Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười Một, 2021, 05:54:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 1659 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2021, 08:42:35 pm »

2. Lòng dân - nền tảng chính trị của căn cứ địa - hậu phương

Tư tưởng xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh trong bối cảnh xây dựng chế độ mới là một hệ thống thống nhất bao gồm nhiều nội dung, trong đó xây dựng căn cứ lòng dân là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Cách mạng là sự nghiệp của toàn dân tộc. Sức mạnh của căn cứ địa - hậu phương chiến tranh trước hết và chủ yếu là ở lòng dân. Nói cách khác, sự ủng hộ của toàn dân đối với Đảng và Cách mạng là nền tảng chính trị vững chắc nhất của căn cứ địa - hậu phương. Cuộc chiến tranh giải phóng (1945-1975) là một cuộc chiến tranh nhân dân, bởi ỵậy để xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh nhất thiết phải dựa vào dân, huy động sức mạnh toàn diện của nhân dân, biết khơi dậy lòng yêu nước trong nhân dân, biết cố kết toàn dân thành một khối đoàn kết thống nhất để tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn.


Trong khi nhiều nước trên thế giới lấy xây dựng về quân sự làm chính, thì tư tưởng về xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh của Việt Nam lại xác định xây dựng về chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Sự giác ngộ cách mạng, tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của nhân dân cùng với tính ưu việt của chế độ, sự vững chắc của các tổ chức chính trị, của quần chúng cách mạng là động lực, là nền tảng cho sự phát triển vững chắc của căn cứ địa - hậu phương chiến tranh là cơ sở đế xây dựng chế độ mới trong chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.281).


Công tác xây dựng căn cứ địa - hậu phương về chính trị là một chỉnh thể thống nhất hàm chứa nhiều nội dung. Đó là: phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động và tổ chức quần chúng; nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ cho nhân dân; làm cho quần chúng nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, thấu triệt được trách nhiệm xây dựng và bảo vệ căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh. Đó là: không ngừng phát triển và củng cố tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng đối với các hoạt động xây dựng và bảo vệ căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh. Đó là: giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, ra sức củng cố khối liên minh công - nông, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, lấy đó làm chỗ dựa để huy động sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp xã hội trong cả nước tham gia vào các hoạt động xây dựng và bảo vệ căn cứ địa - hậu phương. Đó còn là quá trình thực hiện đúng đắn các chính sách dân tộc, tôn giáo, chăm lo các đối tượng chính sách; triệt để thực hiện chính sách ruộng đất, thực hiện công bằng xã hội...


Nhờ quán triệt và thực hiện tốt xây dựng căn cứ địa - hậu phương về chính trị, vận động được lòng dân, mà trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), tại các căn cứ địa - hậu phương tại chỗ, hậu phương lớn của cả nước, đã động viên được các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến và kiến quốc; củng cố và phát huy được vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức chính quyền, mặt trận, đoàn thể quần chúng, lực lượng vũ trang nhân dân.


Nói đến xây dựng căn cứ lòng dân, tức là phải xác định đúng đắn vai trò to lớn của quần chúng nhân dân; xác định rõ phương thức, phương pháp lôi cuốn, tập hợp nhân dân tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh. Muốn lôi cuốn, tập hợp được nhân dân cần phải có một đường lối chính trị đúng đắn, hợp lòng dân, một tổ chức lãnh đạo biết quy tụ, cố kết lòng dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đường lối chính trị được xác định là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đó đã đáp ứng được mong muốn ấm no, hạnh phúc của người dân Việt Nam. Đề ra và tổ chức thực hiện đường lối chính trị đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh quy tụ, cố kết lòng dân phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với dân. Đảng phải làm cho dân tin Đảng, yêu Đảng và đi theo Đảng đến cùng. Đảng vừa là người lãnh đạo, nhưng đồng thời cũng là người đầy tó trung thành của nhân dân.


Tiềm lực kháng chiến, tiềm lực xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh nằm ở trong dân là vô cùng to lớn. Để huy động được tiềm lực đó, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Trong chiến tranh, công tác tuyên truyền vận động quần chúng thực sự là một cuộc đấu tranh quyết liệt để giành dân, giữ đất, tập hợp và hướng hoạt động của người dân vào thực hiện mục tiêu giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới. Hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động quần chúng được thể hiện ở việc “làm cho dân ta có tín tâm và quyết tâm”.


Vấn đề động viên sức dân để xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh cách mạng đồng thời phải được tiến hành song song với củng cố sức dân, chăm lo đến đời sống nhân dân. Đây cũng chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng “khoan thư sức dân làm kê sâu rễ bền gốc” của cha, ông ta trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, để hiện thực hoá tư tưởng đó, Đảng ta đã thực hiện từng bước chính sách ruộng đất; tiến hành giảm tô, giảm tức; tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ chia cho dân nghèo; xây dựng nền dân chủ mới, xây dựng nếp sống mới, con người mới; không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tại các vùng tự do ở Khu 4, Khu 5, các căn cứ địa Đồng Tháp Mười, U Minh, Việt Bắc... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Bắc, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục xây dựng các công trình phúc lợi tập thể, tổ chức mô hình hợp tác xã, chú trọng đầu tư cho giáo dục, y tế, phát triển thương nghiệp quốc doanh. Tại các vùng giải phóng, khu căn cứ ở miền Nam, đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng được cải thiện đáng kể nhờ chính sách kinh tế kháng chiến đúng đắn của Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.


Thời kỳ đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ cùng với việc phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, quân và dân ở chiến trường Nam Bộ và Trung Bộ đã từng bước xây dựng, củng cố và mở rộng nhiều vùng căn cứ trên cơ sở của những căn cứ có từ trong kháng chiến chống Pháp như các chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Rừng Sác, Đồng Tháp Mười, U Minh... biến các căn cứ này thành nơi bảo tồn, gìn giữ lực lượng. Từ sau cao trào Đồng khởi, vùng giải phóng, hậu phương tại chỗ ngày càng được mở rộng. Các khu căn cứ trên được Trung ương Cục miền Nam tăng cường củng cố, phát triển thành địa bàn đứng chân và hoạt động của các đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên ở miền Nam. Ngoài ra, nhiều vùng được củng cố làm bàn đạp vững chắc cho các cơ quan lãnh đạo của khu, tỉnh, nơi tập kết các đơn vị vũ trang và hậu cần ngày đêm áp sát các mục tiêu của địch. Cho dù các căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở quy mô, cấp độ nào cũng đều chủ trương xây dựng cơ sở chính trị thật vững mạnh, tích cực phát triển lực lượng vũ trang, gắn hoạt động chiến đấu với xây dựng, phát triển sản xuất, dự trữ hậu cần; giữ vững an ninh trật tự, bảo đảm an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến và nhân dân.


Trong 30 năm chiến tranh (1945-1975), tư tưởng dựa vào dân, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh tổng hợp to lớn của nhân dân đã mang lại hiệu quả to lớn và thiết thực cho quá trình xây dựng và không ngừng mở rộng căn cứ địa - hậu phương; xây dựng chế độ mới trong chiến tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2021, 08:43:29 pm »

3. Xây dựng căn cứ địa - hậu phương về quân sự

Cùng với xây dựng và củng cố căn cứ địa - hậu phương về chính trị là đẩy mạnh xây dựng và củng cố căn cứ địa - hậu phương về quân sự. Trong xây dựng về quân sự thì việc vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân và bố trí thế trận một cách hợp lý là những yếu tố quan trọng giúp cho căn cứ địa - hậu phương có đủ sức mạnh đánh bại mọi cuộc hành quân lấn chiếm, càn quét hoặc tiến công đủ mọi quy mô của đối phương; đồng thời làm bàn đạp xuất phát cho lực lượng vũ trang mở các cuộc phản công, tiến công vào tận sào huyệt của đối phương.


Kế thừa và phát triển tư tưởng “Ngụ binh ư nông’' trong lịch sử quân sự dân tộc, trong quá trình xây dựng và củng cố căn cứ địa - hậu phương về quân sự, việc phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân phải được triển khai một cách hợp lý, sao cho vừa đảm bảo đủ lực lượng chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa - hậu phương, vừa không ảnh hưởng đến hoạt động kiến quốc, phát triển kinh tế.


Chiến tranh càng leo thang, yêu cầu cơ động về lực lượng vận chuyển, phương tiện chiến tranh trên các chiến trường và yêu cầu tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương lớn đến các hậu phương tại chỗ ngày càng cao. Chính vì vậy, trong xây dựng căn cứ địa - hậu phương về quân sự còn bao gồm cả việc tổ chức chiến trường một cách hợp lý (điều này được thể hiện trong từng căn cứ, cũng như trong hệ thống liên hoàn nhiều căn cứ); xây dựng làng xã chiến đấu; xây dựng mạng lưới bảo đảm hậu cần, mạng lưói giao thông chiến lược và chiến dịch; hệ thống kho tàng, bến bãi... Đặc biệt, trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ, xây dựng căn cứ địa - hậu phương về quân sự còn bao gồm cả việc bố trí thế trận phòng không, phòng hoá, chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp...


Đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Để có thể đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh, vấn đề xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế cũng đặc biệt được coi trọng. Nó được xác định là “chìa khoá” để duy trì và phát triển tiềm lực chiến tranh. Theo đó, nền kinh tế của căn cứ địa - hậu phương chung của cả nước cũng như kinh tế của các căn cứ địa - hậu phương tại chỗ phải bắt nhịp được quá trình phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng. Xây dựng căn cứ địa hậu phương về kinh tế không chỉ đáp ứng yêu cầu của chiến trường mà còn để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần tạo nên sự ưu việt hơn hẳn giữa các vùng giải phóng với các vùng địch kiểm soát; củng cố được ảnh hưởng và uy tín của chế độ mới; làm cho nhân dân phấn khởi và tin tưởng để rồi từ đó ra sức xây dựng quê hương, đất nước, góp sức củng cố, xây dựng căn cứ địa - hậu phương; đóng góp ngày càng nhiều hơn cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #82 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2021, 08:44:16 pm »

4. Xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế

Xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế trong điều kiện chiến tranh không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế một chiều mà cần phải có sự kết hợp giữa hai mặt xây và chống; “phải bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch” làm cho kinh tế của ta không ngừng lớn mạnh, kinh tế của địch không ngừng suy yếu”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.173).


Trong xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế, cần phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh là chính; đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tranh thủ tối đa và sử dụng hiệu quả, hợp lý sự giúp đỡ quốc tế... xây dựng một nền kinh tế tự cấp, tự túc. Đây chính là nền tảng căn bản để khôi phục nền kinh tế trong và sau chiến tranh; chấn hưng văn hoá; nâng cao đời sống cho nhân dân.


Quá trình xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế diễn ra thường xuyên, liên tục và phong phú. Tuy nhiên, quy mô và hiệu quả còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nơi. Quá trình đó được tiến hành song song với quá trình cải tạo từng bước quan hệ sản xuất, nó phản ánh được quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Xây dựng, củng cố căn cứ địa - hậu phương về kinh tế còn là quá trình đẩy mạnh tăng gia sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí.


Xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế đã tạo cho từng vùng, từng địa phương tự túc được “cái ăn, cái mặc”; đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi thiết yếu của nhân dân và lực lượng vũ trang tại chỗ, đồng thời tích luỹ được một lượng dự trữ vật chất nhất định bảo đảm nhu cầu cho các đơn vị chủ lực đứng chân trên địa bàn và có thể chi viện cho các địa phương khác khi có yêu cầu.


Trong quá trình xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế, Đảng chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm nhưng đồng thời cũng tranh thủ phát triển các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là quan tâm phát triển các cơ sở công nghiệp quốc phòng với quy mô và trình độ thích hợp để đáp ứng kịp thời yêu cầu về trang bị, vũ khí cho lực lượng vũ trang trong các bước phát triển của chiến tranh.


Trong hai cuộc kháng chiến, quán triệt tư tưởng xây dựng căn cứ địa - hậu phương về kinh tế, đã đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp thích hợp nhằm khuyến khích phong trào tăng gia sản xuất trong nhân dân; động viên được sức người, sức của một cách hợp lý; bảo đảm được sự hài hoà giữa yêu cầu vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, vừa đáp ứng được nhu cầu trước mắt, vừa bồi dưỡng sức dân để kháng chiến trường kỳ. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kịp thời có những chủ trương, chính sách đúng đắn và kiên quyết để đấu tranh có hiệu quả với các chính sách bao vây, cấm vận về kinh tế của đối phương; vừa bảo vệ được các hoạt động xây dựng kinh tế kháng chiến, vừa hạn chế và vô hiệu hoá được các hoạt động phá hoại kinh tế của đối phương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #83 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2021, 08:44:55 pm »

5. Xây dựng căn cứ địa - hậu phương về văn hóa

Cùng với xây dựng căn cứ địa - hậu phương về chính trị, quân sự và kinh tế, thì xây dựng căn cứ địa - hậu phương về văn hoá cũng là một nội dung quan trọng, góp phần làm cho các nội dung tư tưởng nêu trên được hiện thực hoá một cách hiệu quả và bền vững, làm cho căn cứ địa, hậu phương thêm vững chắc. Văn hoá mà Đảng ta chủ trương xây dựng là một nền văn hoá gắn liền với kháng chiến, phục vụ kháng chiến, phục vụ đời sống của các tầng lớp nhân dân. Do đó “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.368).


Xây dựng căn cứ địa - hậu phương về văn hoá đồng nghĩa với việc xoá bỏ các tàn tích của nền “văn hoá ngu dân” và các tệ nạn xã hội do thực dân, phong kiến để lại, đồng thời xây dựng một nền văn hoá cách mạng “dân tộc, khoa học và đại chúng”. Để đạt được điều đó, trước hết là phát động toàn dân xoá nạn mù chữ, phát triển phong trào bổ túc văn hoá, từng bước thực hiện cải cách giáo dục. Cùng với đó là đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, nghệ thuật nhằm nâng cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, yêu chế độ của người dân; quan tâm phát triển sự nghiệp y tế, chăm lo sức khoẻ cho nhân dân; tổ chức cứu tế xã hội, đề cao tinh thần “nhường cơm sẻ áo” cho nhau trong nhân dân; thường xuyên phát động phong trào thi đua yêu nước trong mọi tầng lớp, mọi cấp, mọi ngành... Những việc làm đó, một mặt là nhằm động viên quân và dân ở các căn cứ địa, ở hậu phương lớn của cả nước cũng như hậu phương tại chỗ, hăng hái lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu; mặt khác là góp phần củng cố chế độ mới - một chế độ ưu việt của dân, do dân và vì dân.


Phương châm xây dựng căn cứ địa - hậu phương về vãn hoá được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.173).


Quá trình xây dựng, củng cố căn cứ địa, hậu phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) cũng đồng thời là quá trình xây dựng và củng cố chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ nhân dân ngay trong chiến tranh, và ngược lại, xây dựng, củng cố chế độ xã hội mới trong chiến tranh cũng chính là góp phần củng cố căn cứ địa - hậu phương vững mạnh. Xây dựng chế độ xã hội mới trong chiến tranh còn tạo nền tảng vững chắc để xây dựng, kiến thiết đất nước sau khi chiến tranh kết thúc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #84 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2021, 09:37:46 pm »

6. Xây dựng căn cứ địa cách mạng tại chỗ

Để có thể động viên và phát huy đến mức cao nhất tiềm lực của cả nước, của địa phương trong quá trình xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến tranh cần phải đồng thời kết hợp được xây dựng hậu phương tại chỗ khắp nơi với xây dựng hậu phương chung của cả nước. Công tác xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh không những đáp ứng được yêu cầu kháng chiến và kiến quốc của từng vùng, từng địa phương, từng chiến trường, góp phần bồi dưỡng sức dân để trường kỳ kháng chiến, mà còn tạo điều kiện phát huy tối đa khả năng huy động nguồn lực tại chỗ, đồng thời hình thành thế trận cài răng lược trên các chiến trường. Trong điều kiện địa - quân sự không mấy thuận lợi cho việc tiếp tế, chi viện thì xây dựng hậu phương tại chỗ còn tiết kiệm được sức người, sức của, góp phần chia sẻ bớt gánh nặng cho hậu phương chiến lược, để hậu phương chiến lược tập trung giải quyết những nhu cầu lớn và quan trọng mà hậu phương tại chỗ không đáp ứng được.


Thấu triệt quan điểm, chiến lược đoàn kết quốc tế, xây dựng căn cứ địa - hậu phương tại chỗ phải đáp ứng được yêu cầu củng cố liên minh chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Việt Nam đã tạo được sự liên thông, hỗ trợ chi viện lẫn nhau, hình thành Mặt trận Đông Dương chống Mỹ. Với tinh thần đó, trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta xác định: “Hết sức tích cực xây dựng hậu phương tại chỗ, mở rộng và củng cố căn cứ địa chiến lược trên các chiến trường. Vấn đề này là một trong những nhân tố quyết định quan trọng bậc nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến ở miền Nam cũng như ở hai nước Campuchia và Lào”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.248).


Chiến tranh càng phát triển lên những tầng nấc mới thì càng đòi hỏi căn cứ địa - hậu phương cho cuộc chiến tranh ấy cũng phải có sự phát triển tương ứng để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được đặt ra liên tục trong bối cảnh tiêu hao trực tiếp các nguồn lực cho chiến tranh. Vì vậy, cùng với việc tích cực củng cố và xây dựng căn cứ địa hậu phương tại chỗ ở khắp nơi, Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng căn cứ địa - hậu phương chung cho cả nước. Đây là hai mặt của một vấn đề, cũng là đòi hỏi tất yếu của cuộc chiến tranh nhân dân.


Từ chiến tranh du kích phát triển lên chính quy, nhu cầu về trang bị vũ khí hiện đại cho lực lượng vũ trang, nhu cầu về vật chất và tinh thần cho mặt trận đặt ra hàng loạt vấn đề mà căn cứ địa - hậu phương tại chỗ không thể đáp ứng được. Do đó, xây dựng được căn cứ địa hậu phương chung vững mạnh không những tạo được chỗ đứng chân an toàn cho “bộ thống soái tối cao”, cho các lực lượng dự bị chiến lược; giải quyết vấn đề cung cấp sức người, sức của cần thiết để đẩy mạnh hoạt động tác chiến tập trung trên các chiến trường mà qua đó hậu phương lớn của cả nước còn là chỗ dựa tin cậy về mặt tinh thần, nguồn động viên to lớn của quân - dân cả nước.


Hiện thực hoá tư tưởng xây dựng hậu phương tại chỗ ở khắp nơi, kết hợp với xây dựng hậu phương chung của cả nước, trong kháng chiến chống Pháp, Đảng chủ trương rút khỏi thành thị, xây dựng căn cứ địa Việt Bắc thành trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến; thành nơi giải quyết vấn đề đất đứng chân và tiềm lực của chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Việt Bắc trước kia là căn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới, ngày nay, Việt Bắc phải thành căn cứ kháng chiến, để giữ lấy cái địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình. Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”1 (Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng, Sđd, tr.28). Cùng với việc tập trung xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng các vùng tự do rộng lớn ở Khu 4, Khu 5; các căn cứ địa ở Nam Bộ; các căn cứ du kích, khu du kích ở vùng sau lưng đối phương.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, bảo vệ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thì yêu cầu xây dựng căn cứ địa, hậu phương
lại càng trở nên cấp thiết, ở miền Nam, vào những năm đầu, cùng với việc củng cố các địa bàn đứng chân được hình thành từ trong kháng chiến chống Pháp, Đảng chủ trương lập thêm nhiều vùng căn cứ làm nơi đứng chân bảo tồn thực lực cách mạng khác; bên cạnh các căn cứ chính còn lập các căn cứ phụ. ở những địa bàn được lựa chọn làm căn cứ phải là nơi quần chúng được giác ngộ, có tổ chức và đoàn kết chặt chẽ, có lực lượng vũ trang và bán vũ trang; trật tự an ninh được bảo đảm; phong trào sản xuất phát triển toàn diện, có được nguồn tích trữ lương thực, thực phẩm dồi dào... Thời kỳ này, Xứ uỷ Nam Bộ xác định: “khẩn trương xúc tiến việc xây dựng căn cứ địa, nhất là xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên, căn cứ địa Đông Nam Bộ, căn cứ địa Đồng Tháp Mười. Hoạt động xây dựng căn cứ địa phải bí mật, vững chắc là một trong những yếu tố quan trọng để góp phần giành thắng lợi quyết định ở chiến trường miền Nam”1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.174).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #85 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2021, 09:38:48 pm »

7. Xây dựng căn cứ địa - hậu phương ở miền núi, nông thôn, đô thị

Cuộc chiến tranh 30 năm giải phóng đất nước (1945- 1975) là một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là chính. Bởi vậy, bên cạnh việc xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh trải rộng trên khắp mọi miền đất nước (ở vùng rừng núi, đồng bằng, ven biển) còn phải chú trọng xây dựng những cơ sở chính trị của quần chúng ở các thành thị. Chỉ có như vậy mới tạo lập và mở rộng được địa bàn đứng chân vững chắc cho các lực lượng kháng chiến phát huy được sức mạnh của toàn dân ở khắp mọi nơi.


Một đất nước với hơn 90% dân số là nông dân, lại phải trải qua đêm trường nô lệ dưới sự bóc lột hà khắc của các thế lực phong kiến và thực dân, hơn ai hết, nông dân Việt Nam là lớp người thiết tha, khát khao với độc lập, với quyền sở hữu về ruộng đất. Chính vì lẽ đó, một khi có đội tiền phong của giai cấp công nhân đứng lên lãnh đạo, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, tự do, no ấm thì họ sẵn sàng xả thân, đi theo đến cùng để đạt cho được khát khao và nguyện vọng cháy bỏng đó. Hơn nữa, không như nông thôn các nước, nông thôn Việt Nam có nền kinh tế tự chủ, có thể tự cung, tự cấp mà không bị lệ thuộc quá nhiều vào kinh tế thành thị; về địa - quân sự, nông thôn cũng là địa bàn thuận lợi để cách mạng phát triển thế và lực; triển khai thế trận chiến tranh nhân dân trong tương quan về binh khí, kỹ thuật địch mạnh hơn hẳn ta. Nông thôn cũng là nơi mà phần lớn bộ máy thống trị của địch vừa yếu lại vừa có nhiều sơ hở. Những đặc điểm đó đã chi phối quá trình hình thành và phát triển tư tưởng xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới. Đây cũng là cơ sở để xác định rõ trận địa vững chắc nhất của cách mạng Việt Nam là nông thôn. Chỉ có coi trọng việc phát động, động viên nhân dân, chăm lo bồi dưỡng sức dân, xây dựng nông thôn thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng, thành hậu phương vững chắc của chiến tranh nhân dân thì mới bảo toàn và phát triển được thế và lực, bảo đảm trường kỳ kháng chiến cho đến khi giành được thắng lợi cuối cùng.


Cùng với việc xác định vai trò, vị trí quan trọng của nông thôn nói chung, trong tư tưởng xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh còn chỉ rõ vai trò của nông thôn miền núi và nông thôn đồng bằng. Nông thôn miền núi có địa thế hiểm trở, địch khó phát huy được sở trường, sở đoản của chiến tranh hiện đại; thế và lực của địch tại địa bàn này thường là yếu và có nhiều sơ hở. Trong khi đó, tại đây, quân và dân ta vừa tích luỹ, phát triển được lực lượng kháng chiến, vừa có thể triển khai chiến đấu dài ngày trong những thời điểm khó khăn nhất và lấy đó làm bàn đạp để tiến xuống đồng bằng. Chính vì vậy mà Đảng xác định: “cần phải có ý chí kiên quyết không gì lay chuyến nổi và phải biết nắm lấy phương tiện vật chất sẵn có là rừng núi để quyết tâm xây dựng rừng núi thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng”1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Sđd, tr.217).


Ngược lại, địa bàn nông thôn đồng bằng ở Việt Nam, xét từ góc độ địa - quân sự tuy có những yếu tố bất lợi, nhưng đây lại là nơi tập trung đông người, nhiều của, nơi có mạng lưới giao thông phát triển và là vùng đệm tiếp giáp với thành thị, gần các sào huyệt của địch. Vì lẽ đó, trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), cùng với việc xây dựng, củng cố căn cứ địa - hậu phương ở vùng rừng núi, Bộ Tổng chỉ huy cũng đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát triển căn cứ địa - hậu phương ở vùng đồng bằng. Nhờ vậy, đã động viên được đông đảo các tầng lớp nhân dân kể cả ở nông thôn miền núi cũng như nông thôn đồng bằng tham gia kháng chiến, đáp ứng được nhu cầu nhân lực, vật lực; thoả mãn yêu cầu ngày càng cao của cuộc chiến; đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở khắp mọi nơi; đưa chiến tranh vào sát nách kẻ địch, lần lượt làm phá sản các âm mứu “dùng người Việt đánh người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp và “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ.


Trong khi xác định nông thôn là chỗ dựa vững chắc và lâu dài của cuộc kháng chiến; dựa chắc vào nông thôn (cả nông thôn ở rừng núi và nông thôn ở đồng bằng) là một yêu cầu có tính chất chiến lược, thì tư tưởng xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh xây dựng chế độ mới cũng đặt ra yêu cầu không được coi nhẹ việc xây dựng cơ sở chính trị quần chúng ở thành thị. Thành thị chính là nơi tập trung các cơ quan đầu não của đối phương nhưng cũng đồng thời là nơi tập trung đông đảo các tầng lớp công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức yêu nước... Vì vậy, mọi biến cố ở thành thị sẽ có sự cộng hưởng rất lớn, mà trước hết sẽ làm rối loạn ngay tại sào huyệt, hậu phương của địch, sau đó sẽ có sức lan toả mang tính phản ứng dây chuyền rất nhanh.


Nhờ có cơ sở chính trị vững mạnh được xây dựng ở hầu khắp các đô thị trong cả nước mà đã huy động được lực lượng cho các cuộc đấu tranh chính trị ở thành thị và khi có thời cơ thuận lợi có thể phát động được đông đảo các tầng lớp nhân dân, học sinh, sinh viên, trí thức... xuống đường hỗ trợ và phối hợp với các lực lượng vũ trang tiến công và nổi dậy ngay tại sào huyệt của kẻ thù.


Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, trong thế tương quan lực lượng bất lợi, mặc dù Đảng chủ trương rút khỏi thành thị về đứng chân vững chắc, xây dựng căn cứ địa ở nông thôn, rừng núi và đồng bằng song không phải “bỏ rơi” trận tuyến thành thị mà vẫn duy trì và phát triển cơ sở chính trị ở thành thị để khi có thời cơ sẽ kết hợp đấu tranh chính trị với các hoạt động vũ trang làm rối loạn hậu phương của đối phương... Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Trong vùng địch tạm chiếm, lực lượng to lớn của nhân dân và du kích ta giống như kho thuốc súng trong bụng địch. Ta khéo củng cố và phát triển lực lượng ấy thì giặc Pháp sẽ vỡ bụng mà chết”1 (Tư liệu ĐSL-11.100/47, lưu tại Viện Lịch sử Đảng).


Trong kháng chiến chống Mỹ, trước một đối phương có tiềm lực kinh tế, quân sự và khoa học - kỹ thuật hùng mạnh, việc dựa vào thực lực cách mạng cả ở nông thôn lẫn thành thị là đúng đắn và hết sức cần thiết. Song, cùng với việc tạo dựng chỗ dựa vững chắc ở nông thôn, không những cần phải xây dựng cơ sở chính trị rộng khắp mà còn xây dựng các “căn cứ lõm”, các tổ chức vũ trang bí mật ngay tại các thành thị. Điêu này cắt nghĩa vì sao trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, sự kết hợp giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị ở thành thị đã có bước phát triển ở cấp độ cao hơn hẳn so với kháng chiến chống thực dân Pháp. Với tinh thần “đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của địch”, Đảng xác định: “Mặt trận thành thị là hướng chiến lược có tầm quan trọng rất lớn vì thành thị là nơi có khả năng to lớn kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng đánh thẳng vào sào huyệt của địch”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.30, tr.135). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một trong những minh chứng hùng hồn của việc “đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của địch”.


Xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị là nền tảng cho sự phát triển phong trào đấu tranh cách mạng ngay trong lòng địch, là hình thành thế trận ba vùng chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Điều này được biểu hiện rất rõ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #86 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2021, 09:39:24 pm »

8. Hậu phương lớn miền Bắc xả hội chủ nghĩa

Quá trình xây dựng căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền Nam được kết hợp chặt chẽ với xây dựng hậu phương chung của cả nước là miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trong đó nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nước. Miền Bắc là nền tảng, là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam. Trong công tác xây dựng hậu phương lớn miền Bắc một cách toàn diện, thì trước hết ta củng cố, xây dựng về chính trị, tức là củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố chế độ, Nhà nước, củng cố sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời trấn áp các phần tử phá hoại gây rối trật tự an toàn xã hội, giáo dục ý thức quốc phòng và tinh thần cảnh giác cho nhân dân, củng cố tổ chức dân quân, xây dựng lực lượng hậu bị, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân để người dân thiết tha yêu Tổ quốc, yêu chế độ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, từ đó mà nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc.


Về kinh tế, miền Bắc trước hết tập trung vào phát triển nông nghiệp để cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, đồng thời phát triển công nghiệp để giải quyết vấn đề sản xuất những vật dụng cần thiết cho nhu cầu dân sinh và quốc phòng; giải quyết vấn đề dự trữ vật tư, trang bị bảo đảm cho trường kỳ kháng chiếng phát triển mạng lưới giao thông, đặc biệt là các đường giao thông chiến lược; từng bước xây dựng các kiến trúc quốc phòng.


Khẳng định vai trò to lớn của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng cho rằng: “không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa... miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa... để làm tròn nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.490). Tăng cường xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa cũng chính là vì nghĩa vụ hậu phương lớn, có tác dụng tích cực thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển căn cứ địa, hậu phương tại chỗ ở miền Nam - hai vùng hậu phương có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Hai nhiệm vụ này được tiến hành đồng thời và tác động hỗ trợ nhau trong quá trình xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới. Nền tảng được tạo ra từ chiến tranh chính là cơ sở cho một xã hội mới - đây chính là mối quan hệ biện chứng thực tiễn giữa chiến tranh và xây dựng đất nước trong bối cảnh thực tế của Việt Nam. Cho nên, có thể nói rằng, điểm nổi bật và là sự phát triển trong tư tưởng về xây dựng căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở khắp nơi với xây dựng căn cứ địa - hậu phương chung của cả nước trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ chính là ở chỗ gắn kết hai nhiệm vụ này với nhiệm vụ xây dựng và củng cố phe xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #87 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2021, 09:40:56 pm »

9. Hậu phương và tiền tuyến - xây dựng và chiến đấu

Trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), đối phương luôn tìm mọi cách và không từ một thủ đoạn nào để đánh phá căn cứ địa - hậu phương nhằm phá hoại tiềm lực chiến tranh, cắt đứt mạch sống của tiền tuyến; làm suy yếu và tiến tới thủ tiêu các lực lượng kháng chiến. Chính vì vậy mà quá trình xây dựng căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mỏi trong chiến tranh luôn phải được gắn liền với việc bảo vệ. Xây dựng và bảo vệ là hai mặt của một vấn đề và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tư tưởng xây dựng đi đôi với bảo vệ vừa xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của cuộc chiến tranh, vừa là sự kế thừa truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” của cha ông ta trong lịch sử dân tộc.


Trong cuộc chiến tranh 1945-1954, đế tiêu diệt các cơ quan đầu não, phá huỷ tiềm lực kháng chiến của Việt Minh, quân Pháp đã bao vây, cô lập và tập trung đánh phá căn cứ địa Việt Bắc, các căn cứ ở miền Đông Nam Bộ, căn cứ Đồng Tháp Mưòi, căn cứ U Minh, các vùng tự do ở Khu 4, Khu 5... Trong cuộc chiến tranh 1954-1975, để thủ tiêu các cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt hết “Việt cộng”, phá huỷ tiềm lực chiến tranh, cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho cách mạng miền Nam, đưa miền Bắc trở về thời kỳ “đồ đá”, Mỹ đã cho máy bay đánh phá dữ dội, đưa việc đánh phá cơ sở chính trị, căn cứ địa - hậu phương lên thành một quốc sách, một nhiệm vụ chiến lược.


Trong bối cảnh đó, để bảo vệ căn cứ địa - hậu phương không có cách nào khác là phải chủ động và tích cực chiến đấu, có các phương án phòng chống hiệu quả để đối chọi với các âm mưu, thủ đoạn đánh phá và leo thang chiến tranh của địch. Yêu cầu đặt ra cho hoạt động bảo vệ căn cứ địa - hậu phương là phải giữ vững được địa bàn; bảo vệ được các cơ quan đầu não kháng chiến; bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; bảo vệ các cơ sở vật chất, kỹ thuật; mạng lưới giao thông, trật tự trị an xã hội; bảo vệ sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế... Bảo vệ an toàn cho căn cứ địa, hậu phương chiến tranh còn góp phần ổn định về mặt tư tưởng, tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong các thời điểm có tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến.


Nói đến chiến đấu, bảo vệ căn cứ địa - hậu phương không có nghĩa là chỉ có hoạt động phòng thủ mà trong đó đã bao hàm cả tư tưởng tích cực tiến công. Bảo vệ căn cứ địa - hậu phương phải gắn với tích cực tiến công đánh phá và thu hẹp hậu phương của địch, biến hậu phương của đối phương thành tiền phương của lực lượng cách mạng. Tiến công hậu phương của đối phương nhằm: một mặt buộc đối phương phải phân tán lực lượng đối phó, không thể tập trung lực lượng đánh phá căn cứ địa - hậu phương cách mạng; mặt khác sẽ hạn chế việc vơ vét nguồn tài nguyên vật lực và nhân lực phục vụ cho chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của đối phương.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, để đương đầu với một kẻ thù có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh hơn hẳn, Đảng chủ trương bảo vệ căn cứ địa bằng cách chủ động phòng ngự nhưng là “lối phòng ngự thế công chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.491).


Đó là một kiểu phòng ngự bằng cách phát động toàn dân tiến hành chiến tranh du kích mà phương châm cơ bản là đẩy mạnh hoạt động tiến công vùng sau lưng địch; đồng thời tích cực chiến đấu bảo vệ căn cứ địa - hậu phương; bảo vệ vùng tự do khi bị tiến công; phát triển căn cứ du kích và khu du kích ở vùng sau lưng địch, thu hẹp hậu phương của địch, mở rộng hậu phương kháng chiến.


Thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, trên cơ sở các kế hoạch bảo vệ các vùng tự do, căn cứ địa và phương án tác chiến đã được vạch sẵn, quân, dân Việt Nam đã đánh bại hầu hết các cuộc tiến công đánh phá của đối phương nhằm vào các vùng tự do Khu 4, Khu 5; các căn cứ Việt Bắc, Đồng Tháp Mưòi... Thậm chí tại một số căn cứ địa, lực lượng vũ trang cách mạng chỉ sử dụng lực lượng địa phương tại chỗ để cho lực lượng chủ lực rảnh tay tiến hành các chiến dịch phản công tiêu diệt sinh lực của đối phương, mở rộng vùng tự do trên những địa bàn định sẵn.


Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng tự do và căn cứ địa của ta đã chiếm tới 70% diện tích với một nửa dân số. Tại những nơi đó, việc xây dựng chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân không chỉ được thực hiện trên lĩnh vực chính trị mà còn được triển khai một cách toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá, xã hội.


Xuyên suốt cuộc kháng chiến, điểu dễ nhận thấy là hoạt động xây dựng, củng cố và bảo vệ căn cứ địa, hậu phương của Việt Nam luôn được gắn liền với các hoạt động tác chiến vùng sau lưng đối phương. Đó là hệ quả của sự thấu triệt tinh thần “mở rộng căn cứ địa, hậu phương của ta; thu hẹp hậu phương địch; biến hậu phương địch thành tiền phương của ta”.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dựa vào ưu thế về vũ khí trang bị và phương tiện chiến tranh, Mỹ đánh phá căn cứ địa - hậu phương quân giải phóng hết sức quyết liệt, nhằm mục đích không chỉ thủ tiêu cơ quan lãnh đạo đầu não, tiêu diệt các lực lượng kháng chiến; phá hoại tiềm lực kinh tế, quân sự... mà còn uy hiếp tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân. Sự quyết liệt được đẩy lên đến đỉnh cao khi đế quốc Mỹ chuyển từ chiến lược Chiến tranh đặc biệt sang chiến lược Chiến tranh cục bộ với việc ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào tham chiến tại chiến trường miền Nam Việt Nam và tiến hành một cuộc chiến tranh phá hoại tổng lực quy mô lớn nhằm làm suy yếu tiềm lực của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Ngay cả khi thất bại toàn diện cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, buộc phải ngừng ném bom đánh phá hậu phương lớn miền Bắc, thì Mỹ vẫn chuyến qua tập trung đánh phá các tuyến hành lang vận chuyển chi viện cho chiến trường và đánh phá các vùng giải phóng, căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #88 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2021, 09:41:45 pm »

Trong bối cảnh đó, đối với các căn cứ và hậu phương tại chỗ ở miền Nam, Đảng chủ trương “quân sự hoá” triệt để các cơ quan Dân - Chính - Đảng. Bất cứ cơ quan, ban, ngành nào cũng phải có kế hoạch bảo vệ tài liệu, làm cho cơ quan gọn nhẹ và sẵn sàng chống phi pháo, chất độc hoá học và bộ binh của đối phương. Đối với địa bàn căn cứ, phải củng cố phát triển lực lượng du kích bán vũ trang đế phối hợp đánh địch tại chỗ nếu chúng càn quét vào căn cứ1 (Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục, Sđd, tr.482).


Đối với hậu phương lớn miền Bắc “lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương thường xuyên phải rút kinh nghiệm trong các cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, làm tốt công tác phòng không, sơ tán; vừa chiến đấu vừa duy trì sản xuất tốt; thực hiện nghiêm túc công tác bảo mật, phòng gian. Mọi hoạt động được chuyển mạnh sang thời chiến, đặc biệt là hoạt động của các cơ quan và cán bộ lãnh đạo, các bộ, ban, ngành ở Trung ương”2 (Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục, Sđd, tr.525). Gắn việc củng cố căn cứ địa - hậu phương với tích cực chiến đấu chống mọi âm mưu, thủ đoạn đánh phá và lấn chiếm của địch. Việc gắn kết đó phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể là: phải giữ vững và làm chủ được các địa bàn, thực hiện “một tấc không đi, một ly không rời”, bảo vệ được các cơ quan đầu não kháng chiến, các cơ sở chính trị; bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân; bảo vệ được nền kinh tế, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng; giữ vững trật tự trị an xã hội, bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt... và duy trì cho được sức mạnh tinh thần, ý chí chiến đấu của quân và dân trên mọi miền Tổ quốc, trong mọi tình huống.


Trong quá trình kháng chiến, cùng với việc tích cực tiến công vào vùng sau lưng địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích là phải luôn chủ động triển khai các phương án tác chiến và tích cực chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa - hậu phương một khi bị địch tiến công. Ví như thời kỳ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, hầu hết các căn cứ địa và hậu phương tại chỗ ở miền Nam đều gặp rất nhiều khó khăn. Để đổi phó có hiệu quả với các thủ đoạn đánh phá tàn khốc, các đợt càn quét lấn chiếm của địch nhằm vào các căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền Nam, Đảng đã xác định: “Phải làm cho tốt công tác bố phòng chống địch; bố trí lực lượng vũ trang địa phương một cách hợp lý; xây dựng làng, xã chiến đấu sẵn sàng chiến đấu đánh bại mọi cuộc càn quét bằng bộ binh hoặc các cuộc tập kích bằng biệt kích; bằng đổ bộ đường không của địch; đưa các lực lượng vũ trang luân phiên ra phía trước tham gia chiến đấu”1 (Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 1-1970). Đó là một chủ trương đúng đắn và sáng suốt, thề hiện rõ sự thấm nhuần tư tưởng “gắn việc củng cố căn cứ địa - hậu phương với tích cực chiến đấu chống địch càn quét lấn chiếm”.


Xây dựng căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh phải đi đôi với bảo vệ. Tư tưởng đó đã thấm đượm vào từng người dân và chuyển hoá thành sức mạnh vật chất, cho nên dù cuộc kháng chiến chống xâm lược của ta có trải qua những thử thách khốc liệt, nhưng về cơ bản, hậu phương lớn của cả nước, hậu phương tại chỗ, các căn cứ địa, các vùng giải phóng không những vẫn được giữ vững, củng cố mà còn liên tục phát triển và không ngừng được mở rộng. Trong khi đó, hậu phương của địch ngày càng bị thu hẹp.


Cùng với việc ra sức củng cố, xây dựng căn cứ địa - hậu phương về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội..., quân và dân Việt Nam tích cực tiến công đánh phá hậu phương địch, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, không ngừng mở rộng căn cứ địa - hậu phương của ta. Tư tưởng về xây dựng, củng cố căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh vững mạnh toàn diện được xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc chiến tranh nhân dân lấy “nhỏ đánh lớn”, “ít địch nhiều”, từ lôgic: sự vững mạnh của căn cứ địa, hậu phương được bảo đảm bởi các nhân tố địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế, địa - văn hoá.


Thực tiễn 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) cho thấy: Điều kiện tiên quyết bảo đảm cho căn cứ địa - hậu phương đứng vững, phát triển và hoàn thành được chức năng nhiệm vụ, chính là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ: xây dựng chế độ mới gắn liền với bảo vệ chế độ mới và bảo vệ chế độ mới được dựa trên thành quả của xây dựng chế độ mới.


Tư tưởng xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) thể hiện sự phát triển đến đỉnh cao của tư tưởng “dựng nước đi đôi với giữ nước’ trong điều kiện một cuộc chiến tranh cách mạng, cần thấy rằng, tư tưởng hậu phương chiến tranh của Việt Nam với sự kế thừa truyền thống chính trị - quân sự như vậy là một minh chứng cho thấy vị trí tư tưởng quân sự Á Đông trong thế kỷ kỹ nghệ Âu - Mỹ: chiến tranh không thuần túy là một thủ pháp chính trị, không đơn thuần là sự nối dài của chính trị - vì chiến tranh là sự nghiệp của cả dân tộc, một bộ phận của cách mạng, gắn liền với quá trình tạo lập một xã hội mới, chế độ mới. Tư tưởng đó được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển những kinh nghiệm xây dựng căn cứ kháng chiến của cha ông trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm; sự nhận thức đúng đắn vai trò đặc biệt quan trọng cũng như quy luật xây dựng và bảo vệ căn cứ địa - hậu phương trong chiến tranh nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân Việt Nam đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đó và chuyển hoá thành sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn bảo đảm cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #89 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2021, 12:33:41 pm »

III- XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN VỮNG MẠNH

Thắng lợi oanh liệt của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) đã khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dàn, toàn diện vững mạnh - một nền quốc phòng thực sự của dân, do dân và vì dân.


Nền quốc phòng mà Đảng chủ trương xây dựng nhằm mục đích trước hết là để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, độc lập, chủ quyền bất khả xâm phạm của Tồ quôc; bảo vệ quyền sống và lợi ích của toàn thể nhân dân Việt Nam; bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, Nhà nước chuyên chính vô sản; bảo vệ an ninh chính trị, cuộc sống lao động, sáng tạo của nhân dân. Nền quốc phòng đó phải đủ mạnh để chiến đấu đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động leo thang chiến tranh của kẻ địch; sẵn sàng ngăn chặn các âm mưu và hành động bạo loạn, lật đổ của các phần tử phản động trong nước và quốc tế. Nền quốc phòng đó không chỉ thoả mãn được yêu cầu phòng thủ, bảo vệ đất nước mà còn phải góp phần vào việc bảo vệ hoà bình trên bán đảo Đông Dương, trong khu vực và trên thế giới. Xét về bản chất, đó là một nền quốc phòng của chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa của Nhà nước chuyên chính vô sản.


Tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện vững mạnh được hình thành ngay từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á - ra đời. Tư tưởng đó không ngừng được phát triển, hoàn thiện trong quá trình nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi tiếp theo đó là quá trình thực hiện hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây cũng là một minh chứng cho luận điểm, chiến tranh là một bộ phận cấu thành xã hội mới, chế độ mới - chiến tranh trong bối cảnh Việt Nam không chỉ là xung đột quân sự, mà là chiến tranh cách mạng, chiến tranh vệ quốc.


Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam bắt tay vào khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn miền Bắc đồng thời tiếp tục cuộc đấu tranh để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. Để có thể đồng thời thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược trên, không thể không đẩy nhanh xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và nền quốc phòng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, biến miền Bắc thành hậu phương - căn cứ địa vững mạnh của cả nước, để tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, đồng thời làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng; bảo đảm cho nhân dân miền Nam đủ sức đánh bại mọi hành động leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn. Nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng ở miền Bắc được đặt ra và triển khai ngay trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy, nó trực tiếp được thừa hưởng những thành tựu bước đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Ngược lại, quá trình đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng chính là quá trình củng cố quốc phòng. Miền Bắc càng tiến lên chủ nghĩa xã hội, thể chê chính trị càng mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật càng dồi dào thì tiềm lực quốc phòng của cả nước ta càng được tăng cường, nền quốc phòng càng thêm vững mạnh. Dựa trên nền tảng của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt được xây dựng và củng cố ở miền Bắc mà nền quốc phòng đã phát huy tác dụng to lớn trong việc bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.


Tư tưởng xây dựng nền quốc phòng trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) là sự kế thừa và phát triển tư tưởng “dựng nước phải đi đôi với giữ nước” của các bậc tiền nhân, về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Cùng với quá trình vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1975, tư tưởng xây dựng nền quốc phòng cũng có sự vận động, phát triển tương ứng. Tuy vậy, mục đích xuyên suốt và những nội dung cơ bản của tư tưởng đó không hề thay đổi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM