Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2022, 02:38:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn  (Đọc 1891 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #20 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 09:03:11 am »


Tháng 6 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí được giao nhiệm vụ chỉ đạo và tăng cương cho Đội du kích Bắc Sơn. Đồng chí cùng một số đồng chí cán bộ của Đảng từ Cao Bằng trở về Lũng Páy, Lân Táy, Bắc Sơn, khu vực đóng quân của Đội du kích Bắc Sơn.

Tại đây, cán bộ, chiến sĩ Đội du kích Bắc Sơn được nghe đồng chí Trường Chinh phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Để đáp ứng với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đội du kích Bắc Sơn đổi tên là Đội cứu quốc quân 1. Đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách quân sự được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ làm chỉ huy phó. Toàn đội có 37 người, được biên chế thành 3 tiểu đội, vũ khí có 15 súng trường, súng kíp còn lại là dao găm, mã tấu1.

Với cương vị Chỉ huy trưởng Đội cứu quốc quân 1, đồng chí Phùng Chí Kiên đã đem những kiến thức quân sự được học tập tại Trung Quốc và Liên Xô truyền đạt cho toàn đội và tự vệ, hội viên cứu quốc các tổ chức quần chúng ở châu Bắc Sơn. Những kiến thức đó được các bộ, chiến sĩ tham dự truyền đạt, phổ biến rộng rãi cho tự vệ và quần chúng cách mạng châu Bắc Sơn, góp phần làm cho phong trào cách mạng ngày càng phát triển rộng thêm.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Bắc Sơn, thực dân Pháp tăng cường lực lượng mật thám và bọn tay sai phản động theo dõi hòng đàn áp khủng bố phong trào cách mạng. Bọn địch dùng mọi thủ đoạn đối với nhân dân, chúng hết đe dọa, bắt đóng sưu cao thuế nặng, quay sang dụ dỗ, mua chuộc, lập đồn bốt dày đặc, thực hiện chính sách đốt sạch, phá sạch. Chúng còn mở những cuộc tiến công càn quét lớn, có cuộc lên tới 4.000 quân gồm cả lính Pháp, lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh, mật thám vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Bọn địch triệt hạ một số làng bản, khủng bố, bắn giết các gia đình cơ sở cách mạng và nhân dân, cướp bóc gia súc, phá hoại ruộng nương, dựng trại tập trung nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta hòng "tát nước bắt cá". Nhưng nhân dân Bắc Sơn đã không nao núng trước kẻ thù, vẫn bí mật nhường cơm sẻ áo, tiếp tế lương thực, thực phẩm nuôi giấu bảo vệ cán bộ của Đảng, ủng hộ Cứu quốc quân chống địch khủng bố, duy trì lực lượng và giữ vững phong trào cách mạng.

Trước tình hình địch truy lùng ráo riết, Trung ương Đảng quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri ở lại đấu tranh chống địch càn quét, khủng bố, giữ vững phong trào, các đồng chí Trung ương khác rút khỏi vòng vây của địch từ Bắc Sơn xuống Võ Nhai để đến vùng an toàn. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã họp ban chỉ huy, cử một tổ cứu quốc quân đi bảo vệ các đồng chí Trung ương, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chống địch khủng bố, càn quét và bảo vệ căn cứ.

Ngày 25 tháng 7 năm 1941, địch huy động lực lượng lớn, có sĩ quan Pháp chỉ huy, chia thành 4 hướng tiến công vào Mỏ Pia để lùng bắt các đồng chí Trung ương và Ban chỉ huy Đội cứu quốc quân trước đó đóng tại đây. Khi địch tiến công vào thì các đồng chí Trung ương đã sớm rút khỏi Lán Táy đến Khuổi Nọi. Bọn địch điên cuồng đàn áp nhân dân trong vùng, nhiều nhà cửa của đồng bào bị đốt phá, nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ.

Trước những cuộc tiến công dồn dập của quân địch, dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri, Đội Cứu quốc quân đã chiến đấu anh dũng, gây cho địch nhiều thiệt hai như trận Giá Huần xã Vũ Lễ. Thế nhưng kẻ thù liên tục càn quét, khủng bố, lực lượng so sánh giữa ta và địch chênh lệch, một số cơ sở của ta bị vỡ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân chủ trương rút hai tiểu đội ra khỏi Bắc Sơn tiến lên vùng biên giới phía Bắc, duy trì lực lượng, xây dựng căn cứ. Còn một tiểu đội bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, giữ vững cơ sở cách mạng. Thực hiện chủ trương đó, tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân chia làm hai cánh rút khỏi Bắc Sơn. Cánh thứ nhất gồm các đồng Hoàng Văn Thái, Đặng Văn Cáp, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, Hoàng Như Ý... do đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy. Cánh thứ hai gồm đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Hà Khai Lạc, Bế Sơn Cương do đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chỉ huy.

Ngày 10 tháng 8 năm 1941, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên rút khỏi Khuổi Nọi qua các xã Bắc Sơn, Hữu Vĩnh, Vĩnh Đống, châu Bắc Sơn rồi đến châu Na Rì, Ngân Sơn - Bắc Kạn để lên Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân đến Pò Kép xã Văn Học, châu Na Rì thì bị phục kích. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên các chiến sĩ cứu quốc quân đã chiến đấu đánh trả quyết liệt mở đường tiến. Nhưng con đường lên Cao Bằng đã bị bọn địch vây chặt, ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên đến làng Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn Bắc Kạn bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bắn chặn địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Đồng chí bị thương và bị địch bắt. Không thể lay chuyển được người cộng sản, người chỉ huy kiên cường của Đội cứu quốc quân, bọn địch tra tấn, hành hạ và chặt đầu đồng chí bêu ở cầu Ngân Sơn, ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Năm tháng qua đi nhưng Đội Cứu quốc quân và tên tuổi của đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn được đồng đội và nhân dân ghi nhớ bởi đó là một trong những đội quân tiền thân của Đảng, là những cống hiến to lớn của đồng chí đối với Đảng ta, quân đội ta trong những năm tháng chông gai nhất của cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Phùng Chí Kiên đã được tiếp cận với lãnh tụ Hồ Chí Minh, được Người huấn luyện, đào tạo trở thành cán bộ cách mạng, một chỉ huy quân sự kiệt xuất đầu tiên của Đảng. Đồng chí đã được Nhà nước tuyên dương công trạng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 89/SL truy phong hàm tướng đầu tiên, ngày 23 tháng 9 năm 1947. Năm 1994, đồng chí được Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương và bằng Huân chương Chiến công hạng ba.

Hiện nay tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam lưu giữ trưng bày một số hiện vật về Đội du kích Bắc Sơn, Đội Cứu quốc quân 1 thể hiện phần nào cuộc sống, chiến đấu và tinh thần quả cảm của cán bộ, chiến sĩ của đội trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên. Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cũng đang lưu gữi mâm gỗ, đĩa, nậm rượu, lọ sành là những đồ dùng sinh hoạt của gia đình cụ Nguyễn Khoản và Trần Thị Cúc (cha mẹ của đồng chí Phùng Chí Kiên) cùng một số hiện vật liên quan đến đồng chí Phùng Chí Kiên (do thân nhân đồng chí Phùng Chí Kiên gửi tặng).
________________________________
1. Một số hiện vật gắn với Đội Cứu quốc quân hiện đang được Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam lưu giữ:
- Lưỡi mác: Đội cứu quốc quân đã sử dụng chiến đấu tại Đình Cả, Võ Nhai, năm 1941.
- Bát ăn cơm, liễn, ấm đun nước của nhân dân Bắc Sơn sử dụng phục vụ cơm nước cho Đội Cứu quốc quân, năm 1940-1941.
- Chiếc ấm sành của gia đình ông Dương Công Cao ở xã Hương Vũ, Bắc Sơn, Lạng Sơn dùng đun nước phục vụ Đội Du kích Bắc Sơn, Đội Cứu quốc quân.
- Chiếc nồi của đồng chí Mã Viết Minh, Mã Viết Phấn dùng nấu cơm phục vụ các đồng chí Trung ương ở Khuổi Nọi, Vũ Lễ, Bắc Sơn, năm 1941.
- Súng kíp của ông Hón xã Tân Hưng dùng chiến đấu khi tham gia Đội cứu quốc quân, năm 1941, chiến đấu giết một tên xếp đội đồn Canh Tiến.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #21 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 09:23:35 am »


BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM 40 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA PHÙNG CHÍ KIÊN

PGS, TS VŨ QUANG HlỂN*

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên đã được đề cập qua một số tài liệu khác nhau như: Lịch sử các đội quân tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nxb QĐND, HN, 2004), Những người cộng sản của Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn (Nxb Thanh niên, HN, 2000), Website DienChau, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia... Bên cạnh những điểm tương đồng, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Đặt trong bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam 40 năm đầu thế kỷ XX, có thể xác định một số hoạt động quan trọng của Phùng Chí Kiên, nhưng cũng đặt ra những vấn đề cần có thời gian nghiên cứu, xác minh thêm.

1. Hai khuynh hướng chính trị trong phong trào dân tộc Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự lựa chọn của Phùng Chí Kiên.

Năm 1901, Phùng Chí Kiên chào đời với tên khai sinh là Nguyễn Vĩ1, trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, Nghệ An), khi đất nước đã bị biến thành thuộc địa của đế quốc Pháp, nhân dân phải chịu cảnh lầm than. Tuy nhà nghèo, nhưng Phùng Chí Kiên vẫn được cha mẹ cho đi học sớm, lớn lên khi tiếng súng của Phong trào Cần Vương đã lịm tắt, hệ tư tưởng phong kiến hoàn toàn bất lực trước yêu cầu giải phóng dân tộc. Những người yêu nước Việt Nam cần một ánh sáng tư tưởng mới soi đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do.

Đầu thế kỷ XX, hệ tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng tới Việt Nam. Đó là những tư tướng dân chủ tư sản phương Tây qua tân thư, tân báo, nhất là các tác phẩm của Voltaire, Russeau và Montesquieu; cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản (1868); những tư tưởng cải cách chính trị và văn hóa của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu hồi cuối thế kỷ XIX và Cách mạng Tân Hợi (1911) của Đồng minh hội ở Trung Quốc. Trong lúc giai cấp tư sản Việt Nam chưa ra đời, các văn thân, sĩ phu đã tiếp thu hệ tư tưởng tư sản làm vũ khí chống Pháp, dấy lên một phong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn với hai xu hướng chủ yếu: bạo động của Phan Bội Châu và cải cách của Phan Châu Trinh, song rốt cuộc đều thất bại. Trước khi giai cãp tư sản Việt Nam ra đời, vũ khí tư tưởng của nó đã bị đế quốc Pháp giáng cho một đòn thất bại nặng nề.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, xã hội Việt Nam có đầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại: giai cấp công nhân tăng lên về số lượng, các giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành hình. Đó là cơ sở vật chất cho sự du nhập những tư tưởng chính trị mới.

Trong khi hệ tư tưởng tư sản tiếp tục ảnh hưởng vào Việt Nam, sự biến chuyển của thời đại đang diễn ra nhanh chóng dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga. Đối với nước Nga, đó là một cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga, thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng này đã mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức "thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc"2. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rộng rãi khắp nơi, dẫn đến sự ra đời của nhiều Đảng Cộng sản ở các nước tư bản và thuộc địa. Hướng theo tiếng súng của Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Lênin, xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng chính trị vô sản. Bám sát thực tiễn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc và từng bước truyền bá vào Việt Nam.

Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới dẫn đến sự hình thành hai khuynh hướng chính trị khác nhau trong phong trào dân tộc Việt Nam: vô sản và tư sản. Cả hai khuynh hướng đó đều cố gắng vươn lên giải quyết nhiệm vụ do lịch sử đặt ra: chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc. Lê Duẩn từng phân tích: "Đặc điểm của phong trào cách mạng Việt Nam là không phát triển tuần tự từ tư sản qua vô sản, hết tư sản rồi mới đến vô sản, mà bản chất của nó là nhảy vọt. Trong một thời gian dài cả hai khuynh hướng vô sản và tư sản đều chen vai nhau mà tiến lên"3.

Mặc dù còn ít về số lượng, nhỏ bé về kinh tế, yếu đuối về chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã hăng hái bước lên vũ đài chính trị với một phong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, với những loại hình khác nhau: quốc gia cải lương (1919-1923), dân chủ công khai (1925-1926) và cách mạng (1927-1930).

Tại Quảng Châu (Trung Quốc), một nhóm thanh niên yêu nước tập hợp trong tổ chức Tâm tâm xã (1923) với hoạt động tiêu biểu là vụ mưu sát viên Toàn quyền Đông Dương Merlin của Phạm Hồng Thái (1924), nhưng không thành công. Tiếng bom Sa Diện vọng về trong nước, "như chim én nhỏ báo hiệu mùa Xuân".

Đồng thời với phong trào dân tộc tư sản, phong trào dân tộc vô sản từng bước hình thành và phát triển, gắn liền với những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc ở hải ngoại, nhất là từ cuối năm 1924, khi Người về Quảng Châu (Trung Quốc) và sáng lập Hội Việt Nam cách mạnh thanh niên (6.1925). Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập đảng cộng sản, phù hợp với trình độ giác ngộ của thanh niên Việt Nam lúc đó. Hội mau chóng phát triển cơ sở ở khắp nơi; tổ chức huấn luyện cán bộ và đẩy mạnh truyền bá lý luận cách mạng giải phóng dân tộc về trong nước. Đồng thời với việc trực tiếp chuẩn bị điều kiện về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc cũng quan tâm đặt nền móng để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, nhất là việc đào tạo cán bộ quân sự.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, trước mắt những thanh niên đầy nhiệt huyết cứu nước có hai sự lựa chọn: hoặc là đi theo con đường chính trị tư sản; hoặc là đi theo con đường chính trị vô sản. Trong phong trào yêu nước của tiểu tư sản trí thức Việt Nam những năm 1925-1926 có sự phân hóa ngày càng mạnh: một bộ phận đi sâu hơn nữa theo khuynh hướng tư sản, mà điển hình là Nam Đồng thư xã, dẫn tới sự ra đời của Việt Nam Quốc dân đảng; một bộ phận khác chuyển dần sang khuynh hướng vô sản, tiêu biểu là Phục Việt (1924), Hưng Nam (1925). Tổ chức này có quan hệ mật thiết với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu, cử nhiều người sang dự những lớp huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc; sau một số lần đổi tên và đề nghị hợp nhất với tổ chức Thanh niên, nhưng không thành, đã lấy tên chính thức là Tân Việt cách mạng đảng (1928).

Những năm 1925-1926. khi Phùng Chí Kiên đang làm thuê cho một thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý (thuộc huyện Diễn Châu, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội - Sài Gòn), cũng là lúc Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên cử cán bộ về Nghệ - Tĩnh hoạt động. Nhiều thanh niên, học sinh ở đây được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập.

Chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử trên đây, là một thanh niên có học, nhạy bén với thời cuộc, tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên cùng một số thanh niên quê Nghệ An sang Quảng Châu (Trung Quốc)4, dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, rồi được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học Trường Quân sự Hoàng Phố, trở thành một trong những cán bộ quân sự đầu tiên của cách mạng Việt Nam.

Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch gây chính biến phản cách mạng ở Thượng Hải, tàn sát, khủng bố những người cộng sản, mở đầu cho cho các hoạt động công khai chống cách mạng ở nhiều địa phương khác. Hợp tác Quốc - Cộng đế tiến hành cuộc chiến tranh Bắc phạt trong những năm 1926-1927 kết thúc5. Phùng Chí Kiên rút vào hoạt động bí mật ở vùng nông thôn tỉnh Quảng Đông, đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc, chống lại bọn quân phiệt; gia nhập quân cách mạng và tham gia bạo động Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc bạo động thất bại, quân cách mạng rút về khu Xô-viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Với cương vị là Đại đội trưởng Hồng quân công nông Trung Quốc, Phùng Chí Kiên đã cùng cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, phải ẩn náu hết nơi này đến nơi khác để tránh sự lùng sục của kẻ thù, kiên trì vận động quần chúng, giữ vững phong trào cách mạng.
__________________________________
* Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
1. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Phùng Chí Kiên có tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, còn có tên khác là Mạnh Văn Liễu. Theo Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn, Phùng Chí Kiên còn có tên là Nguyễn Hào (Những người cộng sản, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 172).
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quổc gia, Hà Nội, 2000, tr. 563.
3. Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970.
4. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Nhưng theo Lịch sử các đội quân tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nxb QĐND. Hà Nội, 2004, tr.149), thì Phùng Chí Kiên là một trong những thanh niên yêu nước được cử sang Thái Lan học tập. Sau đó, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc chọn đưa sang Trung Quốc đào tạo thành cán bộ". Website DienChau thì viết rằng: "Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên cùng một số hội viên được giới thiệu sang Quảng Châu". Theo sách Những người cộng sản của Đức Vượng - Nguyễn Văn Nhơn (Nxb Thanh niên, Hà Nội. 2000, tr. 173): "Tháng 10 năm 1926, lúc ấy Phùng Chí Kiên 25 tuổi, được chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Nghệ Tĩnh giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện".
5. Trong những năm 1926-1927, Trung Hoa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc hợp tác tiến hành cuộc Chiến tranh Bắc phạt, nhằm lật đổ các tập đoàn quân phiệt Bắc Dương đang chia nhau thống trị các vùng khác nhau. Trong khi chiến tranh cách mạng đang phát triển thắng lợi, các phần tử cánh hữu do Tưởng Giới Thạch cầm đầu câu kết với thế lực đế quốc, phong kiến chống lại phong trào cách mạng. Ngày 18 tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch thành lập chính phủ tại Nam Kinh. Đến tháng 7 năm 1927, chính quyền hoàn toàn rơi vào tay tưởng Giới Thạch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 12:28:46 pm »


2. Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ XX và hoạt động của Phùng Chí Kiên ở nước ngoài.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với Cương lĩnh chính trị đúng đắn và hệ thống tổ chức chặt chẽ, quy tụ lực lượng toàn dân tộc, nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và làm dấy lên một phong trào cách mạng rộng lớn, trong đó, quần chúng công nông đã tỏ rõ khả năng cách mạng phi thường, làm rung chuyển trận địa của chủ nghĩa đế quốc ở nông thôn. Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng vừa mới thành lập đã lao ngay vào một cuộc chiến đấu toàn diện với kẻ thù. Đế quốc Pháp tập trung lực lượng đàn áp bằng sự kết hợp những thủ đoạn bạo lực với những thủ đoạn lừa bịp về chính trị. Cách mạng bị tổn thất hết sức nặng nề. Đến tháng 4 năm 1931, Tổng Bí thư Trần Phú (được bầu tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930) sa vào tay giặc, toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, không còn lại một Ủy viên Trung ương nào1. Các xứ ủy, tỉnh ủy đều bị phá vỡ. Tổ chức cơ sở của Đảng bị tan rã ở nhiều nơi. Tháng 6 năm 1931, nhà cầm quyền Anh bắt giam trái phép Nguyễn Ái Quốc tại Hương Cảng. Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 vẫn hoành hành, thiên tai xảy ra liên tiếp. Tình hình chính trị và kinh tế hết sức căng thẳng.

Phải hoạt động trong bối cảnh trên là một thử thách khắc nghiệt đối với Đảng Cộng sản, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và ý chí chiến đấu kiên cường để tiếp tục giữ vững ngọn cờ lãnh đạo cách mạng. Những năm 1931-1935 là thời gian diễn ra cuộc đấu tranh cực kỳ gian khổ nhằm chống khủng bố trắng, khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và cơ sở chính trị quần chúng.

Tại Quảng Đông, cuộc nội chiến Quốc - Cộng diễn ra quyết liệt, thực hiện chủ trương chuyển hướng lấy nông thôn làm trung tâm cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phùng Chí Kiên tham gia phát động nông dân nổi dậy, thành lập chính quyền Xô-viết ở khu vực Hải Phong, Lục Phong, tiến hành cuộc cách mạng ruộng đất. Quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng tiến hành những cuộc vây quét lớn nhằm xóa bỏ các khu Xô-viết. Trong cuộc vây quét lần thứ 5 (1933-1934), lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề, phải tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh, rút lên phía Bắc2.

Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn của cách mạng trong nước, Quốc tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản anh em ra sức ủng hộ, giúp đỡ phong trào cách mạng Việt Nam, đạo tạo cán bộ, tạo điều kiện cho những người cộng sản Việt Nam về nước hoạt động; viết thư cổ vũ tinh thần chiến đấu.

Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên sang học Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nhưng khi đến Mãn Châu, thì bị phát xít Nhật bắt giam gần một năm. Ra tù, Phùng Chí Kiên đổi tên là Can rồi tiếp tục lên đường sang học ở Liên Xô (1933-1934).

Đầu năm 1934, sau khi kết thúc việc học tập, Phùng Chí Kiên rời Mátxcơva về Hương Cảng tham gia Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, tham gia chuẩn bị cho Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng.

Nhờ những nỗ lực ở cả trong và ngoài nước, phong trào cách mạng Việt Nam từng bước phục hồi. Các xứ ủy và tỉnh ủy được xây dựng lại. Tổ chức cơ sở đang phát triển ở nhiều nơi, nhất là vùng rừng núi và trung du Bắc Kỳ.

Tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Đó là mốc đánh dấu sự phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng, là điều kiện để đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên. Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa I, phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài.

Để chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (7.1935) chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng thế giới, thành lập Mặt trận nhân dân thế giới. Năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, ban hành nhiều chính sách tự do dân chủ, trong đó có những chính sách được áp dụng ở thuộc địa, tạo khả năng đấu tranh công khai hợp pháp cho nhân dân Việt Nam. Ở trong nước, mọi tầng lớp xã hội đều mong muốn có những cải cách dân chủ đề thoát khỏi tình trạng ngột ngạt của khủng hoảng kinh tế và chính sách khủng bố trắng do đế quốc Pháp gây ra. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (7.1936) chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng, đưa nhân dân bước vào cuộc vận động dân chủ 1936-1939.

Tháng 8 năm 1936, Phùng Chí Kiên bàn giao công tác Đảng ở ngoài nước cho Lê Hồng Phong, về Sài Gòn3 tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Năm 1937, quân phiệt Nhật Bản tiến hành xâm lược Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc lại đề nghị hợp tác với Quốc dân đảng chống Nhật4. Quốc - Cộng hợp tác lần thứ hai bắt đầu. Cùng năm đó, theo yêu cầu của cách mạng, Phùng Chí Kiên được Trung ương Đảng điều sang Hương Cảng chỉ đạo công tác Đảng ở ngoài nước, thay cho Lê Hồng Phong về nước hoạt động. Rời Sài Gòn đi Hương Cảng, Phùng Chí Kiên mang tấm thẻ căn cước với tên một người Hoa: Phùng Nguôn Vĩnh. Ngoài nhiệm vụ được phân công, Phùng Chí Kiên coi đất nước Trung Quốc như đất nước Việt Nam, coi phong trào đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc như phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam; sát cánh cùng những người cộng sản Trung Quốc, tích cực vận động Việt kiều ủng hộ nhân dân Trung Hoa chống Nhật.

Biết được vai trò của Phùng Chí Kiên, bọn tay sai Nhật tìm cách ngăn cản. Ngày 23 tháng 10 năm 1938, cảnh sát Anh ập đến số nhà 71, phố Đại Nam, Hương Cảng, Trung Quốc khám xét và bắt gian Phùng Chí Kiên. Hai tháng sau, do không có bằng chứng để kết án, chúng phải thả ra, nhưng trục xuất Phùng Chí Kiên khỏi Hương Cảng. Phùng Chí Kiên tới Quảng Đông, rồi sang Côn Minh (Quảng Tây), thành lập Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc đánh Nhật và xuất bản báo Đồng Thanh, sau đổi tên thành báo "ĐT" theo gợi ý của Nguyễn Ái Quốc, để mang ý nghĩa rộng hơn (có thể hiểu là Đồng Tâm, Đánh Tây hoặc Đấu Tranh). Đầu năm 1940, Phùng Chí Kiên hoạt động với Nguyễn Ái Quốc ở Côn Minh; nhiều lần đưa Nguyễn Ái Quốc đến một số nơi thuộc tỉnh Vân Nam như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thôn...
__________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 332.
2. Cuộc nội chiến Quốc - Cộng (1927-1937): quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành cuộc chiến đấu chống Chính phủ Quốc dân Đảng. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Vũ Xương (8.1927), Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển hướng về nông thôn, lãnh đạo nông dân giành chính quyền, thành lập các khu Xô-viết và Hồng quân công nông, tiến hành cách mạng ruộng đất, đập tan bốn cuộc vây quét lớn của quân đội Quốc dân đảng. Nhưng trong cuộc vây quét thứ năm (1933-1934), các khu Xô-viết bị tấn công, lực lượng cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng. Hồng quân công nông phải phá vây, rút khỏi các căn cứ cách mạng, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh, đi lên phía Bắc, kết thúc thắng lợi năm 1936.
3. Xem Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn, Những người cộng sản, Sđd, tr. 177.
4. Tháng 7 năm 1937, Nhật phát động cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính toàn Trung Quốc. Trước nguy cơ dân tộc, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ động đề nghị Quốc dân đảng đình chỉ nội chiến, hợp tác chống ngoại xâm. Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật được thành lập. Cách mạng Trung Quốc chuyển sang thời kỳ kháng chiến chống Nhật.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:03:53 pm »


3. Việt Nam trong giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai và một số hoạt động của Phùng Chí Kiên trong phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Phát xít Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát biên giới Việt - Trung, uy hiếp Đông Dương. Bọn phản động thuộc địa Pháp ở Đông Dương ngóc đầu dậy đàn áp cách mạng, xóa bỏ những quyền tự do dân chủ mà nhân dân Việt Nam giành được trong những năm 1936-1939, đồng thời thi hành chính sách "kinh tế chỉ huy", nhằm vơ vét tiền của, phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc mà Pháp cũng tham gia. Sau khi nước Pháp lọt vào tay phát xít Đức (6.1940), Nhật ngày càng gia tăng sức ép buộc Pháp ở Đông Dương phải nhượng bộ. Đứng trước họa xâm lược của phát xít Nhật và phong trào đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp lựa chọn con đường đầu hàng Nhật để đàn áp cách mạng. Tháng 9 năm 1940, Nhật vào Đông Dương. Pháp và Nhật câu kết với nhau để thống trị và bóc lột nhân dân ta.

Tình hình trên làm cho quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đều bị cướp giật. Vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập"1. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân Đông Dương với bọn đế quốc - phát xít Pháp - Nhật và tay sai phát triển gay gắt, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng cấp thiết.

Trong sự biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước, Phùng Chí Kiên chuẩn bị về nước hoạt động.

Tháng 6 năm 1940, Phùng Chí Kiên cùng Nguyễn Ái Quốc về Tĩnh Tây, một thị trấn thuộc tỉnh giáp biên giới Trung - Việt, để chuẩn bị về nước. Cuối năm 1940, Nhận được tin Nguyễn Ái Quốc đã về Tĩnh Tây, Trung ương Đảng cử Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên đã tập hợp hơn bốn mươi thanh niên để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập khu căn cứ cách mạng. Theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Phùng Chí Kiên cùng với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp biên soạn bài giảng làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ khi về nước. Những tài liệu này về sau được in thành sách với tiêu đề Con đường giải phóng2.

Khới nghĩa Bắc Sơn (9.1940)3, cùng các cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (11.1940) và Binh biến Đô Lương (1.1941) là những đòn tiến công trực diện vào nền thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương, đồng thời là những đòn cảnh cáo đanh thép đối với phát xít Nhật ngay khi chúng vừa đặt chân lên đất Việt Nam. Đó là "những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương"4. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11.1940) quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn để làm vốn quân sự cho cách mạng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên theo Hồ Chí Minh về Pắc Bó, Cao Bằng, trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc; tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi.

Tháng 5 năm 1941, Phùng Chí Kiên tham dự Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó, Cao Bằng. Hội nghị quyết định "thay đổi chiến lược"5, chủ trương không làm cuộc cách mạng tư sản dân quyền với hai nhiệm vụ phản đế và điền địa, mà chỉ làm một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà thôi. Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng được Đảng đặc biệt coi trọng. Hội nghị đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân. Tại Hội nghị này, Phùng Chí Kiên được phân công phụ trách quân sự và chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn.

Về Bắc Sơn - Võ Nhai, Phùng Chí Kiên cùng Chu Văn Tấn và Lương Văn Tri (tức Huy Còm) chỉ huy lực lượng vũ trang Bắc Sơn. Sang năm 1941, đội du kích Bắc Sơn lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội Cứu quốc quân 1 (1.5.1941) do Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng.

Trước thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nhật hòa với Pháp để Pháp rảnh tay đàn áp cách mạng. Cuối tháng 6 năm 1941, thực dân Pháp huy động hàng nghìn quân, tổ chức thành nhiều mũi, mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng vũ trang Việt Minh. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các cán bộ lãnh đạo Trung ương Đảng qua Tràng Xá về xuôi an toàn.

Phùng Chí Kiên chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1 chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của Pháp. Do chênh lệch về so sánh lực lượng, Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội, do Chu Văn Tấn chỉ huy, tiếp tục hoạt động, còn hai tiểu đội, theo hai đường Thất Khê và Na Rì, rút lên Cao Bằng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1941, bộ phận của Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (xã Văn Học, châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị lộ, nhưng thoát được. Ngày 21 tháng 8 năm 1941, đơn vị lại bị phục kích và bị bao vây tại xã Bằng Đức (Ngân Sơn). Mặc dù bị thương nặng, Phùng Chí Kiên vẫn bắn chặn quân đối phương để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng, Phùng Chí Kiên bị đối phương bắt và đưa về bốt Khau Pàn, tra tấn đến chết, rồi cắt đầu đem bêu ở đầu cầu Ngân Sơn nhằm uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương. Hôm đó là ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Phùng Chí Kiên đã ngã xuống vào lúc tròn tuổi 40, sự kiện đó như tiếng chuông thức tỉnh nhân dân, làm cho ngọn lửa cách mạng ở Ngân Sơn bùng cháy và ngày càng bốc cao trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do.
________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 536.
2. Theo Website DienChau (ngày 13.7.2005), cuối năm 1940, Phùng Chí Kiên huấn luyện 40 cán bộ cốt cán của Việt Nam tại Trung Quốc, cần xác minh thêm.
3. Có ý kiến cho rằng Phùng Chí Kiên tham gia cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (9.1940), cần xác minh thêm.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 58.
5. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương". Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật "không phải riêng của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của nhân dân Đông Dương", "cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng thuộc địa dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng" (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 118).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #24 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:12:58 pm »


TÌM HIỂU NHỮNG NHÂN TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA PHÙNG CHÍ KIÊN

TS TRẦN VĂN THỨC*
ĐẬU ĐỨC ANH

Nhân cách của mỗi con người luôn được hình thành và phát triển trong một môi trường văn hoá nhất định và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động xung quanh. Đương nhiên, quá trình hình thành và phát triển của sự nghiệp yêu nước, sự nghiệp cách mạng của mỗi cá nhân là sản phẩm của nhiều yếu tố. Nguyễn Vĩ (tức Phùng Chí Kiên) là một trong những trường hợp như vậy.

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự nghiệp yêu nước, sự nghiệp cách mạng của Phùng Chí Kiên trên nhiều phương diện: truyền thống của gia đình và quê hương; ảnh hưởng của những hoạt động tích cực của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đối với Phùng Chí Kiên.

Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ (và nhiều bí danh khác). Ông sinh năm 1901 và hy sinh năm 1941. Phùng Chí Kiên sinh ra và lớn lên tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần (nay thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu). Năm 1925, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, năm 1930, ông gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên tuy ngắn ngủi nhưng lại có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Vậy, những nhân tố nào đã có tác động tích cực đến sự nghiệp yêu nước và cách mạng của Phùng Chí Kiên?

1. Nguyễn Vĩ - Phùng Chí Kiên là hậu duệ đời thứ 6 của dòng họ Nguyễn tại Diễn Yên, Diễn Châu1. Có thể nói, dòng họ Nguyễn ở Diễn Yên, Diễn Châu từ đời cụ Nguyễn Đình Liêu cho đến đời của Nguyễn Vĩ là một dòng họ có truyền thống hiếu học, đỗ đạt và thân dân. Trong dòng họ, có những thời, có những người tuy giữ cương vị là chức sắc của làng nhưng luôn luôn có tư tưởng thương dân, đấu tranh bênh vực cho quyền lợi của nhân dân.

Truyền thống hiếu học và khoa bảng cũng như tư tưởng thương dân của dòng họ là những giá trị tinh thần đã ảnh hưởng, tác động rất lớn đối với việc hình thành nên tư tưởng yêu nước của Nguyễn Vĩ. Hay nói cách khác, truyền thống dòng họ là mạch nguồn tạo nên tư tưởng yêu nước, thương dân của Nguyễn Vĩ khi ông sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Cũng chính vì vậy, nên khi Nguyễn Vĩ bắt đầu bước vào con đường hoạt động cách mạng, ông đã được gia đình tạo điều kiện hết sức thuận lợi không chỉ cho riêng ông mà còn của các đồng chí của ông. Theo lời kể của bà Trương Thị Đông (vợ của ông Nguyễn Văn Việt - cháu gọi Nguyễn Vĩ bằng chú), khi Nguyễn Vĩ tham gia hoạt động cách mạng, ông đã được gia đình chăm lo và hết sức giữ bí mật. Những ngày trước khi ông sang Trung Quốc hoạt động, ông thường đi đêm về hôm, đi không ai biết, về không ai hay, nhưng gia đình ông đã lo cho ông từng bữa ăn một cách bí mật và chu đáo2.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, truyền thống của gia đình và dòng họ là mảnh đất màu mỡ đầu tiên hun đúc nên tinh thần yêu nước và cách mạng của Phùng Chí Kiên. Tuy nhiên, ngoài yếu tố gia đình và dòng họ, tinh thần yêu nước của Nguyễn Vĩ còn được hình thành và phát triển trên một miền quê giàu truyền thống chống xâm lăng.

2. Nguyễn Vĩ sinh ra và lớn lên tại làng Mỹ Quan nay thuộc xã Diễn Yên. Các xã Mỹ Quan, Yên Lý trước đây là những xã ở phía Bắc Đông Luỹ, đã từng được chứng kiến bao phen đất nước thăng trầm: Quân Minh đánh thành Đông Luỹ của nhà Hồ, nhà Lê đánh quân Minh ở Đông Luỹ, Tây Sơn đánh quân Trịnh lấy Đông Luỹ. Từ năm 1466, Đông Luỹ trở thành phủ lỵ của phủ Diễn Châu thì xã Yên Lý và Mỹ Quan nghiễm nhiên nằm vào trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế và quân sự của phủ. Trước khi chưa có đường quốc lộ 1A, cung Lứ đặt ngay tại Yên Lý (nơi các quan chức nhà vua đi công cán cũng như lính tráng đi làm nhiệm vụ đến dừng chân, thay phu cáng và đổi ngựa). Khách lữ hành dọc đường thiên lý cũng chọn nơi này làm chỗ dừng chân khi gặp lúc tối trời. Vì vậy, từ xưa nhân dân xã Diễn Yên đã được tiếp xúc với nhiều hạng    người trong xã hội. Điều này tạo cho tính cách của người nông dân nơi đây vừa lặng lẽ với cái vỏ bọc làng quê lại vừa nhanh nhạy với thời cuộc.

Cũng chính vì vị trí địa lý thuận lợi như vậy nên khi lời hiệu triệu của thủ lĩnh Cần vương Bắc Nghệ Tĩnh Nguyễn Xuân Ôn đã lan vào tận các thôn xóm Diễn Yên. Trai tráng thì tham gia nghĩa quân, nhà giàu thì cúng tiền của, thóc gạo... Đốc Hạnh (Trương Hạnh) là người đứng lên tổ chức nghĩa quân ở nơi đây, nghĩa quân của Đốc Hạnh đã cùng với nghĩa quân nhiều nơi khác yểm hộ một đoạn đường thiên lý dài, đánh phục kích trận Cầu Lồi làm cho quân Pháp từ Thanh Hoá vào phải bỏ chạy tan tác. Nghĩa quân của Đốc Hạnh còn tham gia vào trận công thành Phủ Diễn, v.v...

Chính truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của cha ông đã hun đúc cho con người nơi đây tinh thần bất khuất, ý chí giải phóng quê hương đất nước. Cũng như bao người con cùng thế hệ, Phùng Chí Kiên đã sớm bước vào con đường hoạt động yêu nước chống Pháp. Tuy nhiên, tinh thần đó lại sớm được bồi đắp bởi ánh sáng của cách mạng. Và, yếu tố có vai trò to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Phùng Chí Kiên, đó là ông đã sớm được giác ngộ lý tưởng cách mạng theo con đường Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

3. Sau khi thực dân Pháp bình định xong nước ta, chúng bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa. Để phục vụ cho công cuộc đó, thực dân Pháp đã xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt và ga Yên Lý ra đời từ đấy. Đầu thế kỷ XX, nông thôn Diễn Yên không còn lặng lẽ như bao đời, nơi đây đã trở thành một trong những đầu mối giao thông của Diễn Châu. Vì lẽ đó, nên từ rất sớm, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã sớm bắt được liên lạc và gây dựng cơ sở tại đây.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và chính những hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc đã làm cho lớp thanh niên trí thức, học sinh ở Diễn Châu nói chung và Diễn Yên nói riêng, sớm giác ngộ được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ở Diễn Yên có ông Lê Chương, Trương Đức Thạp, Lê Nhu đều là con nhà giàu, có học thức, thông thạo chữ Hán, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ... đã thành lập chi hội của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, gây cơ sở cách mạng đầu tiên cho vùng Yên Lý, Mỹ Quan3.

Mặc dù Nguyễn Vĩ sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nhưng anh vẫn được cha mẹ cho đi học. Sau khi thi đỗ sơ học yếu lược gia đình gặp khó khăn, Nguyễn Vĩ phải nghỉ học giúp cha mẹ làm ruộng. Đến năm 1925, anh lên ga Yên Lý làm thuê cho một thương nhân người Hoa. Chính thực tế cuộc sống và công việc ở nơi đây, Nguyễn Vĩ đã thấy được nhiều cảnh bất công ngang trái và cũng là nơi ông bắt đầu gặp gỡ, giao lưu với những người yêu nước, có chí hướng tiến bộ. Trong thời gian làm việc tại ga Yên Lý, ông gặp đồng chí Lê Hữu Lập (tức Hoàng Lùn) - một cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Vốn là người có học, nhạy bén với thời cuộc, lại được sự dìu dắt, giúp đỡ của đồng chí Lê Hữu Lập, nên Phùng Chí Kiên đã tham gia tích cực trong nhóm đọc sách, báo tiến bộ và quyên góp tiền ủng hộ những người xuất dương tìm đường cứu nước.

Như vậy, chính những hoạt động tích cực của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của Phùng Chí Kiên. Bằng những nỗ lực cố gắng và nhiệt huyết cách mạng của mình, nên tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên được giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức. Từ đây, Phùng Chí Kiên bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ tham gia học tập, nghiên cứu lý luận cách mạng. Và, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, Phùng Chí Kiên bước vào thời kỳ hoạt động sôi nổi, có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, ông đã anh dũng hy sinh khi cuộc đời còn rất trẻ, sự nghiệp cách mạng của ông đang ở vào độ chín.

Chúng ta có thể khẳng định, sự nghiệp cách mạng của mỗi cá nhân nói chung, Phùng Chí Kiên nói riêng, là kết quả của sự tương tác bởi nhiều nhân tố, trước hết là gia đình, dòng họ, quê hương. Đối với Phùng Chí Kiên, ông lại có may mắn sớm được tiếp xúc với lý tưởng cộng sản và dấn thân vào sự nghiệp cách mạng. Đây chính là kết quả của những hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và đây cũng là nhân tố góp phần quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của ông. Nhưng theo chúng tôi, yếu tố có vai trò quyết định nhất cho sự chuyển biến về mặt tư tưởng và nhận thức cách mạng của Phùng Chí Kiên đó là những phẩm chất cá nhân của ông.

Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về Phùng Chí Kiên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất như sau:

- Phùng Chí Kiên là một trong những người có rất nhiều đóng góp đối với cách mạng Việt Nam, nhưng có nhiều sự kiện, nhiều giai đoạn liên quan đến nhân vật lịch sử này chưa được làm sáng tỏ một cách thoả đáng so với tầm vóc và vị trí của ông. Do đó, cần phải tập trung nghiên cứu để làm nổi bật công lao, vai trò và vị trí của ông đối với cách mạng Việt Nam, nhất là giai đoạn ông trực tiếp chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1. Thiết nghĩ, những kết quả nghiên cứu đó sẽ có vai trò quan trọng nhằm bổ sung, hoàn thiện những thông tin ít ỏi về nhân vật lịch sử Phùng Chí Kiên trong các giáo trình đại học, từ đó góp phần lấp đi một "khoảng trống lịch sử".

- Cần phải tiến hành xây dựng khu lưu niệm Phùng Chí Kiên tại quê nhà để lưu giữ, tái tạo và tôn vinh những đóng góp của ông đối với cách mạng Việt Nam. Và, đây sẽ là một trong những địa chỉ quan trọng góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và giảng dạy lịch sử địa phương.
_______________________________
* Khoa Lịch sử, Trường Đại học Vinh.
1. Theo gia phả dòng họ Nguyễn tại Diễn Yên, Diễn Châu.
2. Theo lời kể của bà Trương Thị Đông (vợ ông Nguyễn Văn Việt - cháu gọi Phùng Chí Kiên bằng chú ruột).
3. Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Diễn Yên, Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Diễn Yên, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2007, tr. 51.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:53:49 pm »


PHÙNG CHÍ KIÊN - CỘI NGUỒN VÀ SỨC SỐNG

LÊ HỒNG CHINH*

Ngược dòng thời gian tìm về quá khứ, mỗi chúng ta đều thấy lòng mình mang niềm thương, nỗi nhớ về mảnh đất chôn rau cắt rốn, đều thấy xao xuyến, bồi hồi và xen lẫn niềm tự hào về truyền thống khi quê hương mình có những người con làm nên lịch sử. Đó là tâm trạng của những người trên quê hương Diễn Yên anh hùng - nơi sinh thành nuôi dưỡng người chiến sĩ cách mạng, người học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là Phùng Chí Kiên. Để hiểu hơn về tâm hồn, khí phách của Phùng Chí Kiên, xin được trở lại với vùng đất Diễn Yên, huyện Diễn Châu, một vùng quê có bề dày truyền thống cách mạng.

*

*        *

Địa danh Diễn Châu xuất hiện khoảng đầu thế kỷ thứ VII với tên gọi là huyện Hàm Hoan nằm trong Hoan Châu và là 1 trong 12 châu của An Nam đô hộ phủ. Thời bấy giờ, người dân các vùng phía bắc Hoan Châu đã đến đây khai phá đất hoang, sinh cơ lập nghiệp. Các làng xưa của vùng này được đặt tên rất đẹp như: Yên Lý, Mỹ Quan, Mỹ Lộc, Thịnh Mỹ, Tiên Yên... Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các làng cũ được chia thành hai xã Yên Lý và Mỹ Quan. Từ năm 1947, Yên Lý và Mỹ Quan hợp nhất thành xã Yên Mỹ. Cuối năm 1950, theo chủ trương của huyện Diễn Châu, xã Yên Mỹ hợp với một số xã khác trong vùng thành xã Diễn Đức. Năm 1959, xã Diễn Đức giải thể và chia thành 5 xã mới là Diễn Hồng, Diễn Phong, Diễn Mỹ, Diễn Hải và Diễn Yên. Tên Diễn Yên chính thức có từ ngày đó. Đây là đơn vị hành chính nằm phía bắc huyện Diễn Châu, có dân số và diện tích tự nhiên lớn nhất, nhì trong huyện (Diễn Yên có gần 1.522 hécta đất tự nhiên với dân số 15.500 người, gồm 17 xóm). Diễn Yên nằm ở vị trí khá thuận lợi về giao thông. Xã có đường Quốc lộ 1, mạch giao thông chính của quốc gia chạy ngang. Diễn Yên cũng là điểm xuất phát của quốc lộ 48 đi các huyện miền Tây Nghệ An như Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong. Diễn Yên còn có ga tàu, có đường sắt Bắc - Nam đi qua. Điều kiện giao thông thuận lợi ấy đã tạo cho con người nơi đây sớm tiếp cận với xã hội và thông tin khắp mọi miền trong cả nước, tạo sự năng động, sáng tạo cho người dân Diễn Yên ngay từ buổi ban đầu. Nghề chính của người dân Diễn Yên là sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn nghề phụ như đan lát, nghề rèn, nghề mộc và làm bánh hay nghề làm sơn tràng đốt củi, đốt than. Người dân nơi đây cần cù, chịu thương chịu khó, sống thẳng thắn, trọng tình nghĩa.

Diễn Yên là một vùng quê có truyền thống cách mạng. Khi phong trào Văn Thân Cần Vương chống Pháp nổ ra, Diễn Yên có người tham gia. Từ năm 1925 đến 1929, Diễn Yên có 19 thanh niên tham gia tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, có 10 người xuất dương tìm đường cứu nước. Trong phong trào Xôviết - Nghệ Tĩnh 1930-1931, nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh biểu tình, điển hình là cuộc biểu tình của Tổng Vạn Phần vào ngày 27 tháng 5 năm 1931, tại cánh đồng Nu, cây Đa Cống ở làng Mỹ Quan. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng nghìn dân Diễn Yên đã dùng gậy gộc tiến vào thành Phủ Diễn biểu tình. Địch đàn áp đẫm máu, 24 người đã hy sinh. Tính đến ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Diễn Yên có 68 người bị địch chém giết, tù đày. Vài nét phác thảo về miền quê này để ta hiểu sâu hơn nét đẹp đáng quý trong lối sống và nhân cách những người con nơi đây, đó chính là cội nguồn của những tấm gương kiên trung, bất khuất, mà Phùng Chí Kiên là một điển hình.

Phùng Chí Kiên có tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 tại làng Mỹ Quan Thượng, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, là con một gia đình nông dân. Cha là Nguyễn Khoản, mẹ là Trần Thị Cúc. Gia đình ông bà Khoản có 4 người con là Nguyễn Dốc, Nguyễn Nhị, Nguyễn Thị Loan và Nguyễn Vĩ (Phùng Chí Kiên). Đồng chí Phùng Chí Kiên đã lập gia đình với chị Hoàng Thị Luận, quê xã Diễn Mỹ. Trong thời gian Phùng Chí Kiên hoạt động cách mạng, chị Luận chờ đợi 8 năm không có tin tức nên đành phải đi xây dựng gia đình với người khác.

Làng Mỹ Quan Thượng là vùng đất phía đông bắc của xã Diễn Yên. Cũng như các làng quê khác của Diễn Yên và huyện Diễn Châu, làng Mỹ Quan quê ông hồi ấy còn nghèo lắm, dân trong làng phải chạy ăn từng bữa. Vùng Mỹ Quan ruộng đất chủ yếu chỉ trồng màu như khoai, ngô, lạc, đỗ. Khoai là lương thực chính của người dân Mỹ Quan thời bấy giờ. Nghề phụ đan lát là nét đặc trưng của người dân nơi đây. Ngay tên làng đã gợi nét đẹp thuần phong mỹ tục vùng quê này. Diễn Yên có 25 dòng họ sinh sống. Họ Nguyễn là một trong những dòng họ lớn. Theo gia phả để lại thì cụ Nguyễn Đình Liêu (gốc Hà Tĩnh) là người có học, thông minh. Cụ đi làm ăn và lấy vợ là người Mỹ Quan rồi sinh cơ lập nghiệp ở đây. Từ cụ Nguyễn Đình Liêu đến nay có 10 thế hệ. Nguyễn Vĩ là hậu duệ đời thứ 6. Đây là dòng họ có truyền thống cách mạng và hiếu học. Trước kia họ Nguyễn có 9 người thi trúng nhất, nhị và tam trường, có 5 người thi đậu bằng PRIME, có 17 người tham gia cách mạng trước tháng Tám năm 1945, có 25 người tham gia quân đội với quân hàm thiếu tá trở lên. Họ Nguyễn có 80 người có trình độ đại học và trên đại học.

Cây có cội, sông có nguồn, chim có tổ, người có tông. Cội nguồn của Phùng Chí Kiên là cội nguồn của một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Dòng dõi của Phùng Chí Kiên là dòng dõi lương thiện, thông minh. Tất cả những nét đẹp cao quý đó đã góp phần hình thành nhân cách, ý chí, tình cảm trong sáng của người chiến sĩ cách mạng. Thuở nhỏ, Phùng Chí Kiên cũng như bao cậu bé nghèo khổ ở làng Mỹ Quan. Anh lớn lên với những ngày tháng đói cơm, rách áo nhưng cha mẹ vẫn cố gắng cho anh học thi đỗ sơ học Yếu lược. Sau đó, anh phải nghỉ học, ở nhà làm ruộng giúp gia đình. Năm 1925, anh nhận làm thuê cho một thương nhân buôn gạo người Hoa kiều tại ga Yên Lý. Tại đây, anh được tiếp xúc với nhiều lớp người, thấy nhiều bất công ngang trái và nỗi khổ của người dân mất nước. Thời gian này, Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) cử cán bộ về gây cơ sở ở Nghệ - Tĩnh. Là người có học, nhạy bén với thời cuộc, Phùng Chí Kiên được các ông Nguyễn Tăng Tựu (Nghi Lộc), Lê Hữu Lập (Hậu Lộc, Thanh Hoá) bắt liên lạc kết nạp vào Hội. Nhà anh trở thành nơi gặp gỡ của những người cùng chí hướng. Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên với tấm thẻ căn cước của người chú ruột là Nguyễn Hào, được giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện. Để chuẩn bị nguồn cán bộ sau này cho cách mạng, Phùng Chí Kiên được Nguyễn Ái Quốc gửi đi học Trường Quân sự Hoàng Phố. Lúc này, Phùng Chí Kiên đổi tên là Mạnh Văn Liễu. Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch làm binh biến phản cách mạng, nhà trường đóng cửa. Phùng Chí Kiên tham gia cách mạng Trung Quốc và Khởi nghĩa Quảng Châu với cương vị là Đại đội trưởng. Tháng 2 năm 1931, theo chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên rời Quảng Châu sang Liên Xô học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nhưng trên đường đi, đồng chí bị bắt giam gần 1 năm ở Mãn Châu. Ra tù anh đổi tên là Can rồi tìm đường sang Liên Xô để tiếp tục sự nghiệp. Gần 2 năm, Phùng Chí Kiên ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng và bảo vệ chế độ Xô-viết của nhân dân Liên Xô với hy vọng trở về áp dụng tại đất nước Việt Nam. Đầu năm 1934, Phùng Chí Kiên tham gia Ban chỉ huy ở ngoài (Ban lãnh đạo hải ngoại) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3 năm 1935, anh tham gia soạn thảo đề cương Đại hội lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao. Tại đại hội này, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách Ban Hải ngoại. Tháng 1 năm 1941 Phùng Chí Kiên cùng Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được phân công phụ trách quân sự. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, trong lúc cùng đồng đội đánh trả kẻ địch, Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh, để lại lòng tiếc thương vô bờ bến cho gia đình, bạn bè. Cả quê hương, đất nước khắc sâu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng Phùng Chí Kiên. Hài cốt Phùng Chí Kiên được cán bộ và nhân dân Ngân Sơn (Cao Bằng) mai táng. Sau này, Đảng, Nhà nước đã đưa về an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Diễn Yên được phép rước vong linh Phùng Chí Kiên về nghĩa trang liệt sĩ của xã để tỏ lòng thương tiếc người con quê hương đã một đời hy sinh cho cách mạng. Phùng Chí Kiên hy sinh nhưng tấm gương của người chiến sĩ cộng sản kiên trung luôn toả sáng trong lòng nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Diễn Yên nói riêng. Đó là tấm gương của một người đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Quê hương, gia đình, dòng họ là mạch nguồn tạo cốt cách tinh thần của Phùng Chí Kiên. Bởi vậy, đến muôn đời, cốt cách, tinh thần trung dũng ấy vẫn có sức sống mãnh liệt, luôn toả sáng, mở đường chỉ lối cho hậu thế. Phát huy truyền thống của người chiến sĩ cộng sản Phùng Chí Kiên, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Diễn Yên đã có sự đóng góp đáng kể về sức người, sức của. Diễn Yên là trọng điểm đánh phá ác liệt trong chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bởi nơi đây có những mục tiêu quan trọng như kho lương thực Yên Lý, nhà ga, đường sắt, đường quốc lộ, có cống ba ra... Hầu như không ngày nào không có đạn bom rơi xuống mảnh đất này, thậm chí có ngày chúng đánh liên tục 5 đến 6 trận. Đã có 30 nghìn tấn bom đạn trút xuống nơi đây trong thời kỳ từ 1964 đến 1968.
___________________________________
* Bí thư Đảng ủy xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #26 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:54:30 pm »


Vượt lên sự đánh phá ác liệt của giặc Mỹ, người dân trên quê hương Phùng Chí Kiên đã huy động 22.600 lượt người đào đắp gần 100.000m3 đất đá san lấp đường khi bị bom Mỹ tàn phá. Với tinh thần "xe chưa qua, nhà không tiếc", người dân Diễn Yên đã đóng góp sức người, sức của để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng cả nước đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Diễn Yên có gần 2.000 thanh niên tham gia nhập ngũ, có 202 liệt sĩ. Xã có 8 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Diễn Yên được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương các loại, nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, năm 1998, Đảng bộ và nhân dân Diễn Yên vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cùng với tập thể, những người con trên quê hương Diễn Yên cũng ý thức cao trong việc giữ gìn truyền thống, nêu gương người đi trước để làm rạng danh mảnh đất quê mình. Đó là anh hùng lực lượng công an nhân dân Nguyễn Văn Tạo, anh hùng lao động Hoàng Tân. Nhiều người con của Diễn Yên là nhà khoa học, hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Đó là những tài năng được hình thành từ sức sống cội nguồn của gương sáng những người đi trước, trong đó có người chiến sĩ cách mạng Phùng Chí Kiên.

Hiện nay, trên quê hương Phùng Chí Kiên có một ngôi trường được vinh dự mang tên Phùng Chí Kiên. Tiền thân là Trường cấp 2 Diễn Châu 2, được thành lập năm 1958. Qua nhiều lần thay đổi, cùng với tiến trình đi lên của đất nước và để hợp với đạo nghĩa, hợp với truyền thống quê nhà, năm học 1991-1992, trường được chính thức mang tên Trường trung học cơ sở Phùng Chí Kiên. Với niềm tự hào vinh dự được mang tên người chiến sĩ Cách mạng, Trường trung học cơ sở Phùng Chí Kiên luôn luôn đạt danh hiệu tiên tiến và tiên tiến xuất sắc. Trường luôn có học sinh và giáo viên giỏi cấp tỉnh. Năm học 2001-2002, trường vinh dự được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cấp bằng công nhận đơn vị văn hoá cấp tỉnh. Từ năm 2000 đến nay, Trường có 30 lượt học sinh giỏi cấp tỉnh. Những người nổi danh như tiến sĩ toán học Nguyễn Tố Như; tiến sĩ Nguyễn Văn Nhụy hay Phạm Thị Chung, người đạt 30 điểm trong kỳ thi tuyển vào đại học năm 2004, đều là người làng Mỹ Quan và đều là học sinh được rèn luyện từ mái trường này. Điều đó khẳng định rõ sức sống từ cội nguồn truyền thống của quê hương đang có sự lan toả mạnh mẽ tới nhiều thế hệ.

Noi gương sáng Phùng Chí Kiên và ý thức rõ trách nhiệm của thế hệ cháu con, cán bộ, nhân dân Diễn Yên đang chung sức đồng lòng vượt qua khó khăn, trở ngại để xây dựng Diễn Yên thành đơn vị khá toàn diện của Diễn Châu. Nhằm thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, Diễn Yên đã có nghị quyết đúng trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cách nghĩ, cách làm, vươn lên nắm vững khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng - an ninh. Với quan điểm phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng bộ Diễn Yên luôn chú trọng đến nâng chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên, đồng thời chăm lo phát triển cả về số lượng. Từ một chi bộ ban đầu, đến nay Đảng bộ Diễn Yên đã có 22 chi bộ với gần 500 đảng viên. Đây chính là những hạt nhân làm nòng cốt trong mọi phong trào. Đảng bộ Diễn Yên đã sớm nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, quán triệt tới đảng viên và quần chúng, tạo điều kiện cho người dân phát huy khả năng vốn có, góp phần xây dựng quê hương. Trong chuyển đổi ruộng đất, Diễn Yên đã thực hiện "dồn điền đổi thửa" một cách hợp lý, tạo thuận lợi để xây dựng các mô hình trang trại, kết hợp chăn nuôi, trồng trọt, đem lại mức thu nhập từ 100 - 150 triệu đồng/hécta/năm. Toàn xã Diễn Yên có 215 hécta cá nước ngọt, là đơn vị dẫn đầu tỉnh Nghệ An về phong trào này. Việc nuôi cá nước ngọt giúp nhiều hộ dân Diễn Yên không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 15-16%. Diễn Yên đã xoá xong hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 11,4%. Kinh tế phát triển, người dân nơi đây có điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng. Các trường học, trạm xá đã được kiên cố hoá. Đường làng, ngõ xóm hầu hết đã rải nhựa, đổ bê tông. Chỉ tính trong 5 năm (2000-2005), Diễn Yên đã huy động 5.564,5 triệu đồng, trong đó nguồn lực từ nhân dân tới 80%.

Về Diễn Yên hôm nay mọi người đều cảm nhận rõ sự đổi thay từng ngày trên mảnh đất này. 100% hộ dân đã có nhà ngói, nhà cao tầng tiếp tục mọc lên. Điện, đường, trường, trạm đều được xây dựng theo hướng kiên cố bền vững. Chính trị ổn định, quốc phòng đảm bảo, tình làng nghĩa xóm đầm ấm, tươi vui. Một diện mạo nông thôn theo hướng đô thị hoá đang được hình thành trên mảnh đất này, mà ở đó luôn có sự toả sáng, có sự tiếp sức thần kỳ từ cội nguồn, từ truyền thống vùng đất thiêng với những tấm gương giàu nhiệt huyết cách mạng. Tư cách, phẩm chất, tinh thần, ý chí của Phùng Chí Kiên như một nguồn sinh lực vô biên luôn tiếp sức cho những người con quê hương Diễn Yên vững bước trên chặng đường dài trong sự nghiệp đổi mới quê hương, đất nước thời hội nhập. Phùng Chí Kiên đã hy sinh nhưng tấm gương của ông cứ mãi lung linh, ngời sáng trong lòng dân cả nước nói chung, Diễn Yên nói riêng. Diễn Yên xem đó là niềm tự hào, đồng thời là trách nhiệm lớn lao của mình đối với vị cách mạng tiền bối, người con yêu quý của quê hương. Khí phách, tâm hồn người chiến sĩ cộng sản ấy mãi mãi thanh cao với một sức sống mãnh liệt truyền lại cho muôn đời sau. Đó là một vầng trăng sáng có sức lan toả mạnh mẽ tới nhiều thế hệ. Gần đây, vào ngày 14 tháng 4 năm 2008, đồng chí Hồ Đức Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đại biểu quốc hội, đã về tiếp xúc cử tri Diễn Châu tại xã Diễn Yên và đến thăm nơi thờ cúng Phùng Chí Kiên. Đồng chí đã khẳng định và nhắc nhở cán bộ, nhân dân Diễn Yên phải phát huy truyền thống và học tập gương sáng Phùng Chí Kiên.

Giờ đây, sức sống từ gương sáng Phùng Chí Kiên như mạch nước ngầm vô tận tưới mát hồn quê yên bình trên mảnh đất này, đem niềm vui cho mọi nhà, mọi người. Đó là sức sống thanh cao, mãnh liệt, vĩnh hằng trong tâm thức người dân quê nhà để hướng tới một tương lai bền vững, tươi sáng. Một bước đi đầy triển vọng của vùng quê Diễn Yên - mảnh đất anh hùng nơi sinh thành, nuôi dưỡng Phùng Chí Kiên - ngôi sao sáng trên bầu trời cách mạng Việt Nam.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:59:05 pm »


DÒNG HỌ NGUYỄN Ở XÃ DIỄN YÊN,
HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

NGUYỄN VĂN NAM*

1. Nguyễn Vĩ, khi lên đường tham gia cách mạng đã lấy tên Phùng Chí Kiên, xuất thân trong một gia đình nông dân. Bố là Nguyễn Văn Khoản, mẹ là Trần Thị Cúc, ông bà sinh được bốn người con, ba trai, một gái gồm: Nguyễn Dốc, Nguyễn Nhị, Nguyễn Thị Loan và Nguyễn Vĩ".

Ông Nguyễn Dốc sinh được 7 người con gồm: Nguyễn Thị Hoạt, Nguyễn Văn Biền (đã hy sinh năm 1931), Nguyễn Văn Khôi (đã mất), Nguyễn Thị Toát, Nguyễn Thị Khoát, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Văn Việt (Thượng tá, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Quân khu 4, đã mất năm 2006).

Ông Nguyễn Nhị sinh được 3 người con gồm Nguyễn Thị Thừa (đã mất), Nguyễn Đức Dinh (đã mất), Nguyễn Thị Lam.

Nguyễn Thị Loan sinh được 1 con là Nguyễn Thị Lương (đã mất).

Nguyễn Vĩ (Phùng Chí Kiên) sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901, có vợ là Hoàng Thị Luận, đã sống trong gia đình được 7 năm, sau một thời gian chờ đợi không có tin tức của ông Kiên, gia đình đã cho bà đi lập gia đình, hàng năm bà vẫn đi lại với gia đình ông Kiên như con trong nhà và đã mất năm 1954, chưa có con. Nguyễn Vĩ được cha mẹ cho đi học sớm. Sau khi thi đỗ sơ học Yếu lược, gia đình gặp khó khăn. Nguyễn Vĩ đã phải nghỉ học để giúp cha mẹ làm ruộng. Đến năm 1925, ông lên ga Yên Lý để làm thuê cho một thương nhân Hoa kiều. Hàng tháng, Quan huyện và mật thám lại về gia đình tra hỏi. Bố mất, chỉ còn hai anh Nguyễn Dốc và Nguyễn Nhị. Chúng đã bắt Nguyễn Dốc đánh đập đủ mọi hình thức, sự việc cứ diễn ra hàng tháng như vậy. Chính vì thế, Nguyễn Vĩ thấy được sự bất công, ngang trái. Trong số những người quen biết, Nguyễn Vĩ đã gặp được đồng chí Lê Hữu Lập (người Thanh Hoá), dìu dắt, hướng dẫn. Năm 1926, Nguyễn Vĩ sang Quảng Châu (Trung Quốc), sau đó vào học Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Đông). Đến năm 1931, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu ông sang Liên Xô học. Năm 1934, ông trở về Trung Quốc. Sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao năm 1935, ông được cử vào Thường vụ Trung ương. Mùa Hạ năm 1937, ông về nước, đến cuối năm ấy ông lại sang Hồng Kông phụ trách liên lạc giữa Đảng và Quốc tế cộng sản. Cuộc Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5 năm 1941, cử ông về phụ trách chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn. Ông hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1941 lúc tuổi đời vừa mới 40.

2. Theo gia phả cũ bằng chữ Hán, cách đây hơn 400 trăm năm, cụ tổ Nguyễn Đình Sách cùng chú ruột là Nguyễn Đình Văn về định cư ở làng Đăng Xá, xã Tam Đăng, phủ Đức Thọ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, để tránh cảnh chiến tranh loạn lạc. Từ đó, dòng họ Nguyễn Đình lần lượt các đời phát triển và tồn tại đến ngày nay. Gồm các thế hệ:

1-   Nguyễn Đình Khoá.
2-   Nguyễn Đình Tuế.
3-   Nguyễn Đình Thục (Tri huyện).
4-   Nguyễn Đình Quán.
5-   Nguyễn Đình Du.
6-   Nguyễn Đình Tôn.
7-   Nguyễn Phúc Tường.
8-   Nguyễn Tôn Toàn (giữ chức chánh tổng).

Theo gia phả xưa để lại, cách đây 218 năm, anh thanh niên Nguyễn Đình Liêu theo đường thiên lý xưa qua Đồng Nu, cuốc bộ ra Thăng Long thăm cha. Trên đường về quê, vừa mệt, vừa đói, phải nghỉ lại ăn cơm ở quán hàng nhà bà họ Trần (gần cầu Sơn Tịnh ngày nay). Tiền trong túi chỉ còn 4 đồng, không đủ trả tiền cơm. Anh đành phải ở lại làm công phụ giúp gia đình bà chủ quán, chờ góp đủ tiền thanh toán và có tiền lộ phí tiếp tục về quê. Một hôm, đang ngồi nghỉ trong quán, các học trò thầy đồ Đinh Trọng Cảnh trên đường đi học về bàn tán bài thầy ra khó quá, người khách trọ đã làm thay. Thầy đồ Cảnh phát hiện bài làm không phải của học trò mình. Qua lời thú thật của chúng, thầy đồ khâm phục tài năng của người khách lạ. Ông thân hành đến gặp và bàn với bà chủ quán nuôi người khách đó và dạy cho con mình ăn học. Từ đó, vị thế khách trong nhà bà họ Trần như người thân. Sau một thời gian, bà hết lòng thương yêu mến phục, gả con gái thứ sáu của mình là Trần Thị Tương cho ông giáo trẻ Nguyễn Đình Liêu.

Thời đó, vào khoảng năm 1789, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên đường kéo quân ra Bắc đánh giặc Thanh đang dừng lại nghỉ chân tại Phượng Hoàng Trung Đô, đồng thời lấy thêm quân. Trong lúc em thứ ba còn nhỏ, em thứ hai đi vắng, anh trưởng là Nguyễn Tôn Giai phải sung quân thay. Trong khói lửa chiến tranh một mất một còn, ông đã bỏ mình nơi chiến trận và đã góp phần nên chiến thắng Đống Đa lịch sử năm đó. Tình nghĩa năm ấy, ân huệ ấy cả họ ghi lòng tạc dạ. Hàng năm, cứ vào ngày 25 tháng 8 họ đều tổ chức cúng giỗ cụ. Cũng thời gian đó, cụ Nguyễn Đình Liêu được thầy đồ Cử Cảnh dìu dắt đã đỗ khóa thi Hương. Sau đó, cụ về dạy học cho con cháu. Cụ đã sinh hạ được 4 người con.

Từ quê hương xa, bà thân mẫu Trịnh Thị Thiện ra thăm con cháu và mất tại làng Mỹ Quan. Cụ Nguyễn Đình Liêu ở lại chịu tang và chăm sóc phần mộ. Từ đó, ý định trở về quê không thực hiện được. Lại thêm vợ mất sớm, con còn nhỏ, cụ phải lấy vợ kế là Phạm Thị Điểm và sinh hạ được 3 người con. Về sau, cụ lấy thêm vợ lẽ là bà Lành, đã sinh được một người con trai nhưng không ở lại quê hương.

Cụ Nguyễn Đình Liêu chịu bao cảnh thiệt thòi, tiếng là dân ngụ cư, phải chịu sưu cao thuế nặng, mãi đến nửa đời người mới được nhập làng. Cụ sống có uy tín, là một vị thủ chỉ làng, mãi đến năm 86 tuổi mới về cõi Phật.

Để nhớ ơn cụ, năm 1908, các thế hệ thứ 3, thứ 4 và thứ 5 đã xây dựng nhà thờ, mãi đến năm 1928 mới hoàn chỉnh. Trong thời kỳ 1930-1931, nhà thờ họ đã có nhiều cuộc họp Đảng và đoàn thể. Hiện nay còn lại lớp hậu duệ của Nguyễn Trọng Dỡn và Nguyễn Trọng Diệm, phát triển truyền đời, cho đến nay bao gồm 8 ngành, 10 thế hệ. Phát huy truyền thống của tổ tiên, chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp lớn lao của dòng họ Nguyễn.

Tám người cháu quây quần ở trong một vùng đất, tự hào trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước trong những thời đại khác nhau. Trong thời kỳ Pháp thuộc, cụ Nguyễn Doãn Thấu đậu vị Hàn Lâm Hán Việt, đã từng đệ đơn lên triều Nguyễn xin miễn thuế cho dân gặp mất mùa. Cụ Nguyễn Khải, lúc làm lý trưởng, được phong "Cửu phẩm văn giai", cụ còn nạp thay sưu thuế cho con cháu đi làm ăn xa. Đặc biệt, ngày 5 tháng 9 năm 1930, có cuộc biểu tình lớn của 3 huyện: Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành tập trung tại đình làng Long An (xã Diễn Trường). Xuất phát từ nhà qua đường cái Đồng Nu, cả đoàn người vừa đi đến cây gia cống thì bị bọn lính dõng đàn áp, những người cầm cờ đi trước đều bị hy sinh. Ông Luyện Nhẫn là trưởng đoàn bị thương nặng, được Nguyễn Khải đưa về nhà mình chăm sóc và dưỡng thương một thời gian. Sau đó, Đảng bộ Yên Thành đón ông Nhẫn về cứu chữa. Đồng thời, ông Khải cũng đã nuôi, giúp đỡ bà Bùi Thị Hoan, là cháu ngoại của ông Nhẫn tiếp tục hoạt động ở địa phương. Trong thời gian từ 1920 đến 1926, những người Việt Nam yêu nước hoạt động ở hải ngoại chủ trương vận động thanh niên theo "Đường kách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1926, đồng chí Nguyễn Phong Hanh và Nguyễn Vĩ đã xuất dương theo tiếng gọi của cách mạng. Nguyễn Phong Hanh do không đủ sức khoẻ nên phải trở về. Trên đường trở về, ông bị giặc Pháp bắt giam tại nhà tù Côn Đảo và chết tại đó.

3. Trong cao trào Xôviết Nghệ Tĩnh, dòng họ Nguyễn đã có hàng trăm người tham gia đi biểu tình, mít tinh như Nguyễn Trúc Ấn, Nguyễn Đức Năng, Vũ Thị Mận, có người bị giặc Pháp bắn chết như Nguyễn Biền, Nguyễn Chỉ, Nguyễn Trọng Dũng... Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con cháu dòng họ Nguyễn đã đóng góp xứng đáng, đã có tới 21 liệt sĩ, hàng chục thương binh, bệnh binh, hàng chục cán bộ sĩ quan cấp úy, cấp tá, như: Đại tá Nguyễn Đức Năng, Hiệu trưởng Trường Đại học Công an; Thượng tá Nguyễn Việt, cháu gọi Nguyễn Vĩ là chú ruột; Trung tá Nguyễn Nhạ, Trung tá Nguyễn Bình...

Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng hoà bình, dòng họ Nguyễn đã vinh dự có 185 người con đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều người đã trở thành cán bộ trung cấp, cao cấp như: Nguyễn Bích - Phó Ban kinh tế Trung ương Đảng, Nguyễn Hồng - Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy... Con cháu dòng họ Nguyễn từ thế hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 8 làm nghề dạy học gồm 129 người, tiêu biểu như ông Nguyễn Trứ - thầy dạy tiếng Pháp và tiếng Việt, được phong chức Hàn lâm đại chiếu, Nguyễn Tố Như - giáo sư, tiến sĩ dạy toán quốc tế, Nguyễn Nhụy - phó giáo sư, tiến sĩ dạy Đại học Bách khoa Hà Nội... Gần đây, lớp trẻ con cháu dòng họ Nguyễn đã có nhiều học sinh giỏi gồm có 100 người đạt bằng cử nhân trở lên và năm 2005 được huyện công nhận dòng họ học giỏi. Các thế hệ con cháu ngày nay và mãi mãi về sau cần giữ gìn, bảo vệ, phát huy truyền thống các vị tiền bối nhằm góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
__________________________________
* Trường Trung học cơ sở Phùng Chí Kiên, xã Diễn Yên, Diễn Châu, Nghệ An.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:08:22 pm »


TỪ NGUYỄN VĨ ĐẾN PHÙNG CHÍ KIÊN

PGS NINH VIẾT GIAO*

Là con út của một gia đình có 4 con, Phùng Chí Kiên sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tên khai sinh là Nguyễn Vĩ.

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Mỹ Quan gọi là xã Mỹ Nao, cuối thế kỷ XIX mới gọi là xã Mỹ Quan. Nhưng rồi xã chỉ là trên danh nghĩa, bởi trước đó nhà Nguyễn đã lập cấp tổng, bỏ cấp xã, ba thôn: Thượng Thôn, Trung Thôn và Mỹ Lộc thôn trong xã Mỹ Quan trở thành đơn vị hành chính cơ sở. Theo bản điều tra của Công sứ An Tĩnh vào năm 1892, thì Thượng Thôn tức Mỹ Quan Thượng có 38 cử tri, Trung Thôn có 22 cử tri, còn Mỹ Lộc thôn có những 253 cử tri. Sau Cách mạng tháng Tám, Mỹ Lộc cắt về xã Diễn Mỹ, 2 làng Thượng Thôn và Trung Thôn nhập với xã Yên Lý thành xã Diễn Yên (xã Yên Lý cũ cũng có 3 thôn là Yên Lý Thượng, Yên Lý Đông và Yên Lý Ngoại).

Năm nào chưa rõ, Yên Lý Thượng có 5 xóm mang tên chữ là Mỹ Trung, Mỹ Hoà, Mỹ Nam, Mỹ Đông và Mỹ Bắc. Gia đình Nguyễn Vĩ ở Mỹ Nam. Sau đó, Yên Lý Thượng có 3 xóm: 1, 2, 3. Gia đình Nguyễn Vĩ ở xóm 3. Hiện nay Diễn Yên có diện tích 1521,37 hécta với dân số 14.614 người (tính đến hết ngày 31.12.2006), là một xã lớn, kinh tế khá phát triển, nhiều người học hành đỗ đạt, nhiều cán bộ, công chức nhà nước.

Mỹ Quan Thượng đầu thế kỷ XX, những ngày Nguyễn Vĩ sinh ra và lớn lên, tại quê hương có khoảng 80 hộ với số dân khoảng 500 người và ruộng đất khoảng gần 120 mẫu, song tập trung vào một số nhà khá giả. Tuy người các địa phương khác nói: "Đông Thành là mẹ là cha; đói cơm rách áo thì ra Đông Thành", song đa số nhân dân Đông Thành (Diễn Châu và Yên Thành) vẫn đói khổ. Dân làng Mỹ Quan Thượng cũng vậy, mặc dù bình quân mỗi người dân có khoảng 3 sào ruộng. Đa số nhân dân không có ruộng hoặc có vài sào, họ phải làm nghề phụ, cày rẽ ruộng, làm thuê và chạy vạy đây đó làm đủ nghề vặt để sống qua ngày.

Là con út trong một gia đình có 4 con, cha là Nguyễn Văn Khoản, mẹ là Trần Thị Cúc (ở làng Mỹ Lộc), anh cả là Nguyễn Dốc, sinh năm nào chưa rõ, chết năm 1947. Ông Nguyễn Dốc có 2 bà vợ. Bà cả là Hồ Thị Đai ở xã Hoàng Trường cũ, nay là Diễn Trường. Bà Đai sinh được 2 con là Nguyễn Thị Hoạt và Nguyễn Biểu. Nguyễn Biểu tham gia phong trào Xô-viết - Nghệ Tĩnh, bị Pháp giết ngay đầu năm 1931 tại quê nhà trong một trận càn, hiện có bằng Tổ quốc ghi công. Bà kế thất tên là Trần Thị Quyên, sinh được 2 trai 3 gái. Trai có Nguyễn Văn Việt đi bộ đội chống Pháp, sau về công tác ở Viện kiểm sát Quân khu 4.

Anh thứ hai là Nguyễn Nhị. Ông Nhị cũng có 2 bà. Bà cả là Nguyễn Thị Liên, người trong xã, sinh được 2 con: 1 gái, 1 trai. Trai là Nguyễn Đức Dinh, cũng đi bộ đội, có thời gian đã đến nghĩa trang Ngân Sơn tìm mộ đồng chí Phùng Chí Kiên. Bà cả qua đời, ông Nhị lấy bà kế thất tên là Chu Thị Nghĩa ở Hoàng Trường, sinh được 1 con gái là Nguyễn Thị Lam, làm ruộng.

Thứ ba là chị gái, tên Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1897, chồng người cùng làng, làm ruộng, sinh được 1 con.

Nguyễn Vĩ là con thứ 4, như trên đã nói sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901.

Thuộc loại trung nông kém, gia đình có hơn 1 mẫu ruộng với 1 căn nhà gỗ 4 gian và nuôi 1 con bò làm sức kéo. Ông Khoản có học ít nhiều chữ nho, có lều chõng vào Vinh dự khoa thi Hương năm nào thì chưa rõ, nhưng ông Khoản và bà Cúc vẫn cố gắng chắt chiu nuôi các con ăn học. Có thời gian, ông Khoản đón thầy về nuôi để dạy thêm chữ cho các con và các sĩ tử trong vùng. Vào đến kỳ Nhị thì trượt, ông về nhà làm ruộng, làm nghề dạy học và thầy thuốc. Làm thầy không đủ ăn, ông đi buôn sợi, buôn tơ về bán cho những dệt vải, dệt tơ lụa. Sau ông chuyển sang buôn bè, thường xuyên qua lại các sông Lam, sông Giăng. Thấy cá sông Giăng rất ngon, nhiều lần ông đã mua cá mát, cá rầm về kho tương cho các con và các em ăn. Ông Nguyễn Nhị cũng có học chữ Nho ít nhiều, nhưng chữ Nho vào buổi mạt thời, không còn thi cử gì nữa, ông học để biết đạo lý làm người, làm văn khế, cúng giỗ. Ông sống bằng nghề làm ruộng.

Nguyễn Vĩ (tức Phùng Chí Kiên), lúc nhỏ cũng có học chữ Nho, ít nhất ông đã học 7, 8 năm chữ Nho và như vậy đã học hết sơ học vấn tâm, ấu học ngũ ngôn thi, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Hiếu kinh, Nhất thiên tự (hoặc Tam thiên tự, Ngũ thiên tự) và đã qua Tứ thư, Ngũ kinh, Nam sử, Bắc sử,... Sống trong những năm phong trào Duy Tân đang sôi nổi, chắc ông cũng đã được học hoặc đọc "Hán tự tân thư" với những câu:

Ái quốc mạc vong tổ,
Ẩm hà đương tư nguyên.
Thực quả dương tư thụ,
Cựu sỉ dĩ nan vong...


Hoặc những câu:

Thiên địa anh khí,
Chung chi vi nhân.
Nhĩ mục thông minh,
Vi nan tử thân.
Tận ngã nghĩa vụ,
Vị chi quốc dân...


Chắc ông cũng đã nghe bài "Chiêu hồn nước" với những câu:

Chữ quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta.
Sách Âu Mỹ, sách Chi Na,
Chữ kia chữ nọ dịch ra tỏ tường...


Nên ông đã học thêm chữ quốc ngữ. Và khi trường Sơ học tiểu học Pháp Việt (école élémentaire) mở ở tổng Hoàng Trường (phải sau 1917) ông được vào học và sau ít năm ông đậu bằng Sơ học yêu lược1.

Được đi học, nhưng vẫn là con nhà Nho bình dân, cuộc sống không dư giả, vất vả là khác, nên tuổi nhỏ ông vẫn phải làm việc vặt trong gia đình, đi chăn bò, cắt cỏ, và lớn lên vẫn phải làm nghề nông như làm cỏ, bón phân cho đồng ruộng, v.v...

Vốn là người thông minh, có chí, ham học hỏi, nên ngoài thời gian học chữ Nho, học chữ Quốc ngữ, đi chăn bò, cắt cỏ và làm các công việc khác của gia đình,... Nguyễn Vĩ thường lân la đánh bạn với một số người trong vùng có chí hướng để đến các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX nghe lỏm chuyện thời thế, chuyện về cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; về ông Cường Để,... Thấy con hay vắng nhà, năm Nguyễn Vĩ 16 tuổi, gia đình cưới cho một cô vợ với ý định sẽ ràng chân Nguyễn Vĩ, không cho ông "lêu lổng" đó đây, ở nhà chăm việc học hành và đồng áng. Cô vợ tên là Nguyễn Thị Luận ở làng Mỹ Lộc (thuộc xã Mỹ Quan cũ, nay thuộc xã Diễn Mỹ) là người nết na, có duyên, cần cù,... Nhưng "thê nhi" đâu có buộc được "cánh chim bằng", có vợ rồi, Nguyễn ‘Vĩ vẫn đi học, vẫn lao động với gia đình và vẫn giao du với bạn bè. Thương con gái nhà người ta, cưới về làm dâu nhà mình, thấy con trai không đằm thắm, lơ là việc chăn gối (lơ là việc chăn gối vì Nguyễn Vĩ đang đeo đuổi chí nam nhi), ông bà Nguyễn Văn Khoản cho cô Nguyễn Thị Luận về ở với cha mẹ đẻ. Bảy năm sau, cô Luận mới rời nhà ông Khoản. Kết duyên với một người đàn ông khác, có con rồi, song thỉnh thoảng, cô vẫn qua lại thăm gia đình ông Khoản.

Ngoài 20 tuổi, năm 1922, 1923, Nguyễn Vĩ vào cầu Bùng làm thuê mà chủ yếu là ghi chép sổ sách cho một thương nhân buôn gạo ở phố cầu Bùng. Sau đó anh ra ga Yên Lý làm thuê cho một thương nhân Hoa kiều khác (làm nghề kinh doanh thuốc Bắc?).

Đã thấy bao cảnh ngang trái bất công ở làng xã, ở phố Cầu Bùng, rồi ở ga Yên Lý. Tại ga Yên Lý, anh gặp một trí thức tiến bộ là Nguyễn Năng Tựu ở Nghi Lộc và Lê Hữu Lập (tức Hoàng Lùn) quê Thanh Hoá. Các trí thức này đã giác ngộ, dìu dắt, giúp đỡ ông, đưa ông vào con đường cứu nước và năm 1926 thì xuất dương sang Quảng Châu, Trung Quốc, dự lớp huấn luyện do Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức. Có người nói, cái tên Phùng Chí Kiên do Bác Hồ đặt cho, có người nói do Lê Hữu Lập đặt cho. Phùng là gặp, Phùng là Phùng Giang tức sông Bùng ở Diễn Châu, Chí là chí khí, Kiên là kiên định, vững vàng. Cái tên này nói Nguyễn Vĩ người sông Bùng đã gặp cách mạng phải giữ ý chí của mình cho kiên định, cho vững vàng.
___________________________________
* Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Nghệ An.
1. Về việc đi học chữ Quốc ngữ và đậu bằng Sơ học yếu lược của Nguyễn Vĩ, chúng tôi cho là phải sau 1917. Vì ngày 21 tháng 12 năm 1917, Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương mới ký ban hành bộ "Học chính tổng quy" quy định công cuộc giáo dục ở Việt Nam. Năm sau thi hành thì mới có các hệ tiểu học, trung học... Hệ tiểu học có trường Tiểu học bị thể (école primaire de plein exercices) gồm 5 lớp mở các huyện tỉnh và Trường Sơ đẳng tiểu học (école élémentraire) mở ở các làng xã, thường gồm 3 lớp. Tốt nghiệp trường này thường được nhận bằng Sơ học yếu lược. Phải năm 1918, Nguyễn Vĩ mới vào học trường tổng và năm 1921 mới tốt nghiệp Sơ học yếu lược. Lúc đó, ông đã 20 tuổi, có học đến đó và có thi hay không còn cần phải nghiên cứu cụ thể thêm. Nhưng gia đình nói ông đậu Sơ học yếu lược, xin hãy ghi như vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12137



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:09:22 pm »


*

*          *

Như vậy, tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, Nguyễn Vĩ sống trọn vẹn trong 25 năm đầu thế kỷ XX ở quê nhà. Trong phần tư thế kỷ ấy, xã hội ta, nhân dân ta, nhất là những con người xứ Nghệ đã chứng kiến:

1. Sau thất bại của phong trào Cần Vương, những cuộc khởi nghĩa theo lý tưởng tôn quân gần như vắng bóng. Các sĩ phu yêu nước nhiều người bỏ quan lui về vui thú điền viên, để giữ gìn tiết tháo của mình, nhiều người làm thầy đồ, thầy thuốc bắc, thầy địa lý,... để kiếm sống qua ngày. Nông dân trở lại với gồng gánh trên vai,... Trống mõ Cần Vương thôi rộn rã, song trong tâm can những sĩ phu và những người dân chân chính, lòng yêu nước, chí phục quốc vẫn sôi sục. Xóm thôn im lìm, nhiều người lặng lẽ, uất ức và đau buồn khôn nguôi vì thời thế, vì nhân tình trước cảnh giang sơn thay thầy đổi chủ.

2. Sự khai thác của thực dân Pháp: Có hàng trăm thứ thuế và luôn tăng cao; ruộng đất bị cướp đoạt để làm đồn điền, tài nguyên tự nhiên bị vơ vét,... Người dân luôn phải đi phu đắp đường, nạo vét các dòng sông. Đô thị và các nhà máy được lập nên. Giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản ra đời. Chính quyền của Nam triều phong kiến và hệ thống quan lại trở thành bù nhìn, tay sai. Một lớp quan chức mới ra đời. Bọn chúng múa may quay cuồng, nhiều kẻ tâng bốc, xu nịnh, tỏ lòng trung thành với chủ mới để bóc lột người dân. Người dân nhục nhã dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, nặng nề bởi luôn phải đi phu, đi lính và còm cõi bị bóc lột, bị chửi rủa, bị bần cùng, bị đánh đập bởi bọn cường hào, bọn địa chủ. Một không khí ngột ngạt bao trùm khắp làng xã Việt Nam, làng xã xứ Nghệ, làng xã Diễn Châu.

3. Giữa lúc sĩ phu đang bế tắc về đường lối cứu nước thì đầu thế kỷ XX, những năm Nguyễn Vĩ ra đời và bước đầu lớn khôn, thì ánh sáng của Tân thư lan tới; các sách của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Đàm Tử Đồng,... mảng tư tưởng của Rousseau, Montesquieu, Diderot,... tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào Việt Nam. Rồi khí thế cả nước Trung Hoa đang sục sôi trong cuộc vận động cải cách cũng vọng sang. Trí thức Việt Nam, trí thức Nghệ An nhìn thấy xa xa, tại hòn đảo Phù Tang (Nhật Bản) một hình ảnh tươi đẹp cho đất nước mình. Họ dò hỏi mong ngóng, rồi lân la tìm hiểu. Và khi đã hiểu, họ âm thầm bắt liên lạc với nhau, trao đổi với nhau. Người tiên tiến, xuất sắc, nhạy bén trong tiếp cận cái mới, tiếp cận văn hoá của phương Tây và nhiệt huyết tìm con đường cứu nước như Tân thư, như Nhật Bản là Phan Bội Châu.

4. Quán triệt Tân thư, Phan Bội Châu ra Bắc vào Nam gặp gỡ các bạn tâm giao; đến tháng 4 năm 1904 thì cùng với các đồng chí lập ra Hội Duy Tân tại Quảng Nam. Hội Duy Tân ra đời, trí thức Nghệ An nhiều người tham gia. Đầu 1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính nhận trọng trách của Hội sang Nhật cầu viện, cầu viện không được thì cầu học. Thế là phong trào Đông Du nổi lên. Bao thanh niên đã bỏ nghề cử tử, rời quê hương, qua nước ngoài du học để nâng cao dân trí, dân khí, nhất là học thông các nghề kỹ xảo để trù liệu việc đánh Tây. Gần 200 học sinh Việt Nam, trong đó Nghệ An có 32 người, đã Đông Du theo tiếng gọi của Phan Bội Châu. Ngoài Phan Bội Châu, chắc những người như Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu), Nguyễn Thức Đường (Trần Hữu Lực), Đặng Thúc Hứa, Trần Đông Phong, Hồ Học Lãm, Hồ Bá Kiện, Bùi Chính Lộ, Lưu Yến Đan,... Nguyễn Vĩ có nghe và chắc cũng thôi thúc trong lòng ông tinh thần tìm đường cứu nước.

Ấy là mới kể những người Đông Du, những người khác như Đặng Nguyên Cẩn đã cùng với Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá,... thành lập "Triêu Dương thương quán" ở Vinh để tập trung những phần tử ôn hoà. Họ tuyên truyền tư tưởng ái quốc bằng lời nói, bằng thơ văn; đồng thời xây dựng cơ sở tài chính cho cách mạng, trước mắt là "làm tiền" để giúp đỡ thanh niên xuất dương ăn học. Một số khác, những phần tử kịch liệt như Đặng Thái Thân, Ngô Quảng, Đội Quyên, Đội Phấn, Long Sơn,... đã dựng một cái đồn tại Bố Lư trong một khu rừng rậm rạp, hẻo lánh ở miền Tây huyện Thanh Chương để làm sào huyệt, làm căn cứ, đặng tập hợp vây cánh để mưu đồ việc võ trang.

Ngoài ra, hội viên của Hội Duy Tân còn "nã súng tấn công" vào chế độ khoa cử. Họ đả kích lối học "chi, hồ, giả, dã,..." và những kiến thức từ chương quá lạc hậu. Họ tuyên truyền thực học như học toán, học lý, học đóng tàu thủy, hoả xa, chế súng đạn, v.v..., để dân được cậy, nước được nhờ. Họ "đánh" vào hủ tục, kêu gọi bỏ thói xôi thịt, kêu gọi dùng hàng nội hoá, giương cao ngọn cờ chống sưu thuế nặng nề, v.v...

Tất cả những hoạt động đó của Hội Duy Tân tại Nghệ An, tại Diễn Châu có lẽ Nguyễn Vĩ đều biết, đều nghe và ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần muốn làm một cái gì đó để cứu nước, cứu dân đã âm ỉ trong ông ở thuở thiếu thời.

Ấy là chưa kể, Diễn Châu là một trong những địa bàn hoạt động của Hội Duy Tân. Một số làng xã ở Diễn Châu đã có đội nghĩa binh của Hội Duy Tân, Phong trào Duy Tân đã kích thích người dân lập phe hộ chống phe hào để chống bọn hào lý, địa chủ cường hào trong thôn xã mà bấy lâu chúng đã phù thu lạm bổ, vơ vét công quỹ và bao chiếm công điền, v.v... Phe hộ chống phe hào bằng nhiều hình thức, song chủ yếu dựa vào pháp lý công khai, tức đi kiện. Từ 1905 đến 1929, tại Diễn Châu, qua sơ bộ tìm hiểu có 19 vụ nhân dân lập phe hộ chống phe hào. Nổi bật nhất là vào năm 1917, dân hộ làng Đông Tháp (Diễn Hồng) kiện hào lý chiếm 92 mẫu công điền toàn loại thượng đẳng điền. Năm 1920, dân hộ làng Yên Lý đã kiện bọn hào lý về tội tham nhũng. Ngay tại xã Mỹ Quan, năm 1922, dân hộ làng Mỹ Lộc đã kiện bọn hào lý đòi chia lại 70 mẫu ruộng đất công, v.v... Hình thức đấu tranh tự phát nhất thời mang tinh thần dân chủ và tính giai cấp ấy, chắc ít nhiều đã cho Nguyễn Vĩ thấy được mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ và sức mạnh của nông dân khi đoàn kết.

Ở Diễn Châu, vào những năm 1921, 1922, một nhóm thanh niên có học vấn và thức thời ở vùng cầu Bùng, Yên Lý, Hoàng Trường đã lập nhóm đọc sách báo để hiểu thời thế và tuyên truyền, cổ động tinh thần yêu nước trong nhân dân. Chắc Nguyễn Vĩ cũng trong nhóm đó, nên tối nào cũng đi, không nghĩ đến cô vợ đang còn son trẻ nằm một mình ở nhà.

Như vậy, tuổi trẻ của Nguyễn Vĩ đã chứng kiến, đã tiếp nhận bao sự kiện lịch sử - xã hội diễn ra trên đất nước và tại quê hương. Những sự kiện lịch sử - xã hội ấy đã hun đúc trong tâm hồn, tư tưởng Nguyễn Vĩ bao suy tư về thế cuộc, về nhân tình. Là một thanh niên yêu nước, lại thông thái về chữ Hán và chữ Quốc ngữ (so với người lúc bấy giờ), Nguyễn Vĩ đặt bao dấu hỏi về bản thân đối với đất nước, với tương lai trước thời sự nóng hổi như vậy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM