Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Sáu, 2024, 02:55:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ  (Đọc 6435 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #60 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2022, 02:44:16 pm »

LỜI NHÀ XUẤT BẢN AMIOT - DUMOXT


Phần tiếp theo, mọi người đều đã biết. Đó là cuộc chiến tranh Đông Dương vừa bắt đầu.

Chiếc xe ôtô bọc thép trang bị đại liên chở Thống đốc Sainteny đi gặp tướng Morlière ở trong thành đã vấp phải mìn khi đang trên đường phố Paul Bert. Một trận mưa lựu đạn lập tức rơi vào chiếc xe bốc cháy. Sức phá hoại của trái mìn cỡ lớn làm bật tung những gốc cây bên đường và làm hư hại mặt tiền của một cửa hiệu bán hàng trên lề phố.


Sainteny đã kịp chạy ra khỏi chiếc xe đang bắt đầu biến thành lò lửa. Những người bên trong như trưởng xe Garland, pháo thủ Dicquemare, phụ trách điện đài Cousincu và lái xe Le Roullier đều lần lượt chui ra khỏi chảo lửa hoặc bị thương nhẹ, hoặc bị thương nặng, mọi người lê lết trên hè, tìm cách tránh những mảnh lựu đạn và nhất là những viên đạn từ chiếc xe ôtô bốc cháy văng ra. Nhưng chính do đạn văng ra ngoài đã tạo thành một vùng bảo vệ tương đối an toàn, ngăn không cho những người tiến công tiến sát gần.


Sainteny và những người cùng đi chờ đợi suốt gần hai giờ, trong tay không có vũ khí gì ngoài khẩu súng ngắn ông mang trong người. Khắp người Sainteny lỗ chỗ mảnh đạn. Mảnh đạn lớn nhất ngập sâu trong lưng. Đùi bên phải cũng bị thương vì sức nổ. Garland nằm hấp hối, đầu tựa vào đầu gối Sainteny. Bản thân Sainteny cũng bị mất nhiều máu, chỉ có thể cử động bằng một cánh tay trái. Cuối cùng một đoàn xe ôtô bọc thép của Pháp đã tới giải thoát cho họ. Sainteny được cấp tốc đưa vào trạm xá trong thành rồi chuyển tới bệnh viện Lanessan và được mổ ngay trong đêm. Bác sĩ phát hiện, ông bị hơn hai mươi mảnh đạn.


Ngày 23 tháng 12, Sainteny được xe cứu thương đưa trở lại dinh Toàn quyền cũ là nơi ông đã bị toán lính của Lư Hán buộc phải chuyển đi nơi khác từ hồi tháng 9 năm 1945.

Vài hôm sau ông đã bình phục, tiếp tục trở lại công việc và đã có thể ngồi tiếp Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, tướng Leclerc và đô đốc d'Argenlieu tới Hà Nội nắm tình hình.

Những cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn trong thành phố, tới sát dinh Toàn quyền là điểm nằm trong tầm pháo của Việt Minh đặt tại ven Hồ Tây.

Đến tháng 1 năm 1947, Sainteny đã có thể đi kiểm tra tình hình Lạng Sơn trong Quân khu 1, rồi đến xứ Thái, lần đầu tiên được nối với Hà Nội bằng một cầu hàng không, sau đó đi Hồng Gai, Hải Phòng v.v...


Tháng 3 năm 1947, Sainteny được gọi về Pháp tham dự cuộc tranh cãi trong Quốc hội về vấn đề Đông Dương, với tư cách là Ủy viên Cộng hoà, trợ tá Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại.

Sau đó ông được nghỉ dài hạn, một sự nghỉ ngơi rất cần thiết vì những vết thương đã làm sức khoẻ của ông bị suy giảm nghiêm trọng.

Theo đề nghị của Thống đốc Sainteny, bắt đầu từ thời kỳ này ông được lánh xa sân khấu chính trị ở Đông Dương.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #61 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2022, 02:45:54 pm »

QUYỂN HAI
ĐỐI DIỆN VỚI HỒ CHÍ MINH


I
VĨNH BIỆT


Hà Nội, ngày 9 tháng 9 năm 1969, tám giờ sáng. Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc. Đám đông lặng lẽ và trang nghiêm chảy theo các đường phố, tỏa về các xóm làng, giống như dòng nước lũ lúc đó cũng đang rút, giải phóng vùng đồng bằng khỏi nước sông Hồng.


Ngay từ lúc mới rạng đông, đám đông đã đứng thẳng hàng trên quảng trường Ba Đình hoặc tụ tập tại các ngã ba, ngã tư đường phố, dưới loa phóng thanh, im lặng lắng nghe bài diễn văn tưởng niệm nhân vật được coi là bất tử. Ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam nghẹn ngào xúc động đọc bài điếu đã được tập thể soạn thảo kỹ lưỡng.


Liền sau đó, đội quân nhạc lễ phục màu trắng cử những bài cách mạng, trong đó có Quốc tế ca. Đến bài Lãnh tụ ca niềm xúc động của quần chúng nhân dân càng biểu lộ rõ. Đám đông, trước đó đã phá vỡ sự im lặng để cùng hưởng ứng những lời thề do Lê Duẩn nhân danh Ban chấp hành Trung ương Đảng hứa hẹn với người quá cố, nay òa lên khóc nức nở khi nghe bài ca ngợi lãnh tụ kính yêu kết thúc buổi lễ truy điệu.


Đây là buổi lễ có ấn tượng lớn, giống như các lễ tang tại các nước dân chủ nhân dân, những ngắn hơn rất nhiều vì trong bản di chúc để lại, Hồ Chí Minh đã đề nghị không nên lãng phí thời gian và tiền của của nhân dân.


Khi bản Lãnh tụ ca vừa mới cất lên, mọi người đã nhìn thấy ông Phạm Văn Đồng đứng trên lễ đài òa khóc. Tiếng khóc nức nở của mọi người hòa theo vị Thủ tướng đứng đầu cơ quan hành pháp. Ông Đồng vừa mất đi không chỉ một đồng chí đấu tranh, mà còn là một người thầy tư tưởng, một lãnh tụ, một người cha mà từ lâu nay ông vẫn coi là người dẫn đường và là chỗ dựa để thực thi gánh nặng của nhiều công tác.


Bên cạnh những đại diện các đảng cộng sàn các nước trên thế giới, còn có tới ba mươi đoàn đại biểu quốc tế tới dự lễ truy điệu dưới ánh nắng gay gắt buổi cuối hè. Tôi dẫn đầu đoàn đại biểu nước Pháp1 (Hồi đó, Sainteny là Tổng đại diện Cộng hòa Pháp tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - ND).


Từ hôm trước, khi đến lượt chúng tôi xếp hàng đi qua linh cữu bằng thủy tinh trong đó có đặt thi hài nhà cách mạng lão thành, chúng tôi đã gửi thêm một vòng hoa rất lớn, trong biển hoa xếp kín Hội trường Ba Đình, để bày tỏ lòng kính trọng của nước Pháp đối với đối thủ ngày xưa của mình, đồng thời cũng để thể hiện quyết tâm lãng quên quá khứ, hướng tới tương lai. Lễ nghi đơn giản nhưng cao cả của buổi tang được tất cả mọi người tôn trọng, tiếng nhạc trầm hùng nhịp bước chân của những đoàn đại biểu tới viếng làm mọi người xúc động. Đến lượt tôi, sau khi đã cúi đầu trước linh cữu, tôi vẫn hãy còn xúc động mãi cho tới khi bước lên chiếc xe ô tô của ông Bộ trưởng Tài chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa tôi về cơ quan Tổng đại diện của nước Pháp tại Hà Nội.


Chỉ đến khi xe đi qua phố Tràng Thi nhìn thấy một cây non, mảnh khảnh hơn những cây lâu năm khác trên đường phố, tôi mới bừng tỉnh, khi chợt nhớ lại quá khứ đẫm máu vụt xuất hiện. Tôi như được nhìn lại đường phố này vào lúc đèn điện vừa tắt, bóng tối trùm lên toàn thành phố năm trước. Tôi như được nhìn lại chiếc xe ô tô bọc thép có vũ trang đưa tôi vào trong thành phố Hà Nội là nơi tướng Morlière đang đợi. Tôi như cảm thấy, dưới chân mình, tiếng nổ mìn làm rung chuyển chiếc xe tôi vừa nhảy vọt ra. Chiếc xe bốc cháy, lỗ chỗ mảnh lựu đạn, rồi vỡ tan ở phía cuối đường phố. Quả mìn còn làm đổ cây, phá sập mặt tiền những cửa hàng cửa hiệu trong phố, hất tung tôi và những người cùng đi trên hè phố Tràng Thi, người đẫm máu và lửa.


Đó là cảnh tượng đã xảy ra từ hai mươi ba năm trước, tức là tối 19 tháng 12 năm 1946. Phố Tràng Thi lúc đó mang tên Borgnis Desbordes, và tiếng mìn nổ này không gì khác hơn là hiệu lệnh của một cuộc chiến tranh chống lại chúng tôi kéo dài suốt tám năm trời. Cho đến tận hôm nay chiến tranh vẫn chưa kết thúc ở miền Nam Việt Nam và cũng chưa đoán biết được kết cục sẽ ra sao.


Tôi lại nhớ đến nhân vật đang nằm xuống trong sự tôn kính của nhân dân mình và trong sự tín nhiệm, kính nể của nhiều người khác. Câu hỏi này hãy còn để ngỏ. Có thể, câu hỏi bỏ ngỏ này còn kéo dài như tất cả mọi vấn đề không thể nào trả lời được.


Vì vậy, đối với tất cả những câu trả lời, tôi không hề có ý định giải thích trong cuốn sách này. Họa lại chân dung một nhân vật lịch sử vẫn luôn, luôn là một vấn đề không khiêm tốn, thường hay suy diễn. Có thể, ý tưởng này được coi như một chuyện đánh cuộc khi viết về một con người, hoặc tự nguyện, hoặc bị lôi cuốn thời cuộc vẫn luôn sống trong bí ẩn; một người rất ghét bộc lộ những chuyện riêng tư, bởi vì toàn bộ cuộc sống của mình đều cống hiến cho sự nghiêp đấu tranh.


Nếu những sự kiện năm 1945 ở Đông Dương đã lôi cuốn tôi trở thành người đối thoại với Hồ Chí Minh cho tới khi kết thúc, nếu tôi được là một trong những nhân vật phương Tây được hiểu biết Hồ Chí Minh nhiều hơn cả, nếu ông cũng đã nhiều lần tỏ ra tin cậy đặc biệt đối với tôi, thì tất cả những điều đó vẫn chưa đủ để làm sáng tỏ tính cách của một con người, cho tới khi đạt tới đỉnh vinh quang vẫn tỏ ra đặc biệt bởi tính giản dị thường thấy trong cuộc sống và trong thái độ cư xử.


Sau khi Hồ Chí Minh từ trong bóng tối bước ra, xuất hiện trên vị trí mà chúng ta đã nhìn thấy suốt hai mươi bốn năm, tức là trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã có một số đồng chí kỳ cựu của ông viết một số tác phẩm về ông, nhưng đó cũng mới chỉ là những mẩu chuyện hướng về việc xây dựng đất nước, rất ít tính chất tiểu sử hoặc "truyện anh hùng", và ngay cả những mẩu chuyện này cũng đã làm rối mù việc tìm hiểu những đường mòn ông đã trải qua, làm mờ nhạt hình dáng và cũng đã phác họa thành huyền thoại.


Chỉ riêng Hồ Chí Minh là người duy nhất có thể kể lại cuộc đời hoạt động của mình. Hình như ông đã không làm việc này. Ông muốn để cho mình mãi mãi tỏa ánh hào quang của sự bí ẩn. Không phải bởi vì trong ông tuyệt đối không có chút nào tính khoe khoang của ngôi sao điện ảnh, không phải bởi vì ông không được cổ vũ về sùng bái cá nhân như các nhà lãnh đạo khác ở châu Á, mà chỉ vì ông là một người khiêm tốn giản dị. Nếu ông đã để cho những tiểu sử của ông được kể lại trên trang sách với những lời ca ngợi thì đó cũng chẳng phải ông thích đưa vào Lịch sử chân dung một con người ưa phỉnh nịnh, mà đó chỉ do ông muốn để lại cho nhân dân một tấm gương, như ông vẫn thường luôn luôn quan tàm đến việc nêu gương.


Tham vọng duy nhất của tôi là cố giới thiệu với bạn đọc những hình ảnh và những ấn tượng mà tôi còn giữ được trong lòng sau những lần được gặp và nói chuyện với Hồ Chí Minh.

Trong những trường hợp đó, lúc nào là lúc tôi đối mặt với một Hồ Chí Minh thật sự? Lúc nào là lúc nhân vật được tạo ra từ những nhu cầu thời cuộc này chen vào giữa hai bên đối thoại? Cho đến tận hôm nay, sau hai mươi bốn năm kể từ buổi đầu tiên gặp Hồ Chí Minh tôi vẫn không rõ, khó nói lên được.


Để được trung thực, tôi sẽ chỉ viết về một người tôi thật sự hiểu biết qua những cuộc đối thoại triền miên và có hiệu quả. Tôi chỉ muốn là một nhân chứng trong cuốn sách này.

Tôi để cho các nhà sử học công trình tái tạo cụ thể cuộc đời của Hồ Chí Minh, nghiên cứu hoạt động của ông, đánh giá ảnh hưởng của ông đối với châu Á và có lẽ cả ở vùng ngoài châu Á nữa. Một số nhà sử học đã có hạnh phúc ràng buộc mình vào nhiệm vụ này. Nhiều người nữa mai đây sẽ còn tiếp tục. Nếu những trang viết này có thể giúp được họ, thì đó là tôi đã đạt được mục đích của mình.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #62 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2022, 02:46:38 pm »

II
RA ĐI


Đó là năm 1911. Tàu Latouche Tréville thuộc công ty Các hãng vận tải hợp nhât nhổ neo, từ từ rời xa bến sông Sài Gòn.

Trước lúc đó, cha mẹ, họ hàng, bầu bạn, các nhà bảo trợ cho những người "đi Pháp" đã bước xuống cầu tàu đưa tiễn. Lúc này họ vẫn còn nán lại trên bến, trong đêm ấm và ẩm của xứ Nam Kỳ, cố gắng càng lâu càng tốt lưu giữ hình bóng những người, hoặc là nam, hoặc là nữ mà họ đã đi tiễn, đang phải trải qua bốn tuần dài vượt biển mới tới được Mẫu quốc.


Những nhân viên trên tàu được rảnh việc, phần lốn là những người An-nam, lúc này cũng đứng lẫn lộn với đám hành khách giơ tay vẫy chào những người đưa tiễn chúc mừng thượng lộ bình an.

Trong đám nhân viên này, có một thanh niên trẻ tuổi, người mảnh dẻ, cô đơn, đứng náu mình nhìn ngắm lại những bến cảng, những nhà kho của thành phố, rồi sau đó, trong đêm trời phủ đầy sao, tưởng nhớ tới đất nước hậu phương của mình.


Người thanh niên đó, cho tới năm 1911 vẫn có tên là Nguyễn Tất Thành, nhưng sau này còn có tên là Lý Thụy, Linov, Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc... Lịch sử biết đến ông bằng tên Hồ Chí Minh.

Sau khi sớm hiểu rằng sẽ vô ích nếu tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc ở ngay tại chỗ, ngay bên cạnh những viên quan cai trị và những nhà thực dân là những kẻ nhất định, hoặc vì nhiệm vụ, hoặc vì lợi ích phải chống lại, Nguyễn Tất Thành quyết định đi sang Pháp và châu Âu, trước tiên là để học tập, sau nữa là để tìm hiểu kẻ địch phải đương đầu, cuối cùng là để tạo được sự ủng hộ từ một số người Pháp, hoặc nếu có thể, ở cả một số cường quốc Đồng minh hoặc không phải Đồng minh của Pháp đang lo ngại hoặc ghen tị với đế quốc Pháp.


Cậu thanh niên con quan đó, ba mươi nhăm năm sau nói với tôi: "Ông đừng phí thời giờ giải thích với tôi là thời kỳ đó chúng tôi sống sung sướng về vật chất hơn bây giờ. Bởi vì chúng tôi còn muốn, như ở Pháp thường nói: "Thắt lưng buộc bụng để giành tự do". Là những người đã tham gia chiến đấu chống sự áp bức của phát xít Đức, ông phải hiểu rõ điều đó".


Người tri thức con trai nhà Nho đó ngay lập tức đã chọn cuộc sống khổ hạnh và ngay từ chuyến đi đầu tiên đã quyết tâm chấp nhận làm đủ mọi nghề, mọi công việc, vất vả đến mấy cũng được.

Vài tháng trước khi đi Pháp hoạt động vì độc lập của đất nước, một người bạn đã hỏi Hồ Chí Minh: "Lấy đâu ra tiền để hoạt động?". Ông đã xoè bàn tay mảnh dẻ của người trí thức ra và nói: "Tiền ở đây!".


Từ Sài Gòn đến Havre, người "sinh viên" này đã làm phụ bếp trên tàu Latouche Tréville mở đầu cho một loạt ngành nghề hoặc ít hoặc nhiều hèn mọn và thường thường là nghề ngán ngẩm, để kiếm sống và để hoạt động khi thời cơ đến.

Hoạt động của ông kéo dài suốt năm mươi năm xuyên qua châu Âu và châu Á, ở bất cứ đâu cũng chỉ nhằm một mục đích, đó là: Độc lập của Việt Nam.

Thế nhưng, Việt Nam là gì?
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #63 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2022, 02:47:57 pm »

III
TỔ QUỐC


Phải trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài chống lại hai cường quốc phương Tây, thế giới mới khám phá hết giá trị của dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn hai mươi thế kỷ; một dân tộc tự hào về quá "khứ của mình, tự hào về những truyền thống và đặc điểm của mình; một dân tộc có tất cả khả năng để bảo vệ những truyền thống và đặc điểm đó. (Trong điếu văn đọc tại buổi lễ truy điệu Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất của Đảng, đã tuyên bố, không phải hai nghìn năm mà là "bốn nghìn năm lịch sử". Lời tuyên bố này phù hợp với lập luận của nhiều nhà nghiên cứu, căn cứ vào những di tích mới khai quật, đồng ý cho rằng Việt Nam có một cội nguồn lịch sử rất xa xưa như vậy).


Những người ngạc nhiên về cuộc kháng chiến phi thường từ đất nước nhỏ bé này, trước hết là Pháp, rồi nay là Mỹ, hẳn không hiểu rằng, vẫn chính nước Việt Nam này từ thế kỷ 13, đã kháng chiến thắng lợi chống lại đế quốc vô địch Nguyên Mông giữa lúc Mông Cổ đang bành trướng ở châu Á.


Cũng cần phải nêu lên vài nét về địa lý, bởi vì hiếm có dân tộc nào như Việt Nam lại bị nhiều ảnh hưởng cũng như nhiều hậu quả, xuất phát từ vị trí địa thế của mình trên trái đất.

Trải dài và nằm trên bờ Thái Bình Dương, nơi hai con sông lớn của châu Á đổ ra biển, nơi hội tụ và phân chia hai luồng khí hậu cũng như hai luồng văn hóa Hoa, Ấn, Việt Nam đã định hình sâu sắc về dân tộc, lịch sử, văn hóa và chính trị.


Từ thời kỳ tiền sử, chủng tộc Việt Nam đã sinh ra từ những sự hòa hợp các dòng Mông Cổ, Melanexia, Inđonexia1 (Nguyên văn: Mongolique mélanésien, indonésien - ND), và từ thế kỷ 3 trước Công nguyên đã có thực thể sắc tộc của mình.


Mới đầu định cư ở miền Bắc bán đảo, trong vùng châu thổ sông Hồng mà chúng ta gọi là Bắc Kỳ, dân tộc Việt Nam nhanh chóng mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, dọc theo cùng bờ biển hẹp chạy dài giữa Biển Đông và dãy Trường Sơn. Đến lúc này thì Việt Nam đã từng đương đầu với những đặc tính và những sự lệ thuộc vào vị trí địa lý.


Nằm ở Biển Đông được coi như một "Địa trung hải" châu Á bao bọc ở phía Nam là Inđônêxia, phía Tây là Malaixia, phía Đông là Philippin còn phía Bắc lại bị chế ngự bởi một đường biên giới chung với Trung Quốc, cảnh láng giềng này ảnh hưởng nhiều nhất tới vận mệnh của Việt Nam.


Nếu Việt Nam, nhờ mở rộng lãnh thổ, sớm trở thành một cường quốc rạng rỡ thì ngược lại cũng đã bị tổn thương, bị tiến công chính vì lãnh thổ mở rộng, vì chiều dài ven biển, và vì các đường biên giới dễ thâm nhập. Như nhà sử học Philippe Devillers đã viết, Việt Nam buộc phải "tồn tại một cách nguy hiểm".


Những đặc tính dân tộc là yếu tố giúp Việt Nam đấu tranh gần như thường trực bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Đấu tranh trên hai mặt trận, bởi vì cùng một lúc phải đấu tranh chống lại sự tiến công và xâm lược của các nước láng giềng, Việt Nam cũng phải tiến hành, ở bên trong các đường biên giới của mình những hoạt động quân sự chống lại các thế lực chống đối ở trong nước.


Chính vì vậy cho nên, đến thế kỷ 15 sau khi Việt Nam mở rộng lãnh thổ tới vương quõc Champa thì do suy yếu sau khi đạt được thắng lợi này lại rơi vào sự đô hộ của Trung Quốc đã từng kéo dài suốt chín trăm năm, mãi tới thế kỷ 10 mới giải phóng được. Đến lúc này, Việt Nam cũng, đã cố vứt bỏ ách đô hộ đó, nhưng chỉ được vài giai đoạn ngắn và không bao giờ được hoàn toàn (các nhà sử học nhận xét, Việt Nam đã bốn thời kỳ bị đặt dưới sự đô hộ của Trung Quốc từ 1110 trước Công nguyên đến năm 43 sau Công nguyên; từ năm 44 đến năm 543; từ năm 603 đến năm 938; từ năm 1407 đến năm 1427).


Cũng cần nhắc lại một sự kiện quan trọng là từ năm 1884 đến 1885 nước Pháp đã buộc được Trung Quốc phải công nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Khác với trường hợp Pháp chinh phục Nam Kỳ ở tận cực nam bán đảo Đông Dương và cả trường hợp Pháp đặt sự giám hộ lên Trung Kỳ, đến khi Pháp tiến về hướng Bắc Kỳ thì lập tức vấp phải phản ứng cực kỳ quyết liệt của vương triều Thiên tử. Một văn bản của triều đại Trung Hoa năm 1882 viết về Bắc Kỳ như sau: "Đây là lớp hàng rào che chắn cho Vương quốc Trung Hoa, bảo vệ cho các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, miền Nam Trung Quốc... Dù xứ này nằm ngoài đường biên cương, chúng ta vẫn không thể bỏ rơi".


Lịch sử ở đâu cũng luôn luôn lặp lại, nhưng đặc biệt ở Việt Nam mỗi sự kiện hiện đại đều trùng hợp với một hoặc nhiều sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.

Nếu, năm 949 Việt Nam tự giải phóng được sau mười thế kỷ bị Trung Quốc đô hộ, đó là vì hồi đó triều đình Trung Quốc đã suy yếu; bị chia rẽ, làm mồi cho tình trạng vô chính phủ sau khi nhà Đường sụp đổ. Nếu năm 1944, những người Việt Nam mưu toan tự giải phóng khỏi sự bảo hộ của Pháp, là bởi vì họ biết nước Pháp đã suy yếu, tổn thương, và bị mất một số vùng lãnh thổ hải ngoại do những sự tàn phá về vật chất và tinh thần sau Chiến tranh thế giới thứ hai1 (Sainteny cố tình quên, ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) nước Pháp trở nên hùng mạnh vì thắng Đức, nhân dân Việt Nam đã nổi lên chống ách thuộc địa thực dân của Pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập từ năm 1930 đã ra đời từ những cuộc đấu tranh này, chứ không phải đến năm 1944 mới nổi dậy - ND).


Nếu, năm 1884 nước Pháp của Jules Ferry bị chấn động bởi sự kiện Lạng Sơn đó là vì hồi đó quân đội triều đình Mãn Thanh viện cớ không được biết gì về bản thỏa hiệp Pháp - Hoa vừa ký kết tại Thiên Tân đã từ đồn Bắc Lai nổ súng bắn vào đoàn quân Pháp tiến vào Lạng Sớn. Suy cho cùng, nếu ngày 6 tháng 3 năm 1946 hạm đội Pháp chở tướng Leclerc và sư đoàn xe bọc thép của ông dự định đổ bộ lên Bắc Kỳ, đã bị quân Lư Hán đóng tại Hải Phòng nổ súng bắn, cũng là do đám quân này viện cớ không được thông báo gì về Hiệp định Pháp - Hoa đã ký kết tại Trùng Khánh ngày 28 tháng 2 trước đó.


Sự thật đã chứng minh, cũng như trước kia, chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc đều muốn bằng mọi cách chống lại sự chinh phục hoặc tái chinh phục của Pháp đối với xứ Bắc Kỳ được coi là hàng rào bảo vệ cho các tỉnh Hoa Nam (cũng không nên quên hồi đó Tưởng Giới Thạch còn được người Mỹ hứa hẹn là sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, miền Bắc Việt Nam sẽ trở lại vị trí là "khu vực ảnh hưởng" của Trung Quốc).


Cũng phải kể đến sự thù địch giữa chúa Trịnh ở miền Bắc và chúa Nguyễn ở miền Nam Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, một cuộc chiến tranh anh em nhưng bên này lại gọi bên kia là "ngoại bang". Đây là một cuộc chiến tranh rất ác liệt. Để có thể chiến thắng được năm nghìn quân và năm trăm con voi của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đã phải kêu gọi các cường quốc phương Tây giúp đỡ, mới đầu là Bồ Đào Nha, sau đó là Pháp.


Nhờ có toàn bộ uy quyền và tất cả sự khôn khéo Nguyễn Ánh mới trở thành hoàng đế Gia Long (đã được một nhà truyền đạo người Pháp là Pigneau de Béhaine, tức linh mục d'Adran hết sức giúp đỡ) chấm dứt những cuộc xung đột giữa những người dân tộc chủ nghĩa đột phát.


Những người Việt Nam có quyền tự hào về lịch sử chinh chiến vẻ vang của mình, nhưng họ cũng có thể bốc hơi men thành một niềm kiêu hãnh nguy hiểm nếu không được sự tinh khôn của các nhà lãnh đạo làm cho trở nên ôn hòa.


May mắn thay, sự tinh khôn sáng suốt này là kết quả gặt hái được từ ruộng đất và không thiếu trong những người đã được hưởng lợi từ nông nghiệp. Lúc cần thiết thì tiến hành chinh chiến, nhưng trong lịch sử người Việt Nam cũng đã từng biết bỏ lưỡi kiếm để nắm lưỡi cày, cho binh lính về quê làm ruộng, cai trị đất nước sau những chiẽn thắng bằng tài tổ chức từng được những nhà lữ hành phương Tây lần đầu tiên tới đây ca ngợi. Những gì đã xảy ra trong quá khứ là những hi vọng cho tương lai.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 08:59:59 am »

IV
NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẤU ĐẦU TIÊN


Nếu việc hiểu biết lịch sử và địa lý Việt Nam là cần thiết đê tìm hiểu đặc tính con người Việt Nam nói chung, thì cũng có thể nói mà không sợ rơi vào chủ nghĩa áp đặt có hệ thống, là nhân cách Hồ Chí Minh không thể nào rọi sáng được nếu trước hết không tìm hiểu mảnh đất và gia đình đã sinh ra ông.


Nguồn gốc của ông được hình thành từ Nghệ An là nơi những phẩm chất của chủng tộc Việt Nam được thể hiện rõ nét nhất.

Đây là mảnh đất bị thiên nhiên bạc đãi, đất đai nghèo nàn, khí hậu khắc nghiệt như tất cả miền Bắc Trung Kỳ, đòi hỏi những con người ở đây phải có một sức dẻo dai đặc biệt. "Sông xanh núi biẽc", đó là lời của những bài ca. Đúng vậy, Nghệ An có nhiều rừng lại ít ruộng đất canh tác. Mùa hè, gió nóng làm khô đất, cháy cây. Mùa thu mưa lũ và bão táp thường rất mạnh, làm sông đổi dòng. Chính vì vậy, ở Nghệ An đã hình thành nên những con người cần lao, hiếu học, sống thanh đạm, có đầu óc lãng mạn, nên thơ, có vẻ ít cởi mở, ít lôi cuốn hơn những cư dân Trung Kỳ và Nam Kỳ, nhưng lại được ca ngợi vì tính bướng bỉnh, khéo léo, dễ thích nghi và trung thành với các truyền, thống dân tộc. Đây là lớp người được tôi luyện từ hai nghìn năm qua những cuộc chiến đấu giành đất, giữ đất bảo vệ mảnh đất cằn cỗi này.


Tất cả những phẩm chất của dân tộc Việt Nam, và cũng là phẩm chất của Hồ Chí Minh, đã được chứng minh suốt cuộc đời cho tới khi kết thúc, bằng một nghị lực và một sự năng nổ rất đặc biệt, không thể tưởng tượng nổi, tập trung trong con người hình dáng mảnh dẻ, đã từng làm nảy sinn nhiều tin đồn là đã qua đời vì kiệt sức hoặc vì bệnh tật, toàn là những tin đồn bịa đặt nhưng cũng dễ tin.


Vị Chủ tịch tương lai của nước Việt Nam Dãn chủ Cộng hòa ra đời năm 1890 tại làng Chùa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An với tên khai sinh là Cung. Ông là người con thứ hai trong gia đình có ba người con (hai trai, một gái) mồ côi mẹ năm mười tuổi. Cha ông là Nguyễn Sinh sắc, một nhân vật đặc biệt từ một trẻ chăn trâu tự học để trở thành quan huyện sau khi đậu kỳ thi Tiến sĩ nho học, xếp hạng nhì, danh hiệu Phó bảng. Sau khi dạy học ít lâu, cụ đảm nhiệm, nhiều chức vụ cai trị tại Huế, hồi đó là kinh đô vương quốc An-nam rồi làm quan huyện tại Bình Định. Bị cách chức vào khoảng năm 1915, cụ dậy học chữ Hán và xem mạch bốc thuốc tìm kế sinh nhai. Cụ cư trú lâu năm tại Sài Gòn, mở hiệu thuốc Bắc tại phố Lagrandière, cụ còn đi bộ vượt bốn trăm kilômét thăm khu đền Angkor. Hồi đó, cụ đã được mọi người gọi là "Bác" như sau này con trai cụ cũng được gọi như vậy.


Lý do cụ Nguyễn Sinh sắc bị cách chức, người thì nói là do phạm lỗi trong công tác, người lại nói do thái độ chống Pháp. Có điều thực tế là cụ không chịu nói tiếng Pháp (mãi tới năm mươi tuổi cụ mới bắt đầu học tiếng này) và có những cuộc giao du làm cảnh sát để ý. Cụ có quan hệ với nhà cách mạng Phan Chu Trinh đã từng bị kết án tử hình và chỉ nhờ có sự can thiệp của Tổ chức nhân quyền mới thoát tội chết. Cụ cũng có quan hệ với Phan Bội Châu, là một người chống lại sự "đỡ đầu" của Pháp và là nhân vật có uy tín lớn trong các lực lượng chống đối.


Nhất định những mối quan hệ của cụ và việc cụ bị cách chức đã có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh chú bé Nguyễn Sinh Cung. Cũng như ông anh và bà chị, chú bé Cung còn chịu ảnh hưởng của một nhân vật dân tộc chủ nghĩa nữa, đó là ông trẻ của Cung, từng là bạn chiến đấu của Hoàng Hoa Thám, tức Đề Thám, nổi tiếng là một đối thủ ghê gớm của chính quyền Pháp đã từng chỉ huy chiến đấu du kích chống lại quân đội Pháp nhiều năm, cho tới khi bị ám sát vào năm 1913.


Cũng không nên quên những năm tháng ở Huế của cậu bé Cung. Gian phòng tối tăm nhỏ bé mà cậu sống chung cùng với gia đình ở ngay trước mặt tòa Cơ mật, sự tương phản giữa cảnh nghèo của gia đình, của đất nước với sự xa hoa lãng phí của triều đình đã gây ấn tượng sâu sắc trong đầu óc cậu. Cậu Cung hồi đó mặc áo nông dân, đầu cạo tóc để hai trái đào theo kiểu trẻ em ở Nghệ An thường vẫn bị các bạn là con các quan lại triều đình, được ăn mặc sang trọng, chế giễu.


"Lập thân bằng cách đi học làm quan, quả không gì đáng khinh hơn"1 (Chữ Hán: "Lập thân tối hạ thị văn chương" - ND). Cậu Cung coi câu thơ cổ này như một châm ngôn xử thế và có lần đã đọc cho Phan Bội Châu nghe. Cậu càng không là một trong bọn quan lại thân Pháp mà ông thân sinh ra cậu đã nhấn mạnh, đó là hạng "nô lệ nhất trong đám nô lệ". Như truyền thống của quê hương, cậu sẽ là một trí thức theo chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì, tỉnh Nghệ An mà hồi đó gọi là "đất phiến loạn" đã sản sinh ra những nhà văn, nhà thơ, nhà yêu nước hoạt động cải cách và lật đổ, không ngừng cung cấp cho dân tộc Việt Nam những người con ưu tú.


Đối đầu với Pháp, chính tại miền Bắc Trung Kỳ này năm 1885, tức năm đầu tiên thiết lập chế độ bảo hộ, đã bùng nổ cuộc biểu tình đầu tiên chống thực dân trên quy mô đáng kể, một cuộc nổi dậy của các quan lại, được gọi là "cuộc nổi dậy của những văn thân".


Cần phải có một bản danh sách rất dài mới kể hết những người quê ở tỉnh Nghệ An đã nổi lên chống Pháp, hẳn là cũng dài bằng những ngươi đã nổi lên chống ách đô hộ của Trung Quốc trong vòng hai mươi thẽ kỷ trước.


Trong tất cả chuỗi họ tên ghi trong bản danh sách này, nếu lịch sử muốn giữ lại một danh tính, thì có thể nói ngay đó là Hồ Chí Minh, tức là chú bé Cung ra đời trong một ngày tháng 5 năm 1890 tại làng Chùa.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:01:18 am »

Có một nhà viết sử Việt Nam đã hình dung, nếu muốn viết tiểu sử Hồ Chí Minh thì cần phải kêu gọi những nhân chứng đã từng gặp ông ở nhiều nước. Những mẩu chuyện kể này đã giới thiệu với chúng ta vị Chủ tịch tương lai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đang còn bôn ba ngoài nước, vẫn đã từng luôn luôn muốn nói về đạo đức, muốn nêu gương cho người đối thoại bằng những ngụ ngôn hoặc những châm ngôn, ông đã từng nói: "Hãy dùng tiền để đi du lịch và học hỏi, hơn là để đi nghỉ mát trên bãi biển với các cô gái". Đó là lời tâm huyết của ông.


Trần Ngọc Danh trong suốt cuốn sách nhan đề: "Câu chuyện về Hồ Chí Minh'' xuất bản năm 1949 đã khẳng định phẩm chất đạo đức, khổ hạnh nhưng cũng rất nhân hậu của nhân vật sau đó được gọi là "Bác Hồ kính yêu".


Tác giả cũng nhấn mạnh đến tác phong gương mẫu trong lối sống của Hồ Chí Minh. Ví dụ như, thời kỳ còn hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) là nơi có khoảng hai mươi ngàn đồng bào ông đang sống ở đó, ông đã có lần đóng vai nhà tu hành, duy trì một cuộc sống khổ hạnh như sư sãi. Cũng có thể, đây không phải ông dùng hình thức này chỉ nhằm tránh bị mật thám theo dõi nên ông đã thích khoác bộ áo cà sa màu vàng của các sư tăng. Với chiếc áo này ông đã đi từ cụm dân cư này đến cụm dân cư khác, cổ vũ những người anh em của ông học tập, trồng trọt, nói gọn lại là trang bị tri thức cho họ. Ông đã nêu gương bằng cách đặt ra một thời gian biểu mà chính ông đã theo một cách rất kỷ luật, rất chính xác, không chút vi phạm (tạo thành những thói quen mà ông giữ mãi). Ông đã kết hợp nhịp nhàng những công việc lao động chân tay vất vả nhất với lao động trí óc: học tiếng địa phương, kết hợp những giờ nói chuyện với những buổi lên lớp chính trị. Hồ Chí Minh còn tổ chức cả những buổi biểu diễn sân khấu trong đó ông cũng giữ một vai diễn viên. Ông còn soạn cả những bài ca. Nhiều lần, cùng đi với một vài người phục vụ trong những cuộc hành trình rong ruổi trên đất nước ông đã đọc những lời thơ trong "Truyện Kiều" do một nhà thơ cổ, cũng là dân Nghệ An sáng tác từ trước, rồi bảo mọi người đọc theo, hoặc đọc những câu hò vè dân gian để mọi người quên mệt trong những chuyến đi bộ chỉ ăn theo kiểu các nhà sư, nghĩa là rất đạm bạc.


Hồi mở đầu chuyến đi xa trên tàu Latouche Tréville, Hồ Chí Minh lấy tên là Ba. Hồi đó, anh Ba đã lần lượt trải qua nhiều tâm trạng: bực mình trước tư cách của nhiều hành khách nữ trên tàu; xúc động trước thái độ nhã nhặn của hai thanh niên Pháp đối với anh; ngạc nhiên khi tàu cập bến cảng Marseille, anh thấy có những phụ nữ Pháp nghèo đói phải vét những hạt gạo hoặc hạt ngô từ trong những chiếc bao thủng rơi xuống đất; sửng sốt một cách thích thú khi nghe thấy người chủ tiệm cà phê trên bến cảng gọi là: "Thưa ông!", nhưng lại rất phiền lòng khi thấy các bạn anh "tán tỉnh" các cô phục vụ hoặc ham mê đánh bạc.


Tại Havre, và nhất là tại Sainte Adresse, Ba được làm việc với những ông chủ tốt, anh có thời giờ rảnh rang để đọc bất cứ quyển sách gì có trong tay, đồng thời để hoàn chỉnh môn tiếng Pháp, hoặc trồng cây hoa trong vườn. Theo lời kể lại, hồi đó anh là một người trẻ tuổi, rất gầy, ăn mặc xoàng xĩnh, rất nhã nhặn, lễ phép.


Trong chuyến đi sau, từ phụ bếp Ba đã trở thành đầu bếp trên con tàu vận tải đi dọc theo những vùng biển châu Phi. Mỗi dịp con tàu cập bến cảng các nước thuộc địa, Ba lại nhìn thấy "những người Pháp tồi tệ" bóc lột trắng trợn những người dân bản xứ nghèo đói. Anh nói với phụ bếp, cùng là người An-nam: "Trên đất Pháp, có những người Pháp rất tốt, nhưng tại thuộc địa, người Pháp lại rất độc ác, vô nhân đạo. Những bọn thực dân này không đếm xỉa gì đến tính mạng người da vàng hoặc da đen".


Khi lên bờ, Ba bất bình trước việc có những nhân viên trong đám người phục vụ trên tàu, uống rượu lấy cắp từ trong kho chứa của tàu tới mức say mèm. Anh luôn luôn "khác đời", không giống như nhiều người khác, anh từ chối tham gia những cuộc nhậu nhẹt do ăn cắp mà anh rất kinh tởm. Ngược lại, anh thường thức dậy trước lúc rạng đông để tận hưởng ánh bình minh và cho tới khi trăng đã soi sáng đại dương vẫn chưa đi ngủ.


Tóm lại, đó là cuộc sống gương mẫu mà tất cả mọi người Việt Nam đều biết, ca ngợi và nên noi theo.

Có rất ít chi tiết về những ngày con tàu cập bến Mỹ và những ngày Ba tới các thành phố Boston, New York. Nhưng mọi người được biết khi tới thủ đô Anh Luân Đôn, anh Ba đã làm nghề xúc tuyết, đốt lò, và còn làm việc ở khách sạn Carlton trong đội ngũ của Escoffier, người được coi là một đầu bếp lớn, nổi tiếng nhất hồi đó. Trong khi học tiếng Anh, Ba còn được bếp trưởng tín nhiệm truyền cho nghề làm bánh ngọt. Có lẽ lúc đó, ông Escoffier sẽ lấy làm phiền lòng nếu khám phố ra là người học trò này của ông đang mưu toan dành cả tương lai tốt đẹp của mình vào những ước mơ hoạt động chính trị!


Năm 1917, Ba quay trở lại nước Pháp.

Về thời gian Ba sống ở Paris và lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, tức "Người yêu nước" chúng ta có nhiều tư liệu hơn. Nguyễn vẫn sống nghèo nàn như cũ, vẫn làm đủ mọi nghề kể cả vẽ hoa văn trang trí cho "những đồ cổ châu Á", cuối cùng là nghề sửa ảnh.


Nhưng căn hộ mà ông đến ở từ ngõ Compaint đến Batignolles và nhiều xóm nghèo khác trong thủ đô, đều là những gian phòng tồi tàn. Nhưng ông không quan tâm đến chuyện đó! Điều ông muốn, đó là học tập. Ông tham gia các câu lạc bộ bình dân, xin gia nhập các tổ chức nghệ thuật, khoa học, du lịch để được đi tham quan các viện bảo tàng, xí nghiệp, nhà hát và được đi du lịch tới tận nước Italy dưới thời phát xít Mussolini, hoặc tới tận Thụy Sĩ là nơi ông có ấn tượng về chế độ dân chủ, sự khoan dung độ lượng và vẻ sạch sẽ đối lập với Italy. Nhưng đến đâu ông cũng đọc sách: đọc chăm chỉ, đọc say sưa, đọc bền bỉ bằng cách năng đi vào thư viện và để dành tiền mua sách, nhất là những sách chính trị.


Sau này, chính Hồ Chí Minh đã kể lại trên báo Echo du Vietnam xuất bản năm 1960, nhân dịp ông bẩy mươi tuổi:

"Một người bạn đưa cho tôi đọc bản Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp.

Trong bản Luận cương này có những từ ngữ chính trị khó hiểu đối với tôi. Tuy nhiên, sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi đã nắm được vấn đề chủ yếu. Những luận cương của Lênin đem đến cho tôi một niềm phấn khởi lớn, một niềm tin lớn, giúp tôi sáng tỏ vấn đề. Niềm xúc động của tôi lớn đến mức tôi ứa nước mắt. Ngồi trong phòng kín mà tôi tưởng như đang đứng trước đám đông. Tôi nói to: "Hỡi đồng bào đang bị đọa đầy, đau khổ. Đây là con đường giải phóng cho chúng ta!"


Đó là "Sự phát hiện" đối với Nguyễn Ái Quốc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:03:00 am »

Cũng trong thời kỳ đó, có một nhân viên thư viện trường Đại học Bắc Kinh cũng tìm thấy "con đường" của mình. Đó là Mao Trạch Đông, hồi đó mới hai mươi bốn tuổi.

Là một người thực tiễn, cải cách, Mao Trạch Đông lúc đó cũng đang đau khổ vì chủ nghĩa yêu nước như chàng trai Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh, cả hai người cùng đau khổ trước việc đất nước mình bị các cường quốc phương Tây áp bức. Người phụ trách thư viện trường Đại học Bắc Kinh hồi đó là Lý Đại Chiêu đã đưa Mao Trạch Đông đọc các tác phẩm của Marx, Lênin và Cách mạng Nga giúp Mao khám phá những điều mới lạ. Mao nhận thức rằng chủ nghĩa tư bản Trung Quốc phục vụ các lợi ích của các nước ngoài là kẻ phải chịu trách nhiệm to lớn về sự suy tàn và nô lệ hóa của đất nước mình. Chính từ niềm, tin đó Mao đã có lý do thiết yếu cho chủ nghĩa bài ngoại của mình.


Mãi sau này Hồ Chí Minh mới quen biết Mao Trạch Đông, nhưng đã từng có một sự chuyển hướng khác với Mao Trạch Đông.

Sau năm 1917, Hồ Chí Minh trở thành một người cộng sản như Mao và cùng xuất phát từ những lý do như Mao. Nhưng, như mọi người đều rõ, và thái độ của Hồ Chí Minh cũng đã chứng minh: chủ nghĩa cộng sản đối với ông, trước hết là giành độc lập cho đất nước mình.


Trong suốt cuộc đời tôi, đã nhiều lần tôi được nhiều người hỏi: "Ông là người quen biết rõ Hồ Chí Minh. Vậy thì Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa". Tôi đã trả lời rất đơn giản: "Hồ Chí Minh là cả hai. Đối với ông, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, mục đích và cứu cánh, đều bổ sung cho nhau, hoặc hòa nhập vào nhau".


Năm 1918, vào dịp họp Hội nghị Hòa bình ỏ Paris, cũng là lúc Nguyễn Ái Quốc bắt đầu đi vào con đường chính trị. Cùng với hai đồng bào của mình, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Tổng thống Pháp Clemenceau, Thủ tướng Anh Lloyd George và Tổng thống Mỹ Wilson một "Tập yêu sách của nhân dân An-nam", gồm tám điều, vạch trần sự bóc lột thuộc địa và đòi một nền độc lập dưới hình thức nào đó cho Việt Nam. Tác giả cũng muốn gặp Tổng thống Mỹ Wilson nhưng không được. Hồi đó chưa phải là thời điểm để Mỹ phi thực dân hóa... những thuộc địa của các nước Đồng minh của inình, và hội nghị Versailles lúc đó chưa phải là những hội nghị sau này ở Yalta và Potsđam.


Chưa đạt mục đích, Nguyễn Ái Quốc liến hướng về nghề viết báo. Chính Charles Longuet chủ bút báo Người binh dân đã khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết những bài thức tỉnh người Pháp về những bất công mà những đại diện của nước Pháp đang thực hiện ở Đông Dương. Đã từng đọc nhiều tác phẩm của các nhà văn Hugo, Zola, Michelet nhưng Nguyễn Ái Quốc chỉ chịu ảnh hưởng về mặt giản dị trong cách hành văn: "Nhìn thấy cái gì, cảm nhận được điều gì thì cứ viết nguyên như thế. Cố nghiền ngẫm suy xét thực tế của sự vật và lột tả. Tất cả chỉ có thế. Có gì khó đâu".


Đối với ông, chỉ còn lại những khó khăn về tiếng Pháp. Mới đầu, Nguyễn Ái Quốc đành phải đọc, không phải là không sốt ruột, để các đồng bào của ông đã tinh thông hơn về những nét quanh co rắc rối của văn phạm và những tinh tế của từ vựng Pháp, viết giùm ông.


Là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc sớm được Marcei Cachin chú ý tới. Năm 1920 ông được mời dự hội nghị thành Tours, được thấy cánh tả của Đảng Xã hội rời bỏ Đệ nhị quốc tế, gia nhập Đệ tam quốc tế.


Từ đó, suốt nhiều năm sau, tất cả hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc đều theo hướng của tổ chức này. Theo ông, Đảng Xã hội Pháp đã mất nhiều thời giờ vào việc tranh cãi về những lý thuyết suông, vô bổ, trong khi đáng lẽ phải hoạt động nhằm vào một sự nghiệp duy nhất mà ông quan tâm, đó là nền độc lập của các thuộc địa Pháp, nhất là thuộc địa Đông Dương.


Cùng trong lúc này, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu "ngán ngẩm" về chính sách đợi thời của vài nhà cách mạng già của Việt Nam như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường... mà ông gặp gỡ ở Paris và bị các vị này nhận xét thái độ của ông và các đồng chí của ông là "trẻ con".


Vào thời kỳ này, Matxcơva có vẻ như sẵn sàng hành động ủng hộ cuộc đấu tranh của các thuộc địa. Đệ tam quốc tế ngay từ khi mới thành lập đã tuyên bố cần phải phối hợp hành động tại chính quốc với các xứ "phụ thuộc". Từ tháng 7 năm 1920, đã có cuộc họp của các dân tộc phương Đông ở Bacu, Yalta. Tại Matxcơva, Viện Lênin đào tạo các cán bộ cách mạng. Bộ Phương Đông được thành lập tại Thượng Hải v.v.


Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò gì trong Quốc tế cộng sản? Jean Lacouture là người đã viết một tiểu sử rất đáng ca ngợi về Hồ Chí Minh, đã tận dụng tất cả những nguồn tư liệu có thể kiếm được để tái tạo Nguyễn Ái Quốc trong khi những nguồn này hầu như đã vét cạn.


Nhờ Jean Lacouture, mọi người được biết, từ năm 1920 đến 1923, khi đang còn ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập "Hội liên hiệp quốc tế thuộc địa", một phong trào tập hợp tất cả những tổ chức chống thực dân trong đế quốc Pháp. Ông thành lập và quản lý một tờ báo có cái tên rất có ý nghĩa: Le Paria, tức là người khổ sở đến cùng cực. Ông cũng viết nhiều bài đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, cách thể hiện vừa thông minh, vừa hóm hỉnh, tỏ ra đã hoàn toàn hiểu biết Pháp ngữ.


Năm 1923 Nguyễn Ái Quõc rời Paris đi Matxcơva dưới cái tên Lý Thụy, rồi Linov, với tư cách là người đại diện Nhân dân các dân tộc thuộc địa, làm việc trong Ban thường vụ Liên minh nông dân quốc tế. Ông học tiếng Nga và nghiên cứu chiến lược cách mạng tại Viện Nhân dân phương Đông. Ông cũng có quan hệ với một số nhà lãnh đạo Xô Viết, sau này rất bổ ích đối với ông.


Năm 1925, ông được cử đi Quảng Châu bên cạnh Borodine là một cán bộ Xô Viết nôi tiếng, lúc đó đang là "cố vấn" của phong trào cộng sản Trung Quốc và là đại diện Quốc tế cộng sản bên cạnh chính phủ cách mạng Trung Quốc hồi đó do Tưởng Giới Thạch, người kế nghiệp Tôn Dật Tiên, đứng đầu. Nguyễn Ái Quốc làm việc trên danh nghĩa là tùy viên báo chí Lãnh sự quán Xô Viêt ở Quảng Châu. Nhưng nhiệm vụ thật sự của ông chính là chuẩn bị cho các công tác tuyên truyền và vận động chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương.


Chiến thuật cách mạng của Quốc tế cộng sản do Borodine áp dụng ở Trung Quốc hồi đó là: giành độc lập trước tiên, từ cuộc cách mạng dân tộc, thiết lập một chế độ dân chủ, rồi sau đó mới tiến hành cuộc cách mạng thứ hai, tức cách mạng cộng sản, đưa đất nước gia nhập Quốc tế cộng sản.


Có thể Nguyễn Ái Quốc cũng chịu ảnh hưởng của những khái niệm này đối với vận mệnh nước mình. Thế nhưng, những diễn biến tiẽp theo trên đất Trung Quốc đã chứng minh sự liên minh giữa những người cộng sản với những người dân tộc chủ nghĩa tư sản là rất khó khăn, có nhiều rủi ro, như đã liên minh với Quốc dân đảng Trung Quốc. Quả nhiên, ngày 6 tháng 4 năm 1927 Tưởng Giới Thạch đã trở mặt, mở cuộc tiến công vào những người cộng sản Trung Quốc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:04:02 am »

Nguyễn Ái Quốc phải tạm thời rời khỏi Quảng Châu cùng với Borodine. Ông lui về Quảng Tây rồi đi Matxcơva. Nhưng trong thời gian ở Quảng Tây ông đã cùng với một nhà hoạt động cách mạng người Ấn Độ và vài người Triều Tiên thành lập "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức". Ông cũng đã cùng với những người An-nam sinh sống tại Trung Quốc thành lập một tổ chức thật sự của những người cộng sản trẻ tuổi, mang tên Thanh niên1 (Tức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội - ND).


Nhờ kết quả của công tác này, từ năm 1926 Nguyễn Ái Quốc đã đưa về nước một số hội viên do ông đào tạo để bám chân trong nước, tạo ra một hệ thống các tiểu tổ bí mật tỏa khắp đất nước, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc liên lạc và thực hiện các nguyên tắc cách mạng: tạo hạ tầng cơ sở cần thiết. Tất cả đều tập trung vào việc giác ngộ quần chúng ở Đông Dương.


Đến năm sau, tức sau khi đã trở về Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quan tâm đến việc tổ chức một Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau một thời gian ngắn ở Berlin, đầu năm 1928 Nguyễn Ái Quốc rời châu Âu đi Viễn Đông nhưng không về Đông Dương ngay vì cần phải giữ bí mật, những hoạt động của ông đã đến tai Sở mật thám và đã có lệnh cấm ông không được về nước.


Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Thái Lan. Tại đây ông đã hoạt động như mọi nơi khác nhưng hết sức giữ bí mật. Ông nhanh chóng trở thành cán bộ chủ yếu phụ trách tuyên truyền và hoạt động cách mạng tại khu vực phương Nam như Thái Lan, Miến Điện, Malaixia thuộc Anh, Inđônêxia thuộc Hà Lan và dĩ nhiên cả Đông Dương thuộc Pháp.


Tháng 7 năm 1930 ông tới Hồng Công. Chính tại nơi này ông đã bộc lộ sự khôn khéo chính trị của mình.

Ngày 1 tháng 5 năm 1929 tại Hồng Công tiến, hành đại hội đầu tiên của những người cách mạng Dông Dương. Ba nhóm cách mạng không đạt được thỏa thuận chung, đã yêu cầu Nguyễn Ái Quốc lúc đó đang ở Thái Lan giúp đỡ. Tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại biểu ba nhóm này, mỗi nhóm hai người, tới Hồng Công, nghiên cứu tình hình, soạn thảo cương lĩnh, điều lệ và ngày 3 tháng 2 năm 1930 chỉ trong một buổi họp vài giờ, đã tạo được sự thống nhất.


Đảng Cộng sản Việt Nam, còn gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời hoàn toàn do sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc.

Nhưng chưa phải đã hết. Suốt mười tám tháng sau, từ năm 1930 đến năm 1931, Nguyễn Ái Quốc không hề mệt mỏi, rong ruổi từ Hồng Công đến Thượng Hải, Băng-cốc, Hán Khẩu, được coi như lãnh tụ tinh thần của tất cả các tổ chức cộng sản ở bán đảo châu Á. Chính ông là người đảm bảo liên hệ giữa các tổ chức này với Quốc tế cộng sản ở Matxcơva và Đảng Cộng sản Pháp, qua sự trung gian của Ban thư ký Tổng công hội Pháp ở Paris (hiện còn lưu trữ nhiều tài liệu rất đáng chú ý chung quanh sự kiện này).


Cũng như Mao Trạch Đông, Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng ở châu Á công nhân chiếm số lượng rất ít, vì vậy cần phải dựa vào nông dân. Từ năm 1924, tại Đại hội lần thứ 5 Liên minh các dân tộc thuộc địa tại Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản tham luận nêu rõ: "Tại tất cả các thuộc địa của Pháp... những điều kiện đã hội tụ để nông dân những nước này vùng lên. Ở nơi này nơi khác họ đã từng nổi dậy nhưng đều bị dìm trong biển máu. Nếu hiện nay nông dân đang im lìm, đó là do họ thiếu một tổ chức và một sự chỉ đạo..." Mùa hè năm 1930 việc xuất hiện các Xô Viết ở tỉnh Nghệ An, quê hương của Nguyễn Ái Quốc đã giải thích rõ. Một trong những cuộc biểu tình lớn nhất ở đây là cuộc tuần hành ngày 12 tháng 9 năm 1930 từ các vùng nông thôn tiến về thị xã Vinh, tập hợp tới khoảng sáu nghìn nông dân.


Đó là một thắng lợi nhưng sau đó những người tổ chức đã gặp tổn thất lớn. Một cuộc đàn áp dữ dội đã diễn ra. Hàng trăm cán bộ vận động cách mạng đã bị bắt, nhiều người bị tử hình, bị tù đày, bị giam giữ. Phạm Văn Đồng, sau này là Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một trong số những người bị đày ra Côn Đảo.


Về phần Nguyễn Ái Quốc, ông bị kết án tử hình vắng mặt năm 1931.

Đến đây, xảy ra một câu chuyện mà, một lần nữa, chúng tôi thiếu điều kiện xác minh. Ngày 6 tháng 6 năm 1931 Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Công (lúc này cảnh sát Anh cũng đang cần phải hỏi Nguyễn Ái Quốc về những biến động tại các thuộc địa của Anh). Các nhà chức trách Pháp vận động các đồng nghiệp người Anh trục xuất Nguyễn Ái Quốc khỏi Hồng Công. Nhưng đến năm 1933 Pháp được trả lời là Nguvễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà giam vì bệnh lao. Tin này được sở mật thám ghi nhận, được đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp và trên báo chí Xô Viết. Tại Matxcơva, các sinh viên Việt Nam đã tổ chức lễ truy điệu nhà cách mạng lão thành vừa qua đời.


Thế nhưng, nếu đúng là Nguyễn Ái Quốc đã bị lao thì lúc đó ông vẫn không bị chết, ông đã dựa được vào những thế lực giúp ông thoát khỏi bọn cai ngục người Anh và tránh được cả sự theo dõi của mật thám Pháp chỉ chờ ông ra khỏi nhà giam là bắt giữ luôn.


Bằng cách nào? Có một luật sư người Anh chống thực dân là Frank Loseby đã vận động những đồng bào của ông thuộc Công đảng Anh và cả Tổng chưởng lý Vương quốc Anh là Stafford Cripps cứu giúp người tù và đã được Hội đồng tư vấn của Nhà vua ở Luân Đôn ân xá cho Nguyễn Ái Quốc. Cũng vẫn Frank Loseby sau đó đã giúp Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Hồng Công.


Thái độ lạ lùng của các nhà cầm quyền Anh hồi đó thật khó hiểu.

Đã là năm 1933. Nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc vẫn chưa phải lúc trở về Đông Dương, ông ở ngoài nước và vẫn hoạt động không mệt mỏi nhằm khôi phục lại Đảng Cộng sản của ông đang bị đàn áp tan rã. Ông đã ở Thượng Hải một thời gian, nhưng Tưởng Giới Thạch lại tiến hành lùng bắt những người cộng sản, ông buộc phải náu mình. Chính một "đồng chí" Pháp là Paul Vaillant Couturier, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã giúp ông trốn chạy khỏi Trung Quốc trên một chiếc tàu Liên Xô từ Thượng Hải trở về Vladivostok.


Hình như sau đó Nguyễn Ái Quốc ở tại Nga từ 1934 đến 1938, theo một khóa học tại Viện Lênin, đồng thời tham gia giảng dạy về lịch sử Việt Nam. Ông soạn các bài học dưới hình thức thơ ca để tăng thêm phần hấp dẫn, như trước kia Phan Bội Châu cũng đã làm thơ ca cách mạng để nhân dân dễ học, dễ nhớ.


Vì vậy, Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp tại Macao năm 1935 đã vắng mặt Nguyễn Ái Quốc. Đây là một đại hội rất có ý nghĩa, đã kiểm điểm những kết quả đạt được năm 1930 và chuẩn bị đấu tranh vũ trang.


Trong thời kỳ 1936 - 1938 khi Mặt trận nhân dân nắm quyền ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị hợp tác với người Pháp, ở đây, thể hiện rõ những phương pháp ưa dùng của Hồ Chí Minh: nắm bắt thời cơ, tận dụng cơ hội để hoạt động thích hợp với hoàn cảnh.


Năm 1938 Nguyễn Ái Quốc trở lại Trung Quốc. Lúc này, do bị Nhật Bản tiến đánh. Tưởng Giới Thạch đã buộc phải liên minh trở lại với Đảng Cộng sản Trung Quốc để cùng chống quân xâm lược.


Một trong những chủ trương khôn khéo của Hồ Chí Minh trong thời kỳ Mặt trận nhân dân trước khi bùng nổ Chiến tranh thế giối thứ hai là, vừa tổ chức một chính đảng hợp pháp tập hợp hơn năm trăm tổ chức công đoàn, phường hội v.v... vừa bảo vệ chính đảng do ông sáng Lập, hoạt động trong vòng bí mật. Điều đó khiến cho các nhà cách mạng Việt Nam tồn tại và giữ được ảnh hưởng của mình. Đến năm 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương mở cuộc đàn áp dữ dội tiêu diệt bộ phận hoạt động công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng bộ phận hoạt động bí mật vẫn tiếp tục hoạt động chống lại Nhật Bản khi quân đội Nhật tiến vào chiếm đóng Đông Dương năm 1940.


Tháng 2 năm 1940, Nguyễn Ái Quốc gặp một bộ phận trong Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương tại miền Nam Trung Quốc. Trong số này, có hai người từ đó trở thành những cộng sự thân tín của ông. Đó là Phạm Văn Đồng, sau này là Thủ tướng, và Võ Nguyên Giáp, sau này là Bộ trưởng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Tổng tư lệnh, là người chiến thắng ở Điện Biên Phủ, hai người hùng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #68 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 08:09:36 am »

V
NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH


Tháng 6 năm 1940. Nước Pháp bại trận ở châu Âu đã tạo ra một tình thế mới. Nhật Bản là Đồng minh của Đức xuất hiện trên sân khấu chính trị Đông Dương. Nhật Bản đòi kiểm soát quân sự dọc tuyến biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ để ngăn việc vận chuyển vũ khí xuyên qua lãnh thổ của Pháp tiếp tế cho kẻ thù của họ là Trung Quốc. Đồng thời họ cũng muốn dùng Đông Dương làm bàn đạp tiến công căn cứ hùng mạnh của Anh ở Xingapo và phát triển xuống các vùng biển phía Nam.


Đứng trước sự bất lực của chính phủ Pháp lúc đó đã chuyển về Vichy, Anh và Mỹ (lúc đó chưa tham chiến) cũng từ chối giúp vũ khí để chống lại những yêu sách của Nhật Bản, cho nên Toàn quyền Đông Dương Catroux đã đi theo nước Pháp tự do của De Gaulle. Đô đốc Decoux được cử lên thay buộc phải để cho Nhật Bàn tiến quân vào Đông Dương.


Mới đầu, Nhật Bản còn chút ít dè dặt khi chiếm đóng Đông Dương. Nhưng vẫn có thể lo ngại về sự bành trướng của Nhật Bản và nghĩ rằng Nhật Bản sẽ không trao lại Đông Dương cho Pháp, một nước đã bại trận. Hơn nữa, mặc dù đã cam kết tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, Nhật Bản vẫn sớm tỏ ra chống Pháp. Trung thành với chính sách giải phóng các thuộc địa ở châu Á, Nhật Bản đã dung túng cho các đảng phong trào dân tộc chủ nghĩa của người Việt Nam chống lại Pháp.


Thời điểm chưa phải là bi thảm, nhưng cũng đã trầm trọng đối với Pháp. Nguyễn Ái Quốc, với sự sáng suốt thường thấy, hiểu ngay đây là thời cơ bấy lâu mong đợi đang đến. Bởi vì hiểm họa Nhật Bản đang tạo ra khả năng huy động các lực lượng yêu nước phục vụ cho sự nghiệp thiêng liêng.


Vì vậy, cuối tháng 1 năm 1941, sau ba mươi năm sống xa Tổ quốc, cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã về nước, mặc dù vẫn còn nhiều nguy hiểm. Ông đã cẩn thận náu mình trong những núi đá vôi ở xứ Nùng, gần biên giới Trung Quốc, giữa Cao Bằng và Quảng Tây. Chính tại khu vực này từ ngày 10 đến 19 tháng 5 năm 1941 ông đã triệu tập cuộc họp có các đại biểu cộng sản và các tổ chức yêu nước tham dự.


Đại hội này, có thể gọi là một cuộc họp thôn dã, bởi vì các đại biểu đều ngồi trên những thân cây thay cho ghế, đã thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thông qua cương lĩnh và các mục tiêu đấu tranh.


Việt Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ đấu tranh cho độc lập, chống lại các thế lực phát xít, chính phủ Pháp ở Vichy bị coi là "hợp tác" với Nhật Bản trong vấn đề Đông Dương. Phong trào đấu tranh của Việt Minh được gọi là Cứu Quốc.


Theo nhận xét của Jean Lacouture, ngay từ khi còn ở Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã sớm dự kiến điều này. Trong thư ngày 6 tháng 6 năm 1941 gửi tất cả những người Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, gọi là "Lá thư viết từ nước ngoài", Nguyễn Ái Quốc đă viết: "Trong những thế kỷ trước, khi đất nước ta đứng trước hiểm họa xâm lược của Nguyên Mông, các cụ phụ lão cũng đứng lên đánh giặc. Ngày nay, các cụ phụ lão và các nhân sĩ yêu nước cũng cần phải theo gương các bậc tiền bối".


(Hồi đó, phải chăng Nguyễn Ái Quốc đã đề nghị với những nhà cầm quyền Pháp ở Đông Đương cùng hợp tác với Việt Minh chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản? Đây là điều đáng ngờ. Vì Đảng Cộng sản Đông Dương không thể nào liên minh với các thế lực "phát xít" và về phía Toàn quyền Đông Dương cũng dè dặt với những đề nghị của các nhà cách mạng Việt Nam mà Pháp đang truy lùng?)1 (Sainteny nhầm. Hồi đó Đảng ta chủ trương liên minh với "lực lượng thuộc phái De Gaulle ở Đông Dương" chứ không phải với chính quyền thực dân Pháp - ND).


"Từ nay, kẻ thù số một của chúng ta là quân đội phát xít Nhật Bản"1 (Đó là sau ngày 9-3-1945, khi Nhật đã đảo chính Pháp - ND). Đó là khẩu lệnh Nguyễn Ái Quốc gửi tới dân chúng Việt Nam. Những người tham gia đấu tranh chính trị chuyển thành du kích kháng chiến. Đảng Cộng sản phải đi đầu trong phong trào giải phóng dân tộc. Đây là thực tế? Lạc quan? Chủ nghĩa yêu nước? Vẫn như thường lệ, những động cơ của Nguyễn Ái Quốc đều đan xen phức tạp, nhưng có thể chắc chắn rằng chủ nghĩa yêu nước là động cơ dẫn đầu. Hãy nhớ lại lời Ducroux, một "đồng chí" năm 1931 đã gặp Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Công viết về ông như sau: "Trong ông chỉ có một ý nghĩ duy nhất, và tôi cho rằng ý nghĩ này đã bám chặt ông suốt đời: đó là Việt Nam, Tổ quốc của ông. Tôi không nói ông không phải là một người theo chủ nghĩa quốc tế trung thực, một nhà cách mạng chân chính, nhưng Việt Nam đối với ông bao giờ cũng chiếm vị trí hàng đầu".


Nhiều tháng tiếp theo đại hội thành lập Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh bắt tay vào việc dịch thuật các tác phẩm chính trị, truyền bá các sách tuyên truyền, sách huấn luyện chiến tranh du kích nhằm giáo dục hội viên. Lúc này đã xuất hiện hai chỉ huy quân sự Việt Minh là Võ Nguyên Giáp rất nổi tiếng và Chu Văn Tấn người dân tộc, chỉ huy những hoạt động vũ trang tuyên truyền, tiến về phía Trung du và Đồng bằng.


Tháng 7 năm 1942, Hồ Chí Minh lại đi Trung Quốc. Đây là một quyết định mạo hiểm, nhưng Hồ Chí Minh trong khi tăng cường các hoạt động trong nước, cũng cần phải có sự ủng hộ từ bên ngoài, và nhất là cần gặp Đảng Cộng sản Trung Quốc mà các mối liên hệ đang trở nên khó khăn. Liệu ông có hy vọng gì về Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng Trung Quốc, lúc đó đang công khai tiến hành chiến tranh chống Nhật Bản, sẽ cùng thành lập một mặt trận chung với ông để cùng chống lại kẻ xâm lược và cung cấp cho ông vũ khí và các khoản viện trợ khác? Với một số nhà viết sử thì đây chính là một trong các mục đích của ông trong chuyến đi này. Với một số người khác thì đây chỉ là một lý do nhằm tạo cớ cho chuyến đi. Trong mọi trường hợp, Hồ Chí Minh đều biết trước những rủi ro sẽ gặp. Ông đã cải trang và một lần nữa lại đổi tên. Bắt đầu từ tháng 7 này, ông trở thành Hồ Chí Minh, tức "Người soi sáng" và cái tên đó theo ông mãi mãi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #69 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2022, 08:11:01 am »

Những biện pháp đề phòng đó vẫn chưa đủ. Vừa mới đi sâu vào lãnh thổ Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã bị bắt, hình như do lỗi cùa người Trung Quốc dẫn đường đã không trình bày đủ các giấy tờ cần thiết khi bị kiểm tra. Dù sao thì lãnh tụ Việt Minh cũng đã bị bắt giam. Ông trải qua cảnh tù đày suốt mười bốn tháng, trước khi được hưởng quy chế tù nhân chính trị, đã nhiều tuần bị giải đi hết nhà giam này đến nhà giam khác, cổ đeo gông, chân bị xích nối với một người tù khác (hẳn đây là người đã cùng đi dẫn đường cho Hồ Chí Minh và sau đó đã bị chết trong tù). Gầy yếu, ghẻ lở, hai mắt bị mờ, Hồ Chí Minh đã trải qua những thử thách gay go nhất trong suốt cuộc đời của ông. Đúng là sự dẻo dai bền bỉ, niềm tin và nền văn hóa mà Hồ Chí Minh được trau dồi đã giúp ông vượt qua tất cả (chính trong tù Hồ Chí Minh đã sáng tác những bài thơ đặc sắc nhất của mình). Chúng ta qua đó được biết sự rèn luyện của một con người. Nhưng, điều kinh ngạc hơn nữa là, ngay trong thử thách này Hồ Chí Minh đã rất có lợi về chính trị, đã đảo ngược được tình thế tuyệt vọng thành thuận lợi của mình.


Lúc này, vận mệnh Hồ Chí Minh tùy thuộc vào hai nhân vật ghê gớm là Thống chế1 (Sainteny nhầm. Suốt thời gian Quốc dân đảng Trung Quốc cầm quyền chỉ có một Thống chẽ duy nhất là Tưởng Giới Thạch. Còn lúc này, Trương Phát Khuê, Tư lệnh đệ tứ chiến khu, là Trung tướng - ND) Trương Phát Khuê thống đốc tỉnh Quảng Tây và người nắm quyền thực tế là tướng Tiêu Văn, chuyên gia về hoạt động lật đổ ở Bắc Kỳ.


Trương Phát Khuê là một kiểu mẫu của lãnh chúa chiến tranh đang chờ cơ hội lôi kéo xứ Bắc Kỳ trở lại sự bảo trợ của Trung Quốc sau khi chiến tranh kết thúc. Để đạt mục đích này, Trương đã nghĩ đến việc tập hợp dưới ô dù của mình những phong trào dân tộc chủ nghĩa khác nhau của những người Việt Nam chạy trốn sang Trung Quốc; đặc biệt là ở trong tỉnh biên giới Quảng Tây, bằng cách hứa hẹn cung cấp cho họ vũ khí và tiến bạc để chống Nhật Bản. Chẳng may, một vài thủ lĩnh Việt Nam mà Trương Phát Khuê nắm được trong tay định để tập hợp lực lượng, đặc biệt là một Nguyễn Hải Thần nào đó (mà mãi sau này tôi mới được gặp) do sống lưu vong quá lâu ở Trung Quốc nên trên thực tế đã biến thành người Trung Quốc. Không một kẻ nào có đủ uy tín và uy lực cần thiết để tự coi là người có thể hợp nhất lực lượng. Đứng trước sự bất lực của bọn này, Trương Phát Khuê đành phải tìm kiếm người khác.


Khi nào và làm thế nào mà Hồ Chí Minh biết cách cho viên chúa ngục của mình hiểu rằng mình có thể là người có thể tập hợp lực lượng? Chúng tôi không được biết rõ. Chúng tôi chỉ biết rằng, Trương Phát Khuê chấp nhận Hồ Chí Minh. Tại sao? Phải chăng, như nhiều nhà sử học đã viết, Trương Phát Khuê không biết rằng dưới cái tên Hồ Chí Minh chính là người cộng sản Nguyễn Ái Quốc? Có lẽ thế, bởi vì lúc đó ít người biết đến cái tên mới mẻ này của Nguyễn Ái Quõc. Nhưng điều đó cũng khó tin. Trương Phát Khuê có nhiều phương tiện để điều tra và riêng việc Trương Phát Khuê để cho Hồ Chí Minh được hưởng quy chế tù chính trị cũng chứng tỏ, ít nhất viên tướng này cũng đã hiểu mình dựa vào nhân vật như thế nào. Điều đáng tin hơn là Hồ Chí Minh đã tự mình chứng tỏ cho Trương Phát Khuê biết rằng hồi đó không có ai ở Trung Quốc hoặc ở Đông Dương được biết Hồ Chí Minh là ai, và quá khứ đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản của ông không làm cho những người theo chủ nghĩa dân tộc trong số người Việt Nam ở Trung Quốc đang cần tập hợp lại sợ hãi.


Những điều kiện đích thực của cuộc mặc cả này đã diễn ra như thẽ nào? Điều này chỉ có riêng Hồ Chí Minh mới có thể tiết lộ. Những người khác cũng có thể tiết lộ ít hơn, đó là Trương Phát Khuê và viên thiếu tướng phó điều hành của ông ta là Tiêu Văn thì đã "cuốn gói" cả rồi.


Được trả lại tự do, nhưng vẫn còn phải giữ lại trên đất Trung Quốc, bị tước hết mọi quyền hành và cắt đứt mọi nguồn tài chính, Hồ Chí Minh chỉ còn một cách là dựa vào những đồng chí của mình và hợp nhất các phong trào dân tộc chủ nghĩa không chỉ phục vụ cho lợi ích của Quốc dân đảng Trung Quốc mà là nhằm phục vụ cho những mục tiêu của chính ông.


Đã phải trải qua một thời kỳ dài xung đột chính trị, bởi vì những người liên minh với Hồ Chí Minh không ngây thơ đến nỗi không hiểu biết trò chơi của người cộng sự với họ. Để trấn an những phong trào này đồng thời cũng nhằm định ra những mục tiêu chung, tháng 3 năm 1944 Trương Phát Khuê đã triệu tập một đại hội các phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam thuộc các khuynh hướng khác nhau tại Liễu Châu. Một chính phủ lâm thời được thành lập (Không phải "chính phủ lâm thời" mà là mặt trận liên hiệp các đảng phái - ND) trong đó Hồ Chí Minh chỉ được một ghế, nhưng ông vẫn chấp nhận, bởi vì ông nghĩ phải nén lòng theo thời thế, nhằm tránh cho các đối thủ viện cớ loại trừ ông.


Như thói quen thường có, Hồ Chí Minh tránh những cuộc tranh cãi về lý thuyết làm mất thời giờ, tránh những cuộc cãi vã làm chia rẽ đội ngũ, ông tiếp tục không ngừng hành dộng. Các đồng chí và học trò của ông tích cực làm việc bên cạnh ông, tăng cường mở rộng uy tín trong dân chúng trên lãnh thổ Việt Nam.


Từ thời điểm đó trở đi, tình thế cách mạng ngày càng phát triển. Hồ Chí Minh từng ngày nhìn thấy rõ mục tiêu mà ông theo đuổi suốt cả cuộc đời. Ông tìm cách tiếp xúc với Mỹ là nước đã bắt đầu bước vào chiến tranh chống Nhật từ năm 1942. Sau khi trở về nước, ông lại đi Côn Minh và đã nhận được từ Ban tham mưu Quân đội Mỹ sự giúp đỡ về vũ khí và các huấn luyện viên quân sự để cùng chiến đấu chõng Nhật Bản, đã trở thành kẻ thù chung.


Sau khi trở về nước lần này, Hồ Chí Minh theo sát phong trào, đặt sở chỉ huy ở tỉnh Thái Nguyên1 (Không phải Thái Nguyên mà là Tuyên Quang - ND). Tất cả hoạt động này không hoàn toàn che giấu được Pháp và họ đã đưa quân đội tới càn quét vùng Thượng du, nơi nghi ngờ có lực lượng kháng chiến.


Ba ngày trước khi tiến hành càn quét, tức ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật Bản dùng vũ lực lật đổ chính quyền của đô đốc Decoux. Cuộc đàn áp phong trào cách mạng sụp đổ cùng với toàn bộ nền cai trị của Pháp. Công cuộc khai hóa thuộc địa mà nước Pháp tiến hành từ tám mươi năm trước, chìm nghỉm như con tàu bị đắm.


Ở Việt Nam lúc này chỉ còn có chính quyền Bảo Đại. Lợi dụng tình thế vừa xảy ra, ngày 11 tháng 3 (tức hai ngày sau khi Nhật Bản làm đảo chính), Hoàng đế Bảo Đại hủy bỏ toàn bộ các hiệp ước đã ký với nước Pháp và tuyên bố Việt Nam độc lập. Nhưng đó là một nền độc lập do Nhật Bản làm chủ và bị cột chặt vào Nhật Bản bằng một thứ "chủ nghĩa hợp tác" tàn tụy nhất. Hơn nữa, chính quyền Bảo Đại chỉ có hiệu lực trong các thành phố lớn và còn phải đối phó với những khó khăn về kinh tế hầu như không thể nào giải quyết nổi. Nạn đói khủng khiếp cuối 1944 đầu năm 1945 làm dân chúng phẫn khích càng đi theo Việt Minh vì cán bộ Việt Minh chủ trương phá kho thóc phát cho người đói.


Chính quyền Pháp thật sự không tồn tại nữa. Đó là một thực tế. Nhưng vẫn có những người Pháp, hoặc đơn độc, hoặc tụ tập thành từng nhóm nhỏ cố chống lại Nhật Bản, hoặc là những người ở khu vực biên giới Trung Quốc tiếp giáp với Bắc Kỳ (trong đó có tôi) đang chờ thời cơ giành lại chính quyền.
   Và bây giờ Hồ Chí Minh đang đến gần những người Pháp này. Nhận thức chính trị của ông vạch rõ, hiện nay chủ nghĩa phát xít Nhật Bản là mục tiêu duy nhất, cần phải tập trung những đòn tiến công của Việt Minh phối hợp đồng thời với các nước Đồng minh Anh, Mỹ, Trung Hoa và cả Pháp, những nạn nhân cuổì cùng của bọn quân phiệt Nhật Bản.
   Chính vì vậy từ mùa xuân 1945 Hồ Chí Minh đã tìm kiếm sự hợp tác và phối hợp với những nhóm người Pháp đang công khai chống kẻ thù Nhật Bản. Tháng 7 năm 1945 ông đã gửi đến tôi một thông điệp 5 điểm, nhằm tạo cơ sở cho một sự chung sống Pháp - Việt trong tương lai. Ông cũng đã tìm gặp tôi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM