Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2022, 02:25:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn  (Đọc 1890 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #60 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:18:44 pm »


Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp tại một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao, Trung Quốc1. Tham dự có các đại biểu thuộc đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở ngoài nước. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 ủy viên trong đó có Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Hoàng Đình Giong, Đinh Thanh, Võ Nguyễn Hiến, Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên2. Ban Thường vụ gồm Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Đinh Thanh3. Phùng Chí Kiên được giao "phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài"4.

Kể từ tháng 3 năm 1935, gần đúng 2 năm sau khi học ở Trường Phương Đông, Nguyễn Vĩ chính thức dùng tên và họ hoạt động cách mạng là Phùng Chí Kiên.

Tháng 7 năm 1936, Hà Huy Tập, Ủy viên Thường vụ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn giao công việc cho Lê Hồng Phong. Tháng 8 năm 1936, ông đã cùng Phùng Chí Kiên về Sài Gòn trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Một năm sau, Lê Hồng Phong trở về Sài Gòn hoạt động thì Phùng Chí Kiên trở lại Trung Quốc chỉ đạo công tác đảng ở nước ngoài. Tháng 10 năm 1936, Phùng Chí Kiên, mang thẻ căn cước là Phùng Nguôn Bình5, bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Kông. Hai tháng sau ông được trả lại tự do vì không có bằng chứng luận tội nhưng bị trục xuất khỏi đây. Rời Hồng Kông, Phùng Chí Kiên sang Sán Dần (một thị trấn của Quảng Đông), rồi theo đường bộ qua Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam) liên hệ với các cán bộ Đảng ta ở đây củng cố lại Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài6.

Giũa lúc Phùng Chí Kiên chưa liên lạc được với Đảng, thì từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1937, Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp tại Nam Kỳ, dưới sự chủ trì của Hà Huy Tập, quyết định tổ chức Mặt trận thống nhất, khôi phục hệ thống Đảng Trung - Nam - Bắc. Hai ngày 29 và ngày 30 tháng 3 năm 1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bầu Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư thay Hà Huy Tập (Lê Hồng Phong đã bị bắt từ giữa năm 1938. Hà Huy Tập là Ủy viên Thường vụ, cho đến ngày 14 tháng 7 năm 1938 bị bắt, rồi bị xử bắn vào năm 1941, sau khởi nghĩa Nam Kỳ). Theo thông báo của Ban Chấp hành Trung ương mới "Ban Trung ương gồm có 11 ủy viên, trong đó 9 ủy viên hoạt động trong nước, 2 ủy viên hoạt động ở nước ngoài"7. Có thể Phùng Chí Kiên là một trong hai ủy viên này.

Cuối năm 1939, Đảng ta chủ trương tăng cường hoạt động ở vùng Hoa Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ở Vân Nam đã thành lập "Hải ngoại Bộ" gồm có Lý Quang Hoa, Vũ Anh, Phùng Chí Kiên. Hải ngoại Bộ được phép của chính quyền Trung Quốc8 thành lập Hội Việt Nam dân chúng ủng hộ Trung Quốc kháng Nhật. Hải ngoại Bộ còn cho xuất bản tờ báo Đồng Thanh làm cơ quan tuyên truyền cho Hội này. Hải ngoại Bộ còn được chỉ thị vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh phá âm mưu thực hiện "Hoa quân nhập Việt" của Quốc dân đảng Trung Hoa. Tháng 1 năm 1940, có chỉ thị từ trong nước gửi ra cho Hải ngoại Bộ, yêu cầu đi tìm ông Trần (bí danh cùa Nguyễn Ái Quốc). Cuối tháng 2 năm 1940, Trịnh Đông Hải (Vũ Anh) đã bắt liên lạc được với ông Trần tại hiệu dầu cù là Vĩnh An đường, Côn Minh9. Sau đó, Trịnh Đông Hải đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến gặp Ban Chỉ huy ở ngoài10. Phùng Chí Kiên và các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài bố trí Nguyễn Ái Quốc đến ở trên một căn gác nhỏ nhà số 77 của ông bà Tông Minh Phương (bấy giờ làm nghề thợ may, sau chuyển thành hiệu cà phê Tân Nam) nằm trên đường Kim Bích (Côn Minh).
___________________________________________
1, 2. Lê Mậu Hãn, Đảng Cộng sản Việt Nam các đại hội và hội nghị Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 26, 27-28.
3. Hà Huy Tập - Người Cộng sản kiên trung..., Sđd, tr. 573. Cũng trong sách này, tr. 536 có viết "Ban thường vụ gồm 5 đồng chí, Lítvinốp luôn vắng mặt, 1 người bị bắt, Hùng (?) về Bắc Kỳ, Lang (Kan ?) về Nam Kỳ nên Ban Thường vụ đã không còn và Ban Trung ương cũng kết thúc".
4. Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Sđd, tr. 192.
5. Có tài liệu ghi là Phùng Nguôn Vĩnh.
6. Đinh Xuân Lâm, Sđd, tr. 193.
7. Lê Mậu Hãn, Sđd, tr. 34.
8. Theo Hồi ký của Vũ Anh.
9. Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Vân Nam - Tĩnh Tây trong sách Bác Hồ ở Hoa Nam, Nxb Công an nhân dân, 2004, tr. 53.
10. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 98.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #61 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:21:24 pm »


Khoảng giữa tháng 3 năm 1940, sau lần quân Quốc dân đảng đến khám nhà số 77, Phùng Chí Kiên đưa Nguyễn Ái Quốc về nhà số 67, Hoa Sơn Nam, cũng ở trong thành phố Côn Minh. Đây là trụ sở của Nhà xuất bản "Sinh hoạt đọc sách" (Sinh hoạt độc thư). Khi có việc gì thì Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phùng Chí Kiên, ở cơ quan bí mật1 .

Tháng 4 năm 1940, sau khi được Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan, Phùng Chí Kiên báo cáo tình hình kiều bào, tổ chức Đảng ở Vân Nam "Bác đề ra ý kiến muốn đi thăm cơ sở, anh Phùng Chí Kiên đi theo Bác. Đến Xì Xuyên hai bác cháu ở nhà đồng chí Hoàng Quang Bình"2 .

Tháng 6 năm 1940, "Nguyễn Ái Quốc mang bí danh đồng chí Vương gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (vừa từ trong nước sang) tại công viên Thuý Hồ"3 . Đến cuối tháng, Phùng Chí Kiên được chỉ thị của đồng chí Vương cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tìm cách về nước. Cuối tháng 11, đầu tháng 12, Phùng Chí Kiên cùng Đặng Văn Cáp, Phạm Văn Đồng, đồng chí Vương từ Nam Ninh, qua Điền Đông rồi về Tĩnh Tây.

Đầu tháng 12 năm 1940, Phùng Chí Kiên được triệu tập đến gặp đồng chí Vương cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp để bàn về việc mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Đến tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Vương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp đến Nậm Quang, một làng ở sát biên giới Việt - Trung. Tại đây, đồng chí Vương đã mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ Việt Nam4 .

Đồng chí Vương giao Phùng Chí Kiên soạn tài liệu "Con đường giải phóng" cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Phần quân sự, đánh du kích... do Phùng Chí Kiên soạn thảo. Sau khi "nộp bài" thấy bút mực đỏ của đồng chí Vương xoá, bỏ, viết thêm nhiều quá, Phùng Chí Kiên nói:

“- Thế này, thà anh viết còn hơn.

Đồng chí Vương thân ái trả lời:

- Viết để cho quần chúng cán bộ dễ hiểu, dễ làm, không phải sửa nội dung mà chỉ sửa cách viết thôi"5 .

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng đi với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác vượt biên giới về Pắc Bó, Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương diễn ra tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Sau hội nghị này, "Phùng Chí Kiên, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, một cán bộ quân sự có tài của Đảng được cử về làm Chỉ huy trưởng căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Cứu quốc quân... Trung ương chỉ định đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách Tổng chỉ huy Ban chỉ huy mới Chiến khu Bắc Sơn"6 . Phùng Chí Kiên cũng đã trở thành chỉ huy đơn vị vũ trang đầu tiên của Chiến khu Việt Bắc là đội Cứu quốc quân.

Nhận nhiệm vụ ở Ban Chấp hành Trung ương mới, Phùng Chí Kiên đã kết thúc giai đoạn công tác ở nước ngoài - giai đoạn tích luỹ kiến thức cách mạng, quân sự, chính trị - để vận dụng vào thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam trong những tháng ngày vô cùng khó khăn, gian khổ của năm 1941. Đồng chí đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ vào ngày 22 tháng 8 năm 1941.
____________________________________
1. Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Vân Nam - Tĩnh Tây trong sách Bác Hồ ở Hoa Nam, Sđd, tr. 57.
2. Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Vân Nam - Tĩnh Tây trong sách Bác Hồ ở Hoa Nam, Sđd, tr. 57.
3. Vũ Anh, Từ Côn Minh về Pắc Bó, Bác Hồ, Nxb Văn học, 1975, tr. 143.
4. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 2, Sđd, tr. 130.
5. Theo lời kể của Vũ Anh.
6. Chu Văn Tấn, Kỷ niệm cứu quốc quân, Nxb Quân đội nhân dân, 1976, tr. 37.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #62 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 09:52:02 pm »


PHÙNG CHÍ KIÊN, MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP*


Cách đây 67 năm, Đội du kích Bắc Sơn vừa vinh dự được mang tên Đội cứu quốc quân Bắc Sơn (tức Trung đội Cứu quốc quân 1) đã phải đương đầu quyết liệt với quân thù. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, Ban chỉ huy và lực lượng Cứu quân quân bị tổn thất, trong đó đồng chí Phùng Chí Kiên, Chỉ huy trưởng Trung đội Cứu quốc quân 1 đã anh dũng hy sinh. Đây là tổn thất lớn đối với Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân ta.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc, người chỉ huy dũng cảm, kiên quyết của lực lượng vũ trang cách mạng. Đồng chí đã đem hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Bài viết này, đề cập một số cống hiến về mặt quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên.

1. Đồng chí Phùng Chí Kiên được đào tạo về quân sự ở nước ngoài và trải nghiệm trong đấu tranh cách mạng.

Là một thanh niên yêu nước, sớm có chí hướng cách mạng, năm 1927, đồng chí Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn vào học Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), cùng với hơn 10 đồng chí khác, trong đó có các đồng chí Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh, v.v... Trong thời gian học tập tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên và các thanh niên Việt Nam khác được đánh giá "rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập, bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài"1.

Là người được học tập, rèn luyện, hiểu biết về cách mạng và nhạy cảm chính trị, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng một số học viên Việt Nam tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu (12.1927), xây dựng khu Xô-viết Hải Phong - Lục Phong (Quảng Châu). Với cương vị là đại đội trưởng, đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy đơn vị phối hợp với quân đội cách mạng chiến đấu anh dũng, bẻ gãy nhiều cuộc tiến công của quân Tưởng, bảo vệ khu Xô-viết.

Những năm tháng học tập chính trị, nhất là về quân sự và tham gia chiến đấu trên đất bạn, Phùng Chí Kiên đã nỗ lực phấn đấu, kiên trì rèn luyện về mọi mặt. Chiến đấu dũng cảm trước quân thù và nhiều lần bị thương là minh chứng về lòng quả cảm của người chỉ huy kiên cường, vì nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với cách mạng và nhân dân Trung Quốc. Những lần tham gia chiến đấu trong các trận đánh ở chiến trường nước bạn đã giúp Phùng Chí Kiên tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu cho mình để sau này trở về nước hoạt động, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

Từ năm 1932 đến năm 1934, đồng chí Phùng Chí Kiên được chọn vào học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva (Liên Xô). Phùng Chí Kiên say mê nghiên cứu, học tập về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, về kinh nghiệm tiến hành và bảo vệ chính quyền Xôviết trong Cách mạng tháng Mười Nga; đồng thời miệt mài đọc sách, báo và tìm hiểu về xây dựng quân đội cách mạng theo mẫu hình Hồng quân Liên Xô. Đồng chí được cán bộ Trường Đại học Phương Đông nhận xét: "Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung tốt"2. Năm tháng học tập ở Trường Đại học Phương Đông rất bổ ích, giúp cho Phùng Chí Kiên nâng cao sự hiểu biết, dần định hình cho mình về lý luận cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng quân đội cách mạng.

Có thể khẳng định rằng, đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta chọn đào tạo khá cơ bản cả về lý luận và thực tiễn quân sự ở nước ngoài. Đây chính là "vốn quân sự" quý báu để đồng chí Phùng Chí Kiên cống hiến cho Đảng và cách mạng Việt Nam.
__________________________________________
* Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử tổ chức quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1. A. I. Trêrêpanốp, Hồi ký Phụ nữ Liên Xô, Bản tiếng Nga, số 2, 1980, tr. 7.
2. Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001, tr. 19.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #63 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 09:53:05 pm »


2. Cống hiến về quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên cho cách mạng Việt Nam.

Cuối năm 1940, trước tình hình thế giới và trong nước có những biến động lớn, nhiệm vụ đánh đuổi Pháp - Nhật, cứu nước nhà, giành độc lập cho dân tộc trở nên cấp thiết. Nắm bắt tình hình cách mạng trong nước, tháng 12 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số cán bộ của Đảng gấp rút theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Quế Lâm về làng Nậm Quang, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây. Tại đây, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp huấn luyện 40 cán bộ từ trong nước sang để đưa về Cao Bằng xây dựng phong trào cách mạng.

Sau một thời gian chuẩn bị chu đáo, ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số cán bộ đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang ở Cao Bằng và lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số cán bộ của Đảng tổ chức huấn luyện, xây dựng phong trào cách mạng Cao Bằng làm thí điểm để chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác quân sự của Đảng và cử trực tiếp làm Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn.

Trên cương vị mới, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng các đồng chí lãnh đạo của Đảng đề ra chủ trương xây dựng khu căn cứ, củng cố và phát triển đội du kích Bắc Sơn để làm vốn quân sự cho Đảng.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, giữa tháng 7 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên và Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, củng cố khu căn cứ và đề ra phương hướng nhiệm vụ hoạt động thời gian tới. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Phùng Chí Kiên, Cứu quốc quân chuẩn bị tổ chức huấn luyện quân sự, chính trị, củng cố cơ sở, mở rộng con đường liên lạc quần chúng từ Bắc Sơn qua Võ Nhai về miền xuôi. Thế nhưng, chủ trương chưa kịp triển khai thực hiện, thì thực dân Pháp huy động 4.000 quân, gồm cả lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh cùng mật thám, cường hào, lính dõng mở cuộc tiến công từ Lạng Sơn xuống, từ Thái Nguyên lên và từ Bắc Giang sang, khép chặt vòng vây xung quanh khu căn cứ Bắc Sơn, hòng chặn đường đón bắt cán bộ lãnh đạo của Đảng, tiêu diệt Cứu quốc quân, dập tắt phong trào cách mạng ở Bắc Sơn.

Trước tình hình đó, các đồng chí Trung ương Đảng quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên ở lại cùng với đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 làm nòng cốt cùng đồng bào các dân tộc Bắc Sơn chống địch càn quét, khủng bố. Còn các đồng chí Trung ương bí mật rút khỏi vòng vây của địch từ Bắc Sơn xuống Võ Nhai rồi về miền xuôi, tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Thực hiện chỉ thị đó, đồng chí Phùng Chí Kiên triệu tập Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 quyết định cử một tổ Cứu quốc quân bảo vệ các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng rút khỏi căn cứ Bắc Sơn về miền xuôi. Còn đại bộ phận lực lượng Cứu quốc quân sẵn sàng chiến đấu, giữ vững phong trào cách mạng.

Trước cuộc tiến công dồn dập của quân địch vào khu căn cứ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy Cứu quốc quân chiến đấu rất anh dũng, gây cho địch một số thiệt hại, tiểu biểu là trận đánh tan một cuộc càn lớn của chúng vào Giá Huần (xã Vũ Lăng). Thế nhưng, kẻ địch liên tục càn quét, cơ quan bí mật của Cứu quốc quân luôn bị uy hiếp, có tuần phải chuyển địa điểm tới năm, sáu lần. Đứng trước tình thế nghiêm trọng, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng Ban chỉ huy quyết định để một tiểu đội Cứu quốc quân ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, giữ vững cơ sở cách mạng. Còn hai tiểu đội Cứu quốc quân rút khỏi khu căn cứ Bắc Sơn, tiến lên vùng biên giới phía Bắc, duy trì lực lượng. Theo đó, tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn chia làm hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất do hai đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy rút lên vùng biên giới Việt - Trung an toàn. Bộ phận thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy rút từ Khuổi Nọi (Bắc Sơn, Lạng Sơn) lên các châu Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Kạn) để lên căn cứ cách mạng Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng cứu quốc quân đến Pò Kép, xã Văn Học (Na Rì, Bắc Kạn) bị địch phục kích. Cứu quốc quân nhanh chóng đánh trả địch, gây cho chúng một số thiệt hại, rồi tiếp tục hành quân. Song tên đồn trưởng đồn Ngân Sơn huy động lực lượng chặn các ngả đường lên Cao Bằng. Cứu quốc quân đến làng Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn (Bắc Kạn), bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên bị thương nặng vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng để đồng đội thoát khỏi vòng vây của địch. Bị bắt, đồng chí giữ vững bản lĩnh người cộng sản trước đòn tra tấn dã man của địch. Cuối cùng, đồng chí bị địch sát hại.

*


*          *

Từ một thanh niên yêu nước sớm tham gia cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn ra nước ngoài đào tạo thành cán bộ quân sự và chính trị của Đảng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên tuy không dài, nhưng lại có nhiều đóng góp to lớn cho cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên là tấm gương lớn về một học trò xuất sắc của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Những đóng góp to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với cách mạng Việt Nam, trong đó cống hiến về quân sự đã để lại dấu ấn quan trọng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #64 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 09:59:00 pm »


 
ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN, BẬC TIỀN BỐI CÁCH MẠNG, NHÀ LÃNH ĐẠO QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

Đại tá LÊ LIÊN*


Đồng chí Phùng Chí Kiên, bậc tiền bối cách mạng, nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, đã anh dũng hy sinh khi mới tròn 40 xuân. Tuổi đời tuy ngắn ngủi, nhưng sự nghiệp cách mạng của đồng chí lại rất lớn lao.

Hơn 15 năm liên tục hoạt động cách mạng, kể từ khi rời quê hương vào cuối năm 1925 cho đến lúc hy sinh (8.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên thường xuyên bị mật thám Pháp theo dõi và luôn luôn ở trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng. Theo tài liệu của Sở Cảnh sát và sở Liêm phóng Trung Kỳ mà ta thu được, ngay từ khi rời ga Yên Lý (Nghệ An) sang Quảng Châu, mật thám Pháp đã ra sức truy tìm tung tích của đồng chí Phùng Chí Kiên qua tấm thẻ căn cước mang tên của người chú là Nguyễn Hào. Chúng bắt Tri phủ Diễn Châu phải tường trình rõ việc đó. Khi đồng chí bị bắt ở Mãn Châu, Chánh mật thám Trung Kỳ Sônhi lập tức thông báo cho hai viên chánh cẩm ở Vinh và Hà Tĩnh biết. Chúng theo dõi đồng chí cả khi đang học ở Trường Đại học Phương Đông, khi trở lại làm việc ở Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng ở Trung Quốc, về Bà Điểm (Gia Định) dự họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 8, tháng 9 năm 1937, tháng 3 năm 1938), được Đảng cử đi Băng Cốc (Thái Lan), cảnh sát Hương Cảng (Hồng Kông) lục soát nhà của đồng chí ở 71 phố Đại Nam, trục xuất về Sán Đầu... Bị truy lùng gắt gao, nhưng với tinh thần mưu trí, dũng cảm, kinh nghiệm phong phú của người hoạt động bí mật, đồng chí Phùng Chí Kiên đã nhiều lần thoát khỏi bàn tay của kẻ địch cho đến khi hy sinh như một người anh hùng ngay trên trận tuyến đối đầu trực tiếp với quân thù.

Tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, gây tiếng vang lớn trong cả nước, làm thực dân Pháp phải ra sức tìm cách đối phó. Cuối tháng 6 năm 1941, chúng mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng của ta nhằm bắt các đồng chí lãnh đạo Đảng, tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vũ trang cách mạng mới hình thành. Chúng huy động 4.000 quân với đủ các sắc lính cùng bọn cường hào phản động địa phương, tổ chức thành ba mũi tiến công khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Lân Áng, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Tràng Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Chúng bịt chặt đường ra lối vào. Đi tới đâu, chúng đốt làng bản, giết gia súc, phá vườn cây ăn quả. Chúng triệt hạ các bản lẻ như Khuôn Khét gồm 16 gia đình người Dao. Chúng thi hành chính sách "tát nước bắt cá" thâm độc, dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả, Nà Pheo, Làng Giữa, Đồng Án.

Không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở. Hàng trăm gia đình chạy vào rừng sâu, sống trong hang đá vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các đồng chí Trung ương qua Tràng Xá về xuôi. Còn toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán, bám dân, duy trì, bảo vệ cơ sở cách mạng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương, ở lại căn cứ cùng Đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với địch. Đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của địch, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, điển hình là trận chống càn ở Giá Huần (Vũ Lễ).

Cứu quốc quân tuy cố gắng nhiều nhưng do lực lượng quá mỏng, trang bị vũ khí thô sơ và thiếu thốn, lại phải di chuyển luôn, tiếp tế khó khăn, nên sức chiến đấu giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn địch, còn hai tiểu đội phá vòng vây của địch, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị địch phục kích, nhưng đơn vị phá vòng vây thoát được. Ngày 22 tháng 8, đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức. Bọn châu đoàn phản động ở đây huy động lính dõng khép kín vòng vây. Đồng chí Lương Văn Tri bị thương rồi hy sinh. Mặc dù bị thương nặng, đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng, đồng chí sa vào tay giặc. Bọn châu đoàn gian ác đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để hòng uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương và để lấy thưởng. Thực dân Pháp đã từng đặt giải cho ai lấy được đầu đồng chí Phùng Chí Kiên thì được thưởng 3 tạ muối. Hôm đó là ngày 22 tháng 8 năm 1941, năm đồng chí Phùng Chí Kiên tròn 40 tuổi. (Có tài liệu ghi ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên là 21 tháng 8 năm 1941, chúng tôi chưa có điều kiện để xác minh).

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, Đảng ta mất một bậc tiền bối cách mạng, một người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cán bộ quân sự xuất sắc được đào tạo tại Liên Xô, Trung Quốc, mất người trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai những ngày đầu chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Sau này có ý kiến nêu ra: việc Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn là đúng hay sai? Đảng ta đã khẳng định: trong tình thế lúc đó, việc rút khỏi Bắc Sơn là đúng. Tuy có tổn thất lớn nhưng xét toàn cục, ta đã bảo toàn được một bộ phận lực lượng, giữ vững tinh thần cách mạng cho nhân dân, rút ra được nhiều bài học bổ ích trong xây dựng lưc lượng vũ trang cách mạng và trong tác chiến.

Hai năm sau ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, báo Cờ giải phóng do đồng chí Trường Chinh, lúc đó là Tổng Bí thư của Đảng, phụ trách, trong số 2, ra ngày 26 tháng 8 năm 1943, đã đăng bài "Gương hy sinh, nhớ tiếc anh Phùng" của Sóng Biển. Bài viết có đoạn: "Anh Phùng hay anh Lý đã vĩnh biệt chúng ta đã hai năm rồi!... Sau cuộc Đại biểu đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Quảng Đông) năm 1935, anh được cử vào Thường vụ Trung ương. Cuộc Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5 năm 1941, cử anh về phụ trách chỉ huy vùng đặc biệt khu Bắc Sơn... Anh đi tiên phong, bị chết tại trận... Thế là một chiến sĩ tài ba, lỗi lạc đã bỏ mình nơi ngàn cây dặm cỏ... Cái chết của anh thật là một sự thiệt thòi cho Đảng. Nó còn gieo biết bao nỗi thương tiếc cho các đồng chí. Anh Phùng đã khuất. Nhưng tinh thần anh vẫn sống mãi với non sông, cây cỏ. Chúng ta càng nhớ đến anh càng phải nỗ lực chiến đấu để chóng hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Đảng mà anh đã hoàn toàn ký thác nơi chúng ta".

Ngày 23 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 89/SL truy phong hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là sắc lệnh có sớm nhất về việc phong hàm tướng cho người chỉ huy đầu tiên của các lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng.

Với ý thức tôn trọng, ghi danh bậc tiền bối cách mạng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sản kiên trung, người chỉ huy quân sự của Đảng - Phùng Chí Kiên - đã trở thành tên gọi của đơn vị, đường phố, trường học... ở nhiều địa phương.


*


*             *

Tháng 11 năm 2002, khi đi làm nhiệm vụ, qua huyện Diễn Châu, chúng tôi được các đồng chí trong Huyện ủy cho biết: "10 năm qua, gia đình và địa phương đã tích cực làm các thủ tục gửi lên cấp trên để đề nghị Nhà nước công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên là liệt sĩ mà vẫn chưa được. Vừa qua, được biết các đồng chí, qua Báo Quân đội nhân dân và Đài Truyền hình Việt Nam, đã can thiệp tích cực, giúp 32 chiến sĩ thanh niên xung phong hy sinh ở mỏm đá Hoàng Mai từ năm 1966 đã được công nhận là liệt sĩ. Chúng tôi nhờ các đồng chí giúp đỡ để đồng chí Phùng Chí Kiên cũng được công nhận là liệt sĩ".

Các đồng chí trong Huyện ủy huyện Diễn Châu dẫn chúng tôi về xã Diễn Yên, vào nhà một người cháu của đồng chí Phùng Chí Kiên, nơi có đặt một chỗ thờ đồng chí. Nhìn lên bàn thờ đặt trên cao, nho nhỏ, sơ sài, chỉ có tấm ảnh đồng chí Phùng Chí Kiên khi là học sinh Trường Quân sự Hoàng Phố được truyền thần lại cỡ 13x19cm, một tấm Huân chương Chiến công hạng ba, một bát nhang, chúng tôi không khỏi chạnh lòng.

Khi trở về Hà Nội, chúng tôi đã đến báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tình hình trên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể cho chúng tôi biết mối quan hệ thân thiết giữa đồng chí Phùng Chí Kiên và Đại tướng khi ở Trung Quốc và khi về nước. Đánh giá công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên, Đại tướng nói: "Đồng chí Phùng Chí Kiên là một nhà cách mạng có đức độ, một tài năng lớn về quân sự, một con người rất dũng cảm, mưu trí, luôn luôn hoạt bát, đánh giặc có nghề, đoàn kết với đồng chí. Đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo cách mạng tiền bối, có công với Đảng ta không chỉ ở tổ chức mà ở cả đường lối cách mạng".

Sau đó, bằng uy tín của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư cho các cơ quan chức năng đề nghị sớm công nhận liệt sĩ cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đại tướng Phạm Văn Trà cũng đã có chỉ thị tới các cơ quan giải quyết chính sách của quân đội. Đến tháng 11 năm 2003, đồng chí Phùng Chí Kiên được Nhà nước công nhận là liệt sĩ.

Sau khi đồng chí Phùng Chí Kiên được công nhận là liệt sĩ, với tấm lòng kính trọng nhà cách mạng tiền bối, nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục đề nghị Đảng, Nhà nước có hình thức khen thưởng xứng đáng, tổ chức hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên cùng một số kiến nghị khác nhằm tôn vinh xứng đáng công lao, thành tích của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Với sự quan tâm sâu sắc và những việc làm thiết thực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của những người quan tâm, quý trọng sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên và các cơ quan có thẩm quyền, những năm tháng hoạt động cách mạng và công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên với Đảng, nhân dân và quân đội ta ngày càng được làm rõ thêm, đầy đủ hơn.

Chúng ta tin tưởng rằng với những sự thật lịch sử đã được xác nhận, Đảng và Nhà nước sẽ đánh giá đúng đắn công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với Quân đội nhân dân Việt Nam để có sự ghi công xứng đáng. Công và danh của đồng chí Phùng Chí Kiên cần được ghi tạc đầy đủ vào lịch sử nước ta.
________________________________________________
* Trưởng phòng biên tập Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, báo Quân đội nhân dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #65 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 10:33:57 pm »


PHÙNG CHÍ KIÊN - CUỘC ĐỜI NGẮN, SỰ NGHIỆP LỚN

PGS.TS PHẠM XANH*

Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh năm 19011 trong một gia đình nông dân làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Học hết sơ học, gặp lúc gia đình khó khăn, anh phải thôi học. Năm 1925, anh đi làm thuê cho một gia đình thương nhân Hoa kiều giàu có ở ga Yên Lý, một ga xép trên tuyến đường sắt xuyên Việt. Tại đây, anh được Lê Hữu Lập, quê Thanh Hoá, sau khi học xong lớp huấn luyện chính trị Quảng Châu về nước hoạt động, giác ngộ. Anh tham gia tích cực vào tổ đọc sách báo tiến bộ và quyên góp tiền bạc cho nhóm xuất dương sang Quảng Châu. Nhà anh trở thành địa điểm lui tới của các bạn tâm giao, những người đồng chí. Tháng 10 năm 19262, anh cùng với một số người khác rời quê hương sang Quảng Châu học lớp huấn luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Mãn khóa huấn luyện, anh được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên trước mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái trong nghĩa trang Hoàng Hoa Cương ở Quảng Châu, và tiếp đó, anh được lựa chọn gửi sang học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Lúc nhập học, anh mang tên Mạnh Văn Liễu. Anh là học sinh khóa V cũng là khoá học cuối cùng của Trường. Trong hai năm học tập tại đây, anh được các giáo viên - cố vấn quân sự Liên Xô truyền thụ những bài học quân sự đầu tiên theo quan điểm mácxit. Ý thức được tầm quan trọng của môn học và sự cần thiết của những kiến thức quân sự nên anh đã cố gắng giành nhiều thời gian để nghiền ngẫm sách vở và trau dồi những kỹ năng thực hành trên thao trường. Một trong những giáo viên quân sự Liên Xô giảng dạy tại Trường lúc đó là A.I. Trêrêpanốp, đã nhận xét về học viên Việt Nam, trong đó có anh, như sau:

"Trong số những học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài"3.

Sau chính biến của Tưởng Giới Thạch, cánh hữu chiếm ưu thế trong Chính phủ Quảng Châu quay lại đàn áp Đảng Cộng sản Trung Quốc, phong trào cách mạng Trung Hoa, vì thế những nhà cách mạng Việt Nam cũng chịu nhiều hệ lụy. Ngày 30 tháng 12 năm 1928, ông bị bắt cùng với 12 người Việt Nam khác. Sau hơn 9 tháng ngồi tù ở Quảng Đông, họ đượr giải thoát và quay về Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau đó ông buộc phải gia nhập Trung Hoa Quốc dân Đảng. Năm 1929, theo chỉ thị của An Nam Cộng sản Đảng, ông bí mật rời Trường Quân sự Hoàng Phố. Tiếp đó, ông đi Hồng Kông để từ đây tìm đường trở lại Việt Nam hoặc tới các vùng Xô-viết Trung Hoa. Họ lại bị mật thám bắt giữ, nhưng lần này được giải thoát nhanh chóng. Không bao lâu những người cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đã bắt được liên lạc với họ. Cuối năm 1929, ông gia nhập Hồng quân Trung Quốc. Tháng 12 năm 1929, theo lời khuyên của những người cộng sản Trung Hoa, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thời kỳ đầu ông công tác trong Hồng quân Trung Quốc với tư cách là cố vấn của chỉ huy đại đội, ba tháng sau trở thành Đại đội trưởng và sáu tháng sau là Bí thư chi bộ, rồi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 của Quân đoàn 2 Tôncan (thời kỳ Lý Lập Tam), ông là một trong những người đi đầu trong cuộc đấu tranh chống lại đường lối của Lý Lập Tam trong trung đoàn. Sau đó ông trở thành Chính ủy tiểu đoàn và ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Trung đoàn. Trong những năm tháng phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc, ông đã chiến đấu 50 trận đánh lại quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa và đã hai lần bị thương nặng. Tháng 12 năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương gọi ông về Hồng Kông và tại đây ông được gặp Nguyễn Ái Quốc và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 1 năm 1931, theo sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, ông và hai người nữa là Đình Tân (Trần Văn Điềm) và An được gửi đi Mátxcơva học tập, nhưng trên đường tới Liên Xô cả ba người bị bắt tại Kharbin và ngồi tù gần một năm. Nhờ sự giúp đỡ của MOPR họ được tha và được đưa về Thượng Hải tháng 12 năm 1931. Họ làm việc ở đây một vài tháng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong binh lính và thủy thủ Đông Dương của Pháp. Tháng 4 năm 1932, ông và Đình Tân lần thứ hai băng qua miền Bắc Trung Quốc tới Liên Xô. Với bí danh là Kan, ông học tập tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản trong những năm 1933-1934. Được sự giúp đỡ tận tình của các giáo viên Liên Xô, đặc biệt là nữ đồng chí Vaxilieva, ủy viên Bộ phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đặc trách về Đông Dương, ông tranh thủ ngày đêm học tập lý luận Mác - Lênin, nghiên cứu kinh nghiệm tiến hành và bảo vệ chính quyền Xô-viết. Ngoài những vấn đề quan trọng trên, ông còn tiếp tục tìm hiểu vấn đề xây dựng quân đội theo hình mẫu Hồng quân Liên Xô mà ông đã từng được nghe giảng từ các chuyên gia cố vấn quân sự Xô-viết tại Trường Quân sự Hoàng Phố năm xưa. Những năm tháng sống và học tập tại Liên Xô là quãng thời gian quý báu giúp Phùng Chí Kiên hoàn thiện và nâng cao hiểu biết của mình về lý luận cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng quân đội. Tất cả những điều đó rất cần cho Phùng Chí Kiên trong tương lai khi có điều kiện về nước hoạt động.
_______________________________________________
* Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
1. A.A Xôcôlốp, Quốc tế Cộng Sản và Việt Nam (tiếng Nga). Mátxcơva, 1998, tr. 133, thì Nguyễn Vĩ sinh năm 1904.
2. Về ngày xuất dương của đồng chí Phùng Chí Kiên có ý kiến cho rằng năm 1924 anh xuất dương sang Xiêm. Hồi ký của Lê Thiết Hùng trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6 (6.1986), tr. 67.
3. A.I. Trêrêpanổp, Hồi ký, Phụ nữ Liên Xô (bản tiếng Nga), số 2, 1980, tr. 7.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #66 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 10:36:53 pm »


Phùng Chí Kiên tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông vào một thời kỳ đặc biệt. Ấy là lúc cách mạng Đông Dương đang trải qua những cơn sóng gió bởi sự đàn áp đẫm máu cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô-viết Nghệ Tĩnh của thực dân Pháp và tay sai. Toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa đầu bị bắt, Tổng Bí thư Trần Phú hy sinh, nhiều đảng viên bị bắn giết, nhiều tổ chức Đảng bị xoá sổ. Phong trào cách mạng và Đảng Cộng sản Đông Dương đang gặp muôn vàn khó khăn, tưởng chừng không vượt qua nổi. Trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản đã đề ra những chủ trương, đường lối với những bước đi thích hợp nhằm nhanh chóng tổ chức lại Đảng Cộng sản Đông Dương và khôi phục phong trào cách mạng ở khu vực này. Cùng với việc phát động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chiến dịch chống khủng bố trắng và đòi ân xá chính trị phạm ỏ Đông Dương, Quốc tế Cộng sản đã gấp rút cử những học viên vừa tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông về nước hoạt động và đặc biệt lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Thượng Hải thay cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong nước đã bị thực dân Pháp đàn áp, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Trong bối cảnh đó, năm 1934, sau khi kết thúc khóa học ở Mátxcơva, ông được Quốc tế Cộng sản điều về Thượng Hải bổ sung cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương đã được Lê Hồng Phong thành lập trước đó ít lâu. Ngày 14 tháng 6 năm 1934, Phùng Chí Kiên, với bí danh là Lý, tham gia Hội nghị của Ban lãnh đạo hải ngoại và các đại biểu từ trong nước ra để kiểm điểm việc thực hiện Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1932. Sau đó, đồng chí cùng với Ban Chỉ huy ở ngoài xúc tiến công tác chuẩn bị cho việc triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng. Ban Chỉ huy ở ngoài báo cáo với Quốc tế Cộng sản về chủ trương triệu tập Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 3 năm 1935 và xin ý kiến chỉ đạo xây dựng các văn kiện trình Đại hội. Do không nhận được sự trả lời của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài tiến hành xây dựng các văn kiện Đại hội I dựa trên tư tưởng chỉ đạo của các nghị quyết của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản và các chỉ thị của các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Quốc tế Cộng sản sau đó. Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 27 đến 31 tháng 3 năm 1935 tại một địa điểm trên phố Quan Công (Ma Cao, Trung Quốc), với sự hiện diện của 10 đại biểu1, trong đó có Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên, đại biểu của Ban Chỉ huy ở ngoài. Đại hội đã thảo luận và thông qua hai nghị quyết quan trọng: Về công tác đã qua của Ban Chỉ huy ở ngoài kiêm Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương và Về hệ thống tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm 13 người (9 chính thức và 4 dự bị), trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, đặc trách bộ phận công tác đảng ở nước ngoài. Đại hội 1 của Đảng Cộng sản Đông Dương thành công đánh dấu sự khôi phục hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam, chuẩn bị điều kiện cho bước phát triển mới ở thời kỳ tiếp theo.

Sau Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong về Thượng Hải, Trung Quốc. Tại đây, ngày 26 tháng 7 năm 1936, đồng chí cùng với Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên tổ chức hội nghị quán triệt và vận dụng chủ trương của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản vào tình hình thực tế Đông Dương. Sau khi thảo luận, quyết định phương hướng và biện pháp lãnh đạo phong trào cách mạng theo tinh thần chỉ đạo của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, hội nghị đã bàn về công tác xây dựng tổ chức Đảng trong tình hình mới. Hội nghị chủ trương không thay đổi thường xuyên các đồng chí có trách nhiệm trong các cơ quan cao cấp để giữ bí mật và tránh gây hậu quả không tốt cho công tác, bổ sung những điểm mới vào Điều lệ hiện hành.

Sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử năm 1936, Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp được thành lập và đã ban bố một số chính sách có lợi cho các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Tình hình thế giới và trong nước thay đổi có lợi cho cách mạng. Trước tình hình đó, tháng 8 năm 1936, đồng chí Phùng Chí Kiên về nước hoạt động cùng với đồng chí Hà Huy Tập, chỉ đạo phong trào cách mạng theo tinh thần nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 26 tháng 7 năm 1936 nhằm đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Từ ngày 25 tháng 8 đến ngày 4 tháng 9 năm 1937, đồng chí Phùng Chí Kiên tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị đã đặt công tác xây dựng Đảng là công tác quan trọng hàng đầu trong các công tác cần kíp của Đảng. Hội nghị yêu cầu Đảng bộ các cấp đấu tranh chống lại các xu hướng sai lầm "biệt phái cô độc, hữu khuynh thoả hiệp" trong hàng ngũ Đảng2. Hội nghị củng cố Ban Chấp hành Trung ương gồm 11 đồng chí, trong đó có Phùng Chí Kiên. Cuối năm 1937, với thẻ căn cước mang tên Phùng Nguôn Bình, đồng chí rời Sài Gòn trở lại Hương Cảng hoạt động theo sự phân công của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong đã về nước ngày 10 tháng 11 năm 1937. Tại hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, tháng 3 năm 1938 họp ở Tân Thới Nhất, Hóc Môn, Gia Định, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu lại là Ủy viên Trung ương Đảng.

Sau khi đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động, Ban Chỉ huy ở ngoài do Phùng Chí Kiên phụ trách. Gặp khó khăn về nhân sự và tài chính, hơn nữa việc đưa đón cán bộ sang Liên Xô học tập không còn vì các trường Đại học của Quốc tế Cộng sản đã đóng cửa, nên Ban Chỉ huy ở ngoài tồn tại "cốt để duy trì đường giao thông ở ngoại quốc"3. Ban Chỉ huy ở ngoài vẫn đóng trụ sở tại ngôi nhà số 71 phố Đại Nam, Hồng Kông, giữ liên lạc thường xuyên với chi bộ Vân Quý do đồng chí Vũ Anh làm Bí thư. Ngày 25 tháng 10 năm 1937, cảnh sát Anh bắt đồng chí tại trụ sở của Ban Chỉ huy ở ngoài4. Không có bằng cớ xác đáng để buộc tội, hai tháng sau, cảnh sát Anh trả lại tự do cho đồng chí cùng với lệnh trục xuất khỏi thành phố.
____________________________________________
1. Theo Báo cáo của Ban Chỉ huy ở ngoài gửi Quốc tế Cộng sản, tham dự Đại hội có 13 đại biểu, song trên thực tế vì 2 đại biểu Bắc Kỳ đến muộn và 1 đại biểu của Liên địa phương Chấp ủy miền Nam Đông Dương không được tham dự nên chỉ có 10 đại biểu là Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên (đại biểu của Ban Chỉ huy ở ngoài), Võ Văn Ngân, Nguyễn Chánh Nhì (đại biểu của Liên địa phương Chấp ủy miền Nam Đông Dương), Phạm Văn Xô (đại biểu của Đảng bộ Ai Lao), Ngô Tuân, Võ Nguyên Hiến (đại biểu của Bắc Trung Kỳ), Trần Văn Chấn, 1 người Xiêm, 1 người Hoa kiều (đại diện của Đảng Cộng sản Xiêm).
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 293.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 384.
4. Le Contrôleur Général de la Sureté Debord (le 26 Novembre 1938), Note confidentielle N- 5701 /SG, Hanoi. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #67 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 10:38:00 pm »


Năm 1939 Phùng Chí Kiên tới Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, bắt liên lạc với chi bộ Vân Quý. Phùng Chí Kiên lập ra Hải ngoại chỉ huy ban gồm 3 đồng chí do đích thân đồng chí làm Thư ký (Bí thư). Tại đây, đồng chí cùng với Trịnh Đông Hải, tức Vũ Anh xuất bản tờ báo Truyền tin, sau đổi thành Đồng Thanh làm cơ quan tuyên truyền của Việt Nam dân chúng hưởng ứng Trung Hoa kháng địch hậu viện Hội. Hải ngoại chỉ huy ban và chi bộ Vân Quý là cơ sở để đồng chí Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc và xúc tiến chuẩn bị điều kiện về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.

Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tới Côn Minh. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã báo cáo với Người tình hình và hoạt động cách mạng của người Việt tại Hoa Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tờ báo Đồng Thanh được đổi thành tờ Đ.T nhằm hàm chứa một ý nghĩa rộng hơn như Đồng Tâm, Đấu Tranh, Đánh Tây... tuỳ theo cách hiểu của từng người và từng thời điểm cụ thể. Đồng chí đã trực tiếp đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến công tác nhiều nơi thuộc tỉnh Vân Nam. Chuyến đi này là sự chuẩn bị cơ sở vững chắc cho chuyến công tác lần thứ hai tới Côn Minh đầu năm 1942 của Hồ Chí Minh trong sự nỗ lực tiếp xúc với phái bộ Đồng Minh, đặc biệt là với các phái bộ Hoa Kỳ.

Tháng 6 năm 1940, Chính phủ Pêtanh (Pháp) đầu hàng phát xít Đức. Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Việt Nam. Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Đô Lương lần lượt bùng nổ. Tình hình thế giới và trong nước biến chuyển có lợi cho phong trào cách mạng. Cơ hội về nước hoạt động bấy lâu nay chờ đợi đã xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc cùng với các môn đệ của mình tích cực xúc tiến cho kế hoạch "đột nội". Trong những ngày đó, đồng chí Phùng Chí Kiên theo sát lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, xích dần tới Tĩnh Tây, một thị trấn nhỏ vùng biên, nơi có nhiều Việt kiều sinh sống. Tại đây, đồng chí đã lựa chọn và tập hợp hơn 40 thanh niên yêu nước từ trong nước mới sang để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán đưa về Cao Bằng hoạt động, chuẩn bị tốt cơ sở cho sự đột nội của Người sau đó không lâu.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt cột mốc số 108 trên biên giới Việt - Trung về Pắc Bó thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, dưới sự chủ toạ của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương nhóm họp tại lán Khuổi Nậm, Pắc Bó. Hội nghị đánh dấu sự hoàn thiện về chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng. Tại hội nghị này, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư và đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Trung đội Cứu quốc quân 1. Cương vị quan trọng mà Trung ương Đảng trao cho đồng chí đã xác nhận năng lực của đồng chí trong công tác mũi nhọn của toàn Đảng, toàn dân lúc đó, đồng thời cũng xác nhận niềm tin và hy vọng đặt vào đồng chí trong lĩnh vực hoạt động này.

Với lực lượng sẵn có cùng với lực lượng Trung ương Đảng vừa tăng cường, Đội du kích Bắc Sơn được vinh dự đổi tên thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Lúc đổi tên, Cứu quốc quân Bắc Sơn có 37 người, 15 súng trường và súng kíp, được biên chế thành 3 tiểu đội do đồng chí Phùng Chí Kiên làm chỉ huy trưởng và đồng chí Lương Văn Tri, tức Huy còm, làm chỉ huy phó. Toàn đơn vị đã được đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, sau Hội nghị Trung ương 8 về qua đây, phổ biến và quán triệt đường lối và chính sách mới của Đảng trong Nghị quyết 8. Đây là đợt sinh hoạt chính trị đầu tiên của đội quân cách mạng trước khi bước vào những trận chiến đấu mới.

Cuối tháng 6 năm 1941, được bọn phản bội cách mạng báo tin, thực dân Pháp đã huy động 4.000 quân gồm lính Pháp, lính Lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh và lính dõng địa phương từ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Kạn ồ ạt tiến công khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai với dã tâm thâm độc là truy bắt các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng dự Hội nghị Trung ương 8 về qua đây, tiêu diệt Đội Cứu quốc quân và dập tắt phong trào cách mạng ở vùng này. Trước tình hình đó, trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi thuộc xã Vũ Lễ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân Bắc Sơn đã quyết định cử một tổ Cứu quốc quân bảo vệ và đưa đường cho các đồng chí Trung ương về xuôi1, đại bộ phận còn lại do hai đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chỉ huy, tích cực chiến đấu giữ vững phong trào cách mạng.

Dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên, Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn đã chiến đấu anh dũng, đánh tan một số trận càn quét lớn của địch, giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân Bắc Sơn, điển hình là trận chống càn Giá Huần (Vũ Lễ). Vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch nên đội Cứu quốc quân phải thường xuyên di chuyển lực lượng, do vậy sức lực cũng giảm dần. Trong khi đó, địch tăng cường sức ép, một số cơ sở quần chúng bị lộ vỡ, khu căn cứ bị thu hẹp dần. Trước tình hình mất còn đó, Ban chỉ huy Cứu quốc quân Bắc Sơn buộc phải chọn một giải pháp thích hợp nhất - cho một tiểu đội ở lại chặn địch, còn hai tiểu đội rút khỏi Bắc Sơn tiến lên căn cứ địa Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Tháng 8 năm 1941, cuộc rút lui chiến lược khỏi Bắc Sơn bắt đầu. Lực lượng được chia thành hai cánh, rút theo hai hướng khác nhau tiến về Cao Bằng. Cánh quân thứ nhất do Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy, rút theo hướng Bắc Sơn - Bình Gia - Thất Khê vòng sang đất Trung Quốc rồi quay trở lại Cao Bằng. Cánh quân thứ hai do Phùng Chí Kiên trực tiếp chỉ huy rút theo hướng Bắc Sơn - Ngân Sơn - Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân Phùng Chí Kiên đến Pò Kép, châu Na Rì thì bị địch phục kích. Các chiến sĩ Cứu quốc quân nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu, vừa ngoan cường đánh trả, vừa tiếp tục tiến quân theo hướng đã định. Được cấp báo, đồn trưởng đồn Ngân Sơn liền huy động lực lượng truy kích và khoá chặn tất cả các ngã đường lên Cao Bằng. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, đơn vị đến Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn thì rơi vào ổ phục kịch của địch. Bị đánh bất ngờ nên đơn vị bị tổn thất nặng nề. Chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh. Năm đó, đồng chí mới 40 tuổi, độ tuổi còn sung sức, còn cống hiến nhiều cho cách mạng, cho dân tộc. Các đồng chí của ông đã tiếp tục sự nghiệp của ông còn dang dở. Tháng 9 năm 1941, Trung đội Cứu quốc quân 2 ra đời. Tháng 2 năm 1944, Trung đội Cứu quốc quân 3 thành lập. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ra đời. Sau đó, chấp hành Nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, các lực lượng vũ trang của Đảng được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Đội quân ấy đã đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đồng chí Phùng Chí Kiên, cuộc đời ngắn, nhưng thực sự đã có một sự nghiệp rất lớn lao. Với những công lao to lớn đó, năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên.
_______________________________________________
1. Đến đầu tháng 8 năm 1941, tổ công tác này đã hoàn thành nhiệm vụ được giao: Các đồng chí trung ương được các chiến sĩ bảo vệ và đưa đường về Tràng Xá, Võ Nhai, Thái Nguyên rồi từ đây đi tiếp về xuôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #68 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 01:16:04 pm »


PHÙNG CHÍ KIÊN - VỊ "KHAI QUỐC CÔNG THẦN”
CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Trung tá, ThS HOÀNG THỊ THẢO
Đại úy, ThS LÊ QUÝ THI*

Trong lịch sử cách mạng oanh liệt và vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, đồng chí Phùng Chí Kiên thuộc lớp chiến sĩ cách mạng tiền bối, lớp đảng viên đầu tiên, người học trò tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những vị "khai quốc công thần" của Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Sinh ra và lớn lên tại Diễn Châu, Nghệ An - mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, người thanh niên giàu nhiệt huyết Phùng Chí Kiên sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, đã đấu tranh trên con đường cứu nước, cứu dân. Phùng Chí Kiên, như bao chiến sĩ cách mạng khác, đã ngã xuống, hy sinh vì cách mạng, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc ở độ tuổi 40 còn tràn đầy nhiệt huyết tranh đấu. Lịch sử cách mạng ghi nhận những cống hiến của Phùng Chí Kiên như một tấm gương xả thân vì cách mạng và khí phách hiên ngang, anh dũng trước quân thù.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Phùng Chí Kiên là một trò say mê đọc sách báo, nhất là loại sách tố cáo bộ mặt thật của xã hội thực dân đương thời. Năm 1925, Phùng Chí Kiên học xong Sơ học yếu lược. Vì gia cảnh khó khăn, ông phải thôi học và đi làm thuê cho một thương gia Hoa kiều ở ga Yên Lý. Với tất cả lòng hăng say của tuổi trẻ, tại đây, Phùng Chí Kiên được Lê Hữu Lập giác ngộ cách mạng, ông tham gia phong trào quyên góp tiền bạc cho nhóm xuất dương đầu tiên sang Quảng Châu. Từ đó, nhà ông thường là nơi hội họp bí mật của một số thanh niên yêu nước. Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên cùng một số đồng chí khác sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.

Là một thanh niên nhanh nhạy, có năng khiếu quân sự và kỹ thuật, Phùng Chí Kiên cùng với các đồng chí khác như Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Vân Lĩnh... được Nguyễn Ái Quốc chọn gửi vào học tại Trường Quân sụ Hoàng Phố. Tại đây, đồng chí mang bí danh là Mạnh Văn Liễu. Tháng 8 năm 1927, Trường bị đóng cửa do Tưởng Giới Thạch làm đảo chính, những học viên Việt Nam theo học tại trường đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại những hành động quân phiệt phản cách mạng đó. Tháng 12 năm 1927, Phùng Chí Kiên gia nhập quân cách mạng và tham gia cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Phùng Chí Kiên cùng với quân cách mạng Trung Quốc về xây dựng khu Xô-viết ở Hải Phong và Lục Phong. Trên đất bạn, với cương vị là Đại đội trưởng, ông đã rèn luyện và chiến đấu đánh chặn nhiều cuộc tiến công của lực lượng phản cách mạng bảo vệ khu Hải - Lục Phong.

Tháng 2 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc cử Phùng Chí Kiên sang học Trường Đại học Phương Đông, nhưng trên đường đi, ông bị bắt và giam cầm gần một năm. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục cuộc hành trình sang Liên Xô học tập. Năm 1934, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, Phùng Chí Kiên được Quốc tế Cộng sản phái về hoạt động tại Trung Quốc để tăng cường cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 6 năm 1934, Phùng Chí Kiên tham gia Hội nghị của Ban Chỉ huy ở ngoài. Hội nghị nhấn mạnh, nhiệm vụ cấp bách lúc đó của cách mạng Việt Nam là nhanh chóng khôi phục sức chiến đấu của Đảng. Sau đó, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng Hà Huy Tập và các đồng chí khác đã tiến hành dự thảo các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Tháng 3 năm 1935, Đại hội họp ở Ma Cao (Trung Quốc), đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, phụ trách công tác Đảng ở hải ngoại.

Đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Trung Quốc) bắt liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng. Tháng 6 năm 1940, ở chính quốc, Pháp thua Đức, Nguyễn Ái Quốc nhận định đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng nước ta và Người quyết định chuẩn bị về nước. Tháng 12 năm 1940, sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo kết quả các Hội nghị tháng 11 năm 1939 và tháng 11 năm 1940 của Trung ương và tình hình cách mạng trong nước, Người chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Thụ về nước cùng Ban Chấp hành Trung ương lâm thời chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

Ở trong nước lúc này, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương tuy thất bại nhưng đã gây tiếng vang lớn, báo hiệu một khí thế mới cho phong trào cách mạng Việt Nam. Tại Quảng Tây, đồng chí Phùng Chí Kiên dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp được hơn 40 thanh niên yêu nước, đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán đưa về Cao Bằng xây dựng căn cứ và phong trào cách mạng. Qua tìm hiểu, Người đánh giá cao vị trí Cao Bằng. Người nói: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào cách mạng tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ"1. Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề phải xây dựng căn cứ địa cách mạng làm điểm tựa ban đầu để xây dựng lực lượng và làm bàn đạp cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trung ương Đảng cũng chủ trương xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Do yêu cầu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta sẽ được kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa vũ trang, nên hai khu căn cứ địa ra đời là một đòi hỏi tất yếu.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới về Cao Bằng hoạt động. Tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên được phân công phụ trách huấn luyện chính trị cho cán bộ địa phương. Đây là lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh đầu tiên của nước ta. Sau khoá huấn luyện, các cán bộ toả đi khắp các huyện Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình, tiến hành xây dựng cơ sở cách mạng. Đó là những cơ sở đầu tiên của căn cứ địa Cao Bằng để sau này mở rộng khắp địa bàn trong và ngoài tỉnh.
________________________________________________
* Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1. Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr.34.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12131



« Trả lời #69 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 01:16:41 pm »


Trước bối cảnh của tình hình thễ giới và trong nước có lợi cho cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) tại Cao Bằng. Hội nghị đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, nêu cao nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, đồng thời, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, nhằm đoàn kết tất cả giai cấp, tầng lớp dân tộc thành một lực lượng chính trị to lớn. Mục tiêu cơ bản nhất lúc này là giành độc lập dân tộc. Hội nghị nhấn mạnh phải dùng khởi nghĩa vũ trang, muốn vậy phải coi việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ta lúc bấy giờ. Hội nghị còn lường định, trước khi nổ ra khởi nghĩa đồng loạt, nếu có điều kiện, có thể lãnh đạo khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi để mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn hơn để giành thắng lợi hoàn toàn.

Để chuẩn bị lực lượng, bên cạnh việc xây dựng Mặt trận Việt Minh là lực lượng chính trị to lớn, cơ bản, Hội nghị còn quyết định xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Sau Hội nghị, Trung ương bổ sung cho căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai nhiều cán bộ chính trị, quân sự, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở các địa phương, trọng tâm là Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng, được đẩy mạnh. Tại căn cứ Bắc Sơn, mặc dù bị địch khủng bố, đàn áp gắt gao, Đội Cứu quốc quân dựa vào dân, được nhân dân ủng hộ giúp đỡ, vẫn tích cực luyện tập quân sự, chính trị, củng cố khu căn cứ về mọi mặt. Đội đã làm nhiệm vụ đưa, đón và bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ trung ương trên đường trở về xuôi sau khi tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 qua khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.

Tháng 6 năm 1941, đoàn cán bộ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và một số cán bộ tăng cường cho Bắc Sơn - Võ Nhai, từ Pắc Bó trở về Bắc Sơn. Ngày 6 tháng 7 năm 1941, đoàn về đến xã Quỳnh Sơn (Bắc Sơn, Lạng Sơn) thì gặp địch chặn đường. Với tinh thần cảnh giác, được tổ du kích Bắc Sơn bảo vệ và nhân dân giúp đỡ, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và số cán bộ tăng cường cho Bắc Sơn đã bí mật chuyển vào Lũng Pán an toàn. Sau vài ngày, các đồng chí chuyển vào Lân Táy, thuộc xã Hữu Vĩnh, nơi cơ quan bí mật đã được Ban chỉ huy Đội Cứu quốc quân xây dựng từ trước. Ở Lân Táy, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã gặp gỡ Ban chỉ huy đội Cứu quốc quân, nắm tình hình và truyền đạt chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 về việc củng cố, chấn chỉnh đội du kích và xây dựng khu căn cứ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Đây là lần học tập đầu tiên về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng của ta.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang, đồng thời phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới, Đội du kích Bắc Sơn đã được đổi tên thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Đây là Trung đội cứu quốc quân 1 do đồng chí Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng, Lương Văn Tri - Chính trị viên, Chu Văn Tấn - Chỉ huy phó. Ban Chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Một số cán bộ quân sự, chính trị do Đảng đào tạo, cùng vũ khí, đã được bổ sung cho đơn vị. Toàn Trung đội có 37 người, được biên chế thành 3 tiểu đội do các đồng chí Dương Thần Tân, Hoàng Đình Ruệ, Hà Khai Lạc làm Tiểu đội trưởng, vũ khí có 15 súng trường và súng kíp, còn lại là dao găm, giáo mác... Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, phổ biến những quyết nghị, chủ trương chính sách của Đảng và chương trình hành động của Việt Minh. Đồng chí Phùng Chí Kiên, truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự, nhất là về chiến thuật du kích cho toàn thể cán bộ tham dự, để khi trở về địa phương họ tiếp tục phổ biến cho tự vệ và quần chúng cách mạng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Bắc Sơn, thực dân Pháp tăng cường lực lượng tay sai phản động người địa phương theo dõi, nắm tình hình phong trào cách mạng, cũng như các hoạt động của Cứu quốc quân, hòng đàn áp, khủng bố.

Dự kiến sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ 8, các đồng chí Trung ương và đại biểu địa phương dự hội nghị về xuôi, nên ngay từ tháng 6 năm 1941, sở mật thám Bắc Kỳ đã lập một chi nhánh mật thám ở Đình Cả (Thái Nguyên) nhằm chặn đường đón bắt các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng, đồng thời chỉ thị cho công sứ Pháp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc Giang tăng cường lực lượng mật thám, cùng phối hợp, hòng dập tắt phong trào cách mạng của ta, nhưng âm mưu đó không thành.

Tháng 7 năm 1941, sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, thực dân Pháp huy động 4.000 quân mở cuộc tiến công càn quét vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Địch tập trung lực lượng tiến từ Lạng Sơn xuống, từ Thái Nguyên lên và từ Bắc Giang sang khép chặt vòng vây ở hai huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Từ phía Lạng Sơn, lực lượng lính khố xanh mở các cuộc càn quét, triệt hạ một số làng bản ở các xã Vũ Lăng, Tân Lập. Từ phía Thái Nguyên, một trung đội lính khố xanh do Boócđiê, Đồn trưởng đồn Đình Cả chỉ huy, mở cuộc càn quét vào các làng Khuôn Khát, Bản Ít, cửa ngõ của Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 ở Khuổi Nọi. Sáng ngày 21 tháng 7, các đồng chí Trung ương và lực lượng Cứu quốc quân 1, được đồng chí Hoàng Doãn Tàng, quần chúng cách mạng dẫn đường rút khỏi Lân Táy đến Sa Khao (xã Vũ Lăng) rồi đến Khuổi Nọi, nơi đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy một tổ Cứu quốc quân đang hoạt động bảo vệ căn cứ.

Trước tình hình địch truy lùng ráo riết, các đồng chí Trung ương quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 làm nòng cốt cùng đồng bào Bắc Sơn chống địch càn quét khủng bố, còn các đồng chí Trung ương rút khỏi vòng vây của địch về khu an toàn.

Trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch vào khu căn cứ, các chiến sĩ Cứu quốc quân đã chiến đấu anh dũng, gây cho địch một số thiệt hại. Ở trận Giá Huấn (Vũ Lễ), Cứu quốc quân đã đẩy lui cuộc càn lớn của địch vào vùng này. Nhưng kẻ địch liên tục càn quét. Đứng trước tình thế nghiêm trọng đó, Ban chỉ huy Cứu quốc quân 1 chủ trương rút hai tiểu đội ra khỏi Bắc Sơn lên vùng biên giới phía Bắc duy trì lực lượng, xây dựng căn cứ, còn một tiểu đội bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, duy trì căn cứ cách mạng.

Thực hiện chủ trương đó, tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn chia làm hai cánh phá vòng vây của địch, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Cánh thứ nhất gồm các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đặng Văn Cáp, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, Hoàng Như Ý do đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy. Ngày 10 tháng 8 năm 1941, cánh thứ hai gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Hà Khai Lạc, Bế Sơn Cương... do đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri chỉ huy, rút khỏi Khuổi Nọi lên Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Kạn) để lên căn cứ địa cách mạng Cao Bằng.

Ngày 19 tháng 8, khi cánh quân đến Pò Kép thuộc châu Na Rì thì bị địch phục kích. Các chiến sĩ Cứu quốc quân đã nhanh chóng đánh trả địch, diệt một tên, bắn bị thương tên chánh thượng rồi tiếp tục hành quân. Nhưng quân địch ở đồn Ngân Sơn đã huy động lực lượng truy kích chặn các ngả đường lên Cao Bằng. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi đến làng Khau Pàn, châu Ngân Sơn, Cứu quốc quân bị địch phục kích và tổn thất nặng. Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh; đồng chí Lương Văn Tri bị thương nặng, bị bắt và mất trong nhà tù ngày 20 tháng 9 năm 1941 ở Cao Bằng. Đây là một tổn thất lớn đối với ta. Song, quân thù không thể dập tắt được ý chí chiến đấu của Cứu quốc quân và phong trào cách mạng của nhân dân ta. Cán bộ, chiến sĩ Trung đội Cứu quốc quân 1 đã nêu tấm gương vượt mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, không khuất phục trước kẻ thù. Nhận được tin này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Ban Chấp hành Trung ương Đảng vô cùng thương tiếc và đau xót. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã truy phong quân hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên.

Bốn mươi tuổi đời, độ tuổi giàu sức sống, đầy nhiệt huyết đấu tranh của đời người, Phùng Chí Kiên là một trong những đồng chí lớp đầu gia nhập Đảng Cộng sản; một trong những vị "khai quốc công thần" của quân đội ta, đã góp phần viết nên những trang sử chói ngời trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc. Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng sôi động, giàu óc sáng tạo, đầy tinh thần tiến công, đầy tinh thần nhân ái cách mạng với đồng chí, đồng bào của đồng chí Phùng Chí Kiên đã, đang sẽ mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho tất cả chúng ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM