Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2021, 07:44:26 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia  (Đọc 2411 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #120 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2021, 06:25:45 am »

Ba là, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Campuchia, giúp Bạn theo đúng chức năng, nhiệm vụ của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp Bạn, lực lượng chuyên gia quân sự, mang phiên hiệu Đoàn 478 ra đời khá sớm (12-1978) với nhiệm vụ giúp Bạn xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đồng thời giúp Bạn chiến đấu. Quá trình giúp Bạn, lực lượng chuyên gia quân sự được bổ sung, lớn mạnh, góp phần xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia từng bước trưởng thành. Cuối năm 1978, đầu 1979, một lực lượng lớn quân tình nguyện hình thành, gồm các quân đoàn 2, 3, 4 và một số đơn vị của các quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân; các quân khu 5, 7, 9 có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia mở cuộc phản công, tiến công đánh đố chế độ diệt chủng Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giúp Bạn giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh và giải phóng đất nước Campuchia khỏi chế độ Pôn Pốt, nước Cộng hòa nhân dân Campuchia được thành lập và giúp nhân dân Campuchia bước đầu ổn định tình hình, tháng 3 năm 1979, Quân đoàn 2 được lệnh rút về nước. Tiếp đó, tháng 7 năm 1979, Quân đoàn 3 rút về nước nhận nhiệm vụ mới.

Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia trong tình hình mới, tiếp theo Đoàn chuyên gia quân sự 478, tháng 2 năm 1979, các Đoàn chuyên gia quân sự 479, 7708 và 959 hình thành, giúp Bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 5 năm 1979, Bộ chỉ huy Mặt trận 479 trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7 được thành lập có nhiệm vụ giúp Bạn ở các tỉnh Xiêm Riệp, Báttambang (Bắc Campuchia). Các cơ quan tiền phương của các Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 đảm nhiệm giúp Bạn ở các tỉnh phía Bắc, Đông Bắc; Đông, Đông Nam và Nam, Tây Nam Campuchia.

Để thống nhất chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam đang hoạt động tại Campuchia, tháng 6 năm 1981, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (Bộ Tư lệnh 719) trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam được thành lập. Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh 719 là trực tiếp giúp Bạn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia và tổ chức bảo vệ thành quả cách mạng.

Tiếp đó, tháng 7 năm 1981, các mặt trận 579, 779, 979 (mỗi Bộ Tư lệnh Mặt trận có quyền hạn tương đương Bộ Tư lệnh quân đoàn) được thành lập (trên cơ sở các cơ quan tiền phương của Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 7, 9), do Bộ Tư lệnh 719 chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và hoạt động giúp Bạn; Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 7, 9 chỉ đạo, chỉ huy các mặt hoạt động khác. Lực lượng trực thuộc mỗi mặt trận gồm một số sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, các đoàn quân sự tỉnh; hệ thống cơ quan và bộ phận chuyên gia quân sự. Mặt trận 579 giúp Bạn ở 4 tỉnh: Mônđônkiri, Ráttanakiri, Stung Treng, Prêtvihia (Bắc, Đông Bắc Campuchia). Mặt trận 779 giúp Bạn ở 5 tỉnh: Côngpông Thom, Côngpông Chàm, Svâyriêng, Prâyveng, Krachiê (Đông, Đông Nam Campuchia). Mặt trận 979 giúp Bạn ở 7 tỉnh: Côngpông Spư, Côngpông Chnăng, Puốcxát, Campốt, Tàkeo, Kanđan, Cô Công (Nam, Tây Nam Campuchia).

Trong quá trình giúp Bạn, cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự thường xuyên quán triệt, nắm vững và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình trên đất Bạn, từ phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia chiến đấu, giúp nhân dân Campuchia khôi phục sản xuất, xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội, đến giúp Bạn xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền cách mạng và các tổ chức đoàn thể của Campuchia. Nhìn chung, quá trình giúp Bạn từ chỗ làm giúp, đến giúp làm và cuối cùng là Bạn làm, ta giúp rồi Bạn tự làm lấy. Với tinh thần quốc tế trong sáng, các đơn vị Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trên các mặt công tác, được Đảng, Nhà nước và nhân dân Campuchia đánh giá là lực lượng quan trọng quyết định việc giúp cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và giúp Bạn bảo vệ, xây dựng đất nước hồi sinh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #121 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:26:29 am »

Bốn là, xây dựng Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự vững mạnh về mọi mặt, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia.

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở nơi xa hậu phương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, trực tiếp là Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam; Đảng ủy, Bộ tư lệnh các mặt trận 479, 579, 779, 979 và Đoàn 478 đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự về mọi mặt, trước hết là vững vàng về chính trị tư tưởng, giỏi về quân sự và chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời có tinh thần tự lực tự cường, ý chí tự khắc phục khó khăn, thiếu thốn, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trong xây dựng Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự, Đảng ta hết sức quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực lãnh đạo, chỉ huy, có bản lĩnh hoạt động độc lập cao, năng lực công tác tốt; không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế cao cả vì sự nghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia. Vì thế, những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự được Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng điều động sang đều là những cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng và chiến đấu để giúp Bạn. Nhiều chuyên gia được tham gia học tiếng Campuchia để hiểu rõ phong tục, tập quán của nhân dân Campuchia nhằm nâng cao hiệu quả giúp Bạn.

Trước khi sang giúp Bạn, cán bộ cũng như chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đều được học tập chính trị để nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về nhiệm vụ giúp Bạn và phương hướng, nhiệm vụ cụ thể trong công tác giúp Bạn. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đều ban hành các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn về công tác giúp Bạn, trong đó yêu cầu Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự phải học tập, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, phong tục tập quán của nhân dân Campuchia để vận dụng hoàn thành nhiệm vụ giúp Bạn.

Quán triệt tầm quan trọng và xác định rõ ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ giúp cách mạng và nhân dân Campuchia, ngay từ khi sang đất Bạn, mỗi đơn vị quân tình nguyện cũng như đoàn chuyên gia quân sự; mỗi cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và từng chuyên gia quân sự Việt Nam đều nỗ lực phấn đấu, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, coi đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng cần thực hiện thường xuyên. Đồng thời, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, bảo đảm công tác hậu cần, kỹ thuật và công tác nội bộ, thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ và chính sách hậu phương đối với cán bộ, chiến sĩ tình nguyện và chuyên gia đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia.

Trong những năm làm nhiệm vụ giúp cách mạng và nhân dân Campuchia, nhờ cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thường xuyên tổ chức giáo dục, quản lý chặt chẽ; cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đã xác định rõ trách nhiệm trước Đảng, quân đội và nhân dân hai nước, không ngừng phấn đấu, rèn luyện về phẩm chất chính trị và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, vượt qua những khó khăn, thiếu thốn, kể cả hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ giúp Bạn. Tuy nhiên, quá trình giúp Bạn, cũng có một số trường hợp cán bộ, chiến sĩ và chuyên gia ta thể hiện thái độ nước lớn, chưa tin vào Bạn, chưa có sự thống nhất cao giữa ta và Bạn ở một số việc cụ thể; một số nơi còn có hiện tượng áp đặt, hoặc làm thay Bạn. Cũng do hầu hết bộ đội tình nguyện và chuyên gia ta không biết tiếng Campuchia, nên dẫn đến sự hiểu biết về văn hoá, phong tục, tập quán của Bạn còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả giúp Bạn. Bên cạnh đó, một số chiến sĩ ta còn vi phạm kỷ luật chiến trường, kỷ luật dân vận, ảnh hưởng đến quan hệ giữa ta và Bạn. Cấp ủy, chỉ huy Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ở các cấp đã nghiêm khắc với những trường hợp vi phạm, kiên quyết khắc phục hạn chế, thiếu sót, tạo được lòng tin đối với cả ta và Bạn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #122 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:28:12 am »

Năm là, giải quyết hài hoà giữa hai nhiệm vụ dân tộc và quốc tế, kết thúc thắng lợi nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia, rút quân về nước.

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, tiếp đó là quá trình Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng và nhân dân Campuchia hơn 10 năm có mối quan hệ rất chặt chẽ, khăng khít đòi hỏi Đảng, Nhà nước và quân đội ta phải giải quyết một cách đúng đắn, hài hoà giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là Đảng, Nhà nước và quân đội ta phải quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và chuyên gia quân sự về tính chất và mục đích chính trị của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam là đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược phục vụ chiến lược của nước ngoài do tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xari tiến hành, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững hoà bình ổn định để xây dựng đất nước; đồng thời xác định rõ nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ và chuyên gia ta giúp lực lượng yêu nước, cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, xây dựng lại đất nước, khôi phục tình đoàn kết truyền thống Việt Nam - Campuchia. Vì thế, mục tiêu chính trị của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam của ta và mục đích chính trị của cuộc chiến tranh giải phóng của Bạn thống nhất chặt chẽ, cùng chống kẻ thù chung vì lợi ích của cả hai dân tộc Việt Nam và Campuchia.

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế là một thể thống nhất. Đó là chân lý cao cả của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Giúp nhân dân nước Bạn tức là mình tự giúp mình”. Thực chất đây là cuộc liên minh chiến đấu giữa ta và Bạn. Lực lượng tiến hành chiến tranh bao gồm cả lực lượng ta và lực lượng Bạn. Lúc đầu, lực lượng cách mạng Campuchia còn nhỏ, trang bị vũ khí hết sức thô sơ, chưa đủ sức tự đánh đổ chế độ diệt chủng, nhưng là đại biểu hợp pháp duy nhất của nhân dân Campuchia, sẽ phát triển mạnh mẽ và từng bước tự đảm đương được nhiệm vụ của Bạn. Hai lực lượng ta và Bạn đều có vai trò quyết định; về lâu dài, lực lượng cách mạng Campuchia là lực lượng quyết định thắng lợi cuối cùng của cách mạng Campuchia.

Ngay từ đầu, Đảng, Nhà nước và quân đội ta đã xác định rõ quan điểm này và giải quyết một cách hết sức hài hoà giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế trong suốt quá trình giúp Bạn. Sau khi giúp lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, Đảng Nhân dân cách mạng và Nhà nước Campuchia chính thức đề nghị Đảng và Nhà nước ta để Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở lại một thời gian giúp Bạn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng lực lượng cho Bạn về mọi mặt. Đảng và Nhà nước ta đã có quyết định đúng đắn, đáp ứng yêu cầu của Bạn, nhất quyết không để cho chế độ Pôn Pốt quay trở lại, cho dù các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, vu khống, gây sức ép đối với Việt Nam. Chủ trương đó của Đảng đã được quán triệt sâu sắc đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ và chuyên gia quân sự Việt Nam trong hơn 10 năm giúp Bạn. Biết rằng tiếp tục ở lại là phải chịu nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, nhưng với tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, vô tư; mỗi cán bộ, chiến sĩ và chuyên gia quân sự đều thông suốt và tự giác chấp hành nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia.

Quá trình giúp Bạn, Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự luôn tôn trọng độc lập chủ quyền và các quyết định của Bạn, nắm vững đường lối, chính sách của Bạn; nhất là cùng Bạn thực hiện ba mục tiêu chiến lược cách mạng do Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Bạn đề ra và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta cũng xác định ba mục tiêu chiến lược của Bạn là nội dung nhiệm vụ quốc tế và cũng là nhiệm vụ dân tộc của ta; đồng thời vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm của ta để giúp Bạn phù hợp, hiệu quả. Mục đích là để Bạn từng bước trưởng thành, tạo điều kiện để Bạn giương cao ngọn cờ độc lập, xây dựng cho được quan hệ tin cậy, bình đẳng giữa ta và Bạn. Quá trình giúp Bạn hơn 10 năm cũng là quá trình thường xuyên giáo dục quan điểm, tư tưởng về sự kết hợp hài hòa giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta về bình đẳng dân tộc, tôn trọng Bạn, tạo thuận lợi cho Bạn phát huy năng lực và trí tuệ trong đấu tranh với địch, hồi sinh dân tộc và phát triển. Đến năm 1989, với sự giúp đỡ vô tư, trong sáng, hiệu quả của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, cùng những nỗ lực to lớn của Bạn đã cơ bản thực hiện thắng lợi ba mục tiêu chiến lược: Tàn quân Pôn Pốt suy yếu, tan rã; Bạn mạnh lên và đứng vững, thành quả cách mạng được bảo vệ vững chắc.

Như vậy, quán triệt đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, tính chất, mục đích chính nghĩa của chiến tranh, Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giải quyết hài hoà giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế, giúp cách mạng và nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, thực hiện hồi sinh và phát triển dân tộc, kết thúc nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia, rút quân về nước.

Những thành tựu to lớn mà Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đạt được trong nhiệm vụ giúp lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, xây dựng thực lực cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước hồi sinh; cũng như những bài học kinh nghiệm trong hơn 10 năm ghi thêm dấu ấn sâu sắc về bản chất cách mạng và truyền thống quốc tế vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần tô thắm tình đoàn kết chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia.

Hơn 10 năm, Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã thực hiện được một điều kỳ diệu, mang tính quốc tế cao cả và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Được Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao, Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện được một điều kỳ diệu: Giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, vươn lên hồi sinh dân tộc, xây dựng thực lực cách mạng lớn mạnh và trưởng thành về mọi mặt, có khả năng tự đảm đương nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ đất nước.

Sau khi Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, cũng như các lực lượng khác của Việt Nam rút về nước, địch dốc toàn bộ lực lượng tập trung phản kích từ mùa mưa năm 1989 đến mùa khô 1991, hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự. Khi phải tự đảm đương nhiệm vụ chống lại các cuộc phản kích của địch, Quân đội nhân dân Campuchia và nhân dân Campuchia với nỗ lực rất lớn, đã bẻ gãy các cuộc phản kích, nhất là cuộc phản kích chiến lược mùa khô năm 1991, đánh tan những lực lượng tập trung quan trọng của Pôn Pốt. Không còn hy vọng giành thắng lợi về quân sự, đối phương phải chấp nhận ngừng bắn, thực hiện giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến (5-1993) thành công với thắng lợi cơ bản của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và Hiến pháp mới được công bố (8-1993) là cơ sở nhanh chóng tạo hòa bình, ổn định để Campuchia thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước.

Ngày nay, cách mạng Việt Nam và cách mạng Campuchia đã chuyển sang giai đoạn mới có nhiều thuận lợi, nhưng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức đòi hỏi cần tiếp tục tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, góp phần giữ vững ổn định, củng cố hòa bình, hợp tác và phát triển trên bán đảo Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #123 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:28:56 am »

PHỤ LỤC

I. MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CAMPUCHIA TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1979

- Ngày 17 tháng 4 năm 1975: Campuchia được hoàn toàn giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Lon Non.

- Ngày 3 tháng 5 năm 1975: Quân Pôn Pốt đổ bộ lên đảo Phú Quốc.

- Ngày 9 tháng 5 năm 1975: Quân Pôn Pốt xâm phạm biên giới Việt Nam ở nhiều nơi, từ Hà Tiên đến Tây Ninh.

- Ngày 10 tháng 5 năm 1975: Quân Pôn Pốt tiến công đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt đi hơn 500 đồng bào ta.

- Từ tháng 12 năm 1975 đến đầu năm 1976, quân Pôn Pốt đánh chiếm lãnh thổ biên giới nước ta thuộc tinh Gia Lai - Kon Tum (nay là hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum) và tỉnh Đắk Lắk (nay là Đăk Lăk, Đắk Nông).

- Tháng 6 năm 1976: Bè lũ Pôn Pốt kích động trong nhân dân và quân đội Campuchia tâm lý chống Việt Nam, coi Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp, kẻ thù số 1, ráo riết hô hào chiến tranh chống Việt Nam.

- Ngày 30 tháng 4 năm 1977: Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xari mở rộng các hoạt động xâm chiếm biên giới thành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta trên biên giới Tây Nam bắt đầu.

- Ngày 25 tháng 9 năm 1977: Quân Pôn Pốt tập trung 9 trong số 14 sư đoàn chủ lực cùng bộ đội địa phương mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam.

- Ngày 31 tháng 12 năm 1977: Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xari công khai đưa vấn đề xung đột biên giới ra trước dư luận thế giới hòng vu cáo cô lập Việt Nam.

- Ngày 12 tháng 5 năm 1978: Thành lập đơn vị vũ trang đoàn kết cứu nước Campuchia, do đồng chí Hun Xen làm Chỉ huy trưởng.

- Ngày 2 tháng 12 năm 1978: Thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, do ông Hêng Xom Rin làm Chủ tịch.

- Ngày 7 tháng 1 năm 1979: Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng.

- Ngày 8 tháng 1 năm 1979: Thành lập nước Cộng hòa nhân dân Campuchia.

- Ngày 17 tháng 1 năm 1979: Toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng.

- Ngày 18 tháng 2 năm 1979: Campuchia và Việt Nam ký Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #124 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:33:12 am »

II. HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC
GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ CỘNG HÒA NHÂN DÂN CAMPUCHIA

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Campuchia.

Xuất phát từ truyền thống đoàn kết chiến đấu và hữu nghị anh em Việt Nam - Campuchia đã vượt qua nhiều thử thách và trở thành một sức mạnh không gì phá vỡ nổi, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng mỗi nước.

Nhận thức sâu sắc rằng độc lập, tự do, hòa bình và an ninh của hai nước có quan hệ khăng khít với nhau và hai bên có nghĩa vụ hết lòng hết sức giúp nhau củng cố và bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại đã giành được trải qua gần ba mươi năm đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh.

Khẳng định rằng tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác hữu nghị lâu dài về mọi mặt giữa Việt Nam và Campuchia đáp ứng lợi ích sống còn của nhân dân hai nước, đồng thời là một nhân tố bảo đảm hòa bình, ổn định vững chắc ở Đông Nam châu Á, phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân các nước trong khu vực này và góp phần giữ gìn hòa bình thế giới.

Tin tưởng rằng thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Campuchia dưới ngọn cờ vẻ vang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, đường lối đúng đắn, độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế của mỗi nước, sự tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau là cơ sở vững chắc để phát triển không ngừng quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước.

Nhằm mục đích tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, sự hợp tác hữu nghị lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt để củng cố nền độc lập, xây dựng đất nước phồn vinh và cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mỗi nước, góp phần giữ gìn hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á và trên thế giới, phù hợp với những mục tiêu của phong trào các nước không liên kết và Hiến chương Liên Hợp quốc.

Đã quyết định ký Hiệp ước này và đã thỏa thuận những điều sau đây:

Điều 1. Hai bên cam kết làm hết sức mình để bảo vệ và phát triển không ngừng truyền thống đoàn kết chiến đấu, quan hệ hữu nghị, hợp tác anh em Việt Nam - Campuchia, lòng tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Hai bên ra sức giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nước mình bảo vệ truyền thống đoàn kết chiến đấu và hữu nghị thủy chung Việt Nam - Campuchia đời đời trong sáng.

Điều 2. Trên nguyên tắc việc bảo vệ và xây dựng đất nước mình là sự nghiệp của chính nhân dân mỗi nước, hai bên cam kết hết lòng ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt và bằng mọi hình thức cần thiết nhằm tăng cường khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước, chống mọi âm mưu và hành động phá hoại của lực lượng đế quốc. Hai bên sẽ tiến hành các biện pháp có hiệu quả nhằm thực hiện điều cam kết này khi một trong hai bên yêu cầu.

Điều 3. Nhằm giúp nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hai bên sẽ tăng cường quan hệ trao đổi và hợp tác anh em cùng có lợi và giúp nhau về các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, kỹ thuật, đào tạo cán bộ và trao đổi chuyên gia, trao đổi kinh nghiệm xây dựng đất nước về mọi mặt. Nhằm mục đích đó, hai bên sẽ ký những hiệp định cần thiết, đồng thời tăng cường tiếp xúc và hợp tác giữa các cơ quan Nhà nước có liên quan và các tổ chức quần chúng của hai nước.

Điều 4. Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hòa bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ giữa hai nước. Hai bên sẽ đàm phán để ký kết một hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới này thành biên giới hòa bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước.

Điều 5. Hai bên hoàn toàn tôn trọng đường lối độc lập, tự chủ của nhau. Hai bên kiên trì chính sách đối ngoại độc lập, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và không liên kết, theo nguyên tắc không can thiệp dưới bất cứ hình thức nào vào công việc nội bộ nước khác, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào vào công việc nội bộ của nước mình và không cho phép bất kỳ nước nào dùng lãnh thổ nước mình để can thiệp vào nước khác.

Hai bên coi trọng truyền thống đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em lâu đời giữa nhân dân Campuchia, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam, nguyện ra sức tăng cường quan hệ truyền thống đó trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Hai bên tăng cường quan hệ mọi mặt với các nước xã hội chủ nghĩa. Là những nước ở Đông Nam châu Á, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa nhân dân Campuchia kiên trì chính sách quan hệ hữu nghị, láng giềng với Thái Lan và các nước khác ở Đông Nam châu Á, tích cực góp phần vào hòa bình và phồn vinh của khu vực Đông Nam châu Á. Hai bên phát triển quan hệ hợp tác với các nước dân tộc độc lập, các phong trào giải phóng dân tộc và phong trào dân chủ, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hai bên tích cực góp phần vào sự đoàn kết và lớn mạnh của phong trào không liên kết chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế khác, giành và bảo vệ độc lập dân tộc, tiến tới xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới.

Điều 6. Hai bên sẽ thường xuyên trao đổi ý kiến với nhau về những vấn đề thuộc quan hệ hai nước và những vấn đề quốc tế mà hai bên cùng quan tâm. Mọi vấn đề trong quan hệ giữa hai nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, có lý có tình.

Điều 7. Hiệp ước này không nhằm chống một nước thứ ba nào và không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo các hiệp định hai bên hoặc nhiều bên mà họ tham gia.

Điều 8. Hiệp ước này có hiệu lực ngay từ ngày trao đổi thư phê chuẩn; việc phê chuẩn sẽ làm theo thủ tục của mỗi bên.

Điều 9. Hiệp ước này có giá trị trong hai mươi lăm năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng mười năm nếu một trong hai bên ký kết không thông báo bằng văn bản cho bên kia ý muốn hủy bỏ Hiệp ước một năm trước khi Hiệp ước hết hạn.

Hiệp ước này làm tại Phnôm Pênh, Thủ đô nước Cộng hòa nhân dân Campuchia ngày 18 tháng 2 năm 1979, thành hai bản bằng tiếng Việt và tiếng Khơme, cả hai văn bản đểu có giá trị như nhau.

Thay mặt Chính phủ
                                                                                                
Thay mặt HĐNDCM
nước XHCNVN
                                                                                                
nước Cộng hòa ND Campuchia
PHẠM VĂN ĐỒNG
                                                                                                
HÊNG XOMRIN
Thủ tướng Chính phủ
                                                                                                
Chủ tịch Hội đồng nhân dân CM
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #125 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:39:17 am »

III. NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ QUÂN TÌNH NGUYỆN
VÀ CHUYÊN GIA QUÂN SỰ VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA
ĐƯỢC ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC CAMPUCHIA
TẶNG THƯỞNG
(1)

1. Huân chương, huy chương do Nhà nước Việt Nam trao tặng:

- 1 Huân chương Sao vàng: Quân tình nguyện Việt Nam (1988).

- 24 Huân chương Hồ Chí Minh (cho các đơn vị).

- 10 Huân chương Độc lập (cho các đơn vị).

- 20 vạn Huân chương Chiến công các hạng (cho cán bộ, chiến sĩ) và nhiều phần thưởng cao quý khác.

2. Huân chương, huy chương do Nhà nước Campuchia trao tặng:

- 25 Huân chương Ăngco (cho các đơn vị).

- 116 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (cho các đơn vị).

- 3 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì (cho các đơn vị).

- 183.090 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc các hạng (cho cán bộ, chiến sĩ) và nhiều phần thưởng cao quý khác.


(1) Tư liệu ở bảng thống kê này chưa được đầy đủ, đề nghị các tổ chức và cá nhân nào biết rõ, xin báo về Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam để bổ sung đầy đủ, chính xác, xứng đáng với chiến công to lớn của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia (1979-1989).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #126 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:41:22 am »

III. ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN THUỘC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
(1)

A. Đơn vị

1. Sư đoàn 315 bộ binh thuộc Mặt trận 579 (Quân khu 5).

2. Sư đoàn 9 bộ binh (Quân đoàn 4, tuyên dương lần 2).

3. Trung đoàn 143 bộ binh thuộc Sư đoàn 315, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

4. Trung đoàn 94 bộ binh thuộc Sư đoàn 307, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

5. Trung đoàn 29 bộ binh thuộc Sư đoàn 307, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

6. Trung đoàn 280 công binh thuộc Mặt trận 579 (Quân khu 5).

7. Trung đoàn 88 bộ binh thuộc Sư đoàn 302, Mặt trận 779 (Quân khu 7, tuyên dương lần 2).

8. Trung đoàn 201 bộ binh thuộc Sư đoàn 302, Mặt trận 779 (Quân khu 7).

9. Trung đoàn 250 bộ binh thuộc Sư đoàn 309, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

10. Trung đoàn 16 bộ binh thuộc Sư đoàn 5, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

11. Trung đoàn 159 bộ binh thuộc Mặt trận 779 (Quân khu 7).

12. Trung đoàn 1 bộ binh thuộc Sư đoàn 330, Mặt trận 979 (Quân khu 9, tuyên dương lần 3).

13. Trung đoàn 157 bộ binh thuộc Sư đoàn 339, Mặt trận 979 (Quân khu 9, tuyên dương lần 2).
14. Trung đoàn 659 vận tải thuộc Cục Hậu cần, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

15. Trung đoàn 917 thuộc Sư đoàn 370 (Quân chủng Không quân, nay là Quân chủng Phòng không - Không quân, tuyên dương lần 2).

16. Tiểu đoàn 15 công binh thuộc Sư đoàn 307, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

17. Tiểu đoàn 18 quân y thuộc Sư đoàn 307, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

19. Tiểu đoàn 32 trinh sát thuộc Mặt trận 579 (Quân khu 5).

20. Tiểu đoàn 782 vận tải thuộc Cục Hậu cần, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

21. Tiểu đoàn Q.22 thuộc Cục Hậu cần, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

22. Tiểu đoàn 1 bộ binh thuộc Trung đoàn 4, Sư đoàn 5, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

23. Tiểu đoàn 5 bộ binh thuộc Trung đoàn 174, Sư đoàn 5, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

24. Tiểu đoàn 5 bộ binh thuộc Trung đoàn 96, Sư đoàn 309, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

25. Tiểu đoàn 1 bộ binh thuộc Trung đoàn 812, Sư đoàn 309, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

26. Tiểu đoàn 9 bộ binh thuộc Trung đoàn 6, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

27. Tiểu đoàn 31 quân y thuộc Sư đoàn 309, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

28. Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 25 công binh, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

29. Tiểu đoàn 220 thuộc Trung đoàn 686, Sư đoàn 339, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

30. Tiểu đoàn 6 bộ binh thuộc Trung đoàn 20, Sư đoàn 4, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

31. Tiểu đoàn 1 thuộc Đoàn quân sự 9901, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

32. Tiểu đoàn quân y thuộc Sư đoàn 339, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

33. Tiểu đoàn thông tin thuộc Sư đoàn 339, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

34. Tiểu đoàn 6 bộ binh thuộc Trung đoàn 2, Sư đoàn 330, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

35. Tiểu đoàn trinh sát thuộc Sư đoàn 330, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

36. Tiểu đoàn 94 thuộc Trung đoàn 73 trinh sát (nay thuộc Tổng cục II).

37. Tiểu đoàn 2 công binh thuộc Lữ đoàn 229 (Bộ tư lệnh Công binh, tuyên dương lần 2).

38. Tiểu đoàn 563 thuộc vùng 5 Hải quân (Quân chủng Hải quân).

39. Đại đội 18 quân y thuộc Trung đoàn 733, Sư đoàn 315, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

40. Đại đội 18 quân y thuộc Trung đoàn 142, Sư đoàn 315, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

41. Đại đội 6 thông tin thuộc Mặt trận 479 (Quân khu 7).

42. Đại đội 2 trinh sát thuộc Tiểu đoàn 47, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

43. Đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 320, Mặt trận 779 (Quân khu 7).

44. Đại đội 21 trinh sát thuộc Trung đoàn 271, Sư đoàn 302, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

45. Viện Quân y 175 thuộc Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần).

46. Viện Quân y 7E thuộc Mặt trận 479 (Quân khu 7).

B. Cá nhân

1. Liệt sĩ Phạm Văn Đắp, sinh năm 1963, quê: Ba Điền, Ba Tơ, Quảng Ngãi; chiến sĩ thuộc Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 733 Sư đoàn 315, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

2. Liệt sĩ Lê Văn Vằn, sinh năm 1952, quê: Tân Trào, Ninh Giang, Hải Dương; Thiếu úy, Tiểu đội trưởng lái xe thuộc Đại đội 51 Tiểu đoàn 782, Cục Hậu cần, Mặt trận 579 (Quân khu 5).

3. Liệt sĩ Nguyễn Đức Hành, sinh năm 1960, quê: Triệu Phước, Triệu Hải, Quảng Trị; hạ sĩ, tiểu đội phó Trung đội trinh sát Tiểu đoàn 504 Trung đoàn 320, Mặt trận 779 (Quân khu 7).

4. Liệt sĩ Nguyễn Văn Việt, sinh năm 1961, quê: Bình Trị Đông, Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh; hạ sĩ, chiến sĩ Đại đội trinh sát Đoàn 7701, Mặt trận 779 (Quân khu 7).

5. Liệt sĩ Lê Cao Thăng, sinh năm 1955, quê: Quảng Văn, Quảng Xương, Thanh Hoá; Thiếu úy, Phó Đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 5A, Mặt trận 979 (Quân khu 9)

6. Lê Quang, sinh năm 1934, quê: Thuận Vi, Vũ Thư, Thái Bình; Đại tá, Trưởng phòng Quân y, Cục Hậu cần, nguyên Viện trưởng Viện Quân y 7E, Mặt trận 479 (Quân khu 7).

7. Hồ Khải Hoàn, sinh năm 1955, quê: Định Thành, Giá Rai, Bạc Liêu; Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 157 Sư đoàn 339, Mặt trận 979 (Quân khu 9).

8. Nguyễn Văn Tham, sinh năm 1957, quê: Liêm Phong, Thanh Liêm, Hà Nam; Đại úy, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát thuộc, Sư đoàn 330, Mặt trận 979 (Quân khu 9).


(1) Các đơn vị và cá nhân được Nhà nước ta phong tặng ngày 30 tháng 8 năm 1989, do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia (1979-1989)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #127 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:44:05 am »

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo tổng kết kinh nghiệm chiến đấu giúp Bạn và xây dựng đơn vị của Trung đoàn 71 Quân đoàn 4 trong thời gian làm nhiệm vụ ở Campuchia từ 1979-1983, lưu ở Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

2. Báo cáo tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng 10 năm trên chiến trường Campuchia của Sư đoàn bộ binh 9 (Quân đoàn 4), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (năm 2002).

3. Báo cáo tình hình công tác quân sự của Quân ủy Trung ương số 45-QUTƯ ngày 8 tháng 2 năm 1979. Hồ sơ 1085. Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.

4. Báo cáo tình hình thực hiện những nhiệm vụ công tác lớn trong quý III năm 1979 tại Hội nghị thường kỳ của Đảng ủy Quân khu 7 ngày 4 và ngày 5 tháng 10 năm 1979, số 18/BC ngày 5 tháng 10 năm 1979. Lưu tại Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 7.

5. Báo cáo tình hình địch quý IV năm 1981 của Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham mưu (tiền phương) ngày 2 tháng 1 năm 1982. KC 655, lưu ở Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

6. Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động của Mặt trận 479/Quân khu 7 trên chiến trường Campuchia (ngày 14 tháng 4 năm 1979 đến ngày 14 tháng 4 năm 1989).

7. Báo Nhân dân từ năm 1979 đến năm 1989.

8. Báo Quân đội nhân dân từ năm 1979 đến năm 1989.

9. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Điện gửi Trung ương Cục miền Nam, điện số 99, ngày 4 tháng 4 năm 1970, lưu ở Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

10. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Điện gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền, điện ngày 3 tháng 5 năm 1970, lưu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam.

11. Bộ Quốc phòng, Quân đội nhân dân Việt Nam với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nxb QĐND, H. 2004.

12. Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Công binh, Biên niên ên lịch sử Công binh Việt Nam (1945 - 2000). Nxb QĐND, H. 2004.

13. Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Công binh, Lịch sử Công binh Việt Nam (1945-2005), Nxb QĐND, H. 2006.

14. Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Lịch sử Sư đoàn bộ binh 4 Quân khu 9, Nxb QĐND, H. 2004.

15. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H. 2004.

16. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng 1945-2000 (Biên niên sự kiện), Nxb QĐND, H. 2003.

17. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Việt Nam thế kỷ XX - Những sự kiện quân sự, Nxb QĐND, H.2001.

18. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á, Nxb QĐND, H. 2006.

19. Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H. 2004.

20. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004), Nxb QĐND, H. 2004.

21. Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử Sư đoàn bộ binh 5 (1965-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

22. Binh chủng Pháo binh, Biên niên sự kiện lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1976-1996), Nxb QĐND, H. 1999.

23. Binh chủng Pháo binh, Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1976-1996), Nxb QĐND, H. 1999.

24. Binh chủng Thông tin liên lạc, Lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc (1975-2005) (Biên niên), Nxb QĐND, H. 2005.

25. Campuchia - con đường lịch sử lựa chọn và sự lựa chọn con đường có tính chất lịch sử, Tạp chí Lịch sử quân sự số 9 năm 1989.

26. Campuchia - thắng lợi của một cuộc cách mạng chân chính, Nxb ST, H. 1979.

27. Trường Chinh, Mấy vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND, H. 1983.

28. Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb ST, H. 1975.

29. Trường Chinh, Về vấn đề Campuchia, Nxb ST, H. 1979.

30. Chỉ thị của Ban Bí thư, số 75/CT-TW, ngày 15 tháng 5 năm 1979, về tổ chức lực lượng giúp Bạn K. (Chỉ thị số 75-CT/TW ngày 15-5-1979), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 40, Nxb CTQG, H. 2005.

31. Con đường dẫn đến sự thành lập nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, Trung tâm thông tin khoa học quân sự Bộ Quốc phòng, H. 1979.

32. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 39 - 49 (1978-1986), Nxb CTQG, H. 2005-2007.

33. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV, Nxb ST, H. 1977.

34. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H. 1987.

35. Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2000), Nxb QĐND, H. 2004.

36. Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử Sư đoàn 302 (1977-1997), Nxb QĐND, H. 1997.

37. Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 9 (1945-2000) (Biên niên), Nxb QĐND, H. 2001.

38. Đảng ủy - Chỉ huy Sư đoàn 309, Lịch sử Sư đoàn 309 - Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang (9.1978 - 9.1998), Nxb QĐND, H. 1998.

39. Đảng ủy - Chỉ huy Sư đoàn 330, Lịch sử Sư đoàn bộ binh 330 - Quân khu 9 (1976-2001), Nxb QĐND, H. 2004.

40. Đảng ủy - Chỉ huy Trung đoàn bộ binh 1, Lịch sử Trung đoàn bộ binh 1 - Sư đoàn 330 Quân khu 9 (1963-2003), Nxb QĐND, H. 2005.

41. Đại hội V, Đảng nhân dân cách mạng Campuchia, Nxb ST, H. 1986.

42. Đại tướng Lê Đức Anh, Nxb QĐND, H. 2005.

43. Đại tướng Lê Đức Anh, Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ quốc tế cao cả trên đất bạn Campuchia, Nxb QĐND, H. 1986.

44. Hà Giao, Cách mạng Campuchia và nghĩa vụ quốc tế của quân đội ta, Nxb QĐND, H. 1982.

45. Hội nghị cấp cao Lào - Campuchia - Việt Nam (22 - 23.2.1983), Nxb ST, H 1983.

46. Hoàng Văn Thái, Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, Nxb ST, H. 1983.

47. Hun Xen. Tính đặc thù của cách mạng Campuchia. Luận án PTS Khoa học Triết học - Học viện Nguyễn Ái Quốc, H. 1990.

48. Hun Xen, 10 năm quá trình Campuchia (1979-1989), (Viện LSQSVN sao 2002).

49. Khiếu Anh Lân, Từ các hoạt động chiến dịch của quân tình nguyện Việt Nam trên hướng Tây Bắc Campuchia, nghiên cứu (dự báo) một số vấn đề về chiến dịch trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, công trình KHQS - Học viện Lục quân - Đà Lạt.

50. Lê Duẩn, Về chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước ở Việt Nam, Nxb QĐND, H. 1985.

51. Lê Hai, Nhân dân Campuchia gọi Quân tình nguyện Việt Nam là “Bộ đội nhà phật” - Kỷ yếu hội thảo khoa học “Quân đội nhân dân Việt Nam với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Nxb QĐND, H. 2004.

52. Lê Hai, Sự thống nhất hữu cơ giữa nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, giữa tinh thần quốc tế trong sáng của Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia 1979-1989, Tạp chí Lịch sử quân sự số 1, 2 năm 2001.

53. Lê Kim, Ông hoàng Xihanúc nói về tội ác của Khơme đỏ đối với Việt Nam, tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 năm 1989.

54. Lê Kim, Tại sao bọn Pôn Pốt gây ra thảm họa “diệt chủng”? Tạp chí Lịch sử quân sự, số 9 năm 1989.

55. Lịch sử bộ đội Đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-2002), Nxb QĐND, H. 2002.

56. Lịch sử Bộ đội công binh Quân khu 7 - miền Đông Nam Bộ (1945-1995), Nxb QĐND, H. 1996.

57. Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên Quân đoàn 3 - Biên niên sự kiện (1964-2000), Nxb QĐND, H. 2002.

58. Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên Quân đoàn 3 (1964-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

59. Lịch sử Bộ đội Hoá học, tập 2 (1975-1998), Nxb QĐND, H. 1998.

60. Lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc (1945-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

61. Lịch sử Binh chủng Tăng - thiết giáp, tập 2 (1975-1999), Nxb QĐND, H. 1999.

62. Lịch sử Campuchia, Nxb VHTT, H. 1995.

63. Lịch sử Chính phủ Việt Nam, tập 3 (1976-2005), Nxb CTQG, H. 2006.

64. Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Nxb QĐND, H. 2002.

65. Lịch sử Cục Quân lực (1945-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

66. Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

67. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1996) (Biên niên), Nxb QĐND, H,1996.

68. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

69. Lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam (1977-1999), Nxb QĐND, H. 2005.

70. Lịch sử Lữ đoàn công binh 25 Quân khu 7 (1976-1996), Nxb QĐND, H. 1997.

71. Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1976-1996), tập 2, Nxb QĐND H 1996.

72. Lịch sử Quân đoàn 4 (Binh đoàn cửu Long) 1974-2004, Nxb QĐND, H. 2004.

73. Lịch sử Quân chủng Phòng không, tập 3, Nxb QĐND, H. 1994.

74. Lịch sử Sư đoàn 302 (1977-1997), Nxb QĐND, H. 1997.

75. Lịch sử Sư đoàn 306 (1978-1998), Nxb QĐND, H. 1998.

76. Lịch sử Sư đoàn 31 (1974-2004), Nxb QĐND, H. 2004.

77. Lịch sử Sư đoàn 315 (1979-1998), Nxb QĐND, H. 1998.

78. Lịch sử Sư đoàn 317 (1979-1999), Nxb QĐND, H. 1999.

79. Lịch sử Sư đoàn bộ binh 4 Quân khu 9 (1974-2004), Nxb QĐND, H. 2004.

80. Lịch sử Sư đoàn 7 (1966-2006), Nxb QĐND, H. 2006.

81. Lịch sử Sư đoàn 9, tập 2, Nxb QĐND, H. 1995.

82. Lịch sử Sư đoàn bộ binh 8 (1974-2000), Nxb QĐND, H. 2000.

83. Lịch sử Trung đoàn 31 - Sư đoàn 309 (1946-2001), Nxb QĐND, H. 2001.

84. Lịch sử Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2 (1976-2004), Nxb QĐND, H. 2004.

85. Nghị quyết của Bộ Chính trị số 10/NQ-TW, ngày 11 tháng 4 năm 1983, về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia trong giai đoạn mới, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 44, Nxb CTQG, H. 2007.

86. Nghị quyết số 39/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, ngày 15 tháng 2 năm 1983, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

87. Nghị quyết số 228/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, ngày 12 tháng 7 năm 1984, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

88. Nghị quyết số 39/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, tháng 5 năm 1984, lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.

89. Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 14 tháng 5 năm 1983, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

90. Nghị quyết số 12/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 27 tháng 5 năm 1983, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

91. Nghị quyết của Bộ Tư lệnh 719 về nhiệm vụ công tác năm 1983 của Quân tình nguyện trên chiến trường Campuchia. Tư liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

92. Nghị quyết (số 210A-NQ ngày 26-10-1982) của Bộ Tư lệnh 719 - Phần đánh giá công tác năm 1981-1982 và phương hướng nhiệm vụ năm 1983, lưu trữ văn phòng Bộ Tư lệnh Quân khu 7.

93. Những bài học kinh nghiệm thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng ta về mặt quân sự đối với Campuchia, Viện LSQSVN, H. 1983.

94. Phùng Đình Ấm, Mặt trận 479 - Mười năm trên đất nước Ăngco, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 9 năm 2006.

95. Phùng Đình Ấm, Một thời để nhớ (Hồi ký), Nxb QĐND, H. 2002.

96. Quân đội nhân dân Việt Nam 60 năm bảo vệ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2.9.1945 - 29 2005), Nxb QĐND, H. 2005.

97. Quân đoàn 3, Lịch sử Sư đoàn 31 Lam Hồng (1974-1999), Nxb QĐND, H. 2002.

98. Quân đoàn 4 - Ban Lịch sử quân sự, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7 Quân đoàn 4) đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1966-1996), Nxb QĐND, H. 1997.

99. Quyết định của Ban Bí thư, số 39/QĐ-TW, về việc kiện toàn tổ chức Đảng trong Đoàn chuyên gia giúp Bạn K. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 40, Nxb CTQG, H. 2006.

100. 60 năm lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2005), Nxb QĐND, H. 2005.

101. Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb Đà Nẵng, 1996.

102. Tài liệu tham khảo về ngày thành lập Quân đội nhân dân Campuchia lần thứ 30, Cục 100 - Bộ Quốc phòng, H. 1983.

103. Tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 3 (1975-1995), Nxb QĐND, H. 1996.

104. Tổng cục Kỹ thuật - Biên niên sự kiện 1974-1987, Nxb QĐND, H. 1994.

105. Tổng kết Quân đoàn 4 về công tác đảng, công tác chính trị trong chiến tranh hướng Tây Nam (30.4.1977 - 30.4.1988), Quân đoàn 4, 1991, lưu tại Viện LSQSVN.

106. Tổng kết 10 năm 1979-1988 về chiến tranh Tây Nam và nhiệm vụ giúp Bạn Campuchia. Quân đoàn 4, H. 1991.

107. Tổng kết 10 năm công tác bảo đảm quân y chiến trường Campuchia của Quân khu 9 (1979-1989). Phòng Quân y - Cục Hậu cần Quân khu 9, H. 1989.

108. Tổng kết 10 năm chiến đấu giúp Bạn Campuchia, Minh Hải xuất bản, 1990.

109. Tổng kết 12 năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế (1977-1989) của lực lượng vũ trang Đồng Nai, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai, xuất bản 1990.

110. Tổng kết Công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia (30 4.1977 - 30 4.1988), Quân đoàn 4, 1988.

111. Tổng kết Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia của lực lượng vũ trang Quân khu 9. Tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 9, 2007.

112. Tổng kết Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia của lực lượng vũ trang Quân khu 7. Tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 7, 2007.

113. Tổng kết Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia của lực lượng vũ trang Quân khu 5. Tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 5, 2007.

114. Tổng kết Sự thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng ta về quân sự đối với Campuchia, Viện LSQSVN, H.1983.

115. Tổng kết Công tác chỉ huy tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2000), Nxb QĐND, H. 2001.

116. Tổng kết Pháo binh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam. Tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Binh chủng Pháo binh, H. 2007.

117. Tội ác diệt chủng của bọn Pôn Pốt - Iêng Xari, Nxb ST, H. 1980.

118. Viện Sử học, Việt Nam - Những sự kiện (1945-1986), Nxb KHXH, H. 1986.

119. Việt Nam từ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tới đổi mới và phát triển (Hồ sơ 60 năm 1945-2005), Nxb LĐ, H. 2005.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #128 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:47:21 am »



Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng thăm và kiểm tra Sư đoàn 317 (năm 1979)



Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam thăm Sư đoàn 302 (năm 1981)



Đồng chí Bu-thoong, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Campuchia và Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hòa, Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 7
thăm bộ đội tình nguyện tại mặt trận 479 (năm 1982)




Thượng tướng Lê Ngọc HIền, Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam thăm và nói chuyện với bộ đội tình nguyện tại Báttambang (năm 1988)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10610


Lính của PTL


« Trả lời #129 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 07:49:15 am »



Bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia làm nhà, nhanh chóng ổn định cuộc sống



Bộ đội tình nguyện phát gạo giúp đỡ nhân dân tỉnh Côngpông Thom (Campuchia)



Quân y Sư đoàn 317 tổ chức khám chữa bệnh cho nhân dân Campuchia



Bộ đội tình nguyện Việt Nam dạy học cho các cháu mồ côi nhà trẻ Hoa Hồng tại thủ đô Phnôm Pênh
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM