hệ thống hành chính chung của toàn tỉnh và hệ thống cai trị riêng của từng dân tộc. Địa giới hành chính tỉnh Thái Nguyên cũng nhiều lần được thay đổi, đến ngày 11 tháng 4 năm 1900, tỉnh Bắc Kạn chính thức được thành lập từ việc tách phần đất phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên ra thành lập riêng một tỉnh mới là tỉnh Bắc Kạn. Về kinh tế, thực dân Pháp tăng cường vơ vét của cải bằng các loại thuế, kiểm soát, quản lý chặt chẽ việc khai thác lâm thổ sản và tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản trên khắp phần đất thuộc tỉnh Bắc Kạn. Về văn hóa - xã hội, chúng dùng chính sách ngu dân hòng làm cho đồng bào Bắc Kạn chìm đắm trong vòng ngu tối. Dưới thời Pháp thuộc, cả tỉnh Bắc Kạn chỉ có một trường học và một nhà thương. Tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu được duy trì, khuyến khích phát triển.

Tuy nhiên, với truyền thống quật khởi của đồng bào thiểu số các châu ky my, nhân dân Bắc Kạn không chịu khuất phục trước sự cai trị hà khắc của kẻ thù, đã vùng lên phản kháng quyết liệt. Từ năm 1888 đến năm 1943 (năm 1943 chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn được thành lập), đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã giáng cho kẻ thù nhiều đòn đích đáng như: trận Chợ Mới, ngày 17 tháng 1 năm 1889, nghĩa quân tiêu diệt gần 100 tên địch; trận phá nhà lao, cướp vũ khí của địch, làm chủ thị xã Bắc Kạn trong một tuần của các tù nhân yêu nước và lính khố xanh có tinh thần dân tộc, năm 1914; vụ đồng bào khu vực quanh thị xã Bắc Kạn làm đơn tập thể kiện lên Toàn quyền Đông Dương việc bọn thực dân và quan lại địa phương ức hiếp dân chúng, năm 1934, v.v. Các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Bắc Kạn trong giai đoạn này đều mang tính tự phát, trong khi đó phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, từ năm 1930 đã phát triển mạnh mẽ khắp trong cả nước. Trên địa bàn Việt Bắc, các tỉnh quanh Bắc Kạn như Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang... đã có Tỉnh ủy và Tỉnh bộ Việt Minh, nhưng ở Bắc Kạn, phong trào cách mạng tác động đến chưa nhiều. Thời điểm năm 1941, có sự kiện đồng chí Phùng Chí Kiên bị địch phục kích và bắt được tại rừng Khau Pàn, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, rồi chặt đầu đem bêu ở phố huyện Ngân Sơn nhằm khủng bố tinh thần đấu tranh của đồng bào tỉnh Bắc Kạn. Với sự kiện đau lòng này, nhân dân tỉnh Bắc Kạn biết rằng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, nhân dân Bắc Kạn không đơn độc.

Phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đặc biệt là từ sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5 năm 1941). Để xây dựng căn cứ địa rộng khắp cả vùng Việt Bắc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo "xây dựng những con đường quần chúng", nối liền các khu căn cứ cách mạng, nối liền Việt Bắc với các tỉnh miền xuôi, do tỉnh Bắc Kạn nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, nên việc xây dựng các cơ sở cách mạng trở nên cấp thiết. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và của tỉnh Cao Bằng được phân công về Bắc Kạn xây dựng phong trào thông qua các đoàn công tác Nam tiến. Đến ngày 22 tháng 9 năm 1943, chi bộ đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn được thành lập tại tổng Chí Kiên, huyện Ngân Sơn. Phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 gắn liền với sự phát triển của phong trào Nam tiến và Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp tổ chức thực hiện. Điều đó góp phần lý giải vì sao đồng chí Phùng Chí Kiên bị địch phục kích và hy sinh tại Bắc Kạn trên đường rút quân từ căn cứ Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) - Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) lên biên giới Việt - Trung, được Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn tôn vinh như một vị anh hùng. Hồi ký của đồng chí Doanh Hằng, cán bộ lão thành cách mạng, người trực tiếp tham gia thành lập chi bộ Chí Kiên tháng 9 năm 1943, có đoạn: "Đồng chí Văn và đồng chí Nghĩa... triệu tôi (Doanh Hằng) và đồng chí Thành Tâm đến giới thiệu vào Đảng Cộng sản Đông Dương... Sau đó đồng chí Văn nhân danh cán bộ Đảng cấp trên tuyên bố thành lập chi bộ Chí Kiên... từ giờ phút này chúng tôi mới biết người cộng sản bị địch sát hại tại rừng Khau Pàn (xã Đức Vân) ngày 22 tháng 8 năm 1941 là đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương".

Trong thời kỳ kháng chiến và những năm trước đổi mới, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn chưa có điều kiện để xác minh rõ thân nhân của liệt sĩ Phùng Chí Kiên, nhưng với tình cảm trân trọng những người đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn bằng nhiều hình thức đã xây dựng và tôn vinh hình tượng đồng chí Phùng Chí Kiên, người cán bộ lãnh đạo kiệt xuất của Đảng hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn ngày 22 tháng 8 năm 1941, thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh nhà. Ngay từ năm 1943, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên đã được chọn làm mật danh để đặt cho tổng Việt Minh Bằng Đức và chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, vào tháng 3 năm Bính Tuất (tháng 3 năm 1946), cán bộ và nhân dân xã Chí Kiên (nay là xã Đức Vân) đã lập mộ liệt sĩ cho đồng chí Phùng Chí Kiên ở bìa rừng Khau Pàn, cạnh đường ô tô vào mỏ vàng Pác Lạng (xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn). Năm 1964, huyện Ngân Sơn xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn đã quy tập mộ đồng chí Phùng Chí Kiên về nghĩa trang liệt sĩ huyện để thờ cúng. Từ năm 1990, mộ đồng chí Phùng Chí Kiên đã được chuyển về nghĩa trang Mai Dịch, thành phố Hà Nội, nhưng ở nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn vẫn có phần mộ để nhân dân thăm viếng trong các ngày lễ trọng đại của đất nước. Ở thị xã Bắc Kạn, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chiến đấu hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn được đặt cho các phố của thị xã Bắc Kạn. Tháng 5 năm 1957, Tỉnh ủy Bắc Kạn ra Quyết nghị số 40-QN/BK thành lập Trường Đảng tỉnh Bắc Kạn và đặt tên là Trường Phùng Chí Kiên. Năm 1964, chi bộ phố Chí Kiên có 4 đồng chí. Năm 1967, thị xã Bắc Kạn thành lập Trường cấp I Phùng Chí Kiên. Ngày 11 tháng 8 năm 1990, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ ra Quyết định số 346/TCCP quyết định thành lập phường Phùng Chí Kiên thuộc thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay, phường Phùng Chí Kiên là một trong những đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, và trên địa bàn phường có hai trường học mang tên đồng chí Phùng Chí Kiên là Trường mầm non Phùng Chí Kiên và Trường tiểu học Phùng Chí Kiên - một trong những trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của tỉnh Bắc Kạn. Riêng trường Tiểu học Phùng Chí Kiên đang có kế hoạch dựng tượng đài liệt sĩ Phùng Chí Kiên trong khuôn viên nhà trường để góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ học sinh của nhà trường. Từ năm 2003 đến nay, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã đầu tư xây dựng khu di tích lịch sử cách mạng và nhà truyền thống tại nơi thành lập Chi bộ Chí Kiên là bản Duồm, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn và thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm tại khu di tích lịch sử cách mạng này.

Hiện tại, trên bia mộ của liệt sĩ Phùng Chí Kiên trong Nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn ghi tên của liệt sĩ Phùng Chí Kiên là Nguyễn Mạnh Liệu. Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đề nghị Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Tỉnh ủy Nghệ An phối hợp với tỉnh Bắc Kạn đính chính những thông tin chưa chính xác về liệt sĩ Phùng Chí Kiên ở địa phương và cung cấp tài liệu tuyên truyền về đồng chí Phùng Chí Kiên để đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn biết đồng chí Phùng Chí Kiên tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1889 tại xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khóa I và sớm có hình thức tôn vinh, truy tặng liệt sĩ Phùng Chí Kiên những danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho những người có công lao to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xứng đáng với sự đóng góp và hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên.
____________________________________________________
* Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #97 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 08:14:17 pm »


CHI BỘ ĐẢNG MANG TÊN PHÙNG CHÍ KIÊN Ở TỈNH BẮC KẠN

VŨ XUÂN KHÁNH*

Bắc Kạn nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang, một góc tây bắc gần kề với tỉnh Hà Giang, có diện tích tự nhiên 4.985,21km2, dân số hơn 30 vạn người, gồm 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Tày chiếm gần 60% dân số. Địa hình tỉnh Bắc Kạn hiểm trở, nhiều núi cao vực sâu. Đặc điểm nổi bật cấu tạo địa hình là dạng cánh cung gồm các cánh cung Sông Gâm và Ngân Sơn có nhiều khối núi đá vôi đồ sộ cao trên 1.000m, xen giữa các khối núi đó là những dòng sông, dòng suối hai bên bờ đất đai màu mỡ, dân cư sinh sống trù phú. Đường quốc lộ số 3, tuyến đường huyết mạch nối liền Thủ đô Hà Nội với vùng núi phía đông Bắc Bộ chạy dọc tỉnh Bắc Kạn dài hơn một trăm kilômét. Vị trí địa lý và địa hình như vậy đã làm cho Bắc Kạn trở thành điểm trọng yếu về chính trị - quân sự ở vùng phía đông Bắc Bộ. Vì vậy trong quá trình cai trị nước ta thực dân Pháp luôn tìm cách chiếm giữ tỉnh Bắc Kạn. Để thực hiện mưu đồ chiếm giữ bằng được tỉnh Bắc Kạn, thực dân Pháp đã dùng chiêu bài "chia để trị" một cách triệt để. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các dân tộc thiểu số ở Bắc Kạn đều có hệ thống cai trị riêng như người dân tộc Dao có chức Động trưởng ở cơ sở, chức Chánh mán ở cấp tổng, chức Quản chiểu ở cấp châu; người dân tộc Mông có chế độ Thống tra; người dân tộc Hoa có chế độ Bang trưởng; người dân tộc Tày theo chế độ cai trị giống người dân tộc Kinh, còn người dân tộc Kinh trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Bắc Kạn chưa đủ điều kiện để thành một tộc người. Bằng chính sách cai trị như vậy, nên đến năm 1941, ở Bắc Kạn vẫn chưa có cơ sở cách mạng nào, trong khi đó ở Việt Bắc có hai trung tâm cách mạng lớn nằm ở phía bắc tỉnh Bắc Kạn là Cao Bằng và nằm ở phía đông nam tỉnh Bắc Kạn là Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) - Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên).

Xét trên bình diện chung, từ năm 1939, phong trào cách mạng của nước ta do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đã bước sang cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc (giai đoạn 1939-1945). Trên thế giới, chiến tranh ngày càng ác liệt với ưu thế nghiêng về trục phát xít Đức - Ý - Nhật. Ngày 22 tháng 6 năm 1940, đế quốc Pháp thất bại trên chiến trường châu Âu, nhân cơ hội ấy, phát xít Nhật nhảy vào chiếm Đông Dương. Ngày 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật từ Trung Quốc tràn qua biên giới đánh chiếm Lạng Sơn. Quân Pháp bạc nhược, nhanh chóng tan rã. Tàn quân Pháp vứt bỏ súng đạn chạy về xuôi. Đảng bộ Bắc Sơn (Lạng Sơn) coi đây là thời cơ thuận lợi đã phát động quần chúng nổi dậy. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Tiếng súng Bắc Sơn đã có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của cả nước. Nhiều cán bộ có trình độ chính trị và năng lực vận động quần chúng ở các địa phương khác được Đảng điều động tăng cường cho căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Đặc biệt, đầu năm 1941, trên đường đi dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã ở lại căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Thực hiện chỉ thị của Đảng, duy trì tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích ra đời trong cuộc khởi nghĩa được xây dựng thành lực lượng vũ trang đầu tiên của Đảng. Ngày 1 tháng 5 năm 1941, tại Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Trung đội Cứu quốc quân 1 được thành lập do đồng chí Lương Văn Chi làm Chỉ huy trưởng. Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng được cử phụ trách quân sự kiêm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang của Đảng, được cử về làm Chỉ huy trưởng Trung đội Cứu quốc quân 1 và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.

Hoảng sợ trước sự phát triển nhanh chóng của phong trào cách mạng, thực dân Pháp sau khi quỳ gối dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, đã quay lại âm mưu dập tắt phong trào cách mạng của nhân dân ta, đặc biệt là phong trào cách mạng ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Liên tiếp trong các tháng 6, 7, 8 năm 1941, chúng mở rất nhiều cuộc càn quét, khủng bố khốc liệt nhằm vào căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Trước tình hình diễn biến phức tạp, nhằm tránh mũi nhọn khủng bố của kẻ thù, bảo vệ cách mạng và bảo vệ một đơn vị vũ trang đã được thử thách, các đồng chí lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định rút Trung đội Cứu quốc quân 1 lên biên giới Việt - Trung. Ngày 16 tháng 8 năm 1941, trung đội chia làm hai bộ phận, theo hai ngả hành quân lên biên giới. Bộ phận qua Bình Gia - Thoát Lãng (Lạng Sơn) tuy chạm trán với giặc nhưng vượt qua được biên giới. Riêng bộ phận do đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy, dự định theo đường Na Rì - Ngân Sơn (Bắc Kạn) lên Cao Bằng nhưng chưa đến địa giới Lạng Sơn - Bắc Kạn đã bị lộ, sang đến địa phận xã Văn Học, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đơn vị gặp bọn phản động địa phương và bị lính dõng truy đuổi. Ngay sau đó, tên Garic, quyền Công sứ Pháp ở Bắc Kạn trực tiếp chỉ huy quân Pháp và tay sai thông thạo đường rừng mở cuộc càn quét, phục kích các ngả. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi hành quân đến Khau Pàn, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, đơn vị rơi vào ổ phục kích của địch, đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh. Sự kiện này là một tổn thất lớn cho Đảng Cộng sản Đông Dương và cho phong trào cách mạng của cả nước, nhưng nó cũng có tác dụng thức tỉnh đồng bào Bắc Kạn, làm cho đồng bào Bắc Kạn biết được rằng trên đất nước ta có một chính Đảng đang tập hợp quần chúng đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, cho dân tộc. Mọi sự bưng bít của kẻ thù đối với đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn về phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đang dâng cao khắp cả nước đã bị phá vỡ. Đó là tiền đề quan trọng để sau này, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị "xây dựng những con đường quần chúng", nổi liền hai trung tâm cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai, chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 9 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943, phong trào cách mạng tỉnh Bắc Kạn đã phát triển rộng khắp dẫn đến việc thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh.
___________________________________________________
* Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Kạn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #98 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 08:16:30 pm »


Khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, lịch sử đấu tranh của Đảng ta, của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Với nhãn quan sáng suốt của vị lãnh tụ cách mạng thiên tài, Người đã quyết định chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong chiến lược mới của Đảng, tỉnh Bắc Kạn trở thành cầu nối giữa hai trung tâm cách mạng là Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai. Vấn đề xây dựng và phát triển phong trào cách mạng ở tỉnh Bắc Kạn trở nên cấp thiết, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị phải "xây dựng những con đường quần chúng", nối liền hai trung tâm cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai. Thực hiện chỉ thị của Người, công tác "Nam tiến" được Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Cao Bằng, Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng chuẩn bị khẩn trương. Tháng 9 năm 1942, tại xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Ban xung phong Nam tiến, mà hạt nhân là chi bộ Đảng Ban xung phong Nam tiến, được thành lập gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng, Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc, Dương Văn Long, do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách; đồng chí Nông Văn Quang làm Thư ký chi bộ (tức Bí thư chi bộ).

Dưới sự lãnh đạo của Ban xung phong Nam tiến, với phương châm linh hoạt, theo phương pháp "cóc nhảy" và "vết dầu loang", chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào Việt Minh của tỉnh Bắc Kạn đã phát triển rộng khắp, quần chúng nhân dân ở nhiều xã vùng cao của huyện Ngân Sơn được tổ chức vào Hội Việt Minh. Ban Việt Minh cấp xã và cấp tổng được thành lập, trong đó có Ban Việt Minh tổng Chí Kiên (để tưởng nhớ đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh tại Khau Pàn, xã Đức Vân ngày 22 tháng 8 năm 1941, các đồng chí cán bộ Nam tiến đặt tên bí mật cho tổng Bằng Đức là Chí Kiên; tổng Chí Kiên bao gồm các xã Thượng Ân, Cốc Đán, Đức Vân, Vân Tùng, Thuần Mang), các điều kiện để hình thành chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã hội đủ. Tròn một năm sau, vào tháng 9 năm 1943, dưới chân một thác nước nhỏ tại khu ruộng Coỏng Tát thuộc xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, đồng chí Văn (tức đồng chí Võ Nguyên Giáp) và đồng chí Nghĩa (tức đồng chí Dương Mạc Hiếu) kết nạp hai hội viên Việt Minh trung kiên của tỉnh Bắc Kạn vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đó là các đồng chí Thành Tâm1 và Đông Sơn2. Thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thay mặt Ban xung phong Nam tiến đồng chí Văn tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng của tổng Chí Kiên, huyện Ngân Sơn gồm 3 đồng chí là đồng chí Nghĩa, đồng chí Đông Sơn và đồng chí Thành Tâm, đồng thời chỉ định đồng chí Nghĩa làm bí thư chi bộ. Chi bộ Chí Kiên được thành lập là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn. Điều đó chứng tỏ cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã hoà cùng và bắt kịp với phong trào cách mạng của cả nước, góp phần quan trọng cùng cả dân tộc Việt Nam làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa đất nước ta, dân tộc ta lên một tầm cao mới, tầm cao của kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chi bộ Chí Kiên, ngay từ khi mới ra đời, đã vinh dự là tổ chức cơ sở Đảng được đón nhận nhiều đồng chí lãnh đạo của tỉnh Bắc Kạn, cũng như lãnh đạo Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tham gia sinh hoạt và lãnh đạo phong trào cách mạng của tỉnh như đồng chí Đồng Văn Bằng, đồng chí Doanh Hằng, đồng chí Dương Mạc Thạch3.

Trải qua 65 năm phát triển, từ buổi sơ khai ban đầu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn chỉ có 1 chi bộ với 3 đồng chí đảng viên, đến nay Đảng bộ đã có 21.401 đồng chí đảng viên, chiếm 7,1% dân số của tỉnh, sinh hoạt tại 11 đảng bộ trực thuộc với 413 tổ chức cơ sở Đảng; năm 2007 trên 70% tổ chức cơ sở Đảng được công nhận đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh.

Có được những thành tích như trên là kết quả của sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn. Tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương, Đảng bộ Bắc Kạn luôn coi trọng công tác giáo dục truyền thống cách mạng bằng nhiều hình thức, trong đó có hình thức dùng tên các bậc tiền bối có nhiều công lao với sự nghiệp cách mạng của Đảng để đặt tên cho địa danh, tổ chức và đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh. Riêng đối với đồng chí Phùng Chí Kiên, người cán bộ lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn tháng 8 năm 1941, đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn. Ngay từ năm 1943, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên đã được chọn làm mật danh để đặt cho tổng Việt Minh Bằng Đức và chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, vào tháng 3 năm Bính Tuất (3.1946), cán bộ và nhân dân xã Chí Kiên (nay là xã Đức Vân) đã lập mộ liệt sĩ cho đồng chí Phùng Chí Kiên tại bìa rừng Khau Pàn, cạnh đường ô tô vào mỏ vàng Pác Lạng. Năm 1964, huyện Ngân Sơn xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn đã quy tập mộ đồng chí Phùng Chí Kiên về nghĩa trang liệt sĩ huyện để thờ cúng. Năm 1990, mộ đồng chí Phùng Chí Kiên được chuyển về nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Nhưng hiện nay, nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn vẫn có phần mộ của đồng chí Phùng Chí Kiên để đồng bào tỉnh Bắc Kạn đến thắp hương tưởng niệm nhân các ngày lễ trọng đại của đất nước. Ở thị xã Bắc Kạn, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chiến đấu và hy sinh tại Bắc Kạn được đặt cho các phố của thị xã. Tháng 5 năm 1957, Tỉnh ủy Bắc Kạn ra Quyết nghị số 40-QN/BK thành lập Trường Đảng tỉnh Bắc Kạn và đặt tên là Trường Phùng Chí Kiên. Năm 1964, chi bộ phố Chí Kiên có 4 đồng chí. Ngày 11 tháng 8 năm 1990, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ ra Quyết định số 346/TCCP quyết định thành lập phường Phùng Chí Kiên thuộc thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay, phường Phùng Chí Kiên là một trong những đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và trên địa bàn phường có hai trường học mang tên đồng chí Phùng Chí Kiên là trường Mầm non Chí Kiên và trường tiểu học Chí Kiên - một trong những trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của tỉnh Bắc Kạn.

Với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tĩnh Bắc Kạn đề nghị Đảng và Nhà nước sớm có hình thức tôn vinh, truy tặng đồng chí Phùng Chí Kiên những danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho những người có công lao to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xứng đáng với sự đóng góp và hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên.
________________________________________________
1. Đồng chí Thành Tâm tức Đồng Văn Bằng - nguyên Chủ nhiệm Ban Việt Minh tỉnh đầu tiên, đã hy sinh trong cuộc khủng bố cách mạng khốc liệt của kẻ thù đầu năm 1944.
2. Đồng chí Đông Sơn tức Doanh Hằng, nguyên Bí thư tỉnh ủy Bắc Kạn; nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái.
3. Bí danh Xích Thắng nguyên chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12315



« Trả lời #99 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 08:22:23 pm »


NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY VỀ ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN
Ở KHOA LỊCH SỬ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

GS, TS NGUYỄN NGỌC CƠ*

1. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam đã có biết bao anh hùng liệt sĩ, hữu danh và vô danh ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Rất nhiều thanh thiếu niên nước ta thuộc lứa tuổi học đường ngày nay đã không khỏi bàng hoàng xúc động, khi được biết, đã có rất nhiều nhà cách mạng Việt Nam hiến dâng cả tuổi thanh xuân và tấm thân vàng ngọc của mình, ngay từ khi còn rất trẻ cho tương lai của dân tộc mà không hề do dự và suy tính thiệt hơn. Một trong những nhà yêu nước như vậy là Phùng Chí Kiên.

Mặc dù tên tuổi của Phùng Chí Kiên trong các cuốn giáo trình và tài liệu thông sử được nhắc tới không nhiều, số người hiểu tường tận về cuộc đời, sự nghiệp của đồng chí cũng còn có phần hạn chế, nhưng trong tâm trí của nhiều học sinh, sinh viên, chuyên ngành Lịch sử (Lịch sử Đảng và Lịch sử dân tộc) của các trường Đại học, Cao đẳng đều biết Phùng Chí Kiên là một nhà cách mạng xuất sắc, một nhà quân sự - chính trị tài ba, đã từng có những hoạt động và cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Được Hội đồng Chính phủ truy phong quân hàm cấp Tướng. Nhiều đường phố, trường học, đơn vị, v.v, ở một số địa phương được mang tên Phùng Chí Kiên.

Gần đây, những nhóm sinh viên thuộc các khối lớp năm thứ 3, năm thứ 4 (nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam) và một số học viên cao học thuộc Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Thái Nguyên, triển khai các đề tài về căn cứ địa, về hoạt động đấu tranh cách mạng, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc (như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn...) cũng như nghiên cứu các đề tài thuộc về mảng Phương pháp giảng dạy lịch sử đã quan tâm đến vấn đề này và có dịp đi sâu hơn, cụ thể hơn về nhân vật Phùng Chí Kiên.

Các kết quả nghiên cứu dựa trên cơ sở của những nguồn tư liệu mới được phát lộ và kiểm chứng đã tạo điều kiện cho chúng ta hiểu rõ về cuộc đời hoạt động của Phùng Chí Kiên nói riêng, của các nhân vật lịch sử cách mạng nói chung được khắc họa trong các cuốn giáo trình, tài liệu lịch sử, viết về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945 dùng để giảng dạy trong các trường phổ thông, cao đẳng và đại học. Các tri thức và sự kiện dưới đây cần được tiếp tục nghiên cứu và đưa vào chương trình giảng dạy lịch sử cho học sinh, sinh viên cả nước, nhất là trong các tiết học về lịch sử địa phương.

2. Về những cống hiến to lớn của anh cho cách mạng Việt Nam, chúng ta có thể tóm lược như sau:

- Phùng Chí Kiên là một trí thức sớm có lòng yêu nước và chí khí cứu nước; một trong những người sớm tham dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, được Người trực tiếp bồi dưỡng, giúp đỡ, dìu dắt, được đào tạo có hệ thống, toàn diện để trở thành một cán bộ chính trị, quân sự cách mạng xuất sắc của Đảng (học qua Trường Quân sự Hoàng Phố ở Trung Quốc và Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva, 2 lần được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, năm 1935 và 1941).

- Là một chiến sĩ cộng sản quốc tế xuất sắc, từng tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu năm 1927, sau đó lại tích cực tham gia xây dựng các khu căn cứ cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức, thành lập tổ chức người Việt Nam ủng hộ cách mạng Trung Quốc. Khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông, năm 1934 được Quốc tế cộng sản đánh giá là người "có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung là tốt".

- Là một trong những người tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng ở nước ngoài, sau khi cao trào công nông 1930-1931 bị đàn áp, đã tích cực chắp nối đường dây liên lạc với các cơ sở cách mạng trong nước, phục hồi phong trào cách mạng và trực tiếp chuẩn bị cho Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng cộng sản Đông Dương (3.1935).

- Là người trực tiếp truyền đạt chủ trương của Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản (7.1935) và tinh thần nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (7.1936) về Sài Gòn, nhằm chuyển hướng đấu tranh của Đảng trong thời kỳ Cao trào dân chủ 1936-1939.

- Với cương vị phụ trách Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng, Phùng Chí Kiên đã sớm liên lạc và làm việc thường xuyên với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người về Côn Minh (đầu năm 1940) và cùng Ban lãnh đạo của Đảng tích cực chuẩn bị đưa Bác Hồ về nước.

- Ngoài quân sự, Phùng Chí Kiên còn tỏ ra là một cán bộ có tài về chính trị và tổ chức. Trước khi đón Bác Hồ về nước, tháng 11 năm 1940, tại Ngàm Táy, Nậm Quang, Tĩnh Tây tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ... đã tập hợp trên 40 thanh niên người dân tộc, tổ chức lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc giảng dạy, nhằm đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán xây dựng căn cứ địa Cao Bằng. Cũng trong năm 1940, anh còn lập Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc đánh Nhật, làm báo Đồng Thanh (sau đổi thành báo Đ.T theo sự gợi ý của Nguyễn Ái Quốc) để tuyên truyền yêu nước.

- Sau khi theo Bác Hồ về Hà Quảng, anh lại phụ trách lớp huấn luyện chính trị cho các đảng viên tại địa phương, trực tiếp biên soạn các tài liệu học tập, hoàn thành cuốn sách "Con đường cách mạng dân tộc giải phóng" và cùng một số cán bộ khác, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) hoàn chỉnh việc chuyển hướng chiến lược của Đảng, chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

- Với tư cách là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và là Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn1, Phùng Chí Kiên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lãnh đạo quân dân ta đấu tranh chống khủng bố của địch, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, bảo vệ khu căn cứ và hi sinh anh dũng vào chiều ngày 20 tháng 8 năm 1941.
___________________________________________
* Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
1. Lịch sử các đội quân tiền thân... Sđd, tr. 149.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM