Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2021, 06:35:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch  (Đọc 666 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #10 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2021, 06:57:06 am »

Người "mẹ trẻ" trên xe đò

Sau cuộc Tổng tấn và nổi dậy của quân và dân ta hồi Tết Mậu Thân năm 1968, quân đội Mỹ và Sài Gòn điên cuồng mở các cuộc hành quân phản kích, càn quét, đánh phá dữ dội tại Sài Gòn - Gia Định và các vùng phụ cận nhằm "đẩy Việt Cộng ra xa thành phố". Nhiều cơ sở của ta bị lộ; không ít cán bộ và chiến sĩ ta hy sinh hoặc sa vào tay giặc. (Trước đó, người cha kính yêu của Minh Nguyet - một cơ sở cách mạng - bị địch sát hại dã man; chị Hai của em bị chúng bắt và tù đày tại Côn Đảo). Bản thân Nguyệt và anh Tư, anh Năm của em cũng bị chúng truy nã. Hoạt động của Nguyệt đầy khó khăn và nguy hiểm. Tuy vậy, em không hề nao núng. Càng căm thù quân xâm lược và chính quyền tay sai bán nước, em càng ráng sức vượt lên trong nhiệm vụ thầm lặng.


Để phù hợp với tình hình mới, tổ công tác của Nguyệt được sắp xếp lại gọn nhẹ hơn và luôn thay đổi địa điểm, phương thức giao nhận tài liệu, hàng hóa. Tổ chức yêu cầu cả ba người trong đường dây này (gồm Ba Chí, Tư Cúc và Minh Nguyệt) đều phải đổi tên. Vậy là từ sau Tết Mậu Thân, Minh Nguyệt mang tên mới: Sáu Thắm, với bí số T6.


Ngày 25-4-1968, Sáu Thắm tới điểm hẹn mới của tổ tại chợ Củ Chi gặp thủ trưởng Tư Tăng cùng ông Sáu Khánh, Tổ trưởng tổ công tác của Thắm. Trong tổ, Thắm được mấy chú quý mến như con cháu mình và luôn tin tưởng giao những việc phù hợp với nữ sinh nhỏ tuổi. Hôm đó, sau khi nhận "hàng" do Thắm chuyển từ nội đô ra, thủ trưởng Tư Tăng trực tiếp giao nhiệm vụ cho Thắm khi trở về. Ông đưa ra mấy tờ báo và dặn dò:

- Từ nay, Thắm có thêm nhiệm vụ chuyển báo Giải Phóng vô nội đô. Báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam mình đó. Cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở trỏng rất mong được đọc báo cách mạng để thông hiểu chủ trương, chính sách của Mặt trận, thấy rõ chiến thắng của ta, thất bại của địch, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc chiến này. Báo Giải Phóng là tiếng nói của Mặt trận phục vụ cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, nên kẻ địch cấm đọc, cấm lưu hành. Bởi vậy, chuyển báo cũng là việc khó khăn và nguy hiểm. Các cô, chú tin ở Thắm và có cách giúp cháu. Ráng làm thiệt tốt, nghe Thắm!

Nhận hai tờ báo do người chỉ huy đứng tuổi trao cho, Thắm thấy mấy chú đã khéo che mắt địch bằng cách cắt đi hai chữ lớn Giải Phóng (tên của tờ báo) ở đầu trang, dán thay vào đó bằng tên của báo khác, xuất bản tại Sài Gòn: một tờ được dán hai chữ Chính Luận; tờ kia dán hai chữ Thách Đố. Thủ trưởng Tư Tăng còn chỉ cho Thắm cách xếp lẫn hai tờ báo ấy với tờ Chính Luận khác, để dưới túi xách, rồi đặt mấy bộ đồ lên; trên cùng là một số tờ báo Sài Gòn mới, Tin Sáng, Tiếng Chuông (đều xuất bản hợp pháp). Làm như vậy, nếu qua các điểm kiểm soát của địch, bọn chúng ít chú ý.


Sáu Thắm xách túi cùng bà con buôn bán trái cây từ xã Nhuận Đức tới bến xe Củ Chi. Mặc dù quen thuộc đường đi nước bước nhưng Thắm vẫn không khỏi lo lắng. Mọi lần, tài liệu em nhận thường là mẩu giấy mỏng tang, rất dễ cất giấu; lần này là những tờ báo khổ lớn, không thể cuộn nhỏ bằng đầu đũa, càng không được làm rách nát. Chuyển báo Giải Phóng giữa vùng địch kiểm soát là chấp nhận sự nguy hiểm đối với tính mạng, đòi hỏi Thắm phải rất cẩn thận, luôn bình tĩnh, mưu trí, gan dạ, vì một sơ xuất nhỏ cũng có thể bị lộ. Thắm hiểu rõ ý nghĩa việc mình làm. Dù chỉ có hai tờ thôi, nhưng vô tới đô thành, khi được "nhân bản" để nhiều người đọc, tác dụng của báo chắc không nhỏ.


Chiếc xe đò vẫn đậu tại bến để đợi thêm khách. Thắm chọn một ghế gần mấy bà lớn tuổi. Mọi người ngồi chưa nóng chỗ, tốp cảnh sát địch đã xộc tới. Giống như mọi lần, chúng nhảy lên xe, vừa chửi bậy, vừa soát xét hành lý của khách. Thắm hồi hộp lắm, nhưng vẫn tỏ ra bình thường. Em ôm trước ngực chiếc túi không khóa, ai nhìn cũng thây rõ mớ quần áo phụ nữ và mấy tờ báo Sài Gòn. Hai tên cảnh sát lôi từng bao rau, củ và trái cây từ dưới các ghế ra xét. Một tên chửi tục: "Đ.m mấy mụ Việt Cộng hay làm bộ đi mua bán trái cây để giấu vũ khí, tài liệu. Mấy mụ giấu ai chớ không giấu nổi tụi này nghe!". Mặc chúng lục soát giỏ đồ của các bà xung quanh, Thắm cầm tờ Chính Luận, vẻ chăm chú đọc như không dính gì đến những người buôn bán. Thực ra, lúc đó, trống ngực em đập thình thịch. Em cố giữ nét mặt tỉnh khô và nghĩ cách đối phó với cảnh sát nếu chúng xét chiếc túi của mình. Một tên cảnh sát tiến đến chỗ Thắm. Nó dòm vô chiếc túi xách, rồi ngó em trừng trừng. Em ngưng đọc báo, bình thản nhìn lại nó. Từng phút nặng nề trôi qua. Dường như không thấy chút nghi ngờ nào từ cô gái thị thành đang cầm tờ báo chống Cộng, nó lẳng lặng bước đi. Khi bọn chúng xuống xe, Thắm mới kéo dây khóa túi, gấp tờ báo lại và thở phào.


Xe rời bến. Tuy bớt hồi hộp nhưng Thắm vẫn lo. Biết đâu đang có kẻ theo dõi mình? Thắm tự thấy phải "cắt đuôi" đeo bám, nếu có. Khi tới gần một xóm ven đường, Thắm nói người tài xế dừng lại cho em xuống xe. Đón chiếc xe ngựa, đi tới khu Lăng Cha Cả, em lại xuống nữa. Rồi vẫy tiếp chiếc xe lam, em nhảy lên ngồi một lèo vô tận nội đô.


Tới đường Hồng Thập Tự (nay là đường Xô viết Nghệ Tĩnh), Thắm đến trước cổng bệnh viện Từ Dũ gặp cô Năm Trinh, chuyên mua bán báo cũ. Hai người chào hỏi nhau và trò chuyện đôi câu. Em rút trong túi xách mấy tờ báo Sài Gòn mới, Tin Sáng, Tiếng Chuông đặt trên xấp báo cũ của cô Năm; còn tờ Chính Luận và tờ Thách Đố, em đưa cho cô cất riêng. Cô Năm gật đầu, mỉm cười, vẻ hài lòng và không quên đưa tiền cho Thắm, giống như cô vẫn trả cho những người hay lui tới bán báo cũ. Cô nhắc nhỏ Thắm: "Nhớ cẩn thận nghe con! Thắm chào cô Năm - cơ sở mật của ta, rồi hòa vô dòng xe cộ đông đúc trên đường phố.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #11 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2021, 06:57:43 am »

Lần đầu chuyển báo Giải Phóng vào nội đô trót lọt, được cấp trên khen, Sáu Thắm càng thêm tự tin vào công việc của mình. Từ đó đến hết năm 1968 và suốt hai năm 1969, 1970, có tới 17 lần Thắm đưa báo của Mặt trận vào Sài Gòn. Mỗi lần em chỉ được mang một hoặc hai tờ, nhiều nhất là ba, bốn tờ, tất cả đều cắt dán sẵn. Việc cất giấu báo cũng luôn thay đổi: có khi để trong túi đựng quần áo; có lúc đặt dưới giỏ trái cây; có lần cuộn trong lá chuối rồi cho vào ruột đòn bánh tét như "nhân" bánh... Thân gái như em, mỗi chuyến đi là một chuyến căng thẳng, lo âu: không chỉ lo đối phó với bọn mật thám, chiêu hồi theo dõi, bọn cảnh sát kiểm soát, chọc ghẹo dọc đường; lo đụng các cuộc càn quét, đánh phá tàn bạo với đủ loại máy bay, xe tăng, xe bọc thép, pháo binh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, mà còn lo cơ sở của ta bị lộ, nếu em không cẩn thận, dễ bị chúng gài bẫy đón bắt. Trường hợp cô Tư Cúc, người cùng tổ với em, bị địch vây bắt trên đường công tác do có kẻ chỉ điểm, càng khiến em luôn nêu cao cảnh giác.


Chuyến đưa báo đầu Xuân Kỷ Dậu - 1969 đối với Thắm là một trong những chuyến đi đáng nhớ. Hôm ấy, Thắm tới giao "hàng" và nhận báo Giải Phóng tại điểm hẹn ở Củ Chi giữa lúc địch đang kiểm soát gắt gao và đánh phá dữ dội vùng "tam giác sắt". Để tránh sự chú ý của địch, tổ trưởng Sáu Khánh không trao ngay túi đồ (trong đó có báo Giải Phóng) cho Thắm xách về như trước mà dặn em đi tay không đến bến xe, tìm gặp người phụ nữ mặc bộ bà ba màu xanh dương, đội nón lá có quai màu đỏ, ẩm đứa con mới sinh, để được hỗ trợ.


Tới bến, Thắm nhận ra ngay một chị mặc bộ đồ, đội nón, ẵm con nhỏ như ông Sáu Khánh nói. Chị mang theo túi đồ và giỏ đựng chiếc bình thủy, chắc đang đợi Thắm. Bước thẳng đến chỗ chị, Thắm hỏi nhỏ:

- Chị ơi! Chị có phải là chị Cửu?

Nhìn cô gái mặc áo sơ mi trắng, tóc xõa, không đội nón (đúng trang phục của người mình cần gặp) và xách chiếc giỏ màu trắng, chị gật đầu:

- Đúng rồi, chị nè! Long đó hả? Em khỏe không?

Hai chị em đều mừng khi nhận đúng ám hiệu quy ước gặp nhau. Thực ra, Cửu và Long chỉ là mật khẩu; còn tên của hai người đều không phải vậy. Chị là Út Biểu, người được tổ chức phân công giúp Thắm trong chuyến đi này.

Chị Út Biển trao đứa bé cho Thắm ẵm và dặn em phải giả bộ như người mới sinh con; còn chị chỉ là người nhà đi theo chăm sóc sản phụ. Thắm hiểu ý và làm theo chị, mặc dù em bỡ ngỡ vì lân đầu trong vai người mẹ trẻ. Chị Út không quên vuốt cho tóc Thắm phủ kín vai và đưa nón của mình để Thắm đội che luôn cả "hai mẹ con", rồi mới xách túi và giỏ bình thủy cùng em lên xe.


Hai chị em ngồi bên nhau, chỉ cách tài xế vài hàng ghế. Thắm ôm "con" ngồi phía trong, chị Út ngồi bên ngoài, sát lối đi. Chị đặt túi đồ cạnh chân Thắm. Em biết trong túi ấy có hai tờ báo Giải Phóng xếp ở dưới cùng, được cắt dán và lót vải áo mưa; còn trên mớ quần áo là mấy tờ báo Sài Gòn cũ dùng làm giấy gói.


Xe đò chưa kín chỗ, tốp cảnh sát địch đã kéo đến chặn cửa lên xuống. Ba tên hung hăng nhảy lên xe lục lọi hành lý của khách để tìm kiếm vũ khí và tài liệu "Việt Cộng". Một tên xét gần đến chỗ chị Út. Bỗng, đứa bé trên tay Thắm khóc ré lên. Thắm ôm "con", vỗ về, nhưng bé không chịu nín mà còn quậy mạnh. Thắm mở tấm khăn đắp quanh người bé. Hóa ra nó mới tè, ướt sũng! Chị Út giúp Thắm lấy đồ trong túi xách thay cho bé. Thằng nhỏ vẫn khóc. Chị giục Thắm: "Em cho con bú đi. Nó đói rồi đó! Bất ngờ trước tình huống phát sinh, Thắm thoáng lúng túng và hơi mắc cỡ. Là gái mới lớn, chưa có chồng, em đâu biết cho con bú, mà lại bú giữa chỗ đông người! Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ, nghe "lệnh" của chị Út, chẳng ngượng ngùng, em cúi xuống mở nút áo. Quả nhiên, được ngậm vú "mẹ", dù không có sữa, thằng bé cũng nín thinh.


Thấy tên cảnh sát vẫn đứng đó, lừ lừ nhìn hai chị em và hình như nó muốn xét đồ, chị Út lẹ tay kéo chiếc túi không khóa, lục kiếm chiếc khăn nhỏ cho Thắm lau mặt "con" - thực ra chị cố ý để tên cảnh sát biết trong túi chỉ đựng mớ quần áo phụ nữ, đồ của trẻ sơ sinh, khăn lót, bình pha sữa, ly, muỗng, vài hộp sữa và mấy tờ báo cũ, những thứ này chẳng thể làm hại "quốc gia". Có thể tên cảnh sát cũng nghĩ vậy. Chắc không muốn mất thời gian ở chỗ nhếch nhác, nó lẳng lặng quay qua lục xét người khác rồi cùng đồng bọn rút đi. Cả hai chị em đều thấy nhẹ người khi chiếc xe đò ra khỏi bến.


Chị Út Biểu và Thắm không đi suốt tuyến mà kêu tài xế dừng xe để cùng xuống ngã ba Ông Tạ. Chị đưa cho Thắm chiếc túi xách có báo Giải Phóng với vài bộ quần áo phụ nữ và mấy tờ báo Sài Gòn, còn đồ của trẻ sơ sinh đã được chuyển sang giỏ đựng bình thủy. Thắm trao "con" cho chị Út Biểu, tạm biệt chị và bé rồi xách túi nhảy lên chiếc xe ngựa từ Củ Chi vừa lộc cộc chạy tới. Gần đến ven đô, em lại rời xe ngựa, chuyển sang chiếc xe lam đi thẳng vô quận nhất. Thắm ghé dãy hàng bán bánh mỳ ở cửa phía Tây chợ Sài Gòn và tới quầy của cô Út Của, một người vừa bán bánh vừa mua báo cũ để gói bánh. Thắm trao xấp báo cho cô Út Của. Cô mừng rỡ cất lẹ hai tờ báo gấp riêng (có cắt dán) vô tủ kiếng trên chiếc xe đẩy, rồi đưa cho em ổ bánh mỳ kẹp thịt và tiền bán báo. Không tiện dừng lâu với cô Út (cơ sở mật), Thắm ghé vô chợ, rồi quẹo ra lối cửa Bắc và lại ung dung đi tiếp...
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #12 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2021, 07:32:27 am »

Bí mật trong chiếc bánh chưng

Hôm đó, Sáu Thắm mang tài liệu từ nội đô tới cơ sở ở gần chợ Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh) sớm hơn dự định do em khéo léo vượt qua tất cả các chốt kiểm soát của địch ở dọc đường. Giao xong tài liệu, Thắm đến gặp ngay cán bộ chỉ huy để nhận nhiệm vụ trước khi quay trở lại Sài Gòn.


Ông Ba Chí, Tổ phó tổ giao liên C30 vui mừng về chuyến đi an toàn của Thắm. Tin yêu người chiến sĩ trẻ tuổi và nhiệt tình của tổ, ông nói:

- Trong tuần này, Thắm có nhiệm vụ chuyển vô thành một loại "hàng" đặc biệt. Bữa nay, chú không giao "hàng" tại đây, mà cháu phải tới nhận từ nơi khác. Chuyến đi sắp tới cũng không kém phần nguy hiểm. Ráng làm thiệt tốt nghe, cháu!

- Dạ, cháu sẽ cố gắng hết sức. Mấy chú yên tâm - Thắm lễ phép đáp.

Cũng như mọi lần, ông Ba Chí dặn Thắm tỉ mỉ về nơi cần đến, thời gian có mặt, người cần gặp, việc cần làm và không quên nhắc Thắm luôn cảnh giác, bảo đảm an toàn.

Theo chỉ dẫn của người chỉ huy lớn tuổi và dạn dày kinh nghiệm hoạt động bí mật, Sáu Thắm về Sài Gòn, tìm ngay đến cơ sở mới ở chợ Vườn Chuối. Đúng 11 giờ trưa ngày 5-3-1969, Thắm bước vô quán hủ tiếu ở đầu chợ và gặp một cô gái đang đón khách hàng.

- Cho tôi hỏi, có phải đây là quán cô Bảy Mạnh?

- Dạ phải - cô gái trả lời.

- Cô cho tôi gặp cô Bảy.

- Chị đợi em chút, nghe! - Cô gái trả lời và chạy vô phía trong.

Chỉ mấy phút sau, một phụ nữ đứng tuổi bước ra. Bà hỏi Thắm:

- Cháu cần gặp cô Bảy Mạnh phải không? Cô nè!

Thắm chào cô và nói mình là cháu chú Ba Chí, có công chuyện đến nhờ cô Bảy giúp đỡ. Nhìn "cháu chú Ba" mặc áo ca rô sọc hồng, tóc bới cao sau gáy và đội nón lá (đúng mật hiệu), cô Bảy mừng rỡ.

- Ồ, cháu chú Ba! Cháu tên gì? - Cô hỏi.

- Dạ, cháu tên Thắm.

- Vô trong này, con! - Cô thân mật đổi cách xưng hô.

Rồi cô dẫn Thắm vô thẳng nhà trong. Rất mau lẹ, Thắm ngồi nghiêng đầu để cô Bảy gỡ giúp mái tóc mình. Cô nhẹ nhàng rút từng chiếc kẹp xinh xinh, lật từng nếp tóc cuộn mềm mại của Thắm cho xòa xuống lưng và lấy ra một mẩu giấy nhỏ xíu. Cô đọc chữ trên mẩu giấy và lẳng lặng cất đi rồi mới tiếp tục chuyện trò.

- Mái tóc dài của Thắm đẹp quá! Ai bới tóc cho con mà khéo vậy? - Cô hỏi.

- Dạ, má con mới bới cho hồi sáng đó, cô! - Thắm trả lời.

- Hèn chi, cô thấy bới tóc con gọn gàng, cân đối, giản dị, dễ thương quá!

Cô Bảy không quên nhắc Thắm ngồi yên cho cô chải và bới lại mái tóc như cũ để đề phòng có kẻ theo dõi.

Cơm nước và nghỉ trưa xong, cô Bảy biểu Thắm cùng cô đi tiếp một số nơi để nhận "hàng". Cô đích thân dẫn Thắm ra đường Hùng Vương (nay là đường Võ Thị Sáu), đón xe đò lên Biên Hòa. Thắm theo cô đến nhà người quen của cô trong tiệm bán đồng hồ ở gần chợ phố và nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, hai cô cháu ra bến xe đò, tiếp tục qua Long Khánh. Cô dẫn Thắm đến gần chợ Long Khánh và vô gia đình cô Ba Tơ, một cơ sở mật. Vui mừng khi gặp nhau, cô Bảy và cô Ba rù rì trò chuyện lúc nhỏ, lúc to, bàn bạc khá lâu.


Nghe tiếng nói, Thắm biết cô Ba Tơ người miền Bắc. Chưa rõ chuyện chồng, con cô ra sao, Thắm chỉ thấy cô nghèo, ở một mình. Cô làm nghề bán lá dong và dây lạt gói bánh chưng, có mấy cháu gái giúp việc. Nhà cô vốn nhỏ, hẹp, lại chất đầy lá dong và dây lạt nên càng chật chội. Nhưng "chật nhà, không chật lòng", cô Ba nói vậy và luôn niềm nở lo cơm nước cho khách chu đáo. Hai đêm liền, do phải đợi "hàng", cô Bảy Mạnh và Thắm đều ngủ trên chiếc giường nhỏ ngay cạnh đống lá dong.


Hôm sau, cô Ba dẫn cô Bảy qua một con hẻm sâu hun hút trong ngõ và tới nhà chú Năm Hiền để nhận "hàng". Đúng là người sao, tên vậy. Chú Năm Hiền coi bộ hiền khô. Hình như chú là thợ sửa chữa máy móc gì đó. Thắm thấy chú ốm nhom, da sạm nắng và quanh nhà bày ngổn ngang môtơ, kìm, búa, ốc, vít... Có khách đến, chú đón tiếp thân tình. Tuy ít nói nhưng lúc nào chú cũng tươi cười. Và chú cũng nói tiếng Bắc. Lần đầu tới đây, qua chú Năm Hiền và cô Ba Tơ, Thắm hiểu rõ hơn những điều em từng nghe nói. Gia đình chú Năm, cô Ba và nhiều bà con trong xóm phố đều từ miền Bắc di cư vô hồi năm 1954. Dù sống tại phương Nam loạn lạc gần 15 năm nhưng nhà nào cũng giữ được nếp gia phong, tập quán tốt đẹp của quê cha đất tổ, trong đó có phong tục gói bánh chưng. Giống như nhiều người miền Bắc đang sinh sống tại Hố Nai, Biên Hòa, Long Khánh, bà con xóm phố này gói bánh chưng quanh năm, nhiều nhất là dịp Tết cổ truyền và có bán ở cả Sài Gòn, Chợ Lớn.


Hôm đó, chính tại nhà chú Năm Hiền, Thắm được cô Ba Tơ và chú Năm trao cho món "hàng" không giống với các thứ hàng mà lâu nay em vẫn chuyển. Đó là ba chiếc bánh chưng lớn, mỗi chiếc nặng chừng một ký. Khác với bánh tét Nam Bộ thường gói bằng lá chuối, hình tròn và dài như bó giò, những chiếc bánh chưng Thắm nhận đều gói bằng lá dong xanh, hình vuông và cột hai đôi dây lạt mềm mại, thẳng đều. Thắm hiểu, dưới lớp lá bọc mấy chiếc bánh chưng nấu chín gồm gạo nếp, đậu xanh và thịt heo, còn một thứ "nhân" đặc biệt mà em phải bí mật chuyển đến nơi cần nhận. Cô Bảy Mạnh nhắc Thắm chú ý chi tiết quan trọng:

- Ba chiếc bánh này đều cột bằng dây lạt màu trắng, trong đó có một chiếc được cột thêm sợi chỉ màu đỏ nhỏ vô dây lạt ở dưới. Dọc đường đi, nếu bị địch kiểm soát hoặc bất đắc dĩ phải cho ai đó, con có thể đưa một hay hai chiếc bánh kia, còn giữ lại chiếc bánh đánh dấu bằng sợi chỉ đỏ.

- Dạ, con nhớ rồi, cô Bảy yên tâm - Thắm lễ phép nói.

Cô Bảy Mạnh giúp Thắm xếp bánh vô chiếc giỏ đệm lớn. Thắm cẩn thận đặt chiếc túi nhỏ đựng đồ của mình lên giỏ và kéo kín khóa dây.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #13 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2021, 07:33:30 am »

Chia tay chú Năm Hiền và cô Ba Tơ, Thắm xách giỏ bánh chưng cùng cô Bảy rời Long Khánh. Mấy hôm ở xóm phố nghèo, Thắm còn nhận ra thêm một sự thật: bà con nơi đây hiền lành, chất phác, nhiều người nhiệt tình tham gia hoạt động cách mạng, ủng hộ kháng chiến chống ngoại xâm, chứ không phải ai cũng "chống Cộng" như bộ máy "chiến tranh tâm lý" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn rêu rao hòng kích động hận thù dân tộc, chia rẽ Bắc - Nam.


Cô Bảy Mạnh và Thắm cùng ngồi xe đò trở lại Sài Gòn. Trước khi về nhà ở chợ Vườn Chuối, cô Bảy dặn Thắm khá tỉ mỉ đường đi để em chuyển giỏ bánh chưng đến giao cho cậu Ba Bi. Vốn rành nhiều đường phố, ngõ ngách nội đô, Thắm xách giỏ tới thẳng đường Công Quỳnh. Đến dãy hàng bán thịt heo phía sau chợ Thái Bình, em dừng lại trước một căn nhà và hỏi bà già đang nhặt rau trước cửa:

- Bà ơi! Cho cháu hỏi, đây có phải nhà cậu Ba Bi?

- Đúng rồi. Tôi là mẹ Ba Bi nè! - Bà già ngừng tay, trả lời Thắm.

- Cháu xin lỗi, bà thứ mấy?

- Tôi thứ mười. Còn cháu, tên gì?

- Dạ, cháu tên Thắm. Cháu có công chuyện cần gặp cậu Ba Bi.

- Cậu Ba đi làm, chưa về. Cháu ngồi đợi, bà đang nấu cơm để chút nữa cậu Ba về kịp ăn rồi đi nữa.

- Thưa bà, cậu Ba làm nghề gì vậy? - Thắm mạnh dạn hỏi thêm.

- Cậu làm nghề chạy xích lô máy - Bà nói.

Ngồi đợi ở gần cửa, Thắm thấy hồi hộp. Theo lời dặn của cô Bảy Mạnh, Thắm đã đến đúng nhà, hỏi đúng người, nhưng chưa rõ tướng mạo cậu Ba Bi ra sao? Liệu cuộc gặp này có gì trục trặc không? Thắm đang lan man suy nghĩ thì một người đàn ông cao, to, da ngăm đen, tóc quăn, giống như người nước ngoài xuất hiện trước cửa.

- Đó, cậu Ba Bi về đó, cháu! - Bà Mười biểu Thắm.

Thoáng chút lúng túng vì rất khó đoán tuổi người đàn ông mới gặp, Thắm lên tiếng:

- Dạ... chào cậu Ba.

Cậu gật đầu nhìn em. Thắm nói luôn:

- Cô Bảy Mạnh nhờ cháu mang chiếc bánh chưng này cho cậu Ba.

- Cảm ơn cháu!

Nghe rất đúng mật khẩu, Thắm mở túi xách lây chiếc bánh chưng có sợi chỉ đỏ đưa cho cậu Ba Bi. Cậu Ba lặng lẽ cầm chiếc bánh cất vào trong nhà. Vẫn nhớ lời chỉ dặn hồi nãy của cô Bảy Mạnh, Thắm lấy thêm chiếc bánh thứ hai, xuống bếp mượn bà Mười cái dĩa lớn, để bánh vô dĩa rồi đặt lên bàn thờ ông Mười ở trong nhà. Nhìn di ảnh ông Mười treo trên tường, Thắm ngạc nhiên vì khuôn mặt người trong tấm hình rất giống cậu Ba Bi. Thắm thắp nhang và kính cẩn vái vong linh ông Mười. Khi quay lại, em thấy bà Mười và cậu Ba đứng cạnh mình. (Sau đó, Thắm mới hay, ông Mười là người Ấn Độ. Bà Mười lấy ông từ hồi ổng còn mở tiệm bán vải ở chợ Thái Bình và sinh được cậu Ba Bi. Ông Mười mất sớm, một mình bà ở vậy nuôi con khôn lớn. Lâu nay, gia đình bà là cơ sở tin cậy của cách mạng. Với lợi thế của người gốc Ấn Độ làm nghề chạy xe xích lô máy, địch ít chú ý, cậu Ba Bi không chỉ chuyển tài liệu mà nhiều lần còn bí mật chuyển vũ khí, đạn dược phục vụ lực lượng biệt động thành hoạt động).


Bà Mười và cậu Ba Bi mời Thắm ở lại ăn cơm, nhưng em từ chối vì "còn công chuyện cần đi". Chia tay bà Mười và cậu Ba, Thắm xách túi qua dãy hàng bán thịt heo, ghé vô chợ Thái Bình rồi đi luôn ra cửa khác. Em vẫy xe taxi, chạy tuốt về phía cầu Ông Lãnh.


Trưa hôm đó, Thắm về nhà cậu Út Đông - người cậu ruột từng nuôi dưỡng, chăm sóc Thắm từ nhỏ và quý mến như con đẻ. Biết mọi người trong gia đình lâu nay thỉnh thoảng mới ăn bánh chưng, Thắm bóc chiếc bánh còn lại trong chuyến đi của mình, mời cậu, mợ và các em cùng thưởng thức hương vị loại bánh thơm ngon, mang nét văn hóa truyền thống từ ngàn xưa của dân tộc.


Bốn hôm sau, Sáu Thắm có mặt tại khu căn cứ Bến Dược, huyện Củ Chi. Ông Ba Chí, Tổ phó Tổ giao liên rất vui khi nghe Thắm báo cáo cuộc hành trình kiên trì của em đê chuyển trót lọt chiếc bánh chưng đến nơi nhận. Ông Ba biểu dương Thắm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông hỏi Thắm:

- Cháu có biết, trong chiếc bánh chưng được đánh dấu bằng sợi chỉ đỏ mà cháu mang hôm đó là gì không?

- Dạ, nguyên tắc bí mật, cháu không biết - Thắm thưa.

Ông Ba Chí gật đầu cười:

- Bây giờ, công việc xong rồi, chú có thể "bật mí" cho cháu hay: trong chiếc bánh ấy là cuốn sách "Sống như Anh" của nhà báo Trần Đình Vân viết về Anh hùng - liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, người thợ điện của Sài Gòn mình. Cuốn sách đó sẽ được in lại và bí mật lưu hành trong nhiều trường học, xóm phố để tuổi trẻ học tập và làm theo tấm gương hy sinh lẫm liệt của anh Trỗi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thắm vừa làm được một việc quan trọng và có ý nghĩa. Các chú sẽ đề nghị cấp trên khen thưởng cháu.

Ông Ba Chí hỏi thêm:

- Nè, Thắm đã đọc cuốn "Sổng như Anh" chưa?

- Dạ, rồi. - Thắm trả lời - Năm 1967, hồi ra chiến khu, trước khi trở về Sài Gòn, cháu đã đọc cuốn sách đó hai lần. Anh Nguyễn Văn Trỗi thật tuyệt vời. Cháu và bạn bè rất thương anh Trỗi và học được ở ảnh nhiều điều.

Hài lòng về người nữ đội viên giao liên nhỏ tuổi mà thông minh, gan dạ và đầy bản lĩnh, ông Ba Chí thân mật bắt tay Thắm:

- Các cô, chú luôn tin ở cháu. Chiều nay, có nhiệm vụ mới, Thắm cần vô Sài Gòn ngay. Mấy cơ sở nội đô đang chờ cháu đó. Thắm đi mạnh giỏi, ráng tiếp tục làm thiệt "ngon", nghe cháu!
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #14 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2021, 07:36:07 am »

Lọt giữa nơi địch dồn dân

Chiều ngày 19 tháng 5 1969, Sáu Thắm mang tài liệu từ cơ sở tại Đồng Dù đến xã Nhuận Đức an toàn. Xong việc, Thắm qua ngay xã Thái Mỹ, đợi gặp cán bộ chỉ huy để nếu có tài liệu, em chuyển vô nội đô kịp thời.

Thời điểm đó, Thái Mỹ và một số xã ở huyện Củ Chi còn nằm trong vùng bị địch kiểm soát; ta chỉ hoạt động bí mật vào ban đêm. Sáu Thắm tới nhà dì Hai Lời, một cơ sở lâu năm, nơi cán bộ ta thường xuyên đi về. Dì Hai có bốn người con đều hoạt động cánh mạng: anh Hai Long, anh Ba Lý tham gia đội du kích xã; chị Tư Chi lấy chồng ở chợ Củ Chi, chuyên bán cháo lòng; chị Năm Liễu, chuyên nghề nuôi heo nái - cả hai chị đều là cơ sở mật. Dì Hai Lời sống bằng nghề đan rổ, rá, thúng, nia... Dưới các bụi tre quanh nhà dì đều có hầm bí mật. Dì Hai tin cậy và quý Thắm như con. Nhiều lần, dì là đầu mối giao "hàng", tài liệu cho Thắm và nhận các thứ do Thắm chuyển tới.


Dì Hai Lời sắp xếp cho Thắm qua nghỉ tại nhà chị Năm Liễu, con gái út của dì, cũng là nơi Thắm quen thân do nhiều lần em từng lui tới. Thắm hiểu hoàn cảnh gia đình chị Năm và thương mến chị. Mới ba mươi chín tuổi mà chị có tới bốn đứa con, gồm hai trai, hai gái, đứa lớn nhất 9 tuổi, nhỏ nhất mới 3 tuổi. Anh Sáu Mẩn, chồng chị, là đội viên du kích xã. Ảnh thường đi miết, thỉnh thoảng mới về nhà. Tuy quần quật tối ngày với nghề nuôi heo nái để kiếm tiền chăm sóc các con nhưng chị Năm vẫn nhiệt tình công tác giao liên. Lần nào tới nhà chị, Thắm cũng có quà cho mấy mẹ con và phụ chị nấu cám heo hoặc tắm rửa cho sấp nhỏ.


Sáu Thắm ở nhà chị Năm hơn ba ngày. Tôi hôm thứ tư, Thắm thấy trong ấp có sự khác thường: bọn dân vệ đi lại nhiều hơn và tụ tập ăn nhậu ồn ào ở đầu ấp. Nghe chúng kháo nhau, Thắm đoán địch sắp đưa quân tới dồn dân xã Thái Mỹ vào "ấp chiến lược" và truy bắt "Việt Cộng". Em nghĩ cách ra khỏi Thái Mỹ và trở về nội đô để đề phòng địch phát hiện.


Đêm đó, Thắm phụ giúp chị Năm Liễu thu xếp đồ đạc chuẩn bị chống địch gom dân và định hôm sau ra đón xe đò đi Sài Gòn sớm. Nhưng em không thể ra khỏi ấp, vì bốn phía đều bị bọn lính chốt chặn.

Mới mờ sáng, pháo từ các căn cứ Mỹ trong vùng dồn dập nã đạn xuống quanh các ấp. Pháo vừa dứt, từng đàn máy bay trực thăng không rõ từ đâu ào ào kéo tới, sà rất thẫp và đổ quân xuống cánh đồng. Bọn lính địch tràn vô các ấp, vừa đi vừa nổ súng loạn xạ và la lối om xòm. Chúng phát loa, kêu tất cả mọi người phải lập tức rời khỏi nhà để vào "ấp chiến lược", ai chống lệnh "quốc gia" sẽ bị bắt hoặc bắn bỏ. Cả ấp, cả xã xôn xao, náo động. Tiếng trẻ khóc, tiếng gọi nhau xen lẫn tiếng chó sủa ran. Lửa, khói bốc lên ngùn ngụt từ mấy ngôi nhà bị bọn lính đốt cháy. Là người từng khốn khổ vì nhiều lần bị giặc dồn dân, bắt bớ, đe dọa và cướp bóc triền miên, chị Năm Liễu không lạ các thủ đoạn của giặc và biết cách đối phó chúng. Chị nhắc Thắm:

- Tụi nó tới ấp rồi. Chị em mình đều có thế hợp pháp, không ngại. Thắm đi cùng chị và sấp nhỏ ra khỏi nhà với mọi người, đừng để tụi nó nghi mình chống đối, nghe em!

Thắm không ngờ mình lọt giữa vòng vây của địch và sắp bị chúng dồn vô khu gom dân hay "ấp chiến lược" nào đó. Sự việc diễn ra quá nhanh. Địch có vẻ hung hăng, chúng buộc mọi người ở Thái Mỹ "nội bất xuất, ngoại bất nhập", nếu Thắm đi lại lúc này rất dễ bị lộ. Chỉ có trà trộn vào dân như những người chạy giặc, theo cách chị Năm chỉ dẫn mới bớt nguy hiểm. Thắm nghĩ vậy và vội quàng chiếc khăn màu sẫm và đội nón lá che bớt mái tóc dài.


Khi Thắm đang cùng chị Năm sửa soạn gồng gánh thì bọn lính ập vô. Chúng chĩa súng, lên đạn, vừa chửi tục, vừa hối thúc mọi người ra khỏi ấp. Một tên nổ súng hăm dọa. Nghe tiếng súng, mấy đứa con chị Năm xanh mặt, khóc thét lên. "Mấy ông khỏi kêu. Chúng tôi đi nè!" - Chị Năm trả lời tốp lính và nhào tới ôm các con. Đặt đôi thúng gánh trước cửa, chị ẵm thằng Đông (3 tuổi) và con Thu (5 tuổi) ngồi chung một thúng. Còn thằng Hạ (7 tuổi), chị cho ngồi riêng trong chiếc thúng thứ hai, kèm một bọc gạo và mấy thứ đồ lặt vặt. Tội nghiệp sấp nhỏ, đứa nào cũng ốm nhom và kêu đói. Thắm phụ chị Năm nâng đôi thúng gánh ba đứa con lên vai, rồi một tay dắt cháu Xuân (9 tuổi) - con gái lớn của chị, một tay xách túi đựng quần áo của cả nhà, em lẳng lặng cùng chị ra đường. Chợt ngó lại, thấy bọn lính sục sạo trong nhà và chọc bầy heo chạy nháo nhác, tức quá, chị Năm tính quay vô cản chúng. Nhưng nghĩ đến Thắm và đàn con nhỏ, chị cố nén căm uất, bước đi.


Thắm kéo con Xuân theo sát chị Năm cùng ba đứa nhỏ ngồi trên thúng gánh, giữa đám đông bà con xóm ấp vừa bị giặc lùa ra đường.

Nhìn khắp, Thắm chỉ thấy toàn ông bà già, phụ nữ và trẻ nít; ai cũng gồng gánh, tay xách nách mang, dắt díu nhau lôi thôi, lếch thếch. Mặc bọn lính lầm lì, mặt mũi dữ dằn, súng ống lăm lăm kèm sát phía sau, mấy ông già uất ức vừa đi vừa nguyền rủa những kẻ tàn bạo nhân danh "chánh nghĩa quốc gia" mà dùng súng đạn ép người dân phải rời bỏ mồ mả Tổ tiên, ông bà, bỏ cả nhà cửa, ruộng vườn, đến nơi tập trung như kẻ bị tù tội.


Lặng lẽ bước giữa dòng người ồn ào, đi đứng lộn xộn dưới nắng gắt, Sáu Thắm càng thây thương mẹ con chị Năm và bà con quá chừng. Em cũng lo, chưa biết mình và mọi người bị địch dồn về đâu và chúng còn giở tiếp những thủ đoạn gì? Lúc nào Thắm có thể ra khỏi nơi nhộn nhạo, phức tạp và ẩn chứa nhiều rủi ro này?


Đoàn người uể oải bước, mỗi lúc một rời rạc vì nhiều gia đình phải dừng lại dọc đường chờ đợi nhau do có người già đau yếu và con nít kêu khóc đòi ăn uống, ỉa đái. Mãi gần trưa, mọi người mới tới khu đất giữa xã Thái Mỹ. Bọn lính dồn tất cả các gia đình vô một trường học trống lốc của xã. Chúng buộc các gia đình phải ở tạm trong đó, tự lo ăn, lo ngủ tại chỗ, đợi đến hôm sau chúng tra xét từng người rồi đưa tiếp vô " ấp chiến lược".


Vậy là Sáu Thắm đã rõ ý đồ của địch. Trưa và chiều hôm đó, hàng trăm con người bị ép rời nhà cửa tới đây đều phải trải chiếu hoặc áo mưa nằm, ngồi chen chúc, vạ vật trong ngôi trường hoang vắng, chật chội và ẩm mốc. Sáu Thắm cùng chị Năm kiếm một chỗ ở góc nhà để bọn trẻ nằm nghỉ, rồi lo nấu nướng, ăn uống cho cả nhà. Đến cuối buổi chiều, Thắm để ý thấy bọn lính kéo nhau rút dần hết, chỉ còn tụi dân vệ ở lại canh chừng những người dân bị giữ trong trường học. Đêm đó, nằm cạnh chị Năm Liễu và mấy đứa con chị, Thắm trằn trọc suốt. Em nói nhỏ với chị:

- Chị ơi! Sáng mai, bằng mọi cách em phải về Sài Gòn sớm. Nếu để tụi nó đến kiểm tra, dẫn theo kẻ chiêu hồi tìm "Việt Cộng", em có thể bị lộ. Em nhờ chị báo lại với dì Hai và chú Tư, chú Ba giúp em. Mấy bữa nay có em trong nhà, chị Năm thêm vất vả. Em cảm ơn chị nhiều.

- Đừng nghĩ vậy, Thắm ơi! Chị em mình thương nhau mà! - Chị Năm ôm lấy Thắm, thì thầm - Sáng mai em đi sớm là đúng, cần ra khỏi đây trước khi bọn địch từ huyện, xã kéo tới. Em nhớ phải rất cẩn thận, nghe Thắm!

Sáng hôm sau, Thắm dậy sớm. Em chải lại tóc, sửa soạn áo quần cho gọn gàng hơn. Thắm tính sẵn một vài tình huống phải đối phó với địch nếu gặp sự cố và em tin mình sẽ có cách vượt qua.

Trời tảng sáng, qua cửa sổ, Thắm nghe có tiếng nói rì rầm mỗi lúc một gần của mấy bà gánh hàng từ xã bên đi chợ. Mây tên dân vệ canh chừng vẫn ôm súng ngồi ngáp trước cửa. Thắm xách giỏ bước thẳng tới gần một tên dân vệ có vẻ vẫn thức và thản nhiên hỏi hắn:

- Cảm phiền ông, cho tôi hỏi bây giờ là mấy giờ?

Nó đứng dậy, nhìn Thắm đầy vẻ ngạc nhiên. Nhận ra người trước mặt mình là một cô gái trẻ, nó gãi đầu, gãi tai, đưa tay coi đồng hồ và trả lời liền:

- Đúng 5 giờ. Cô định đi đâu sớm vậy? - Nó hỏi lại.

- Tôi ra đón xe đò về Sài Gòn kẻo lỡ.

- Ủa, mà cô không phải người xã này sao? Vậy hồi hôm cô vô đây làm chi cho cực?

- Hôm rồi, tôi về thăm bà Hai Lời, là dì tôi ở ấp Bình Thượng. Tôi chưa kịp đi thì bị mấy ông đưa vô đây. Bữa nay tôi phải về Sài Gòn.

- Có phải bà Hai Lời chuyên đan rổ rá không?

- Thì đó, đúng rồi!

- Tôi cũng biết bà Hai Lời mà! - nó tỏ vẻ thân thiện - Vậy cô cho tôi coi giấy?

Thắm đưa thẻ căn cước cho tên dân vệ. Nó đọc lướt rồi gật đầu, đưa thẻ trả lại Thắm. Không một chút nghi ngờ, lại còn làm bộ "lịch sự" với con gái thành thị, nó chỉ Thắm cứ theo mấy bà đi chợ vừa qua đây, chút nữa là gặp xe ngựa.

Thắm mỉm cười, gật đầu "cảm ơn" nó rồi xách giỏ bước vội trên con đường đất đỏ. Em mừng vì buổi sớm xuất hành suôn sẻ. Đi một đoạn ngắn, Thắm gặp và nhập ngay vào nhóm người gánh hàng bông. Vừa lúc có chiếc xe ngựa chạy qua, Thắm vẫy tay cho xe dừng và nhảy lên. Trên xe chỉ có mấy người, ai cũng đầy vẻ mệt mỏi. Thắm chọn một chỗ gần ông chủ xe. Tưởng ai, hóa ra ông Hai, người mà em quen do nhiều lần từng được ông chở qua lại trong huyện.Thỉnh thoảng, ông Hai xe ngựa ngừng ít phút đón thêm khách rồi lại cho xe chuyển bánh. Nhìn về phía trước, Thắm chợt nhận ra một đoàn xe nhà binh chở đầy lính đang rầm fâm chạy ngược lại phía mình. Từng chiếc xe lớn hùng hổ lao qua, cuốn bụi mù mịt. Chúng chạy sát chiếc xe ngựa nhỏ bé, mỏng manh, lại gầm rú như điên loạn, làm con ngựa khiếp sợ chồm lên, khiến ông Hai phải nhảy xuống dừng xe và giữ ngựa. Đợi cho chiếc cuối cùng trong đoàn xe chở lính đi qua, ông mới cho con ngựa của mình tiếp tục cuộc hành trình.

Giọng bực tức, ông Hai thủng thẳng nói, cố ý để Thắm và mấy người khách trên xe cùng nghe:

- Bữa nay, tụi nó lại kéo nhau trở lại xã Thái Mỹ bố ráp và tìm kiếm "Việt Cộng" nữa đó. Lũ chó này chỉ ăn cướp và giết dân, chứ bây giờ "Việt Cộng" nào còn ở trỏng mà kiếm. Để coi, không chừng chúng lại bị mấy ông du kích "oánh" cho tơi tả!

Nghe ông Hai nói giống như người đằng mình, Sáu Thắm không giấu được cười. Khi đến chợ Củ Chi, Thắm chia tay ông Hai xe ngựa và chuyển sang chiếc xe đò. Em ngồi luôn trên xe cho đến chợ Hòa Hưng rồi lẫn trong dòng người đông đúc giữa nội đô.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #15 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2021, 07:38:17 am »

Những ngày kềm nén đau thương

Tuần đầu tháng 9 năm 1969, Sáu Thắm và các cơ sở trong đường dây giao liên của ta ở Sài Gòn đều bàng hoàng khi nghe tin dữ: Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta từ trần.

Đó cũng là những ngày Sáu Thắm và đồng đội hoạt động rất khó khăn do địch kiểm soát gắt gao. Suốt ngày đêm, bộ máy chiến tranh tâm lý Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra rả xuyên tạc tình hình chiến trường miền Nam hòng gây hoang mang, giảm niềm tin và quyết tâm của đồng bào, chiến sĩ ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Tại nội đô, chính quyền Sài Gòn không những cấm tụ tập đông người, cấm nghe Đài Phát thanh Giải phóng và "Đài Hà Nội" (Đài Tiếng nói Việt Nam) mà còn rải mật vụ trà trộn trong các xóm phố theo dõi, bắt bỏ tù bất cứ ai chúng nghi ngờ hội họp, tổ chức tưởng niệm hay lập bàn thờ, cầu siêu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù vậy, tổ công tác của Sáu Thắm cũng như nhiều đồng bào và chiến sĩ ta ở Sài Gòn vẫn có những cách sáng tạo, linh hoạt, với nhiều hình thức để tưởng niệm Bác Hồ kính yêu, bày tỏ sự nhớ thương và lòng biết ơn đối với người Anh hùng dân tộc.


Sáng ngày 11-9, theo hẹn, Sáu Thắm đến gặp "nhà thầu khoán" Sáu Khánh (Tổ trưởng Tổ giao liên C30) tại quán cà phê ở gần cửa Bắc chợ Sài Gòn (Bến Thành). Ông Sáu Khánh và Thắm vừa ngồi chưa nóng chỗ, mấy tên mật thám đã lảng vảng xung quanh. Phải cắt ngay mấy cái "đuôi" đang đeo bám theo dõi mình, hai người lặng lẽ rời khỏi quán bằng lối khác rồi vẫy xe taxi tới bến Bạch Đằng. Lựa một quán kem vắng vẻ gần nhà hàng Mỹ Cảnh, ông Sáu Khánh thông báo nhanh với Thắm việc đột xuất cần làm gấp, đó là chuẩn bị tổ chức lễ tưởng niệm Bác Hồ. Giọng ông nghe nghèn nghẹn:

- Chắc Thắm đã biết tin Bác Hồ qua đời. Bác mất là nỗi đau thương, mất mát vô cùng to lớn của dân tộc ta. Theo chỉ đạo của cấp trên, trong tháng này, các đơn vị, cơ sở tại nội đô sẽ tổ chức tưởng niệm Bác bằng nhiều hình thức phù hợp. Nhóm cơ sở của tổ ta tại nội đô dự định làm thiệt gọn, nhẹ vào 9 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 9 tại nhà cô Tư Nhẫn ở gần chợ cầu Muối. Cháu nhớ, nghe Thắm!

- Dạ, cháu nhớ - Thắm trả lời.

- Còn đây là nhiệm vụ của cháu - ông Sáu trao cho Thắm mẩu giấy nhỏ và nói tiếp - Cháu đến gặp ngay mấy bà, mấy cô trong tổ, đưa giấy cho từng người đọc để họ biết việc mình cần làm hôm đó. Khi mọi người đọc xong, cháu hủy giấy luôn.

Nhìn đôi mắt rưng rưng của Thắm, giọng ông Sáu cũng trầm xuống. Ông dặn thêm:

- Những ngày này, đồng bào và chiến sĩ cả nước ta ai cũng đau buồn. Nhưng cháu luôn nhớ, chúng ta đang sống trong vùng địch kiểm soát. Bọn nó theo dõi mình mọi nơi, mọi lúc. Cháu nói lại ý kiến của chú với mấy bà, mấy cô và dặn mọi người đặc biệt chú ý: Minh thương nhớ Bác Hồ thì để trong lòng; dù đau buồn đến đâu cũng ráng kềm nén, không được khóc, khóc là lộ liền. Nhớ, nghe cháu!


Chia tay ông Sáu Khánh, ngay chiều đó và ngày hôm sau, giả bộ như người đi chợ, Sáu Thắm lẳng lặng đạp xe đến các phố gặp từng cơ sở để đưa mẩu giấy nhỏ của Tổ trưởng Sáu Khánh. Từ cô Út Của bán bánh mì ở cửa phía Tây chợ Sài Gòn đến cô Năm Trinh mua giấy báo cũ và bán dầu gió ở cạnh Bệnh viện Từ Dũ; từ cô Tư Hà ở đường Nguyễn Thông (nay là đường Trần Văn Đang) đến cô Mộng Liên chuyên nhuộm quần áo dạo trong các ngõ ngách..., gặp ai, Thắm cũng phải nén xúc động vì thấy cô nào khi đọc mẩu giấy của ông Sáu Khánh cũng bật khóc. Thắm lần lượt nhắc lại với từng cô về lời dặn của tổ trưởng: "Mình thương nhớ Bác thì để trong lòng. Lúc này phải kềm nén, không được khóc".


Ngày 13 tháng 9 năm ấy (tức mồng 2 tháng 8 năm Kỷ Dậu) là ngày đáng nhớ đối với Sáu Thắm và mọi người trong nhóm cơ sở của Tổ giao liên. Theo hẹn, từng người lẻ tẻ đến "đám giỗ" tại nhà cô Tư Nhã, ở đường Cô Bắc, gần chợ Cầu Muối.


Từ 5 giờ sáng, ông Ba Chí (Tổ phó) thong thả đạp xe xích lô như người đi đón khách sớm. Dừng xe trước cửa, bước vô nhà cô Tư Nhã, ông Ba Chí ngạc nhiên thấy Tổ trưởng Sáu Khánh đã có mặt tại đây trước mình. Khoảng 6 giờ, cô Tư Hà mang đến hai cây đèn cầy và bó nhang to. Tiếp đó, cô Năm Trinh xách tới một giỏ bánh, kẹo. Sáu Thắm đến lúc 7 giờ, mang theo giỏ trái cây và hai bó bông huệ lớn. Cô Mộng Liên xách túi đồ lễ kèm theo một gói băng tang màu trắng. Riêng cô Út Của không đến một mình mà có cậu con nuôi tên là Vinh, chừng 22 tuổi, chở đến bằng xe đạp. Cô định cho nó tới "để có đứa sai vặt", nhưng chỉ ngồi chốc lát, nó dông luôn.


Bàn thờ gia tiên của cô Tư Nhã đặt trên lầu của ngôi nhà nhỏ gồm hai lầu, một trệt. Chồng cô Tư Nhã là cán bộ huyện ủy Hóc Môn, hy sinh từ thời kháng chiến chống Pháp. Không có con, cô Tư không đi bước nữa mà ở vậy cùng hai đứa con người anh ruột, kiếm sống bằng buôn bán lặt vặt và bí mật hoạt động cách mạng. Hôm nay, được tổ công tác tin cậy chọn nhà mình làm địa điểm tổ chức tưởng niệm Bác Hồ dưới hình thức "đám giỗ", cô Tư Nhã (trưởng nhóm giao liên cơ sở), coi đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm vinh dự. Bày tỏ tấm lòng thành của mình đối với vong linh vị lãnh tụ kính yêu, từ hôm qua, cô lặng lẽ sắm đồ lễ, có cả nhang thơm, đèn cầy và tiền, vàng, bạc bằng giấy... để cúng Bác theo nghi lễ truyền thông của dân tộc.


Đúng thời gian đã định, cô Tư Nhã khóa cửa tầng trệt, mọi người lên hết tầng lầu. Trên đó, Sáu Thắm cùng ông Sáu Khánh và ông Ba Chí đã tỉ mỉ bày xong lễ vật trước bàn thờ. Đợi cả nhóm có mặt đông đủ và đeo băng tang, ông Sáu Khánh rút trong ca táp ra lá cờ đỏ sao vàng bằng giấy, rộng cỡ nửa trang báo, và tấm hình chân dung Bác Hồ, in đen trắng, rộng bằng vở học trò.


Treo xong lá cờ và tấm hình Bác trên bàn thờ, ông Sáu Khánh đốt đèn cầy và trịnh trọng thắp nhang. Rồi ông khẽ hô mọi người đứng nghiêm chào cờ Tổ quốc. Hướng lên bức hình chân dung Bác Hồ, trong khói nhang nghi ngút, ông Sáu định nói mấy lời mở đầu như tuyên bố lý do, nhưng cổ ông nghẹn lại, mắt ông nhòa lệ. Cố gắng lắm, ông Sáu cũng chỉ bật ra được mấy câu:

- Các đồng chí ơi, Bác Hồ mất thiệt rồi! Hôm nay, tại đây, chúng ta làm lễ tưởng niệm Bác kính yêu...

Mới nói được bấy nhiêu, giọng ông Sáu đã lạc đi. Tất cả mọi người đứng quanh ông đều òa lên nức nở. Vẫn biết, lúc này, giữa sào huyệt địch, nếu khóc to, tiếng khóc vọng ra ngoài là bất lợi, nhưng không ai có thể kềm nổi nước mắt. Người nào cũng ôm mặt, cắn răng, rưng rưng, cố nén để không bật lên thành tiếng. Riêng cô Năm Trinh bị ngất xỉu tại chỗ. Sáu Thắm và các cô Tư Nhã, Út Của phải vội nâng cô dậy và xoa dầu cho cô tỉnh lại.

Mấy phút nặng nề trôi qua...

Nhìn ông Ba Chí, ông Sáu Khánh nói tiếp:

- Bây giờ, chúng ta im lặng nghe đồng chí Ba Chí đọc lời tưởng niệm Bác.

Lau vội đôi mắt đỏ hoe, ông Ba Chí rút trong túi ra tờ giấy nhỏ và hướng lên tấm hình Bác Hồ. Giọng ông run run:

"Kính thưa vong linh Bác kính yêu! Hôm nay, giữa Sài Gòn còn đang bị quân thù chiếm đóng và kềm kẹp, chúng con vô cùng đau đớn... "

Mới đọc được chừng ấy chữ, nước mắt ông Ba đã đầm đìa. Cổ ông tắc nghẹn. Tiếng ông khản đặc. Ông mím chặt môi, nấc dồn dập và không sao đọc tiếp. Ông Ba khóc, mọi người lại rưng rức khóc theo.

Cố lấy bình tĩnh, ông Sáu Khánh cầm tờ giấy do ông Ba Chí đưa. Chợt ông quay lại, trao tờ giấy cho Sáu Thắm:

- Thắm là người trẻ và tinh mắt nhứt tại đây. Chú giao cho cháu đọc nè! - Ông Sáu Khánh rưng rưng nói - Lời tưởng niệm này nhất thiết phải đọc. Thắm đọc đi!

- Dạ, cháu xin phép đọc! - Sáu Thắm run run đón nhận tờ giấy từ ông Sáu Khánh, hướng lên bàn thờ.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #16 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2021, 07:40:19 am »

Không khác ông Ba Chí, Thắm cũng suýt bật khóc khi cất lời mở đầu. Nhìn lá cờ Tổ quốc và hình chân dung Bác thiêng liêng, Thắm cố nén xúc động. Tuy khó đọc liền mạch (do mấy lần phải ngưng để gạt nước mắt), nhưng những câu chữ mộc mạc viết tay trên tờ giấy nhỏ qua giọng đọc của Thắm cũng toát được tình cảm chân thành, sự tiếc thương, niềm tự hào, quyết tâm sắt đá của những chiến sĩ giao liên đang lặng thầm hoạt động giữa sào huyệt địch đối với vị lãnh tụ vĩ đại và rất đỗi kính yêu. Thắm đọc trong nghẹn ngào:

... "Kính thưa Bác! Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đang diễn ra vô cùng ác liệt, chúng con ở nơi tuyến đầu của Tổ quốc chưa một lần được gặp Bác, vậy mà Bác đã ra đi. Chúng con đau buồn lắm, Bác ơi!"

... "Bác mất đi là sự đau thương, mất mát không gì bù đắp nổi đối với cả nước, với miền Nam và với chúng con".

... "Bác để lại cho chúng con muôn vàn tình thân yêu. Khắc ghi lời dạy và thực hiện Di chúc của Bác, chúng con nguyện biến đau thương thành hành động, không sợ gian khổ, hy sinh, quyết chiến đấu đến cùng, góp phần cùng toàn dân, toàn quân chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, để đất nước ta mau được hòa bình, thống nhứt, Nam Bắc sum họp một nhà "...

Sáu Thắm dứt lời, mọi người đều bật khóc.

Cô Năm Trinh lại ngất xỉu; mấy người vội đỡ cô dậy và xoa tiếp dầu gió cho cô. Nhưng thời gian không cho phép tổ công tác kéo dài những phút nặng trĩu đau buồn. Mọi người đỡ nhau đứng dậy mặc niệm Bác Hồ theo tiếng hô nhỏ của tổ trưởng Sáu Khánh. Trong tiếng nức nở, sụt sùi, từng người lần lượt quỳ trước bàn thờ, kính cẩn chắp tay khấn vái vong linh Bác.


Ngó nhìn đồng hồ, ông Sáu Khánh lau nước mắt, đốt thêm ba nén nhang vái Bác một lần nữa và nghiêm trang nói với mọi người:

- Các đồng chí! Những ngày này, cả nước ta đang để tang Bác. Biến đau thương thành hành động, mỗi người chúng ta hãy cứng rắn lên. Hãy ráng công tác, chiến đấu hết mình, xứng đáng là con cháu Bác Hồ. Tôi chỉ nói gọn vậy. Buổi lễ của ta kết thúc tại đây. Để bảo đảm an toàn, chúng ta cần giải tán!


Nhớ trọng trách của chủ nhà, cô Tư Nhã hạ xấp giấy tiền, vàng, bạc trên bàn thờ xuống. Ông Sáu Khánh và ông Ba Chí cũng tháo lá cờ và tấm hình Bác, gấp gọn cùng tờ giấy của tổ vừa đọc, rồi đưa hết cho cô Tư Nhã. Tiếp nhận gói cờ, ảnh, tờ giấy và băng tang của từng người, cô Tư Nhã trịnh trọng nâng cao trước mặt, hướng lên bàn thờ, lẩm nhẩm khấn vái xin phép Bác rồi thả tất cả vô thùng thiếc, châm lửa đốt cháy cùng xấp giấy tiền, vàng, bạc để xóa luôn dấu tích.


Mọi người lặng lẽ chia tay nhau. Cô Tư Nhã xuống tầng trệt mở cửa.

Là người rời khỏi nhà cô Tư Nhã đầu tiên, ông Sáu Khánh bước ra cửa vừa lúc có chiếc taxi chạy tới. Ông bình thản vẫy xe và phóng đi. Ông Ba Chí cũng đẩy chiếc xích lô của mình ra rồi nhảy lên, đạp lẹ. Đợi hai ông đi khuất, Sáu Thắm mới bước tiếp. Em đi bộ đến gần chợ cầu Muôi rồi bắt xe lam về thẳng nhà cậu Út bên cầu Ông Lãnh.


Sáu Thắm tưởng những người còn lại ở nhà cô Tư Nhã tiếp tục ra về suôn sẻ, công việc kết thúc đúng theo kế hoạch, nào ngờ, chỉ sau đó ít phút, mấy cô, mây dì gặp chuyện chẳng lành.

Thắm biết tin này khi em đến cửa Tây chợ Sài Gòn hôm sau và giựt mình nghe bà con quanh chợ xôn xao chuyện "bà Út Của bán bánh mỳ mới bị cảnh sát bắt". Đạp xe đến gần chợ Cầu Muối, Thắm cũng nghe một số người bàn tán về vụ cảnh sát bao vây nhà cô Tư Nhã hôm trước và bắt đi năm "nữ Việt Cộng". Không lẽ, cả nhóm cơ sở thuộc tổ của Thắm lọt vào tay địch? Nếu vậy, tổ giao liên, trong đó có Thắm, rất dễ bị lộ. Thắm lập tức báo cáo tổ chức để kịp thời đối phó với địch. Em được giao theo dõi sát diễn biến của vụ này.


Chừng hơn một tuần lễ, hay tin địch đã thả hết nhóm phụ nữ bị bắt tại nhà cô Tư Nhã, Sáu Thắm kiếm cách gặp cô Út của ở nơi cô bán bánh mỳ. Hỏi cô, Thắm mới rõ đầu đuôi sự việc.

Cô Út kể rằng, trưa hôm đó, sau "đám giỗ" (Lễ truy điệu Bác Hồ) tại nhà cô Tư Nhã, ba người (gồm ông Sáu Khánh, ông Ba Chí và Sáu Thắm) vừa ra khỏi nhà thì bọn cảnh sát địch ập tới. Lúc ấy, năm người (gồm các cô Tư Nhã, Năm Trinh, Tư Hà, Mộng Liên, Út Của) đang phụ giúp chủ nhà bưng thức ăn và dọn dẹp nơi thờ cúng. Nghe tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng gọi "mở cửa" dồn dập, biết bị địch bao vây, mọi người giựt mình, lo lắng, nhưng chưa hiểu vì sao chúng đến mau lẹ vậy?


Chủ nhà vừa mở cửa, cô Út Của rụng rời chân tay khi thây chính thằng Vinh, con nuôi của mình, dẫn đám cảnh sát xộc vào. Bọn địch hung hăng la hét, lục soát khắp nhà, làm rối tung nơi đặt bàn thờ gia tiên của cô Tư Nhã. Mặc dù không kiếm được bằng chứng nào về hoạt động của "Việt Cộng", chúng cũng còng tay các cô, đẩy lên xe Jeép, đưa tới Tổng Nha cảnh sát Sài Gòn. Chúng tra hỏi từng cô về sự có mặt của mình tại nhà cô Tư Nhã. Tất cả các cô đều trả lời rằng mình tới đó để làm "đám giỗ". Tưởng các cô dễ hoang mang và hết đường chối cãi, bọn chúng cho dẫn vô kẻ biết rõ hoạt động của từng người và mọi diễn biến tại "đám giỗ" để đối chất. Kẻ đó là thằng Vinh.


Chẳng dè, vừa thấy Vinh ló mặt, cô Út Của liền chồm tới túm cổ nó. Mắt cô long lên. Không cần đắn đo gì, cô vừa chỉ mặt thằng Vinh, vừa la khóc inh ỏi như muốn trút sự căm giận lên kẻ khốn kiếp: "Thì ra là mày! Là mày! Đồ chó đẻ! Mày quên rồi sao? Bố mẹ mày chết sớm, dù nghèo khó, phải lo ăn từng bữa, tao cũng cố nuôi mày từ nhỏ tới lớn. Tao tưởng mày nên người, nhưng không ngờ mày bỏ nhà theo lũ lưu manh, trộm cắp. Bao lần mày chửi tao, hăm dọa đánh tao chỉ vì không có tiền cho mày ăn chơi, cờ bạc, đĩ điếm. Bây giờ, mày lại bày đặt dựng chuyện mẹ mày và mây bà bạn hàng này là "Việt Cộng". Mày trả ân, trả nghĩa người nuôi dưỡng mày vậy sao, thằng khốn nạn? Mày không bằng con chó! Từ giờ, tao từ mặt mày!"


Thằng Vinh run rẩy đứng câm lặng trước sự nguyền rủa của cô Út Của. Bọn lính xúm tới ngăn cản. Nhưng mỗi lần chúng kéo cô ra, cô lại nhào vô túm áo, giựt tóc và xỉ vả nó dữ hơn.

Tức tối vì cuộc "đối chất" không thành, địch tiếp tục giam giữ và xét hỏi từng người. Các cô lại dồn tội cho thằng Vinh bất hiếu. Tới ngày thứ bảy, thấy không kiếm đâu ra bằng chứng kết án "nhóm phụ nữ gớm ghê" này, bọn chúng phải thả các cô về và tống giam tên Vinh về tội lừa gạt "cảnh sát quốc gia".


Rất ân hận, áy náy về sự sơ suất, mất cảnh giác của mình, ngay hôm ra khỏi nơi địch giam giữ, cô Út Của đã nhận khuyết điểm với cô Tư Nhã. Cô Út coi đây là bài học sâu sắc nhớ đời và mong mọi người trong nhóm hết sức cảm thông.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #17 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 05:01:58 pm »

Đụng địch ở Thới Tam Thôn

Những năm tháng làm giao liên mật, Sáu Thắm luôn bị địch theo dõi, nhiều lần bị bao vây, hai lần bị chúng bắt giam. Nhưng do mưu trí, dũng cảm và may mắn được bà con hết lòng chở che, giúp đỡ, lần nào em cũng thoát. Một trong những lần Thắm gặp hiểm nguy là hôm giáp mặt với địch tại Hóc Môn, em và tổ trưởng Sáu Khánh bị chúng bủa vây giữa ban ngày.


Đó là sáng ngày 13 tháng 3 năm 1971. Theo hẹn, Sáu Thắm đến nhà ông Ba Khang (cơ sở của ta) ở ngã ba Chùa, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn để nhận tài liệu chuyển vô nội thành.

Không giống các cơ sở ở nơi khác Thắm vẫn tới, đây là quê hương ông Sáu Khánh, người tổ trưởng sắc sảo, đầy mưu trí, dũng cảm của Thắm. Đến nhà ông Ba Khang chính là đến gặp anh ruột của ông Sáu Khánh. Ngôi nhà ông Ba cùng con cháu đang ở là nhà của cha mẹ già (đã qua đời) để lại cho mấy anh em ông - nơi ông Sáu Khánh ra đi kháng chiến và thỉnh thoảng vẫn bí mật ghé về. Nhà ông Ba Khang nằm sát nhà cô Mười Hết, em út của hai ông (cơ sở của ta). Chồng cô Mười cũng thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng. Cô ở với hai con gái: con lớn tên là Mỹ, làm tiệm may tại nhà; con nhỏ tên Nga, phụ mẹ nấu bắp để đem bán tại chợ Hóc Môn.


Mấy lần trước, mỗi khi về đây, Sáu Thắm thường nhận tài liệu từ ông Ba Khang hoặc cô Mười Hết. Lần này, Thắm cần trực tiếp gặp và nhận nhiệm vụ từ tổ trưởng Sáu Khánh, bởi ông đang có mặt tại quê. Thắm nhớ, ông Sáu Khánh từng dặn, khi về tới ngã ba Chùa, Thắm không đi thẳng vô nhà ông Ba Khang mà nên qua nhà cô Mười Hết, nếu thấy yên ổn mới theo lối cửa sau thông sang nhà ông Ba. Sở dĩ phải đi vòng như vậy vì ông Ba Khang có thằng con trai tên Khải (cháu ruột ông Sáu Khánh) rất ngang ngược, không đáng tin cậy. Khải và vợ cũng buôn bán tại chợ như cô Mười Hết, nhưng hay lêu lổng, đua đòi ăn chơi, nhậu nhẹt, cờ bạc. Đề phòng sự bất lợi, ông Sáu và ông Ba không muốn Khải biết sự xuất hiện của Thắm tại nhà mình.


Chừng hơn 10 giờ, Thắm vô nhà cô Mười Hết. Cô Mười biểu Thắm qua nhà ông Ba Khang ngay, ông Sáu Khánh đang đợi ở đó.

Không thể gặp lâu, ông Sáu Khánh trao cho Thắm chiếc giỏ đựng hai chục nem chua gói lá chuối và 5 ổ bánh mỳ. Riêng nem có hai loại: một chục nem bình thường; một chục "nem đặc biệt"(giấu tài liệu), được gói thắt như bím tóc.

- Thắm chuyển số nem này vô xóm Hãng Sáo, đường Trần Quang Khải, giao cho cô Tư Hà. Khi ngồi xe đò, nếu bị địch kiểm soát, cháu có thể lột vài gói nem, tỉnh bơ ăn trước mặt mọi người để tụi nó bớt nghi ngờ - ông Sáu Khánh dặn - Bây giờ, Thắm qua nhà gặp cô Mười, cổ sẽ đưa bắp nấu cho cháu xếp thêm lên giỏ rồi hai cô cháu cùng đi chợ luôn. Có thể, bọn địch đang theo dõi chú cháu mình đó. Cẩn thận nghe, Thắm!


Thắm trở lại nhà cô Mười Hết theo lối cửa thông. Cô Mười đang xếp những trái bắp mới nấu còn nóng hổi vô thúng. Coi lại giỏ đồ của Thắm, cô tỏ vẻ không yên tâm. Cô biểu Thắm đưa hai chục gói nem trong giỏ đồ cho cô giấu dưới thúng bắp của mình để gánh đi trước, còn Thắm chỉ xách giỏ có bánh mỳ và 10 trái bắp nấu đi sau; khi hai cô cháu tới chợ Hóc Môn, cô sẽ đưa lại nem chua cho Thắm.


Cô Mười Hết tất tả gánh bắp đi chợ. Ở nhà còn Thắm và hai con gái của cô: con Mỹ may quần áo và con Nga nấu bắp. Cô vừa đi chừng 20 phút, Thắm xách giỏ đồ định ra tiếp. Bỗng có tiếng chạy rầm rập và tiếng nói ồn ào ngoài đường. Ngó ra, Thắm giựt mình thấy tốp lính địch súng ống lăm lăm, đang đứng trước cửa nhà ông Ba Khang. Nguy hiểm rồi! Thắm biết, lúc đó, cả hai ông Sáu Khánh, Ba Khang đều đang ở trong nhà và chốt hết các cửa. Bọn lính kêu chủ nhà "mở cửa". Không thấy ai trả lời, chúng càng la hét và đập cửa rầm rầm. Chắc có kẻ chỉ điểm cho địch nên chúng mới kéo thẳng tới bao vây nhà ông Ba Khang như vậy - Thắm nghĩ.


Nghe tiếng la lối om xòm của bọn lính, hai chị em Mỹ và Nga lo sợ, định đóng cửa, nhưng Thắm cản lại: "Lúc này, hai em đóng cửa là tụi nó nghi ngờ liền. Cứ để cửa mở bình thường". Thắm biểu Nga tiếp tục xuống bếp nấu bắp; còn Mỹ bình tĩnh vô chỗ máy may cùng Thắm chuyện trò như chủ tiệm đối với khách hàng. Hai em làm theo ý chị Thắm.


Chợt từ phía nhà ông Ba Khang có tiếng súng AR15. Tiếp đó, tiếng la hét rộ lên cùng tiếng chạy gấp gáp của bọn lính. Rồi bất ngờ, một tốp lính ập vô nhà cô Mười Hết. Nhìn khắp tiệm may chỉ có hai cô gái trẻ đang lựa mẫu vải may đồ, một tên chĩa súng, hỏi:

- Ê! Mấy cô có thấy tên "Việt Cộng" nào chạy vô đây không?

- Nãy giờ, ngồi may đồ, chúng tôi không thấy ai vô hết trơn - Thắm vừa căng tấm vải cùng em Mỹ ngắm lựa màu sắc, vừa làm bộ ngạc nhiên trả lời hắn.

Không hỏi gì thêm, tốp lính lục lọi quanh tủ vải, giá treo quần áo, sục sạo khắp nhà, kéo nhau xuống bếp và ngó nghiêng quanh chỗ Nga đang hý húi nấu bắp. Chúng nói với nhau:

- Sao kỳ vậy ta? Rõ ràng tên "Việt Cộng" mới vọt qua hướng này mà biến đâu mất tiêu? Không chừng, nó chạy phía khác?

Lại có tiếng súng AR15 nổ ran trong xóm. "Đi thôi tụi bay!" - Cả tốp lính ngơ ngáo rồi hối nhau chạy ra khu ngã ba Chùa.

Tụi lính vừa rút, Nga từ dưới bếp chạy lên. Em nói trong nước mắt: "Mấy chị ơi, cậu Ba Khang bị tụi lính bắt đi rồi! Còn cậu Sáu (Sáu Khánh) đang bị tụi nó rượt. Hồi nãy, cậu Sáu nhảy từ nhà cậu Ba qua đây. Gặp em ở sau nhà, cậu ấy chỉ kịp đưa chiếc nón nỉ biểu em đốt, rồi vọt luôn. Em đẩy chiếc nón của cậu vô sâu trong bếp lửa. Nón vừa cháy hết thì tụi lính ập vô nhà mình. Em run quá! Không rõ lúc này, cậu Sáu có thoát khỏi tụi nó?".


Nghe Nga báo tin về ông Ba và ông Sáu Khánh, Thắm càng lo và hồi hộp. Thắm lo sự nguy hiểm đang ập đến với người tổ trưởng và với em. Không lẽ, Khải (con ông Ba Khang) đã theo giặc gây tội lỗi này với cha đẻ và chú ruột của hắn? - Thắm nghi ngờ. Biết Khải chưa lần nào gặp mình và địch cũng chưa phát hiện, nhân lúc chúng đang nhốn nháo rượt theo ông Sáu Khánh, Thắm dặn dò hai em Mỹ, Nga vài câu rồi lẳng lặng xách giỏ đồ ra khỏi nhà.


Táp vô nhóm mấy bà gồng gánh đi cùng chiều, mặc bọn lính đứng rải rác bên đường, Thắm tà tà tới chợ Hóc Môn cách đó không xa, nơi cô Mười Hết bán bắp nấu đang đợi.

Lúc ấy, chợ đang đông. Thắm đi tới, đi lui, mấy lần định tới chỗ cô Mười để nhận lại hai chục gói nem chua, nhưng không tiện, vì khách mua bắp vẫn ngồi quanh cô. Không thể lộ mặt ở bất cứ tiệm quán nào ngoài đường, Thắm ghé vô một quán hủ tiếu kín đáo trong chợ, có thể quan sát xung quanh, vừa ăn trưa, vừa đợi cô Mười và tránh sự theo dõi của bọn mật thám. Phải hết sức cảnh giác, vì Thắm biết, từ chỗ cô Mười ngồi chỉ cách chỗ vợ Khải - con dâu ông Ba Khang bán bánh mì ở gần cầu Quay chừng bốn, năm chục mét. Thỉnh thoảng, Khải vẫn đến đây phụ vợ bán hàng. Rất có thể, trưa nay hắn cũng lảng vảng quanh chợ.


Mãi tới 12 giờ 30 phút, cô Mười mới vắng dần khách mua bắp. Thắm trả tiền hủ tiếu rồi đặt giỏ đồ của mình ở góc bàn và nói với bà chủ quán:

- Dì ơi ! Dì cho con gởi giỏ đồ. Con đi vệ sinh và mua mấy thứ lặt vặt.

- Được, được, nhưng có tiền bạc hay thứ gì quý, cô phải mang theo. Cô để đó lỡ bị mất, tôi không chịu đâu - Bà chủ quán trả lời.

- Dì yên tâm. Con chỉ có mười trái bắp nấu và năm ổ bánh mỳ thôi. - Thắm vừa nói vừa lấy một trái bắp biếu bà chủ quán. Bà nhận trái bắp và mỉm cười.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #18 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 05:02:55 pm »

Rời quán hủ tiếu, Thấm qua mấy sạp hàng bên cạnh mua một chiếc giỏ đệm khác rộng hơn giỏ cũ và mua thêm chục trái cây rồi lững thững xách tới chỗ cô Mười Hết.

- Cô ơi! Bán cho con mấy cái bắp - Thắm lên tiếng.

Đang nóng ruột trông ngóng, thấy Thắm tới, cô Mười mừng.

- Nãy giờ, con ở đâu? Cô lo cho mày quá! Có bị kẹt gì không con? - Cô hỏi.

Nhân lúc vắng khách, Thắm cúi xuống nói nhỏ với cô Mười về việc mình đụng địch. Cô rụng rời chân tay và suýt bật khóc khi nghe tin hai anh ruột cô đang gặp nguy nan.

- Vậy là rõ rồi! Chính thằng Khải chỉ điểm cho lính về bắt cha đẻ và chú ruột nó chứ không ai khác! - Cô Mười đau đớn nói - Hồi hôm, nó xin tiền ông Ba Khang để ăn nhậu, cờ bạc, bị ổng rầy la và không cho. Nó chửi lại và hăm dọa đi báo lính về bắt ổng và bắt luôn ông Sáu Khánh "Việt Cộng". Tưởng nó chỉ láo lếu, ai dè nó hại cha chú nó thiệt! Đồ khốn nạn!


Tuy bị dồn nén bởi những nỗi khổ tâm, tức giận và lo lắng, nhưng cô Mười Hết vẫn không quên việc hẹn với Thắm. Cô lấy hai chục gói nem chua trong thúng đưa lại cho Thắm, kèm theo mười trái bắp nấu và giục:

- Con đi lẹ kẻo lại đụng tụi nó. Mọi chuyện để cô tính tiếp. Cẩn thận nghe, Thắm!

Thắm chào cô Mười và không quên trả cô tiền bắp như mọi người đến mua hàng.

Bỏ luôn chiếc giỏ đồ mới gởi ở quán hủ tiếu, Thắm xách chiếc giỏ đệm mới, trong đó có hai chục nem chua, đi bộ tới bến xe Hóc Môn. Vừa may có xe đò sắp rời bến, Thắm nhảy lên, ngồi gần ghế của bác tài. Nhưng Thấm không vô thẳng nội đô mà xuống xe tại ngã ba Ông Tạ. Từ đây, em vẫy chiếc xe ngựa qua chợ Hòa Hưng; tiếp đó lại nhảy xe buýt đi một chặng nữa rồi mới chuyển sang xe xích lô đến xóm Hãng Sáo, nơi cô Tư Hà đang nóng lòng đợi Thắm.


Ra khỏi khu vực địch vây ráp và chuyển được tài liệu đến điểm hẹn an toàn, Sáu Thắm thấy nhẹ người. Tuy vậy, em vẫn lo lắng về ông Sáu Khánh và ông Ba Khang: không rõ, khi Thắm rời khỏi nhà cô Mười Hết, địch bắt ông Ba đưa đi đâu? Và trong cuộc vây ráp của chúng gây náo động Thới Tam Thôn hôm đó, Ông Sáu Khánh có thoát hiểm?


Rất mừng là điều lo lắng của Thắm sớm được giải tỏa. Chỉ một tuần lễ sau, nhân chuyến đưa tài liệu từ nội đô ra căn cứ Bến Dược, huyện Củ Chi, Thắm vui mừng được gặp lại người tổ trưởng kính mến của mình. Ông Sáu Khánh vẫn tỉnh khỏe, chỉ đau chân tay do nhiều chỗ bị trầy xước. Giọng nói sang sảng, đầy lạc quan, ông Sáu kể với Thắm về những phút ông đối phó với địch khi bị bọn chúng bao vây, rượt đuổi tại Hóc Môn quê nhà tuần trước...


Hôm đó, sau khi trao tài liệu (gói trong nem chua) cho Thắm và thấy Thắm đã qua nhà cô Mười Hết, ông Sáu chốt cửa, bàn công chuyện với ông Ba Khang. Hai anh em ông vừa ngồi được ít phút thì địch ập đến. Nghe tụi lính la hét, kêu mở cửa, biết bị vây, ông Ba giục và chỉ cho ông Sáu thoát lẹ ra phía sau, để một mình ông ở lại đối phó với chúng. Tháo vội đôi giày da vứt lại cho Ông Ba, ông Sáu leo lên đầu nhà, nhảy phóc sang góc vườn cô Mười. Mặc tụi lính đập cửa dồn dập, ông Ba liệng đôi giày của ông Sáu xuống ao rau muông phía sau nhà và cố xóa các dấu vết trước khi mở cửa cho chúng vô.


Lúc chạy ngang qua nhà cô Mười, nhìn thấy cháu Nga, ông Sáu Khánh đưa chiếc nón nỉ của mình cho cháu đốt trong bếp nấu bắp, rồi lao tiếp về phía những lùm cây rậm rạp sau mấy căn nhà cùng xóm. Nghe tiếng súng AR15 của địch bắn vu vơ từ phía sau, ông Sáu khom lưng luồn lách qua các hàng cau san sát, hết vườn này tới vườn khác. Không rẽ sang xóm bên, ông nhảy tiếp qua mấy con mương nhỏ ngập nước, chạy cặp theo bờ mương, lẫn giữa những giàn bầu, giàn mướp rậm rạp, rồi quẹo vô nhà cháu Quân chuyên bán tạp hóa (Quân là con trai ông Hai Kỳ - anh ruột ông Sáu, đang công tác xa). Biết vợ chồng Quân bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột của mình, ông Sáu nói vội: "Tụi lính đang dí bắt chú nè! Hai đứa giúp tao, lẹ lên!" Ông đưa khẩu súng ngắn Rulo cho Thanh - vợ Quân, biểu cháu vùi giấu trong khạp đựng gạo; còn Quân mang vô buồng cất giấu cho ông chiếc ca táp.


Tiếng súng và tiếng la lối của tụi lính rộ lên mỗi lúc một gần. Ông Sáu vọt luôn qua vườn cây phía đầu nhà Quân, chạy vòng vèo một đoạn rồi táp vô ngôi nhà ở gần đường. Đó là nhà cháu Thành - em ruột của Quân. Thằng Thành hoảng hồn khi thấy ông Sáu bị lính rượt bắt. Thương chú ruột quá, nhưng nó hơi bối rối, chưa biết làm cách nào cứu chú mình thoát khỏi nguy ngập. Ông Sáu liền chỉ vào chiếc xe gắn máy của Thành:

- Con lấy xe chở chú tới ngay bệnh viện Hóc Môn. Nếu gặp tụi lính, chúng hỏi thì con nói là chở ông già đau bệnh đi cấp cứu, nghe không?

- Dạ, con hiểu rồi! Vậy con chở chú đi liền

- Thành vừa nói vừa dắt xe ra.

Ông Sáu Khánh nhảy lên xe, ngồi sau Thành. Một tay bám thắt lưng thằng cháu, một tay ông ôm bụng. Xe nổ máy, ông Sáu cũng bắt đầu giả bộ nhăn mặt, cắn răng và rên la như người đang đau nặng. Dù vô cùng lo lắng, nhưng Thành vẫn bình tĩnh, thận trọng cho xe lách qua các đoạn đường có nhiều tốp lính địch tụ tập quanh xe nhà binh. Mấy lần xe của Thành chạy gần đám lính, một số tên ngó nhìn Thành chằm chằm như muốn chặn hỏi, nhưng thấy trên xe có ông già quần áo xộc xệch, chân đất, không nón, ôm bụng quằn quại và rên rỉ, lại thấy Thành vừa bóp còi xin đường vừa la "cấp cứu! cấp cứu!", bọn chúng đều dãn ra và ngó theo.


Chỉ chừng hơn hai mươi phút sau, ông Sáu Khánh được chở tới bệnh viện Hóc Môn. Thành đưa ông vào thẳng phòng cấp cứu. Ông vẫn ôm bụng kêu đau. Nữ y tá trực phòng hỏi bệnh, ông Sáu Khánh nhăn nhó trả lời: "Tôi là người nhà bác sĩ Trí. Tôi đau lắm, đau khắp người! Chỉ có bác sĩ Trí mới biết rõ bệnh của tôi. Làm ơn cho tôi gặp bác sĩ ngay". Người y tá vội gọi bác sĩ Trí (chính là cơ sở mật của ta). Giựt mình khi gặp ông Sáu Khánh trong hoàn cảnh này, bác sĩ Trí vừa hỏi han vừa kiểm tra nhiệt độ, bắt mạch, đo huyết áp và cho bệnh nhân uống nước. Thấy ông Sáu lại ôm bụng quằn quại, kêu đau mỗi lúc một to, vẻ lo lắng, bác sĩ nói với mọi người: "Ông này bệnh nặng lắm, phải đưa ngay lên bệnh viện trong thành phố". Rồi bác sĩ Trí điều xe Hồng thập tự lập tức chở ông Sáu tới bệnh viện Chợ Rẫy.


Tới đó là ông Sáu Khánh khỏe re. Khỏi cần thuốc thang, ông Sáu đi lại bình thường. Chỉ kẹt một chút: cái bóp của ông Sáu bị rớt từ lúc nào không hay; túi ông không còn một cắc. Ghé vô một cơ sở khác ở gần đó, ông Sáu phải tháo chiếc cà rá trên tay, nhờ người đem bán cho tiệm vàng để có tiền mua quần áo, nón, giày... rồi tắm rửa, thay đồ, ăn uống, nghỉ ngơi. Trưa hôm sau, ông Sáu được cơ sở đón về căn cứ tại Củ Chi.


Ông Sáu Khánh còn cho Thắm hay, ông Ba Khang bị địch bắt giữ ngay sau lúc chúng vô nhà và không truy tìm được ông Sáu. Tụi nó đưa ông Ba về giam ở bốt Hóc Môn vì "chứa chấp và tiếp tay cho Việt Cộng". Nhưng do không có bằng chứng để buộc tội, vài hôm sau, chúng phải thả ông về.


Ông Sáu Khánh không quên chuyện buồn và đau lòng khi nhắc đến thằng Khải, con ông Ba Khang. Ông Sáu cho biết, Khải lộ mặt là kẻ làm thám báo cho địch. Vì tiền, nó cam tâm định giết cả cha, chú và làm hại cách mạng. Cũng may, nó không biết mặt Thắm... Nhưng thằng bất hiếu, bất nhân ấy đã phải trả giá đắt. Từ chiều tối đó tới mấy hôm sau, bọn địch buộc nó phải tự đi tìm ông Sáu Khánh cho chúng. Nó dắt theo vài tên thám báo đi khắp các thôn rình mò suốt ngày đêm nhưng không sao tìm thấy tung tích ông Sáu và "nhóm Việt Cộng nguy hiểm". Cay cú vì tốn bao công sức vây ráp mà không có kết quả, bọn chỉ huy địch trút bực tức lên đầu thằng Khải: chúng nện nó một trận nhừ tử rồi còng tay đưa đi đâu không rõ.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 218



« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 05:04:14 pm »

Chim nhỏ tung cánh bay xa

Suốt ba năm, từ 1969 đến 1971, quân Mỹ và quân đội Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc vây ráp, khủng bố tại nội đô nhằm tìm bắt "Việt Cộng". Không ít cơ sở của ta bị lộ. Một số người trong đường dây với Sáu Thắm không may lọt vào tay địch, bị chúng bỏ tù hoặc sát hại dã man. Sáu Thắm và các cán bộ, chiến sĩ Tổ giao liên C30 phải đương đầu với những khó khăn, thách thức chưa từng thấy. Có thời gian, toàn tổ phải tạm thời "án binh bất động’' để tránh sự theo dõi của chúng.


Dựa vào một số tên chỉ điểm, bọn mật vụ Sài Gòn ráo riết truy tìm Sáu Thắm. Nhiều lần, chúng vây chặt đám đông bên đường phố, đưa kẻ chiêu hồi đi theo để nhận mặt và yên trí rằng "Việt Cộng" không có phép nào thoát nổi, vậy mà Thắm vẫn biến mất. Tức tối vì khó bắt "tên nữ Việt Cộng trẻ" và không phá được đường dây giao liên mật do Tư Tăng chỉ huy, chúng dán hình Thắm khắp các phố để truy nã và treo giải cho những ai bắt được em. Thương con gái gặp hiểm nguy, má Hai Hòa - má ruột của Thắm, phải kín đáo nhờ mấy người tốt bụng đi bóc bỏ các tấm hình của Thắm bị chúng dán trên cột điện, tường nhà, góc phố.


Ráo riết sục sạo, rình mò nhiều ngày vẫn không tìm được tung tích của Thắm, bọn địch dắt theo kẻ chỉ điểm đến bắt má Hai tại nhà. Chúng đưa má tới giam giữ ở Tổng Nha cảnh sát - nơi có thiếu tá Nghĩa, "người yêu" Nguyệt. Tại đây, địch dồn dập tra khảo má để kiếm tin tức về Nguyệt. Cuộc đối đáp giữa má với chúng khiến cả bọn luôn lúng túng. Chúng hỏi:

- Con gái bà hiện đang ở đâu?

- Tôi nói rồi mà mấy ông cứ hỏi hoài! Con tôi hư thân mất nết, dám bỏ nhà theo trai đi tối ngày, khi có chửa mới vác bụng về. Ghét mặt, tôi chịu hết nổi, nên từ nó luôn và đuổi đi từ lâu !- Má trả lời.

- Làm mẹ có con gái hư, bà không thương sao, lại đuổi đi? - Một tên lên giọng dạy đời.

- Ông nói chi lạ vậy? Người mẹ nào chẳng thương con. Nhưng thứ con gái bỏ nhà theo trai rồi chửa hoang là sự nhục nhã với gia đình và dòng họ, cha mẹ chỉ thiếu nước chui xuống đất mà chết chứ thương cái nỗi gì? Tôi hỏi, giả dụ con gái của mấy ông chửa hoang, mấy ông có thấy ngượng và muốn đuổi đi không?

- Mụ già đừng nói lòng vòng! Ở Sài Gòn hiện có cả chục ngàn gái chửa hoang, người ta đâu bị đối xử như con gái bà? - Tên sĩ quan an ninh gượng gạo nói.

- Vậy nên xã hội này mới loạn! - Má Hai dấn tiếp.

- Mụ già chớ nói xấu "chính nghĩa quốc gia"!- Hắn nạt nộ - Mụ có khai không? Con Nguyệt đang ở đâu?

- Tôi đã nói là nó theo trai. Còn chúng nó dắt nhau đi đâu, tôi không biết! - Má nói.

Thấy không thể hăm dọa "mụ già cứng đầu, cứng cổ", bọn địch hùng hổ túm tóc, túm cổ má Hai, đẩy má vô phòng tra tấn. Tại đây, bọn ác ôn mặt người dạ thú giở nhiều cực hình man rợ đối với người phụ nữ hiền lành. Mấy lần, má Hai ngất đi vì những đòn hiểm của kẻ thù. Không cho ăn uống, chúng bỏ mặc má nằm đau đớn suốt ngày trong góc phòng giam ẩm ướt nước trộn với máu. Xót thương người chị ruột bị giam cầm và đánh đập dã man, cậu Út của Thắm phải chạy chọt để được vô chăm sóc chị. Nhìn chị Hai mặt mũi sưng húp, chân tay bầm tím, quần áo rách bươm và bê bết máu, cậu Út ôm chị mà không cầm được nước mắt.


Bất lực vì dùng cực hình cũng không làm má Hai nao núng, tuần sau, bọn địch lại giở thủ đoạn nham hiểm khác. Chúng đưa má Hai trở lại phòng hỏi cung. Tên sĩ quan an ninh gườm gườm nhìn má và nhếch mép, nói:

- Nếu bà không biết con gái đang ở đâu, hôm nay, bọn tôi sẽ giúp bà. Nói cho bà hay, bọn tôi đã bắt được con Nguyệt và đưa tới đây. Bà có muốn gặp con gái không?

Thoáng giật mình khi nghe tên sĩ quan nói, nhưng má Hai kịp trấn tĩnh ngay, vì má không tin con gái mình dễ dàng bị địch bắt. Biết chúng giăng bẫy đánh lừa, má Hai thủng thẳng trả lời như thách thức:

- Mấy ông cứ đưa nó tới gặp tôi coi.

Tên sĩ quan quay lại phía cửa và hất hàm ra lệnh. Lập tức, hai tên lính dẫn vô một người đàn bà. Người này trùm khăn kín mặt và ngực, chỉ để hai lỗ nhỏ nơi hai con mắt. Mấy tên lính đưa chị ta tới trước má Hai. Má lặng thinh, nhìn xoáy vô người bịt mặt.

Ngập ngừng giây lát, bỗng chị ta bước tới nắm tay má và nói lí nhí:

- Má ơi, con là Nguyệt nè! Trời ơi, má không nhận ra con sao?

Má Hai vẫn ngồi im. Má ngó kỹ dáng vẻ, nhất là đôi bàn tay thô ráp và đen sạm cùng với sự lúng túng, sợ sệt của chị ta.

- Chắc con chết mất. Cứu con với, má ơi! - Chị ta nói tiếp.

"Vậy là quá rõ rồi! Đây đâu phải dáng vẻ, giọng nói và bàn tay con gái mình" - Má Hai nghĩ. Bất ngờ, má túm hai bàn tay lạ và đẩy xô chị ta ra.

- Mày không phải con tao! Để tao coi cái mặt thật của mày - Vừa nói, má Hai vừa chồm tới giựt mạnh tấm khăn đen che mặt của kẻ tự nhận là con. Người đàn bà lạ hoảng hốt cố kéo tấm khăn cho không tuột khỏi mặt. Sợ đổ bể màn kịch, tên sĩ quan cuông cuồng giữ má Hai lại và lệnh cho lính lập tức đưa người kia ra khỏi phòng.

Cay cú vì trò xảo trá bị một bà già vạch trần, bọn ác ôn tiếp tục trút lên má Hai những trận đòn tra tấn dã man, nhưng vẫn không moi ở má được điều gì.

Địch giam giữ và hành hạ má Hai suốt nửa tháng liền. Cuối cùng, do không đủ bằng chứng buộc tội, chúng phải thả má về.

Có điều rất đáng chú ý, khiến má Hai phải nhắc cậu Út tìm cách nhắn ngay cho Nguyệt biết để cảnh giác đề phòng. Đó là suốt những ngày má Hai bị giam giữ và tra tấn đến thừa chết, thiếu sống tại Tổng Nha cảnh sát, tuyệt nhiên má không thấy bóng viên thiếu tá an ninh vẫn tự nhận là "người yêu" của Nguyệt. Sau khi má rời trại giam, bọn mật thám còn rình rập, đe dọa nhiều hơn và ngày đêm theo dõi mọi động tĩnh quanh nhà má. Đoán chừng Nguyệt sẽ tìm cách về nhà thăm má, mấy tháng liền, địch rải lính trà trộn trong dân, đón lõng các ngả đường, quyết bắt bằng được "tên nữ Việt Cộng".


Thời điểm đó, hoạt động của Thắm chồng chất những khó khăn, nguy hiểm.

Không thể để SáuThắm sa vào tay giặc, tháng 9 năm 1971, tổ chức quyết định rút Thắm lên chiến khu và thay đổi địa bàn em công tác.

Rời Sài Gòn quê hương, tạm biệt má kính yêu và bà con, anh chị em, bạn bè nội đô thân thiết, "cánh chim nhỏ" Sáu Thắm nhanh chóng hòa mình cùng đồng đội trong cuộc chiến đấu mới. Từ ấy, em tiếp tục trưởng thành, trở thành cán bộ tin cậy của cách mạng, tiếp tục dọc ngang khắp nẻo đường kháng chiến nơi miền Đông gian lao mà anh dũng.


Tháng 3 năm 1998
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM