Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2021, 07:56:58 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5  (Đọc 197 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 04:47:37 pm »

- Tên sách: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia - Sự thật
- Năm xuất bản: 2015
- Người thực hiện: giangtvx, quansuvn


CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

Thiếu tướng, PGS.TS. VŨ QUANG ĐẠO

Đại tá, PGS.TS. TRẦN NGỌC LONG

Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG


CHỦ BIÊN

Đại tá, PGS.TS. LÊ ĐÌNH SỸ


TÁC GIẢ

Thiếu tướng, PGS.TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG

Đại tá, PGS.TS. LÊ ĐÌNH SỸ

Đại tá, TS. LÊ VĂN THÁI


HOÀN THIỆN BẢN THẢO

Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG
 


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Nằm ở Đông Nam châu Á, vừa gắn liền với lục địa, vừa thông rộng với đại dương, từ rất sớm Việt Nam đã trở thành đối tượng nhòm ngó của các thế lực ngoại xâm đến từ nhiều phía. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với nhiều đội quân xâm lược lớn mạnh. Dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành quy luật sinh tồn và phát triển của dân tộc, một đặc điểm hằng xuyên của văn hóa Việt Nam. Trải qua các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, từ rất sớm, tư duy, tư tưởng quân sự Việt Nam đã xuất hiện và ngày càng phát triển, hoàn thiện với nội dung phong phú, sâu sắc. Cùng với quá trình đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam cũng hình thành, phát triển, trở thành một bộ phận hữu cơ quan trọng của lịch sử tư tưởng Việt Nam.


Nghiên cứu những giá trị tiêu biểu của lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, rút ra những vấn đề có tính quy luật, những bài học kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.


Tổng luận là tập cuối cùng của bộ sách Lịch sử tư tưởng quẫn sự Việt Nam, gồm 5 tập. Dựa trên thành quả nghiên cứu của bốn tập sách viết về lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam qua các giai đoạn, cuốn sách tập trung trình bày và làm rõ hệ giá trị nền tảng và những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Việt Nam từ khởi nguồn đến năm 1975.


Cuốn sách là một công trình khoa học có giá trị giúp cho độc giả hiểu được một cách khái quát và có hệ thống những giá trị truyền thống của tư tưởng quân sự Việt Nam, đồng thời cung cấp cho các nhà quân sự Việt Nam cũng như các nhà hoạch định chính sách những cứ liệu khoa học để xây dựng chiến lược quân sự - quốc phòng thích hợp cho công cuộc phòng thủ, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tuy các tác giả đã rất cố gắng, nhưng cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với đông đảo độc giả.


Tháng 7 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 07:58:21 pm »

MỞ ĐẦU


Trong tiến trình lịch sử hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã bao lần phải chiến đấu với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn gấp nhiều lần để giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Dựng nước đi đôi với giữ nước trở thành quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Trên hành trình lịch sử nhiều gian nan thử thách đó, đã hình thành nên truyền thống quân sự của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam. Những tư tưởng định hướng cho nền quân sự Việt Nam quan hệ chặt chẽ với những tư tưởng định hướng cho sự phát triển của toàn thể dân tộc trong từng thời kỳ. Mục đích của nền quân sự Việt Nam không phải chiến tranh và chiến công, mà là hòa bình và phát triển - tư tưởng quân sự Việt Nam, vì thế, phản ánh tính cách của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, nhưng đầy tinh thần tự tôn dân tộc và lòng yêu nước mãnh liệt. Cũng vì mối liên hệ đặc biệt giữa lĩnh vực quân sự với mọi lĩnh vực khác của quốc gia, trong thời bình cũng như trong thời chiến, những nhà tư tưởng quân sự Việt Nam đồng thời là những nhà chính trị kiệt xuất. Lịch sử cổ - trung đại Việt Nam đã sinh ra biết bao nhà quân sự xuất chúng, với những quan điểm tư tưởng quân sự tiến bộ, như Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ... Kế thừa truyền thống thượng võ của dân tộc và tiếp thu những tư tưởng mới của thời đạị, trong thời kỳ cận - hiện đại, tư tưởng quân sự Việt Nam tiếp tục có bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là từ khi có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tổng luận khái quát, rút ra những vấn đề chung nhất, có tính quy luật, xuyên suốt tiến trình lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, trong đó tập trung trình bày những quan điểm tư tưởng tiêu biểu, tiến bộ, được biểu hiện chủ yếu trên các phương diện sau đây:

- Những giá trị truyền thống yêu nước, tư tưởng đấu tranh vì độc lập tự do, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

- Tư tưởng khởi nghĩa vũ trang.

- Tư tưởng chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

- Tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương và tư tưởng quốc phòng.

- Tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang.

- Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.


Những vấn đề trên tuy không thể bao hàm được toàn bộ lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam qua các thời đại, nhưng đó là những nội dung quan trọng, nổi bật nhất, được trình bày khái quát theo tiến trình lịch sử, để từ đó rút ra những kết luận, những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:01:17 pm »

Chương I
NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, ĐẤU TRANH VÌ ĐỘC LẬP TƯ DO, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ[/size]


Trên dặm dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dựng nước luôn đi đôi với giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua những thử thách khốc liệt, những biến động dữ dội và đã anh dũng vượt qua bằng tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, bằng trí tuệ và ý chí kiên cường, bằng sức mạnh cố kết và viết nên những trang sử oanh liệt. Hàng nghìn năm lao động quên mình và chiến đấu chống mọi kẻ thù đã trui rèn bản lĩnh con Lạc cháu Hồng, hun đúc nên những phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, hình thành và bồi tụ thành truyền thống rất đáng tự hào của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đấu tranh vì độc lập tự do, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam cũng nảy sinh và phát triển trong quá trình chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước. Lòng yêu nước, ý chí độc lập tự do, tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược là cội nguồn tư tưởng quân sự và cũng là một nội dung xuyên suốt, cốt lõi của tư tưởng quân sự Việt Nam.


I- SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, Ý THỨC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN DÂN TỘC TỪ BUỔI ĐẦU GIỮ NƯỚC ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX

Cũng như các dân tộc khác, tổ tiên dân tộc Việt Nam xưa kia bắt đầu cuộc sống của mình bằng những bước đi chập chững trong một thời kỳ dài của thời đại công cụ bằng đá và chế độ công xã nguyên thủy. Nước Văn Lang ra đời trên nền tảng của sức sản xuất bấy giờ đã tương đối phát triển, với kết cấu chính trị - xã hội khá bền chặt. Từ đó, bắt đầu một thời đại mới trong lịch sử Việt Nam: thời đại các Vua Hùng dựng nước. Quan sát những trống đồng cổ - thành tựu nổi bật của văn hóa Đông Sơn thời đại các vua Hùng, có thể nhận thấy ánh lên từ những họa tiết trang trí trên mặt trống, ở tang trống cảnh làm ăn sinh động thấm đẫm sự hòa đồng mộc mạc, sự cố kết bền chặt của cư dân thời đó.


Nhưng vừa dựng nước thì nhân dân Việt Nam đã phải liên tiếp đương đầu với nhiều mối đe dọa từ bên ngoài. Truyền thuyết về cậu bé làng Phù Đổng vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân là câu chuyện đánh giặc giữ nước đượm màu thần thoại. Nhưng có cái cốt lõi lịch sử của nó, thể hiện tinh thần và ý chí quyết tâm chống ngoại xâm của người Việt cổ, trong đó nổi bật lên chiến công của con em những người dân thường, được minh họa trong thành phần đội quân của Gióng từ những người nông dân cầm vồ, người đánh cá vác cần câu, kẻ mục đồng cầm khăng cưỡi trâu trên đồng ruộng... "Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn, đằng vân do hận cửu thiên đê" (Ba tuổi đánh giặc vẫn lo là muộn, cưỡi mây còn hận chín tầng trời là thấp). Đó là tinh thần, là ý chí, là khí phách của người Việt xưa.


Tiếp nối quá trình và những thành quả lao động, đấu tranh của các tầng lớp cư dân hàng nghìn năm về trước, thế hệ người Việt thời Hùng Vương - An Dương Vương đã lao động và đấu tranh bền bỉ, sáng tạo, xây dựng nên cơ đồ của đất nước với sự hình thành ngày càng rõ nét bản sắc văn hóa cùng bản sắc chính trị của mình, từ đó đặt định và phát triển những giá trị văn minh của một dân tộc thống nhất. Cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III tr.CN) đã được sử sách ghi chép lại là cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, mà kẻ đại diện là thế lực phong kiến Tần Thủy Hoàng, một đế chế lớn mạnh nhất thời đó. Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân Văn Lang - Âu Lạc đã ghi vào lịch sử trang mở đầu về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sử chép rằng, trước sự tiến công mạnh mẽ của quân Tần, người Việt đều trốn vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt, không hợp tác với giặc, "đêm đêm ra đánh quân Tần". Người Việt tập hợp nhau lại, "cử người kiệt tuấn lên làm tướng", kiên trì cuộc chiến đấu lâu dài, dùng lối đánh du kích "ngày ẩn đêm hiện", nhằm tiêu hao quân giặc, triệt đường lương thảo của chúng. Quân Tần "đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong", chúng ngày càng nguy khốn và tuyệt vọng, nhiều quân lính và phu chuyên chở tự vẫn. Sau mười năm, quân Tần đại bại, nhà Tần buộc phải bãi binh (năm 208 tr.CN).


Như vậy, từ rất sớm, người Việt đã có ý thức về địa bàn cư trú, về cương vực lãnh thổ nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng mình - đây chính là những tiền đề căn bản cho sự hình thành ý thức dân tộc. Cuộc đấu tranh kiên cường chống lại hiểm họa xâm lược - thôn tính của các thế lực mạnh hơn đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng - xã hội phải liên kết, đồng lòng hợp sức với nhau để có đủ sức đánh bại cuộc tiến công xâm lược của kẻ thù, và chính trong quá trình đấu tranh ấy mà bản sắc của cộng đồng ra đời. Từ thế kỷ III tr.CN, vừa dựng nước, nhân dân Việt cổ đã phải đứng lên chống ngoại xâm để giữ nước. Sự gắn bó với lãnh thổ, với địa bàn cư trú dần dần phát triển thành lòng yêu nước, ý thức cộng đồng quốc gia, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và tư duy quân sự của dân tộc Việt Nam. Đó là cơ sở để nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi đầu tiên trong tiến trình lịch sử đấu tranh giữ nước của mình.


Đánh thắng giặc ngoại xâm, An Dương Vương kế tục Hùng Vương lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước, Cổ Loa trở thành kinh đô nước Âu Lạc với tòa thành lớn, vừa là trung tâm chính trị vừa là căn cứ quân sự kiên cố. Trong suốt hơn 10 thế kỷ sau đó, truyền thống đô thị - thành trì, trung tâm chính trị - kinh tế cũng là trung tâm quân sự, vua cũng là chỉ huy tối cao này sẽ là đặc trưng của nền chính trị Việt Nam thời đó. Quân đội Âu Lạc được trang bị những vũ khí tinh xảo (nỏ Liên Châu) để bảo vệ kinh thành. Thành Cổ Loa với nhiều vòng thành vững chãi hình xoáy ốc và nỏ Liên Châu có uy lực sát thương lớn là mẫu mực của sự sáng tạo và tư duy quân sự độc đáo của người Việt cổ. Quân đội và nhân dân Âu Lạc đã chiến đấu anh dũng, nhiều lần đẩy lùi cuộc tiến công của quân xâm lược. Dẫu cuộc kháng chiến chống quân Triệu Đà xâm lược bị thất bại, nhưng ý thức quốc phòng, ý thức bảo vệ kinh đô của triều đình và ý chí chiến đấu của quân dân Âu Lạc đã phát triển một bước. Hai cuộc kháng chiến giữ nước đầu tiên thời Hùng Vương - An Dương Vương chứng tỏ ý thức cộng đồng, ý thức quốc gia - lãnh thổ của người dân sống trong cương vực Việt cổ đã xuất hiện, phát triển và chủ nhân của những chiếc trống đồng Đông Sơn đã rút ra được nhiều bài học cho mình.


Từ thế kỷ II trước Công nguyên, nước Việt Nam rơi vào thảm họa bị phong kiến phương Bắc qua nhiều triều đại như Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy và Đường đô hộ. Đây là thời kỳ lịch sử đen tối, đầy thử thách đối với sự mất còn của giống nòi, của dân tộc. Kẻ thù vơ vét, bóc lột nhân dân và thực hiện nhiều thủ đoạn, biện pháp tàn độc hòng triệt tiêu văn hóa, lối sống của người Việt: xóa tên nước, chia Âu Lạc thành quận huyện, sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc; phá trống đồng, hủy hoại di sản văn hóa dân tộc; bắt dân Việt phải thay đổi phong tục tập quán, tuân theo pháp luật và lễ giáo của phong kiến phương Bắc...


Nhưng ngọn lửa hỏa ngục của các triều đại phía Bắc đã không thể thiêu cháy được văn hóa Việt; không khuất phục được ý chí cưỡng chống, đấu tranh của lớp lớp người Việt Nam. Trên thực tế chính trong thời gian mất nước kéo dài hơn một nghìn năm này, những cộng đồng người Việt cổ đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ đấu tranh bảo tồn lối sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa lâu đời, quyết giành bằng được nền độc lập tự chủ.


Thuở ấy, người Việt mất nước nhưng ở khắp các bản làng vẫn bảo tồn được các giá trị truyền thống của dân tộc. Bám vào làng xã, đoàn kết đùm bọc lấy nhau, người Việt đã đấu tranh hiệu quả chống lại chính sách nô dịch và đồng hóa của người Hán. Trong các làng xã, nhân dân vẫn giữ được cốt cách làm ăn và phong tục tập quán riêng; không chỉ bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống, mà còn tiếp thu có chọn lọc những yếu tố văn hóa ngoại nhập phù hợp với cuộc sống của mình và liên kết với nhau trong cuộc đấu tranh giành lại đất nước. Chính quyền đô hộ không thể can thiệp hoặc làm thay đổi được đời sống chính trị - xã hội ở làng của người Việt. Cũng dựa vào tổ chức làng xã, người Việt duy trì và phát triển sản xuất. Nhờ vậy, nền kinh tế vẫn có những bước phát triển. Những thành quả đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa làm tăng thêm sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu đánh đổ ách thống trị ngoại bang, giành lại chủ quyền dân tộc.


Người Việt đầu tiên chống lại ách đô hộ của Nam Việt là Tây Vu Vương - một thủ lĩnh thuộc dòng dõi quý tộc Âu Lạc cũ ở vùng Tây Vu (Cổ Loa). Tuy nhiên, do lực lượng yếu hơn, nên cuộc khởi nghĩa ở Giao Chỉ bị viên Tả tướng nhà Triệu là Hoàng Đồng đem quân dập tắt. Cuộc khởi nghĩa này chứng tỏ phần nào cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc của nhân dân Việt Nam diễn ra từ rất sớm.


Trong những năm đầu công nguyên, nhà Hán thống trị Âu Lạc. Chính sách nô dịch và đồng hóa của triều đình phong kiến Đông Hán đã xô đẩy nhân dân Âu Lạc vào cảnh ngộ lầm than không kể xiết; mâu thuẫn dân tộc càng mạnh mẽ hơn. Phong trào nổi dậy của nhân dân Việt Nam nổ ra khắp nơi, mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa Xuân năm 40 với lời thề "Đền nợ nước, trả thù nhà". Khởi nghĩa Hai Bà Trưng với khí thế vùng dậy mãnh liệt, đã lật đổ nền thống trị của nhà Đông Hán đang lúc cường thịnh, khôi phục nền tự chủ, cả những người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Cuộc khởi nghĩa toàn dân rộng lớn này để lại biết bao tấm gương cảm động. Nhiều gia đình hầu như cả nhà cùng đánh giặc: ba mẹ con bà Man Thiện, năm mẹ con bà Lê Thị Hoa (Thanh Hóa), vợ chồng Phương Dung - Đào Kỳ và ba anh em họ Đào (Hà Nội), hai chị em Nguyệt Thai - Nguyệt Độ (Nam Định), V.V.. Nhiều nữ tướng đại diện cho phụ nữ Việt thuở đó đã chiến đấu dưới ngọn cờ khởi nghĩa Hai Bà. Các thủ lĩnh địa phương cũng tham gia đông đảo đã phần nào cho thấy sự liên kết rộng lớn về mặt chính trị giữa các vùng trong ranh giới Việt cổ. Tuy nhiên, để mối liên kết này trở thành một quyền lực tập trung thì phải trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Dẫu sao, cuộc khởi nghĩa vẫn là sự nối tiếp và phát triển tinh thần độc lập tự chủ, tiêu biểu cho ý chí chính trị của dân tộc; đó là kết quả của sự thức tỉnh dân tộc trong cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm lúc công khai của người Việt cổ. Đó là thắng lợi của phong trào nổi dậy của toàn dân dưới sự lãnh đạo của hai vị nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:02:21 pm »

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã gây nên một chấn động lớn cả trong và ngoài cộng đồng người Việt cổ, khiến triều đình Hán Quang Vũ rất lo lắng và cử Phục Ba tướng quân Mã Viện đưa đại quân sang xâm lược đất nước của Trưng vương. Sau hơn hai năm, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị thất bại. Hai Bà Trưng và nhiều tướng sĩ nghĩa quân đã chiến đấu và hy sinh anh dũng tại Cổ Loa, Lãng Bạc, Cấm Khê. Cuộc chiến ở Cấm Khê đã đi vào lịch sử dân tộc như một trận đánh cuối cùng của hai vị nữ anh hùng dân tộc. Đó là một trận đánh lớn, trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, nó làm sáng ngời truyền thống dân tộc: thà chết chứ không làm nô lệ, không chịu khom lưng, quỳ gối trước quân xâm lược, tất cả vì nền độc lập tự chủ. Sự nghiệp của Hai Bà Trưng chứng minh hùng hồn, tập trung bước phát triển mới của tinh thần dân tộc Việt Nam. Tinh thần và ý chí đó là sản phẩm của một quá trình lịch sử lâu dài, kết tinh của nền văn minh sông Hồng trong thời đại dựng nước và trước thảm họa mất nước, nó bùng lên thành sức mạnh quật khởi của nhân dân. Hai Bà Trưng đã để lại tấm gương bất khuất cho muôn đời sau.


Tiếp nối truyền thống Hai Bà Trưng, năm 248, Triệu Thị Trinh lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa ở Cửu Chân (vùng Thanh Hóa). Cuộc khởi nghĩa lan rộng vào Cửu Đức, Nhật Nam và ra tận Giao Chỉ, khiến cho "toàn thể Giao Châu chấn động, thứ sử Giao Châu mất tích". Các thế hệ người Việt Nam luôn truyền nhau câu nói nổi tiếng đầy khí phách tương truyền là của Bà Triệu phát ra từ núi Nưa: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta". Đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, mạnh nhất và rộng lớn nhất và "là đỉnh cao của phong trào nhăn dân thế kỷ II-III, nổ ra ngay trong thời kỳ mà bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị trên đất nước Việt Nam và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa của chúng"1 (Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, t.I, tr.109). Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh của người con gái kiên trinh bất khuất, người phụ nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng "giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ" vẫn muôn thuở không phai mờ trong tâm trí người Việt Nam.


Các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Bà Triệu là sự phản chiếu của một giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành các giá trị dân tộc, đặc biệt là biểu trưng cho khí phách dân tộc, cho tư tưởng, ý chí quật cường, quyết tâm đánh giặc, giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Hình ảnh của các bà lẫm liệt, hiên ngang trên mình voi chiến, chỉ huy nghĩa quân đánh giặc đã trở thành một biểu tượng chính trị - văn hóa trong tâm trí người Việt Nam, biểu tượng của tinh thần yêu nước, của khát vọng độc lập tự do, và của ý chí chính trị không gì và không bao giờ lay chuyển được, là tư tưởng quyết tâm giành lại độc lập và giữ gìn đất nước của tổ tiên.


Từ đó, các cuộc khởi nghĩa nổ ra ngày càng nhiều với quy mô và hiệu quả càng lớn. Lý Bí đánh tan quân Lương, lập ra nước Vạn Xuân, tự xưng là Nam Đế (vua nước Nam). Ông là người Việt đầu tiên xưng đế, "Việt đế" theo sử Trung Quốc hay "Nam Việt đế" theo sử nước Việt Nam. Xưng đế, định niên hiệu riêng, định đô ngay trên vùng đất Hà Nội xưa, đúc tiền riêng, coi phương Nam là một cõi riêng với phương Bắc, lấy Việt đối với Hoa..., những điều đó nói lên một bước trưởng thành quan trọng của ý thức chính trị - dân tộc, lòng tin ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự hiên ngang phủ định quyền "bá chủ thiên hạ" của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng: nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết phải giành quyền làm chủ vận mệnh của mình. Đây là một bước phát triển mới của ý chí độc lập tự chủ; có thể coi là một "hành động cách mạng" của nhân dân Việt Nam kiên quyết chống lại sự thống trị của phong kiến Trung Hoa để giành lại nền độc lập, tự do dân tộc. Và người kế nghiệp Lý Nam Đế cũng đã xứng danh anh hùng, tự xưng Triệu Việt Vương, lãnh đạo nhân dân kiên trì kháng chiến, đánh đuổi quân xâm lược Lương, bảo vệ nền độc lập cho nước Vạn Xuân.


Thời Tùy, Đường thống trị, nhiều cuộc khởi nghĩa và kháng chiến nổ ra. Kháng chiến chống Tùy (năm 602), các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ nhà Đường của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế, 713-722), của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương, 766-791), của Dương Thanh (819-820)... là những minh chứng hùng hồn cho sự trưởng thành của ý thức dân tộc, của tinh thần quyết chiến đấu vì độc lập tự chủ. Mai Thúc Loan tiếp nối ý chí của Lý Bí, đã xưng "đế" và giành được quyền tự chủ trong nhiều năm. Phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống ách đô hộ nhà Đường có tính chất phố biến, tương đối liên tục suốt ba thế kỷ và nổ ra ở khắp nơi, miền xuôi cũng như miền núi, từ miền Bắc đến Hoành Sơn. Phong trào mang tính chất dân tộc - quần chúng khá rõ nét, bao gồm mọi tầng lâp xã hội như quân sĩ, hào trưởng, quan lại yêu nước và nhân dân các dân tộc trên lãnh thổ nước Việt Nam. Có những cuộc khởi nghĩa đã phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc, đánh vào tận sào huyệt, đại bản doanh của quân thù (Tống Bình). Lực lượng địch tan rã nhanh chóng trước khí thế tiến công của quần chúng khởi nghĩa. Bọn kinh lược sứ, quan đô hộ... hoặc bị giết, hoặc bỏ chạy. Trong những nhân tố trên, nhân tố quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, với khí thế tiến công ngày càng mạnh là rất quan trọng, khiến quân giặc hoảng sợ nhất.


Trong các thế kỷ dưới sự thống trị của nhà Đường, nhân dân Việt Nam liên tục đứng lên chống chính quyền đô hộ. Khác với những giai đoạn trước, sự phân biệt giữa chính quyền đô hộ và nhân dân Việt Nam trong thời gian này rất rạch ròi. Những quý tộc hay quan lại nhà Đường sang sinh sống lâu dài bên An Nam không được tham gia chính quyền và không giữ chức vụ cao cấp như trước. Do đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng nhằm đúng kẻ thù hơn. Quy mô của các cuộc khởi nghĩa dưới thời thuộc Đường ngày càng lớn. Phong trào đấu tranh ngày càng tập trung mũi nhọn vào chính những kẻ cầm đầu chính quyền đô hộ. Qua những cuộc đấu tranh anh dũng đó, tinh thần quốc gia tự chủ, ý thức dân tộc được củng cố và phát triển mạnh mẽ hơn. Chính quyền đô hộ bị đả kích mãnh liệt. Tuy chính quyền đô hộ đã sử dụng nhiều biện pháp trấn áp quân sự, nhưng kết quả rất hạn chế và sự tan rã của nó cũng đã bắt đầu và không thể tránh khỏi. Phong trào đấu tranh chống chính quyền đô hộ nhà Đường đến cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X đã báo hiệu sự xuất hiện của bình minh sau một đêm dài tăm tối dưới ách thống trị của ngoại bang. Đó là đêm trước để Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa thành công, xây dựng chính quyền tự chủ họ Khúc (905-930), rồi chuyển sang chính quyền họ Dương (931-937) dẫn đến chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (938).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:03:02 pm »

Công cuộc xây dựng nền tự chủ của họ Khúc mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội nước Việt Nam mà các triều đại sau đó sẽ hoàn thành. Những cống hiến của Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo thể hiện rõ tinh thần tự chủ của nhân dân Việt Nam, cũng biểu lộ quyết tâm lớn thoát khỏi ách thống trị của chính quyền ngoại tộc. Công cuộc đấu tranh vì nền độc lập tự chủ đến đây đã giành được thắng lợi căn bản. Bộ mặt chính trị - xã hội nước Việt Nam cổ từ đầu thế kỷ X đã đổi mới. Tất cả những sự kiện và nhân vật lịch sử nối tiếp nhau cho đến thế kỷ thứ X đã liên tục bồi đắp một tinh thần chính trị rộng khắp, đẩy mạnh xu hướng quân sự hóa ở các địa phương; cũng chính trong bối cảnh đó những tiền đề cùng nỗ lực xây dựng một nhà nước có tính dân tộc với quyền lực trung ương mạnh cũng được thiết lập.


Điều đó đã tăng thêm lòng tin của toàn thể nhân dân từ trên xuống dưới vào tương lai độc lập, do đó nâng cao quyết tâm bảo vệ đất nước trước nạn ngoại xâm. Hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán do Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền lãnh đạo đầu thế kỷ X có ý nghĩa lịch sử to lớn; nó chứng tỏ sự trưởng thành của ý thức dân tộc Việt Nam, sự lớn mạnh của nhân dân Việt Nam về trí tuệ và khả năng đánh thắng quân xâm lược, thể hiện sức mạnh trỗi dậy của cả dân tộc, của chiến tranh yêu nước trong những giờ phút quyết định của cuộc chiến đấu giành quyền tự chủ đất nước.


Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, vận mệnh của đất nước, của dân tộc trải qua những thử thách cực kỳ hiểm nguy. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ vì nền tự chủ đó, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển. Trải qua các cuộc khởi nghĩa, của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan và nền tự chủ của họ Khúc, ý thức dân tộc Việt Nam từng bước trưởng thành; chiến công năm 931 của Dương Đình Nghệ và đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng năm 938 phản ánh sức mạnh trỗi dậy của nền văn hóa giữ nước của dân tộc Việt Nam, nhằm kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh vì nền độc lập tự chủ của nhân dân ta trải qua các thời kỳ. Chính ý chí quyết tâm giành lại nền độc lập, trở lại với "nghiệp Hùng" lưu tồn và càng vun đắp bằng xương máu trong nhiều thế hệ đã trở thành sức sống lâu bền, không thể lực nào, hoàn cảnh nào làm mai một. Chính giá trị tinh thần ấy là nguồn gốc sâu xa nhất để dân tộc Việt Nam thoát khỏi đêm trường nô lệ, thảm họa hơn một nghìn năm bị đô hộ.


Thế kỷ X xứng đáng là thế kỷ bản lề với bao sự kiện lịch sử quân sự trọng đại. Họ Khúc giành quyền tự chủ (905), hai lần đánh thắng giặc Nam Hán (931, 938). Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, xây dựng nhà nước tập quyền đầu tiên, đặt các quan văn võ, đặt ra nghi lễ triều đình, thể hiện nên độc lập tự chủ của nước nhà, thực sự chấm dứt một nghìn năm Bắc thuộc. Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên "loạn 12 sứ' quân", thống nhất giang sơn, lập triều Đinh (969-979), đặt quốc hiệu mới, xây dựng kinh thành Hoa Lư. Đông đảo nhân dân ủng hộ Đinh Bộ Lĩnh, tôn ông là Vạn Thắng Vương, thể hiện tinh thần dân tộc, ý chí độc lập thống nhất quốc gia, coi giang sơn - đất nước Việt Nam là một mối. Lê Hoàn xây dựng nhà nước Tiền Lê (980-1009) và đánh tan cuộc tiến công xâm lược của nhà Tống (981), bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ. Những sự kiện đó nói lên sự trưởng thành của tinh thần làm chủ đất nước của nhân dân Việt Nam, ý thức bảo vệ nền độc lập và thống nhất đất nước của dân tộc Việt. Trong đó, cuộc kháng chiến chống quân Tông xâm lược do Lê Hoàn lãnh đạo đã khẳng định chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện đưa đất nước bước vào thời kỳ phục hưng dân tộc và phát triển mạnh mẽ dưới các vương triều Lý (1009-1226), Trần (1226-1400), Hồ (1400-1407) và Lê Sơ (1428-1527).


Từ thời Lý, công cuộc xây dựng đất nước được tiến hành trên quy mô lớn. Nước Đại Việt thời Lý - Trần - Lê Sơ với kinh đô Thăng Long, là một quốc gia thịnh vượng ở châu Á. Đây là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của đất nước Việt Nam, được lịch sử mệnh danh là kỷ nguyên văn minh Đại Việt, kỷ nguyên của nền văn hóa Thăng Long nổi tiếng. Việc dồi kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long là bước chuyển quyết định và dứt khoát trung tâm phát triển của đất nước từ vùng núi đồi hiểm trở đến vùng đồng bằng rộng lớn - vùng đất quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xảy dựng và bảo vệ quốc gia độc lập, hùng cường. Bước chuyển dịch này như một mốc son khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc Việt Nam, một dân tộc đang vươn mình đứng dậy sau cả thiên niên kỷ bị đô hộ với chí lớn "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Trên một phương diện khác, sự chuyển dịch từ trung tâm quân sự Hoa Lư ra trung tâm kinh tế Thăng Long cũng cho thấy một triết lý phát triển sẽ làm nên những thế kỷ vàng son kế tiếp của dân tộc. Chính từ đó, nền chính trị nặng tính quân sự phòng thủ sẽ chuyển sang giai đoạn chính trị tự chủ ổn định vốn là nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội.


Nước Đại Việt độc lập, đang vươn lên xây dựng một quốc gia ngày càng có uy tín trong vùng, thì ở phương Bắc xuất hiện những thế lực bành trướng, xâm lược lớn mạnh, nạn ngoại xâm vẫn thường xuyên đe dọa. Vừa dựng nước vừa giữ nước là hai mặt không thể tách rời của nhân dân Việt Nam, xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, không có thế kỷ nào dân tộc Việt Nam không phải chống ngoại xâm. Trong năm thế kỷ phục hưng đất nước, quân dân Đại Việt đã nhiều lần cầm vũ khí đánh giặc giữ nước và lập nên bao chiến công hiển hách. Đó là hai lần kháng chiến chống Tông dưới thời Tiền Lê (981) và thời Lý (1075-1077) do Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt lãnh đạo; ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên (1258, 1285, 1287-1288) dưới thời Trần với vị thống soái kiệt xuất Trần Quốc Tuấn; đó là cuộc kháng chiến chống Minh dưới triều Hồ (1406-1407); là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo, lật đổ ách thống trị của nhà Minh, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Ông cha ta đã sớm biết đoàn kết để giữ nước, đã sớm gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn bền chặt. "Nước mất thì nhà tan", câu nói đó đã có từ lâu đời và nói lên ý thức của nhân dân Việt Nam.


Ý thức đấu tranh vì độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ trong giai đoạn này đã phát triển cao độ. Kẻ thù dân tộc là những thế lực xâm lược cực kỳ lớn mạnh như nhà Tống, đế chế Mông - Nguyên và nhà Minh đều có quân hùng tướng giỏi; nhưng quân và dân Việt Nam quyết không sợ, đã quyết tâm kháng chiến và kháng chiến thắng lợi. Người Việt đã dám đánh, biết đánh và quyết thắng những kẻ thù lớn mạnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:04:05 pm »

Thắng lợi của quân và dân Việt Nam thời Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược là kết quả của một bước phát triển vượt bậc của dân tộc Việt Nam về mọi mặt - tinh thần, vật chất và nghệ thuật tổ chức kháng chiến. Xuất phát từ những quan điểm quân sự đúng đắn, nhà Lý đã tiến hành một cuộc kháng chiến với tinh thần chủ động, với tư thế đạp lên đầu thù, khí phách hiên ngang và ý thức sâu sắc về quyền bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam làm chủ đất nước và vận mệnh của mình. Bài thơ thần bên sông Như Nguyệt, được coi là tuyên ngôn chính trị của nước Việt mới, đã nói lên khí phách, tư thế và quyết tâm của dân tộc Việt Nam thủa ấy:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
1

(Dịch thơ: Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở,
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất định phải tan vỡ
Trích: Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, t.I, tr.332)


Đó là một bước phát triển mới của tinh thần tự tôn dân tộc, của tư tưởng vì độc lập, tự do. Bằng bài thơ đó, dân tộc Việt Nam tuyên bố khẳng định quyền độc lập thiêng liêng và quyền bình đẳng của mình, cảnh cáo nghiêm khắc kẻ xâm lược. Tinh thần đó, khí phách đó là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến.


Trong vòng 30 năm (1258-1288), dân tộc Việt Nam đã ba lần đương đầu với những đạo quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất của đế chế Mông - Nguyên đã và đang chiến thắng khắp nơi trên thế giới. Mỗi lần xâm lược, quy mô và mức độ chiến tranh lại càng lớn, ác liệt hơn; nhưng mỗi lần kháng chiến, dân tộc Việt Nam lại càng vững vàng, kiên cường, sáng tạo và thắng lợi càng vang dội hơn. Cuộc kháng chiến chống xâm lược hồi thế kỷ XIII là một bản anh hùng ca bất hủ, là sự thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh sáng tạo và sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Từ mọi tầng lớp xã hội, từ các thành phần dân tộc và các lứa tuổi khác nhau, qua kháng chiến, đã xuất hiện bao con người và sự tích anh hùng tiêu biểu cho phẩm chất cao quý của dân tộc. Cuộc kháng chiến đời Trần, do đó, đã đạt đến trình độ của một cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm. Người vận dụng thiên tài chiến lược, chiến thuật cuộc chiến tranh nhân dân đó chính là nhà quân sự lỗi lạc Trần Quốc Tuấn. Với tri thức quân sự uyên bác kết hợp với tinh thần yêu nước nồng nàn, ông đã góp phần lớn lao vào việc tổ chức và lãnh đạo kháng chiến, đưa khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam tiến bước vượt bậc.


Những quy lý về tổ chức quân sự từ trung ương đến địa phương cũng như hoạt động đào tạo quân đội quốc gia của ông sẽ là chuẩn mực cho nhiều thế kỷ sau đó. Trần Quốc Tuấn là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần, ý chí quyết chiến quyết thắng trước kẻ thù lớn mạnh. Trước họa xâm lăng, ông luôn đặt lợi ích của dân tộc, của đất nước, của muôn dân lên trên hết - đó là nhận thức tiền đề cho tư duy về vận động chiến tranh và lực lượng tiến hành chiến tranh. Sức mạnh của cả nước, ý chí chiến đấu của toàn dân đã được ông và triều đình nhà Trần huy động và phát huy, làm nên các chiến công oanh liệt ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp..., nhất là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, đã tiêu diệt hàng chục vạn quân xâm lược, khiến kẻ thù phải khiếp sợ, không dám xâm phạm đến nước Việt Nam nữa. Chính vì thế mà rất nhiều quan điểm tư tưởng quân sự tiến bộ đã nảy sinh và phát triển trong triều đại này.


Từ thế hệ này qua thế hệ khác, ngọn lửa chiến tranh vì đại nghĩa đã tôi luyện truyền thống yêu nước và ý chí độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam. Trước họa xâm lăng, thái độ duy nhất của toàn dân, của cả nước là quyết đứng lên chiến đấu "quét sạch nó đi". Lời tuyên bố đanh thép của Trần Thủ Độ vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo" (1258); những tiếng hô: "Quyết đánh" của các bô lão vang lên trong Hội nghị Diên Hồng mùa Đông năm Giáp Thân (1284); lời thề "Sát Thát" (giết giặc Mông - Thát) trên cánh tay mỗi tướng lĩnh và quân sĩ nhà Trần (1285); tinh thần quyết chiến của Trần Quốc Tuấn: "Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu tôi đi đã" (1287); tinh thần chiến đấu của Lê Tần, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản1 (Lê Tần đã chiến đấu hết sức dũng cảm ở trận Bình Lệ Nguyên (1258), ông đã bảo vệ vua Trần Thái Tông và hiến kế đề nghị nhà vua rút lui để bảo toàn lực lượng. Trần Bình Trọng, một vị tướng nổi tiếng dũng cảm và trung thành; khi bị giặc bắt, chúng dụ dỗ ông đầu hàng, ông đã mắng giặc rằng: "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc". Trần Quốc Toản hận mình còn nhỏ tuổi không được dự Hội nghị Bình Than đã bóp nát quả cam trong tay, sau đó về thái ấp tự lập đội quân riêng, tham gia chiến đấu lập nhiều chiến công và đã hy sinh anh dũng trong trận chặn đánh quân Thoát Hoan ở bến Như Nguyệt (1285)), v.v. trong kháng chiến chống Mông - Nguyên là ý chí, khí phách của toàn quân, toàn dân, là tiếng nói chung của cả dân tộc...


Dưới thời Trần, lòng tự hào, tinh thần tự tôn dân tộc thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm văn học và sử học, như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, bài thơ Cối kê cựu sự... của vua Trần Nhân Tông, Đoạt sáo Chương Dương độ của Trần Quang Khải, bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu hay sách Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, V.V.. Tư tưởng, lý luận quân sự của Trần Quốc Tuấn thể hiện nổi bật trong Hịch tướng sĩ, trong Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư và trong lời căn dặn của ông về kế sách giữ nước trước vua Trần Anh Tông năm 1300. Không chỉ tỏ rõ trong thơ văn, trong các bộ sử, mà cả trong các tác phẩm còn đậm chất thần thoại, cổ tích, như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái,... Tư duy, tư tưởng quân sự thời Lý - Trần phát triển ở tầm cao mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:05:54 pm »

Đầu thế kỷ XV, dân tộc Việt Nam một lần nữa phải đứng trước hiểm họa bị diệt vong bởi thế lực bành trướng, xâm lược phương Bắc. Nhà Minh đã đánh tan lực lượng kháng chiến của nhà Hồ và đặt ách đô hộ trên đất nước Việt Nam. Cuộc chiến tranh giữ nước do triều Hồ lãnh đạo cũng như nhiều cuộc khởi nghĩa chống xâm lược trước khởi nghĩa Lam Sơn bị thất bại không phải bấy giờ nhân dân Việt Nam thiếu ý thức đấu tranh vì độc lập, tự do; mà chủ yếu bởi những người lãnh đạo không có một đường lối chiến lược và cách đánh đúng đắn, hoặc do bản thân họ chưa đủ uy tín để tập hợp sức mạnh cả nước đánh giặc. Tuy phải chiến đấu đơn độc, thiếu sự sát cánh của nhân dân và đã chịu thất bại cay đắng, nhưng cha con Hồ Quý Ly và các tướng sĩ nhà Hồ cũng đã thể hiện một tinh thần quyết tâm kháng chiến đến cùng. Giặc Minh đánh bại cuộc kháng chiến của nhà Hồ trong vòng 6 tháng (11-1406 - 6-1407), nhưng phải mất hơn 8 năm (1407-1414) chúng mới bình định được phong trào kháng chiến tự phát của nhân dân Việt Nam. Điều này nói lên tinh thần quật khởi, tư tưởng, ý chí quyết tâm đánh giặc của nhân dân Việt Nam.


Sử cũ của ta chép rằng: "Lúc ấy quân Minh tham lam sách nhiễu không biết thế nào là cùng, tên Mã Kỳ làm nhiều việc phi pháp, bắt dân nộp châu báu quá nhiều, dân không sao kham được khổ sở. Vì thế lòng dân náo động, binh lính bốn phương nổi lên, mà người Minh không thể nào chống lại được"1 (Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tập I, tr.759). sử nhà Minh (Minh sử) thì cho rằng: "Người Giao Chỉ vốn thích làm loạn" và thừa nhận lúc đó "dân tình náo động", "cường hào các nơi nổi lên làm loạn"2 (Minh sử, q.321. Dẫn theo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, t.5, tr.107), "giặc cướp nổi lên như ong. Gọi là dẹp yên thì chỉ có một thành Giao Châu mà thôi"3 (Khâu Tuấn: Bình định Giao Nam lục. Dẫn theo lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, t.5, tr.87). Cuộc khởi nghĩa này bị đàn áp thì cuộc khởi nghĩa khác lại dâng lên, phong trào tiếp diễn một cách liên tục và chĩa mũi nhọn tiến công vào chính quyền đô hộ của nhà Minh. Suốt thời gian đô hộ, quân Minh luôn luôn như ngồi trên đống lửa. Trong cuộc đấu tranh đó của dân tộc, xuất hiện biết bao tấm gương hy sinh và hành động yêu nước tiêu biểu cho khí phách anh hùng của dân tộc, như Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị... dù bị thất bại, vẫn giữ trọn tiết tháo của người anh hùng. Với lòng yêu nước và chí căm thù sôi sục, nhân dân đã liên tiếp nối dậy đấu tranh. Biết bao cuộc khởi nghĩa đã bị nhấn chìm trong biển máu, nhưng lòng yêu nước và chí căm thù vẫn rực cháy trong tâm can mọi người.


Ngay sau khi đánh bại lực lượng kháng chiến của nhà Hồ, quân Minh đã phải đối phó thực sự với một loạt các cuộc khởi nghĩa rộng khắp. Mặc dù phần lớn các cuộc khởi nghĩa này đều bị đàn áp, nhưng phong trào đã thể hiện ý thức dân tộc, tư tưởng, quyết tâm chống ngoại xâm giành độc lập của nhân dân Việt Nam. Tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, ý chí quật cường, bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân vẫn nung nấu và bùng cháy dữ dội khi Lê Lợi phát động cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa.


Năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa), Lê Lợi cùng 18 người bạn chiến đấu thân tín nhất làm lễ tuyên thệ nguyện một lòng sống chết vì sự nghiệp đánh giặc cứu nước. Lời thề đó đặt cơ sở đầu tiên cho việc tổ chức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) đã khắc phục được những nhược điểm và sai lầm của những cuộc khởi nghĩa trước đây, tập hợp được đông đảo những người yêu nước thuộc mọi tầng lớp xã hội, từng bước đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi. Do mục đích chiến đấu chính nghĩa, hợp với lòng người, nên "một khi cờ nghĩa mới phất, bốn phương nổi dậy như ong"1 (Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo (Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính) (Trích trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.II, tr.285)), "quân đi đến đâu nghĩa thanh vang dậy, dân chúng bốn phương dắt díu nhau mà đến theo", "chật đất người theo, đầy đường rượu bày, dân chúng kéo đến như đi chợ"2 (Lam Sơn thực lục (Trần Nghĩa dịch), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr.35), "họ tranh nhau đến cửa quân, nguyện liều chết đánh thành diệt giặc"3 (Lam Sơn thực lục, Sđd, tr.42). Tuy khác nhau về thân phận, khác nhau về thành phần xuất thân và chức vị, nhưng tình yêu quê hương đất nước, mục đích chiến đấu cao cả vì độc lập là sợi dây vô hình thắt chặt mối quan hệ trong hàng ngũ nghĩa quân. Mọi người "hết thảy đều chung một lòng, trên dưới đều cùng một dạ". Tuy là "manh lệ bốn phương tụ họp", nhưng lại có lòng "phụ tử một dạ"2 (Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo, Sđd, tr.285), "ai cũng mến vua mà liều chết, ai cũng muốn ra sức đền ơn"3 (Lam Sơn thực lục, Sđd, tr.33). Từ miền núi rừng Thanh Hóa, khởi nghĩa Lam Sơn đã dần phát triển thành trung tâm của phong trào đấu tranh trong phạm vi cả nước, thành một cuộc chiến tranh giải phóng có tính chất nhân dân rộng rãi. Tinh thần dân tộc, tính chất yêu nước và chính nghĩa, sự tham gia ủng hộ nhiệt tình và đông đảo của toàn dân, đó là sức mạnh tinh thần và vật chất của cuộc khởi nghĩa và cũng là nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn trước hết là sức mạnh của tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc sục sôi, là sức mạnh của tinh thần chiến đấu ngoan cường, cứu dân cứu nước. Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khơi dậy tinh thần dân tộc, biết thổi bùng ngọn lửa yêu nước của nhân dân; có đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn, nên cuộc chiến tranh giải phóng đã giành được thắng lợi.


Cuộc chiến đấu anh dũng, lâu dài của quân và dân Việt Nam đầu thế kỷ XV đã lật đổ hoàn toàn ách thống trị của phong kiến nước ngoài, giành lại độc lập dân tộc sau 20 năm dưới ách thống trị tàn bạo của ngoại xâm. Một nước nhỏ bị nước lớn trong lúc cường thịnh chinh phục và nô dịch, đã tự vươn lên giải phóng bằng những chiến thắng quân sự hết sức lẫy lừng. Điều đó chứng tỏ rằng, đến thế kỷ XV, dân tộc Việt Nam đã trưởng thành, tự tin ở chính mình; người Việt đã có ý thức sâu sắc về chủ quyền lãnh thổ, có sức sống phi thường và năng lực sáng tạo phong phú. Tư tưởng quân sự của dân tộc đã có bước phát triển, trưởng thành trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Bình Ngô đại cáo thể hiện lòng tự hào dân tộc, ý chí quyết chiến quyết thắng và tinh thần độc lập cao cả của dân tộc. Đó là một thiên anh hùng ca tuyệt vời, một bức tranh sinh động và trung thực về hình ảnh của một dân tộc anh hùng đang vươn lên, quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ; một dân tộc đã có hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã có năm thế kỷ sống độc lập hoàn toàn với tư cách là một quốc gia tiên tiến ở châu Á, một dân tộc anh hùng mà không một thế lực xâm lược nào có thể khuất phục nổi:

   "Xét như nước Đại Việt ta từ trước,
   Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
   Bờ cõi núi sông đã riêng,
   Phong tục Nam - Bắc cũng khác.
   Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
   Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương,
   Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
   Mà hào kiệt không bao giờ thiếu"
1 (Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo, Sđd, tr.282).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:07:21 pm »

Trong Thư dụ thành Xương Giang, Nguyễn Trãi cũng nêu rõ: "Nước An Nam ta tuy ở ngoài Ngủ Lĩnh mà có tiếng là một nước thi thư, những bậc mưu trí, tài thức đời nào cũng có"2 (Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.127). Ông nói: "Nước Nam xưa bị phương Bắc xâm chiếm, là từ Tần, Hán trở đi, trời đã phân cách Nam - Bắc có núi cao, sông lớn bờ cõi rành rành, dẫu mạnh như Tần, giàu như Tùy nào có thế dùng thế, lực được đâu"3 (Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.122). Tinh thần tự tôn dân tộc của Nguyễn Trãi cùng lúc lại cho ta thấy một hiện thực lịch sử đáng lưu ý: mâu thuẫn giữa tinh thần dân tộc và nhu cầu tổ chức một nhà nước có tính "chuyên nghiệp" với một bộ máy quan lại hoàn chỉnh. Những thế kỷ trước đó, những nỗ lực từ phía thượng tầng xã hội nhằm tạo lập sự cách biệt với phương Bắc tuy có nhưng chưa trở thành những tuyên ngôn chính trị hay chính sách cụ thể. Thực vậy, trước thế kỷ XV, đa phần nỗ lực từ thượng tầng xã hội vẫn đang đặt vào các hoạt động kiến tạo nhà nước cũng như điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với địa phương, vốn là vướng mắc của một nền tảng xã hội phân tán và nền tảng chính trị tản quyền. Ý thức chính trị về cương vực và dân tộc tuy đã tồn tại, nhưng nhất thiết cần phải trải qua giai đoạn hiện thực hóa với sự sinh thành một chính quyền dân tộc mạnh, có khả năng đại diện cho toàn thể dân tộc và có quyền lực chính trị thống nhất đối với các thành phần của dân tộc - đây là bước phát triển bắt buộc của mọi nền văn minh1 (Giáo sư Trần Quốc Vượng từng phân tích rất xác đáng mâu thuẫn này: "Ra khỏi thời Bắc thuộc, giai tầng thống trị Việt bị mắc vào một thế lưỡng, do có hai hệ quy chiếu: a) Hệ quy chiếu Trung Quốc: di sản có sẵn của quá khứ Bắc thuộc, do quyền lợi giai cấp, do học Tàu để chống Tàu, do tư tưởng rập khuôn, do tự ti "Nam nhân Bắc hướng" mà cũng do tự tôn muốn "bất dị Trung Quốc", "vo tốn Trung Quốc", v.v... Có xu hướng Bắc hóa về chính trị - hành chính, văn hóa, giáo dục thi cử, v.v... b) Hệ quy chiếu dân tộc: đã chống Bắc thuộc và còn phải chống bành trướng Trung Quốc, giai tầng thống trị Việt - đại biểu cho dân tộc Việt Nam khi ấy - phải cố gắng thoát ly ảnh hưởng của Trung Quốc sâu gốc bền rễ trong nhân dân và dân tộc để tự tạo cho mình một bản lĩnh riêng. Muốn thế phải gần dân, thân dân, khoan dân, hạn chế chuyên quyền độc đoán, kết hợp mềm dẻo giữa tập trung nhà nước và dân chủ xóm làng, cái nhà nước và cái xã hội, cái chính thức (chính thống) và cái dân gian, cái ngoại sinh và cái nội sinh, cái bảo lưu truyền thống và cái bung ra đổi mới,... Có xu thế dân tộc hóa, cả pháp độ, văn hóa, giáo dục,... Mắc vào thế lưỡng này, là cả tầng lớp cầm quyền trị nước, cả tầng lớp trí thức, tăng đồ, nho gia, đạo sĩ... khó có ai có một diện mạo nhất định ở đương thời mà thoát được cái thế lưỡng này, kể cả Nguyễn Trãi, kế tục và phát huy truyền thống "dân tộc và thân dân" thời Lý - Trần, đã có những cố gắng để khôi phục và phát triển nền văn hóa dân tộc... Trong Bình Ngô đại cáo, ông nhấn mạnh sự "dị thù" giữa Đại Việt và Trung Quốc cả về cương vực, cả về văn hóa, Dư địa chí ghi lệnh cấm Việt bắt chước phong tục Ngô. Bản chất tư tưởng Nguyễn Trãi có thể gọi là tư tưởng Nho giao dân gian (Confucianisme populaire" (Trần Quốc Vượng: Nguyễn Trãi trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, trích trong Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2003, tr.727-742)). Nước Việt Nam thời Lê Sơ, trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, khoa học... đều phát triển rực rỡ. Chế độ của triều Lê là chế độ quân chủ tập quyền theo mô hình Nho giáo, nhưng xây dựng trên tinh thần và ý thức dân tộc sâu sắc. Ý thức tự tôn, tự lập, tự cường dân tộc càng trở nên mạnh mẽ. Tư tưởng chính trị về tư cách một dân tộc được thể hiện rõ ràng nhất qua tư tưởng về cương vực - lãnh thổ. Vua Lê Thánh Tông luôn thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thường xuyên nhắc nhở các quần thần, tướng lĩnh không được tự tiện vứt bỏ một thước núi, một tấc sông của tổ tiên để lại1 (Nguyên văn câu nói của vua Lê Thánh Tông là: "Một thước núi, một tấc sông của ta không thể vứt bỏ... nếu ai dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ để lại mà làm mồi cho giặc thì tội phải tru di"). Mọi đe dọa đến an ninh và lãnh thổ, chủ quyền quốc gia đều bị trừng trị một cách kiên quyết.


Từ thế kỷ XVI, giai cấp phong kiến Việt Nam suy yếu dần, nạn cát cứ, nội chiến kéo dài. Các tập đoàn phong kiến xung đột vì quyền lợi riêng, gây khổ đau cho nhân dân, thế nước vì thế suy yếu. Và như một quy luật "trong không ấm, ngoài không yên", khi thế nước suy yếu, lòng dân hoang mang, cũng chính là lúc hiểm họa ngoại xâm lại rình rập. Tùy nhiên, trong các thế lực phong kiến suy tàn lúc ấy, cũng có những người vẫn giữ được tinh thần tự tôn dân tộc. Khi nhà Mạc và nhà Lê đánh nhau tranh giành quyền thống trị, có ngươi trong thế lực nhà Mạc định sang cầu cứu nhà Minh để đánh bại nhà Lê, thì chính Mạc Ngọc Liễn - một tướng cao cấp của nhà Mạc trước khi chết đã dặn lại: "Nhất thiết không được mời nhà Minh vào nước mình để đến nỗi dân ta phải lầm than"1 (Nguyên lời Mạc Ngọc Liễn dặn Mạc Kính Cung vào tháng 7-1594 như sau: "Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước Việt Nam mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng". (Xem Đại Việt sử ký Bản kỷ Tục biên, Quyển XVII, Kỷ Nhà Lê: Thế Tông Nghị Hoàng Đế, phụ: Họ Mạc (Mậu Hợp 20 năm) (Nxb. Văn hóa thông tin tái bản, 2011). Nguyên tắc của một nền chính trị nội quốc thực thụ, nguyên tắc không bị can thiệp là nền tảng căn bản nhất cho mọi nền nội chính của mỗi quốc gia - dân tộc. Nó cũng là biểu hiện cho tính chất độc lập, tự chủ, cũng như bản lĩnh chính trị của quốc gia - dân tộc ấy). Ông phân tích rằng: "Nếu nhà Lê đánh bại được nhà Mạc, giữ được đất đai nước Việt Nam, đó là trời ủng hộ nhà Lê; khi trời đã ủng hộ nhà Lê thì phải để cho nhà Lê làm chủ đất nước Việt Nam, nhà Mạc không thể dựa vào việc quân Minh vào đánh nhà Lê để hòng đưa nhà Mạc làm chủ đất nước được. Đưa quân Minh vào, không những nhà Lê có thể bị nhà Minh đánh bại, ngay nhà Mạc cũng bị nhà Minh thống trị mà thôi, kết quả dân tộc Việt Nam sẽ mất quyền tự chủ"1 (Dẫn theo Phạm Ngọc Phụng: Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. Quân giải phóng, Sài Gòn, 1975, tr.256).


Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, sau khi đánh tan hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, khôi phục quốc gia thống nhất, tiến lên làm nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đầu năm 1785, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh trận Rạch Gầm - Xoài Mút nổi tiếng, tiêu diệt gần 4 vạn quân xâm lược Xiêm (Thái Lan). Với chiến công này, nghĩa quân Tây Sơn cùng nhân dân Nam Bộ đã nêu cao truyền thống anh hùng và ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc. Năm 1788, trước khi xuất quân đánh quân Thanh xâm lược, người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã tuyên bố một nguyên tắc hiển nhiên trong quan hệ các quốc gia - dân tộc: "Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị... Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước Việt Nam, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không thể ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Nam - Bắc riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời Minh đến nay, dân ta không đến nỗi khổ như thời nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi hại, được mất, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng"1 (Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1964, tr.359). Trong lời dụ tướng sĩ tại Thanh Hóa, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã nói lên quyết tâm sắt đá đánh tan quân ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc:

   "Đánh cho để dài tóc,
   Đánh cho để đen răng.
   Đánh cho nó chích luân bất phản,
   Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn.
   Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ"
.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược đầu xuân năm Kỷ Dậu (1789) là một trong những chiến công vĩ đại và hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi đó thể hiện tinh thần và ý chí quyết chiến quyết thắng của nhân dân Việt Nam; ý thức dân tộc, tư tưởng độc lập tự chủ đạt đến một đỉnh cao mới.


Chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng độc lập tự chủ, bảo vệ chủ quyền quốc gia... là kết quả của cả một quá trình vừa dựng nước, vừa giữ nước: kết quả của bao nhiêu mồ hôi, xương máu mà lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đã đổ xuống trên những dặm dài lịch sử nhiều nhọc nhằn và gian khó, nhiều thử thách cam go... Có lẽ cũng vì thế, khát vọng hòa bình luôn thẳm sâu trong tâm thức của người Việt Nam bên cạnh những tư tưởng anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 09:13:32 pm »

II- SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TINH THẦN YÊU NƯỚC VÀ Ý THỨC ĐỘC LẬP DÂN TỘC TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XX (1858-1945)

Đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn thành lập, đổi tên nước là Việt Nam, đóng đô ở Phú Xuân (Huể). Trong nửa đầu thế kỷ XIX, các đời vua Gia Long, Minh Mạng đã ban hành và thực thi những chủ trương nhằm cải cách hành chính, củng cố nền thống nhất, mở mang văn hóa, giáo dục, thực hiện chính sách đồn điền, khai phá những vùng đất mới, xây dựng quân đội, thiết lập hệ thống phòng thủ ở các cửa biển, hải đảo và vùng biên ải để bảo vệ đất nước. Đất nước có những bước phát triển mới.


Trên thế giới, bước sang thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây, đặc biệt là Anh, Pháp, Mỹ đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ráo riết chạy đua tìm kiếm thị trường và từng bước xâm chiếm thuộc địa. Phương Đông đầy quyến rũ trở thành đích hướng tới không gì ngăn được của tư bản phương Tây. Thời kỳ đóng cửa chỉ biết mình của châu Á đã qua. Những đội truyền giáo, những thương thuyền, hạm đội của tư bản Âu - Mỹ đã căng buồm, chĩa súng, tiến vào lục địa đông người, lắm của này. Vốn đã có dã tâm xâm lược Việt Nam từ rất sớm, đồng thời thông qua con đường truyền đạo, thương mại và do sự liên kết với các "cựu triều" chúa Nguyễn từ trước, tư bản Pháp đã tạo được một cơ sở chính trị - xã hội cùng những tri thức về văn hóa bản địa cần thiết ở Việt Nam. Kẻ thù dân tộc Việt Nam giờ đây không phải là một quốc gia phong kiến phương Đông nữa, mà là một cường quốc tư bản phương Tây hiện đại vượt bậc về phương thức sản xuất, có nền kinh tế phát triển, có quân đội mạnh được trang bị vũ khí kỹ thuật tiên tiến.


Không phải triều Nguyễn không có tinh thần dân tộc và không nhìn thấy hiểm họa ngoại xâm đang rình rập, đe dọa tới độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng thể thống nhất giữa tinh thần dân tộc và quyền lợi hoàng tộc vốn là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất tạo ra và nhân lên sức mạnh của đất nước từng được những vương triều tiến bộ trước đây gây dựng, bồi đắp bằng các chủ trương, biện pháp "thân dân" hợp lòng người thì giờ đây, mối quan hệ đó trở thành một vấn đề không dễ và không thể giải quyết. Thật vậy, làm sao triều Nguyễn có thể vượt ra khỏi ranh giới lợi ích của nó; đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của tập đoàn cầm quyền trong khi có thể điều nó cần làm để tạo nên sức mạnh, đương đầu với kẻ thù xâm lược lại sẽ dẫn đến sự chấm dứt từng bước của cả một giai tầng? Vua Tự Đức cũng như một số triều thần nhà Nguyễn đã đối lập quyền lợi vương triều với quyền lợi tối cao của dân tộc, đã tìm cách kìm hãm phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam; mặt khác, triều Nguyễn còn tin vào những biện pháp đối phó tiêu cực của mình. Đó là nguyên nhân khiến thực dân Pháp xúc tiến nhanh kế hoạch thôn tính Việt Nam.


Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với họa xâm lược đến từ một nước công nghiệp phương Tây. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, yêu cầu bảo vệ độc lập phải gắn liền với yêu cầu cải cách đưa đất nước thoát khỏi tình trạng chậm tiến, trì trệ của phương Đông. Một số trí thức Việt Nam yêu nước tiến bộ, có ý thức tự tôn dân tộc cao đã nhận thức được điều đó và đệ trình những bản điều trần canh tân đất nước, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871), Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895), Bùi Viện (1841 - 1878), Phạm Phú Thứ (1820 - 1884)1 ... (Cho dù vậy, tất thảy những đề xuất ấy đều mắc phải hai nhược điểm: Một là, không cân nhắc được những biến đổi xã hội mà những cải cách có thể gây nên, do đó không thấy được sự phản ứng của các tầng lớp có lợi ích liên quan đối với các cải cách. Hai là, các cải cách đều có dự định, thậm chí chi tiết, nhưng lại không tính đến vốn cho những cải cách đó. Ngay cả một dự án chi tiết như của Nguyễn Trường Tộ cũng có những thiếu sót như vậy. Xem thêm những phân tích về vấn đề này trong Yoshiharu Tsuboi: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nbx. Tri thức, Hà Nội, 2013). Nhưng triều Nguyễn bảo thủ đã khước từ mọi đề nghị canh tân, thực hiện chính sách đóng cửa, không tiếp xúc với tư bản phương Tây, trong khi đó lại thần phục triều đình phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc), đẩy đất nước vào tình trạng lạc hậu, bế tắc, dẫn đến tình trạng mất nước kéo dài. Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến trong suốt 80 năm.


Giặc Pháp có thể khuất phục được triều đình nhà Nguyễn bạc nhược, song chúng không thể đè bẹp nổi ý chí phản kháng của nhân dân Việt Nam. Trong hàng ngũ tướng lĩnh, quan lại triều đình cũng không ít tấm gương chiến đấu như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu... đã nêu gương quyết tâm chỉ huy quân đội chiến đấu chống thực dân Pháp đến cùng và anh dũng hy sinh để bảo vệ thành Hà Nội. Khắp nơi, từ Nam ra Bắc, từ miền xuôi lên miền ngược, quân Pháp vấp phải một phong trào kháng chiến sôi nổi, bền bỉ với tinh thần: "Bao giờ nước Nam hết cỏ thì mới hết người Nam đánh Tây"1 (Đây là câu nói nổi tiếng của Nguyễn Trung Trực (1839-1868). Năm 1861, phối hợp với Trương Định, ông chỉ huy đánh thắng một trận lớn trên sông Nhật Tảo, đốt cháy tàu Espérance của Pháp. Năm 1867, ông về Hà Tiên lập căn cứ ở Hòn Chông, rồi bị Pháp vây bắt và tử hình tháng 10-1868). Ngay từ khi quân Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhiều đội nghĩa binh đã chủ động kéo tới phối hợp chiến đấu cùng với quân triều đình, tiêu biểu là các đội quân do Phạm Gia Vĩnh, Nguyễn Huy Hiệu... chỉ huy chống giặc rất dũng cảm. Hướng về Quảng Nam - Đà Nẵng, phong trào "Nam tiến" xuất hiện ở một số địa phương miền Bắc. Đội nghĩa binh do Phạm Văn Nghị chỉ huy từ Bắc hành quân vào Nam đánh giặc. Mặc dù triều đình không chấp thuận yêu cầu, nhưng nghĩa cử của đoàn quân Nam tiến đầu tiên này thể hiện ý chí: Đất nước Việt Nam là một, hễ đâu có giặc thì cứ đi, cứ đánh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Sau 5 tháng, kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của quân xâm lược tại Đà Nẵng bị thất bại (1858). Liên quân Pháp - Tây Ban Nha phải quay vào tiến công Gia Định (2-1859).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 09:14:29 pm »

Tiếp theo trận Sơn Trà - Đà Nẵng là cuộc chiến đấu dũng cảm của nhân dân Nam Bộ. Cũng như nhân dân cả nước thời đó, nhân dân Nam Bộ, chủ yếu là nông dân "việc cày, việc cuốc, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó"1 (Thơ văn yêu nước thế kỷ XIX, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1978, tr.31), nhưng đã rất kiên cường đứng lên chống Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa do các văn thân, sĩ phu yêu nước lãnh đạo đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ ở khắp Nam Bộ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Trương Định (Gò Công), Nguyễn Trung Trực (Tân An), Võ Duy Dương (Đồng Tháp), Nguyễn Hữu Huân (Mỹ Tho), Trương Quyền (Tây Ninh), Trần Văn Thành (An Giang), Lê Đình Đường (Trà Vinh), Lâm Lễ (Cần Thơ)... Nhân dân các tỉnh miền Nam đã quyết tử vì nền độc lập, viết nên những trang sử hào hùng đầu tiên của dân tộc Việt Nam chống chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm lược, góp phần làm thất bại ý đồ đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp. Tinh thần Nam Bộ kháng chiến tiếp tục được phát huy mạnh mẽ khi thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra cả nước. Ngay cả những năm 1873 - 1874 và 1882 - 1884, khi quân Pháp mở rộng đánh chiếm ra đất Bắc, nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ đã đứng lên chống Pháp. Vì thế, thực dân Pháp rất hoang mang lo sợ và phải mất gần 30 năm (1858 - 1884) quân Pháp mới chiếm được Việt Nam.


Từ khi quân Pháp gây chiến tranh xâm lược, nội bộ vua quan triều Nguyễn luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phái chủ chiến và chủ hòa. Với tinh thần dân tộc cao, lực lượng chủ chiến đòi thay đổi quyết sách, quyết tâm kháng chiến, nhưng đều bị từ chối và trấn áp; phái chủ hòa do vua Tự Đức cầm đầu thắng thế. Tuy vậy, phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu vẫn chuẩn bị lực lượng chống Pháp, nuôi hy vọng khôi phục chủ quyền dân tộc khi thời cơ đến. Cuộc nổi dậy ở kinh thành Huế vào đêm mùng 4 rạng sáng mùng 5-7-1885 đã bị thực dân Pháp đàn áp. Vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết buộc phải lánh ra căn cứ Tân Sở (Quảng Trị) và xuống chiếu Cần Vương. Một phong trào chống Pháp với danh nghĩa Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các sĩ phụ yêu nước nổ ra sôi nổi trên phạm vi rộng lớn khắp Bắc - Trung - Nam, kéo dài 12 năm liền (1885 - 1896); nhiều cuộc khởi nghĩa đã diễn ra cùng một lúc trong nhiều địa phương và kéo dài trong nhiều năm. Tiêu biểu cho các phong trào kháng Pháp nửa cuối thế kỷ XIX là các cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng ở Hà Tĩnh (1885 - 1896), khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng (1886 - 1887) và Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân (1886 - 1892) ở Thanh Hóa, khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên (1885 - 1889), khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích ở Hưng Hóa (1885 - 1889) và cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1885 - 1913).


Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược nửa cuối thế kỷ XIX diễn ra rất kiên cường, dũng cảm. Bằng nhiều hình thức đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang, nhân dân Việt Nam do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, dựa vào thế hiểm của núi rừng, sông suối, đầm lầy; dựa vào làng xã mà lực lượng chủ yếu là những người nông dân vừa chống địch càn quét, vừa chủ động tìm những sơ hở của chúng để tập kích, đánh úp đồn giặc. Thực dân Pháp phải vất vả điều quân từ nơi này sang nơi khác, bị động đối phó và chịu thiệt hại nặng nề. Cho dù các cuộc khởi nghĩa vũ trang đó cuối cùng đều bị thất bại, song sự tồn tại và phát triển của nó thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quật khởi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, chủ quyền dân tộc tô thắm truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân Việt Nam.


Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, kinh tế, xã hội và văn hóa Việt Nam trải qua nhiều biến đổi sâu sắc. Do tác động của những thay đổi trong nước và những ảnh hưởng từ bên ngoài, phong trào yêu nước cũng chuyển biến theo những xu hướng, tư tưởng mới. Cần nhấn mạnh rằng, những xu hướng mới và các giai tầng mới xuất hiện trong xã hội báo hiệu những nền tảng mới cũng như sự phát triển của ý thức dân tộc và ý thức chính trị.


Đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp phát triển lên một bước mang màu sắc dân chủ tư sản với những hoạt động sôi nổi của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên, v.v...


Phong trào Đông Du (1904 - 1909) do Phan Bội Châu chủ xướng là sự khởi đầu cuộc chuyến hướng quan trọng trong phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược. Phan Bội Châu chủ trương dùng phương thức bạo động vũ trang để giành lại độc lập, chủ quyền dân tộc. Tuy nhiên, cùng với bạo động vũ trang, ông cũng rất coi trọng việc vận động duy tân đất nước, cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa để tự cường dân tộc. Chính vì vậy, ông và các đồng chí của mình nỗ lực vận động đưa thanh niên sang Nhật Bản học tập để mong về nước đánh đuổi thực dân Pháp. Duy Tân hội1 (Tên gọi khác của Duy Tân hội là Ám Xã. Hình thức Duy Tân hội là một minh chứng cho sự chuyển biến của ý thức dân tộc, ý thức chính trị ở Việt Nam. Duy Tân hội là một tổ chức kháng Pháp do Phan Bội Châu, Nguyễn Tiểu La và một số người khác lập ra tại Quảng Nam năm 1904, giải tán năm 1912. Hội đóng vai trò như một đảng chính trị. Nói cách khác, trên thượng tầng xã hội, một nhóm tinh hoa nhỏ kết hợp với các trí thức trôi giạt trong xã hội, một nhóm tinh hoa nhỏ kết hợp với các trí thức trôi giạt trong xã hội đã chính thức trở thành một lực lượng chính trị tân tiến của dân tộc, tách lìa khỏi truyền thống khởi phát vũ trang dựa trên lá cờ trung quân - ái quốc của thời trung đại. Xu hướng trí thức hiện thực hóa tinh thần dân tộc qua một đảng chính trị sẽ là xu hướng lôi cuốn nhất và chi phối toàn bộ thế kỷ XX không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Xem thêm: Phạm Văn Sơn: Việt sử tân biên (quyển 5, tập thượng), tác giả tự xuất bản, Sài Gòn, 1963. Cũng có thể tham khảo: Nguyễn Văn Trung: Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, thực chất và huyền thoại, Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn, 1963) được thành lập năm 1904 với mục đích "cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập". Ngoài ra, ông cũng đồng thời sử dụng văn thơ cách mạng "thức tỉnh quốc dân", góp phần nâng cao lòng yêu nước, ý thức dân tộc, chí căm thù giặc, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, lòng tin vào khả năng chiến đấu và chiến thắng của dân tộc mình. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục1 (Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục tồn tại ngắn ngủi từ tháng 3 đến tháng 11-1907. Đây là phong trào cải cách xã hội nhằm khai dân trí, mở lớp học miễn phí và tổ chức các buổi diễn thuyết trao đổi cổ động quần chúng. Điểm đặc biệt đáng nói đầu tiên của phong trào này là hai tư tưởng: Một là, bài Khổng giáo, Tống nho, Hán nho; hai là, phát triển công thương nghiệp. Những tư tưởng tiến bộ của chính tầng lớp trí thức tân tiến như thế là sự chuẩn bị cho sứ mệnh mới của tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX: canh tân tư tưởng. Đây cũng chính là giai đoạn tinh thần dân tộc khước từ các hình thức phong kiến của nó. Tham khảo: Nhiều tác giả: Một trăm năm Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2008) diễn ra sôi nổi ở Hà Nội do nhóm sĩ phu tiến bộ Lương Văn Can và Nguyễn Quyền lãnh đạo. Những hoạt động của tổ chức cách mạng này đã thúc đẩy tinh thần dân tộc, góp phần tích cực vào việc phát triển văn hóa, ngôn ngữ và văn tự của dân tộc Việt Nam. Phong trào Duy Tân (1906 - 1908) do Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo ra đời ở Trung Kỳ, với mục đích là vận động cải cách văn hóa, xã hội, gắn với động viên lòng yêu nước, chí căm thù giặc, thực hiện đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang. Mặc dù phong trào Duy Tân có hai khuynh hướng cải cách ôn hòa và bạo động vũ trang, nhưng các sĩ phu tiến bộ và đông đảo nhân dân do lòng nhiệt tình yêu nước đều tán thành và hưởng ứng tất cả mọi biện pháp đấu tranh có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ở các tỉnh Trung Bộ có các phong trào chống đi phu, chống sưu thuế và trừng trị bọn quan lại tay sai phản động. Thực chất đây là cuộc bạo động của nông dân, kết hợp đấu tranh chính trị với bạo động vũ trang, lan rộng ở khắp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM