Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười Một, 2021, 10:43:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 1679 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #90 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:35:09 pm »

1. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Tư tưởng xây dựng nền quốc phòng trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) là một bộ phận trong tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại. Trước hết, nền quốc phòng đó phải là một nền quốc phòng toàn dàn, hay nói cách khác nền quốc phòng đó được xây dựng bởi toàn dân, dựa vào sức mạnh toàn diện của nhân dân, cả nước.


Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống nồng nàn yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc. Mỗi khi có họa xâm lăng thì truyền thống tốt đẹp đó lại được hun đúc, được kết tụ và chuyển hoá thành sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn để đánh bại kẻ thù. Trước đây, cha ông ta với tư tưởng “quốc gia tinh lực - chúng chí thành thành” (cả nước chung sức lại, cả nước mạnh như thành) đã chiến thắng nhiều kẻ thù hung bạo, có tiềm lực vật chất mạnh hơn, giữ vững non sông, đất nước. Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, trong cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm (1945-1975), tư tưởng “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” đã gắn kết quảng đại quần chúng và biến thành sức mạnh to lớn. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được hoá thân và trở thành động lực mạnh mẽ của công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân.


Tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân được biểu hiện trước hết ở vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vai trò quản lý của Nhà nước chuyên chính vô sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa, của khối đoàn kết công - nông liên minh với trí thức... Tiềm lực đó còn biểu hiện ở trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần làm chủ tập thể, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, thống nhất của người dân. Tiềm lực chính trị - tinh thần không ngừng được củng cố và tăng cường qua mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến.


Tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng và huy động phụ thuộc vào điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân hướng tới “Hai mươi triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn thực dân phản động”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.151). Vì vậy, xây dựng tinh thần cách mạng triệt để mọi người dân trong cả nước sẵn sàng hy sinh, phấn đấu nhằm hướng tối mục tiêu tối thượng là hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là hết sức quan trọng. Trong kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh mục tiêu hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, còn phải hướng tới mục tiêu xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, trong xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, việc nêu cao ý thức cứu nước, giáo dục ý thức giữ nước cho toàn dân là vô cùng quan trọng. Nền quốc phòng toàn dân không chỉ thoả mãn yêu cầu “cứu nước” mà còn đảm bảo được yêu cầu “giữ nước” cả hiện tại lẫn lâu dài. Nền quốc phòng đó còn phải đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi cơ bản mà quá trình phát triển của liên minh chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đặt ra.


Cùng với việc giáo dục và động viên tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng triệt để của nhân dân là việc thường xuyên bồi dưỡng ý thức quốc phòng cho toàn dân, làm cho mỗi người nhận thức được rõ yêu cầu của công cuộc xây dựng quốc phòng, xác định được trách nhiệm của mình. Bất kể “trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.319). Trên cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng triệt để, giáo dục ý thức quốc phòng đã động viên được toàn dân tích cực tham gia củng cố xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, “phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào thực dân Pháp; phải trút toàn lực vào đó”, “mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng, mỗi đường phố là một pháo đài”. Còn trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tất cả để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” không chỉ là tư tưởng chỉ đạo mà còn là khẩu hiệu hành động của mỗi người, của tất cả mọi người, mọi tổ chức.


Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng là sự nghiệp của toàn dân Việt Nam. Vì vậy, trong khi các thế lực thực dân, đế quốc đặc biệt coi trọng sức mạnh quân sự thuần tuý, coi đó là nội dung cốt lõi của tư tưởng xây dựng nền quốc phòng, thì Đảng ta xác định sức mạnh vô địch trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, trong xây dựng nền quốc phòng lại là sức mạnh của toàn dân. Sức mạnh đó được tạo ra bởi sự tổng hoà của các yếu tố quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... chứ không chỉ đơn thuần là tiềm lực quân sự. vả lại, mục đích của nền quốc phòng toàn dân mà Đảng chủ trương xây dựng phù hợp với mục tiêu của cách mạng, bảo vệ lợi ích của nhân dân vì vậy mà nó có sức lan toả, nhanh chóng trở thành tâm điểm tập hợp, thu hút toàn dân tham gia. Toàn bộ sức mạnh của nền quốc phòng đó đều được động viên và phát huy trên tất cả các mặt trận của cuộc chiến tranh nhân dân để đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại nền độc lập và thống nhất non sông đất nước.


Tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân xác định toàn dân và mỗi công dân Việt Nam đều có trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia tích cực công cuộc kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cô an ninh - quốc phòng bởi mục đích của nền quốc phòng đó không chỉ bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ mà còn bảo vệ lợi ích của chính nhân dân. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Chống lại và làm thất bại những hành động xâm lược của đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ quyền sống, đó là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như miền Nam”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.428).


Thấm nhuần tư tưởng trên, trong kháng chiến chống Pháp, để chiến thắng với một đội quân xâm lược nhà nghề có lực lượng hùng mạnh, trang bị vũ khí hiện đại, tiềm lực kinh tế dồi dào, quân và dân Việt Nam không chỉ tìm ra được cách đánh giặc độc đáo, phát triển được nghệ thuật quân sự truyền thống mà còn đặt ra và giải quyết thành công những vấn đề to lớn và mới mẻ hơn. Đó là tiến hành chiến tranh trên cơ sở một nền quốc phòng toàn dân, chứ không chỉ đơn thuần dựa vào quân đội theo phương thức tiến hành chiến tranh cổ điển. Sức mạnh của chế độ mới - chế độ làm chủ nhân dân, của Nhà nước Việt Nam độc lập cùng với đường lối kháng chiến toàn dân đúng đắn và sự phong phú của phương thức toàn dân đánh giặc là cơ sở nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Đây cũng chính là sự khác biệt căn bản trong tư tưởng xây dựng nền quốc phòng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương so với nền quốc phòng của các nước khác.


Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Việt Nam có nửa nước là miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là điều kiện thuận lợi để động viên toàn dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng. Để hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng ta xác định: “vừa sản xuất, vừa chiến đấu" kết hợp “chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu với sản xuất”. Chỉ có đẩy mạnh sản xuất mới có thể ổn định và cải thiện được đời sống của nhân dân ở miền Bắc cũng như giảm bớt khó khăn cho nhân dân tại các vùng giải phóng ở miền Nam, và như vậy mới làm cho nhân dân tin tưởng, phấn khởi, ra sức thi đua sản xuất, tích cực đóng góp để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #91 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:36:05 pm »

Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, đó là tư tưởng trường tồn trong lịch sử dân tộc. Muốn cho tư tưởng đó thâm nhập, ăn sâu bén rễ trong quần chúng nhân dân, muốn cho mọi người dân Việt Nam nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia xây dựng nền quốc phòng, thì cần phải coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân. Qua đó mà tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của mọi người dân, mọi giai tầng xã hội, biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất. Muốn tạo dựng cho quần chúng nhân dân niềm tin vào sự nghiệp kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thì quá trình xây dựng, phát triển kinh tế cần phải được kết hợp chặt chẽ với củng cố quốc phòng. Sự hoà trộn ý thức cứu nước với ý thức giữ nước trong mỗi người dân Việt Nam chính là sự thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, sẵn sàng hy sinh cho độc lập, tự do. Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, vận nước còn chông chênh, đế tập trung cao độ cho nhiệm vụ cứu nước, giữ vững nền độc lập còn non trẻ, Đảng ta chủ trương “toàn thể nhân dân, không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng và nghề nghiệp, đều phải giữ gìn trật tự và ra sức ủng hộ chính quyền nhân dân”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.564). Để tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc.


Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.409).

Trước một kẻ thù có tiềm lực mạnh như thực dân Pháp, để làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của chúng, đồng thời bảo toàn được thực lực cho kháng chiến lâu dài, Đảng chủ trương rút khỏi thành thị về xây dựng căn cứ địa - hậu phương ở vùng rừng núi, nông thôn. Đây chính là địa bàn vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Và để làm được điều đó, trước hết và quan trọng nhất là phải xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà đầu tiên là giữa người Kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau; cải thiện và ổn định đời sống cho nhân dân vùng nông thôn và miền núi. Trong quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải luôn biết kết hợp giữa động viên sức dân và củng cố, bồi dưỡng sức dân; biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng1 (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.250). Động viên sức dân kết hợp với bồi dưỡng sức dân cũng là bước kế thừa và phát triển tư tưởng “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc” của các bậc tiền nhân trong lịch sử dân tộc.


Trên tư tưởng quốc phòng toàn dân, với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam không chỉ vượt qua được thời kỳ “ngàn cân treo sợi tóc” hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, mà với một nền quốc phòng toàn dân vừa mới được tạo dựng, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân đã nhanh chóng vượt qua được thời kỳ cầm cự, chuyển sang tổng phản công. Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng trong kháng chiến chống Pháp đã đưa Quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội quân bé nhỏ nhanh chóng phát triển thành lực lượng vũ trang ba thứ quân; từ những đại đội, tiểu đoàn thành những đại đoàn chủ lực mạnh; đưa tiềm lực quốc phòng từ chỗ gần như là số không đến chỗ đủ sức đương đầu đánh bại các bước leo thang chiến tranh quy mô lớn của thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Nền quốc phòng đó còn tạo dựng các cơ sở kinh tế - quốc phòng, bảo đảm tính liên tục cho hoạt động sản xuất tại các vùng tự do và căn cứ địa - hậu phương; góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam từ chỗ chỉ tập trung giải quyết nạn đói tiến tới một nền kinh tế tự cung, tự cấp, đáp ứng được yêu cầu trường kỳ kháng chiến.


Để mỗi một người dân đều phát huy được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với công cuộc xây dựng, củng cố nền quốc phòng, thì ngoài việc tăng cường giáo dục, tạo cho người dân niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần phải đề cao địa vị làm chủ thực sự của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá - xã hội. Tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân cũng xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của nhân dân miền Bắc. Đó là không chỉ làm tròn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mà còn phải sẵn sàng hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. “Toàn thể đồng bào miền Bắc phải luôn luôn nhớ rằng: trong lúc chúng ta đang sinh hoạt và xây dựng trong hoà bình, thì đồng bào miền Nam ta đang hy sinh, anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Vì vậy, mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.227). Hay nói cách khác, nền quốc phòng toàn dân trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ phải đáp ứng được yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.


Với tính ưu việt của chế độ xã hội chú nghĩa được xây dựng ở miền Bắc, sức mạnh của toàn dân đã được huy động ở mức cao nhất để đưa cuộc chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao. Không những thế, với tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, quân, dân Việt Nam còn tạo lập được những cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết trong điều kiện chiến tranh ác liệt.


Cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm (1945-1975) của nhân dân Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là khoa học - kỹ thuật quân sự trên thế giới đã có những bước tiến vượt bậc. Triệt để tận dụng những thành tựu mới - sản phẩm của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, nhiều nước trên thế giới chủ trương xây dựng nền quốc phòng đồng nghĩa với việc tập trung xây dựng quân đội tinh nhuệ và hiện đại. Trong khi đó, trên cơ sở thấu triệt nhiệm vụ của cách mạng, đặc biệt là yêu cầu của cuộc chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta xác định sức mạnh bảo vệ đất nước vũng chắc nhất là sức mạnh củá nền quốc phòng toàn dân, trong đó quân đội và công an là lực lượng nòng cốt. Nền quốc phòng đó được hội tụ bởi sức mạnh tổng hờp của mọi người dân Việt Nam, của chế độ mới, của nền văn hoá mới và nền kinh tế mới. Cơ sở nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân chính là sức mạnh của chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân. Một nền quốc phòng thực sự vì dân và do dân với nội dung và ý nghĩa đầy đủ nhất, phát triển cao nhất, được vận hành trong một chế độ mới sẽ cho phép động viên một cách rộng rãi và tổ chức một cách khoa học lực lượng của toàn dân, của cả nước, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, tiến hành kháng chiến thắng lợi. Đó chính là sự khác biệt căn bản giữa tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Việt Nam so với tư tưởng xây dựng quốc phòng ở các nước; giữa tư tưởng xây dựng quốc phòng Việt Nam hiện đại so với tư tưởng của các triều đại phong kiến trước đây khi mà lợi ích giai cấp lúc bấy giờ đang có sự đối lập nhau.


Kế thừa và phát triển tư tưởng “khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ, bền gốc” của tổ tiên, để có đủ sức đương đầu với hai kẻ thù hung bạo là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thì cùng với việc động viên toàn dân tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, cần phải thường xuyên bồi dưỡng sức dân, chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trong điều kiện khốc liệt của chiến tranh, khó khăn thiếu thốn trăm bề nhưng vẫn phải vừa củng cố xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, vừa phải bảo đảm cho lực lượng vũ trang “ăn no, đánh thắng”, nâng cao dần mức sốhg cho nhân dân, trước hết là của công nhân, bộ đội và công chức, đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân. Đời sống của nhân dân được chăm lo, mức sông được cải thiện, âu cũng là quyền lợi chính đáng mà cách mạng đã mang lại cho người dân, đồng thời cũng làm cho họ ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Tổ quốc, động viên họ hăng hái tham gia vào sự nghiệp củng cố quốc phòng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #92 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:36:41 pm »

2. Tư tưởng tự lực, tự cường

Với tinh thần “đem sức ta giải phóng cho ta”, trong tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân cũng xác định rõ tính tự lực, tự cường; độc lập, tự chủ. Trong kháng chiến, Việt Nam chủ trương tranh thủ khai thác tối đa sự ủng hộ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc để xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng đủ sức đương đầu với hai tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực quốc phòng mạnh, nền khoa học - kỹ thuật tiên tiến. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức một cách sâu sắc rằng sự nghiệp kháng chiến cũng như nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải do nhân dân Việt Nam tự tạo dựng là chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ.


Các nước bạn giúp ta cũng như thếm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy đề bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.30).

Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trên cơ sở thấu triệt sâu sắc tinh thần tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ, từ xuất phát điểm gần như là số không, Đảng, Chính phủ ta đã nhanh chóng tạo dựng được tiềm lực quốc phòng làm cơ sở cho toàn quốc bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp một cách chủ động. Cũng chính nhờ tiềm lực quốc phòng thường xuyên được bồi đắp, nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh mà nhân dân Việt Nam đã phá được thế bao vây, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp từ cầm cự, phòng ngự tiến lên phản công và tiến công; Quân đội nhân dân Việt Nam từ đánh nhỏ, lẻ phát triển lên đánh tập trung, tiêu hao lớn, làm thất bại hoàn toàn các bước leo thang chiến tranh của thực dân Pháp. Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, trong điều kiện bị bao vây, phong toả, nền kinh tế kiệt quệ, tiềm lực quốc phòng - quân sự gần như chưa có gì đáng kể, nhờ có nền quốc phòng toàn dân sớm được xây dựng và đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn của Đảng mà nền độc lập non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vẫn đứng vững, chế độ dân chủ nhân dân được bảo vệ, sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vượt qua được thời kỳ khó khăn, đi đến thắng lợi.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tình hình quốc tế đã có nhiều đổi khác, các nước anh em viện trợ cho nhân dân Việt Nam đánh Mỹ nhiều và hiệu quả hơn, nhân dân Việt Nam sử dụng nguồn viện trợ đó để tiếp tục củng cố nền quốc phòng. Tuy nhiên đối tượng tác chiến của nhân dân Việt Nam có sức mạnh vượt trội về khả năng và tiềm lực quốc phòng. Trong hoàn cảnh đó, kiên định với tinh thần tự lực, tự cường, độc lập tự chủ, Đảng, Chính phủ ta đã xây dựng được một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh không chỉ bảo vệ được hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước cuộc chiến tranh phá hoại toàn diện của đế quốc Mỹ mà còn góp phần đẩy mạnh tiến công địch trên khắp chiến trường miền Nam. Nền quốc phòng đó cũng không chỉ là nền tảng, là chỗ dựa vững chắc cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam mà còn là chỗ dựa cho cuộc kháng chiến của hai nước Lào và Campuchia anh em. Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, tinh thần tự lực, tự cường trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân càng được thể hiện rõ khi mà sự giúp đỡ về quân sự - quốc phòng của các nước anh em dành cho nhân dân Việt Nam có sự gián đoạn và giảm sút đáng kể.


Tự lực, tự cường; độc lập, tự chủ kết hợp với tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế là những đặc điểm nổi bật trong tư Tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân (1945-1975) của Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #93 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:37:33 pm »

3. Tư tưởng về hiện đại hóa quân đội

Quân đội là lực lượng chủ yếu tiến hành chiến tranh chính quy từ quy mô nhỏ và vừa cho đến quy mô lớn. Để tiến hành kháng chiến và kháng chiến thắng lợi, Đảng ta chủ trương xây dựng một quân đội thường trực mạnh để làm nòng, cốt cho nền quốc phòng toàn dân. Từ những đơn vị nhỏ, lẻ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Việt Nam đã nhanh chóng phát triển lực lượng quân đội thành những đại đoàn chủ lực, cơ động trên những địa bàn quan trọng của cả nước. Quân đội không chỉ có nhiệm vụ tiêu diệt quân địch mà còn tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích, thúc đẩy lực lượng dân quân du kích phát triển. Bước vào kháng chiến chống đế quốc Mỹ, để củng cố quốc phòng, Đảng chủ trương phải xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy và hiện đại.


Muốn làm được điều đó, trước hết phải tiếp tục nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, nâng cao bản chất chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở đó, cần đẩy mạnh công tác chính quy hoá và hiện đại hoá quân đội. Chính quy hoá có nghĩa là thống nhất quân đội về mọi mặt, trong đó chủ yếu là thống nhất chỉ huy, thống nhất biên chế, thống nhất huấn luyện, thống nhất chế độ, thống nhất kỷ luật... nhằm đảm bảo sự tập trung thống nhất cao trong quân đội, đáp ứng được yêu cầu của chiến tranh hiện đại.


Trong chiến tranh hiện đại, quân đội không chỉ bó hẹp ở bộ binh mà cần phải được phát triển thành một quân đội đa quân, binh chủng. Hiện đại hoá quân đội một mặt cũng là nhằm hướng tối mục tiêu đó. Hiện đại hoá quân đội được hiểu theo một khái niệm rộng, không chỉ đơn thuần là trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, là hệ thống cơ sở hạ tầng, công cụ giao thông hiện đại, mà còn phải có con người nắm vững và làm chủ kỹ, chiến thuật hiện đại.


Chính quy hoá và hiện đại hoá quân đội có mối quan hệ biện chứng với nhau. Muôn hiện đại hoá quân đội, trước hết phải thực hiện chính quy hoá. Ngược lại, chính quy hoá là môi trường cần thiết là điều kiện cơ bản, tuyệt đối không thể thiếu được của hiện đại hoá.


Một quân đội chính quy và hiện đại muốn có đủ lực lượng để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại, ngoài việc có một lực lượng thường trực mạnh còn cần phải có một lực lượng hậu bị mạnh. Lực lượng hậu bị đó phải được phát triển ở phạm vi của toàn dân, thông qua chế độ nghĩa vụ quân sự. Như đã thành quy luật, hậu phương là nhân tố thường xuyên quan trọng bậc nhất, quyết định thắng lợi của chiến tranh, vì vậy mà công việc xây dựng một quân đội chính quy và hiện đại không thể tách rời công cuộc củng cố và xây dựng hậu phương về mọi mặt.


Nền quốc phòng mạnh trước hết được tạo bởi tiềm lực vật chất, kỹ thuật và tiềm lực to lớn về chính trị, tinh thần. Hay nói cách khác, công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân có liên quan mật thiết với sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật... Hệ quả của cuộc cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng văn hoá và cách mạng khoa học - kỹ thuật có tác động trực tiếp đến quá trình và chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong quá trình công nghiệp hoá ở miền Bắc, Đảng ta đã xác định phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học - kỹ thuật và cách mạng về tư tưởng - văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt. Đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cũng tức là tạo ra các tiềm lực chính trị - tinh thần, vật chất, kỹ thuật to lớn để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện.


Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, quá trình thực hiện chủ trương xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng cũng là quá trình khắc phục những nhận thức lệch lạc đối với công tác quân sự địa phương, đối với vai trò của lực lượng vũ trang địa phương trong thời bình. Đã có những lúc xuất hiện tư tưởng chỉ cổ suý cho khuynh hướng chính quy hoá, hiện đại hoá đội quân chủ lực, xem nhẹ công tác quân sự địa phương, đánh giá chưa đúng vai trò, vi thế của bộ đội địa phương và dân quân du kích, lơ là trong việc xây dựng lực lượng dự bị - những tư tưởng lệch lạc đó đã kịp thời được uốn nắn. Nhờ vậy, đã giải quyết thành công việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, từng bước tiến lên chính quy, hiện đại đi đôi với việc phát triển lực lượng vũ trang quần chúng rộng khắp và xây dựng lực lượng hậu bị hùng hậu đáp ứng được yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Kết quả xây dựng quân đội trong những năm 1955 - 1960 đã góp phần quan trọng vào việc củng cố quốc phòng, tạo điều kiện cơ sở vững chắc để bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ trên phạm vi cả nước. Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, sau kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965), Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành một đội quân chính quy, từng bước hiện đại với đầy đủ các quân, binh chủng, có bước phát triển vượt bậc cả về tổ chức, trang bị lẫn khả năng cơ động và trình độ tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng.


Nhận thức sâu sắc và quán triệt tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã phát triển quân đội từ một đội quân có nhiệm vụ phản đế, phản phong đến một đội quân có nhiệm vụ bảo vệ cách mạng, củng cố và xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước; từ một đội quân du kích tiến lên một quân đội chính quy và từng bước hiện đại; từ một đội quân xây dựng trên chế độ tình nguyện tiến đến một đội quân xây dựng trên chế độ nghĩa vụ quân sự, có một lực lượng thường trực và lực lượng hậu bị hùng mạnh; từ một đội quân dựa trên căn cứ địa nông thôn và rừng núi là chủ yếu đến một quân đội dựa trên hậu phương quốc gia và hậu phương quốc tế rộng lớn.


Với quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, trong quá trình kháng chiến, Đảng, Chính phủ ta đã đặc biệt coi trọng công tác quân sự địa phương, xác định quân sự địa phương cũng là một nội dung không thể thiếu trong quá trình củng cố nền quốc phòng toàn dân. Cùng với việc nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của công tác quân sự địa phương, là nâng cao chất lượng toàn diện cho bộ đội địa phương và dân quân du kích; xây dựng và quản lý tốt lực lượng dự bị. “Nói đến củng cố quốc phòng thì trước hết các cấp uỷ Đảng địa phương phải đem hết khả năng xây dựng đội ngũ dân quân và bộ đội địa phương của mình cho mạnh về mọi mặt, địch đến là có thể tự tác chiến được ngay”1 (Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.211).


Trong kháng chiến, nhờ kịp thời tổ chức ba thứ quân, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, kết hợp giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, Đảng đã động viên và phát huy được sức mạnh toàn dân đánh giặc. Vì thế đối phương không phải là đương đầu với một đội quân cách mạng bé nhỏ mà đang đương đầu với lực lượng vũ trang của cả một dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #94 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:38:17 pm »

4. Tư tưởng về quốc phòng - an ninh

Cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam được thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tiến hành trên tất cả các mặt trận chính trị - tư tưởng, quân sự, kinh tế, nghệ thuật, văn hoá - tâm lý... Đối phương sử dụng những đội quân xâm lược nhà nghề tiến công từ bên ngoài vào và phá từ bên trong ra thông qua chính quyền bù nhìn và các lực lượng, các phần tử chống đối, phản cách mạng. Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam cũng chứng minh cho thấy giặc ngoài bao giờ cũng cấu kết với thù trong. Vì vậy, đế xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cần phải gắn kết quốc phòng với an ninh. An ninh trật tự có được bảo đảm, chính trị có ổn định, quốc phòng mới có điều kiện củng cố và phát triển, ngược lại nền quốc phòng có vững mạnh mới đủ sức răn đe các thế lực hiếu chiến, các phần tử, các lực lượng chống đối, góp phần ổn định chính trị và giữ vững an ninh quốc gia. Đây là hai nội dung quan trọng có quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển.


Kết hợp quốc phòng với an ninh, kết hợp giữa xây dựng Tổ quốc và bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng chỉ đạo nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam xuyên suốt trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975).

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tư tưởng kết hợp quốc phòng với an ninh đã được hiện thực hoá, được triển khai sâu rộng cả ở hậu phương và tiền tuyến; cả ở vùng tự do lẫn vùng địch tạm chiếm. Nhờ quán triệt được tư tưởng đó mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước phân hoá được “thù trong", hạn chế được sự cấu kết giữa quân xâm lược với các thế lực phản động ở trong nước vốn “mọc lên như nấm” trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh đã tạo ra tiềm lực to lớn của chiến tranh nhân dân, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang tập trung sức đánh bại kẻ thù xâm lược.


Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, miền Bắc trở thành căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Sự sống còn và tiền đề phát triển của cách mạng Việt Nam phụ thuộc vào công cuộc bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Để làm tròn được vai trò lịch sử đó, cùng với việc kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, Đảng, Chính phủ ta chủ trương kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh nhằm bảo đảm sự ổn định chính trị để miền Bắc chi viện sức người, sức của cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam và chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của đế quốc Mỹ khi chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Thế trận quốc phòng và an ninh vững chắc làm thất bại âm mưu triệt phá tiềm lực chiến tranh từ trong lòng hậu phương lớn miền Bắc bằng một cuộc chiến tranh phá hoại toàn diện và tàn khốc của đế quốc Mỹ.


Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân đều là công cụ chuyên chính của Nhà nước dân chủ nhân dân và đều có chung một đối tượng là kẻ thù dân tộc và kẻ thù giai cấp. Tuy chức năng có khác nhau như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nhân dân ta có hai lực lượng: Một là quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.118), nhưng hoạt động của hai lực lượng này lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau và đều phải dựa vào dân. Nói cách khác, kết hợp quốc phòng với an ninh chỉ có thể mang lại hiệu quả, tạo ra được sức mạnh thực sự khi biết dựa vào nền tảng nhân dân. Chống xâm lược và các lực lượng phá hoại là nhiệm vụ của Quân đội nhân dân và của Công an nhân dân nói riêng, đồng thời cũng là của toàn dân nói chung; là nhiệm vụ mà Quân đội và Công an đều phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt.


Kết hợp quốc phòng với an ninh cũng như gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh là hai mặt quan hệ khăng khít với nhau không chỉ trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà cả trong nhiệm vụ bảo vệ chế độ mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #95 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:39:01 pm »

5. Tư tưởng kết hợp phát triển kinh tế và nền quốc phòng

Sức mạnh của nền quốc phòng trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) là sức mạnh của chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới. Lênin cũng đã từng cho rằng phải chuẩn bị chiến tranh một cách lâu dài, nghiêm túc bắt đầu từ sự phát triển kinh tế trong nước... Tuy vậy, căn cứ vào điều kiện chính trị và kinh tế của Việt Nam, vào khả năng giúp đỡ của các nước anh em, trong tư tưởng chỉ đạo xây dựng quân đội tiến lên chính quy, từng bước hiện đại Đảng ta đã quán triệt phương châm “tiến dần từng bước", chú trọng kết hợp yêu cầu xây dưng quân đội với yêu cầu xây dựng kinh tế, kết hợp nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ kinh tế.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chế độ dân chủ nhân dân tuy vừa ra đời, nhưng đã tỏ rõ tính ưu việt và khả năng to lớn để động viên toàn dân đưa nền kinh tế nước nhà từ chỗ gần như kiệt quệ đã nhanh chóng hồi phục. Sau khi đẩy lùi được “giặc đói”, mặc dù vẫn trong vòng vây của thù trong, giặc ngoài, Việt Nam đã từng bước xây dựng được một nền kinh tế kháng chiến độc lập, tự chủ, nhanh chóng thoát khỏi sự lệ thuộc vào nền kinh tế thực dân.


Bước vào kháng chiến chống đế quốc Mỹ, phát huy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng trên miền Bắc, cùng với việc tập trung xây dựng cơ sở vật chất ban đầu cho chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam đã xây dựng được một nền kinh tế kháng chiến ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Trong quá trình phát triển kinh tế, thì kinh tế quốc phòng và kinh tế tập thể được coi là nòng cốt. Việc triển khai, tổ chức lại nền sản xuất ở miền Bắc, một mặt nhằm từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân, nhưng mặt khác cũng là đế góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng cho đất nước trong điều kiện chiến tranh.


Trong tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nội dung xây dựng kinh tế được hiểu là bao hàm sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng; quốc phòng với kinh tế. Sự kết hợp đó vừa đáp ứng được yêu cầu nhanh chóng phát triển kinh tế, vừa củng cố được tiềm lực quốc phòng ngày càng vững mạnh. Kinh tế và quốc phòng là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể. Việc kết hợp chặt chẽ hai mặt đó trong quá trình kháng chiến và kiến quốc là một đòi hỏi tất yếu khách quan bởi nền kinh tế có phát triển, có tạo ra được nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật thì mới tăng cường được tiềm lực quốc phòng, ngược lại nền quốc phòng toàn dân vững mạnh sẽ bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định và vững chắc. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hễ có kinh tế mạnh, thì có nền quốc phòng mạnh. Điều này đã được chứng minh rất rõ trong lịch sử quân sự thế giới. Do sự chi phối của những đặc điểm trong một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phát triển thiếu đồng bộ, bên cạnh những yêu cầu riêng của quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế phải bảo đảm tính cân đối, hợp lý, hiệu quả.


Vấn đề kết hợp kinh tế - quốc phòng được thể hiện cả trong việc hình thành thế bố trí chiến lược, thậm chí phải tính đến cả trong thiết kế, xây dựng các công trình dân sự, các nhà máy, xí nghiệp phục vụ nhu cầu dân sinh. Trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ trên phạm vi toàn quốc, Đảng, Chính phủ đã kịp thời thực hiện tổng di chuyển đưa được nhiều máy móc, vật tư, nguyên liệu lên vùng rừng núi Việt Bắc và các vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh ở Nam Bộ, Trung Bộ. Tại đó, nhiều nhà máy, công binh xưởng đã được thành lập và nhanh chóng đi vào sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu về vũ khí của cuộc kháng chiến, cung cấp phương tiện sản xuất, nhu yếu phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của lực lượng vũ trang và của nhân dân. Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng chủ trương tập trung phát triển kinh tế ở các vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, ở các căn cứ địa như U Minh, Đồng Tháp Mười... và một số nơi khác. Nhờ vậy mà khả năng quốc phòng được nâng lên, quân, dân Việt Nam đủ sức mở các chiến dịch lớn, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, kết thúc cuộc kháng chiến chín năm.


Hoà bình lập lại, ở miền Bắc, Đảng chủ trương thực hiện điều chỉnh thế bố trí chiến lược. Nhiều đơn vị quân đội được đưa lên Tây Bắc làm nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế. Nhiều nông trường quân đội ra đời trong thời kỳ này. Nhiều nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng, một mặt được giao nhiệm vụ sản xuất phục vụ yêu cầu tái thiết đất nước nhưng vẫn sản xuất các sản phẩm quốc phòng phục vụ chi viện cho miền Nam; mặt khác luôn sẵn sàng các phương án đối phó với cuộc chiến tranh leo thang của Mỹ ra miền Bắc. Nhiều khu công nghiệp, nhà máy quy mô lớn như Dệt 8-3, Cơ khí Trần Hưng Đạo, Gang thép Thái Nguyên - niềm tự hào của nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc lúc bấy giờ, bên cạnh việc góp phần phát triển kinh tế phục vụ đời sống dân sinh còn có những đóng góp tích cực, hiệu quả vào việc nâng cao sức mạnh quốc phòng.


Quán triệt đầy đủ và sâu sắc tư tưởng kết hợp xây dựng kinh tế với củng cô quốc phòng, quân, dân Việt Nam đã tạo ra được những bước phát triển về kinh tế. Theo đó tiềm lực quốc phòng cũng được tăng cường. Khi cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc, nền kinh tế của miền Bắc đã nhanh chóng chuyển từ trạng thái thời bình sang thời chiến, thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất với chiến đấu; bảo đảm vừa bảo vệ và tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm đời sống cho nhân dân, vừa bảo đảm chiến đấu thắng lợi, từng bước đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm tròn vai trò hậu phương lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.


Phát triển tư tưởng kết hợp xây dựng hậu phương cả nước với hậu phương tại chỗ, Đảng chủ trương kết hợp xây dựng kinh tế Trung ương với phát triển kinh tế địa phương. Điều này không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt kinh tế mà cả về mặt quốc phòng. Trong kháng chiến, đặc biệt là trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mỗi tỉnh, thành không những được xây dựng thành một pháo đài mà còn là một đơn vị mạnh về kinh tế, một hậu phương tại chỗ vững chắc. “Kinh tế địa phương không những có vị trí rất quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế quốc dân, mà còn rất quan trọng trong việc củng cố quốc phòng. Nó là cơ sở vật chất kỹ thuật cho chiến tranh nhân dân ở địa phương, là cơ sở hậu cần tại chỗ cho các lực lượng vũ trang, và là một bộ phận của tiềm lực quốc phòng của cả nước1 (Nghị quyết Quân ủy Trung ương, tháng 5-1969).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #96 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:39:46 pm »

Xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng là một vấn đề còn mới mẻ, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam cũng là một lực lượng nòng cốt. Bên cạnh nhiệm vụ chính là huấn luyện binh lính sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng tích cực tham gia sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế với những hình thức và khả năng có thể, nhằm tự túc một phần lương thực và thực phẩm, giảm bớt sự đóng góp của nhân dân. Quân đội tham gia xây dựng kinh tế cũng là một hình thức thể hiện của mối quan hệ giữa quốc phòng và kinh tế; giữa quân đội với hậu phương. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt và kéo dài, với chức năng chính là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, hình thức tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội nhân dân Việt Nam chủ yếu và phổ biến là tăng gia sản xuất tại chỗ. Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, Đảng chủ trương thành lập một số nông trường quân đội, một số tổ chức liên kết kinh tế giữa Quân chủng Hải quân với ngành thuỷ sản; giữa thông tin với bưu điện; giữa công binh với giao thông... Một số nhà máy quốc phòng, ngoài sản xuất các sản phẩm quốc phòng cũng tận dụng công suất máy móc và vật tư dư thừa để sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tại các vùng giải phóng, các căn cứ kháng chiến ở miền Nam, do không có điều kiện tổ chức được mô hình kinh tế kết hợp quốc phòng như ở miền Bắc, Đảng đã chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất, triệt để khai thác nguồn hậu cần tại chỗ.


Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, trước nhu cầu vật chất của chiến trường rất cao, trách nhiệm tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, nền kinh tế hậu phương lớn miền Bắc nói chung, lại càng nặng nề hơn, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà... tích cực tham gia sản xuất đế góp phần xây dựng kinh tế, xây dựng và củng cố hậu phương.


Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau vì đều nhằm làm cho quân đội ta ngày càng mạnh và miền Bắc ngày càng vững chắc”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.140).

Nói đến sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, trước hết phải nói đến sức mạnh quân sự. Sức mạnh quân sự trong tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân (1945- 1975) là sức mạnh của toàn dân đánh giặc, dựa vào nền tảng của chế độ xã hội mới, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Đây là điều khác biệt căn bản so với tư tưởng xây dựng quốc phòng của các nước khi mà họ cho rằng sức mạnh quân sự chủ yếu dựa vào sức mạnh của quân đội thường trực.


Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân được tạo thành bởi nhiều yếu tố: quân sự, chính trị, văn hoá, khoa học, tư tưởng, tổ chức cơ sở vật chất - kỹ thuật... Đó là sức mạnh tổng hợp được hình thành dưới sự lãnh đạo của Đảng và được điều hành bởi bộ máy tổ chức, quản lý của Nhà nước chuyên chính vô sản thông qua quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.


Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh tổng hợp, thể hiện toàn bộ sức mạnh mọi mặt của đất nước. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, toàn bộ sức mạnh tổng hợp đó đều được động viên, phát huy trên
tất cả các mặt trận của cuộc chiến tranh nhân dân để đánh bại đội quân nhà nghề xâm lược Pháp. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, trên cơ sở chế độ xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng trên phạm vi nửa nước, sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân ngoài việc động viên tập trung để tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nó còn được biểu hiện một phần quan trọng ở tiềm lực quốc phòng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tiềm lực đó dựa trên cơ sở nền tảng vững chắc của lực lượng thường trực làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; của các lực lượng chính trị và tinh thần, lực lượng kinh tế, lực lượng văn hoá và khoa học - kỹ thuật... Trong quá trình kháng chiến, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, Đảng chủ trương kết hợp chặt chẽ xây dựng đất nước với bảo vệ đất nước, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng lực lượng thường trực với xây dựng lực lượng hậu bị, giữa xây dựng lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc với xây dựng lực lượng tiềm tàng về mọi mặt của đất nước đáp ứng được yêu cầu động viên thời chiến.


Sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam nói chung, công cuộc củng cố quốc phòng nói riêng gắn liền với sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới. Mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến, mỗi bước củng cố tiềm lực quốc phòng không thể tách rời sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới; ngược lại, tiềm lực quốc phòng của Việt Nam được củng cố, phát triển bền vững cũng tức là một sự đóng góp tích cực của nhân dân Việt Nam vào cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương và cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nắm vững tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường cùng với giương cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế, quân và dân Việt Nam đã xây dựng được một nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, đủ sức đương đầu và đánh thắng hai tên đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nền quốc phòng đó không những góp phần giữ vững nền độc lập, tự do, thu giang sơn về một mối, mà còn mở ra một tiền đề mới, vận hội mới để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, xã hội chủ nghĩa; đưa Việt Nam trở thành một thành trì bất khả xâm phạm của cách mạng và hoà bình ở Đông Nam Á.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #97 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2021, 08:00:17 am »

Chương V
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM


I- BẠO LỰC CÁCH MẠNG TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG

Mối quan hệ giữa cách mạng và bạo lực cách mạng, bên cạnh mối quan hệ giữa quyền lực giai cấp và quân đội bảo vệ giai cấp, là chủ đề không hề mới trong nghiên cứu và thảo luận về chủ nghĩa Mác cũng như về các học thuyết cách mạng xã hội của thế kỷ XX. Thực vậy, trong hoàn cảnh của những nước thuộc địa phải tổ chức lực lượng cách mạng - kháng chiến chống lại những kẻ thù vượt trội hơn về tiềm lực quân sự, thì quá trình đấu tranh cách mạng nhất thiết cần đến công tác xây dựng và vận hành bạo lực cách mạng.


Bạo lực cách mạng là một trong những quan điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi vấn đề cơ bản nhất của cách mạng là vấn đề chính quyền, đó là công cụ để thay đổi chế độ. Giai cấp vô sản muốn giành lại chính quyền từ trong tay giai cấp tư sản nhất thiết phải dùng bạo lực cách mạng của quần chúng có tổ chức, từ đó đập tan bạo lực phản ánh cách mạng của giai cấp thống trị. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định “giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản"1 (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.612). Tư tưởng bạo lực cách mạng, như Lênin đã chỉ rõ, là nền móng của toàn bộ học thuyết của Mác và Ăngghen.


Học thuyết Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản đã khẳng định vai trò của bạo lực trong cách mạng, phân biệt bạo lực không chính nghĩa - phản cách mạng với bạo lực chính nghĩa - cách mạng, bạo lực của giai cấp bóc lột với bạo lực của quần chúng nhân dân. Bạo lực cách mạng là một phương thức để giải phóng giai cấp vô sản. Đối tượng của nó là toàn thể giai cấp phản động đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, hoặc cũng có thể là một chế độ chính trị xã hội đã lỗi thời. Còn bạo lực phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các giai cấp bóc lột chỉ dựa vào bộ máy trấn áp như: quân đội, cảnh sát, nhà tù. Cơ sở sức mạnh của bạo lực phản cách mạng là vũ khí và vật chất, nó không dựa vào quần chúng nhân dân. Do bản chất phi nghĩa, phản động chống lại nhân dân, nên bộ máy bạo lực của bọn đế quốc và giai cấp bóc lột càng được tăng cường, thì sự đối lập của nó với quảng đại quần chúng càng thêm sâu sắc, chỗ yếu cơ bản của nó ngày càng bị khoét sâu. Điều này xuất phát từ bản chất nội tại của nó.


Lênin đã từng nói: "Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được”1 (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.33, tr.28). Do đó, cách mạng bạo lực đóng vai trò tích cực, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển. Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã phân tích rõ: bạo lực cách mạng là những lực lượng, những công cụ và những hình thức đấu tranh biểu thị sức mạnh của cách mạng.


Vì vậy, trong cuốn Nhà nước và cách mạng, V.I. Lênin đã tổng kết: "Giải phóng giai cấp bị áp bức không những không thể thực hiện được nếu không tiến hành một cuộc cách mạng bạo lực, mà cũng không thể thực hiện được nếu không thủ tiêu bộ máy chính quyền nhà nước do giai cấp thống trị dựng nên"2 (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.33, tr.11). Tư tưởng cách mạng bạo lực phản ánh đúng đắn tính tất yếu khách quan của lịch sử xã hội loài người khi còn đối kháng giai cấp. Chủ nghĩa đế quốc dùng bạo lực phản cách mạng thì các dân tộc bị áp bức không có con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại.


Khẳng định con đường cách mạng bạo lực là quy luật phổ biến để giành chính quyền, không có nghĩa coi bạo lực là nguyên nhân phát triển của xã hội. Bạo lực là bà đở cho xã hội cũ đang thai nghén xã hội mới, là phương tiện của cách mạng để giành chính quyền cách mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không cho rằng có thể sử dụng các hình thức đấu tranh bạo lực trong mọi điều kiện và cũng không bác bở các hình thức đấu tranh khác. Trong quá trình đấu tranh theo con đường cách mạng bạo lực thì nhất thiết phải sử dụng bạo lực cách mạng để giành chính quyền. Nhưng khi chỉ đạo cụ thể, phải sử dụng các hình thức đấu tranh bạo lực một cách thích hợp, phù hợp với các điều kiện cụ thể, đồng thời vận dụng các hình thức đấu tranh khác. Lênin đã từng nói rằng, trong quá trình vận động cách mạng, phải ra sức học tập mọi hình thức đấu tranh, tìm ra những hình thức phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể để đưa phong trào tiến lên, tạo điều kiện để khi vấn đề giành chính quyền cách mạng được trực tiếp đặt ra thì dùng bạo lực cách mạng đế đập tan chính quyền của giai cấp thống trị cũ, lập chính quyền cách mạng.


Khi chính quyền đã về tay nhân dân, Lênin tiếp tục nhấn mạnh: phải tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng để đập tan sự phản kháng của giai cấp bóc lột và những âm mứu phục hồi của chúng, đồng thời, phải xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thì mới giữ vững được chính quyền cách mạng, bảo đảm thắng lợi hoàn toàn và triệt để của chủ nghĩa xã hội. Từng bước xây dựng thành công chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa cũng chính là từng bước tăng cường sức mạnh mọi mặt của bạo lực cách mạng.


Thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã minh chứng những luận điểm trên đây của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ rất sớm, trên con đường tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Người khẳng định cách mạng thuộc địa phải giữ vững tính chủ động và phải được thực hiện bằng bạo lực cách mạng, bạo lực của quần chúng nhân dân được giác ngộ, được tổ chức theo một đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ.


Trong điều kiện Việt Nam bấy giờ là một nước thuộc địa nửa phong kiến, sự giác ngộ cách mạng của nhân dân chưa cao, lực lượng làm cách mạng chưa nhiều vì vậy khởi nghĩa (nổi dậy của quần chúng) là hình thức thích hợp nhất. Trong cuốn Đường Cách mệnh - xuất bản vào năm 1927, Hồ Chí Minh khẳng định: phải vận động, tổ chức nhân dân, phải thành lập Đảng trang bị tư tưởng Mác - Lênin. Đảng phải thật sự là đội tiên phong lãnh đạo nhân dân đấu tranh bằng mọi hình thức để khi có thời cơ là nổi dậy tổng khời nghĩa.


Mác - Ăngghen - Lênin đã nói tới tổng khởi nghĩa bao gồm những cuộc khởi nghĩa vũ trang của giai cấp vô sản hiện đại trong các trung tâm công nghiệp, thành phố trong một nước hay nổ ra đồng thời ở nhiều nước tư bản phát triển. Quan niệm tổng khởi nghĩa của Lênin là sự cụ thể hoá chủ nghĩa Mác ở một nước đang phát triển, trong đó về lực lượng, ngoài việc nhấn mạnh giai cấp công nhân còn thêm nông dân, binh lính và quân đội cách mạng, và trong khởi nghĩa, đấu tranh vũ trang được đặt lên hàng đầu. Tiếp thu và nghiên cứu phương pháp cách mạng bạo lực dưới hình thức tổng khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc đã có sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên vấn đề này.


Kế thừa truyền thống toàn dân đánh giặc của dân tộc, vận dụng nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề phải dựa vào dân, có dân là có tất cả. Người chỉ rõ bạo lực cách mạng phải là bạo lực của quần chúng đông đảo. Tư tưởng cơ bản nhất về chiến tranh toàn dân đã được Người nêu ra trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là: "cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507). Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Phát triển luận điểm này, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra đúng đắn động lực cách mạng, bầu bạn cách mạng ở trong và ngoài nước. Tính nhân dân trong cách mạng giải phóng dân tộc, theo quan điểm của Đảng, đó là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dựa trên hai động lực chính là công nhân, nông dân và sự liên minh giữa hai giai cấp đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #98 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2021, 08:01:58 am »

1. Tư tưởng về bạo lực cách mạng trong chiến tranh Việt Nam

Từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị của chúng lên đất Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh quyết liệt, nhưng vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, các phong trào cách mạng khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đều lần lượt thất bại. Ngay sau khi ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2-1930) cũng như Luận cương tháng 10-1930, Đảng ta đã khẳng định và chỉ ra con đường để đạt đến mục tiêu cách mạng đó là con đường cách mạng bạo lực. Bước phát triển của phong trào cách mạng cần phải có những phương pháp thích hợp. Ví dụ như trong thời gian đầu, khi chưa có tình thế trực tiếp cách mạng, Đảng phải lãnh đạo quần chúng, từng bước giác ngộ và tổ chức quần chúng tập dượt đấu tranh từ thấp đến cao, chuẩn bị cơ sở quần chúng để khi điều kiện chín muồi thì tiến lên khởi nghĩa vũ trang. Luận cương chính trị của Đảng nêu rõ: Nhiệm vụ của Đảng là phải lấy những nhu yếu hàng ngày làm bước đầu mà dẫn dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mạng. Đến lúc sức cách mạng lên rất mạnh, giai cấp thống trị đã rung động, các giai cấp đứng giữa đã muốn bổ về phe cách mạng, quần chúng công nông thì sôi nổi cách mạng, quyết hy sinh phấn đấu, thì Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh đổ chính phủ của địch nhân và giành lấy chính quyền cho công nông.


Trong những năm 1930 - 1931, phong trào cách mạng của quần chúng đã dấy lên khắp cả nước, hàng trăm cuộc bãi công của công nhân và biểu tình của nông dân đã liên tiếp nổ ra, đỉnh cao nhất của phong trào là Xôviết Nghệ - Tĩnh. Nổi dậy của quần chúng công nông, lật đố chính quyền của địch ở một số vùng nông thôn và lập ra chính quyền cách mạng của nhân dân dưới hình thức Xôviết. Thành quả to lớn của nó là lần đầu tiên ở Việt Nam, phong trào nông dân đã kết hợp chặt chẽ với phong trào công nhân, liên minh công - nông được thực hiện, quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân mà đại biểu là Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định. Đó là bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng bạo lực.


Trong những năm 1936 - 1939, sau khi trải qua bước thoái trào, cách mạng chuyển sang thời kỳ vận động dân chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi đã diễn ra rộng khắp, quần chúng cách mạng đã vận dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp kết hợp với đấu tranh bí mật và bất hợp pháp, chống lại bọn phản động thuộc địa, vua quan phong kiến, đòi quyền tự do, dân chủ. Đảng đã động viên và giáo dục chính trị cho hàng triệu quần chúng, củng cố và phát triển các cơ sở đảng và cơ sở quần chúng, chuẩn bị điều kiện cần thiết để đưa quần chúng vào những trận chiến đấu quyết liệt mới trong thời kỳ 1940 - 1945.


Trước tình hình đó, Đảng đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, lập ra Mặt trận Dân tộc thống nhất để tập hợp rộng rãi mọi lực lượng cách mạng của quần chúng và đề ra nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa vũ trang. Đảng khẳng định: Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện nay là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuộc cách mạng đó "phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang". Đồng thời, Mặt trận Độc lập đồng minh (gọi tắt Việt Minh) được thành lập.


Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (9-1940 - 1-1941) ba cuộc khởi nghĩa vũ trang đã liên tiếp nổ ra ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam (Bắc Sơn, Đô Lương, Nam Kỳ), cho thấy tinh thần sục sôi cách mạng của quần chúng. Tiếng súng khởi nghĩa báo hiệu một thời kỳ mới của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, thời kỳ kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.


Sau khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, lực lượng vũ trang cách mạng được tổ chức thành Đội du kích Bắc Sơn. Đồng thời Khu du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai cũng được xây dựng. Mặc dù bị địch càn quét, khủng bố nhiều lần, Đội du kích vẫn phát triển, các đội Cứu quốc quân I, II, III kế tiếp nhau ra đời, và ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động. Đồng thời theo Nghị quyết cua Hội nghị Trung ương lần thứ tám và chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, một khu căn cứ cách mạng mới được xây dựng ở Cao Bằng, rồi phát triển dần xuống Bắc Kạn, Lạng Sơn và bắt liên lạc với Khu du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập với nhiệm vụ tuyên truyền giác ngộ quần chúng hoạt động vũ trang kết theo phương châm "chính trị trọng hơn quân sự".


Ngày 9-3-1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, cao trào kháng Nhật cứu nước của toàn dân ta dâng lên mạnh mẽ. Hoạt động vũ trang nổi bật lên ở nhiều nơi luôn đi đôi với phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn. Quần chúng đã nổi dậy khời nghĩa từng phần ở những nơi có điều kiện. Việt Nam Giải phóng quân được thành lập trên cơ sở thống nhất giữa Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và nhiều tổ chức vũ trang khác, ở nhiều địa phương các khu du kích và căn cứ du kích được xây dựng. Đến tháng 6, khu giải phóng được thành lập bao gồm 6 tỉnh của Việt Bắc, trở thành căn cứ địa cách mạng chung của cả nước. Cao trào chuẩn bị, xây dựng lực lượng đã có tác dụng tập dượt thiết thực cho quần chúng cách mạng, chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện để tiến lên tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.


Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo trước đó về tiềm lực cách mạng, như xây dựng và mở rộng căn cứ địa, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang và tập dượt phong trào đấu tranh của đông đảo quần chúng mà đến tháng 8-1945, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã kịp thời nắm lấy thời cơ khi phát xít Nhật sụp đổ, lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Khi chính quyền dân chủ cộng hoà của Việt Nam vừa ra đời, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Do đó, nhiệm vụ lúc này là đấu tranh vũ trang lâu dài và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ. Trong quá trình thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài, đường lối quân sự của Đảng từng bước được hoàn chỉnh.


Như vậy, thời kỳ này chủ yếu là thời kỳ đấu tranh chính trị, chưa phải là thời kỳ trực tiếp cách mạng. Tuy nhiên, Đảng cũng đã xác định một số quan điểm rất cơ bản về khởi nghĩa vũ trang, về xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Coi khởi nghĩa vũ trang là sự nghiệp của đông đảo quần chúng, trước hết là quần chúng công - nông, Đảng nhấn mạnh phải lấy việc vận động quần chúng làm điều cốt yếu, phải thâu phục quảng đại quần chúng để cuộc bạo động trong tương lai chắc chắn giành thắng lợi. Quan điểm của Đảng là: Phải lấy việc xây dựng lực .lượng chính trị của quần chúng làm nền tảng, đồng thời coi trọng việc huấn luyện quân sự cho quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang của quần chúng và vận động binh lính địch. Đảng chỉ rõ: "Muốn làm cho trọn nhiệm vụ của Đảng trong cuộc cách mạng, trước hết Đảng cần phải: tổ chức ra những đoàn thể độc lập (công hội, nông hội, v.v.)1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.100). Đồng thời, cần phải lập ra Công nông tự vệ đội để bảo vệ anh em lao động trong lúc đình công, hội họp, thị oai, tuần hành... Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (10-1930) nêu vấn đề: "tổ chức bộ quân sự của Đảng để:

- Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện.

- Giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ.

- Vận động trong quân đội của bọn địch nhơn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.116).


Đảng cũng xác định rõ phương hướng và một số nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang là trên cơ sở các đội tự vệ, tiến lên xây dựng các đội du kích đế tiến hành "du kích chiến tranh, võ trang bạo động", sau khi giành được chính quyền thì xây dựng "Hồng quân của Nhà nước Xôviết công nông"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.96) và "Luôn luôn phải giữ tính chất cách mạng của Đội Tự vệ,... giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong Tự vệ thường trực"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.95) để bảo đảm nắm chắc được lực lượng vũ trang. Vấn đề này tiếp tục được Đảng khẳng định trong thời kỳ trực tiếp đấu tranh giành chính quyền. Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, thực dân Pháp lúc này thi hành chính sách phát xít hóa bộ máy cai trị và thẳng tay đàn áp, bóc lột nhân dân Đông Dương. Sau đó, Nhật nhảy vào xâm chiếm Đông Dương, đặt nhân dân ba nước Đông Dương vào tình thế một cổ hai tròng. Tình hình đó khiến cho các dân tộc Đông Dương thấy rõ đã đến lúc phải đứng lên đấu tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #99 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2021, 08:02:36 am »

Từ năm 1954, đế quốc Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn sử dụng bộ máy cảnh sát, quân đội ra sức đàn áp nhân dân miền Nam. Nhân dân miền Nam không thể tiếp tục đấu tranh hoà bình với địch mà chỉ có một con đường duy nhất là sử dụng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng. Thực tiễn cách mạng miền Nam đã minh chứng con đường bạo lực cách mạng mà nhân dân miền Nam đã chọn là đúng đắn. Việt Nam đã sử dụng sáng tạo cách mạng bạo lực, xuất phát từ mục tiêu chính trị của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, từ đó xác định nhiệm vụ quân sự và thực hiện nhiệm vụ quân sự đạt được mục tiêu chính trị. Có thể nói rằng, việc quán triệt sâu sắc quan điểm bạo lực cách mạng cũng chính là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng.


Xuất phát từ tư tưởng bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng, Đảng đã đề ra và giải quyết các vấn đề về khởi nghĩa và vũ trang trong chiến tranh. Quan điểm khởi nghĩa vũ trang toàn dân, quan điểm chiến tranh nhân dân chính là sự phát triển của tư tưởng bạo lực cách mạng của Đảng, là thể hiện quan điểm bạo lực của quần chúng trong chiến tranh.


Lực lượng vũ trang bắt nguồn từ lực lượng chính trị của quần chúng cách mạng, từ những tổ chức chính trị của quần chúng, gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Điểu đó nói lên tính nhân dân sâu sắc của lực lượng vũ trang cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đặc biệt coi trọng bản chất cách mạng, bản chất giai cấp của lực lượng vũ trang, xem đây là vấn đề mang tính nguyên tắc trong lý luận xây dựng lực lượng vũ trang và là nguồn gốc sức mạnh của các lực lượng vũ trang. Chính vì vậy, Đảng đề cao vai trò công tác đảng, công tác chính trị trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang; luôn giữ vững, củng cố và tăng cường công tác chính trị, tăng cường giáo dục tư tưởng vô sản, coi đó là công tác hàng đầu. Trong lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng không bao giờ chấp nhận quan điểm chỉ coi trọng quân chủ lực, mà xem nhẹ bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, chỉ thấy quân đội mà không thấy nhân dân... Đồng thời, trong lý luận quân sự của Đảng hết sức coi trọng vai trò của hậu phương trong chiến tranh.


Sức mạnh của hậu phương - căn cứ địa trong 30 năm chiến tranh (1945 - 1975), trước hết là sức mạnh đoàn kết, nhất trí của quần chúng nhân dân, khi cần thiết có thể hy sinh cả tính mệnh của mình phục vụ cho chiến tranh cách mạng, vì lợi ích của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên vấn đề này, ngay từ đầu và trong suốt quá trình lãnh đạo toàn dân, toàn quân kháng chiến, Đảng đã giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn về hậu phương và căn cứ địa trên cơ sở của quan điểm bạo lực cách mạng, bạo lực quần chúng. Trước hết, phải ra sức xây dựng, củng cố hậu phương vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt coi trọng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, nâng cao tinh thần yêu nước; không ngừng củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng; chú trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng, kết hợp yêu cầu thời bình với yêu cầu thời chiến.


Khẳng định bạo lực cách mạng là quy luật chung cho mọi cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng biểu hiện của bạo lực cách mạng ở mỗi nước không giống nhau. Ví dụ như Cách mạng Tháng Mưòi Nga được tiến hành bằng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở đô thị trước, sau đó mới tỏa về nông thôn nắm chính quyền. Còn ở Việt Nam và Trung Quốc, cuộc cách mạng bạo lực có nét tương đồng: việc giành chính quyền về tay giai cấp công nhân được thực hiện trong cách mạng dân tộc dân chủ, lấy nông dân làm quân chủ lực của cách mạng và giai cấp vô sản đóng vai trò lãnh đạo.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài - một cuộc cách mạng bạo lực sử dụng kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh chính trị làm chính. Khi đã giành được chính quyền, nhân dân Việt Nam còn phải trải qua một cuộc kháng chiến lâu dài để bảo vệ và giữ vững chính quyền đó. Khi đất nước chưa hoàn toàn giải phóng, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân Việt Nam đã dùng hình thức đấu tranh chính trị song song kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn.


Có thể nói, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ là sự vận dụng tư tưởng bạo lực cách mạng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo, khi thì lấy bạo lực chính trị của quần chúng làm chính kết hợp với bạo lực vũ trang như trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, khi thì lấy bạo lực vũ trang làm chính trong cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp, khi thì kết hợp song song cả hai hình thức trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Đó là sự sáng tạo về chỉ đạo chiến lược, chiến thuật của ọảng và nhân dân Việt Nam trong 30 năm chiến tranh cách mạng. Giải quyết đúng đắn sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang là một trong những vấn đề chỉ đạo chiến lược hết sức quan trọng của Đảng. Thực tế trên chiến trường, sự kết hợp đó đã phát triển đến trình độ cao, tạo thành những nét điển hình và độc đáo trong lý luận về chiến tranh nhân dân của Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ở miền Nam, các lực lượng vũ trang cách mạng luôn kết hợp hoạt động tác chiến quân sự với đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân và hỗ trợ một cách tích cực cuộc đấu tranh chính trị đó. Đồng thời, nhờ sự phát triển của đấu tranh chính trị của nhân dân, mà lực lượng vũ trang phát triển và sáng tạo ra các thủ đoạn chiến thuật, các hình thức tác chiến hiệu quả...


Nhìn chung, trong quan niệm của Đảng, bạo lực cách mạng phải do đảng của giai cấp vô sản tổ chức và lãnh đạo. Vì thế, chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. V.I. Lênin đã từng bàn về tính chất giai cấp của chuyên chính vô sản: "Nhà nước và vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa tất nhiên phải đưa đến chỗ thừa nhận sự thống trị của giai cấp vô sản, chuyên chính của giai cấp đó tức là một chính quyền mà nó không chia sẻ cho ai hết và trực tiếp dựa vào lực lượng vũ trang của quần chúng...". Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy bạo lực cách mạng phải do chính đảng vô sản tổ chức và lãnh đạo mới thể hiện đầy đủ tính cách mạng triệt để, tính giai cấp sâu sắc và mới tạo ra sức mạnh đủ để đập tan bạo lực phản cách mạng của giai cấp bóc lột. Trong quá trình đấu tranh cách mạng Việt Nam, tư tưởng bạo lực cách mạng, tư tưởng quân sự của Đảng, nền khoa học quân sự Mác - Lênin, lý luận quân sự Việt Nam cũng ra đời và phát triển trong quá trình đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM