Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2021, 04:27:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ  (Đọc 1038 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #20 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:21:14 pm »

Tàu Crayssac và Frezouls lập tức nổ máy xuất phát. Nhưng đường vào cảng Hải Phòng đã bị thả mìn, họ buộc phải đi vào Cửa Cấm bằng con đường thủy từ Quảng Yên đi xuống. Khoảng 14 giờ, hai chiếc tàu tiến vào giữa bến cảng Hải Phòng trước sự ngạc nhiên sửng sốt của Nhật và niềm vui lớn của những người dân Pháp. Tin này lan đi rất nhanh như thuốc súng. Những người An-nam ở đây không đến nỗi ác cảm lắm và đã nói chuyện thân mật với những đồng bào của họ chiêm số đông trong các nhân viên hai chiếc tàu. Blanchard, Fourcade, Stengala lên bờ tiếp xúc với các nhà chức trách Nhật Bản. Bị thúc ép bởi "Ủy ban Cách mạng Việt Minh", người Nhật cho biết sự có mặt của hai chiếc tàu tuần tra của Pháp ở giữa thành phố là không thể chấp nhận được và nài ép họ cắm neo ỏ nơi khác.


Không tìm được xe ô tô để đi lên Hà Nội bằng đường bộ, Blanchard quyết định dùng đường sông mặc dù những trận lũ lụt đang làm cho giao thông đường thủy phức tạp. Sau khi thỏa thuận, chiếc Frezouls ở lại Hải Phòng, còn chiếc Crayssac nổ máy lên đường đi Hà Nội vào hồi 10 giờ sáng ngày 19 tháng 8 theo kênh đào nhà máy Xi-măng và kênh Hàng Tre.


Đến Ninh Giang, họ nhìn thấy một chiếc sà-lúp chắn ngang kênh, rồi một loạt đạn trút xuống tàu Crayssac từ chiếc sà-lúp và hai bên bờ kênh. Một người An-nam trong số những người tiến công tàu hét to: "Hàng đi! Chúng tao là chủ nhân ông!".


Blanchard đã khôn ngoan không cho bắn trả lại vì sợ dân chúng Pháp ở Hải Phòng bị đàn áp. Dưới làn đạn ngày càng dữ dội, chiếc tàu tuần tra đi ngoằn nghèo trên kênh để tránh đạn rồi quay trở lại.

Tuy nhiên những người theo chủ nghĩa dân tộc tập trung trên các con đê hai bờ kênh vẫn tiếp tục bắn. Tàu Crayssac có một hỏa lực khá mạnh có thể mở đường tiến. Nhưng Blanchard vẫn cố kiềm chế, không chống trả, và đã quay về được chỗ tàu Frezouls đang chuẩn bị đi ứng cứu. Những nhà chức trách Nhật Bản không tỏ vẻ không hài lòng trước thất bại này. Một lần nữa, Blanchard lại nài nỉ để có được những phương tiện đưa ông cùng với năm đồng đội đi lên Hà Nội là địa điểm tôi đã hẹn gặp.


Ngày 22 tháng 8, đội ngũ nhỏ bé này rời Hải Phòng bằng chiếc xe ô tô của một nhà buôn Nhật Bản, có hai xe tải chở đầy lính Nhật đi hộ tống. Trận lụt đã phá vỡ đường giao thông ở đoạn cách Hải Phòng 10 kilômét. Các đồng đội của chúng ta phải đi bộ, leo lên đường sắt chỉ mang theo được một điện đài để tiếp tục cuộc hành trình tới thủ phủ xứ Bắc Kỳ.


Được vài kilômét nữa, đường sắt cũng bị nước cuốn, họ phải dùng thuyền nan băng qua cánh đồng ngập nước. Ngày hôm sau, họ được đi trên toa xe lửa chỏ hàng do một đầu máy kéo về Hải Dương. Từ đó họ về tới Hà Nội bằng một chiếc xe ô tô của Nhật Bản có một xe tải nhỏ chở lính Nhật đi kèm.


Và, ngày 23 tháng 8 chúng tôi gặp nhau trong dinh Toàn quyền. Tất cả gồm 11 người, quyết tâm thành lập một đoàn đại diện hứa hẹn có nhiều hiệu quả lớn hơn là số lượng. Bốn người trong số chúng tôi đã trải qua những ngày rất dài trong thời gian gần đây. Ba người, trong đó có tôi đã sống từ trước tại Hà Nội. Bốn người thuộc số "những người Pháp mới", không giấu nổi vẻ ngạc nhiên ca ngợi những gì còn tồn tại được ở thành phố quyến rũ này: có những cụm mầu xanh như ốc đảo, những mảnh đất trồng hoa, màu sắc rực rỡ, những đại lộ rộng rãi, mát mẻ, đẹp đẽ, hai bên là những biệt thự xinh tươi mà ngay cả mùa mưa cũng không thể vẩn đục vẻ ngoài sạch sẽ, tươi tắn. Thời xưa, được sống tại Hà Nội thật hạnh phúc xiết bao!


Tối hôm đó, các sĩ quan Mỹ đến thăm chúng tôi. Họ đã đi khắp thành phố và tiến hành nhiều cuộc nói chuyện với những đồng bào của chúng tôi, với những người Nhật và những người An-nam. Họ được thoải mái, cởi mở. Mặc dù có định kiến sẵn, nhưng chính họ cũng có ấn tượng về những hình ảnh vui tươi của "chủ nghĩa thực dân Pháp".


Những bức điện trao đổi với Côn Minh mỗi lúc một nhiều. Công việc tăng thêm vì bắt đầu từ ngày 26 chúng tôi đã tiếp xúc được với Calcutta. Tôi phải tổ chức những nhóm giải mã, không trừ một ai. Tâm trạng hồ hởi sẵn có của Haag càng bộc lộ trong công tác chán ngấy hơn là tinh tế này. Rất nhanh chóng, anh trở thành người phụ trách công tác thiết yếu. Anh không phải là bậc đàn anh trong nhóm chúng tôi, nhưng luôn là người nêu gương về sự bình tĩnh hoàn toàn và tin tưởng tuyệt đối.


Casnat lập được nhiều kỳ công cùng với sự trợ giúp của hai thợ máy vô tuyến điện. Những dàn ăng-ten được căng ra từ cột thu lôi này đến cột thu lôi khác. Trưởng ban thông tin của chúng tôi vò đầu bứt tai mỗi khi có dông bão mà tháng 8 này ở Bắc Kỳ lại hay có dông, sét thường hút vào những cột thu lôi trên nóc dinh làm cháy đen những chiếc dây ăng-ten chẳng may gặp nạn.


Đại úy Fourcade, trước kia đã từng làm sĩ quan tùy tùng cho Toàn quyền Catroux là người hiểu rõ thung thổ Đông Dương hơn bất cứ ai. Anh coi tòa lâu đài này thật sự như nhà mình và xoay chuyển cái "thiết bị phục vụ" một cách thông thạo, và cỗ máy này cũng có vẻ như vui mừng được gặp lại anh.


Việc tình cờ có thêm Blanchard cũng là điều cực kỳ quý báu đối với tôi trong giao thiệp với Nhật, vì ông đã từng làm công việc này nhiều tháng, với tư cách là sĩ quan liên lạc phủ Toàn quyền của đô đốc Decoux, suốt từ Nam Kỳ đến Bắc Kỳ.


Tất cả những người cộng sự với tôi đều đáng ca ngợi về tinh thần gan góc, công tác hăng say, tính tình vui vẻ.

Từ ngày 24 họ đã có ý định muốn đi dạo trong vườn cây tại dinh thự này, nhưng họ đã rất ngạc nhiên và ngán ngẩm khi thấy luôn luôn có hai hoặc ba tên lính Nhật Bản súng trường lăm lăm trong tay hoặc thanh kiếm tuốt trần theo sát họ từng bước một. Những vạch sơn trắng in đậm trên lối đi ấn định giới hạn cho cuộc dạo chơi của họ. Nếu họ định chơi ngông tới mức thử vượt qua vạch sơn giới hạn - tôi phải nói rằng họ rất muốn - thì lập tức những lưỡi kiếm của những người "bảo vệ" nổi tiếng về tính hiệu quả thần thoại này đã khua trên đầu họ, chỉ cách vài centimét đủ để làm họ nản lòng.


Tuy nhiên trong những giới hạn của khuôn viên qui ước này cũng có một lỗ hổng giữa khu vườn cây của dinh Toàn quyền với vườn Bách Thảo bên cạnh. Vài đồng bào chúng tôi đã bạo dạn tiến sát lớp rào lưới thép mắt cáo, trao đổi thật nhanh vài câu với những người đi dạo bên trong. Những cuộc hội ý chớp nhoáng này thật quý hơn vàng.


Chính nhờ đó mà chúng tôi có được những tin tức tình báo đầu tiên về tình hình ở Hà Nội.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:22:10 pm »

Ngày 25 tháng 8 có một chuyến máy bay Mỹ từ Côn Minh tới Hà Nội rồi lại quay về ngay. Các bạn Mỹ nói với tôi nên tận dụng cơ hội này để về Côn Minh trực tiếp gặp Phái đoàn 5. Đã bắt đầu trở nên rõ ràng là những người Mỹ rất thích tôi xa Hà Nội. (Sau này, tôi đã lượm được bằng chứng không thể chối cãi về việc những người Mỹ đề nghị giữ tôi lại Côn Minh, cách xa Hà Nội).


Tôi từ chối lời mời thân tình đó vì tôi không muốn rời bỏ vị trí này bằng bất cứ giá nào. Tôi quyết định cử Blanchard về Côn Minh liên lạc với Phái đoàn 5. Từ khi đổ bộ lên Hải Phòng, Blanchard đã quan sát được nhiều. Khi tới Côn Minh ông có thể báo cáo tường tận những điều tai nghe mắt thấy với Calcutta và Paris.


Trong ngày hôm đó, tôi có niềm vui được tiếp vị khách buổi đầu tiên. Đó là tướng Chamagne, Cục trưởng Cục Hậu cần Pháp. Ông đã được người Nhật thừa nhận là Chủ tịch Ủy ban tương trợ của Pháp, cho phép tới thăm tôi với lý do - mà đó cũng là sự thật - chuyển cho tôi bản thống kê danh mục các thuốc men cần đòi hỏi gấp.


Dĩ nhiên tướng Chamagne có trung úy Ogoshi là một sĩ quan Nhật Bản thành thạo tiếng Pháp đi kèm. Với thái độ lễ phép và nín lặng, tư thế rất đúng đắn, Ogoshi lặng yên tham dự phần lớn những cuộc nói chuyện hôm đó và cả sau này giữa tôi với tướng Chamagne.


Quan tâm đầu tiên của chúng tôi là lên danh mục những nhu cầu hàng đầu của người Pháp ở Đông Dương về thuốc men và lương thực để được đề nghị chuyển tới từ Trung Quốc và Ấn Độ.

Tướng Chamagne đều đặn đến gặp tôi. Trong nhiều ngày, ông là dấu gạch nối giữa những người Pháp ở Đông Dương với tôi, cũng như giữa Hà Nội với Paris. Ông đã lén lút giấu những bọn canh tù và Ogoshi, đưa cho tôi những ghi chép và báo cáo tình hình, những bản báo cáo này càng làm tăng thêm những lo sợ của chúng tôi.


Chính nhờ có ông mà chúng tôi được thông tin chính xác hơn về số phận dành cho đồng bào chúng tôi, về sự phát triển của phong trào nổi dậy của ngươi An-nam với qui mô ngày càng đáng lo ngại. Cũng nhờ ông mà chúng tôi ước lượng được phần trách nhiệm của Nhật Bản. (Những thí dụ này có nhiều, tôi chỉ ghi lại đây một trong những bức điện của tôi gửi đi ngày 24 tháng 8: "Nhật Bản vi phạm Hiệp định Potsdam đã chuyển giao phương tiện chiến tranh cho người An-nam. Ví dụ: tàu tuần tra Bourdais của Pháp ở cảng Hải Phòng ngày 21-8 đã treo cờ Việt Minh"1 (Sự thật không phải do Nhật Bản chuyển giao mà chính là các lực lượng vũ trang cách mạng của ta đã đánh chiếm được - ND).


Thiếu tá Mỹ Patti báo cho tôi biết, một số nhà lãnh đạo của Chính phủ Việt Minh sẽ tới gặp tôi. Đúng vậy. Sáng 27 tháng 8, ông Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ và ông Dương Đức Hiền là Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục1 (Sainteny đã nhầm. Ông Hiền lúc đó là Bộ trưởng Thanh niên - ND) đã tới chỗ tôi ở tại dinh Toàn quyền cũ.


Tôi biết, Võ Nguyên Giáp đã từng tiếp thu nền văn hóa Pháp, ông là một sinh viên đại học xuất sắc, rồi là tiến sĩ Luật, đã gây cho tôi ấn tượng về một người kiên quyết, cực kỳ cứng rắn, khôn khéo và thông minh. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa tôi với nhân vật sau đó giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã diễn ra thân mật, như vẫn thường thấy ở châu Á.


Ông Giáp tuyên bố được sự ủy quyền của chính phủ mới, tới gặp đại diện đầu tiên của Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp và mong có được một sự tiếp xúc chặt chẽ. Những khát vọng của chính phủ mà ông là thành viên không phải quá đáng. Vì vậy, chắc chắn nước Pháp không chỉ sẽ hiểu mà còn làm theo. Tôi trả lời về phần tôi, tôi đang chờ đợi nhìn thấy các thành viên trong chính phủ mới này hoạt động ra sao để có thể xem họ có xứng đáng trên vị trí chỉ huy xứ Đông Dương tương lai hay không. Trước hết, chính phủ này cần chứng minh bằng việc chấm dứt sự mất ổn định.


Cuộc nói chuyện tiếp tục trong việc trao đổi nhận xét về tình hình trật tự ở đây như thế nào, cho tới khi tôi nhắc những người đối thoại với tôi là Hội nghị Potsdam đã giao cho quân đội Trung Quốc giải giáp vũ khí quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Do đó, cần chuẩn bị cho việc Trung Quốc tới đóng quân Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ và Bắc Lào.


Người đối thoại với tôi có vẻ rất xúc động1 (Sainteny đã suy diễn rất chủ quan. Theo các tài liệu đã công bố ngay sau khi loan tin Nhật Bản chính thức tuyên bố chấp nhận các điều khoản của bản Tuyên cáo Potsdam từ ngày 17 tháng 8 năm 1945, các đài phát thanh Mỹ, Anh... đã thông báo sơ bộ về bản Tuyên cáo Potsdam, và việc quân đội Trung Quốc và quân đội Anh được giao nhiệm vụ phải giúp quân đội Nhật Bản ở Đông Dương. Hồi ký của Patti cũng tiết lộ, ngay trong cuộc tiếp xúc đầu tiên với đại diện Việt Minh tại Hà Nội, Patti đã bị chất vấn "Tại sao đại diện Pháp là Sainteny lại có thể vào Hà Nội trước quân đội Trung Quốc?". Những tư liệu này chứng minh rõ, Sainteny không phải là người đầu tiên báo tin cho ta biết quân đội Tưởng Giới Thạch sẽ vào Hà Nội. - ND) khi nghe tin này vì hôm nay mới được biết. Tôi đảm bảo đây là tin chính xác và nói, các thành viên trong Chính phủ Việt Minh là người làm chủ chính quyền mới, sợ rằng trong hành lý của quân đội Trung Quốc có những địch thủ dân tộc chủ nghĩa. Những phần tử này dựa vào sự ủng hộ đầy đủ nhất của những kẻ đỡ đầu đang tuyên bố giải phóng cho dân tộc An-nam, nhưng với điều kiện là được hưởng những quyền lợi gián tiếp. Có thể tính trước đến chuyện các nhà chức trách Trung Quốc sẽ giúp đỡ những đảng phái thân Trung Quốc trở thành những chủ nhân của xứ Bắc Kỳ, nơi mà Trung Quốc và nhất là các lãnh chúa phong kiến tại những tỉnh giáp biên giới không bao giờ từ bỏ.


Cuộc nói chuyện kết thúc một cách lịch sự như khi mới bắt đầu. Ông Giáp tuyên bố hài lòng và mong những cuộc nói chuyện như thế này sẽ tiếp tục thường xuyên nếu có thể. Lúc này, tôi hãy còn xa mới ngờ được rằng, Giáp là người hôm nay tôi gặp lần đầu tiên, chỉ vài tháng sau sẽ trở thành một trong những địch thủ ghê gớm nhất.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:23:34 pm »

Sau cuộc gặp gỡ này, tôi giữ Patti ở lại ăn cơm. Trước khi ăn, chúng tôi đi dạo vài bước trong vườn dưới vòm lá cây rậm rạp vùng nhiệt đới. Trưởng Phái đoàn quân sự Mỹ có vẻ rất vui mừng, nói với tôi:

- Thưa thiếu tá, tôi vừa mới được một bài học về ngoại giao, cho phép tôi khen ngợi ngài. Ngài đã giành được phần thắng.

Tôi không bị mắc lừa vì những lời chúc mừng đó và nhất là không cảm thấy có gì thích thú về cái mà ông bạn của tôi gọi là "thắng lợi". Buổi chiều, tôi nhận được những tin tức đầu tiên về Mesmer. Những tin này đều mơ hồ và trái ngược nhau.


Lúc này, tôi đã được biết rằng, nhờ sự giúp đỡ của Sở Hậu cần Cơ quan tình báo Anh, vài nhóm tình báo viên của Pháp ở Calcutta đã được máy bay Anh thả dù xuống Đông Dương, trong đó có Mesmer nhảy dù xuống một vùng phía bắc Hà Nội, thuộc tỉnh Phúc Yên. Cùng nhảy xuống với Mesmer có đại úy Brancourt, anh hiểu rất rõ về người An-nam vì đã sống nhiều năm tại Nam Định, và trung sĩ Marmont phụ trách điện đài. Anh là người đã nhảy dù xuống Đông Dương lần đầu tiên từ trước ngày 9 tháng 3 cùng với thống đốc Langlade, sau ngày đảo chính cùng đi theo đoàn quân rút lui sang Trung Quốc, sau khi vừa mới hồi phục sức khỏe lại xung phong tình nguyện nhảy dù trong nhóm của phái đoàn Mesmer.


Cả nhóm đã bị bắt ngay khi vừa chạm chân xuổng đất, bị giam giữ tại một khu vực nào đó ở phía bắc Hà Nội. Sau này, khi gặp lại Mesmer, tôi được biết rõ thêm, Brancourt đã bị chết trong lúc bị giam, còn Mesmer và Marmont đã được sống sót nhờ nghị lực đã giúp họ đi bộ được suốt bốn giờ trong vùng đồng bằng ngập lụt, đôi khi nước ngập tới bụng. Họ đã gặp được những binh lính Trung Quốc đang tiến xuống Hà Nội và đã được cứu thoát giữa lúc kiệt sức.


Tôi nói với những người Mỹ là tôi đang rất cần biết những tin tức chính xác về những đồng đội khác của tôi đã nhảy dù xuống Bắc Kỳ và đề nghị họ bắt tay vào việc tìm kiếm những người này. Tôi đã nhận được những lời hứa hẹn chính thức nhưng không bao giờ được biết liệu Patti và các nhân viên của ông có làm được chút gì theo hướng đó không, có bị vấp phải những trở ngại trong việc tìm ra lối thoát từ phía những người An-nam không, hoặc là việc đặt ra ngoài quan chức đã được chỉ định làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ có thu xếp được chút nào những công việc của họ không.


Ngày 28, Patti và phó của ông là trung úy Bernique lại đến thăm tôi, mở đầu cho một chiến dịch gièm pha chống lại những người Pháp và sự nghiệp của Pháp ở Đông Dương. Các bạn Đồng minh của chúng tôi bắt đầu bị chọc thủng lỗ tai vì những luận điệu cho rằng những người An-nam có lý; những người Pháp mà Patti và những trợ tá của ông thường đến tiếp xúc tại khách sạn Métropole chỉ góp phần làm tăng thêm hận thù của những người dân bản xứ chống lại nước Pháp và chủ nghĩa thực dân Pháp...


Rất rõ ràng, Chính phủ Cách mạng Việt Minh đã tiến hành một cuộc phát động tuyên truyền chống Pháp trên qui mô lớn bên cạnh các bạn Đồng minh của chúng tôi và đã làm cho họ dễ dàng nghe theo.

Sau bữa cơm cùng ăn với Patti và phó của ông là Bernique, chúng tôi nhìn thấy trẽn đại lộ Cộng hòa, thẳng góc với dinh Toàn quyền có ba cô gái đi dàn hàng ngang sát cạnh nhau, cô thứ nhất mặc áo váy màu xanh lam, cô giữa mặc màu trắng, cô thứ ba mặc bộ đồ màu đỏ (sau này tôi được biết đó là Pat Patterson, Colette Lapierre và Mady Moreau). Ba cô gái này tiến thẳng về phía dinh, dừng lại trước cánh cổng sắt một lúc rồi mới từ từ quay gót. Những người Pháp chúng tôi nhìn ba màu xanh, trắng, đỏ tượng trưng cho quốc kỳ Pháp, mà cổ họng nghẹn ngào, tràn dâng nước mắt. Từ hành động nhỏ của chủ nghĩa yêu nước này, biết bao kỷ niệm thức tỉnh trái tim những người của chúng tôi đã từng biết rõ nước Pháp hồi còn dưới sự chiếm đóng của Đức. Patti cũng đã nhìn thấy rõ cảnh tượng này và hiểu rõ niềm xúc động của tôi, đã quay lại phía tôi và nói.

- Đây là lá cờ Pháp đầu tiên mà tôi nhìn thấy ở Hà Nội từ ngày chúng ta đến đây. Đúng không?

Tôi trả lời:

- Đúng! Nhưng tôi cam đoan với ông đây không phải là lá cờ cuối cùng.

Patti là người luôn biết "khơi mào" câu chuyện một cách tuyệt vời. Sự "mềm dẻo" của ông thật là lúng túng. Có lẽ, tình hình sẽ khác, nếu ông và các bạn ông có lực lượng và uy thế tại Hà Nội?

Buổi tối, tôi cùng ngồi ăn với các bạn đồng nghiệp trong phòng ăn. Như thường lệ, chúng tôi vẫn được phục vụ chu đáo. Bộ đồ ăn bằng bạc của quan Toàn quyền vẫn nguyên vẹn và đầy đủ. Các đĩa ăn được đặt đúng vị trí trên bàn. Đại úy Fourcade đi vào, vẻ mặt trầm ngâm, suy nghĩ, nói:

- Không có một thằng bồi1 (Tên gọi miệt thị thường dùng để chỉ những người phục vụ như hầu bàn, rửa xe, lau nhà... xuất phát từ tiếng Anh "boy" nghĩa gốc là "chú nhỏ" - ND) nào ở khắp trong dinh. Tôi đã sục vào cả các chuồng ngựa, các dãy nhà ngang, tất cả đều vắng ngắt.


Bị đe dọa khủng bố, những con người khốn khổ này đã phải cùng với gia đình rời bỏ công việc và chỗ ở trong dinh là nơi họ vẫn sinh sống từ sau ngày 9 tháng 32 (Một lần nữa, Sainteny lại suy diễn. Sau ngày độc lập nhân dân Việt Nam đều tự hào được làm "chủ nhân", vì vậy hầu hết đã lự động rời bỏ các công việc hầu hạ người khác, chứ không phải vì bị "đe dọa khủng bố" nên mới không phục vụ thực dân Pháp nữa - ND). Chúng tôi im lặng nhìn nhau, không cần trao đổi cảm tưởng. Đây là cuộc tiến công đầu tiên và cần phải chờ đón nhiều vụ khác.


Có thể nuốt trôi miếng ăn mà không nghĩ rằng chiếc "lồng vàng" nhốt chúng tôi đang bị đe dọa biến thành nấm mồ không? Mặc kệ! Nếu chúng tôi bắt đầu nghĩ như thế thì thà chết đói ngay từ bây giờ. Mọi người lại lập tức trở nên vui vẻ. Chúng tôi ngồi vào bàn, ăn uống như thường lệ, có nghĩa là ăn uống ngon lành vì tuổi trung bình trong nhóm chúng tôi hồi đó chỉ vào khoảng 28 hoặc 29.


Ngày hôm sau, tức 29 tháng 8, trong dinh vẫn không có người phục vụ. Chúng tôi đành phải sử dụng những khẩu phần ăn Pacific đóng hộp đã cẩn thận mang theo trong chiếc Dakota khi bay tới Hà Nội.

Buổi chiều, tướng Chamagne, vẫn luôn luôn có Ogoshi đi kèm, lại đến thăm chúng tôi như thường lệ. Tôi kịch liệt phản đối với Ogoshi về việc những tên "bồi" đã bỏ đi, buộc Ogoshi phải chịu trách nhiệm và đe dọa nếu không đáp ứng thì phải đưa những người lính đang bị giam trong thành tới đây nấu ăn và phục vụ chúng tôi. Tôi cho đó là một cách để kéo được vài quân nhân đồng bào của tôi khỏi cảnh bị giam giữ mà mặc dù tôi đã nhiều lần phản kháng và đe dọa, họ vẫn tiếp tục bị nhốt trong thành, cũng như số quân "chiếm đóng" của chúng tôi đang phình to trong dinh Toàn quyền cũ.


Dĩ nhiên là trước khi yêu sách này được thỏa mãn, chúng tôi vẫn phải tiếp tục trải qua những ngày không có người phục vụ. Tướng Chamagne đề nghị, từ nay về sau, cơm nước cho chúng tôi sẽ được mang đến từ khách sạn Métropole. Vài hôm nữa, khi nào được phép, sẽ có một tên "bồi" đang làm công tại khách sạn đảm đương nhiệm vụ này.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:24:50 pm »

Để đơn giản công việc phục vụ mà chúng tôi buộc phải tự mình làm lấy, chúng tôi đành bỏ trống phòng ăn, để ăn uống ngay trong phòng làm việc. Mọi người đã vui vẻ trở lại. Sự vui vẻ này còn được chia sẻ, dĩ nhiên dưới một nhãn quan khác với đám lính Nhật Bản đang cạnh gác chúng tôi. Bọn họ rủ nhau lần lượt đến xem những ông chủ người da trắng ăn uống ngay trong phòng làm việc, cùng tham dự một cảnh tượng vừa buồn cười vừa khác thường.


Patti và phó của ông cũng thường đến thăm chúng tôi giữa giờ ăn. Chúng tôi nài ép họ cùng ngồi ăn. Họ đã ăn một cách vui vẻ và cùng giúp đỡ chúng tôi rửa những đĩa ăn một cách miễn cưỡng.

Trong những bức điện gửi về Calcutta, tôi không che giấu sự lo ngại khi thấy Mẫu quốc vẫn chưa có hành động phản ứng gì.

Trong bức điện ngày 28 tháng 8 gửi đi Calcuta có ghi: "Chúng ta đang đứng trước một âm mưu của Đồng minh muốn hích Pháp khỏi Đông Dương. Chỉ riêng Chính phủ là có thể, trên trường quốc tế, tiến hành một cuộc phản kháng. Tôi không thể làm gì để cảnh cáo người Nhật được nữa, bởi vì đã bảy ngày nay tôi đe dọa họ nhưng không đạt kết quả. Cuối cùng, phải làm cho mọi người hiểu rằng, Bắc Đông Dương trong giờ phút này không còn là của Pháp nữa".


Điện số 38 gửi Calcutta ngày 29 ghi: Thái độ của Đồng minh đối với Pháp đang dẫn đến chỗ ta mất mặt hoàn toàn. Làm việc gì tôi cũng phải thông qua Patti. Tôi nhấn mạnh, trên thực tế hiện nay, thái độ Đồng minh tệ hại chăng kém gì Việt Minh. Nước Pháp cũng là một bên ký hiệp ước chấp nhận việc Nhật đầu hàng, đúng hay không? Chỉ có Leclerc hoặc De Gaulle mới có thể, và cần phải hành động". (Lúc này Leclerc đang nhận lệnh đi Tokyo đại diện cho nước Pháp dự lễ đầu hàng của đế quốc Nhật Bản, trong khi tướng De Gaulle đang ở Mỹ).


Ngày 30, Pétris "đi ra phố", có trung úy Mỹ Bernique cùng đi để tìm một số nhà cần trưng dụng. Tất nhiên, những ngôi nhà này đều dành cho các bạn Mỹ của chúng ta!

Buổi chiều, những đồng đội trẻ tuổi của chúng tôi lại đi dạo trong vườn, theo thường lệ ngày hai buổi, nhưng lần này với vẻ khá bực bội. Những nhân viên người An-nam túc trực suốt dọc lớp rào mắt cáo ngăn dinh Toàn quyền với Bách Thảo, không cho những sĩ quan Pháp trong dinh tiếp xúc với dân chúng Pháp dạo chơi trong vườn Bách Thảo. Rất rõ ràng là những cuộc tiếp xúc của chúng tôi với dân chúng Pháp ở Hà Nội không làm hài lòng Chính phủ Việt Minh. Chúng tôi lại trở về tình trạng cô lập gần như hoàn toàn.


Sau bữa ăn tối, như thường lệ, chúng tôi cố tìm luồng sóng để nghe tin từ chiếc đài thu thanh duy nhất và rất xấu mà bọn Nhật đã bỏ lại trong dinh Toàn quyền cho chúng tôi sử dụng. Tôi không tài nào hiểu được vì sao người Nhật lại có thái độ như thế này, bởi vì họ biết rất rõ chiếc đài thu phát xách tay mà chúng tôi mang theo từ Côn Minh vẫn cho chúng tôi liên lạc thường xuyên với Phái đoàn 5, Calcutta và từ đó với cả Paris.


Từ chiếc đài của người Nhật bỏ lại, chúng tôi đã nhẹ nhõm nghe bài nói của tướng Leclerc trong chặng dừng chân từ Ceylan đi Nhật Bản, khẳng định ý chí của nước Pháp gìn giữ các quyền lợi của mình ở Đông Dương. Như mọi người quen biết Leclerc đã rõ, ông là người trực tính, hay nói thẳng. Leclerc đã tuyên bố: "Nếu cần thiết, súng đạn sẽ lên tiếng". Thật là những lời nói làm nức lòng người Pháp. Nhưng cũng phải thú thật, ai là người thúc giục chúng tôi, ngay trong buổi tối hôm đó, không phải chỉ có việc khóa chặt cánh trái của dinh là nơi chúng tôi đặt trụ sở làm việc, mà còn phải nạp đạn sẵn vào những khẩu súng các-bin mà chúng tôi vẫn giữ gìn cẩn thận, đêm nào cũng đật ngay đầu giường ngủ.


Ngày 1 tháng 9, đội lính Nhật Bản canh gác dinh Toàn quyền cũ được thay thế bằng một đội Cảnh vệ Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong quá trình nắm chính quyền của Chính phủ Cách mạng Việt Minh. Một cuộc mít-tinh khổng lồ trong "Ngày lễ độc lập" được loan báo từ trước, coi như điểm chủ chốt trong hàng loạt sự kiện tiếp theo.


Trên bục gỗ cao dựng lên trong công viên Puginier1 (Sau Cách mạng tháng Tám 1945 đổi tên là Vườn hoa Ba Đình - ND), trước hàng vạn người, một loạt diễn giả đã phát biểu bằng những lời lẽ mạnh mẽ theo các mức độ khác nhau.


Lần lượt, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu rồi Hồ Chí Minh mà ngay hôm đó quần chúng nhân dân được biết đây chính là nhà cách mạng lão thành Nguyễn Ái Quốc, long trọng tuyên bố nền Độc lập của Việt Nam. Hồ Chí Minh có vẻ như mềm dẻo hơn những đồng chí trẻ tuổi của mình, ông đã dùng những từ ngữ có cân nhắc trong bài nói.


Trong bức điện gửi đi Côn Minh, tôi ước tính có vài trăm ngàn người tham dự cuộc mít tinh ngày lễ 2 tháng 9. Thật ra, khó ước lượng được con số chính xác. Nhiều tỉnh đã cử đại diện về dự trong những bộ quần áo màu sắc các địa phương. Nhiều linh mục đạo Gia-tô cũng tới dự, đứng ở vị trí cao. Trật tự trong buổi diễu hành, và nhất là không thấy có những tiếng hò hét phản loạn, thù địch là một trong những biểu hiện rất đáng ghi nhận. Những người diễu hành đi theo đại lộ Brière de l’Isle2 (Nay là đường Hùng Vương) ngay trước cổng dinh Toàn quyền, và chúng tôi không thấy có một cử chỉ thù địch nào hướng về chúng tôi, cũng như về phía dinh là tòa nhà tượng trưng cho chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Phái đoàn đại diện Mỹ cũng có mặt. Hai chiếc máy bay tiêm kích Mỹ Lightning bay lượn rất lâu trên đoàn người dự mít tinh ở độ thấp. Sự kiện này được cơ quan tuyên truyền của chính phủ mới cho rằng đây là biếu hiện sự ủng hộ của Mỹ đối với Việt Minh.


Chúng tôi tiếp tục đánh điện, từng đợt liên lạc với Côn Minh và Calcutta thông báo về những diễn biến và sự phát triển của tình hình. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu, do ở xa nên các bạn tôi không thể nào hình dung được như chúng tôi nhìn thấy tận mắt, hoặc chính xác hơn là cảm thấy, để phác họa rõ nét hơn từng ngày.


Đây là một tờ rơi được rải đi rất nhiều trong thành phố, một vài tờ đã vứt qua lớp hàng rào sắt, vào trong sân dinh.

Cảnh báo những người Pháp

Những người An-nam1 (Như mọi người đều biết, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 hoàn toàn thắng lợi, danh từ An-nam, Annamite mà trước kia người Pháp thương dùng để chỉ nước Việt, người Việt đều đã được sửa lại là Vietnamien. Biểu ngữ "Le Vietnam aux Vietnamiens" mà chính Sainteny nhìn thấy từ ngày 22-8-1945 khi đặt chân tới Hà Nội đã chứng minh rõ. Trong tờ rơi mà Sainteny ghi lại trong hồi ký viết là "Annamites", rõ ràng không phải văn bản chính thức. Đây chỉ có thể, hoặc là sáng tác của những phần tử cực đoan quá khích, mạo danh "Ủy ban cứu quốc", hoặc của... chính tác giả Sainteny! - ND) biết tôn trọng tự do và cũng có nền Độc lập của mình.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:26:14 pm »

Chúng tôi không thù oán các người về những tội ác mà các người đã phạm phải cho đến tận hôm nay trên đất nước chúng tôi. Chúng tôi để cho các người được yên lành cho tới khi xuống tàu về Pháp. Với một điều kiện duy nhất là các người phải biết từ bỏ hết mọi tham vọng, dập tắt hết mưu đồ thống trị như trước. Đã là những kẻ bị thua trong mọi trận chiến đấu thì đừng có làm ra vẻ người chiến thắng. Nếu các người còn được phép ở lại đây, thì hãy xử sự và hành động như những kẻ bại trận.


Những người An-nam không phải là những người nặng oán thù, cũng không muốn rửa thù. Nhưng họ có trí nhớ khá tốt. Họ sẽ không bao giờ tha thứ cho những kẻ mà họ đã làm ngơ nay lại muốn tiếp tục hàng loạt tội ác ở Đông Dương.


Hãy tỏ ra biết điều thì các người sẽ được hưởng sự yên lành và các người cũng phải có bổn phận để chúng tôi yên ổn. Bất cứ một chút hành động nào, một lời nói có dụng ý xấu nào của các người đối với nhân dân Đông Dương sẽ đem lại hậu quả cho các người mà không một ai có thể lường trước được sự trầm trọng.

Ủy ban Cứu quốc.

Những quan hệ giữa chúng tôi với trung úy Nhật Ogoshi cũng ngày càng lạnh nhạt và thưa thớt. Rất hiển nhiên là do tôi chưa có giấy ủy nhiệm để đưa trình Bộ tư lệnh Nhật Bản, và Tokyo cũng chưa bao giờ chỉ thị coi tôi như người cầm đầu một phái đoàn chính thức, càng không coi trọng tôi. Cơ hội vô hi vọng uy hiếp người Nhật Bản bằng cách lợi dụng hiệu quả của việc nước Pháp bất ngờ quay trở lại đây, đã bị tổn hại.


Tôi thảo liên tiếp hết công văn này đến công văn khác, đòi phải bảo vệ các thường dân Pháp và trả lại tự do cho các quân nhân Pháp. Tôi cũng đòi quyền tự do hoạt động cho phái đoàn Pháp tại Hà Nội, do tôi đứng đầu. Chờ vài ngày sau, cũng không nhận được những thư trả lời, dù trì hoãn, mà đáng lẽ phép lịch sự Nhật Bản buộc họ phải gửi tới cho tôi. Ở Côn Minh, Calcutta hoặc Paris, cũng chẳng một ai có vẻ hiểu rằng đây là cơ hội duy nhất để Pháp giành lại ở Đông Dương và cơ hội này chắc chắn không lặp lại nữa. Tôi đề nghị Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp lợi dụng thời cơ tôi đang giữ một chỗ tại Hà Nội để cử ngay tới đây một đại diện của chính phủ.


Trong điện số 49 Calcutta ngày 31 tháng 8, tôi viết: "Tôi đang trong tình trạng mất khả năng giữ được vị trí hiện tại nếu nhân cơ hội Leclerc đi Tokyo, các ông không có được sự công nhận chính thức và cần kíp rằng tôi là thành viên tiền trạm của Phái đoàn Pháp. Sự thừa nhận này phải được Chính phủ Nhật Bản ở Tokyo gửi cho Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản ở Bắc Kỳ. Nếu không, tôi buộc phải rời khỏi dinh Toàn quyền, là nơi mà, mặc dù bị giam lỏng, vẫn gây ấn tượng mạnh đối với những người An-nam, cản trở Việt Minh, và đem niềm hi vọng và tinh thần can đảm đến cho người Pháp. Tất cả đều thể hiện ở đây, sự có mặt của chủ quyền Pháp.


Tôi xin các ông hiểu cho dịp may đặc biệt mà chúng tôi đang có tại trung tâm cai trị của Pháp ở Đông Dương. Chúng tôi không thể lại để vị trí này bị truất phế. Phái đoàn của tôi phải được chính thức hóa, chứ không được để bất lợi như hiện nay, khiến cho Việt Minh, Nhật Bản và Đồng minh đang vội vã thu lợi về phía họ nhờ có sự thất thế của Pháp.


Vấn đề chức vụ đối với tôi không quan trọng lắm. Nếu các ông thấy tôi không xứng với chức danh đại diện, xin cho biết tôi phải chuyển lại nhiệm vụ này cho ai. Cần phải làm tất cả mọi việc để cho vị trí vừa giành được và đang giữ rất khó khăn không được bỏ rơi".


Ngày 3 tháng 9, những người Mỹ đề nghị tôi đưa cho họ gói thư gửi Côn Minh và Calcutta bởi vì có một chiếc máy bay của họ vừa tới Gia Lâm và sẽ quay trở lại Vân Nam. Bây giờ bạn đọc sẽ bắt đầu được hiểu chúng tôi phải cư xử như thế nào, có nên cho rằng gói thư nói trên, nếu bị thất lạc một cách bí mật, sẽ không thể nào đến được tận tay người nhận. Patti và những người bạn Mỹ cố tạo ra những lời từ chối khéo léo và cũng chẳng cần thật sự làm ra vẻ không dám đảm bảo gói thư này được đưa tới nơi tới chốn.


Vả lại, từ vài ngày nay, Phái đoàn Mỹ tại Hà Nội chẳng cần che giấu sự ác cảm của họ. Lập trường của họ đã bộc lộ rất rõ: bị huyễn hoặc bởi những thành viên khôn khéo trong chính phủ mới của người An-nam, quá tin vào sự cần thiết phải giải phóng những người An-nam khốn khổ khỏi ách thực dân Pháp, hoàn toàn không hiểu về tất cả những vấn đề có liên quan, không chỉ riêng với Đông Dương mà còn cả khu vực Viễn Đông, những người đại diện cho Hoa Kỳ ở Hà Nội đã không cần dè dặt - có lẽ không tự nguyện - chơi cái trò phục vụ cho chủ nghĩa dân tộc của An-nam.


Sau khi Nhật Bản đầu hàng, một số cơ quan của Mỹ đã vụt chuyển sang thái độ thù địch công khai đối với Pháp. Chính vì vậy cho nên, ít lâu sau khi một số sĩ quan Mỹ rời khỏi Phái đoàn Mỹ mang tên Comores, họ cũng chẳng buồn mang đi theo bức điện mà sở Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) gửi cho họ, ghi rõ: "Trong bất cứ trường hợp nào cũng không để cho người Pháp thâm nhập Đông Dương"1 (Trong toàn bộ cuốn sách của Sainteny, bức điện nào cũng ghi rõ số và ngày gửi. Riêng bức điện này chỉ nhắc đến rất mơ hồ - ND).


Từ lâu tôi đã tự hỏi, không hiểu sao Sở Tình báo chiến lược Mỹ là cơ quan có rất nhiều người, tại sao lại cử đến Đông Dương toàn nhân viên sơ cấp1 (Sainteny lại nhận định sai. Dù Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ tại Đông Dương hồi đó chỉ ở cấp đại úy (sau đó thăng thiếu tá) nhưng đang giữ chức Trưởng ban Đông Dương trong Sở Tình báo chiến lược Mỹ, không thể coi là "nhân viên sơ cấp" được. Hơn nữa, như giấy ủy nhiệm ghi rõ, Patti chỉ đi làm nhiệm vụ "tiền trạm". Người chính thức giữ chức Trưởng phái đoàn là tướng Mỹ Gallager. - ND), không có khả năng nắm vững mặt lợi, mặt hại và những hậu quả không thể lường trước được trong tấn thảm kịch từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1945. Ngươi ta nói với tôi rằng, sau đó người Mỹ cũng đã nhận rõ sai lầm của họ. Trong mọi trường hợp, nếu Pháp là nước duy nhất gánh chịu nặng nề những hậu quả đầu tiên, thì chẳng bao lâu nữa, Hoa Kỳ cũng sẽ gánh chịu về phía họ những phản hồi của tấn thảm kịch này, mới đầu đóng khung trên lãnh thổ Đông Dương rồi sau đó là trên lục địa châu Á, chủ yếu trên đất nước Trung Hoa rộng lớn đã bị chia rẽ giữa hai khối lớn trên thế giới đối đầu với nhau.


Năm 1945, người Mỹ chưa hiểu được rằng, với lập trường "chống chủ nghĩa thực dân" họ đã bị rơi vào thế "chống da trắng" và phải chuẩn bị đương đầu với một đối thủ ghê gớm hơn: đó là chủ nghĩa cộng sản châu Á.

Chờ đến khi người Mỹ nhận ra điều này sẽ là quá chậm.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:33:53 pm »

Không nản lòng, tôi tiếp tục tiếng kêu báo động. Ngày 3 tháng 9 tôi lại điện đi Côn Minh và Calcutta: "Những giờ phút đang trôi đi không thể nào quay lại được. Chúng ta đang bỏ lỡ cơ hội đặc biệt để có mặt tại đây. Tôi nhấn mạnh, chính sách thoái thác này, dù tạm thời, cũng là một sự điên rồ làm lợi cho những kẻ thù của chúng ta. Nhất định, tôi cố bám giữ. Tinh thần của mọi người trong nhóm thật tuyệt vời, đang trợ giúp tôi rất lớn. Nhưng công việc hàng ngày rất khó nhọc, khó kéo dài được". (Allessandri và Pignon ở Côn Minh, Roos ở Calcutta đều hiểu rõ tình thế, khuyên tôi bám giữ chớ nản lòng. Nhưng họ chỉ có thể gửi đến cho tôi những lời động viên).


Ngày 4 tháng 9 đại tá Mỹ Nordlinger thuộc Cơ quan mặt đất cứu trợ các phi công lâm nạn, gọi tắt là AGAS, đến thăm tôi. Ông có nhiệm vụ đáp ứng những nhu cầu của thương binh và tù binh. Nhân vật này, trái ngược hẳn với những người Mỹ đến trước, tỏ ra tận tụy trong nhiệm vụ. Với thái độ và bộ quân phục trên người, ông thu hút nhiều cảm tình và lòng biết ơn của tất cả những ai đã gần gũi ông.


Từ ngày 3 tháng 9, một người trong nhóm chúng tôi là trung úy Missoffe đã có thể ra khỏi dinh. Anh đã đi đến tận khách sạn Métropole rồi từ đó lại đi tới trụ sở chính phủ mới của Việt Nam. Hoàng Minh Giám là một trong những thành viên tích cực nhất của chính phủ mới, đã tiếp Missoffe và khẳng định đã bắt giữ Mesmer và những người cùng đi. Tất cả những gì chúng tôi được thông báo là lời cam đoan họ vẫn còn sống.


Dĩ nhiên sau đó, mối quan hệ liên lạc sẽ được thiết lập giữa Phái đoàn chúng tôi với Chính phủ Cách mạng Việt Minh.

Ngày 5 tháng 9 những bữa ăn cho chúng tôi lại bị cắt. Khẩu phần ăn dã chiến đóng hộp đã hết, chúng tôi đành nhịn đói suốt một ngày. Trong ngày hôm đó, chúng tôi còn bị những người Nhật, người Mỹ và người An-nam phối hợp tiến công liên tiếp. Hết lớp người này đến lớp người khác, tùy theo cách thức riêng xuất phát từ tính cách khác nhau, họ cố buộc chúng tôi phải hiểu rằng chúng tôi đã chiếm dinh Toàn quyền lâu quá. Những người Mỹ và người Nhật Bản hành động như vậy là nhằm lấy lòng người Trung Quốc sắp tới và đã chính thức báo tin trước. Còn những người An-nam cũng muốn đặt trụ sở của chính phủ mới tại tòa lâu đài này, hoặc nếu không được thì cũng trung lập hóa nơi này, không để cho những đại diện của Pháp chiếm lĩnh nữa.


Tiếp theo những cuộc đến thăm trùng hợp kỳ lạ với vụ bỏ đói, thật khó mà nuôi hi vọng sẽ giữ được tòa lâu đài này làm nơi ở lâu hơn nữa.

Trong một loạt bức điện gửi đi Calcutta, tôi đề nghị gửi cho tôi công lệnh chỉ thị cho tôi phải giữ dinh Toàn quyền làm trụ sở cho Phái đoàn Pháp trong khi chờ đợi các đại diện chính thức của nước Pháp sẽ được cử tới. Ngày nào tôi cũng nóng lòng sốt ruột đợi điện trả lời nhưng không bao giờ thấy.


Trong khi đó, tướng Leclerc đang ở Tokyo. Tôi hi vọng ông sẽ có thể can thiệp tại chỗ. Nhưng sau này, khi được gặp Leclerc, ông cho tôi biết hồi đó ông không được biết gì về tình thế của chúng tôi tại Hà Nội.

Ngày 6 tháng 9, Ogoshi lại chính thức đến đòi chúng tôi phải đi ngay. Tôi tiếp tục trì hoãn, viện cớ tôi chỉ rời bỏ "Toà nhà của nước Pháp" nếu có lệnh của chính phủ tôi.

Ngày 7, Ogoshi lại đến, nói với tôi bằng một giọng khiến tôi phải lạnh lùng trả lời: "Bom nguyên tử đã làm cho Pháp hay là Nhật Bản phải xin ngừng bắn?".

Sau đó, tôi từ chối gặp Ogoshi, ngại rằng tình hình và nhiệm vụ có thể đảo ngược tới mức mơ hồ sẽ gây ra một sự cố dẫn đến những hậu quả tai hại.

Để tranh thủ thời gian tôi nói với những người Nhật là tôi sẽ chỉ rời khỏi dinh nếu họ chọn được cho tôi một tòa nhà tiện nghi có thể dùng làm trụ sở cho phái đoàn của tôi.

Cũng mãi đến lúc này, những người Nhật Bản có thẩm quyền mới chịu cấp cho chúng tôi tờ giấy thông hành để cho chúng tôi được tự do đi lại trong nội thành Hà Nội. Như vậy là, một tháng sau sự kiện Hiroshima và Nhật Bản đầu hàng, mười tám ngày sau khi đặt chân tới Hà Nội, những người được nước Pháp cử tới Bắc Kỳ đã buộc phải mang theo giấy thông hành có chữ ký của Nhật Bản bại trận để được tự do đi lại!


Dĩ nhiên, những nhà cửa mà Nhật Bản chọn cho chúng tôi đều không thể tiếp nhận được vì đã bị cướp phá, hư hỏng một phần, trên thực tế không thể nào ở được.

Ngày hôm đó, chúng tôi nghe đài thu thanh được biết sư đoàn thiết giáp số 2 đã được lệnh cử sang Bắc Kỳ. Tiếp đó, chúng tôi nhận được điện của đô đốc d’Argenlieu. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa trụ sở làm việc của phủ Cao ủy Pháp tại Ghandernagor với chúng tôi. Nước Pháp đã không hoàn toàn quên chúng tôi. Chúng tôi khẳng định như vậy, bởi vì ngày 8 tháng 9 đã có chuyến thư từ nước Pháp gửi qua Côn Minh tới chúng tôi. Thư đã được phân phát cho những người nhận.


Ngày 9 tháng 8 có vài sĩ quan Trung Quốc tới dinh, không một chút do dự, họ chiếm lĩnh ngay các phòng ở. Sự có mặt của chúng tôi có vẻ làm họ bất ngờ và trái ý muốn của họ rất nhiều.

Những viên sĩ quan này muốn gặp tôi. Các sĩ quan của tôi trả lời, tôi đang bận, không tiẽp khách được. Họ từ chối đi xem tòa lâu đài. Như vậy là chúng tôi có thể tranh thủ thời gian được vài giờ, cũng có thể vài ngày, và trong khoảng thời gian đó công lệnh giữ chúng tôi ở lại "Ngôi nhà của nước Pháp" bấy lâu chờ đợi có thể từ Pháp gửi tới chúng tôi.


Tuy nhiên, tối hôm đó tôi nói với những người cùng đi, chắc chắn là phải rời khỏi dinh. Chúng tôi đã tiếp nhận dinh này nguyên vẹn từ tay Nhật Bản, vậy thì nay cũng phải trao lại ý nguyện cho những người mà Hội nghị Potsdam chỉ định đến ở tại đây (bởi vì, ngày càng rõ là không phải người Pháp).


Chính vì lẽ đó, nếu có một người nào tình cờ đến ngôi nhà của Toàn quyền Pháp tại Hà Nội ngày 9 tháng 9 có lẽ sẽ thấy một tá người Pháp do Trưởng phái đoàn đứng đầu, tay cầm chổi và vải lau nhà đang lao động quét dọn. Từ ngày đám bồi bếp rời bỏ chúng tôi, việc lao động này thường diễn ra hàng ngày trong bầu không khí vui vẻ, nhưng ngày hôm nay, một chút tự ái đã biến thành buổi quét dọn nhà cửa "cật lực".

Tôi chán nản điện đi Calcutta:

"Công điện ngày 9 tháng 9: Tôi không thể bám lâu tại dinh Toàn quyền nữa và bắt đầu dọn đi trong ngày hôm nay".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2021, 05:35:04 pm »

Ngày 10, những sĩ quan Trung Quốc lại đến đông hơn và có thái độ hung hăng hơn. Họ đã vấp phải thái độ tương tự của những người cùng đi với tôi. Hai trong số các sĩ quan của tôi còn đi tới chỗ phản kích và đã tới trụ sở của tướng Hinh, chỉ huy đội tiền trạm Trung Quốc này, để giải thích là không có lệnh của cấp trên trực tiếp, tôi không thể rời bỏ "Ngôi nhà của nước Pháp", dù là để nhường lại cho những đại diện của nước Đồng minh vĩ đại của chúng tôi ở châu Á. Vị tướng "con trời" này đã tiếp đón những sĩ quan của chúng tôi theo cách tồi tệ nhất và đã tống cổ họ ra khỏi cửa.


Tình thế của chúng tôi trở thành không đứng vững được nữa. Uất hận tràn ngập trong lòng, chúng tôi đành phải rời bỏ vị trí.

Tôi đã phải chờ mười lăm tháng sau mới được quay trở lại. Đó là ngày 23 tháng 12 năm 1946, tôi bị thương nằm trên cáng, được khiêng trở lại dinh Toàn quyền Pháp ở Hà Nội1 (Lúc này chiến tranh Pháp - Việt đã bùng nổ từ đêm 19 tháng 12 năm 1946).

Ngày 10 tháng 9 năm 1945, tôi điện cho Côn Minh:

"Trung Quốc đã trục xuất tôi khỏi dinh Toàn quyền. Họ có vẻ đã quyết định tự cho mình là chủ, không đếm xỉa gì đến chúng ta. Không còn vấn đề Allessandri hoặc Đoàn đại diện của Pháp quay trở lại nữa, dù đã chính thức loan báo".

Phần sau tôi sẽ viết rõ hơn Allessandri và Pignon đã bị đối xử như thế nào khi tới Ban tham mưu quân đội Trung Quốc để xin vào Hà Nội.

Ngày hôm sau, chúng tôi dọn nhà bằng cách phân chia nhau đến ở tại bất cứ căn hộ nào mà chúng tôi thấy còn vắng chủ trong nội thành Hà Nội. Một biệt thự nhỏ ở đầu phố Bélier1 (Nay là phố Lò Đúc) thuộc phần tôi. Tôi cũng ở đó với Casnat, người lái xe và một lính lê dương tên là Klanek vừa từ trong thành tới được giao nhiệm vụ bảo vệ nhà.


Trong thời gian này, những đội quân Lư Hán tiếp tục chiếm lĩnh Hà Nội một cách chậm chạp. Quần áo rách rưới, thân hình mệt mỏi sau khi trải qua những chặng đường dài để tới vùng châu thổ sông Hồng lụt lội, chỉ bốn hoặc năm người lính mới có được một khẩu súng, đạo quân "nhà trời" trong đội hình vô trật tự không thể tưởng tượng được, đã ập vào Hà Nội còn nguyên lành như một bầy châu chấu ào xuống ruộng lúa.


Sau này chúng tôi được biết, quan tâm đầu tiên của đoàn quân Trung Qưốc khi vào Bắc Kỳ là phá hủy tan tành các công trình phòng ngự của Pháp suốt dọc biên giới tiếp giáp với Trung Quốc.

Quân lính Trung Quốc không chỉ chiếm các trụ sở hành chính hoặc các căn hộ tư nhân của Nhật mà Chính phủ Cách mạng Việt Minh chưa giành được, họ còn xông vào các nhà tư nhân người Pháp với vẻ thô bạo nhà binh, đuổi chủ nhà ra khỏi những căn hộ mà từ sau ngày 9 tháng 3, phải chống chọi khó khăn lắm những người Pháp này mới giữ được. Họ chỉ có đủ vài phút để khóa va-li đi ra khỏi nhà. Những con người khốn khổ này, mỗi ngày một đông thêm, lần lượt kéo tới "Phái đoàn Pháp" để yêu cầu được giúp đỡ và bảo vệ. Đó là thời kỳ khởi đầu một loạt kháng nghị bằng miệng hoặc bằng văn bản mà tôi liên tiếp gửi tới các nhà chức trách Trung Quốc suốt tám tháng.


Tôi cũng không mệt mỏi trong việc cảnh báo Chính phủ Pháp về mối nguy hiểm đang xảy ra ở đây đối với đồng bào chúng tôi trong tay những bạn "Đồng minh" như thế này.

Trong bức điện ngày 13 tháng 9 gửi Calcutta, tôi viết: "Nếu Allessandri chưa đến ngay được thì cần phải chỉ định một người Pháp có thẩm quyền, giới thiệu với các Đồng minh, để khẩn cấp bảo vệ cho đồng bào chúng ta đang bị hết người Nhật, người An-nam rồi bây giờ lại đến người Trung Quốc sỉ nhục, cướp bóc, trục xuất khỏi nhà cửa dưới cặp mắt trung lập và bất động của người Mỹ. Tất cả mọi người đều đang bấu víu vào tôi và đề nghị tôi can thiệp. Tôi đã làm hết sức mình, nhưng đều vô hiệu. Tất cả những kháng nghị gửi tới Chính phủ Cách mạng Việt Minh đều chỉ có một mình tôi phát biểu. Nhưng tôi cũng không biết phải lấy chức vị gì để ghi vào những kháng nghị đó.


Nếu chúng ta đã quyết định tạm thời bỏ rơi xứ Bắc Kỳ, thì cũng không có nghĩa là bỏ rơi những con người của chúng ta và những tài sản của họ. Đồng bào của chúng ta đang có cảm tưởng như vậy.

Không thể nào tin được rằng Paris không hiểu những tiếng kêu báo động mà tôi đã gửi tới các ông từ ba tuần nay vì Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp lại từ chối trao nhiệm vụ đầy đủ cho một người Pháp nào đó đang có mặt tại Hà Nội, hoặc mạo hiêrn cho một máy bay đưa một nhân vật được tin cậy và được giới thiệu với các Đồng minh để cho người có thẩm quyền này được chống lại một cách chính thức mưu đồ cướp bóc đang diễn ra toàn diện.


Cuối cùng, tôi nhấn mạnh một lần nữa là phải tổ chức ngay, không chậm trễ, việc sơ tán phụ nữ và trẻ em".

Có cần phải thêm vài lời bình luận vào bức điện này hay không? Bức điện đã ghi quá rõ tình hình trong ngày tôi thảo nội dung trên, và những mối đe dọa với những hậu quả trầm trọng vẫn đang kéo theo.

Về phần chúng tôi, chúng tôi đang có những chỗ ở gặp sao dùng vậy trong khu phố Jauréguiberry1 (Còn gọi là phố Hàng Kèn, nay là phố Quang Trung), trong biệt thự dùng làm trụ sở làm việc của viên giám đốc giáo dục cũ, chung quanh có vườn cây lớn. Đây là một trụ sở rất đẹp, nhưng hơi khiêm tốn khi sử dụng để sắp xếp các cơ quan trong phái đoàn do tôi đứng đầu và sau này biến thành trụ sở của ủy viên Cộng hòa Pháp. Chúng tôi chen chúc nhau trong các phòng làm việc. Khách tới thăm và làm việc đôi khi phải đứng chờ ngoài vườn cây.


Chúng tôi bắt tay ngay vào công việc, chẳng chờ đợi và cũng không để ý đến tốp lính canh mà Chính phủ Việt Minh đã bố trí ở ngay lớp rào sắt. Trụ sở mới của chúng tôi còn cắm chốt trong khu Trường kỹ nghệ thực hành lúc đó đang trở thành trung tâm huấn luyện của "lính xung kích" Chính phủ Cách mạng Việt Minh.


Từ những cửa sổ phòng làm việc của tôi, hàng ngày tôi đều nhìn thấy những buổi tập luyện của đám lính học theo chiến thuật tác chiến kiểu Nhật Bản, tức là uy hiếp địch thủ bằng những tiếng thét. Đám thanh niên tập luyện rất chăm chỉ ở khu nhà vây quanh trụ sở làm việc của chúng tôi, mỗi ngày tập luyện nhiều giờ trong khoảng thời gian hơn 6 tháng.


Mười lăm tháng sau, tức ngày 19 tháng 12 năm 1946, cùng với những tiếng hét này, họ đã tiến công người Pháp.

Nếu khung cảnh khá khác thường này làm ngạc nhiên khách đến thăm thì đối với chúng tôi lại rất bình thường. Ngày chủ nhật, khi họ nghỉ tập thì sự im ắng hiếm có này lại gây cho chúng tôi một ấn tượng thiếu vắng một cái gì đó đã quen thuộc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 08:02:50 am »

VIII
VIỆT MINH NẮM CHÍNH QUYỀN


Tôi đặt trong căn hộ khiêm tốn này không chỉ có phòng làm việc của riêng tôi và các cộng sự trực tiếp cùng với ban thư ký, mà cả bộ phận điện đài, giải mã, rất cần trong tình huống này, chúng tôi không thể nào để tách xa được.

Từ ngày 12 tháng 9 năm 1945 chúng tôi đã thử tổ chức tại đây một trụ sở ủy viên Cộng hòa Pháp sẵn sàng đảm nhận mọi nhiệm vụ, mọi trách nhiệm, trước kia do những đại diện của nước Pháp thực hiện từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên.

Nhưng ngày nay, tình hình đã đảo lộn. Chúng tôi đang chìm sâu trong một sự hỗn độn không thể tưởng tượng được, tới mức ngày nào chúng tôi cũng tự hỏi đây là thật hay mơ. Chúng ta hãy thử điểm lại tóm tắt những diễn biến ở xứ Bắc Kỳ và Bắc Đông Dương dẫn đến sự mất trật tự rối rắm khó gỡ này.


Cho tới ngày 9 tháng 3 năm 1945, đô đốc Decoux là Toàn quyền Đông Dương vẫn giữ được trò biểu diễn thăng bằng trong tình thế nguy hiểm ngược đời. Cũng phải nói thêm, đó cũng là nhờ vào ý muốn của Nhật cho tới lúc này vẫn muốn đạt được lợi ích trong việc duy trì trật tự của Pháp ở Đông Dương, vì vậy những người Pháp vẫn giữ được trong tay hệ thống cảnh sát của mình và những lực lượng vũ trang đủ để trung lập hóa hoặc cản phá những phần tử ngỗ nghịch thuộc các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc mà ngay từ khi Pháp mới đặt chân tới đây đã không ngừng chiến đấu chống lại chính quyền Pháp. Những thủ lĩnh các đảng phái này, bị trấn áp dữ dội, đã tìm nơi ẩn náu tại các tỉnh Trung Quốc tiếp giáp với Bắc Kỳ. Từ đó họ tiến hành cẩn thận việc tuyên truyền cách mạng trên lãnh thổ Đông Dương. Trước kia những đảng phái này thường chống đối lẫn nhau, nhưng cuối cùng, những nhà cách mạng lão thành đã thành lập, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh một mặt trận gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh, sau một hội nghị hiệp thương kéo dài tại Liễu Châu, thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Sự hợp nhất các chính đảng cách mạng này chỉ thực hiện được với những khó khăn cực kỳ to lớn. Trên thực tế, mỗi nhà dân tộc chủ nghĩa đều giữ đặc tính riêng.


Bỏ mặc các thành viên những đảng phái thân và phục tùng chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc ở lại đất Trung Hoa của các quan thầy, những phần tử tích cực nhất trong hàng ngũ Việt Minh phần lớn là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương cũ, đã nhanh chóng thâm nhập vào Bắc Kỳ. Trước hết, họ kiểm soát được nhiều vùng ở Cao Bằng rồi chẳng bao lâu đã yên vị tại khu vực Thái Nguyên, xây dựng được những lãnh địa độc lập trong đó nổi bật lên nhanh chóng những cán bộ tương lai của Chính phủ Cách mạng Việt Minh.


Đến ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Nhật Bản bất ngờ lật đổ toàn bộ cơ đồ của Pháp ở Đông Dương, Việt Minh đã cắm chân vững chắc trong những vùng Cao Bằng và Thái Nguyên. Các lãnh tụ Việt Minh khôn khéo tuyên bố chống lại mọi kẻ thù chiếm đóng Việt Nam, đã dễ dàng trở thành những người "kháng chiến". Trên thực tế, các đội vũ trang Việt Minh đã mở những cuộc tiến công nhằm chiếm vũ khí, đạn dược, lương thực và qua những đợt vũ trang tuyên truyền đã gây được ấn tượng dễ dàng lan rộng đến tận vùng đồng bằng góp phần tuyên truyền cho huyền thoại Việt Minh.


Thái độ của các "chiến sĩ du kích" chẳng bao lâu đã thu hút sự chú ý của các cơ quan tình báo Đồng minh và nhất là các cơ quan tình báo Mỹ đang muốn thành lập các đội vũ trang người bản xứ chống lại quân đội chiếm đóng. Không cần quan tâm đẽn mục đích thật sự của Việt Minh, những người Mỹ vẫn chú ý tới họ và bắt đầu giúp đỡ họ. Cùng trong lúc đó, người Mỹ đã bỏ rơi các đơn vị chính quy của Pháp đang bị quân đội Nhật Bản đánh đuổi sau ngày đảo chính.


Lực lượng kháng chiến của Việt Minh bao gồm rất đông người. Mục đích mà họ tuyên bố là tiêu diệt lực lượng chiếm đóng, tức là Nhật Bản. Nhưng, cùng trong lúc đó, việc loại bỏ người Pháp và thủ tiêu những quyền lợi mà Pháp còn duy trì được vẫn là mối quan tâm nổi trội của các chiến sĩ du kích. Tinh thần của họ đã được tóm tắt rõ ràng trong tờ rơi mà Việt Minh rải rất nhiều ở Móng Cái, hồi tháng 3 năm 1945. Những tờ truyền đơn này có ghi: "Nhật và Pháp đều phải bị tiêu diệt. Nhưng Nhật Bản rồi sẽ bị Đồng minh đánh bại. Vi vậy, hiện nay phải đánh Pháp đang trong tình thế khó khăn"1 (Một lần nữa Sainteny lại tiếp tục xuyên tạc. Bởi vì, sau khi Nhật Bản đảo chính, ngày 12-3-1945 Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản ta đã ban hành chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", rút khẩu hiệu "đánh đuổi Nhật, Pháp", thay bằng khẩu hiệu tập trung đánh đuổi Nhật Bản là kẻ thù duy nhất đang chiếm đóng Việt Nam. Hơn nữa, từ cuối năm 1944, Đảng đã bắt liên lạc với lực lượng bí mật của De Gaulle ở Đông Dương, đề nghị cùng phối hợp chống Nhật nhưng chính cái gọi là "lực lượng kháng chiến" này của Pháp đã không dám thực hiện, để cuối cùng bị Nhật hoàn toán tiêu diệt - ND).


Những đội du kích này, khi được Mỹ "tiếp xúc" đã tuyên bố sẵn sàng góp phần vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản, vì vậy đã nhận được cảm tình và sự ủng hộ của OSS, tức Sở Tình báo chiến lược Mỹ. Sở này đã cho nhảy dù xuống chiến khu những sĩ quan liên lạc, huấn luyện viên quân sự Mỹ và thả dù vũ khí, thiết bị tiếp tế cho Việt Minh.


Một chiến công trong hành động chống Pháp của Việt Minh là tiêu diệt một đồn binh nhỏ yếu của Nhật ở Tam Đảo, sau khi đã bị Việt Minh vây hãm dài ngày.


Những sĩ quan Pháp sau đó nhảy dù xuống vùng Thượng du, như trung úy Montfort, chuẩn úy Duléry, ngày 16 tháng 7 năm 1945, xác nhận ấn tượng của người Mỹ đối với tinh thần "kháng chiến" của Việt Minh cùng với cảm tình của các chiến sĩ du kích người bản xứ. Những tình cảm này phải chăng nhằm để phục vụ cho những nhu cầu hoặc cho sự nghiệp của họ. Có lẽ cả hai. Chúng tôi cũng có những cuộc tiếp xúc với các thành phần Việt Minh đóng quân tại vùng Cao Bằng, nhờ phái đoàn "Picardie" do tiểu đoàn trưởng Revol đứng đầu. Phó của Revol là trung úy Tersac (đã bị mất tích hồi tháng 8 năm 1945) và trung úy Bougier đã đẩy sâu những cuộc hành trình do thám vào Quân khu 2 cũ của Pháp và đã được Việt Minh là người chủ tuyệt đối trong khu vực này, tiếp đón rất nhiệt tình và sẵn sàng giúp đỡ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 08:05:26 am »

Phải công nhận rằng, hoặc do chiến thuật chính trị hoặc do đánh giá đúng đắn về các thứ tự ưu tiên, những người lãnh đạo Việt Minh đã biết đưa những mục đích chính trị xuống hàng thứ hai, để lấy lòng Đồng minh và nhận được của Mỹ sự tin cậy và sự giúp đỡ vật chất.


Cũng ít cần phải tranh cãi về việc, lúc đầu Việt Minh tỏ ra dè dặt trong những khát vọng của họ rồi sau đó trước tình hình dồn dập diễn biến tạo nhiều thời cơ thuận lợi, họ mới thể hiện dần mục đích.

Thật vậy, tại xứ Bắc Kỳ chỉ bốn mươi tám giờ sau khi Nhật Bản tiến hành đảo chính, các lực lượng vũ trang của Pháp đã bị tiêu diệt, bị vô hiệu hóa hoặc bị đẩy ra khỏi vùng đồng bằng.

Chúng ta biết, các lực lượng này đã phải thực hiện rút quân trong những điều kiện như thế nào. Quân đội Pháp hoàn toàn trở thành bất lực, trên thực tế khi rút sang Trung Quốc đã bị nhốt trong doanh trại. Cho mãi tới ngày 25 tháng 2 năm 1946 khi ký Hiệp định Hoa - Pháp tại Trùng Khánh và ngày 6 tháng 3 năm 1946 khi ký Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp tại Hà Nội mới được phép trở về, gia nhập các đội quân của tướng Leclerc làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Quốc chiếm đóng. Những đơn vị này đã tới Đông Dương quá muộn để có thể tạo ra một sức nặng nào đó trong những diễn biến thiết yếu tiếp theo.


Từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật Bản trong tư thế làm chủ đã mưu toan triệt phá toàn bộ cấu trúc cai trị mà Pháp đã xây dựng từ năm 1862 trên lãnh thổ Đông Dương. Chỉ trong vài ngày, các quan chức dân sự người Pháp đểu bị bắt giam hoặc loại khỏi các chức vụ mà họ cố giữ, mong mỏi kéo dài cho tới khi Đông Dương được hoàn toàn giải phóng.


Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng đế An-nam tuyên bố độc lập cho đất nước mình và bằng một sự tuyên truyền khôn khéo đã gây cảm tưởng là cả xứ Bắc Kỳ lẫn Nam Kỳ đều đặt dưới sự cai quản trực tiếp của Nhà vua.

Cũng trong ngày hôm đó, Bảo Đại ban hành đạo dụ số một, mở đầu cho một loạt văn kiện tiẽp theo, tuyên bố bãi bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp. Chính phủ Phạm Quỳnh được thay bằng Chính phủ Trần Trọng Kim gồm những thành viên là những người của cả ba "Kỳ". Những người này đều được đào tạo bởi nền văn hóa Pháp, hai trong số họ là công dân mang Quốc tịch Pháp. Họ được đảm nhiệm công việc hành chính cai trị hoặc các chức vụ tự do. Phan Kế Toại được cử làm khâm sai đại diện cho Nhà vua tại Bắc Kỳ và lập tức thể hiện thái độ chống Pháp. Nhà nước An-nam đổi tên là Việt Nam, có Quốc kỳ, Quốc ca riêng. Tất cả những gì còn lại của chính quyền Pháp đều bị loại bỏ bằng hàng trăm đạo dụ. Tất cả những gì gợi đến sự có mặt của Pháp đều bị loại trừ. Các đường phố và đại lộ ở Hà Nội đều được đặt tên mới bằng tiếng Việt. Những đài tưởng niệm, trong đó có Đài tử sĩ tưởng nhớ sự hi sinh chung của các chiến sĩ người Pháp và người An-nam tử trận vì nước Pháp trong cuộc chiến tranh 1914 - 1918, tất cả những pho tượng ghi nhớ công lao của những nhà truyền giáo, bình định và thực dân Pháp đều bị lật đổ.


Từ trong bóng tối, Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản quan sát, theo dõi tình hình đang phát triển theo kế hoạch của Nhật Bản. Những người An-nam được Nhật Bản cổ vũ, đã nắm lấy cơ hội đặc biệt này để được độc lập. Đối với số đông các thành viên chính phủ nếu không nói là tất cả, họ không cần biết Việt Nam được độc lập là nhờ có Nhật Bản, vì Nhật Bản đang bị Đồng minh đánh bại đến nơi rồi. Họ đang dựa vào Mỹ để loại Nhật khỏi Đông Dương, như Nhật Bản đã vừa mới loại bở Pháp.


Sự thiếu vắng một phản ứng cùa Pháp đã dẫn những người An-nam đến việc có thái độ dứt khoát thù địch đối với Pháp. Báo chí, nhất định là được Nhật Bản dung túng và cổ vũ, tràn đầy những bài căm ghét, chống Pháp. Nhiều người Pháp bị ám sát, nhà cửa của họ bị tuần tự phá bởi những thanh niên theo chủ nghĩa dân tộc. Những việc khám xét bắt giữ không đếm xuể nữa, và những cuộc biểu tình chống những đồng bào của chúng tôi nối tiếp không ngừng.


Tuy nhiên, chẳng bao lâu nữa Chính phủ Trần Trọng Kim cũng bị gạt bỏ. Điểm duy nhất trong cương lĩnh của chính phủ này được hoàn thành có kết quả là sự truy lùng, hãm hại, và loại bỏ những người Pháp.

Trong các giới An-nam, những tình cảm bất bình bắt đầu xuất hiện trong số những công chức người Việt, là những người đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi sự tuyên truyền của Việt Minh. Những nhóm của chính đảng bí mật đã tạo được vầng hào quang là những người kháng chiến chống lại mọi kẻ thù chiếm đóng, tiến hành mưu đồ quét sạch những lực lượng chống đối lại các cơ sở thiết yếu, như cơ quan cảnh sát. Tiếp theo đó, vài bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim cũng theo Việt Minh. Ngày 7 tháng 8, Chính phủ Trần Trọng Kim, bị đẩy vào bước đường cùng tới mức phá sản, tuyên bố từ chức.


Ngày 15 tháng 8, đến lượt Nhật Bản đầu hàng. Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ rơi vào tình trạng vô chính phủ hoàn toàn. Những cố gắng "hàn gắn lại" đều bị thất bại. Những cuộc biểu tình gây ấn tượng lớn, như những cuộc biểu tình đòi bãi bỏ chính thức và vĩnh viễn chủ quyền Pháp ở Đông Dương, những bức thư Bảo Đại gửi nhân dân Pháp và tướng De Gaulle thật sự là những tôi hậu thư, được gửi đi tới tấp.


Ngày 20 tháng 8 năm 1945 Bảo Đại lại ra một tuyên bố mới, khẳng định nền độc lập của Việt Nam, lần này gửi tới Tổng thống Mỹ Truman, Quốc vương Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch và tướng De Gaulle. Thư gửi Pháp của Bảo Đại viết:

"Tôi gửi tới nhân dân nước Pháp, là đất nước thời niên thiếu của tôi. Tôi cũng gửi lời tới người đứng đầu và cũng là người giải phóng nước Pháp, mà tôi muốn nói chuyện với tư cách một người bạn, chứ không phải là một Nguyên thủ Quốc gia".

Các bạn đã quá đau khổ trong suốt bốn năm tang tóc để không hiểu rằng nhân dân An-nam đã có 20 thế kỷ lịch sử và một quá khứ vinh quang, không muốn, không thể chịu đựng bất cứ một sự đô hộ nào, bất cứ một sự cai trị ngoại bang nào nữa.

Các bạn có thể sẽ hiểu rõ hơn, nếu các bạn được nhìn thấy những gì đang diễn ra ở đây, nếu các bạn có thể cảm nhận thấy ý chí giành độc lập đang tràn ngập tất cả mọi con tim và không thể một sức mạnh nào của loài người có thể đè nén được. Dù cho các bạn có thể khôi phục lại nền cai trị của Pháp ở đây thì cũng không được tuân theo: mỗi làng xóm sẽ trở thành một ổ kháng chiến, mỗi người trước kia cộng tác với Pháp nay sẽ trở thành địch thủ của Pháp và các công chức của Pháp, các thực dân của Pháp sẽ phải xin ra khỏi bầu không khí không thể thở được này.

Tôi xin các bạn hiểu rằng, cách duy nhất để cứu vãn các lợi ích của Pháp và ảnh hưởng trí tuệ của nước Pháp ở Đông Dương là thẳng thắn công nhận nền độc lập của Việt Nam và từ bỏ mọi ý định khôi phục lại chủ quyền hoặc một nền cai trị của Pháp dưới bất cứ một hình thức nào.

Chúng ta có thể hiểu nhau dễ dàng và trở thành những người bạn của nhau, nếu các bạn ngừng ý định trở lại như những người chủ của chúng tôi.

Trong khi kêu gọi lý tưởng nổi tiếng của nhân dân Pháp và sự khôn ngoan cao cả của người đứng đầu nước Pháp, chúng tôi hi vọng nền hòa bình và niềm vui đang đến với tất cả nhân dân thế giới cũng sẽ được đảm bảo đối với tất cả mọi người dân, mọi sắc tộc và mọi người nước ngoài đang sinh sống tại Đông Dương.

Bảo Đại"
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 513



« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 08:07:27 am »

Chính giữa lúc đó, lợi dụng tình hình hỗn loạn đang tràn khắp, Việt Minh đã từ trong bóng tối nhảy ra đột ngột mở cuộc tiến công1 (Sainteny đã tỏ ra hoàn toàn không hiểu biết gì về lịch sử phong trào Việt Minh, từ khi thành lập năm 1941 đã tiến hành nhiều hình thức đấu tranh, cuối 1944 đã thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân... - ND).


Ngày 17 tháng 8 trong cuộc biểu tình do "ủy viên các viên chức" tổ chức tại Nhà hát lớn, một diễn giả đã bị gạt khỏi chỗ đứng, thay bằng một người của Việt Minh, đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện chính thức lá cờ đỏ có ngôi sao vàng (mà một số nhân chứng quả quyết nhìn thấy được mang tới từ Sở Cảnh sát Nhật Bản)2 (Bịa chuyện lá cờ đỏ sao vàng là sản phẩm của Nhật Bản, quả là Sainteny đã liều lĩnh một cách quá ngớ ngẩn - ND). Lá cờ này thay thế vĩnh viễn biểu tượng màu vàng của nhà vua một cách cực kỳ nhanh chóng.


Ngày 18 quan khâm sai đại thần ở Bắc Kỳ tự nguyện từ chức, nhường quyền cho Ủy ban điều hành chính trị.

Ngày 19, các "tổ xung kích" của Việt Minh chiếm lĩnh tất cả các công sở mà không cần phải tiến đánh khó khăn. Được sự thỏa thuận của Nhật Bản, các tiểu tổ này đã chiếm trại lính cảnh vệ Đông Dương. Các vũ khí trong kho trung ương được Nhật Bản phân phối thoải mái cho các đội xung kích Việt Minh. (Đây là những vũ khí mà Nhật Bản tịch thu của Pháp ngày 9 tháng 3 và những ngày tiếp theo)1 (Trên đây đều là những lời cố tinh bịa đặt và xuyên tạc như Saintenỵ vẫn thường viết trong sách - ND).


Từ trưa ngày 20 tháng 8, tất cả Bắc Kỳ đã nằm trong tay các "Ủy ban nhân dân cách mạng". Trong đêm 19 rạng ngày 20 tháng 8, đám đông bắt đầu một loạt cuộc biểu tình chống Pháp. Những tiếng hò hét, trút xuống những người Pháp ở Bắc Kỳ. Họ đã bị đánh đập, sỉ nhục ngay giữa đường phố, những người ở trong nhà cũng bị tiến công, những vụ lục soát không đếm xuể đã dẫn đến việc bắt giam hàng trăm người Pháp. Những âm mưu đầu độc bằng thảo dược cũng được tiến hành liên tiếp. Khoảng mười lăm người chết, nhiều người bị thương; đó là con số thống kê sau mấy ngày kinh hoàng đó. Lần này một cuộc tổng thảm sát đe dọa đồng bào chúng tôi và không hiểu nhờ một sự thần kỳ nào đó, họ đã thoát được2 (Trên đây đều là những lời cố tinh bịa đặt và xuyên tạc như Saintenỵ vẫn thường viết trong sách - ND).


Hoàng đế Bảo Đại khi biết tin này đã quyết định chơi "trò chơi dân chủ" nhường chính quyền cho Việt Minh. Nhưng Việt Minh không cần nghe theo. Họ đã làm chủ, đã nắm được chính quyền tuyệt đối nhờ sự khôn khéo và năng động của các lãnh tụ.


Ngày 21 tháng 8, Việt Minh buộc Bảo Đại phải thoái vị. Chiếu thoái vị ký ngày 25. Đức vua Bảo Đại, Hoàng đế An-nam trở thành Hoàng thân công dân Vĩnh Thụy, cố vấn tối cao của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 29 tháng 8, trong một tuyên bố gửi đi "toàn thế giới", Bảo Đại viết: "Từ nay, trẫm rất sung sướng được là công dân tự do của một nước độc lập".

Nhiều người An-nam mãi đến ngày 2 tháng 9, nhân lễ Độc lập mới được biết, ông chủ mới của nước Việt Nam không phải ai khác mà chính là nhân vật đấu tranh lão thành Nguyễn Ái Quốc, nay xuất hiện dưới cái tên Hồ Chí Minh, vừa mới tới Hà Nội...


Cuối tháng 9, những diễn biến tình hình đã đi tới bước ngoặt ngày càng đáng lo ngại. Tướng Allessandri là đại biểu quân sự ở Bắc Đông Dương, cố vấn chính trị Léon Pignon và cả tôi nữa đều cho rằng đô đốc d’Argenlieu vừa tới Chandernagor vài ngày trước, cần phải được một người nào đó am hiểu vấn đề dưới mọi khía cạnh tình hình thực tế mới nhất, thông báo cho biết về tình hình Bắc Kỳ.


Để Cao ủy nắm được tình hình bi kịch này, tôi quyết định ngày 25 tháng 9 lên đường, trước hết đến Côn Minh, là nơi tôi cần giải quyết nhiều vấn đề có liên quan đến việc giải tán Phái đoàn 5 hiện nay đã trở thành vô dụng. Ở đó tôi gặp đại tá Roos, trao đổi nhiều câu chuyện và ông cũng tán thành việc tôi đi Chandernagor gặp Cao ủy là cần thiết.


Ngày 1 tháng 10 tôi tới trình diện, đô đốc Thierry d'Argenlieu đang ở trong dinh Toàn quyền Pháp tại Chandernagor cùng với các cơ quan dự định sẽ cấu thành Phủ Cao ủy Pháp.

Đô đốc là một người tầm vóc trung bình, mảnh dẻ, đang hướng tất cả con người ông, tâm trí ông vào nhiệm vụ được trao mà nhất định ông thấy rõ tầm quan trọng, nhưng không thể và cũng chưa lường được hết qui mô và những khó khăn.

Đô đốc có một giọng nói rất trau chuốt, ông chú ý theo dõi những lời giải thích của tôi về tình hình xứ Bắc Kỳ trong giờ phút chúng tôi cùng nói chuyện với nhau. Lời nói của ông thể hiện ý muốn tìm hiểu và cả ý chí không gì lay chuyển nổi và không bao giờ rời bỏ ông, tức là duy trì sự có mặt và tầm vĩ đại của Pháp trong những lãnh thổ mà chính phủ vừa mới trao cho ông chịu trách nhiệm.


Đô đốc giữ tôi ở lại ăn cơm trưa cùng với ông. Sau đó, trong buổi nói chuyện kéo dài tới buổi chiều, ông ngỏ ý muốn biết những ý định cá nhân của riêng tôi. Tôi thưa với ông, tôi coi phái đoàn của tôi đã kết thúc nhiệm vụ. Là người đi tiền trạm chuẩn bị cho các đại diện của Pháp tới Bắc Đông Dương, tôi chỉ còn một việc trước khi các đại diện này đến, đó là giải tán Phái đoàn 5 rồi trở về Pháp, nơi tôi đã vắng mặt từ lâu. Tôi là một sĩ quan hậu bị, chiến tranh đã kết thúc, tôi muốn quay trở về tiếp tục giải quyết những công việc cá nhân bỏ dở dang từ năm 1939, càng nhanh càng tốt.


Nhưng Cao ủy không giải quyết vấn đề theo cách đó. Ông đề nghị tôi quay trở lại với công tác cũ. Tức là đi Hà Nội, đón đầu đoàn đại diện của ông, với tư cách là Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ thay nhà cai trị Mesmer đã bị Việt Minh bắt giữ. Tôi cám ơn đô đốc d’Argenlieu về sự tín nhiệm cao đối với tôi, nhưng nhắc lại ý kiến xin được trở về Pháp, vả lại, tôi tự xét thấy không đủ khả năng đảm đương những chức vụ nặng nề như đô đốc vừa dự định trao cho tôi. Đô đốc vẫn nài ép. Tôi xin ông hai mươi bốn giờ suy nghĩ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM